1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu sử dụng hợp lý tài nguyên nước phục vụ cấp nước dân sinh tỉnh sóc trăng

126 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 126
Dung lượng 5,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn: “Nghiên cứu giải pháp sử dụng hợp lý tài nguyên nước phục vụ cấp nước dân sinh tỉnh Sóc Trăng” đã sử dụng các tài liệu hiện có về nguồn nước nước mưa, nước mặt và nước dưới đất

Trang 1

Đại học Quốc Gia Thành phố Hồ Chí Minh

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA

Tp Hồ Chí Minh, tháng 3 năm 2005

PHẠM VĂN MẠNH

NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP SỬ DỤNG HỢP LÝ TÀI NGUYÊN NƯỚC PHỤC VỤ CẤP

NƯỚC DÂN SINH TỈNH SÓC TRĂNG

Chuyên ngành: Địa chất môi trường Mã số ngành: 60.44.67

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Trang 2

Đại học Quốc Gia Thành phố Hồ Chí Minh

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA

Tp Hồ Chí Minh, tháng 3 năm 2005

PHẠM VĂN MẠNH

NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP SỬ DỤNG HỢP LÝ TÀI NGUYÊN NƯỚC PHỤC VỤ CẤP

NƯỚC DÂN SINH TỈNH SÓC TRĂNG

Chuyên ngành: Địa chất môi trường Mã số ngành: 60.44.67

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Trang 3

CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH

Cán bộ hướng dẫn khoa học:

PGS TS NGUYỄN TẤT ĐẮC Cán bộ chấm nhận xét 1 :

TS NGUYỄN VIỆT KỲ Cán bộ chấm nhận xét 2 :

TS LƯƠNG VĂN THANH Luận văn thạc sĩ được bảo vệ tại HỘI ĐỒNG CHẤM BẢO VỆ LUẬN VĂN THẠC SĨ TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA, ngày 12 tháng 3 năm 2005

Trang 4

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Tp Hồ Chí Minh, ngày 15 tháng 12 năm 2003

NHIỆM VỤ LUẬN VĂN THẠC SĨ

Họ tên học viên : PHẠM VĂN MẠNH Phái: Nam

Ngày, tháng, năm sinh : 30 – 4 -1970 Nơi sinh : Hải Phòng

Chuyên ngành : Địa chất môi trường MSHV : ĐCMT13.001

I TÊN ĐỀ TÀI :

Nghiên cứu giải pháp sử dụng hợp lý tài nguyên nước phục vụ cấp nước dân sinh tỉnh Sóc Trăng

II NHIỆM VỤ VÀ NỘI DUNG :

Trên cơ sở các nguồn nước (nước mưa, nước mặt và nước dưới đất) hiện có, phân tích so chọn các phương án sử dụng nguồn nước, rút ra phương án sử dụng hợp lý, với phương châm sử dụng tổng hợp và phát triển bền vững nguồn tài nguyên nước

V HỌ VÀ TÊN CÁN BỘ HƯỚNG DẪN: Phó Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Tất Đắc Phân Viện Khảo sát Quy hoạch Thuỷ lợi Nam bộ

CÁN BỘ HƯỚNG DẪN CHỦ NHIỆM NGÀNH BMQUẢN LÝ CHUYÊN NGÀNH

PGS TS NGUYỄN TẤT ĐẮC GS.TS ĐẶNG HỮU DIỆP ThS VÕ VIỆT VĂN

Nội dung và đề cương luận văn thạc sĩ đã được Hội Đồng Chuyên Ngành thông qua

Ngày … tháng … năm 2004 PHÒNG ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC KHOA QUẢN LÝ NGÀNH

Trang 5

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, tác giả đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của các cấp lãnh đạo, thầy hướng dẫn, các bậc đàn anh và các bạn đồng nghiệp Tác giả xin chân thành bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc và kính trọng đến:

- PGS.TS Nguyễn Tất Đắc, thầy hướng dẫn đã đóng góp nhiều ý kiến quý báu và nhiệt tình hướng dẫn trong suốt quá trình thực hiện luận văn

- Các thầy cô Khoa Địa chất và Dầu khí, và đặc biệt là các thầy cô trong Bộ môn Địa chất Cơ sở và Môi trường đã đóng góp ý kiến cho luận văn

- Ban Giám đốc Phân Viện Khảo sát Quy hoạch Thuỷ lợi Nam bộ, phòng Kỹ thuật - Tổng hợp đã động viên và tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả trong quá trình thực hiện luận văn

- Thạc sĩ Nguyễn Hữu Tân, Trưởng phòng Kỹ thuật - Tổng hợp, Phân Viện KSQHTL Nam bộ đã giúp đỡ và đóng góp ý kiến trong quá trình viết luận văn

- Ông Trần Văn Lã – nguyên Phó Giám đốc Liên đoàn Địa chất thuỷ văn – Địa chất công trình Miền Nam đã đọc và đóng góp ý kiến cho luận văn

- Các cán bộ kỹ thuật của Chi cục Vùng kinh tế mới và Nước sinh hoạt nông thôn, Chi cục Thuỷ lợi, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Sóc Trăng đã cung cấp các tài liệu cơ bản cho tác giả; cũng như đóng góp ý kiến cho luận văn

- Các bạn lớp Cao học khoá 13 – Khoa Địa chất & Dầu khí đã động viên và ủng hộ tác giả trong khi thực hiện luận văn

- Cuối cùng là Vợ & các con của tác giả - hậu phương vững chắc – đã giúp tác giả an tâm học tập và thực hiện luận văn này

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 8 năm 2004

Phạm Văn Mạnh

Trang 6

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ

Nước là nguồn tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá, nhưng sự biến đổi về chất và lượng của nó cũng vô cùng phức tạp Việc nghiên cứu tìm ra các giải pháp sử dụng nước hợp lý, trên quan điểm phát triển bền vững tài nguyên nước là một vấn đề khó, đặc biệt đối với Sóc Trăng, một tỉnh có địa bàn rộng, có nhiều vùng địa lý tự nhiên khác nhau

Luận văn: “Nghiên cứu giải pháp sử dụng hợp lý tài nguyên nước phục vụ cấp nước dân sinh tỉnh Sóc Trăng” đã sử dụng các tài liệu hiện có về nguồn nước (nước mưa, nước mặt và nước dưới đất), sử dụng mô hình toán & kết hợp các phương pháp thống kê, tính toán truyền thống cũng như ứng dụng công cụ GIS để phân tích so chọn các phương án sử dụng nguồn nước, rút ra phương án sử dụng

ưu tiên, với phương châm sử dụng hợp lý, tổng hợp và phát triển bền vững nguồn tài nguyên nước

Nghiên cứu giải pháp sử dụng hợp lý tài nguyên nước phục vụ cấp nước dân sinh tỉnh Sóc Trăng sẽõ góp phần vào việc thực hiện chỉ thị 200 TTg và chiến lược Quốc gia về cấp nước và vệ sinh môi trường nông thôn của Thủ tướng Chính phủ Luận văn đã phân tích đánh giá tổng quát về hiện trạng tài nguyên nước, tình hình cấp nước cho dân sinh trong phạm vi tỉnh Sóc Trăng, cũng như nghiên cứu các giải pháp, biện pháp cấp nước phục vụ cấp nước dân sinh và phát triển kinh tế xã hội Hy vọng rằng luận văn sẽ giúp thêm cho các nhà quản lý trong việc xem xét tổng quát hơn về thực trạng nguồn nước và xu thế biến đổi của nó; từ đó có cơ sở để các ngành chức năng xây dựng kế hoạch phát triển các vấn đề liên

quan tới cấp nước

Trang 7

MỤC LỤC

Trang

NHIỆM VỤ LUẬN VĂN THẠC SĨ ii

LỜI CẢM ƠN iii

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ iv

DANH MỤC CÁC BẢNG viii

DANH MỤC HÌNH VẼ viii

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VÙNG NGHIÊN CỨU 3

1.1 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN 3

1.1.1 Vị trí địa lý 3

1.1.2 Khí hậu 4

1.1.3 Đặc điểm địa hình – địa mạo 5

1.1.4 Đặc điểm thổ nhưỡng 6

1.1.5 Đặc điểm thuỷ văn của tỉnh Sóc Trăng 6

1.2 TÌNH HÌNH DÂN SINH - KINH TẾ - XÃ HỘI 7

1.2.1 Dân số 7

1.2.2 Các ngành kinh tế chính 8

1.3 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA CHẤT 10

1.3.1 Trầm tích Neogen – Thống Miocen (N1) 10

1.3.2 Trầm tích Neogen – Thống Pliocen (N2) 10

1.3.3 Trầm tích Đệ tứ - Thống Pleistocen hạ (QI) 11

1.3.4 Trầm tích Đệ tứ - Thống Pleistocen trung – thượng (QII-III) 11

1.3.5 Trầm tích Đệ tứ - Thống Pleistocen thượng (QIII) 11

1.3.6 Trầm tích Đệ tứ - Thống Holocen (QIV) 12

1.4 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA CHẤT THUỶ VĂN 12

Trang 8

1.4.1 Thành hệ chứa nước trong trầm tích Đệ tứ 13

1.4.2 Thành hệ chứa nước trong trầm tích Neogen 22

1.5 TÀI NGUYÊN NƯỚC 26

1.5.1 Tài nguyên nước mặt 26

1.5.2 Nước mưa 31

1.5.3 Tài nguyên nước dưới đất 32

1.6 HIỆN TRẠNG QUẢN LÝ VÀ CẤP NƯỚC DÂN SINH 35

1.6.1 Các biện pháp cấp nước hiện nay 36

1.6.2 Hiện trạng quản lý và cấp nước 40

CHƯƠNG 2: NGHIÊN CỨU CÁC GIẢI PHÁP CẤP NƯỚC 43

2.1 PHƯƠNG PHÁP LUẬN 43

2.2 CÁC CƠ SỞ NGHIÊN CỨU 44

2.2.1 Mục tiêu về cấp nước và vệ sinh môi trường 44

2.2.2 Tiêu chuẩn về cấp nước cho dân sinh 44

2.2.3 Các vấn đề cần giải quyết 45

2.3 TÍNH TOÁN NHU CẦU SỬ DỤNG NƯỚC 45

2.3.1 Tính toán nhu cầu sử dụng nước cho công nghiệp, nông nghiệp, thuỷ sản và dân sinh theo kế hoạch phát triển kinh tế 45

