luận văn
Trang 11 Mở đầu 1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong nền nông nghiệp thế giới, trang trại (mà chủ yếu là trang trại gia
đình) là một hình thức tổ chức sản xuất có vai trò hết sức quan trọng trong hệ thống nông nghiệp của mỗi nước ở các nước phát triển, trang trại gia đình
có vai trò to lớn và có ý nghĩa quyết định trong sản xuất nông nghiệp, sản xuất ra tuyệt đại bộ phận nông sản phẩm cho xã hội
ở Việt Nam, kinh tế trang trại mới phát triển trong những năm gần
đây, từ khi nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước, mục tiêu là công nghiệp hoá - hiện đại hoá (CNH - HĐH) đất nước, song lấy nông nghiệp là khâu đột phá Đặc biệt là sau Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị (tháng 4/1988) về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp, quan hệ sản xuất trong nông nghiệp nước ta được điều chỉnh một bước Và đến Nghị quyết VI của Ban Chấp hành Trung ương (khoá VI - tháng 3/1989) về sự phát huy vai trò tự chủ của kinh tế hộ nông dân đã đặt nền móng cho sự ra
đời của kinh tế trang trại Hơn nữa sau khi có Luật đất đai ra đời (năm 1993) quy định 5 quyền sử dụng đất thì kinh tế trang trại thực sự phát triển nhanh
và đa dạng
Mặc dù mô hình kinh tế trang trại nước ta mới phát triển nhưng có vị trí quan trọng và đã thể hiện vai trò tích cực cả về mặt kinh tế, xã hội và môi trường
Trên nhiều vùng các trang trại đã góp phần tích cực phát triển các loại cây trồng vật nuôi có giá trị kinh tế cao, khắc phục dần tình trạng sản xuất phân tán, manh mún Phát triển kinh tế trang trại gắn liền với việc khai thác
và sử dụng một cách đầy đủ và hiệu quả các nguồn lực trong nông nghiệp nông thôn, đặc biệt là đất đai và tiền vốn Do vậy phát triển kinh tế trang trại
ở nước ta bước đầu góp phần tích cực thúc đẩy sự tăng trưởng và phát triển của nông nghiệp và kinh tế nông thôn
Trang 2Không những vậy phát triển kinh tế trang trại góp phần tạo thêm việc làm, tăng thêm thu nhập, xoá đói giảm nghèo, góp phần thúc đẩy phát triển kết cấu hạ tầng trong nông thôn, làm gương cho các hộ nông dân về cách thức tổ chức quản lý sản xuất… qua đó góp phần thúc đẩy sự thay đổi của bộ mặt nông thôn trên nhiều vùng
Hà Nội hiện nay với tốc độ đô thị hoá cao, đất nông nghiệp bình quân hàng năm giảm 1000 ha (ước đến năm 2010 còn gần 34.000 ha), nền nông nghiệp Hà Nội đã và đang chuyển theo hướng: phát triển nông sản thực phẩm có chất lượng cao, phát triển hoa quả và cải thiện môi trường cảnh quan Do đó xu hướng phát triển kinh tế trang trại Hà Nội là phát triển theo hướng thâm canh, áp dụng các tiến bộ kỹ thuật, tập trung sản xuất các loại sản phẩm nông nghiệp có chất lượng cao, an toàn thực phẩm có ưu thế ở Hà Nội Phát triển kinh tế trang trại theo hướng tổng hợp, gắn sản xuất nông nghiệp với chế biến và du lịch sinh thái
Qua kết quả khảo sát của Sở Nông nghiệp và PTNT Hà Nội (theo tiêu chí mới quy định tại Thông tư liên tịch số 62/TTLT/BNN- TCTK, ngày 20/05/2003), số lượng trang trại hiện nay của Hà Nội là 401 trang trại tập trung chủ yếu ở 5 huyện ngoại thành Bước đầu khẳng định kinh tế trang trại
Hà Nội đã đạt được những kết quả nhất định, khai thác được tiềm năng thế mạnh của Hà Nội, cải thiện thu nhập và giải quyết được một phần việc làm cho lao động
Cùng với các huyện ngoại thành, huyện Gia Lâm trong những năm gần đây mô hình kinh tế trang trại trên địa bàn huyện có sự ổn định về số lượng, quy mô đã có tác dụng nhất định đến tình hình kinh tế xã hội của huyện Tuy nhiên trong quá trình hình thành và phát triển kinh tế trang trại của huyện còn bộc lộ một số hạn chế đó là phần lớn các trang trại còn đang lúng túng trong việc lựa chọn phương hướng sản xuất kinh doanh, quản lý sản xuất, đặc biệt là hiệu quả kinh tế ở trang trại còn thấy chưa tương xứng với tiềm năng thế mạnh nông nghiệp của huyện
Trang 3Vấn đề đặt ra trong thời gian tới là làm thế nào để khai thác sử dụng tốt các các lợi thế so sánh (đất đai, vốn, lao động,…) nâng cao hiệu quả kinh
tế của trang trại huyện Gia Lâm Để góp phần nhỏ bé của mình vào phát triển kinh tế trang trại của huyện, chúng tôi thực hiện đề tài:
“Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế trang trại trên địa bàn huyện Gia Lâm thành phố Hà Nội”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
* Mục tiêu chung:
- Nghiên cứu, đánh giá đúng hiệu quả kinh tế trang trại ở Gia Lâm, đề xuất giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế trang trại trên địa bàn huyện Gia Lâm cho những năm tiếp theo
* Mục tiêu cụ thể:
- Góp phần hệ thống hoá cơ sở lý luận về trang trại, kinh tế trang trại, nâng cao hiệu quả kinh tế trang trại
- Đánh giá hiệu quả kinh tế các trang trại, tìm ra các nguyên nhân ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế trang trại huyện Gia Lâm
- Đề xuất định hướng, giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế trang trại trên địa bàn huyện Gia Lâm
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
*Đối tượng nghiên cứu: các trang trại chăn nuôi, thuỷ sản, tổng hợp
trên địa bàn huyện Gia Lâm
* Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nội dung nghiên cứu: nghiên cứu hiệu quả kinh tế trang trại
trên địa bàn huyện Gia Lâm thành phố Hà Nội
- Phạm vi thời gian: từ tháng 1 đến tháng 7 năm 2005
- Phạm vi không gian: trên địa bàn huyện Gia Lâm thành phố Hà Nội
Trang 42 Cơ sở lý luận và thực tiễn về kinh tế trang trại,
hiệu quả kinh tế trang trại
2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Những lý luận chung về trang trại
2.1.1.1 Khái niệm về trang trại và kinh tế trang trại
Trong những năm gần đây, kinh tế trang trại ở nước ta có xu hướng phát triển nhanh chóng cả về số lượng và chất lượng trên nhiều địa phương Chính vì vậy, việc nghiên cứu, tìm hiểu các khái niệm và nội dung của trang trại, kinh tế trang trại là cần thiết để có được những nhận thức đúng đắn trong việc đánh giá đúng thực trạng phát triển của nó
Trong từ điển tiếng Việt, trang trại được hiểu một cách khái quát là: “ Trại lớn sản xuất nông nghiệp” Trên thế giới đều dùng phổ biến từ farm (tiếng Anh) và ferme (tiếng Pháp) mà các từ điển Anh- Việt và Pháp- Việt của ta đều dịch là trang trại và trong các văn kiện của đảng đều dùng thuật ngữ “trang trại” Trong các tài liệu nghiên cứu về kinh tế trang trại thường gắn với ngành sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp gọi là “nông trại”, “lâm trại”,
“ngư trại” để phân biệt chuyên ngành sản xuất
Hiện nay, trong các tài liệu nghiên cứu khoa học kinh tế, trang trại và kinh tế trang trại được nhìn nhận dưới nhiều quan điểm khác nhau, thể hiện
rõ qua các khái niệm
- Trang trại là chủ lực của các tổ chức làm nông nghiệp ở các nước tư bản cũng như các nước đang phát triển [13]
- Trang trại là một đơn vị kinh tế hộ gia đình có tư cách pháp nhân,
được Nhà nước giao quyền sử dụng một số diện tích đất đai, rừng, biển hợp lý: để tổ chức lại quá trình sản xuất nông, lâm nghiệp theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá; tích cực áp dụng các tiến bộ kỹ thuật và công nghệ mới nhằm cung ứng ngày càng nhiều sản phẩm hàng hoá có chất lượng cao hơn cho nhu cầu trong nước và xuất khẩu; nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội
Trang 5của từng đơn vị diện tích, góp phần xoá đói giảm nghèo, nâng cao mức sống
và chất lượng cuộc sống của mọi người tham gia [17]
- Trang trại gia đình, thực chất là kinh tế hộ sản xuất hàng hoá với quy mô lớn, sử dụng lao động tiền vốn của gia đình là chủ yếu để sản xuất kinh doanh có hiệu quả []
- Trang trại gia đình là loại hình cơ sở sản xuất nông nghiệp trong điều kiện của nền kinh tế thị trường từ khi phương thức sản xuất tư bản thay thế phương thức sản xuất phong kiến, khi bắt đầu cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất ở một số nước Châu Âu
- Trang trại là một loại hình tổ chức sản xuất cơ sở trong nông lâm, thuỷ sản, có mục đích sản xuất hàng hoá, có tư liệu sản xuất thuộc sở hữu hoặc quyền sử dụng của một chủ độc lập, sản xuất được tiến hành trên quy mô ruộng đất và các yếu tố sản xuất tiến bộ và trình độ kỹ thuật cao, hoạt
động tự chủ và luôn gắn với thị trường [20]
- Trang trại là hình thức tổ chức sản xuất nông nghiệp dựa trên cơ sở lao động và đất đai của hộ gia đình là chủ yếu, có tư cách pháp nhân, tự chủ sản xuất kinh doanh bình đẳng với các thành phần khác, có chức năng chủ yếu là sản xuất nông sản hàng hoá, tạo ra nguồn thu nhập chính và đáp ứng nhu cầu cho xã hội [23]
- Kinh tế trang trại là một hình thức tổ chức kinh tế- hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh trong nông nghiệp (hiểu nông nghiệp theo nghĩa rộng bao gồm nông, lâm, ngư nghiệp) phổ biến được hình thành và phát triển trên nền tảng kinh tế nông hộ Quá trình hình thành và phát triển kinh tế trang trại
có gắn với sự tích tụ tập trung các yếu tố sản xuất kinh doanh đất đai, lao
động, tư liệu sản xuất- vốn, khoa học công nghệ, để nâng cao năng lực sản xuất và sản xuất ra nhiều sản phẩm hàng hoá với năng suất, chất lượng và hiệu quả cao [26]