2.3.2 Tính toán nhu cầu sử dụng nước cho dân sinh 49

2.4 ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG CẤP NƯỚC 51

2.4.1 Nước mặt 51

2.4.2 Nước mưa 66

2.4.3 Nước dưới đất 67

2.4.4 Mối liên quan giữa các nguồn nước và xu thế biến đổi 71

2.5 NGHIÊN CỨU CÁC GIẢI PHÁP CẤP NƯỚC DÂN SINH 73

2.5.1 Xây dựng các kịch bản phát triển 73

Trang 9

2.5.2 Lựa chọn phương án 75

2.5.3 Giải pháp cấp nước 79

2.5.4 Quản lý và bảo vệ nguồn nước 81

CHƯƠNG 3: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 84

3.1 KẾT LUẬN 84

3.2 KIẾN NGHỊ 85

TÀI LIỆU THAM KHẢO 87

DANH MỤC CÔNG TRÌNH TÁC GIẢ 88

PHỤ LỤC 90

Trang 10

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang

Bảng 1-1: Thành phần vi sinh nước mặt tại một số điểm phân tích 30

Bảng 1-2: Số liệu các giếng khai thác của Công ty Cấp nước Sóc Trăng 37

Bảng 1-3: Hiện trạng tình hình cấp nước tỉnh Sóc Trăng đến năm 2003 41

Bảng 1-4: Hiện trạng các công trình cấp nước tỉnh Sóc Trăng đến năm 2003 41

Bảng 2-1: Nhu cầu nước nhạt tỉnh Sóc Trăng năm 2003 – 2010 (m3/s) 48

Bảng 2-2: Dự báo dân số tỉnh Sóc Trăng năm 2010 49

Bảng 2-3: Nhu cầu nước cho dân sinh của tỉnh Sóc Trăng năm 2010 51

Bảng 2-4: Lưu lượng bình quân dọc các kênh năm 2003 (m3/s) 55

Bảng 2-5: Độ mặn Max dọc các kênh năm 2003 (g/l) 57

Bảng 2-6: Lưu lượng bình quân dọc các kênh năm 2010 (m3/s) 62

Bảng 2-7: Độ mặn max dọc hệ thống kênh năm 2010 (g/l) 63

Bảng 2-8: Trữ lượng tĩnh trọng lực của các tầng chứa nước 67

Bảng 2-9: Trữ lượng tĩnh đàn hồi của các tầng chứa nước 68

Bảng 2-10: Các thông số tính toán và Trữ lượng động của các tầng chứa nước 69

Bảng 2-11: Hệ số sử dụng trữ lượng, trữ lượng trọng lực và đàn hồi 70

Bảng 2-12: Trữ lượng nước dưới đất các tầng chứa nước (m3/ngày) 70

Bảng 2-13: So sánh ưu nhược điểm các nguồn nước 78

DANH MỤC HÌNH VẼ Trang Hình 1-1: Bản đồ vị trí vùng nghiên cứu 3

Hình 1-2: Bản đồ địa hình tỉnh Sóc Trăng 5

Hình 1-3: Bản đồ mật độ dân số tỉnh Sóc Trăng năm 2002 (người/km2) 7

Hình 1-4: Mặt cắt dọc địa chất thuỷ văn khu vực Sóc Trăng 13

Hình 1-5: Bản đồ phân bố nước dưới đất theo độ tổng khoáng hoá - Tầng chứa nước Holocen 15

Hình 1-6: Bản đồ phân bố nước dưới đất theo độ tổng khoáng hoá - Tầng chứa nước trong trầm tích Pleistocen thượng 17

Hình 1-7: Bản đồ phân bố nước dưới đất theo độ tổng khoáng hoá - Tầng chứa nước trong trầm tích Pleistocen trung - thượng 19

Trang 11

Hình 1-8: Bản đồ phân bố nước dưới đất theo độ tổng khoáng hoá - Tầng chứa

nước trầm tích Pleistocen hạ 22

Hình 1-9: Bản đồ phân bố nước dưới đất theo độ tổng khoáng hoá - Tầng chứa nước Pliocen 24

Hình 1-10: Bản đồ phân bố nước dưới đất theo độ tổng khoáng hoá - Tầng chứa nước Miocen 25

Hình 1-11: Bản đồ hiện trạng công trình thuỷ lợi tỉnh Sóc Trăng năm 2000 26

Hình 1-12: Bản đồ đẳng trị mưa nhiều năm vùng BĐCM 32

Hình 1-13: Phân vùng khả năng khai thác NDĐ từ các tầng chứa nước 35

Hình 2-1: Sơ đồ nghiên cứu tổng quát của đề tài 43

Hình 2-2: Nhu cầu nước nhạt tỉnh Sóc Trăng qua các tháng 48

Hình 2-3: Sơ đồ thuỷ lực tỉnh Sóc Trăng 53

Hình 2-4: Mô phỏng mực nước tại Cái Côn (01/III-31/III/2003) 56

Hình 2-5: Mô phỏng lưu lượng từ dòng chính sông Hậu chảy vào kênh Cái Côn tại An Lạc Thôn (01/III-31/VI/2003) 56

Hình 2-6: Độ mặn tại một số vị trí trên sông Hậu từ 01/I-30/VI/2003 58

Hình 2-7: Bản đồ phân bố lưu lượng và độ mặn nước mặt, tháng 2 năm 2003 59

Hình 2-8: Bản đồ phân bố lưu lượng và độ mặn nước mặt, tháng 4 năm 2003 60

Hình 2-9: Bản đồ phân bố lưu lượng và độ mặn nước mặt, tháng 2 năm 2010 64

Hình 2-10: Bản đồ phân bố lưu lượng và độ mặn nước mặt, tháng 4 năm 2010 65

Hình 2-11: Lượng mưa trung bình tháng trạm Khánh Hưng, Sóc Trăng 66

Hình 2-12: Bản đồ phân vùng sử dụng nước – phương án 1 74

Hình 2-13: Sơ đồ giải pháp sử dụng nước 79

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 Cơ sở khoa học và tính cấp thiết của đề tài

Sóc Trăng là một tỉnh nằm về phía Đông-Nam đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), là vùng đất màu mỡ, một phía giáp sông Hậu, một phía giáp biển nên vừa có nguồn nước nhạt vừa có nước mặn tạo nên một tiềm năng lớn về nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản và có điều kiện để phát triển một nền kinh tế toàn diện Tuy nhiên bên cạnh những thuận lợi, Sóc Trăng cũng gặp rất nhiều khó khăn trong việc phát triển kinh tế - xã hội Do nằm sát biển, cuối nguồn nước nhạt, bị xâm nhập mặn trên phần lớn diện tích, nên về mùa khô bị khô hạn và thiếu nước nhạt, đặc biệt là nước cho sinh hoạt Tài nguyên nước ở Sóc Trăng có

3 nguồn chính:

Nước mặt, hiện nay nguồn nước này ngày càng bị ô nhiễm, mặt khác về mùa khô thường bị mặn xâm nhập nên việc cấp nước trong mùa khô còn nhiều hạn chế Nước dưới đất, nguồn nước chính cung cấp cho dân sinh ở Sóc Trăng, tương đối phong phú, tuy nhiên một số tầng chứa nước bị nhiễm mặn, các tầng chứa nước có khả năng khai thác lại phân bố ở độ sâu tương đối lớn cho nên việc đầu tư chi phí ban đầu cho khai thác cao; bên cạnh đó việc quản lý khai thác nước vẫn còn rất hạn chế

Nước mưa, lượng mưa tương đối lớn nhưng phân bố không đều, chỉ tập trung vào một số tháng mùa mưa từ tháng V đến tháng XI

Thời gian qua mặc dù đã được đầu tư cao nhưng cho đến nay Sóc Trăng mới giải quyết cấp nước sạch cho khoảng 68% dân số cho sinh hoạt, trong đó khu vực nông thôn đạt 64%, thành thị đạt 89%

Theo qui hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Sóc Trăng đến năm 2010, nguồn nước sử dụng cho cấp nước dân sinh của tỉnh chủ yếu là nước dưới đất và

Trang 13

một phần nước mặt từ sông Hậu và nước mưa Vì vậy, việc khai thác sử dụng tài nguyên nước trong vùng phục vụ cấp nước dân sinh và phát triển kinh tế một cách bền vững và hợp lý là một vấn đề cần có nghiên cứu khoa học và đưa ra giải pháp thích hợp cho vùng này

2 Mục tiêu của đề tài

- Đánh giá nhu cầu sử dụng nước và khả năng cấp nước hiện nay;

- Tính toán nhu cầu sử dụng nước và khả năng cấp nước của các nguồn cấp (nước mặt, nước mưa và nước dưới đất) trong tương lai;

- Xác lập giải pháp sử dụng hợp lý tài nguyên nước cấp cho dân sinh phục vụ phát triển bền vững và bảo vệ môi trường của tỉnh Sóc Trăng

3 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp điều tra khảo sát và tổng hợp tài liệu

- Phương pháp phân tích thống kê

- Bước đầu ứng dụng mô hình toán để tính toán nhu cầu nước và khả năng cấp nước

- Ứng dụng hệ thông tin địa lý (GIS) xây dựng cơ sở dữ liệu và thiết lập hệ thống bản đồ

4 Một số điểm mới của luận văn

thống (thống kê, tương quan, ) tính toán nhu cầu nước và khả năng cấp nước

và thiết lập bản đồ

Trang 14

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VÙNG NGHIÊN CỨU

1.1 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN

1.1.1 Vị trí địa lý

phía Nam và Tây nam giáp Bạc Liêu, phía Đông bắc giáp Trà Vinh, phía Đông và Đông nam giáp biển Tỉnh lỵ của Sóc Trăng hiện nay là thị xã Sóc Trăng, cách thành phố Hồ Chí Minh 231 km (Hình 1-1)

Hình 1-1: Bản đồ vị trí vùng nghiên cứu

Trang 15

1.1.2 Khí hậu

Cũng như các tỉnh khác ở ĐBSCL, Sóc Trăng có khí hậu ấm áp quanh năm, hàng năm có 2 mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng V đến tháng XI, mùa khô từ tháng XII đến tháng IV năm sau Các yếu tố khí hậu trong tỉnh như sau [1]:

Lượng mưa bình quân ở tỉnh Sóc Trăng khoảng 1.800mm, với 95% lượng mưa trong mùa mưa, và còn lại 5% trong mùa khô, nên mùa khô bị khô hạn nghiêm trọng

(Sóc Trăng 1.014 mm) Mùa khô có lượng bốc hơi bình quân tháng lớn từ 130 –

140 mm Mùa mưa lượng bốc hơi bình quân tháng nhỏ hơn, dao động trong khoảng từ khoảng 60 –70 mm

tháng I, II có độ ẩm bình quân thấp nhất (80 - 81%)

độ cao: 3m) được thể hiện ở bảng PL1 trong phần phụ lục

Nhìn chung điều kiện khí hậu ở đây rất thuận lợi cho việc phát phát triển của các loại cây trồng, đặc biệt là cây lúa và các lại cây ăn trái Tuy nhiên, trên góc độ sử dụng nước, lại bất lợi do việc phân mùa Mùa khô, hầu như không có mưa, bốc hơi lớn, lượng nước mặt bổ sung từ sông Hậu giảm, mặn xâm nhập sâu… nên lượng nước nhạt bị hạn chế, song mùa mưa lượng nước lại tương đối dồi dào

Trang 16

1.1.3 Đặc điểm địa hình – địa mạo

Địa hình tỉnh Sóc Trăng tương đối bằng phẳng và bị chia cắt nhiều bởi một hệ thống sông ngòi, kênh rạch dày đặc, và đây cũng là một trong những lý do khiến cho việc thau chua rửa mặn của vùng diễn ra chậm chạp Vùng nghiên cứu có cao độ trung bình 50-100 cm, cao nhất là trên 150 cm, thấp nhất là 10 cm so với mực nước biển trung bình và có xu thế thoải dần theo hướng Đông Bắc xuống Tây Nam Nơi có địa hình thấp nhất là vùng cù lao trên sông Hậu, vùng có địa hình cao nhất là khu vực Kế Sách – TX Sóc Trăng – Long Phú (Hình 1-2)

Hình 1-2: Bản đồ địa hình tỉnh Sóc Trăng

Trang 17

Địa mạo của vùng nghiên cứu tương đối đơn giản, mang sắc thái chung của miền đồng bằng ven biển Nam bộ, nhiều khu vực thường xuyên ngập nước, kênh rạch phát triển chằng chịt Trên bề mặt đồng bằng diện tích trồng lúa là chủ yếu

1.1.4 Đặc điểm thổ nhưỡng

Đất đai trong tỉnh Sóc Trăng thuộc loại trầm tích hỗn hợp sông biển có hàm lượng sét cao, chứa nhiều chất hữu cơ Do nằm trong vùng ảnh hưởng mặn, có nhiều vùng trũng, khó tiêu thoát, nên phần lớn đất đai bị nhiễm mặn và chua phèn Diện tích đất mặn và phèn không những chỉ ảnh hưởng đến việc phát triển sản xuất nông nghiệp, mà còn ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nước sử dụng cho tưới cũng như cung cấp cho ăn uống và sinh hoạt Đất phèn hoạt động và phèn tiềm tàng là nguồn gốc gây ra nước nhiễm chua phèn đặc biệt là vào thời kỳ đầu mùa mưa;

Đất Sóc Trăng có thể chia thành các nhóm chính: đất cát có 8.491 ha, đất phù sa có 6.372 ha, đất mặn có 158.547 ha, đất phèn có 75.823 ha và đất nhân tác có 46.146 ha

Diện tích đất phèn và đất mặn 234.370 ha chiếm 73% diện tích của tỉnh, đất này không chỉ ảnh hưởng xấu tới chất lượng nước mặt mà còn ảnh hưởng tới chất lượng nước dưới đất tầng nông

1.1.5 Đặc điểm thuỷ văn của tỉnh Sóc Trăng

Chế độ thuỷ văn vùng nghiên cứu chịu ảnh hưởng của thuỷ triều biển Đông, dòng chảy sông Hậu và mưa nội đồng

Thuỷ triều biển Đông có biên độ lớn nên vùng ven biển, ven cửa sông Hậu có biên độ 1,5 m đến 3,0m Tuy nhiên khi vào sâu trong nội đồng biên độ giảm nên chỉ có biên độ khoảng 0,5 - 1,5m vào mùa khô và 0,3m - 0,7m vào mùa mưa

Trang 18

Sự tác động mạnh của thuỷ triều đã kéo theo sự xâm nhập mạnh mẽ của nước mặn vào tỉnh Sóc Trăng theo các hướng truyền chính là từ sông Mỹ Thanh và vào các kênh rạch thông với cửa sông Hậu

Với chế độ thuỷ văn này cũng tạo điều kiện cho việc thau chua, rửa mặn và cải tạo môi trường nước mặt Tuy nhiên, nếu không có hệ thống công trình quản lý và vận hành tốt thì mặn có thể xâm nhập sâu vào trong nội đồng

1.2 TÌNH HÌNH DÂN SINH - KINH TẾ - XÃ HỘI

1.2.1 Dân số

Theo Niên giám thống kê tỉnh Sóc Trăng năm 2002 [9], diện tích tự nhiên của

và nông thôn là 1.000.557 người, với mật độ dân số bình quân trong toàn tỉnh là

Trang 19

Trên địa bàn Sóc Trăng có 26 dân tộc, nhưng chủ yếu là người Kinh, người Khơ

Me và người Hoa Sóc Trăng là tỉnh có số người Khơ Me đông nhất trong số các địa phương có người Khơ Me sinh sống với khoảng 35 vạn người, chiếm 28,9% dân số toàn tỉnh và chiếm 32,1% tổng số người Khơ Me của cả nước Các dân tộc chính trong tỉnh gồm: 800.824 là người Kinh, 353.925 là người Khơme, và 71568 là người Hoa Tốc độ tăng dân số tự nhiên trung bình là 1,555% (thành thị là 1,499% và nông thôn là 1,568%) Hiện nay Sóc Trăng, có 8 đơn vị hành chính cấp huyện, bao gồm thị xã Sóc Trăng và 7 huyện là: Kế Sách, Long Phú, Cù Lao, Mỹ Tú, Mỹ Xuyên, Thạnh Trị và Vĩnh Châu với 102 xã, phường và thị trấn Cũng như các tỉnh khác trong đồng bằng, ngoại trừ khu vực trung tâm tỉnh lỵ, dân

cư tỉnh Sóc Trăng có tập quán định cư dọc theo các sông, các trục kênh cấp I, II và các trục giao thông bộ Số dân cư sống rải rác chiếm tỷ trọng không đáng kể (khoảng 10%) Ở các huyện có mật độ dân số cao, dân cư cũng chỉ tập trung chủ yếu dọc các trục kênh, lộ lớn như: kênh Quản Lộ – Phụng Hiệp, Quốc lộ 1, các