- Kinh tế trang trại là hình thức tổ chức sản xuất hàng hóa lớn trong nông, lâm, ngư nghiệp của các thành phần kinh tế khác nhau ở nông thôn,
Trang 6có sức đầu tư lớn, có năng lực quản lý trực tiếp quá trình sản xuất kinh doanh, có phương pháp tạo ra sức sinh lời cao hơn bình thường trên đồng vốn
bỏ ra; có trình độ đưa những thành tựu khoa học công nghệ mới kết tinh trong hàng hoá tạo ra sức cạnh tranh cao hơn trên thị trường xã hội, mang lại hiệu quả kinh tế- xã hội cao [12]
Mặc dù, nhiều tác giả đưa ra những khái niệm khác nhau nhưng chúng
đều có những điểm chung như sau:
- Trang trại là một cơ sở sản xuất- kinh doanh hàng hoá trong nông, lâm, ngư nghiệp
- Có nguồn gốc hình thành và phát triển từ kinh tế nông hộ nhưng ở vào giai đoạn có trình độ tổ chức quản lý sản xuất hàng hoá cao hơn
- Khai thác và sử dụng các nguồn lực kinh tế ở địa phương (đất đai, vốn, lao động, ứng dụng khoa học công nghệ)
- Hoạt động sản xuất- kinh doanh luôn gắn liền với nền kinh tế thị trường
- Nguồn gốc sở hữu của trang trại là thành phần kinh tế tư nhân là chủ yếu, song do sự tác động của kinh tế thị trường và xu thế hội nhập quốc tế nên nó ngày càng mở rộng ra nhiều hình thức sở hữu, từ một thành phần kinh
tế đến nhiều thành phần kinhh tế
Ngoài ra, qua thực tiễn hoạt động sản xuất- kinh doanh ở các trang trại, chúng tôi nhận thấy rằng lĩnh vực hoạt động của nó không chỉ bó hẹp trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, mà bên cạnh chuyên môn hoá sản xuất nông lâm ngư nghiệp còn kết hợp thêm một số hoạt động dịch vụ kinh doanh hỗ trợ các yếu tố đầu vào, đầu ra và các hoạt động chế biến nông, lâm, thuỷ sản nhằm mục đích tăng thêm thu nhập của trang trại Xuất phát từ những cơ sở lý luận và thực tiễn nêu trên, chúng tôi đưa ra khái niệm về kinh
tế trang trại như sau:
Trang trại là một tổ chức kinh tế cơ sở lấy hoạt động sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp làm mục đích sản xuất kinh doanh chính, trong đó có kết
Trang 7hợp thêm ngành nghề, dịch vụ phụ trợ phi nông nghiệp của các thành phần kinh tế khác nhau trong nông thôn, được hình thành chủ yếu trên cơ sở kinh
tế nông hộ, có quy mô sản xuất, thu nhập, giá trị và tỷ suất hàng hoá cao vượt trội kinh tế nông hộ, có năng lực tổ chức quản lý và ứng dụng các tiến
bộ khoa học công nghệ mới vào hoạt động sản xuất kinh doanh mang lại hiệu quả kinh tế cao, hoạt động tự chủ và luôn gắn với thị trường
2.1.1.2 Vị trí, vai trò của kinh tế trang trại
Trên thế giới, trải qua hàng thế kỷ đến nay trang trại gia đình đã xuất hiện, đã tồn tại, phát triển ở các nước công nghiệp phát triển và đang được
mở rộng, khuyến khích phát triển trên toàn thế giới Trang trại gia đình đã có
được vị trí và vai trò quan trọng trong nền kinh tế ở mỗi đất nước Trước hết, trang trại gia đình đã và đang là lực lượng chủ yếu sản xuất ra các loại nông sản, đáp ứng nhu cầu đa dạng của con người; đối với các nước đang phát triển, kinh tế trang trại còn góp phần thu hút lao động, xoá đói giảm nghèo, nâng cao thu nhập của nông dân
Trong quá trình phát triển, kinh tế trang trại gia đình có thể đáp ứng yêu cầu của các hình thức sở hữu khác nhau, với các quy mô khác nhau, các trình độ khoa học - công nghệ khác nhau, thúc đẩy quá trình hiện đại hoá nông nghiệp cùng với xu hướng chuyên môn hoá, tập trung hoá trong sản xuất
ở nước ta, kinh tế trang trại mà chủ yếu là trang trại gia đình mới phát triển trong những năm gần đây, song các nghiên cứu đã cho thấy vai trò tích cực của nó thể hiện rõ nét cả về các mặt kinh tế, xã hội và môi trường
a Về mặt kinh tế
Kinh tế trang trại có ý nghĩa quan trọng nhất đối với nền kinh tế đất nước nói chung và trong nông nghiệp, nông thôn nói riêng Các trang trại góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo ra những sản phẩm có giá trị hàng hoá cao, khắc phục dần tình trạng sản xuất phân tán, góp phần từng bước tạo nên những vùng chuyên môn hoá thâm canh cao góp phần thúc đẩy tăng
Trang 8trưởng và phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn Từ đó góp phần thúc
đẩy phát triển công nghiệp chế biến và dịch vụ sản xuất ở nông thôn
b Về mặt xã hội
Kinh tế trang trại phát triển làm tăng số hộ giàu trong nông thôn, tạo thêm việc làm, tăng thu nhập cho lao động, điều này có ý nghĩa rất quan trọng về mặt xã hội trong nông thôn Hơn nữa kinh tế trang trại phát triển sẽ góp phần thúc đẩy phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn, tạo tấm gương cho các hộ nông dân về mặt tổ chức và quản lý sản xuất kinh doanh
Tuy nhiên, phát triển kinh tế trang trại sẽ kéo theo sự tập trung ruộng
đất - tư liệu sản xuất chủ yếu trong nông nghiệp, dẫn đến ở một vài nơi sẽ có một bộ phận lao động nông nghiệp thiếu ruộng đất và có thể trở thành người làm thuê Nếu nhà nước không có chính sách cụ thể, sát thực để giải quyết vấn đề này thì có thể ảnh hưởng tiêu cực đến vấn đề đói nghèo ở nông thôn
Đây là vấn đề phải lựa chọn
c Về mặt môi trường
Do sản xuất kinh doanh tự chủ và vì lợi ích thiết thực lâu dài của mình
mà các chủ trang trại luôn có ý thức khai thác hợp lý và quan tâm bảo vệ môi trường trước hết là trong phạm vi trang trại Các trang trại vùng núi, đồi gò
đã góp phần tích cực vào việc trồng và bảo vệ rừng, phủ xanh đất trống đồi trọc, cải tạo và bảo vệ môi trường sinh thái
2.1.1.3 Các điều kiện, nhân tố hình thành và nâng cao hiệu quả kinh
tế trang trại
2.1.1.3.1 Điều kiện hình thành
a Điều kiện môi trường pháp lý
Trang trại là bộ phận cấu thành hệ thống nông nghiệp của các nước theo mô hình kinh tế thị trường Tuy nhiên nó chỉ hình thành và phát triển khi có môi trường pháp lý phù hợp và thuận lợi Kinh tế trang trại phải đủ
điều kiện Nhà nước công nhận về mặt pháp lý ở nước ta, một thời gian dài
Trang 9chúng ta đã không thừa nhận trang trại là một bộ phận cấu thành hệ thống nông nghiệp ở nước ta Sự công nhận địa vị pháp lý của kinh tế trang trại sẽ tạo cơ sở pháp lý cho những người có nguồn lực yên tâm đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh theo mô hình trang trại, đồng thời Nhà nước sẽ tạo điều kiện cần thiết cho kinh tế trang trại ra đời và phát triển
- Có quỹ ruộng đất cần thiết và chính sách để tập trung ruộng đất
- Có sự hỗ trợ của công nghiệp chế biến
- Có sự phát triển nhất định của kết cấu hạ tầng, trước hết là giao thông, thuỷ lợi
- Có quy hoạch tổng thể về phát triển kinh tế xã hội
- Có sự phát triển nhất định của các hình thức liên kết kinh tế trong hoạt động sản xuất nông, lâm ngư nghiệp
b Các điều kiện đối với trang trại và chủ trang trại
- Chủ trang trại phải là người có ý chí quyết tâm làm giàu từ nghề nông, lâm, ngư
- Chủ trang trại phải có tích luỹ nhất định về kinh nghiệm sản xuất, về trí thức và năng lực tổ chức sản xuất kinh doanh
- Có sự tập trung nhất định về quy mô các yếu tố sản xuất trước hết là ruộng đất và tiền vốn
- Quản lý sản xuất kinh doanh của trang trại phải dựa trên cơ sở hạch toán và phân tích kinh doanh
2.1.1.3.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế trang trại
a Nhân tố tổ chức quản lý kinh tế trang trại
Quản lý trang trại là quá trình chủ trang trại tác động vào các đối tượng bị quản lý từ khi đầu tư đến khi đưa sản phẩm ra tiêu thụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lời
Mục tiêu, mục đích của hoạt động sản xuất ở trang trại là sản xuất hàng hoá Vì vậy, bản chất của vấn đề tổ chức quản lý trang trại có những
đặc thù riêng, khác biệt so với quản lý doanh nghiệp
Trang 10- Xác định chiến lược kinh doanh: đòi hỏi chủ trang trại phải xác định phương hướng, mục tiêu kinh doanh của trang trại Sản xuất kinh doanh trong điều kiện của nền kinh tế thị trường chủ trang trại giải quyết các vấn đề sau: Sản xuất và dịch vụ cái gì? Sản xuất và dịch vụ như thế nào? Sản xuất và dịch vụ cho ai? Lợi nhuận thu được bao nhiêu? Muốn giải quyết tốt các vấn
đề trên, chủ trang trại phải là người có đủ khả năng nắm bắt và xử lý kịp thời những thông tin của thị trường, trên cơ sở đó đưa ra những quyết định chính xác đáp ứng được các nhu cầu thị hiếu của người tiêu dùng Việc xác định chiến lược kinh doanh của trang trại đúng hướng nó sẽ góp phần vào sự thành công của trang trại, nâng cao hiệu quả kinh tế trang trại [17]
- Lập kế hoạch sản xuất kinh doanh: Trên cơ sở mục tiêu và những
định hướng của chiến lược kinh doanh, phân tích đánh giá tình hình diễn biến thực tế của hoạt động sản xuất kinh doanh qua các năm, chủ trang trại xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh hàng năm Trong kế hoạch cần phải xây dựng nhiều phương án tối ưu để thực hiện Kế hoạch phải được lập cụ thể cho từng khâu chức năng của sản xuất: kế hoạch tài chính, kế hoạch về
bố trí sử dụng đất, kế hoạch lao động và các chính sách marketing Có như vậy, hoạt động sản xuất cua trang trại mới thích ứng với những biến dộng của thị trường