Việc phân bố dân cư như đã trình bày ở trên sẽ phù hợp cho việc xây dựng hệ thống cấp nước theo dạng tập trung theo cụm và tuyến dân cư Tuy nhiên nếu tuyến ống cấp nước kéo dài quá thì vấn đề áp lực truyền nước sẽ giảm

1.2.2 Các ngành kinh tế chính

Các vấn đề về hiện trạng phát triển các ngành kinh tế chính của tỉnh sẽ chỉ được đề cập tập trung vào các ngành có liên quan và có ảnh hưởng trực tiếp đến vấn đề cấp nước

1.2.2.1 Sản xuất nông nghiệp

Sản xuất nông nghiệp là một trong những ngành hoạt độïng chiếm tỷ trọng cao nhất về sử dụng nước (khoảng 80 – 85% tổng lượng nước dùng cho tất cả các

Trang 20

ngành) Diện tích đất nông nghiệp là 263.831 ha (chiếm 82% diện tích toàn tỉnh), trong đó diện tích đất cây hàng năm là 197.846 ha Vì vậy, nó sẽ gây nên sự biến đổi mạnh về lượng, chất của cả nguồn nước mặt và nước dưới đất Đó là việc gây

ô nhiễm nguồn nước do sử dụng không hợp lý các loại hoá chất nông nghiệp, việc thải các loại chất thải sau thu hoạch Tốc độ phát triển nhanh của ngành trồng trọt trên cả ba phương diện: cơ cấu, diện tích và sản lượng đang tác động mạnh đến nguồn tài nguyên nước

1.2.2.2 Chăn nuôi:

Chăn nuôi ảnh hưởng không đáng kể đến lượng nước cấp, lượng nước sử dụng cho chăn nuôi rất nhỏ và có thể được sử dụng lại từ nguồn nước sinh hoạt của người, vì vậy nó ảnh hưởng trực tiếp tới nguồn nước sinh hoạt

1.2.2.3 Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp

Các ngành Công nghiệp ở Sóc Trăng chủ yếu là công nghiệp chế biến thực phẩm, vật liệu xây dựng, chế biển gỗ, lâm sản, sành sứ, thuỷ tinh và sản xuất nước đá, phần lớn là các xí nghiệp nhỏ, phân bố không tập trung Các ngành công nghiệp chiếm tỷ trọng lớn nhất là: Công nghiệp chế biến (5.073/5.084 cơ sở công nghiệp), trong đùó công nghiệp chế biến thực phẩm là 2.360 cơ sở Các cơ sở này yêu cầu về sử dụng lượng nước rất lớn Các cơ sở Công nghiệp chủ yếu có quy mô nhỏ, thuộc khu vực cá thể (5.060/5.084) Và đây cũng chính là nguồn có khả năng gây ô nhiễm môi trường nói chung và môi trường nước nói riêng

1.2.2.4 Cung cấp điện

Mạng lưới điện Quốc gia đã về đến tất cả các phường, xã trong tỉnh Bên cạnh nguồn điện lưới, các nguồn điện khác cũng được phát huy sử dụng (máy phát, điện bình…) và đến năm 2002, trong toàn tỉnh đã có khoảng 50% số hộ sử dụng

Trang 21

điện cho sinh hoạt và sản xuất Đây là một yếu tố khá thuận lợi cho công tác cấp nước sạch nông thôn

1.3 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA CHẤT

Ở vùng nghiên cứu có mặt các đất đá từ trước Paleozoi cho đến Kainozoi Trầm tích Holocen được lộ ra trên mặt, còn các trầm tích khác đều bị nó phủ lên trên Việc nghiên cứu địa tầng đất đá hoàn toàn dựa vào tài liệu địa vật lý (trước Paleozoi) và lỗ khoan thăm dò(Kainozoi) Với chùm lỗ khoan Q598050 ở Mỹ Xuyên với độ sâu 480m, còn phần lớn các lỗ khoan đều có độ sâu từ 120 – 150m Dựa vào tài liệu bản đồ địa chất thuỷ văn, các tài liệu khoan tìm kiếm nước dưới đất trên địa bàn của tỉnh và lân cận, có thể chia các mặt cắt trầm tích của vùng thành các phân vị địa tầng từ già đến trẻ như sau [6]:

1.3.1 Trầm tích Neogen – Thống Miocen (N 1 )

sâu tại khu vực thị xã Sóc Trăng và Mỹ Xuyên Chúng phân bố từ độ sâu 374m tới chiều sâu 500m Thành phần trầm tích chủ yếu là cát mịn – trung gắn kết yếu, mịn, thô xen kẹp các lớp sét vàng và cát bột Trầm tích có cấu tạo phân nhịp Phần dưới nhịp là các trầm tích hạt thô, chuyển dần lên phía trên là cát hạt mịn và trên cùng là sét phong hoá Trầm tích có sự phân bố rộng và có xu hướng chìm dần từ Bắc xuống Nam

Theo tài liệu lỗ khoan tại Bãi Sầu cho thấy tầng phân bố ở độ sâu từ 350m – 463m (chưa hết tầng)

1.3.2 Trầm tích Neogen – Thống Pliocen (N 2 )

Dựa vào đặc điểm thạch học người ta chia tầng này ra làm hai phần: Phần dưới: có độ sâu phân bố từ 187 - 215m tới 272 - 299m Thành phần thạch học chủ yếu

Trang 22

là cát hạt mịn – thô, đôi chỗ lẫn sạn sỏi, cát màu xám Tầng có cấu tạo dạng nhịp, dưới là trầm tích hạt thô chuyển dần lên phía trên là các trầm tích hạt mịn Tuy nhiên trầm tích ở đây có sự biến đổi về nham tướng theo chiều ngang Phần trên: phân bố từ độ sâu 173 - 192m đến 187 - 215m Thành phần thạch học chủ yếu là sét, cát mịn

1.3.3 Trầm tích Đệ tứ - Thống Pleistocen hạ (Q I )

Trầm tích này có sự biến đổi mạnh, phức tạp về thành phần cả theo mặt cắt và chiều sâu, có sự xen kẹp giữa các lớp hạt thô và mịn Nhìn chung có thể phân chia mặt cắt của tầng thành hai phần:

Phần dưới: thành phần chủ yếu là các lớp hạt thô, các lớp cát hạt trung xen kẹp các lớp cát hạt thô, hạt mịn và thấu kính bột, bột sét Chiều dày các lớp bột và sét biến đổi mạnh từ vài mét tới vài chục mét hoặc có khi biến mất Nhìn chung tỷ lệ các lớp sét xen kẹp của phần này chiếm khoảng 10%

Phần trên: thành phần chủ yếu là bột, bột sét Tuy nhiên có nơi chuyển thành cát bột hoặc cát Chiều dày các lớp bột sét và sét của phần này có nơi tới 60m, nhưng cũng có nơi mất hẳn Chiều dày trung bình 19m

1.3.4 Trầm tích Đệ tứ - Thống Pleistocen trung – thượng (Q II-III )

Trầm tích này phủ bất chỉnh hợp lên trầm tích cổ hơn Thành phần thạch học của tầng này gồm các lớp cát hạt mịn đến trung, bột sét và sét có màu xám xanh, xám

xi măng Các lớp phân bố xen kẹp lẫn nhau theo dạng nhịp, nhưng thành phần và chiều dày của chúng biến đổi mạnh Chúng được phân bố ở độ sâu từ 50-120m

1.3.5 Trầm tích Đệ tứ - Thống Pleistocen thượng (Q III )

Trầm tích này phân bố ở độ sâu từ 20 – 83 m Thành phần thạch học: cát, bột; các lớp cát phân bố không liên tục và có sự biến tướng khá mạnh, nhiều nơi lớp cát

Trang 23

này chuyển thành bột cát, bột hoặc bột sét Chiều dày và thành phần đất đá biến đổi mạnh theo diện

1.3.6 Trầm tích Đệ tứ - Thống Holocen (Q IV )

Trầm tích Holocen trong vùng được phân ra thành các nguồn gốc sau:

Trầm tích Holocen hạ – trung nguồn gốc sông biển có diện phân bố rộng trên phạm vi toàn tỉnh và được cấu tạo chủ yếu bởi các lớp hạt mịn gồm bột sét, bột cát, bột, sét, cát mịn Thành phần và nham tướng biến đổi phức tạp theo cả chiều sâu và diện tích Các lớp bột sét, sét thường có màu xám đen, các lớp cát có màu xám xanh đến xám đen hơi vàng Trong trầm tích này thường chứa nhiều vật chất hữu cơ và vỏ sò, vỏ hến, nhiều nơi gặp các lớp bùng Các lớp cát trong trầm tích Holocen hạ – trung thường có chiều dày mỏng vài mét và có dạng thấu kính Chiều dày trung bình của trầm tích Holocen hạ – trung khoảng 26m

Trầm tích Holocen thượng, được phân bố trên các cồn cát, doi cát với độ cao địa hình tương đối cao hơn so với các vùng xung quanh và phân bố dọc theo các sông lớn Trầm tích Holocen thượng thường xuất hiện trên các cồn cát có nguồn gốc biển, chúng được cấu tạo bởi các hạt mịn màu xám, xám nhạt với chiều dày khoảng 1 – 10m

Ở rìa các sông lớn, trầm tích Holocen thượng có nguồn gốc sông được cấu tạo chủ yếu bởi bột cát mịn và sét

1.4 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA CHẤT THUỶ VĂN

Theo báo cáo Đánh giá tiềm năng Quy hoạch Khai thác nước dưới đất tỉnh Sóc Trăng và một số tài liệu liên quan khác ([4], [5], [6]), nước dưới đất có ở mọi địa bàn trong tỉnh Ở đây trầm tích lỗ hổng có chiều dày lớn và có cấu trúc xen kẽ giữa các lớp hạt thô và mịn, nhưng có sự thay đổi mạnh về nham tướng và thành phần thạch học Theo chiều sâu ở Sóc Trăng có các thành hệ địa chất thuỷ văn

Trang 24

như sau (Sự phân bố các tầng chứa nước tham khảo mặt cắt dọc địa chất thuỷ văn khu vực Sóc Trăng tỷ lệ ngang: 1/100.000, đứng: 1/2000 - Hình 1-4):

Nguồn: Liên đoàn ĐCTV-ĐCCT Miền Nam

Hình 1-4: Mặt cắt dọc địa chất thuỷ văn khu vực Sóc Trăng

1.4.1 Thành hệ chứa nước trong trầm tích Đệ tứ

Thành hệ chứa nước Đệ tứ có ý nghĩa rất quan trọng trong việc cung cấp nước cho tỉnh Sóc Trăng Hầu hết các lỗ khoan khai thác quy mô công nghiệp, cũng

Trang 25

như các lỗ khoan đường kính nhỏ cung cấp nước cho nông thôn đều lấy nước trong thành hệ này Các tài liệu lỗ khoan trong vùng cho thấy trầm tích Đệ tứ có thành phần thạch học rất phức tạp, bao gồm: Cát hạt trung, hạt thô, cát bột, bột, bột sét và sét Các loại đất đá này biến đổi rất phức tạp theo cả chiều sâu lẫn diện phân bố Theo thành phần hạt có thể chia thành hệ Đệ tứ thành 3 tầng chứa nước và 3 lớp thấm nước – chứa nước yếu theo thứ tự như sau:

1.4.1.1 Tầng chứa nước và thấm nước yếu trong trầm tích Holocen (Q IV )

Tầng này phân bố trên toàn bộ vùng nghiên cứu, có chiều sâu đáy dao động từ 20 – 83m (thường là 20-45m) Thành phần thạch học: bột, bột sét, bùn, các lớp sét hoặc cát với chiều dày khoảng từ 2 đến 10m tạo nên những lớp chứa nước không liên tục Tầng có mức độ chứa nước yếu, tỷ lưu lượng thường đạt từ 0,02-0,11 l/sm (đối với các giếng đào) và 0,1 – 0,5 l/sm (đối với các giếng khoan)

Trong tầng chứa nước này ở các giồng cát thường tồn tại các lớp chứa nước mỏng, đất đá chứa nước là cát bột, cát trung màu xám trắng, xám vàng, đôi nơi có kết hạch sắt Chúng trực tiếp lộ ra trên bề mặt và phân bố thành dải hẹp kéo dài Các lớp chứa nước này thường gặp trên các vùng địa hình cao với những dải hẹp kéo dài phân bố rải rác trên khắp vùng nghiên cứu, diện tích rộng nhất là ở vùng ven biển Vĩnh Châu

Nước trong tầng này được nước mưa cung cấp và đường thoát chủ yếu của nó là bốc hơi và thoát ra ở phần có địa hình thấp ven rìa thành các mạch nhỏ dưới dạng thấm ướt sườn dốc Động thái mực nước dao động theo mùa và chịu ảnh hưởng trực tiếp của mưa Tại vùng Vĩnh Châu, trên các cồn cát có nhiều đầm hổ nhỏ mà nguồn cung cấp chính của chúng là nước dưới đất

Nước trong các giồng cát thường nhạt, về thành phần hoá học đạt tiêu chuẩn cho ăn uống và sinh hoạt Song do nằm sát mặt đất, có quan hệ thuỷ lực trực tiếp với

Trang 26

nước mặt và chịu ảnh hưởng mạnh bởi các hoạt động của con người nên rất dễ bị nhiễm bẩn Ở nhiều nơi nhân dân đã đào giếng để lấy nước trong lớp này phục vụ cho ăn uống và sinh hoạt, riêng khu vực Vĩnh Châu, nhân dân đã dùng nước của lớp này để tưới cho hoa màu

Theo tài liệu một số giếng khoan thì tầng chứa nước này có chất lượng rất phức tạp, đa số nước trong các giếng khoan có độ khoáng hoá cao, nhưng có nơi nước trong tầng này lại nhạt Thành phần của các ion chính thì nước thuộc loại Clorua – Bicacbonat – natri hoặc Clorua – Bicacbonat - Magiê Theo kết quả tổng hợp tài liệu từ nhiều nguồn khác nhau, xây dựng bản đồ phân bố nước dưới đất theo độ tổng khoáng hoá cho tầng Holocen (Hình 1-5)

Hình 1-5: Bản đồ phân bố nước dưới đất theo độ tổng khoáng hoá - Tầng chứa

nước Holocen

Trang 27

Tầng chứa nước này hiện đang được “rửa nhạt” bởi nước mưa và nước tưới, tuy nhiên tốc độ rất chậm và mức độ dẫn nước kém

Tầng chứa nước – thấm nước yếu trong trầm tích Holocen ít có giá trị trong khai thác phục vụ cung cấp nước tập trung, nhưng chúng lại có vai trò rất quan trọng trong việc cấp nước nhỏ và bảo vệ chất lượng nước của tầng chứa nước phía dưới Tầng chứa nước này là lớp bảo vệ cho các tầng dưới khỏi bị nhiễm bẩn từ nguồn nước mặt và nó cũng đóng vai trò tiếp nhận nước mưa, nước mặt để cung cấp cho tầng dưới Chất lượng nước của tầng này ảnh hưởng nhất định tới tầng chứa nước

ở dưới, đặc biệt trong quá trình khai thác nước ở các tầng dưới

1.4.1.2 Tầng chứa nước trong trầm tích Pleistocen thượng (Q III )

Tầng chứa nước này phân bố trong toàn tỉnh Sóc Trăng và bị tầng Holocen phủ lên Tầng chứa nước này có chiều sâu mái dao động từ 20 – 83 m (thường là từ 20-45m), chiều sâu đáy từ 39 – 137m (thường là từ 45-70m) Thành phần thạch học: cát, bột; các lớp cát phân bố không liên tục và có sự biến tướng khá mạnh, nhiều nơi lớp cát này chuyển thành bột cát, bột hoặc bột sét Chiều dày và thành phần đất đá biến đổi mạnh theo diện Chiều dày của các lớp cát chứa nước biến đổi mạnh từ 6 - 34,5m Cát thường có thành phần hạt mịn đến trung hoặc bột sét dày từ vài mét đến hàng chục mét, có nơi trong tầng chứa nước này có vài lớp bột, bột sét xen kẹp dày tới 10m

Nước ở tầng này thuộc loại nước có áp, mực nước cách mặt đất khoảng 1m, chiều cao áp lực thay đổi từ 20-80m Kết quả hút nước thí nghiệm tại lỗ khoan 903 cho lưu lượng Q = 9,03 l/s, mực nước hạ thấp 18,8m; có tỷ lưu lượng khoảng 0,5 l/sm Tài liệu quan trắc động thái nước dưới đất tại lỗ khoan LK903 cho thấy nước của tầng dao động theo mùa

Trang 28

Theo tài liệu vật lý và tài liệu giếng khoan UNICEF thì chất lượng nước của tầng này ít biến đổi, đôi chỗ bị mặn, còn lại đa số là nước nhạt Nước có công thức

1,13

SO HCO Cl M

Mg Na+K Ca

Về chất lượng, hầu hết tầng chứa nước bị mặn, lẫn nhiều bùn, cát; chỉ có một khu vực nhỏ phía bắc vùng dự án Tiếp Nhật có nước thuộc loại nhạt, chất lượng tốt, có thể đáp ứng cho nhu cầu ăn uống và sinh hoạt (tuy nhiên cần xử lý sắt) Dựa trên kết quả quan trắc của Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Sóc Trăng, ứng dụng công cụ GIS (Vertical mapper trên nền MapInfo) tác giả xây dựng bản đồ phân bố độ tổng khoáng hoá cho tầng chứa nước này, Hình 1-6

Hình 1-6: Bản đồ phân bố nước dưới đất theo độ tổng khoáng hoá - Tầng chứa

nước trong trầm tích Pleistocen thượng

Trang 29

Tầng này có quan hệ thuỷ lực với tầng chứa nước Holocen và thông qua tầng Holocen có quan hệ với nước mưa và nước mặt Nước mưa và nước mặt cung cấp nước thông qua tầng chứa nước Holocen Ngoài ra ở những nơi sông cắt vào mái tầng chứa nước thì nước sông cũng cung cấp cho tầng Nhìn chung tầng chứa nước có mức độ chứa nước trung bình, mức độ nghiên cứu về tầng còn ít

1.4.1.3 Tầng thấm nước – chứa nước rất yếu trong trầm tích Pleistocen trung -

thượng (Q II-III )