- Tổ chức quản lý thực hiện: Từ kế hoạch, chủ trang trại cụ thể hoá phương án sản xuất kinh doanh, sắp xếp bố trí các nguồn lực, yếu tố sản xuất sao cho việc sử dụng chúng nâng cao được hiệu quả kinh tế cao nhất Mỗi một yếu tố sản xuất có biện pháp và cách thức tác động riêng
- Công tác kiểm tra và điều phối: đây là một chức năng quan trọng của quản lý trang trại, vì trong quá trình hoạt động luôn có những diễn biến xảy
ra, có những thông tin phản hồi từ các đối tượng bị quản lý, chủ trang trại phải thường xuyên kiểm tra giám sát nắm bắt thông tin và xử lý kịp thời những sai phạm cũng như ách tắc trong từng khâu công việc hàng ngày: tài chính, kỹ thuật, lao động và thị trường Trên cơ sở đó điều chỉnh các chiến
Trang 11lược kinh doanh sát với tình hình thực tế Nếu bỏ qua khâu này, sẽ khó có
được một kết quả sản xuất như mục tiêu đề ra
Tóm lại, công tác tổ chức quản lý trang trại là việc làm hàng ngày của chủ trang trại chứ không ai khác, nên đòi hỏi phải có kiến thức về khoa học quản lý nhất định Để có được kiến thức chủ trang trại phải trải qua quá trình
đào tạo hoặc tự đào tạo thông qua học hỏi các chủ trang trại ở những trang trại làm ăn giỏi
b Các nhân tố về điều kiện tự nhiên
Hoạt động sản xuất nông nghiệp diễn ra trên một không gian rộng lớn,
có điều kiện về tự nhiên, kinh tế giữa các vùng rất khác nhau Chỉ có thể có hoạt động sản xuất nông nghiệp khi ở đó có đất và các điều kiện tự nhiên thuận lợi Đây là đặc điểm riêng có của sản xuất nông nghiệp Do vậy, nhân
tố ảnh hưởng đầu tiên đến sự hình thành và phát triển kinh tế trang trại là
điều kiện tự nhiên, bao gồm vị trí địa lý, đất đai, khí hậu, nguồn nước và các
điều kiện tự nhiên khác
Vị trí địa lý là nhân tố quyết định đến điều kiện tự nhiên do vận động kiến tạo của trái đất và vũ trụ Mỗi vị trí địa lý có những điều kiện tự nhiên nhất định, gắn với chất lượng đất đai, khí hậu, nguồn nước và các điều kiện
tự nhiên khác Vì vậy khi nghiên cứu kinh tế trang trại cần nghiên cứu điều kiện tự nhiên, vì các điều kiện tự nhiên có ảnh hưởng đến việc quy hoạch sản xuất, bố trí cây trồng, vật nuôi Đối với mỗi loại đất, kiểu khí hậu chỉ có thể thích ứng đối với một số loại cây trồng, vật nuôi nhất định Ruộng đất có hạn nên qui trình sử dụng ruộng đất cần theo con đường thâm canh, cải tạo bồi dưỡng đất
Điều kiện tự nhiên còn ảnh hưởng đến chính sách phát triển trang trại Mỗi vùng khác nhau cần có những chính sách cụ thể phù hợp với điều kiện
tự nhiên của từng vùng
c Các nhân tố về kinh tế, xã hội
Trang 12Điều kiện kinh tế, xã hội thuận lợi là yếu tố quan trọng trong việc hình thành và phát triển kinh tế trang trại Các điều kiện kinh tế, xã hội bao gồm vấn đề thị trường, cơ sở hạ tầng, sự hình thành các vùng chuyên môn hoá sản xuất, sự phát triển của công nghiệp chế biến và các nhân tố kinh tế, xã hội khác tạo điều kiện cho sự phát triển của kinh tế trang trại
d Thị trường
Đặc trưng cơ bản của trang trại là sản xuất hàng hoá nông sản, vì vậy sản xuất phải gắn với thị trường Thị trường là nơi thực hiện giá trị và giá trị thặng dư nằm trong hàng hoá Thị trường nông nghiệp bao gồm thị trường
đầu vào là đất đai, tư liệu sản xuất, các yếu tố sản xuất khác… và thị trường tiêu thụ nông sản Thị trường ảnh hưởng trực tiếp đến phương hướng và quy mô sản xuất của nông nghiệp nói chung và các trang trại nói riêng, trong đó thị trường đầu ra đóng vai trò hết sức quan trọng Thị trường đầu ra có thể phân thành hai loại là thị trường tiêu dùng trực tiếp và thị trường nguyên liệu cho công nghiệp chế biến
Thị trường tiêu dùng trực tiếp có đặc điểm: Số lượng tác nhân tiêu thụ lớn, độ co dãn theo giá lớn, địa bàn tiêu thụ rộng và yêu cầu sản phẩm phải tươi ngon đến tay người tiêu dùng Do đó, nắm được thị trường người tiêu dùng, có hệ thống phân phối thích hợp, cần lưu ý công nghệ bao gói, bảo quản để đảm bảo yêu cầu về chất lượng của người tiêu dùng
Thị trường nguyên liệu cho công nghiệp chế biến có đặc điểm: Số lượng khách hàng ít, người bán nhiều, nhưng số lượng mua của khách hàng thường khá lớn, độ co dãn của cầu về sản phẩm rất nhỏ Do vậy, cần bố trí sản xuất phù hợp với cầu về số lượng, thời gian thu hoạch Có thể hợp đồng
về sơ chế và bao gói sản phẩm tại trang trại để đảm bảo chất lượng sản phẩm
e Sự hình thành các vùng sản xuất chuyên môn hóa
Sự hình thành các vùng sản xuất chuyên môn hoá sẽ tạo điều kiện phát triển công nghiệp chế biến, thúc đẩy sự phát triển của kinh tế vùng nói chung và kinh tế trang trại nói riêng Trình độ chuyên môn hoá càng cao,
Trang 13yêu cầu liên kết kinh tế càng lớn Đó là biểu hiện của phân công lao động và hiệp tác lao động trong sản xuất và là hai mặt của quá trình tổ chức sản xuất
f Cơ sở hạ tầng kỹ thuật
Cơ sở hạ tầng kỹ thuật có vai trò hết sức quan trọng đối với phát triển kinh tế nói chung và kinh tế trang trại nói riêng Cơ sở hạ tầng kỹ thuật bao gồm hệ thống giao thông, thuỷ lợi, nguồn năng lượng… kinh tế trang trại chỉ
có thể phát triển cao khi có đầy đủ các điều kiện về cơ sở hạ tầng kỹ thuật phục vụ sản xuất
g Quản lý và sử dụng vốn
Vốn là điều kiện tiên quyết để các chủ trang trại thực hiện chiến lược sản xuất kinh doanh của mình, vốn của trang trại biểu hiện bằng tiền của tài sản cố định bao gồm toàn bộ máy móc thiết bị, nhà cửa, vật kiến trúc, vật nuôi sinh sản, lấy sữa, cây lâu năm cho sản phẩm Vốn lưu động biểu hiện bằng tiền của tài sản lưu động như vốn bằng tiền, phân bón, thức ăn gia súc, gia cầm, thuốc thú y… và sản phẩm đang chờ tiêu thụ Tuỳ theo từng loại vốn mà chủ trang trại có các biện pháp quản lý khác nhau Mỗi loại vốn chủ trang trại có biện pháp quản lý riêng, đặc biệt vốn lưu động cần phải quan tâm đến tốc độ luân chuyển, vốn lưu động có tốc độ luân chuyển nhanh thì khả năng thu hồi vốn sớm để có điều kiện để tái đầu tư sản xuất trang trại
2.1.2 Khái niệm và các quan điểm cơ bản đánh giá hiệu quả kinh tế trang trại
2.1.2.1 Khái niệm
Trong sản xuất nông nghiệp nói chung và kinh tế trang trại nói riêng khi xác định hiệu quả kinh tế thì hiệu quả kinh tế bị chi phối bởi nhiều yếu tố Những yếu tố đó là lợi thế so sánh của từng vùng như điều kiện tự nhiên, xã hội, tập quán canh tác; đặc điểm của từng mô hình trang trại; thị trường yếu
tố đầu vào như giá cả tư liệu sản xuất, vốn, thuê lao động; thị trường đầu ra sản phẩm hàng hoá của trang trại như các kênh tiêu thụ sản phẩm hàng hoá, thời gian bảo quản chế biến, quan hệ cung cầu trong thị trường
Trang 14Các kết quả đạt được về mặt vật chất có thể lượng hoá được để so sánh, nhưng có những yếu tố không thể so sánh được như: môi trường sinh thái, an ninh xã hội Các yếu tố trên tác động rất mạnh vào quá trình sản xuất trong nông nghiệp và từng tổ chức sản xuất kinh doanh như trang trại Do vậy, việc xác định hiệu quả kinh tế của trang trại càng trở nên phức tạp Cho nên cần phải có phương pháp luận, quan điểm đúng đắn về hiệu quả kinh tế trang trại
Từ phân tích trên về hiệu quả kinh tế nói chung và đặc thù của nông nghiệp, trang trại chúng tôi có thể đưa ra khái niệm hiệu quả kinh tế trang trại là sử dụng tối thiếu các nguồn lực khan hiếm như lao động, tiền vốn, đất
đai… một cách tốt nhất để sản xuất ra một lượng sản phẩm hàng hoá có giá trị kinh tế cao nhất, thoả mãn nhu cầu xã hội, góp phần vào bảo vệ môi trường sinh thái và xây dựng một nền nông nghiệp bền vững
2.1.2.2 Các quan điểm cơ bản đánh giá hiệu quả kinh tế trang trại
a Quan điểm thứ nhất
Đây là quan điểm phải bảo đảm thống nhất giữa hiệu quả kinh tế trang trại với lợi ích xã hội
Khi đánh giá hiệu quả kinh tế trang trại phải dựa trên quan điểm đảo bảo thống nhất giữa hiệu quả kinh tế trang trại với lợi ích xã hội Quan điểm này đòi hỏi phải nâng cao hiệu quả kinh tế phải xuất phát từ mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế của Đảng và Nhà nước Mỗi trang trại là một tế bào của nền kinh tế quốc dân, hoạt động của trang trại có liên quan tới các cơ sở sản xuất kinh doanh khác cũng như các ngành kinh tế của toàn bộ hệ thống
Do vậy mỗi giải pháp kinh doanh của từng trang trại phải được đánh giá hiệu quả một cách toàn diện, không được làm tổn hại đến hiệu quả chung của nền kinh tế Hiệu quả kinh tế của trang trại góp phần làm tăng hiệu quả của ngành nông nghiệp, của nền kinh tế quốc dân, ngược lại một hệ thống kinh tế quốc dân được tổ chức và có cơ chế đúng đắn sẽ làm môi trường thuận lợi để cho mỗi trang trại nâng cao hiệu quả kinh tế
Trang 15Hơn nữa về mặt định tính hiệu quả kinh tế phải gắn chặt với hiệu quả chính trị, xã hội, môi trường, hoạt động của trang trại trong nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Không chỉ theo đuổi mục tiêu kinh tế mà còn phải tham gia vào các nhiệm vụ chính trị, xã hội như đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, giải quyết việc làm, thu nhập cho dân cư, tác động tới cơ cấu kinh tế… Điều này thể hiện phạm trù bản chất hiệu quả kinh tế gắn chặt với bản chất của quan hệ sản xuất chế độ XHCN
b Quan điểm thứ hai
Đây là quan điểm bảo đảm kết hợp giữa hiệu quả kinh tế trang trại với quan hệ lợi ích và nhân cách của người lao động trong trang trại đó
Bảo đảm kết hợp giữa hiệu quả kinh tế trang trại với quan hệ lợi ích và nhân cách của người lao động trong trang trại gồm chủ trang trại, lao động trong gia đình và người lao động làm thuê Con người trong trang trại vừa là
điều kiện vừa là mục tiêu hoạt động sản xuất kinh doanh của trang trại, con người tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh nhằm đảm bảo lợi ích kinh
tế của họ và thể hiện nhân cách của họ trong quá trình lao động ở trang trại Quan điểm này cũng là vấn đề mà nhiều người còn quan tâm, đặc biệt là người chủ trang trại khi thuê lao động làm thuê trong trang trại của mình
Một số lao động là nông dân do chuyển nhượng, chuyển đổi không còn ruộng đất dẫn đến đi làm thuê cho các chủ trang trại, có cả người lao
động xuất thân không phải là nông dân cũng đi làm thuê cho chủ trang trại, thậm chí một số người có trình độ chuyên môn, trung cấp, đại học Nói tóm lại, khi người lao động đi làm thuê thì mọi quyền lợi kinh tế như ngày công lao động hoặc lương bình quân tháng được thoả thuận với người chủ trang trại Trên quan điểm người lao động thực sự gắn bó với trang trại, khai thác mọi tiềm năng để nâng cao hiệu quả kinh tế, sự kết hợp giữa nâng cao hiệu quả kinh tế trang trại với việc chăm lo đời sống vật chất tinh thần cho người lao động làm thuê không những thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ ta mà
Trang 16còn mang bản chất văn hoá dân tộc Do vậy, bảo đảm nâng cao hiệu quả kinh
tế trang trại phải đặt trong mối quan hệ bảo vệ nhân cách của người lao động
đi làm thuê và lợi ích kinh tế của họ
c Quan điểm thứ ba
Đây là quan điểm bảo đảm tính toàn diện nâng cao hiệu quả kinh tế Nâng cao hiệu quả kinh tế trang trại phải được xem xét ở hai góc độ: không gian và thời gian Về mặt không gian là nâng cao hiệu quả kinh tế trang trại phải xuất phát bảo đảm yêu cầu của nền sản xuất trong ngành, địa phương Hơn nữa trong từng trang trại việc nâng cao hiệu quả kinh tế phải
được xem xét ở tất cả các khâu, các công đoạn của quá trình sản xuất kinh doanh và xem xét đầy đủ mối quan hệ giữa các lĩnh vực các bộ phận nhằm hướng tới mục tiêu chung của trang trại Về mặt thời gian là nâng cao hiệu quả kinh tế phải được đánh giá trong từng thời gian, trong tổng thể phát triển lâu dài của trang trại, đặc biệt là đối với trang trại trồng cây ăn quả, cây lâm nghiệp lâu năm Trong thực tế hiệu quả kinh tế trang trại phải được tính toán
đánh giá trong một thời gian nhất định, nhiều khoản mục chi phí cho đầu tư xây dựng cơ bản trang trại không chỉ phát huy hết cho giai đoạn trước mắt
mà còn mang lại hiệu quả kinh tế lâu dài, thậm chí vài chục năm
Do đó, trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn Việc xây dựng mô hình trang trại và nâng cao hiệu quả kinh tế của nó góp phần vào phát triển nông nghiệp bền vững, chúng ta cần có quan
điểm nâng cao hiệu quả kinh tế trang trại một cách toàn diện
2.2 Cơ sở thực tiễn
2.2.1 Kinh nghiệm phát triển kinh tế trang trại ở một số nước trên thế giới và khu vực
2.2.1.1 Kinh tế trang trại ở một số nước Châu Âu, Mỹ
Vào cuối thế kỷ XIX, trang trại gia đình dần chiếm ưu thế Đến thập
kỷ cuối cùng của thế kỷ XX, trang trại gia đình trở thành mô hình sản xuất phổ biến nhất của nền nông nghiệp thế giới [8]
Trang 17* Về loại hình trang trại và tổ chức điều hành sản xuất
Trang trại gia đình được coi là phổ biến trong tất cả các nước Ngoài ra còn một số loại hình trang trại như sau [8,10]
- Trang trại liên doanh: là kiểu trang trại do 2 - 3 trang trại hợp nhất để tăng thêm khả năng về vốn và tư liệu sản xuất Loại hình này ở các nước Châu Âu và Mỹ chiếm tỷ lệ thấp, khoảng 10%
- Trang trại hợp doanh theo cổ phần: Là loại trang trại được tổ chức theo nguyên tắc một công ty cổ phần hoạt động trong lĩnh vực sản xuất, chế biến tiêu thụ sản phẩm Cổ phần không bán trên thị trường chứng khoán, loại này xuất hiện ở Mỹ khoảng 2,7% tổng số trang trại với diện tích 13,7%, bình quân một cơ sở có 800 - 900ha đất
* Về vốn, tư liệu sản xuất và lao động
Vốn của các trang trại chủ yếu là nguồn vốn tự do Ngoài vốn tự do, các trang trại đều phải sử dụng vốn vay từ nhiều nước khác nhau, ví dụ như ở
Mỹ, tổng vốn vay của các trang trại gần 100 tỷ USD Các nước trong khu vực này hầu hết là các nước công nghiệp phát triển, ngoài việc mua sắm máy nông nghiệp dùng riêng là phổ biến các trang trại còn thành lập các hợp tác xã sử dụng chung máy móc [8,10]
Lao động: Trong các trang trại Tây Âu và Mỹ lao động có xu hướng giảm do sử dụng trình độ công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp Số
Trang 18lượng lao động trong các trang trại của mỗi nước không còn phụ thuộc vào quy mô sản xuất Thực tế ở Tây Âu và Bắc Mỹ, quy mô 25 - 30 ha/trang trại chỉ sử dụng 1 - 2 lao động gia đình và 1 - 2 lao động làm thuê
* Hướng kinh doanh và thu nhập của các trang trại
Căn cứ đặc điểm lao động sản xuất của các trang trại, hướng kinh doanh của các trang trại bao gồm: Loại trang trại kinh doanh đa dạng nhiều sản phẩm, là loại có sự kết hợp trồng trọt với chăn nuôi, kết hợp nông, lâm, ngư nghiệp và kết hợp nông nghiệp với các ngành nghề ở nông thôn Loại trang trại thuần nông, là loại tập trung vào sản xuất nông nghiệp theo hướng chuyên môn hoá cao [8], [10]
* Thu nhập của các trang trại
Căn cứ nguồn thu, có thể chia làm 2 loại là loại trang trại có thu nhập chủ yếu là từ sản xuất nông nghiệp và loại trang trại có thu nhập thêm từ ngoài nông nghiệp Loại trang trại có nguồn thu nhập chủ yếu từ nông nghiệp có xu hướng giảm do nguồn thu nhập từ nông nghiệp thấp nên các chủ trang trại phải làm thêm các ngành nghề, dịch vụ để tăng thêm thu nhập,
và do đó loại trang trại có nguồn thu nhập thêm từ ngoài nông nghiệp ngày càng nhiều [8], [10]
* Thị trường đầu vào, đầu ra của trang trại
ở nhiều nước, các trang trại có quyền lựa chọn mua sắm máy móc, vật tư từ nhiều đơn vị cung ứng khác nhau, tiêu thụ sản phẩm theo những kênh khác nhau qua cơ quan mua gom thị trường tự do, xí nghiệp chế biến, có khoảng 80% nông sản được chế biến trước khi đưa ra thị trường tiêu thụ, trang trại có quan hệ mật thiết với các ngành khác nhau trong hệ thống nông nghiệp thương nghiệp Các trang trại thành lập hợp tác xã để hỗ trợ dịch vụ
đầu vào, đầu ra Nhà nước có các biện pháp tích cực can thiệp vào thị trường nông sản thông qua các đòn bẩy kinh tế để đảm bảo cân bằng cung cầu nông sản trên thị trường [8], [10]
Trang 19* Trang trại gia đình và công nghiệp hoá
ở các nước công nghiệp phát triển, trang trại gia đình vẫn tồn tại và phát triển, nó đã và đang là lực lượng chủ yếu sản xuất ra các loại nông sản 50% sản lượng đậu tương và ngô trên toàn thế giới là do các trang trại gia
đình ở Mỹ sản xuất ở Pháp xuất khẩu ngũ cốc hàng năm trên 20 triệu tấn Nhiều trang trại đã được cơ giới hoá ở mức độ cao hoặc đang tiến hành cơ giới hoá Năng suất lao động trong nông nghiệp ở những nước này rất cao và ngày càng tăng, một lao động nông nghiệp có thể nuôi sống từ 55 đến 100 người [8], [10]
2.2.1.2 Kinh tế trang trại ở các nước Châu á và khu vực Đông Nam á
Phần lớn các nước Châu á, nền kinh tế còn ở trình độ thấp do đang trong giai đoạn tiến hành công nghiệp hoá Trừ một số nước và lãnh thổ như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan… có nền kinh tế phát triển nên công nghiệp
đã có ảnh hưởng nhất định đến phát triển của trang trại Hơn nữa, ở Châu á kinh tế trang trại trong nông nghiệp chịu sự chi phối của điều kiện tự nhiên, dân số nên có những đặc điểm khác với trang trại ở các nước Âu - Mỹ về nhiều mặt [8]
* Về số lượng và quy mô trang trại
Đất canh tác trên đầu người vào loại thấp của thế giới (khoảng 0,15ha/đầu người), hầu hết các nước chưa có nền công nghiệp phát triển, Châu á đang có sự biến động tăng về số lượng trang trại và giảm về diện tích bình quân của trang trại Quy mô diện tích của trang trại ở Châu á rất thấp, một số nước quy mô trang trại chỉ vài ha Bình quân diện tích một trang trại năm 1990 ở Nhật Bản là 1,2ha, ở ấn Độ là 2ha, ở Indonexia là 3,7ha, ở Pakixtan là 4,7ha, ở Hàn Quốc là 1,08ha, ở Thái Lan là 4,28ha, ở Philippin là 3,6ha do nhà nước quy định hạn điền rất thấp Như vậy, vấn đề tích tục và tập trung ruộng đất để mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh không chỉ chịu
Trang 20sự tác động từ cạnh tranh, phân hoá mà còn chịu tác động từ chính sách, pháp luật của nhà nước Cơ cấu quy mô các trang trại, chủ yếu là các trang trại loại nhỏ và vừa [8]
* Các loại hình và phương thức điều hành sản xuất
Do quy mô nhỏ, hình thức phổ biến là loại hình trang trại gia đình và
do một hộ gia đình quản lý sản xuất Các hình thức trang trại liên doanh, trang trại hợp doanh theo cổ phần ở Châu á rất ít ở Đài Loan còn phổ biến hình thức trang trại uỷ thác cho người nhà, bạn bè quản lý do chủ trang trại ít ruộng đất nên phải kiếm sống bằng nghề khác trong khi đó không muốn từ
bỏ trang trại của mình Tuy nhiên đây cũng là một điều kiện mở rộng quy mô cho các chủ trang trại được ủy thác, nhưng quy mô này vẫn mang tính tạm thời [8], [10]
* Về vốn, tư liệu sản xuất
Cũng như các nước Âu - Mỹ các trang trại ở Châu á đều thiếu vốn, ngoài vốn tự có, phần lớn các trang trại đều phải sử dụng nguồn vốn vay Nhà nước đã quan tâm đến tạo vốn cho các trang trại thông qua các khoản
đầu tư, quỹ tài trợ vốn cho các trang trại thông qua các khoản đầu tư, quỹ tài trợ và vay vốn tín dụng với lãi suất thấp (3,5%/năm đến 7,5%/năm), Nhà nước còn trợ cấp bằng 1/3 đến 1/2 giá bán một số loại máy móc nông nghiệp cần thiết cho trang trại [8], [10]
* Về lao động và kỹ thuật sản xuất
Do tốc độ tăng dân số nhanh, việc rút lao động ra khỏi nông nghiệp để cơ cấu lao động trong nông nghiệp giảm xuống so với công nghiệp rất khó khăn, và do đó lao động trong các trang trại ở Châu á không giảm, số lao
động dư thừa phải làm thuê bằng nghề khác và trở thành lao động bán nông (part - time farmer) Các phương tiện kỹ thuật của các trang trại ở các nước Châu á phần lớn là máy móc dùng chung (trừ Nhật Bản) [8], [10]
Trang 21* Về hướng kinh doanh và thu nhập
Cũng như các nước Âu, Mỹ hướng kinh doanh của cấc trang trại ở Châu á bên cạnh sản xuất tập trung chuyên môn hoá, các trang trại còn kết hợp nông nghiệp với các ngành nghề khác và do đó thu nhập của các trang trại chủ yếu từ sản xuất nông nghiệp có xu hướng giảm, thay vào đó là các trang trại có nguồn thu nhập từ các ngành nghề khác nhau ngoài nông nghiệp [8], [10]
* Thị trường đầu vào, đầu ra
Nhà nước có chính sách hỗ trợ đầu vào và đầu ra như Nhà nước đầu tư những khoản tài trợ lớn cho nông nghiệp, cho vay vốn tín dụng lãi suất thấp, trợ cấp giá bán máy nông nghiệp, bảo hộ các trang trại trong cạnh tranh trên thị trường nông sản với nước ngoài [10]
* Vị trí vai trò của trang trại
Tuy các trang trại gia đình phân tán, quy mô nhỏ nhưng ở một số nước phát triển, hầu hết nhu cầu về lương thực và thực phẩm trong nước và xuất khẩu do trang trại sản xuất Một số nước đang phát triển, trang trại góp phần tích cực vào việc xoá đói giảm nghèo cho đất nước
Tuy nhiên, sự phát triển của loại hình trang trại ở Châu á đang bộc lộ một số khó khăn, hạn chế cần có giải pháp khắc phục
- Quy mô nhỏ gây sức ép đối với quá trình cơ khí hoá nông nghiệp nhằm tăng năng suất lao động và hiệu quả sản xuất nông nghiệp
- Lao động với trình độ học vấn thấp và chưa được đào tạo chuyên môn
- Thiếu cơ hội về việc làm trong các ngành phi nông nghiệp
- Hệ thống thị trường nông thôn chưa hoàn thiện, nông sản trong các trang trại dường như chưa có khả năng tiêu thụ tốt
Trang 222.2.1.3 Bài học kinh nghiệm đối với sự phát triển kinh tế trang trại
- Trang trại là hình thức tổ chức sản xuất giữ vai trò xung kích trong quá trình chuyên môn hoá nông nghiệp, nông thôn và trở thành chủ lực khi nền kinh tế phát triển đến giai đoạn cao
- Trong giai đoạn đầu của công nghiệp hoá, hiện đại hoá, kinh tế trang trại phát triển theo hướng kinh doanh tổng hợp, sau đó từng bước đi vào sản xuất tập trung, chuyên môn hoá
* Về loại hình kinh tế trang trại
Kinh tế trang trại có thể phát triển với nhiều hình thức rất đa dạng, nhưng trang trại gia đình là loại hình thích hợp phổ biến nhất, chiếm 80 - 90% tổng số trang trại trên thế giới Đối với nước ta trang trại gia đình là loại
tổ chức sản xuất phù hợp với trình độ tổ chức quản lý, khoa học công nghệ
và phù hợp với điều kiện nông nghiệp, nông thôn trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá
* Về hiệu quả của kinh tế trang trại
Hiệu quả sản xuất kinh doanh của trang trại, không hoàn toàn phụ thuộc quy mô đất đai và lao động mà chủ yếu phụ thuộc nhiều vào trình độ thâm canh, ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ…
Trang 23* Về chủ trang trại
Bồi dưỡng, đào tạo chủ trang trại là một nhân tố đặc biệt quan trọng
đối với sự thành công của kinh tế trang trại trên thế giới Năng lực quản lý
điều hành của chủ trang trại thể hiện ở khả năng quản lý điều hành tư liệu sản xuất, lao động vốn, xây dựng và thực hiện kế hoạch, quy hoạch sản xuất, tiêu thụ sản phẩm Họ không chỉ hiểu biết về nông học mà cần có sự am hiểu cả về quản lý sản xuất kinh doanh trong cơ chế thị trường
* Về thị trường tiêu thụ nông sản
Việc hình thành và phát triển thị trường tiêu thụ nông sản có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển kinh tế trang trại
* Về quan hệ giữa kinh tế trang trại với công nghiệp chế biến và dịch
* Về vai trò của kinh tế hợp tác
Phát triển các hình thức kinh tế hợp tác giữa các trang trại là một yêu cầu tất yếu để hỗ trợ, thúc đẩy kinh tế trang trại phát triển
* Về vai trò của nhà nước
Nhà nước có vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình hình thành phát triển kinh tế trang trại thể hiện trên các lĩnh vực Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng nông nghiệp, chính sách đất dai, chính sách vốn, tín dụng, chính sách thị trường, chính sách khoa học và công nghệ, chính sách đào tạo chủ trang trại
Trang 242.2.2 Tình hình phát triển và hiệu quả kinh tế trang trại ở Việt Nam
2.2.2.1 Tiêu chí để xác định trang trại
Trong những năm gần đây kinh tế trang trại phát triển mạnh ở hầu khắp các địa phương trong cả nước, hình thành mô hình sản xuất mới trong nông nghiệp và nông thôn nước ta Do chưa có quy định thống nhất của các Bộ, ngành, Trung ương về tiêu chí trang trại nên các địa phương tự đặt ra những tiêu chí về trang trại dựa vào tính chất sản xuất hàng hoá: quy mô về diện tích đất đai, đầu gia súc, … để thống kê về số liệu kinh tế trang trại của địa phương, vùng nên số liệu thống kê về kinh tế trang trại chưa thật chuẩn xác, ranh giới giữa kinh tế hộ nông dân và kinh tế trang trại không rõ ràng, khó khăn cho việc đánh giá thực trạng và xây dựng các chính sách đối với kinh tế trang trại Chính phủ đã có Nghị quyết 03/2000/NQ-CP ngày 02/02/2000 về kinh tế trang trại Thi hành Nghị quyết của Chính phủ, Liên Bộ Nông nghiệp
và PTNT và Tổng cục Thống kê quy định hướng dẫn tiêu chí về kinh tế trang trại như sau:
Tại thông tư liên tịch V/v: “Hướng dẫn tiêu chí để xác định kinh tế trang trại” số 62/ TTLT/ BNN- TCTK, ngày 20/5/ 2003 đưa ra tiêu chí định lượng sửa đổi bổ sung để xác định là kinh tế trang trại như sau:
Một hộ sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản được xác định là trang trại phải đạt cả hai tiêu chí định lượng sau đây [24]
*Giá trị sản lượng hàng hoá và dịch vụ bình quân 1 năm:
- Từ 40 triệu đồng trở lên
* Quy mô sản xuất:
a Đối với trang trại trồng trọt
+) Trang trại trồng cây hàng năm: từ 2 ha trở lên
+) Trang trại trồng cây lâu năm: từ 3 ha trở lên
+) Trang trại lâm nghiệp: từ 10 ha trở lên
b Đối với trang trại chăn nuôi
+) Chăn nuôi đại gia súc Trâu, Bò
Trang 25- Chăn nuôi sinh sản lấy sữa: có thường xuyên từ 10 con trở lên
- Chăn nuôi lấy thịt: có thường xuyên từ 50 con trở lên
+) Chăn nuôi gia súc lợn, dê
- Chăn nuôi sinh sản: có thường xuyên đối với lợn 20 con trở lên; đối với dê cừu từ 100 con trở lên
+) Chăn nuôi gia cầm: gà, vịt, ngan, ngỗng,… có thường xuyên từ
2000 con trở lên (không tính số đầu con dưới 7 ngày tuổi)
c Trang trại nuôi trồng thuỷ sản
- Diện tích mặt nước để nuôi trồng thuỷ sản có từ 2 ha trở lên (riêng
đối với nuôi tôm thịt theo kiểu công nghiệp từ 1 ha trở lên)
d Đối với các loại sản phẩm nông lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản có tính chất đặc thù như: trồng hoa, cây cảnh, trồng nấm, nuôi ong, giống thuỷ sản và thuỷ đặc sản thì tiêu chí xác định là gía trị sản lượng hàng hoá: 40 triệu đồng trở lên
Tuy vậy sau 3 năm thực hiện tiêu chí về kinh tế trang trại theo Thông tư hướng dẫn số 69/2000/TTLT/BNN- TCTK, ngày 23/6/2000 của Bộ Nông nghiệp và PTNT và Tổng cục thống kê, việc thống kê kinh tế trang trại đã
được thống nhất giữa các ngành và các địa phương trong cả nước, tạo điều kiện thuận lợi cho việc đánh giá và xây dựng chính sách đối với các trang trại Tuy nhiên trong quá trình thực hiện tiêu chí đã nảy sinh một số nội dung cần kịp thời sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với thực tiễn, đáp ứng đòi hỏi của các ngành, các địa phương, nhất là đối với các chủ trang trại Tại Thông tư liên tịch số 62/ TTLT/BNN-TCTK, ngày 20/05/2003 tiêu chí kinh tế trang trại được sửa đổi như sau:
1 Một hộ sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản được
xác định là trang trại phải đạt một trong hai tiêu chí về giá trị sản lượng hàng hoá, dịch vụ bình quân 1 năm hoặc về quy mô sản xuất của trang trại
Trang 262 Đối với trang trại sản xuất tổng hợp là trang trại có nhiều loại sản
phẩm hàng hoá của các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản thì tiêu chí xác định là giá trị sản lượng hàng hoá, dịch vụ bình quân 1 năm
3 Tiêu chí định lượng về giá trị sản lượng hàng hoá, dịch vụ bình quân
một năm và quy mô sản xuất của trang trại được quy định trong Thông tư hướng dẫn số 69/2000/TTLT/BNN- TCTH, ngày 23/6/2000 của Bộ Nông nghiệp và PTNT và Tổng cục Thống kê
Như vậy, những hộ tuy quy mô sản xuất nhỏ hơn quy định nhưng đạt giá trị hàng hoá bình quân từ 40 triệu đồng trở lên và ngược lại những trang trại tuy chư a đạt mức giá trị hàng hoá trên vẵn được công nhận là trang trại Qua các tiêu chí xác định kinh tế trang trại nêu trên ta có thể phân biệt những điểm khác nhau giữa kinh tế trang trại và kinh tế hộ như sau:
Bảng 2.1: So sánh kinh tế trang trại và kinh tế hộ
1 Mục tiêu Sản xuât hàng hoá Sản xuất tự túc
2 Lao động Thuê lao động Lao động gia đình
3 Quản lý Có quản lý, có hạch toán, có
5 Chế độ canh tác Cơ giới hoá, hiện đại hoá Thủ công
6 Kết luận Phù hợp với nền kinh tế sản
xuất phát triển cao
Phù hợp với sản xuất nhỏ
(Nguồn số liệu: Tư liệu về kinh tế trang trại)[13] 2.2.2.2 Tình hình phát triển trang trại và hiệu quả kinh tế trang trại ở Việt Nam
Kinh tế trang trại đã xuất hiện khá lâu trong nền nông nghiệp hàng hoá và hiện nay nó đang tiếp tục phát triển đa dạng trong nền kinh tế thị
Trang 27trường ở nước ta Bởi lẽ, như nhà triết học Hêghen người Đức đã từng nói: cái gì hợp lý thì nó tồn tại và phát triển
Thật vậy, ở nước ta ngay từ những năm 60, ở miền Bắc, Đảng và Nhà nước đã có cuộc vận động nhân dân vùng đồng bằng có mật độ dân cư đông
đi xây dựng nông trang nơi các vùng đất hoang ở trung du miền núi Trong thời kỳ này cùng với phong trào hợp tác hoá nên gọi là nông trang tập thể và sau đó được sát nhập vào các hợp tác xã hoặc nông lâm trường quốc doanh
ở miền Nam trong thời kỳ Pháp thuộc, Mỹ nguỵ ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, Tây nguyên, với các chính sách hạn điền 10ha/hộ kinh tế trang trại cũng phát triển mạnh ở Tây Nguyên bên cạnh những đồn điền cao su,
cà phê, chè … của thực dân Pháp kinh tế trang trại của nông dân cũng phát triển, như ông Tư Yừn năm 1945 đã kinh doanh 3 ha cà phê … Sau giải phóng năm 1975 các trang trại cũng được tập thể hoá vào hợp tác xã, hoặc sát nhập vào các nông, lâm trường quốc doanh
Từ sau khi phong trào HTX NN bị giảm sút, sản xuất nông lâm ngư nghiệp gặp nhiều khó khăn, kinh tế hộ nông dân đã được khẳng định vị trí, vai trò trong đường lối phát triển nông nghiệp ở nước ta Trong quá trình phát triển một bộ phân kinh tế nông hộ đã tiến lên sản xuất nông sản hàng hoá theo mô hình kinh tế trang trại ở các vùng từ đồi núi, đồng bằng và ven biển với nhiều loại hình sản xuất nông lâm ngư nghiệp khá phong phú và đa dạng
cụ thể như sau:
- Vùng đồi miền núi nước ta từ Bắc Bộ, Trung Bộ, Tây Nguyên và
Đông Nam bộ có quỹ đất trống đồi núi trọc Đất đai và khí hậu hợp với trồng rừng, cây công nghiệp, cây ăn quả, chăn nuôi đại gia súc … Những năm gần
đây xuất hiện nhiều hộ nông dân đi vào sản xuất hàng hoá hình thành nên các trang trại trồng rừng, trồng cây công nghiệp như cà phê, hồ tiêu, điều, chè, quế … ở Yên Bái cho thấy 60% giá trị kim ngạch xuất khẩu là sản xuất hàng hoá từ khu vực trang trại Toàn tỉnh Yên Bái có 45,55% trang trại thiếu
từ 5 - 25 lao động, vùng trồng rừng kinh tế 60.000ha góp phần đưa độ che
Trang 28phủ cao 31,5% Huyện Lục Ngạn tỉnh Bắc Giang đi lên kinh tế trang trại từ cây vải thiều, huyện Vân Yên (Yên Bái) phát triển kinh tế trang trại từ cây quế; huyện Đắc Trung (Lâm Đồng), Đắc Min (Đắc Lắc) phát triển trang trại
từ cây cà phê, huyện Bình Long (Bình Phước), Bến Cát (Bình Dương) phát triển kinh tế trang trại từ cây cao su
Theo Báo cáo sơ kết 4 năm thực hiện nghị quyết số 03/NQ- CP của Cục hợp tác xã và PTNT ngày 14/5/2004 số lượng trang trại; vốn đầu tư, lao
động; giá trị sản phẩm hàng hoá, thu nhập trang trại biến động như sau
- Số lượng trang trại:
Trước đây, do chưa có tiêu chí xác định KTTT thống nhất trên phạm vi cả nước nên các địa phương tự đưa ra những tiêu chí về quy mô đất đai, đầu gia súc, giá trị sản lượng hàng hoá Theo báo cáo của các địa phương, năm
1999, cả nước có 110.000 trang trại, bình quân có 1850 trang trại/tỉnh, trong
đó Miền Bắc có khoảng 67.000 trang trại .Sau khi Thông tư liên tịch Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn - Tổng cục thống kê hướng dẫn tiêu chí phân loại trang trại được ban hành, nhiều hộ sản xuất nhỏ trước đây được coi
là trang trại, nhưng do không đạt được tiêu chí, nên số trang trại đã giảm Theo báo cáo số liệu thống kê của Tổng cục thống kê năm 2000 cả nước có 55.852 trang trại, bình quân 915 trang trại/tỉnh Năm 2001, có 60.758 trang trại, bình quân có 996 trang trại/tỉnh Năm 2002, có 61.732 trang trại, bình quân có 1012 trang trại/tỉnh [7]
Tháng 7 năm 2003, Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn ban hành thông tư số 74/2003/TT-BNN sửa đổi bổ sung Thông tư liên tịch số 69/2000/TTLT-BNN-TCTK về tiêu chí phân loại KTTT Theo tiêu chí phân loại mới, số lượng KTTT có sự biến động Số liệu báo cáo của 45 tỉnh, Thành phố đến cuối năm 2003, có tổng số 71.914 trang trại, bình quân có 1598 trang trại/tỉnh Theo tiêu chí phân loại trang trại thống nhất chung cả nước, tốc độ tăng số lượng trang trại bình quân từ năm 2000 - 2003 khoảng 5% Các địa phương, các vùng có nhiều quỹ đất nông, lâm nghiệp và diện tích
Trang 29mặt nước chưa sử dụng vùng kinh tế năng động thì KTTT phát triển nhanh Vùng Đông Nam Bộ năm 2003 so với năm 2000 tăng khoảng 30,6%, vùng Tây Nguyên : 46,6%, đồng bằng sông Hồng: 11,6% Vùng đồng bằng sông Cửu Long có số ượng trang trại nhiều nhất chiếm tỷ trọng trên 50% tổng số trang trại cả nước [7]
- Sản phẩm hàng hoá và thu nhập của các trang trại:
Giá trị sản phẩm hàng hoá, theo báo cáo của 45 tỉnh, năm 2003 tổng giá trị hàng hoá, dịch vụ của các trang trại là 7047 tỷ đồng, bình quân một trang trại 98 triệu đồng Trong đó vùng Tây Nguyên có giá trị sản phẩm hàng hoá bình quân 1 trang trại đạt 107 triệu đồng; vùng Tây Bắc chỉ đạt 35,72 triệu đồng Loại hình trang trại có giá trị hàng hoá cao nhất là trang trại nuôi trồng thuỷ sản đạt bình quân từ 120 triệu đến 150 triêụ đồng/trang trại, cá biệt có trang trại trên 400 triệu đồng; thấp nhất là trang trại lâm nghiệp đạt bình quân từ 25- 30 triệu đồng Tỷ suất hàng hoá dịch vụ bán ra bình quân
1 trang trại đạt trên 80% Thu nhập bình quân khoảng 40 triệu đồng/1 trang trại Tỉnh Tiền Giang, thu nhập bình quân 1 trang trại năm 2003 đạt 62,4 triệu đồng, cao hơn 2,7 lần so với thu nhập bình quân của hộ nông nghiệp sản xuất trung bình trong tỉnh.ở các tỉnh Tây Nguyên như: tỉnh Lâm Đồng.,
Đắc Lắc, Kon Tum… do tình hình sản xuất, tiêu thụ cà phê, hồ tiêu không
ổn định giá cả biến động nên đã ảnh hưởng đến thu nhập của các chủ trang trại; tuy nhiên mức thu nhập bình quân một trang trại của các địa phương trên vẫn đạt khoảng 50 triệu đồng, cao hơn mức bình quân một trang trại năm 2003 đạt 23,4 triệu đồng, tăng 4,23 triệu đồng so với năm 2001; Tỉnh Phú Yên, thu nhập bình quân 34,4 triệu đồng/ trang trại; bình quân 1 khẩu 630.500 đồng/tháng gấp 3,5 lần so với hộ nông dân khác trong tỉnh [7]
- Vốn đầu tư và lao động của trang trại:
Để mở rộng, phát triển sản xuất, kinh doanh các chủ trang trại đã đầu tư lượng vốn lớn, bình quân 1 trang trại trên 150 triệu đồng Có sự chênh lệch khá lớn về vốn đầu tư của trang trại theo từng tỉnh, từng vùng và từng
Trang 30loại hình sản xuất như : vùng Đông Nam Bộ, 358 triệu đồng/trang trại; Tây Nguyên 181,7 triệu đồng/trang trại; Duyên hải Nam Trung Bộ 137 triệu
đồng/trang trại , vùng Đông Bắc 78 triệu đồng/trang trại [7]
Nhìn chung các chủ trang trại đều trực tiếp lao động và quản lý trang trại, đồng thời thuê thêm lao động Các trang trại có quy mô sản xuất nhỏ thuê lao động thời vụ; các trang trại có quy mô lớn, sản xuất có tính liên tục thuê lao động thường xuyên Kết quả điều tra năm 2001 các trang trại đã thu hút được 374.701 lao động, bao gồm 168.634 lao động của chủ trang trại và 205.067 lao động thuê ngoài (60.880 lao động thường xuyên và 145.187 lao
động thời vụ) bình quân 1 trang trại có 6,2 lao động (lao động chủ trang trại
là 2,8; lao động thuê là 3,4) [7]
Năm 2003, theo báo cáo của 45 tỉnh, các trang trại đã sử dụng 358.403 lao động, bình quân có 5 lao động/trang trại, trong đó lao động của chủ trang trại chiếm tỷ lệ khoảng 44%, còn lại là lao động thuê ngoài Nơi sử dụng lao
động thuê ngoài cao là vùng đồng bằng sông Hồng, Duyên hải Nam Trung
Bộ, Bắc Trung Bộ, Tây Bắc, chiếm tỷ lệ 60-70% [7]
Việc thu hút lao động, giải quyết việc làm của các trang trại đã làm giảm bớt áp lực do thiếu việc làm, góp phần tăng tích luỹ cho chủ trang trại
và tăng thu nhập, cải thiện đời sống cho nhiều hộ nông dân
* Nhận xét về tình hình và xu thế phát triển kinh tế trang trại ở nước
ta
Mặc dù, thời gian phát triển KTTT còn ngắn, nhưng với kết quả đạt
được KTTT đã thực sự là hình thức tổ chức sản xuất hàng hoá lớn, một mặt
đã tạo ra lượng giá trị lớn về nông, lâm, thuỷ sản hàng hoá mà quy mô của
nó vượt trội nhiều so với kinh tế hộ nông dân, mặt khác, còn là mô hình lấy sản xuất hàng hoá làm mục tiêu Kinh tế trang trại là nhân tố mới ở nông thôn; là động lực mới nối tiếp và phát huy động lực kinh tế hộ nông dân, là
điểm đột phá trong bước chuyển sang sản xuất nông nghiệp hàng hoá Phát triển kinh tế trang trại góp phần tích cực trong quá trình chuyển dịch cơ cấu
Trang 31cây trồng, vật nuôi, cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn Phát triển kinh tế trang trại là bước đi thích hợp để chuyển nền nông nghiệp từ tự cấp, tự túc sang sản xuất hàng hoá ở mỗi địa phương đã xuất hiện ngày càng nhiều trang trại điển hình sản xuất, kinh doanh giỏi; đó là các chủ trang trại tiêu biểu có ý chí, có trình độ kỹ thuật và quản lý, năng động, sáng tạo, khắc phục khó khăn gian khổ làm ăn có hiệu quả, tạo nhiều việc làm, nâng cao thu nhập và có nhiều đóng góp cho xã hội… góp phần làm bộ mặt nông thôn từng bước khởi sắc Vì những đóng góp tích cực KTTT trong xây dựng kinh
tế và phát triển nông thôn, thời gian qua đã có nhiều chủ trang trại được Nhà nước tuyên dương Anh hùng lao động, được nhận giải thưởng Sao Đỏ…Tuy nhiên trong qúa trình phát triển trang trại ở nước ta cũng còn một số tồn tại cơ bản làm giảm hiệu quả hoạt động và hiệu quả kinh tế của trang trại:
+ ở một số địa phương KTTT phát triển còn mang tính tự phát không theo quy hoạch
+ Việc giao đất, cho thuê đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các trang trại tiến hành chậm; một số vấn đề về sử dụng đất của trang trại còn vướng mắc chưa được xử lý kịp thời
+ Trình độ quản lý của các chủ trang trại và tay nghề của người lao
động còn hạn chế
+ Chất lượng sản phẩm hàng hoá của trang trại chưa cao, chủ yếu dưới dạng thô, tiêu thụ khó khăn, nhiều chủ trang trại chưa nắm bắt được nhu cầu của thị trường nên sản xuất còn thụ động, hiệu quả thấp
+ KTTT nhiều nơi chưa được tạo điều kiện thuận lợi để phát triển và hưởng các chính sách khuyến khích của Nhà nước
+ KTTT phát triển kém bền vững, gây cạn kiệt nguồn tài nguyên và ô
nhiễm môi trường sinh thái
Trang 322.2.2.3 Quan điểm và chính sách phát triển kinh tế trang trại của
Đảng và Nhà nước ta
Thực hiện đường lối của Đảng, đổi mới cơ chế quản lý kinh tế trong nông nghiệp, bắt đầu từ Nghị quyết Trung ương 6 (khoá IV), Chỉ thị 100 của Ban Bí thư (khoá V), Nghị quyết Tung ương khoá 5 (khoá VII), Luật đất đai
1993, Nghị quyết Trung ương 4 và Nghị quyết Trung ương 6 (lần I) khoá VIII đã là cơ sở quan trọng cho kinh tế trang trại ở nước ta hình thành và phát triển
Tác dụng to lớn nhất, bao trùm nhất của Nghị quyết 10 đã thực sự giải phóng sức sản xuất trong nông nghiệp mà lực lượng cơ bản là kinh tế hộ nông dân, đã tạo ra sự tăng trưởng ngoạn mục hơn 15 năm liền từ năm 1988
đến nay, bước đầu tạo ra sự chuyển dịch từ kinh tế tiểu nông tự túc lên sản xuất hàng hoá theo mô hình kinh tế trang trại Sau Nghị quyết 10 là Nghị quyết TW5 khoá VII, năm 1993 đã đề ra chủ trương: “Khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư phát triển các loại giống nuôi có hiệu quả kinh tế cao, khai thác đồi núi trọc, bãi bồi ven biển, nuôi trồng thuỷ sản, đánh bắt ngoài khơi, xây dựng các nông lâm ngư trại thích hợp” [1] Nghị quyết TW4 (khoá VIII, 1997) đã viết: “Kinh tế trang trại với các hình thức sở hữu khác nhau (Nhà nước, tập thể, tư nhân) được phát triển chủ yếu để trồng cây dài ngày, chăn nuôi đại gia súc ở những nơi có nhiều ruộng đất, khuyến khích việc khai phá đất hoang vào mục đích này” [2]
ở Hội nghị TW6 (lần 1, khoá VIII) Bộ Chính trị đã có quan điểm cụ thể về kinh tế trang trại: “Nhà nước khuyến khích phát triển kinh tế trang trại gia đình, riêng trang trại tư nhân (kể cả tư nhân ở nơi khác hoặc thành phố)
được khuyến khích phát triển theo quy định của Pháp luật để khai thác đất trống, đồi núi trọc, đất hoang hoá ở trung du, miền núi và vùng ven biển, còn
ở vùng đồng bằng, chủ yếu chỉ hướng vào việc xây dựng các trang trại chăn nuôi hoặc công nghiệp chế biến” [33]
Trang 33Để triển khai các Nghị quyết của Đảng về nông nghiệp, Chính phủ đã ban hành các văn bản pháp lý: Nghị định, nghị quyết hướng dẫn việc thi hành Nghị quyết 03/2000/NQ-CP từ ngày 15/06/2000 về một số chủ trương
và chính sách chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp
Tinh thần các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước ta thể hiện
rõ trong các chính sách cụ thể sau:
- Chính sách ruộng đất:
Chính sách ruộng đất của Nhà nước ta được thể hiện rõ nhất trong luật
đất đai năm 1993 Luật quy định và cụ thể hoá quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế và thế chấp quyền sử dụng đất trong thời hạn giao
đất đúng mục đích sử dụng đất được giao Từ sau ban hành Luật đến nay, Nhà nước đã ban hành 70 văn bản thi hành Luật đất đai, trong đó có 6 văn bản thuộc thẩm quyền Quốc hội, hơn 30 văn bản của Chính phủ còn lại của
Bộ ngành liên quan [7]
Chính sách đất đai đối với kinh tế trang trại được nêu lên cụ thể trong Nghị quyết số 03/2000/NQ-CP ngày 02/2/2000 của Chính phủ về kinh tế trang trại: Hộ gia đình có nhu cầu và khả năng sử dụng đất để phát triển trang trại được Nhà nước giao đất hoặc cho thuê đất và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo Nghị định 85/1999/NĐ-CP và Nghị định số 163/1999/NĐ-CP Hộ gia đình trực tiếp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản sống tại địa phương có nhu cầu và khả năng để mở rộng sản xuất thì ngoài phần đất đã được giao trong hạn mức của địa phương còn
được Uỷ ban nhân dân xã xét cho thuê đất để phát triển trang trại
Nhìn chung, chính sách đất đai của Nhà nước ta ngày càng thông thoáng, đã tạo ra môi trường và cơ sở pháp lý thuận lợi để kinh tế trang trại phát triển Tuy nhiên, vẫn còn những mặt hạn chế của chính sách chưa đáp ứng kịp thời những yêu cầu diễn ra trong thực tiễn Hậu quả của các chính sách cũ, làm cho đất đai manh mún, bên cạnh sự bảo thủ của người dân dẫn
Trang 34đến nhiều nơi, nhiều vùng khó có điều kiện tập trung với quy mô lớn để phát triển kinh tế hàng hoá
- Chính sách thuế:
Thuế là một trong những công cụ quản lý vĩ mô nền kinh tế, để khuyến khích và tạo điều kiện hộ gia đình, cá nhân đầu tư phát triển kinh tế trang trại, Nghị quyết số 03/2000/NQ-CP đã chỉ rõ “… ở những vùng đất trống, đồi núi trọc, bãi bồi, đầm phá ven biển, thực hiện miễn thuế thu nhập cho trang trại với thời gian tối đa theo Nghị định số 51/1999/NĐ-CP ngày 8/12/1999 của Chính phủ về quy định chi tiết thi hành Luật đầu tư khuyến khích đầu tư trong nước” Thực chất việc ưu đãi này là tạo điều kiện để các trang trại đảm bảo nguồn vốn đủ lớn nhằm đầu tư tái sản xuất mở rộng quy mô kinh doanh Hay nói cách khác, Nhà nước hỗ trợ đầu tư một cách gián tiếp vào khu vực kinh tế trang trại với mục đích phát triển kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá theo quy mô lớn
- Chính sách, đầu tư tín dụng:
Đầu tư cho tăng trưởng và phát triển kinh tế là vấn đề hết sức quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế nói chung và kinh tế trang trại nói riêng Trong đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước ta hiện nay luôn dành sự ưu tiên để phát triển kinh tế nông nghiệp, đã thực hiện chính sách
đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn trên các địa bàn có điều kiện kinh
tế xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn như: giao thông, điện, thuỷ lợi … để khuyến khích các hộ gia đình phát triển kinh tế trang trại sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp Chính phủ đã ban hành Nghị định 43/1999/NĐ-CP ngày 29/6/1999 cho phép các trang trại được vay vốn từ Quỹ hỗ trợ đầu tư phát triển của Nhà nước Ngoài ra đã Quyết định số 67/1999/QĐ-TTg ngày 30/3/1999 của Thủ tướng Chính phủ về một số chính sách tín dụng ngân hàng phát triển nông nghiệp và nông thôn, chủ trang trại được dùng tài sản hình thành từ vốn vay để bảo đảm tiền vay theo quy định tại Nghị định số 178/1999/NĐ-CP ngày 29/12/1999 của Chính phủ về đảm bảo tiền vay của
Trang 35các tổ chức tín dụng Trên tinh thần của Nghị định số 03/2000/NQ-CP, Bộ Tài chính đã ban hành thông tư số 82/2000/TT-BTC ngày 14/08/2000 hướng dẫn chính sách tài chính nhằm phát triển kinh tế trang trại Trong những năm qua các chính sách này đã góp một phần vào sự phát triển kinh tế trang trại của cả nước
động như bảo hộ lao động, bảo hiểm rủi ro, đào tạo bồi dưỡng nghề cho người lao động Thông tư số 23/2000/TT-BLĐTBXH ngày 28/09/2000 đã hướng dẫn cụ thể một số chế độ đối với người lao động làm việc trong các trang trại Các chính sách về lao động đã tạo cơ sở pháp lý để các chủ trang trại chủ động thuê mướn sử dụng lao động
- Chính sách khoa học, công nghệ, môi trường
Chính sách khoa học, công nghệ, môi trường để tạo điều kiện thuận lợi cho kinh tế trang trại phát triển chiếm một vị trí quan trọng vì so với nông hộ thì kinh tế trang trại là cơ sở có nhiều điều kiện để ứng dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật hơn nhằm nâng cao năng suất cây trồng vật nuôi tạo ra nhiều sản phẩm hàng hoá Nhận biết vị trí vai trò đó, Nghị quyết số 03/2000/NQ-CP đã giao trách nhiệm cho Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn và UBND trực thuộc các tỉnh thành phố trực thuộc Trung ương quy hoạch phát triển các vườn ươm giống cây nông nghiệp, cây lâm nghiệp, và các cơ sở sản xuất con giống hoặc hỗ trợ một số trang trại có điều kiện sản xuất giống để đảm bảo đủ giống tốt, giống có chất lượng cao cung cấp cho các trang trại Trên tinh thần đó các Bộ ngành có liên quan đã hướng dẫn cụ thể chính sách về phát triển giống cây trồng vật nuôi, đặc biệt Bộ Thuỷ sản
Trang 36đã cố thông tư số 04/2000/TT-BTS ngày 03/11/2000 chính sách khuyến khích phát triển giống thuỷ sản
- Chính sách thị trường
Một trong những vấn đề vướng mắc hiện nay là giải quyết thị trường nông sản hàng hoá Kinh tế trang trại khác với kinh tế hộ là sản xuất ra sản phẩm hàng hoá với khối lượng lớn Vì vậy, khâu tiêu thụ hàng hoá là vấn đề quan trọng Để tháo gỡ những khó khăn đó Nghị quyết 03/2000/NQ-CP đã quy định phẩm quyền cho các Bộ ngành liên quan tổ chức thông tin về thị trường, khuyến cáo khoa học kỹ thuật, giúp trang trại định hướng sản xuất kinh doanh phù hợp với nhu cầu thị trường trong và ngoài nước Bên cạnh đó khuyến khích xây dựng mới các cơ sở chế biến và phát triển chợ nông thôn, tạo điều kiện để các trang trại tiếp cận và tham gia các chương trình, dự án hợp tác, hội chợ triển lãm trong và ngoài nước Cũng như các chủ đề kinh doanh nông nghiệp khác kinh tế trang trại được chi phối bởi Nghị quyết số 09/2000/NQ-CP về chủ trương và chính sách chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp
Có thể nói trong những năm qua, Nhà nước đã có những chính sách thông thoáng nhằm khuyến khích phát triển kinh tế trang trại Tuy nhiên, những chính sấch này vẫn còn nhiều bất cập và chưa đồng bộ nên đôi lúc,
đôi nơi vận dụng vào thực tiễn ở một số địa phương chưa đem lại hiệu quả cao, làm cho quá trình phát triển kinh tế trang trại còn chậm, chưa tương xứng với những tiềm năng và các nguồn lực kinh tế ở mỗi địa phương
2.2.2.4 Tình hình phát triển trang trại ở Hà Nội
Theo tiêu chí trang trại (Thông tư số 62/TTLT/BNN- TCTK, ngày 20 tháng 5 năm 2003), hiện nay ngoại thành Hà Nội có 401 trang trại Trong đó trang trại Trồng trọt là 49; trang trại Chăn nuôi là 97; trang trại Thuỷ sản là 161; trang trại sản xuất tổng hợp 62; trang trại Lâm nghiệp 32
Nguồn gốc các loai đất đai phát triển kinh tế trang trại rất đa dạng Cơ cấu đất của trang trại rất đa dạng, bao gồm đất thổ cư, đất nông nghiệp
Trang 37(trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản), đất lâm nghiệp, đất khác (XDCB) Theo kết quả điều tra, mỗi trang trại trung bình có 3,38 ha đất Trong đó diện tích đất mặt nước nuôi trồng thuỷ sản chiếm 47%, đất lâm nghiệp chiếm 33%
Qua điều tra cho thấy bình quân 1 trang trại có số vốn là 272 triệu
đồng vốn Trong đó, vốn tự có xấp xỉ 80%, khoảng 20% là vốn vay Vốn vay dựa vào nhiều nguồn rất đa dạng: vay dự án 15%, vay HTX tín dụng 4%, vay khác 4%, vay ngân hàng cao chiếm 39%
Các chủ trang trại đại bộ phận là nam giới chiếm 86% Trình độ văn hoá của trang trại đại bộ phận có trình độ cấp II trở lên (chiếm 95%) Các chủ trang trại có trình độ chuyên môn với bằng từ trung cấp đến đại học có
42 người, chiếm 11% Số nhân khẩu bình quân một trang trại điều tra là 5,2 người Số lao động làm thuê ở các trang trại chưa nhiều, bình quân một trang trại thuê 1,7 lao động thường xuyên Số ngày công lao động thời vụ thuê ngoài của các trang trại điều tra bình quân đạt 96,7 ngày/năm với mức tiền công bình quân 1 ngày lao động khoảng 15.000- 30.000đ/ngày công
Giá trị sản xuất bình quân một trang trại 249,88 triệu đồng/năm Trong đó ngành trồng trọt chiếm 8%, chăn nuôi chiếm 66%, thuỷ sản chiếm 26%
Thu nhập bình quân trang trại là 59,4 triệu đồng/năm, khoảng 4,95 triệu đồng/ tháng và căn cứ kết quả khảo sát thì thu nhập bình quân của một khẩu sẽ vào khoảng 960.000 đồng/ tháng
Đánh giá chung về thực trạng phát triển trang trại Hà Nội:
Ưu điểm: Trong những năm gần đây, mô hình kinh tế trang trại trên
địa bàn thành phố Hà Nội đã và đang có nhiều chuyển biến rõ nét, cả về số lượng và chất lượng Từng bước khẳng định là hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh phù hợp với điều kiện tự nhiên của một số vùng ở Hà Nội, tạo ra một lượng giá trị hàng hoá lớn về nông, lâm, thuỷ sản và quy mô vượt trội hơn so với kinh tế hộ nông dân Qua điều tra, có thể khẳng định mô hình
Trang 38kinh tế trang trại vẫn có nhiều điều kiện và khả năng để phát triển, vấn đề là lựa chọn hướng kinh doanh với những sản phẩm không cần nhiều đất, nhưng
có thể tạo ra giá trị lớn như chăn nuôi gia súc, gia cầm, các loại đặc sản, hoa, cây cảnh,
Kinh tế trang trại phát triển đã thu hút một khối lượng lớn tiền vốn trong dân vào sản xuất nông nghiệp; tạo thêm việc làm, góp phần xoá đói giảm nghèo ở nông thôn, tạo ra xu hướng hợp tác và phát triển mới trong sản xuất, kinh doanh
Kinh tế trang trại phát triển đã thu hút một khối lượng lớn tiền vốn trong dân vào sản xuất nông nghiệp: tạo thêm việc làm, góp phần xoá đói giảm nghèo ở nông thôn, tạo ra xu hướng hợp tác và phát triển mới trong sản xuất, kinh doanh
Tuy vậy phát triển trang trại còn những vấn đề tồn tại đặt ra:
- Trình độ quản lý của các trang trại, trình độ học vấn thấp, số đông chưa qua đào tạo thường lúng túng trước cơ chế thị trường, việc điều hành tổ chức sản xuất, kinh doanh chủ yếu dựa vào kinh nghiệm và sự nhiệt tình của chủ trang trại nên chất lượng sản xuất, kinh doanh trang trại chưa cao và thiếu bền vững
Việc hạch toán chi phí kinh doanh của các trang trại còn hết sức thô sơ, gây khó khăn trong việc tổng hợp tài chính, đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh của trang trại hàng năm
Chất lượng sản phẩm hàng hóa của trang trại chưa cao, chủ yếu dưới dạng thô, tiêu thụ khó khăn, nhiều chủ trang trại chưa nắm bắt được nhu cầu thị trường nên sản xuất còn thụ động, hiệu quả chưa cao
Phương hướng phát triển kinh tế trang trại Hà Nội trong thời gian tới:
- Tiếp tục khuyến khích phát triển trang trại nhằm thúc đẩy mạnh sản xuất hàng hoá trong nông nghiệp, phát huy tiềm năng, điều kiện tự nhiên kinh tế về đất đai, lao động, vốn, kỹ thuật trong thời gian lâu dài ổn định
Trang 39- Phát triển kinh tế trang trại theo hướng thâm canh, áp dụng các tiến
bộ kỹ thuật, tập trung sản xuất các loại sản phẩm nông nghiệp có chất lượng cao, an toàn thực phẩm có ưu thế ở Hà Nội: cây ăn quả, nuôi trồng thuỷ đặc sản, sản xuất rau hoa cao cấp và chăn nuôi theo vùng tập trung Phát triển kinh doanh tổng hợp gắn nông nghiệp với chế biến, du lịch sinh thái ở những trang trại có điều kiện
Phát triển kinh tế trang trại theo hình thức trang trại gia đình là chính, khuyến khích các hình thúc liên kết góp vốn, tích tụ ruộng đất để phát triển trang trại
2.3 Các công trình nghiên cứu có liên quan
Nghiên cứu về trang trại nước ta trong những năm gần đây đã có nhiều công trình như: Phát triển và quản lý trang trại trong cơ chế thị trường của PGS TS Lê Trọng, NXB Nông nghiệp Hà Nội, 1993; hội thảo về kinh tế trang trại KonTum tổ chức tại huyện Dăk Hà, tháng 7/1998, hội thảo về “Cơ
sở khoa học của sự hình thành và phát triển kinh tế trang trại ở Nam Bộ” tại trường Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, tháng 3 năm 1999 Nhất là sau Nghị quyết Trung ương lần thứ 6 (lần 1) khoá VII, nghị quyết Trung
ương 5 khoá IX gần đây của Đảng, trên diễn đàn báo chí có nhiều bài viết về kinh tế trang trại như: Nhìn lại kinh tế trang trại những năm gần đây của tác giả Trần Đức đăng trên Tạp chí Cộng sản số 5 (tháng 3 năm 1999) Tác giả
đã luận giải chung quanh về khái niệm, đặc trưng và đưa ra nhiều quan điểm, quan niệm về kinh tế trang trại Nhiều bài viết của các tác giả đã được in thành sách “tư liệu về kinh tế trang trại”, NXB thành phố Hồ Chí Minh,
2000, trong đó nổi bật các bài như: Khảo sát về kinh tế trang trại của tác giả Nguyễn Sinh Cúc, một số vấn đề về kinh tế trang trại và khả năng phát triển
ở Việt Nam của GS Chu Tiến Quang và Trần Hữu Quang và nhiều bài viết của Hội khoa học kinh tế Việt Nam Các tác giả đã khắc hoạ, mô tả khá rõ về những đặc trưng, loại hình và thực trạng phát triển của kinh tế trang trại trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần
Trang 40Tại Hà Nội, báo chí và các cuộc hội thảo cũng đề cập đến thực trạng phát triển kinh tế trang trại ngọai thành Hà Nội Tuy vậy đến nay ch−a có công trình khoa học nào viết về “Nâng cao hiệu quả kinh tế trang trại huyện Gia Lâm” một cách đầy đủ, có cơ sở khoa học và thực tiễn, sâu sắc và có hệ thống Vì vậy, đề tài “Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế trang trại trên địa bàn huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội” của chúng tôi cố gắng nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận có tính kế thừa nhằm vận dụng vào tình hình thực tiễn để phân tích đánh giá đúng hiệu quả kinh tế trang trại Gia Lâm, từ đó đ−a ra các giải pháp thiết thực đảm bảo tính khả thi nhằm góp phần vào quá trình CNH- HĐH nông nghiệp nông thôn ở huyện Gia Lâm, Thành phố Hà Nội