Tầng này có độ sâu mái thay đổi từ 39 – 137m (thường từ 40 – 70m) và chiều sâu đáy từ 57 – 144m Chiều dày của tầng biến đổi từ 5m (LK908) đến 31,6m (LK905) Tầng được cấu tạo chủ yếu bởi bột, bột sét, sét bột, có nơi có các lớp sét, cát mỏng với chiều dày một vài mét như tại LK 902 ở Thị xã Sóc Trăng Tầng này đóng vai trò cách nước giữa tầng chứa nước Pleistocen thượng và tầng chứa nước Pleistocen trung thượng, song mức độ cách nước thay đổi mạnh, ở nơi vắng lớp sét, sét bột thì mức độ cách nước của tầng kém (như tại lỗ khoan 910), tầng được cấu tạo bởi bột cát thì mức độ cách nước kém còn ở LK901 thì lớp bột sét dày tới 7m hoặc LK902 lớp sét 3,2m thì mức độ cách nước của tầng tốt hơn

1.4.1.4 Tầng chứa nước trong Pleistocen trung thượng (Q II-III )

Tầng có độ sâu mái biến đổi từ 57,6 – 144m (ở khu vực thị xã Sóc Trăng chiều sâu mái của tầng là từ 80-95m) và chiều sâu đáy từ 68-147m, với chiều dày thay đổi từ 8,5 – 52m Tầng này khá đồng nhất về thành phần thạch học và được cấu tạo bởi cát hạt mịn đến thô, chủ yếu là cát hạt trung; có nơi xen các lớp bột với chiều dày biến đổi từ vài mét tới 23m (lỗ khoan PG)

Tầng này có một số lỗ khoan hút nước thí nghiệm Tại lỗ khoan ở vùng Thạnh Trị (lỗ khoan TT) lưu lượng hút Q = 23l/s, mực nước hạ thấp S = 16m ứng với chiều sâu ông lọc từ 91-103,7m; đường kính ống lọc 168mm

Trang 30

Về chất lượng nước, nước trong tầng Pleistocen trung có thành phần hoá học thuộc loại Bicacbonat – Clorua hay Bicacbonat – Sulfate với độ tổng khoáng hoá là 0,5g/l Độ cứng thay đổi trong khoảng 1,98 – 7,25mge/l; độ pH thay đổi từ 6 – 8,9, thuộc loại nước kiềm yếu Nước nhạt phân bố ở phần lớn diện tích của tỉnh (Kế Sách, Thị xã Sóc Trăng, Mỹ Xuyên, nửa Mỹ Tú và Vĩnh Châu), khu vực Thạnh Trị và Ngã Năm nước có độ tổng khoáng hoá 1,0-1,5 g/l; trong điều kiện đặc biệt khó khăn chúng ta cũng có thể tận dụng nguồn nước này để cấp nước Dựa trên kết quả quan trắc của Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Sóc Trăng, ứng dụng công cụ GIS tác giả xây dựng bản đồ phân bố độ tổng khoáng hoá cho tầng chứa nước này, Hình 1-7

Hình 1-7: Bản đồ phân bố nước dưới đất theo độ tổng khoáng hoá - Tầng chứa

nước trong trầm tích Pleistocen trung - thượng

Trang 31

Hàm lượng sắt cũng biến đổi mạnh và khá phức tạp, hầu hết cao hơn tiêu chuẩn cho phép Nhìn chung nước trong tầng này nhạt, có chất lượng tốt, có thể đáp ứng đước nhu cầu cho ăn uống và sinh hoạt (nhưng phải xử lý sắt) Tuy nhiên, ở một số nơi tồn tại các dải nước mặn xen kẹp trong khu vực nước nhạt kiểu “da báo” Công thức Cuốc Lốp của lỗ khoan ở Thạnh Trị (TT) như sau:

1.4.1.5 Lớp thấm nước yếu trong trầm tích Pleistocen hạ (Q I )

Lớp này phân bố không liên tục trong vùng nghiên cứu Lớp này có chiều dày biến đổi từ 4 – 41m, rất nhiều nơi lớp này vắng mặt Lớp này được thành tạo chủ yếu từ bột, đôi chỗ chuyển thành bết sét như lỗ khoan 901, 911 và TQ

1.4.1.6 Tầng chứa nước trong trầm tích Pleistocen hạ (Q I )

Tầng chứa nước trong trầm tích Pleistocen hạ được cấu tạo bởi các lớp cát từ mịn đến thô, nhưng chủ yếu là hạt trung, đôi chỗ xen kẹp các lớp bột mỏng dày từ 1-2m Mái của tầng phân bố ở độ sâu từ 80-195m, nổi cao ở phần trung tâm của vùng và sâu nhất ở phía Tây Bắc của vùng Đáy của tầng phân bố ở độ sâu từ 162-275m, và cũng chìm dần về phía Tây Bắc của vùng

Tầng có mức độ chứa nước khá lớn Trong vùng đã có mộ6t số công trình thăm dò và khai thác nước trong tầng này Các lỗ khoan hút nước trong tầng này có lưu lượng lớn Q = 12,3 – 27,2l/s, mực nước tĩnh trong lỗ khoan biến đổi từ 0,5 – 2,2m; tỷ lưu lượng q = 0,9 – 2,7l/s.m

Tầng chứa nước Pleistocen hạ có mức độ chứa nước lớn, các lỗ khoan khai thác

Trăng và một số huyện thị hoặc cụm dân cư đang khai thác trong tầng này Kết quả điều tra cho thấy do chịu ảnh hưởng của khai thác nước dưới đất ở thị xã Sóc

Trang 32

Trăng và một số thị trấn cùng hệ thống giếng UNICEF phục vụ cho ăn uống sinh hoạt và một phần cho tưới mà mực nước của tầng hạ thấp dần, hầu hết khắp nơi trong tỉnh mực nước của tầng đều hạ thấp Tuy nhiên, biên độ hạ thấp là khác nhau theo, lớn nhất là ở thị xã sóc Trăng

Chất lượng nước, nhìn chung là tốt, nước có độ tổng khoáng hoá m < 1g/l Thành phần hoá học của nước thuộc loại Bicacbonat – Clorua – Sulfate – Natri – Magiê – Canxi hay Clorua – Bicacbonat – Natri – Magiê – Canxi Đa số các mẫu nước

lượng Cl nhỏ hơn giới hạn cho phép, thường tù 20–200mg/l; độ cứng từ 2–6mge/l, nước hơi cứng Độ pH từ 6 -8, từ a xít đến kiềm yếu, đa số trên 7

Chất lượng nước của tầng nhìn chung là tốt, đáp ứng nhu cầu cấp nước dân sinh Tuy nhiên, một số vùng quy luật biến đổi chất lượng nước khá phức tạp, có sự xen kẽ giữa nước mặn và nước nhạt dạng “da báo” Mặt khác, do ảnh hưởng của quá trình khai thác nước trong tầng này, kỹ thuật khoan cũng như cách ly tầng chưa đảm bảo đã làm xảy ra hiện tượng ô nhiễm phèn, mặn tầng chứa nước này Dựa trên kết quả quan trắc của Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Sóc Trăng, ứng dụng công cụ GIS tác giả xây dựng bản đồ phân bố độ tổng khoáng hoá cho tầng chứa nước này, xem Hình 1-8

Công thức hoá học của nước tại các lỗ khoan như sau:

Trang 33

Hình 1-8: Bản đồ phân bố nước dưới đất theo độ tổng khoáng hoá - Tầng chứa

nước trầm tích Pleistocen hạ Tóm lại: trừ một số khu vực nước của tầng bị mặn và ô nhiễm cục bộ, còn lại phần lớn diện tích của tầng chứa nước, nước đều đạt chỉ tiêu cho ăn uống và sinh hoạt (ngoại trừ hàm lượng sắt hơi cao cần xử lý)

1.4.2 Thành hệ chứa nước trong trầm tích Neogen

Các lỗ khoan nghiên cứu nước dưới đất trong trầm tích Neogen trong vùng còn rất ít Tuy nhiên, qua các lỗ khoan trong vùng cho thấy trầm tích Neogen hình thành hai tầng chứa nước rõ rệt là tầng chứa nước Neogen thượng – hay còn gọi

Trang 34

Giữa các thành tạo chứa nước trong trầm tích Neogen và tầng chứa nước trong trầm tích Pleistocen hạ tồn tại một lớp cách nước yếu với thành phần là bột sét khá dầy, có diện phân bố liên tục Nằm dưới lớp cách nước trên là các trầm tích chứa nước với thành phần chủ yếu là cát có xen kẹp các lớp bột, bột sét và có thể chia thành hai tầng chứa nước Sự phân bố các tầng chứa nước theo chiều sâu, tham khảo mặt cắt dọc địa chất thuỷ văn khu vực Sóc Trăng - Hình 1-4

1.4.2.1 Tầng chứa nước Pliocen (N 2 )

Qua tài liệu lỗ khoan trong vùng cho thấy mái của tầng nằm ở độ sâu 245m; đáy gặp ở độ sâu 377-388m Qua mặt cắt của các lỗ khoan cho thấy đất đá của tầng chứa nước có thể chia ra làm 2 phần: phần trên là cát trung đến thô, phần dưới là cát mịn Tài liệu bơm hút nước thí nghiệm các lỗ khoan trong thị xã Sóc Trăng cho thấy tầng có mức độ chưa nước trung bình, lưu lượng Q = 3,7-7,4l/s; mực nước hạ thấp 19,6-20,5m

146,5-Chất lượng nước của phức hệ chứa nước này chưa được nghiên cứu nhiều, song qua tài liệu đo sâu điện Karota và phân tích nước tại thị xã Sóc Trăng cho thấy nước của phức hệ chứa nước này rất mặn, có nguồn gốc biển, không sử dụng cho ăn uống và sinh hoạt được Tuy nhiên, tại một số xã của Long Phú và Thạnh Trị nước ở tầng này có chất lượng tốt hơn, có thể sử dụng cho ăn uống và sinh hoạt được (Hình 1-9)

1.4.2.2 Tầng chứa nước Miocen (N 1 )

Toàn tỉnh hiện chỉ có ba lỗ khoan trong phức hệ chứa nước này Qua tài liệu khoan và địa vật lý cho thấy tầng có diện phân bố rộng rãi Mặt cắt của tầng gồm

Chiều dày của lớp biến đổi từ 19,3-84m; chiều sâu mái của tầng chứa nước này

Trang 35

biến đổi từ 396 – 434m, mực áp lực của tầng khá lớn, thường cao hơn mặt đất Kết quả hút nước thí nghiệm ở phức hệ chứa nước này cho thấy khá giàu nước (20 l/s tại lỗ khoan Bãi Sầu, với S=4m)

Hình 1-9: Bản đồ phân bố nước dưới đất theo độ tổng khoáng hoá - Tầng chứa

nước Pliocen Nước trong phức hệ chứa nước này có chất lượng tốt (ngoại trừ một số xã nằm về phía Bắc của huyện Kế sách (An Lạc Thôn, Phong Nẫm, Xuân Hoà), nước có tổng độ khoáng hoá cao (Hình 1-10)

Nước thuộc dạng Bicacbonat – Clorua – Natri, nước có nhiệt độ khá cao từ

sau:

Trang 36

Hình 1-10: Bản đồ phân bố nước dưới đất theo độ tổng khoáng hoá - Tầng chứa

Hiện tại nước trong hai lỗ khoan này đang được sử dụng cho ăn uống và sinh

trấn Mỹ Xuyên, còn lỗ khoan 9598 nước tự chảy

Tài liệu về phức hệ chứa nước này còn ít, song cho thấy đây là tầng chứa nước có triển vọng, nên đầu tư nghiên cứu để khai thác cho các khu vực mà các tầng chứa nước khác không đảm bảo chất lượng

Trang 37

1.5 TÀI NGUYÊN NƯỚC

1.5.1 Tài nguyên nước mặt

Sóc Trăng có mạng lưới kinh rạch khá phát triển với mật độ trung bình khoảng

những kênh rạch nhỏ, tuy nhiên chất lượng nước trên các kênh này thường rất kém do ảnh hưởng chất thải và nhiễm mặn, nhiễm phèn

Hình 1-11: Bản đồ hiện trạng công trình thuỷ lợi tỉnh Sóc Trăng năm 2000 Nhìn chung các kênh rạch phía Bắc thường có chất lượng khá nhất trong vùng, tổng khoáng hoá thường không cao do không bị ảnh hưởng của triều mặn và được

Trang 38

cung cấp nước nhạt từ các nguồn sông rạch phía Bắc đổ về Tuy nhiên chất lượng nước ở đây biến đổi khá rõ nét theo mùa

Một số các sông rạch chính trong vùng: sông Hậu, sông Mỹ Thanh, kênh-Rạch Nhu Gia, kênh Quản Lộ - Phụng Hiệp Ngoài các sông, kênh chính kể trên, còn có hệ thống kênh trục, cấp I nối với sông Hậu như: Cái Trâm, Rạch Vọp, Số Một, 30/4, Saintard, Tiếp Nhật…và nối với kênh Quản Lộ Phụng Hiệp như Nhu Gia, Cái Trầu – Phú Lộc, Vĩnh Lộc…Các kênh này cùng với hệ thống kênh cấp hai tạo nên một hệ thống khá chằng chịt góp phần cấp nước và tiêu thoát nước cho tỉnh

- Sông Hậu: là một nhánh của sông Mekong, chạy dọc theo biên giới phía Đông Bắc của tỉnh Sông là nguồn nước chính có thể sử dụng cho các ngành sản xuất kinh tế và cấp nước sinh hoạt của tỉnh

Nước sông Hậu theo các kênh như Cái Côn, Rạch Vọp, Cái Tràm, Số Một… chuyển vào nội vùng Sóc Trăng Các tháng mùa khô, lưu lượng này vào khoảng

qua các trục như:

Trầu- Phú Lộc, Cái Trầu, Nhu Gia, Ba rinh – Tà Liêm…; Nước trên các kênh này nhạt quanh năm

Tiếp Nhật, Bà Xẩm (vùng Long Phú) và các kênh nối thông ra biển ở Vĩnh Châu; Các kênh trong dự án Tiếp Nhật có thời gian nhạt quanh năm nhờ hệ thống cống Riêng kênh Santard có thời gian nhạt trên 9 tháng; Các kênh ven biển Vĩnh Châu dường như mặn quanh năm

Trang 39

o Vùng các cù lao trên sông; tại đây hệ thống kênh đào lớn không phát triển, chủ yếu là hệ thống các kênh cấp hai Thời gian có nước nhạt ở đây từ 5 - 9 tháng

Nhờ vào các Dự án phát triển Thuỷ lợi như: Quản Lộ - Phụng Hiệp, Ba Rinh - Tà Liêm, Kế Sách, Tiếp Nhật (chiếm khoảng 60% diện tích tự nhiên của tỉnh), trong một tương lai rất gần, toàn bộ diện tích vùng Bắc Quốc lộ I – Sóc Trăng - Đại Ngãi sẽ được nhạt hoá

Về chất lượng nguồn nước mặt [7]:

Nguồn cấp nước mặt chính của Sóc Trăng là từ sông Hậu, theo các hệ thống sông, kênh rạch chằng chịt đưa nước về Sóc Trăng Các số liệu giám sát chất lượng nước trong những năm qua tại các trạm trên sông Hậu cho thấy nước sông Hậu có chất lượng tốt, hiện chưa có các dấu hiệu ô nhiễm hoá học nào Tuy nhiên, khi về tới Sóc Trăng, cùng với các vấn đề xâm nhập mặn và nước phèn- những trở ngại gây ra do cấu trúc thổ nhưỡng và đặc điểm địa hình, sự nhiễm bẩn

do các hoạt động của con người và các hoạt động phát triển kinh tế gây ra đã làm cho chất lượng nước trở nên xấu đi Một số vấn đề chính về chất lượng nước mặt của Sóc Trăng như sau:

i Xâm nhập mặn

Nằm tiếp giáp với biển Đông, nguồn nước mặt Sóc Trăng chịu sự tác động xâm nhập mặn mạnh mẽ từ biển Đông thông qua hệ thống sông Mỹ Thanh, sông Hậu, các kênh ven biển Vĩnh Châu … Hiện nay toàn bộ phần diện tích nằm ở phía Nam Quốc lộ I - Sóc Trăng, Đại Ngãi đều nằm trong vùng bị ảnh hưởng mặn 4g/l từ 3 – 6 tháng

Trên sông Hậu, trước năm 1985 ranh mặn 1g/l nằm ở An Lạc Tây, song những năm gần đây, mặn đã lên cao hơn (đặc biệt năm 1999 độ mặn 1g/l lên cách Thượng lưu An Lạc Tây 4km) và như vậy rất có khả năng mặn 1g/l đã lên tới An

Trang 40

Lạc Thôn Tuy nhiên, thời gian ảnh hưởng chỉ một số giờ, trong các tháng 3, 4 &

5 Đảm bảo quanh năm tiêu chuẩn về độ mặn cho nước sinh hoạt, dọc sông Hậu, trong địa phận Sóc Trăng chỉ còn cửa Cái Côn với hai nhánh Cái Côn và Quản Lộ

1999 thời gian duy trì mức 1g/l kéo dài tới 17 ngày (13/3 – 30/3)

Hiện nay nhờ các dự án thuỷ lợi Tiếp Nhật, Ba Rinh -Tà Liêm, Quản Lộ – Phụng Hiệp, nước mặn chỉ còn ở trên các sông rạch và chủ yếu chỉ còn ở phần lớn huyện Mỹ Xuyên, Vĩnh Châu, một phần huyện Thạnh Trị và cù lao trên sông Cũng phải cần chú ý là sông Hậu đoạn chảy qua Sóc Trăng là đoạn rất nhạy cảm với việc xâm nhập mặn Mỗi khi việc khai thác nước sông ở các nước Thượng lưu và các tỉnh phía trên gia tăng, thời tiết thất thường, khả năng đẩy ranh mặn lên cao tại Sóc Trăng là rất có thể xảy ra

ii Nhiễm bẩn:

Nước mặt của các hệ thống kênh rạch của Sóc Trăng nói chung đều bị ảnh hưởng của các loại chất thải sinh hoạt Do điều kiện sống thấp, cũng như do các tập quán sinh hoạt, hầu hết cư dân sống ven các tuyến kênh rạch đều thải mọi loại chất thải xuống kênh mương

Các phân tích tại các điểm gần khu vực dân cư sinh sống trên kênh đều cho thấy hàm lượng các chất hữu cơ tương đối cao Giá trị nhu cầu sinh hoá Oxy (BOD5), COD tại các điểm lấy mẫu nước thải ở tất cả các huyện trong tỉnh đều rất cao

Ngày đăng: 16/04/2021, 04:43

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Lê Khánh Chiên, Nguyễn Văn Ngọc, Phạm Văn Mạnh (2002), Tính toán thuỷ lực và xâm nhập mặn mùa cạn cho tỉnh Sóc Trăng, vẽ các bản đồ hiện trạng sản xuất, hiện trạng thuỷ lợi và các bản đồ phát triển sản xuất đến 2005, 2010, khả năng xâm nhập mặn trên hệ GIS, Phân Viện Khảo sát Quy hoạch Thuỷ lợi Nam Bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tính toán thuỷ lực và xâm nhập mặn mùa cạn cho tỉnh Sóc Trăng, vẽ các bản đồ hiện trạng sản xuất, hiện trạng thuỷ lợi và các bản đồ phát triển sản xuất đến 2005, 2010, khả năng xâm nhập mặn trên hệ GIS
Tác giả: Lê Khánh Chiên, Nguyễn Văn Ngọc, Phạm Văn Mạnh
Năm: 2002
[2] Lê Khánh Chiên &amp; nnk (2001), Nghiên cứu cân bằng nước Đồng bằng sông Cửu Long, Phân Viện Khảo sát Quy hoạch Thuỷ lợi Nam Bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu cân bằng nước Đồng bằng sông Cửu Long
Tác giả: Lê Khánh Chiên &amp; nnk
Năm: 2001
[3] Huỳnh Thị Minh Hằng (2001), Địa chất môi trường, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa chất môi trường
Tác giả: Huỳnh Thị Minh Hằng
Năm: 2001
[4] Đỗ Tiến Hùng &amp; nnk (1997), Báo cáo chuyên đề Đặc điểm địa chất thuỷ văn đô thị Sóc Trăng, Cục Địa chất Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo chuyên đề Đặc điểm địa chất thuỷ văn đô thị Sóc Trăng
Tác giả: Đỗ Tiến Hùng &amp; nnk
Năm: 1997
[5] Trần Văn Lã &amp; nnk (1993), Báo cáo nghiên cứu Nước dưới đất vùng Đồng bằng Sông Cửu Long, Đề tài KC12-06, Đoàn Địa chất 806 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo nghiên cứu Nước dưới đất vùng Đồng bằng Sông Cửu Long
Tác giả: Trần Văn Lã &amp; nnk
Năm: 1993
[6] Đặng Đình Phúc (1999), Đánh giá tiềm năng Quy hoạch Khai thác nước ngầm tỉnh Sóc Trăng, Trung tâm Đánh giá Tài nguyên nước Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá tiềm năng Quy hoạch Khai thác nước ngầm tỉnh Sóc Trăng
Tác giả: Đặng Đình Phúc
Năm: 1999
[7] Phạm Xuân Phương &amp; nnk (2000), Quy hoạch tổng thể cấp nước sạch &amp; vệ sinh môi trường nông thôn tỉnh Sóc Trăng đến năm 2010, Phân Viện Khảo sát Quy hoạch Thuỷ lợi Nam Bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch tổng thể cấp nước sạch & vệ sinh môi trường nông thôn tỉnh Sóc Trăng đến năm 2010
Tác giả: Phạm Xuân Phương &amp; nnk
Năm: 2000
[8] Stanislav Turek (1971), Sách tra cứu của nhà Địa chất thuỷ văn, Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội, 1984 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách tra cứu của nhà Địa chất thuỷ văn
Tác giả: Stanislav Turek
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 1971
[10] Quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội tỉnh Sóc Trăng đến năm 2010, Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Sóc Trăng, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội tỉnh Sóc Trăng đến năm 2010
[11] Báo cáo sơ kết 5 năm thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn năm 1999-2003 và phương hướng nhiệm vụ 2004, 2005-2010, Sở Nông nghiệp &amp; Phát triển nông thôn tỉnh Sóc Trăng, 10-2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo sơ kết 5 năm thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn năm 1999-2003 và phương hướng nhiệm vụ 2004, 2005-2010
[12] Tuyển tập báo cáo khoa học, Hội thảo khoa học Tài nguyên nước ngầm Việt Nam, hiện trạng khai thác, phương hướng sử dụng hợp lý ở các tỉnh phía Nam, Thành phố Hồ Chí Minh 8/2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập báo cáo khoa học
1. Phạm Văn Mạnh, Nguyễn Tăng Vinh (1994), Báo cáo tóm tắt điều kiện địa chất thuỷ văn Đồng bằng sông Cửu Long, Đề tài cấp nhà nước KC12-06, Phân viện Khảo sát Quy hoạch Thuỷ lợi Nam bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tóm tắt điều kiện địa chất thuỷ văn Đồng bằng sông Cửu Long
Tác giả: Phạm Văn Mạnh, Nguyễn Tăng Vinh
Năm: 1994
2. Phạm Văn Mạnh (1994-2002), Khảo sát địa chất công trình và lập báo cáo địa chất cho một số kênh chính, đê, cống… ở Đồng bằng Sông Cửu Long, Phân viện Khảo sát Quy hoạch Thuỷ lợi Nam bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát địa chất công trình và lập báo cáo địa chất cho một số kênh chính, đê, cống… ở Đồng bằng Sông Cửu Long
3. Phạm Văn Mạnh (1996), Báo cáo về điều kiện địa chất, địa chất thuỷ văn phục vụ nghiên cứu Tiền khả thi vùng Tứ Giác Long Xuyên, Phân viện Khảo sát Quy hoạch Thuỷ lợi Nam bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo về điều kiện địa chất, địa chất thuỷ văn phục vụ nghiên cứu Tiền khả thi vùng Tứ Giác Long Xuyên
Tác giả: Phạm Văn Mạnh
Năm: 1996
4. Phạm Văn Mạnh (1996), Báo cáo về điều kiện địa chất, địa chất thuỷ văn phục vụ Quy hoạch thuỷ lợi lưu vực Sông Vàm Cỏ, Phân viện Khảo sát Quy hoạch Thuỷ lợi Nam bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo về điều kiện địa chất, địa chất thuỷ văn phục vụ Quy hoạch thuỷ lợi lưu vực Sông Vàm Cỏ
Tác giả: Phạm Văn Mạnh
Năm: 1996
5. Phạm Văn Mạnh &amp; nnk (1998), Báo cáo về điều kiện địa chất, địa chất thuỷ văn phục vụ Quy hoạch thuỷ lợi lưu vực Sông Ray, Phân viện Khảo sát Quy hoạch Thuỷ lợi Nam bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo về điều kiện địa chất, địa chất thuỷ văn phục vụ Quy hoạch thuỷ lợi lưu vực Sông Ray
Tác giả: Phạm Văn Mạnh &amp; nnk
Năm: 1998
6. Phạm Văn Mạnh &amp; nnk (1998), Báo cáo về điều kiện địa chất, địa chất thuỷ văn phục vụ Quy hoạch thuỷ lợi lưu vực Sông La Ngà, Phân viện Khảo sát Quy hoạch Thuỷ lợi Nam bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo về điều kiện địa chất, địa chất thuỷ văn phục vụ Quy hoạch thuỷ lợi lưu vực Sụng La Nga
Tác giả: Phạm Văn Mạnh &amp; nnk
Năm: 1998
7. Phạm Văn Mạnh (2000), Báo cáo về điều kiện địa chất, địa chất thuỷ văn phục vụ Quy hoạch chi tiết Đồng Tháp Mười, Phân viện Khảo sát Quy hoạch Thuỷ lợi Nam bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo về điều kiện địa chất, địa chất thuỷ văn phục vụ Quy hoạch chi tiết Đồng Tháp Mười
Tác giả: Phạm Văn Mạnh
Năm: 2000
8. Phạm Văn Mạnh &amp; nnk (2000), Báo cáo về điều kiện địa chất, địa chất thuỷ văn phục vụ Quy hoạch thuỷ lợi lưu vực Sông Sài Gòn, Phân viện Khảo sát Quy hoạch Thuỷ lợi Nam bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo về điều kiện địa chất, địa chất thuỷ văn phục vụ Quy hoạch thuỷ lợi lưu vực Sông Sài Gòn
Tác giả: Phạm Văn Mạnh &amp; nnk
Năm: 2000
9. Phạm Văn Mạnh &amp; nnk (2001), Báo cáo về điều kiện địa chất, địa chất thuỷ văn phục vụ Quy hoạch thuỷ lợi lưu vực Sông Bé, Phân viện Khảo sát Quy hoạch Thuỷ lợi Nam bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo về điều kiện địa chất, địa chất thuỷ văn phục vụ Quy hoạch thuỷ lợi lưu vực Sông Be
Tác giả: Phạm Văn Mạnh &amp; nnk
Năm: 2001

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm