1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thực trạng và giải pháp bồi dưỡng kiến thức cho chủ trang trại ở hà nội

105 383 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực Trạng Và Giải Pháp Bồi Dưỡng Kiến Thức Cho Chủ Trang Trại Ở Hà Nội
Trường học Trường Đại Học Nông Nghiệp Hà Nội
Chuyên ngành Kinh Tế Nông Nghiệp
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2004
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 870,51 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

luận văn

Trang 1

1 Mở đầu

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Từ cuối thế kỉ XIX ở châu Âu đã hình thành tổ chức sản xuất Nhà nước dựa trên kinh tế trang trại và thể hiện rõ vai trò tích cực của hình thức này Thực trạng phát triển KT-XH của nước ta và thực tiễn phát triển của một số nước Đông Nam á trong những năm qua đã khẳng định vai trò quan trọng của kinh tế trang trại đối với sự ổn định và phát triển KT-XH của mỗi quốc gia

ở Việt Nam, trong những năm gần đây kinh tế trang trại phát triển mạnh

mẽ và đa dạng đã có tác dụng tới quá trình phát triển KT-XH và thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn trên nhiều địa phương trong cả nước

Đối với Hà Nội trong những năm qua, Thành uỷ, Uỷ ban nhân dân Thành phố đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách nhằm khuyến khích kinh tế trang trại phát triển Do vậy, trang trại của Hà Nội có bước phát triển với nhiều mô hình sản xuất kinh doanh có hiệu quả, nhiều gương điển hình làm ăn giỏi Sản phẩm sản xuất ra từ các trang trại có chất lượng và tính hàng hoá ngày càng cao, góp phần quan trọng vào quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế, cơ cấu cây trồng vật nuôi trong nông nghiệp và nông thôn ngoại thành

Tuy nhiên, trang trại Hà Nội còn bộc lộ nhiều hạn chế, trong đó có sự hạn chế về trình độ kiến thức của chủ trang trại và người lao động trong trang trại Chính điều này đã hạn chế đến khả năng ứng dụng khoa học công nghệ mới, khả năng sử dụng vốn, đất đai, lao động Trong khi đó với vị trí của Thủ

đô, yêu cầu lớn được đặt ra là: “ Hà Nội phải đi đầu trong CNH-HĐH nông nghiệp, nông thôn”

Những yêu cầu, đòi hỏi trên đã và đang đặt ra một cách cấp bách về nâng cao trình độ chuyên môn, năng lực quản lý của các chủ trang trại nói chung và cần làm

rõ đối với công tác quản lý Nhà nước của Thành phố là: “Kiến thức cần có của các

Trang 2

chủ trang trại là kiến thức gì? hiện nay họ đã có chưa? có đến đâu? có bằng cách nào? nhu cầu bồi dưỡng kiến thức cho chủ trang trại như thế nào? nội dung cần bồi dưỡng là gì? hình thức, phương pháp bồi dưỡng ra sao để phát triển KT-XH nông thôn, nhất là kinh tế trang trại Hà Nội Xuất phát từ thực tiễn đó, chúng tôi tiến

hành nghiên cứu đề tài: “Thực trạng và giải pháp bồi dưỡng kiến thức cho các chủ trang trại ở Hà Nội”

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

1.2.1 Mục tiêu chung

Nghiên cứu thực trạng và giải pháp bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, trình độ quản lý cho các chủ trang trại ở Hà Nội

1.2.2 Mục tiêu cụ thể

- Góp phần hệ thống hoá một số vấn đề lý luận cơ bản về bồi dưỡng kiến thức cho chủ trang trại

- Phân tích, đánh giá thực trạng nội dung và phương pháp bồi dưỡng kiến thức cho chủ trang trại ở Hà Nội

- Đề xuất các giải pháp bồi dưỡng nâng cao trình độ cho các chủ trang trại ở Hà Nội

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là vấn đề “Bồi dưỡng kiến thức cho các chủ trang trại”, đó là quá trình trang bị kiến thức cần thiết về quản lý kinh

tế, quản lý kỹ thuật cho chủ trang trại để họ có thể điều hành hoạt động ở trang trại có hiệu quả hơn

- Luận văn tập trung nghiên cứu 30 trang trại thuộc 5 huyện ngoại thành

và 02 quận mới của Hà Nội từ năm 2002-2004 về thực trạng trình độ kiến thức của các chủ trang trại, dự kiến đến năm 2010

*

* *

Trang 3

2 Cơ sở lý luận và thực tiễn về bồi dưỡng

kiến thức cho chủ trang trại

2.1 Cơ sở lý luận

2.1.1 Khái niệm về bồi dưỡng kiến thức

Bồi dưỡng kiến thức (theo định nghĩa trong từ điển bách khoa) là quá trình tác động đến một con người nhằm làm cho con người đó lĩnh hội và nắm vững những tri thức, kĩ năng, kĩ xảo một cách có hệ thống chuẩn bị cho người

đó thích nghi với cuộc sống và khả năng nhận một sự phân công nhất định, góp phần của mình vào sự phát triển của xã hội, duy trì và phát triển nền văn minh loài người Về cơ bản lĩnh vực bồi dưỡng là giảng dạy và học tập ở nhà trường gắn với việc giáo dục đạo đức và nhân cách [dt 31]

Bồi dưỡng được hiểu là một quá trình hoạt động có mục đích, có tổ chức, nhằm hình thành và phát triển có hệ thống tri thức, kĩ năng, kĩ xảo, thái độ…

để hoàn thiện nhân cách cho mỗi cá nhân, tạo tiền để cho họ có thể vào đời hành nghề có kiến thức và đạt năng suất, hiệu quả cao

Bồi dưỡng là sự phát triển có hệ thống những kiến thức, kĩ năng mà mỗi cá nhân cần có để thực hiện đúng một nghề hoặc một nhiệm vụ cụ thể Sự cần thiết

đó có thể là do nhu cầu cá nhân của người được bồi dưỡng hoặc do nhu cầu phát triển nhân học của tổ chức Theo mục đích của người được bồi dưỡng có các tiêu chí phân loại: bồi dưỡng, tương ứng với nội dung, thời gian bồi dưỡng và mức độ

đánh giá kết quả

Như vậy, chúng ta có thể hiểu đào tạo là quá trình hoạt động gắn với lao

động nghề nghiệp và chỉ diễn ra sau khi người tham gia vào quá trình này đã một lần được đào tạo và công nhận bởi một văn bằng tương ứng Bồi dưỡng là những người đã có nghề hoặc đang làm một nghề nào đó nhưng vì lí do thay đổi hoặc có những vấn đề mới phát sinh, nghề cũ không còn phù hợp, cần phải bồi dưỡng nhằm nâng cao kiến thức và kinh nghiệm để có thể đảm nhận công việc và đạt hiệu quả tốt hơn

Trang 4

Bồi dưỡng không chỉ là quá trình trang bị kiến thức nhất định về chuyên môn, nghiệp vụ, kĩ năng, kĩ xảo mà còn làm tăng niềm say mê nghề nghiệp để

họ có thể đảm nhận và hoàn thành tốt hơn công việc nhất định Trong hoạt

động bồi dưỡng có giáo dục nhằm tăng cường phát triển kiến thức, có giá trị

đạo lý, những hiểu biết mà mỗi người cần có trong cuộc sống

Như vậy, chúng ta có thể nhất trí với khái niệm: Bồi dưỡng nguồn nhân lực là quá trình trang bị kiến thức nhất định về chuyên môn, nghiệp vụ cho người học để họ có thể đảm nhận được những công việc nhất định [2] Bồi dưỡng kiến thức bao gồm những bước sau:

- Xác định nhu cầu bồi dưỡng: là bước đầu tiên rất quan trọng trong hoạt

động bồi dưỡng Đối với từng ngành, trong địa phương, trong cơ quan, tổ chức nhu cầu bồi dưỡng bao giờ cũng gắn với chiến lược và kế hoạch phát triển của ngành, địa phương, cơ quan và tổ chức đó Bồi dưỡng là hoạt động đòi hỏi nhiều thời gian và chi phí tài chính lớn Nếu bồi dưỡng tốt có thể thu hồi lại

được chi phí đó, mang lại lợi ích to lớn cho cá nhân và xã hội, ngược lại sẽ làm tăng chi phí Khi đánh giá nhu cầu bồi dưỡng cần xem xét đến nhu cầu xã hội, các chương trình phát triển kinh tế có ích đến đặc thù của từng vùng, yêu cầu về ngành nghề và trình độ, hiện trạng chất lượng nhân lực Việc xác định nhu cầu bồi dưỡng của một ngành, lĩnh vực có ý nghĩa rất lớn cho các cơ sở

- Xác định mục tiêu bồi dưỡng: là trang bị cho người học những thông tin, kiến thức mà họ cần nhưng đang thiếu Về nhận thức, đó là những thông tin, kiến thức mà người học nhận được sau khoá bồi dưỡng, về tác động là quan

điểm, niềm tin mà người học có được

- Xác định đối tượng được bồi dưỡng: trên cơ sở mục tiêu, số lượng, nội dung và phương pháp bồi dưỡng mà xác định đối tượng bồi dưỡng cho phù hợp Đối với cá nhân, quyết định và lựa chọn ngành học hoặc chương trình

đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao năng lực là đặc biệt quan trọng về lập nghiệp cho tương lai hoặc khả năng thích ứng với sự thay đổi công việc Đối với tổ

Trang 5

chức, lựa chọn đúng người để bồi dưỡng sẽ tạo điều kiện cho chính người đó

có cơ hội phát triển và sự phát triển đội ngũ lao động nhằm nâng cao hiệu quả

và năng suất lao động cũng như hiệu quả đầu tư Ngược lại, sẽ lãng phí về thời gian, sức lực của người học và kinh phí của Nhà nước Vì vậy, lựa chọn đối tượng học cần căn cứ vào nhu cầu và động lực của người học

- Xây dựng nội dung và phương pháp bồi dưỡng: trên cơ sở thực trạng, nhu cầu, mục tiêu bồi dưỡng phù hợp với đối tượng đã được xác định Nội dung bồi dưỡng phải thực hiện tốt các mục tiêu của chương trình đặt ra Lựa chọn phương pháp bồi dưỡng cũng hết sức quan trọng vì nó liên quan đến đối tượng và mục

đích Phương pháp bồi dưỡng sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả của bồi dưỡng

- Xác định nguồn lực về bồi dưỡng: nguồn lực thiết yếu cho đào tạo, bồi dưỡng bao gồm thời gian, nhân lực, địa điểm, cơ sở vật chất, phương tiện và tài chính cho bồi dưỡng Trong tình hình hiện nay, các yếu tố trên giữ vai trò quan trọng tác động đến tâm lý, nhận thức của người học

- Tổ chức thực hiện bồi dưỡng: Đây là khâu quan trọng ảnh hưởng trực tiếp

đến kết quả bồi dưỡng Việc chuẩn bị các bước trên tốt cũng nhằm phục vụ cho khâu tổ chức thực hiện bồi dưỡng có hiệu quả

- Đánh giá kết quả bồi dưỡng và điều chỉnh hoạt động tiếp theo: qua các lớp bồi dưỡng phải có tiêu chí đánh giá về mức độ đáp ứng mục tiêu, yêu cầu đặt ra của khoá bồi dưỡng để có sự điều chỉnh phù hợp

2.1.2 Hình thức bồi dưỡng kiến thức

Thông thường có các hình thức bồi dưỡng như sau:

Hình thức bồi dưỡng giúp cho mọi người vừa làm vừa học, nhằm hoàn thiện và mở rộng hiểu biết, nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn nghiệp vụ

để thích nghi với thay đổi công việc và đời sống xã hội Ngoài ra còn có các hình thức tại nơi làm việc tức là người học được thực hành tại nơi sản xuất, hệ thống này phù hợp với các trường học nghề trong công nghiệp và khá phổ biến trong những năm qua

Trang 6

Hình thức bồi dưỡng là mức thấp hơn đào tạo cả về qui mô, nội dung, chương trình Hình thức bồi dưỡng thường áp dụng cho việc triển khai hoặc phổ biến các nội dung mới về mặt chuyên môn nghiệp vụ hoặc kỹ thuật cho các đối tượng cần quan tâm Đối với hình thức này, thời gian học tập ngắn, chủ yếu vừa học lí thuyết vừa học thực hành, kiến thức lí thuyết không buộc phải theo hệ thống; cơ quan, tổ chức và người dạy thường không yêu cầu phải chuyên nghiệp

Có nhiều cách bồi dưỡng khác nhau nhưng được hình thành bởi một số lý

do như tuổi tác, giới tính, những vấn đề về tâm lí xã hội Theo Honey và Mumford [dt 4], kiểu học được chia làm 4 nhóm: người học thực dụng, người học năng động, người học có phản hồi và người thích ứng nghiên cứu lí luận Những người học thực dụng là những cá nhân mong muốn tham gia toàn

bộ một quá trình và ra quyết định, đòi hỏi liên hệ giữa chủ đề học với những vướng mắc của họ, giống như việc nắm rõ ràng những chuyên môn đáng tin cậy để cạnh tranh, tìm kiếm cơ hội để thực hiện, tập trung vào những vấn đề thực tiễn đặt ra và chỉ quan tâm tới những nội dung có khả năng áp dụng được Những người học năng động là những cá nhân học bằng quá trình thử nghiệm, thích nhìn tận mắt, có nhu cầu cần được kích thích vào những hoạt

động khác nhau, thích những nhiệm vụ mang tính thách thức, thích giải quyết vấn đề theo nhóm

Những người có phản hồi cần thời gian để phản hồi trong khi họ tiếp thu

và cố gắng hiểu những vấn đề được nghe giảng, thích tìm kiếm, cần thời gian

để “tiêu hoá” trước khi đề nghị hoặc hành động, mong muốn thực hiện những chi tiết và đưa ra những phân tích và báo cáo có cơ sở

Những người nghiên cứu lí luận lại khác ở chỗ họ thích lý thuyết trừu tượng, thích tự học, khám phá mối liên kết và kết hợp giữa ý tưởng, sự kiện và tình huống, thích suy diễn và thách thức những câu hỏi và khảo sát kỹ lưỡng những phương pháp cơ bản, những giả thuyết… Honey và Mumford [dt 4]

Trang 7

Thực tế cho thấy hầu hết các nhà kinh doanh nằm trong nhóm thứ nhất và thứ hai (thực dụng và năng động) Họ quan tâm tới những vấn đề trong thế giới thực và thích quá trình học trao đổi lẫn nhau ở những nơi họ có thể tham gia các hoạt động

Hình ảnh người học trong các mô hình học tập và giảng dạy thể hiện: Học là một quá trình chủ động và kiến tạo; việc học tập được hoàn cảnh hóa

và tình huống hoá; việc học tập có động cơ nội tại; việc học tập được tự tổ chức và tự kiểm tra

Bồi dưỡng kiến thức người lao động nông nghiệp có thể khái quát thành

3 hình thức:

- Hình thức thứ nhất: Gọi là hệ thống học tập và tham quan (T&V) [2], ở

đây gồm 2 phần học ở trên lớp và đi thăm quan khảo sát thực tế tại hiện trường Mô hình này tạo điều kiện liên kết về chuyên ngành, trách nhiệm và nghiên cứu Đây là mô hình mang lại thành công ở nhiều nước nhất là châu á

được ngân hàng thế giới áp dụng ở nhiều nước trong 15 năm qua

- Hình thức thứ hai: Cán bộ khuyến nông tiếp nhận đề nghị của người dân và trực tiếp giải quyết và huấn luyện tại các trang trại theo định kỳ

- Hình thức thứ ba: Là nghiên cứu hệ thống canh tác và khuyến nông, theo hình thức này một nhóm các nhà khoa học đa ngành cùng với cán bộ khuyến nông cùng tham gia giải quyết khó khăn và thử nghiệm các giải pháp ở ngay trang trại Phương pháp này có hiệu quả ở một khu vực nhỏ, nhưng cũng tốn kém

2.1.3 Phương pháp bồi dưỡng kiến thức cho lao động nông nghiệp

* Đối với giáo viên

- Người dạy sáng suốt sẽ thiết kế chương trình phù hợp dạy học cho người lớn Bởi người lớn tuổi đòi hỏi sự quyết tâm khám phá, thẩm tra, thử nghiệm và chấp nhận rủi ro

- Phương pháp giảng dạy cho người lớn tuổi phong phú đa dạng; diễn thuyết, thảo luận nhóm, sắm vai, kể chuyện, làm mẫu, trò chơi, bài tập tình huống, thăm thực địa

Trang 8

- Dạy học thực nghiệm là phương pháp quan trọng bởi có những đặc tính sau: + Thực nghiệm phát triển cho học viên về mặt thể chất, tinh thần và trí tuệ + Thực nghiệm thông qua những thông tin về các nhóm hoạt động như thế nào và cách hoạt động nhóm có tác động thế nào với các nhóm khác Cả hai đều quan trọng đối với những người làm việc trong khung cảnh có tổ chức + Thực nghiệm nhấn mạnh vào sự phát triển phương pháp giải quyết vấn

* Đối với học viên

Người nông dân nói chung và chủ trang trại nói riêng có quá trình chấp nhận tiếp thu áp dụng hay phủ định kỹ thuật mới thường diễn ra 5 bước tuần tự như sau: nhận thức, quan tâm, đánh giá, thực nghiệm và tiếp thu (hoặc phủ định)

- Nhận thức: Từ một thông tin qua đài, báo, tivi hoặc từ hộ nông dân bên cạnh, nông dân nhận biết kỹ thuật mới hiện có về sản xuất

- Quan tâm từ thông tin thu nhập được, nông dân liên hệ với thực tiễn của mình nảy sinh ý muốn áp dụng một kỹ thuật nào đó

- Đánh giá: Sau khi đã có sự quan tâm về kỹ thuật nào đó người nông dân cân nhắc những thuận lợi, khó khăn của kỹ thuật với điều kiện của mình để quyết định Đây là bước rất quan trọng để chứng minh tính ưu việt và tính hiệu quả của tiến bộ kỹ thuật

- Thực nghiệm: Nếu biết đánh giá là khả quan, thông qua mô hình trình diễn của khuyến nông, người nông dân tiến hành thử nghiệm TBKT mà họ muốn áp dụng

Trang 9

- ứng dụng hoặc phủ định: Kết quả làm thử sẽ là căn cứ để nông dân có áp

dụng và mở rộng TBKT mới hay không và thực hiện mở rộng ở quy mô phù hợp

2.1.4 Những nguyên tắc học tập của lao động nông nghiệp

Học tập của người lao động nông nghiệp là một quá trình người dạy cung cấp một cơ hội cho người học giành được kiến thức, kỹ năng, nhận thức Những đặc điểm của sư phạm học người lớn, theo Goad Hanson cho rằng người học có thể học tốt nhất khi [dt 4]:

- Họ tham gia tích cực trong thực tiễn quá trình học tập, không nhận thông tin một cách thụ động

- Họ có trách nhiệm về việc học tập của chính mình biểu hiện qua hoạt động tập trung vào khía cạnh xúc cảm, nhận thức có được trong quá trình học tập

- Học thông qua hành, người lớn mong muốn được tham gia luyện tập, nếu có thể thực hiện được công việc ấy kể cả cần nhiều thời gian

- Việc học liên quan đến những cái mà họ đã biết Người dạy cần cho ví

dụ thực tiễn, phù hợp và đáp ứng được đời sống thực Từ đó họ có thể hiểu

được trong phạm vi những kiến thức, kinh nghiệm có thể tham khảo

- Người lớn thường chống lại những thông tin mới hoặc kĩ năng mà học cảm thấy bị ép buộc hoặc phê bình Môi trường học tập không cần Việc đe doạ người lớn chỉ gây ra sự bực bội, căng thẳng và hạn chế tới việc học tập của họ

- Vai trò của người giáo viên là người tạo điều kiện học tập tích cực, trình bày thông tin hoặc kĩ năng tạo ra một hoàn cảnh mà trong đó có thể xảy ra sự khám phá, tìm tòi Vì vậy, kỹ thuật dạy học tích cực sẽ nâng cao khả năng áp dụng những kiến thức và kĩ năng mới vào thực tiễn công việc

- Sự học tập cần có sự phong phú và tác dụng kích thích Quá trình giảng dạy càng sống động càng mang lại hiệu quả cao Nó là ý tưởng tốt để huy

động 5 giác quan của học viên, đặc biệt là thị giác, thính giác, xúc giác

Sự thay đổi nhịp độ và sự phong phú của các hình thức học giảm nhẹ tình trạng chán ngán, mệt mỏi đầu óc

Trang 10

- Việc kiểm tra mục tiêu học tập, đánh giá kết quả học tập bằng các trắc nghiệm và theo quy trình xếp loại là rất có hiệu quả và học tập sẽ thành công

2.1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác bồi dưỡng kiến thức

- Trình độ học vấn của đối tượng học

Trình độ học vấn của đối tượng học là yếu tố rất quan trọng để tiếp thu và ứng dụng khoa học tiên tiến Trình độ văn hoá cao, khả năng tiếp nhận nhanh và

có khả năng vận dụng tri thức cho sự phát triển kinh tế - xã hội Trình độ học vấn

ảnh hưởng trực tiếp đến số lượng và chất lượng tuyển sinh cũng như thời gian và cơ cấu môn học cho một khoá bồi dưỡng, lựa chọn hình thức bồi dưỡng

Các nhà nghiên cứu tính toán cho thấy: năng suất sẽ tăng 7% nếu chủ hộ

có học vấn ở mức độ nào đó và tăng lên 11% nếu tốt nghiệp phổ thông cơ sở

Cứ thêm một năm có thể làm tăng hơn 10% tiền công ở Hàn Quốc, một năm học sẽ làm cho sản lượng trang trại tăng 2%, ở Malaixia là 5% [dt 25]

- Sự phát triển kinh tế - xã hội

Trong nền kinh tế thị trường, ở nông thôn có sự chuyển dịch cơ cấu kinh

tế, cơ cấu lao động và tốc độ nhanh theo hướng thu nhập và lợi nhuận cao Sự tác động của khoa học công nghệ không chỉ nâng cao năng suất lao động mà còn làm cho sự biến đổi ngành nghề trong xã hội cũng diễn ra nhanh chóng

Để có được việc làm người lao động buộc phải học lấy một nghề nghiệp nào

đó hoặc phải thay đổi nghề khác để có cơ hội tìm kiếm việc làm thậm chí trong lúc làm việc ở nông thôn cũng phải học để nắm chắc nghề nghiệp hơn

Đặc điểm về điều kiện tự nhiên, sự phát triển kinh tế ở các vùng lãnh thổ không đồng đều, mạng lưới giao thông ở nhiều vùng còn yếu kém, thu nhập của người nông dân ở các vùng còn có sự chênh lệch Vì vậy, cần phải có chính sách trợ giúp về bồi dưỡng mới đảm bảo công bằng trong giáo dục Nông thôn nước ta cũng ở trong tình trạng chung của các nước đang phát triển là nhân lực có trình độ cao ở nông thôn luôn khan hiếm Sinh viên từ nông thôn qua đô thị học, sau khi tốt nghiệp thường không muốn về nông thôn mà ở lại

Trang 11

thành phố để kiếm việc làm Nguyên nhân chủ yếu là cơ sở hoạt động ở nông thôn

so với thành thị luôn có khoảng cách, ít có cơ hội học tập và thăng tiến

- Hệ thống giáo dục bồi dưỡng

Mạng lưới và năng lực của các trường, các tổ chức bồi dưỡng có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả bồi dưỡng Do tính chất đặc thù của các vùng miền,

đặc điểm hình thái, địa lý, kinh tế - xã hội, các vùng rất khác nhau nên đòi hỏi

có một mạng lưới phù hợp Một hệ thống phân bố phù hợp, có khả năng hướng nghiệp và nên thông qua các cấp trình độ sát với nhu cầu Lao động kỹ thuật của địa phương là cơ sở cho việc bồi dưỡng có hiệu quả

Nội dung bồi dưỡng cũng phải được hiện đại hoá chứa đựng nhiều yếu tố mới phù hợp với đòi hỏi của sự phát triển của trang trại hiện nay; đáp ứng kịp thời những biến chuyển nhanh chóng của khoa học kỹ thuật Cấu trúc lôgic của nội dung bồi dưỡng tạo ra những mối tương giao chặt chẽ tạo tiền đề cho việc thích nghi nhanh chóng thực tiễn sản xuất và công tác

Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho công tác bồi dưỡng đó là: Hệ thống các trường các tổ chức có trách nhiệm bồi dưỡng, các yếu tố cấu thành điều kiện vật chất cần thiết cho việc nghiên cứu, giảng dạy, học tập Các phương tiện kỹ thuật dạy học tạo nên điều kiện thuận lợi cho việc dạy học như: âm thanh, ánh sáng, các phương tiện nghe nhìn, dụng cụ trực quan, mô hình tham quan, các trang trại mẫu, các mô hình sản xuất nông nghiệp có hiệu quả

- Sự phát triển của thị trường lao động

Tại các quốc gia đang phát triển, có hoàn cảnh gần giống Việt Nam, vấn

đề đang đặt ra gay gắt là số người trong độ tuổi lao động xã hội ngày càng tăng, nhưng tỉ lệ được lại rất thấp; lao động nông nghiệp dư thừa trong khi tốc

độ phát triển công nghiệp chậm, không đủ sức thu hút nhân lực dư thừa của nông thôn Không những sức ép về lao động dư thừa mà sức ép về kỹ thuật công nghệ cũng rất lớn Ví dụ ở Hà Nội, mặc dù trong những năm qua tốc độ

đô thị hoá nhanh, đất nông nghiệp giảm nhanh để nhường chỗ cho các khu

Trang 12

công nghiệp, các khu đô thị mới ra đời nhưng việc chuyển lao động dư thừa từ nông nghiệp sang công nghiệp là rất khó khăn do vấn đề tuổi tác, trình độ, khả năng thích ứng và tiếp thu công nghệ mới hạn chế

Ngày nay, quá trình tiến hành CNH - HĐH nông nghiệp nông thôn người ta bắt đầu quan tâm tới việc đầu tư theo chiều sâu, nghĩa là cần phải xây dựng cơ sở sản xuất có trình độ kỹ thuật và công nghệ cao Do đó thu hút nhân lực có trình

độ chuyên môn kỹ thuật, các chuyên gia công nghệ trình độ cao và khả năng thu hút nhân lực có trình độ thấp, lao động giản đơn không nhiều Mặt khác, người lao động tham gia vào thị trường lao động trong thời kì này không những phải

được đạt trình độ nhất định về chuyên môn nghề nghiệp, mà còn phải có tác phong lao động công nghiệp, khả năng hợp tác lao động cao Việc từ bỏ thói quen của lao động nông nghiệp thủ công, trong khi kiến thức để có thể đáp ứng

và có khả năng tham gia thị trường lao động mới đòi hỏi phải có nội dung, hình thức và phương pháp bồi dưỡng thích hợp

- Sự phát triển của khoa học công nghệ

Đổi mới khoa học công nghệ là bước đi cần thiết tiếp theo của đổi mới thể chế Thực tiễn đã chứng minh rằng đổi mới khoa học công nghệ (phát triển lực lượng sản xuất) tất yếu sẽ dẫn đến đổi mới thể chế (quan hệ sản xuất) sao cho phù hợp với sự phát triển khoa học công nghệ

Trên thế giới, cách mạng khoa học công nghệ trong những thống kê qua

đã làm thay căn bản kỹ thuật và công nghệ sản xuất Các nhà khoa học đã đưa

ra ý kiến cho rằng: yếu tố thông tin và tri thức trở thành điều kiện hết sức cơ bản để một quốc gia vươn lên trong cuộc chạy đua trong thế kỉ XXI Cạnh tranh kinh tế thế giới mà trọng tâm là cạnh tranh khoa học và công nghệ, nhất

là công nghệ cao Các quốc gia phải xây dựng chiến lược công nghệ, trong đó chiến lược giáo dục được đặt vào vị trí trung tâm

Dựa vào những thành tựu mới về công nghệ sinh học, có nhiều chuyên ngành mới trong nông nghiệp đã ra đời như công nghệ enzim, công nghệ gien,

Trang 13

công nghệ vi sinh Từ đó, các cơ quan làm nhiệm vụ bồi dưỡng , cần cập nhập tiến bộ khoa học công nghệ , điều chỉnh các loại hình phù hợp với xu thế phát triển của khoa học công nghệ mới

2.1.6 Đặc điểm của chủ trang trại và lao động trong trang trại

Đặc điểm của chủ trang trại: Các chủ trang trại là những ngưòi nông dân lao động có vốn, có kiến thức và kinh nghiệm sản xuất hàng hoá nhất định Họ

bỏ vốn đầu tư khai phá đất hoang, mua sắm máy móc, nông cụ, thuê mướn lao

động, vay vốn dư thừa ở nông thôn và lấy sản xuất hàng hoá làm hướng chính Trong số các chủ trang trại, có nhiều cán bộ hưu trí và đảng viên, là cán bộ lãnh

đạo và quản lý ở địa phương, là lão nông tri điền Sự phân biệt giữa họ và người nông dân bình thường chỉ là kiến thức, kinh nghiệm làm ăn, là quyết tâm cao, ý chí làm giàu và phương pháp tiếp cận mới Điều mấu chốt của mô hình kinh tế mới này là phải có nhiều chủ trang trại có trình độ kiến thức, biết làm giàu Phương hướng chính của các trang trại là kết hợp sản xuất nông, lâm nghiệp, thuỷ sản với chế biến và tiêu thụ; sản xuất gắn với thị trường Nhiều sản phẩm của các trung tâm đạt chất lượng cao được sơ chế hoặc tái chế đều có khả năng tiếp cận thị trường Để thực hiện được phương hướng đó, các chủ trang trại đã mạnh dạn

đầu tư, ứng dụng khoa học công nghệ mới và kỹ thuật hiện đại vào sản xuất và chế biến Đặc biệt một số trang trại đã đầu tư hàng tỉ đồng để ứng dụng tưới tiêu hiện

đại, đầu tư chiều sâu để thâm canh cây trồng, vật nuôi, mua sắm máy móc phát triển công nghiệp chế biến ngay ở vùng nguyên liệu Như vậy, trang trại như là một mô hình CNH-HĐH nông nghiệp, nông thôn Việt Nam bằng con đường phát huy nội lực của kinh tế hộ là chính, tự lực tự cường là chính

Do xuất phát từ một nước đang phát triển, trong những năm gần đây chủ trang trại ở Việt Nam đang có những khó khăn rất cơ bản là thiếu kiến thức về chuyên môn kỹ thuật trong lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn

Đặc diểm của lao động trong trang trại: Lao động làm việc trong trang trại là một bộ phận của nguồn nhân lực trong nông thôn, có thể hiểu là nguồn lực cơ bản có tính chất quyết định cho sự phát triển kinh tế - xã hội nông thôn;

Trang 14

là lực lượng người sử dụng và chuyển giao tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất nông nghiệp

Tham gia vào quá trình sản xuất của trang trại hiện nay đã bao gồm lực lượng lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật về trồng trọt, chăn nuôi, thuỷ sản, quản lý kinh tế v.v có nhiều người đã có trình độ đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và công nhân kỹ thuật lành nghề và một số chuyên gia đã về nghỉ hưu với tư cách là tư vấn cho các chủ trang trại

Ngoài ra, lực lượng chiếm số đông là số lao động phổ thông có trình độ văn hoá phổ thông hoặc sơ cấp về chuyên môn kỹ thuật đảm nhiệm các công việc đơn giản trong trang trại

Theo chúng tôi, quá trình trang bị kiến thức cho chủ trang trại và người lao đông là nhằm đáp ứng yêu cầu cấp thiết về kiến thức cho quá trình phát triển và đi lên của trang trại: Trong thực tế đã có nhiều chủ trang trại hoặc lao động trong trang trại đã có trình độ bậc đại học hoặc trên đại học nhưng ở lĩnh vực khác không gắn với kiến thức về chuyên môn kỹ thuật của nông nghiệp

Vì vậy, mục tiêu cần gắn với yêu cầu quy hoạch của từng trang trại, từng vùng, từng địa phương Nội dung phải đảm bảo xây dựng trên cơ sở hiện đại hoá, chứa đựng nhiều yếu tố mới, phản ánh những thành tựu khoa học, kỹ thuật có tác dụng đưa lại hiệu quả cao nhất phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội nông thôn hiện nay

2.1.7 Sự thay đổi trong nông nghiệp và yêu cầu đặt ra cho công tác bồi dưỡng kiến thức

Nông nghiệp toàn cầu hiện nay đang có sự thay đổi lớn về cấu trúc bao gồm sự thay đổi trong đặc tính sản phẩm, trong quá trình sản xuất và hành

vi tiêu dùng, trong công nghệ và quy mô hoạt động, trong vị trí địa lý, trong môi trường kinh tế chính trị Sự thay đổi này đang xảy ra ở mức độ cao Sản

Trang 15

xuất đang dịch chuyển từ một hệ thống dựa trên hộ nông dân cá thể nhỏ bán sản phẩm của họ trong những chợ đông đúc sang hệ thống sản xuất theo hợp đồng mà nó được sắp xếp dọc theo chuỗi liên tục sản xuất, chế biến và phân phối

Sonka đã xác định 3 vấn đề quan trọng đối với người quản lý kinh doanh nông nghiệp cần thiết phải nắm bắt Thứ nhất, một loạt vấn đề mà trong ngành nông nghiệp đang phải đương đầu như quốc tế hoá, công nghệ sinh học, thay đổi cơ cấu, cấu trúc, chiến tranh thương mại, tổ chức thương mại quốc tế (WTO), công nghệ thông tin và truyền thông [dt 12]… Những vấn đề này không được đánh giá một cách riêng rẽ mà phải xem chúng là một hệ thống quan hệ chặt chẽ với nhau Thứ hai, về vấn đề ứng dụng công nghệ thông tin tạo ra sự thay đổi cơ cấu trong một ngành kinh tế Cuối cùng, người quản lý cần thiết phải học để biết đánh giá, thuê mướn và khai thác những tài sản vô hình như thế nào Trong tương lai, sự thành công trong nền kinh tế tri thức sẽ được xác định bằng năng lực sáng tạo và quản

lý những tài sản vô hình ví dụ như khai thác mối quan hệ kinh doanh (Sonka 2000; Goldsmith và Gow, 2000) [dt 11]

Điều quan trọng hơn là việc xác định những kĩ năng gì mà các đơn vị kinh tế nông nghiệp và mỗi cá nhân sẽ yêu cầu trong tương lai và hệ thống giáo dục sẽ cung cấp các kỹ năng đó một cách tốt nhất

Sử dụng không đúng mức nguồn nhân lực là một vấn đề cấp bách mà nông nghiệp trong các nước chậm phát triển đang phải đương đầu Kinh nghiệm của các nước cho thấy rằng nếu không phát triển kiến thức và kỹ năng cho chủ trang trại cũng như các thành viên trong gia đình họ thì khó có thể phát triển được cái gì khác Việc phát triển và sử dụng những công nghệ hoặc thể chế tổ chức mới liên quan chặt chẽ tới trình độ của nguồn nhân lực

Trong quá trình phát triển, đặc biệt là sự phát triển năng động trong giai

đoạn hiện nay nền kinh tế đòi hỏi phải nghiên cứu thường xuyên mối quan hệ giữa giáo dục và việc làm

Trang 16

Nghiên cứu là để hiểu rõ về sự thay đổi trong sẽ giúp đỡ và chuẩn bị cho từng cá nhân để thích ứng với sự thay đổi cấu trúc rộng lớn trong ngành nông nghiệp là chuyển từ kinh doanh hàng hoá tĩnh với việc đưa sản phẩm cùng loại tới thị trường sang một hình thái thị trường được định hướng bởi người tiêu dùng với những sản phẩm rất đa dạng Quá trình này được đổi mới liên tục và các sản phẩm được chuyên môn hoá cao trong hệ thống phân phối và bổ trợ

Để hiểu ảnh hưởng của sự thay đổi cơ cấu xảy ra trong ngành nông nghiệp, trong hệ thống trợ giúp thì cần phải đơn giản hoá những vấn đề lí thuyết Cassson đã mô tả một nền kinh tế như là một hệ thống thông tin Thứ nhất, các thông tin cho phép các đơn vị kinh tế phối hợp tốt hơn các hoạt động kinh tế của họ Thứ hai, thông tin giúp đỡ các đơn vị nâng cao chất lượng việc

ra quyết định của họ Kết quả là chất lượng ra quyết định của các đơn vị chính

là một hàm số của thông tin và sự phối hợp thông tin với các đơn vị kinh doanh khác, hoạt động nghiên cứu và đầu tư đề cập đến việc chuyển đổi thông tin thành tri thức của người học [dt 2128]

2.1.8 Sự sáng tạo giá trị chuyển đổi thông tin thành tri thức

Chúng ta đang chuyển sang một nền kinh tế thông tin và nền kinh tế tri thức; Vì vậy nền tảng giá trị truyền thống và sự sáng tạo sức mạnh cũng đang thay đổi Giá trị và sức mạnh truyền thống gắn liền với việc sở hữu nguồn lực vật chất trong tương lai, nguồn lực tri thức vật chất hoặc “vốn tri thức càng phát triển Quá trình chuyển đổi tạo ra sự thay đổi trong kinh doanh từ quan

điểm tập trung vào nhiệm vụ hoạt động sản xuất, dựa trên hiệu quả thông qua việc chuyên môn hoá tới việc tập trung cả quá trình hoạt động sản xuất trong

đó nó nhấn mạnh tầm quan trọng của mối quan hệ quản lý; làm việc theo nhóm và khả năng trao đổi tương tác giữa các nhiệm vụ (Burton- Fines, 1999) Trong nền kinh tế tri thức mới, giá trị được tạo ra từ việc chuyển đổi thông tin thành tri thức Tri thức có thể được chia thành hai loại; thứ nhất, tri thức là vấn

đề nào đó như những khái niệm và một lí thuyết nào đó có được những kĩ

Trang 17

năng thông qua thực hành và việc thực nghiệm những khái niệm và lí thuyết trong thực tiễn, đôi khi còn gọi là “kiến thức” [dt 27]

Khả năng quản trị kinh doanh nông nghiệp của một người thu được thông qua học tập, lao động thực tiễn, sáng tạo và đổi mới Tri thức của một đơn vị kinh doanh tồn tại dưới một số dạng: lực lượng lao động (nguồn vốn nhân lực) [dt 31]; tự hiểu biết về nhu cầu và sở thích của người tiêu dùng (nguồn vốn khách hàng) [dt 31] và hệ thống, sản phẩm chế biến cũng như năng lực của nó (nguồn vốn tổ chức) [dt 31] Chuyển đổi giá trị được sáng tạo ra từ tri thức thành lợi thế cạnh tranh bền vững đòi hỏi một vai trò cơ bản

2.1.9 Vai trò của kiến thức đối với sự phát triển kinh tế trang trại

Lao động trong trang trại là chủ thể của sự phát triển kinh tế xã hội nông thôn giữ vai trò quyết định đối với sự phát triển sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp và dịch vụ nông thôn

Bồi dưỡng kiến thức cho nguồn nhân lực ở nông thôn chính là việc đầu tư vào con người để đạt được các mục đích sau:

+ Bồi dưỡng kiến thức kinh tế, kỹ thuận, quản lý cho lao động nông nghiệp để nâng cao năng suất và hiệu quả trong nông nghiệp

+ Chuẩn bị cho thế hệ trẻ nông thôn một nghề ngoài nghề nông nếu họ muốn làm việc ở một lĩnh vực khác

Bồi dưỡng kiến thức nhằm hướng nông dân tới sự thay đổi, dạy nông dân cải tiến phương pháp ra quyết định và cung cấp cho nông dân những thông tin kỹ thuật và thực tiễn sản xuất Bồi dưỡng kiến thức truyền bá những kiến thức về công, kỹ thuật nghệ mới

Một đất nước với những người lao động ở nông thôn biết đọc và biết viết

sẽ thu lượm được nhiều thông tin tốt hơn, đơn giản là họ dễ dàng tiếp thu những thông tin dưới dạng sách báo Việc giao tiếp tốt giúp cho việc giảm chi phí kinh doanh và thúc đẩy việc phát triển Bồi dưỡng giúp chủ trang trại nắm bắt, hiểu rõ và lựa chọn những thông tin về kỹ thuật, tổ chức và thị trường

Trang 18

Đầu tư cho hoạt động bồi dưỡng kiến thức không chỉ mang lại lợi ích cho bản thân người nông dân mà cho toàn xã hội Kết quả của việc bồi dưỡng trong nông thôn không những mang lại năng suất và hiệu quả trong nông nghiệp mà còn tăng năng suất lao động trong ngành phi nông nghiệp ở hầu hết các nước - các nước phát triển cũng như chậm phát triển Như SCHULTZ

đã khẳng định rằng giúp người nông dân đối phó với việc “mất cân bằng”

về kinh tế [dt 9] Do vậy khi nông nghiệp của một đất nước thay đổi từ nền nông nghiệp truyền thống sang mô hình năng động hơn và dựa vào khoa học

kỹ thuật thì giá trị của lại càng tăng lên

- Giáo dục quan trọng không chỉ đối với chủ trang trại, với người lao

động trang trại mà đối với cả con cái họ, người sẽ tiếp tục nghề nông nghiệp cũng như với những người muốn tìm nghề phi nông nghiệp khác

Bồi dưỡng kiến thức cho các chủ trang trại là một kiểu đào tạo cho người lớn thường được gọi là đào tạo khuyến nông, ở đó người chủ trang trại là đối tượng chính và chương trình bồi dưỡng hướng vào những vấn đề khó khăn trong sản xuất, trong quá trình mà người chủ trang trại đang gặp phải Bên cạnh những đánh giá, khẳng định bước đầu kinh tế trang trại ở nước ta đang

đặt ra một loạt vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu, đáng chú ý là:

- Trình độ văn hoá, chuyên môn nghiệp vụ của các chủ trang trại còn thấp, nhất là trong điều kiện của nền kinh tế thị trường Số chủ trang trại có bằng từ sơ cấp đến đại học mới chiếm 31% Số chủ trang trại dự các lớp bồi dưỡng về khuyến nông, lâm mới đạt 13,53%, số chủ trang trại chăm chú theo dõi tivi, đài báo mới chiếm 30,32%, từ các tổ chức xã hội chiếm 12,29% [dt 9]

- Hầu hết trang trại ở Việt Nam vừa mới ra đời và phát triển mạnh khoảng hơn chục năm trở lại đây nên kinh nghiệm sản xuất kinh doanh trong nền kinh

tế thị trường còn hạn chế Đặc biệt các trang trại có điểm xuất phát thấp, từ hộ nông dân sản xuất kinh doanh với quy mô lớn hơn, mục tiêu của trang trại là sản xuất sản phẩm để bán theo nhu cầu của người tiêu dùng, thì chắc chắn với năng lực quản lí, kiến thức về kinh doanh chưa được tích luỹ nhiều

Trang 19

- Với sự tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sản xuất nông nghiệp đang diễn

ra từng ngày từng giờ như giống cây trồng vật nuôi, sử dụng các yếu tố đầu vào rất đa dạng, công nghệ sản xuất… trong khi các chủ trang trại là người trực tiếp thực hiện những công nghệ, kỹ thuật này cần thiết phải được tiếp cận thường xuyên thông qua đào tạo, bồi dưỡng và sách báo

- Các chủ trang trại xuất thân từ nhiều đối tượng khác nhau là nông dân, cán bộ, bộ đội, công an… và những người mất việc làm từ những ngành nghề khác có ý chí và nguyện vọng làm giàu bằng việc lập các trang trại, hầu hết chưa qua trường lớp về quản lý kinh tế cũng như chuyên môn kỹ thuật vì vậy nhất thiết phải được đào tạo để làm ông chủ thực sự có kiến thức quản lý và kỹ thuật đáp ứng yêu cầu thực tế của sản xuất

- Cho tới hiện nay chúng ta chưa có một hệ thống giáo dục chính thức cho người nông dân nói chung và cho người chủ trang trại nói riêng Vì vậy, cần thiết phải có những khoá bồi dưỡng phù hợp với từng vùng, từng trình độ của chủ trang trại

- Mặc dù về lý thuyết khẳng định rằng tri thức là chìa khoá mọi hoạt

động sản xuất kinh doanh, song trong thực tế số các chủ trang trại dám tự bỏ tiền để tham dự các lớp bồi dưỡng về chuyên môn kỹ thuật và quản trị kinh doanh là rất ít

- Bên cạnh tâm lý chưa đầu tư vào thì một trở ngại cơ bản của các chủ trang trại là khả năng tài chính còn hạn chế, mà mới chỉ đầu tư vào một số điều kiện sản xuất vật chất của trang trại như cải tạo đất, thuê mướn đất, một số máy móc chủ yếu và giống cây trồng phục vụ trực tiếp cho sản xuất của trang trại

- Tất nhiên cho tới nay Nhà nước đã có một số chính sách, chương trình

dự án đào tạo, bồi dưỡng kiến thức cho đối tượng ở nông thôn, nông nghiệp nói chung và cho trang trại nói riêng, song các khoá bồi dưỡng thường tổ chức một cách chủ quan, thiếu lưu ý đến nhu cầu thực sự của đối tượng học, trong khi chương trình giảng dạy, phương pháp giảng dạy còn nghèo nàn dẫn đến hiệu quả của khoá bồi dưỡng chưa cao Vì vậy, cần thiết phải thực hiện một cách hoàn chỉnh chu trình

Trang 20

- Bồi dưỡng kiến thức cho chủ trang trại và lao động trong trang trại nhằm đáp ứng những đòi hỏi mới về phát triển KHCN trong thời kì CNH- HĐH

Khoa học và công nghệ luôn giữ vị trí trung tâm trong CNH-HĐH nông nghiệp nông thôn Kinh nghiệm của các nước khu vực châu á- Thái Bình Dương và của nước ta trong những năm gần đây đã khẳng định chuyển giao công nghệ đem lại thành công khi năng lực nội sinh về công nghệ của đất nước phải đủ tầm để lựa chọn, tiếp nhận, ứng dụng, thích nghi và phát triển công nghệ đó Chính vì vậy, bồi dưỡng kiến thức cho chủ trang trại và lao

động trong trang trại đáp ứng những đòi hỏi mới của phát triển khoa học công nghệ, tức là phải phát triển mạnh giáo dục, phát huy nguồn lực của con người Nguồn lực con người muốn phát huy được vai trò của mình thì người lao động cần có trí tuệ cao, có tay nghề thành thạo, được bồi dưỡng tiến kịp với nền khoa học hiện đại

Bồi dưỡng còn là điều kiện để giải quyết việc làm, tăng thời gian sử dụng lao

động, nâng cao thu nhập, ổn định kinh tế và đời sống xã hội nông thôn

Khoa học công nghệ làm biến đổi tận gốc hàng hoá sản xuất, phương thức

tổ chức quản lý sản xuất, phong cách tư duy của con người Theo số liệu thống kê phần đóng góp của tiến bộ khoa học công nghệ mới trong tâm tưởng nông nghiệp

ở thập niên 70 là 27%, vào cuối thập niên 80 là 40%, trong những năm 2000 là 50%, và dự kiến trong những năm tới mức đóng góp sẽ là 70% [dt 11]

Với mọi điều kiện giống nhau, việc truyền bá những công nghệ mới làm tăng thêm sự quan tâm của các trang trại Đối với chủ trang trại và người lao

động có nhiều khả năng nhất trong việc tự bồi dưỡng kiến thức theo nhu cầu phát triển chung thì sẽ thích nghi với sự phát triển chung

Từ những điểm nêu trên, rõ ràng thị trường sẽ loại trừ những sản phẩm; những trang trại nào mà người lao động không theo kịp và sự biến đổi của khoa học công nghệ mới, cách thức quản lý mới Chính vì vậy, tại các nước phát triển giáo dục được coi là yếu tố quyết định trong cạnh tranh

Trang 21

- Bồi dưỡng kiến thức góp phần đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng năng suất lao động, tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa của trang trại

Theo các chuyên gia kinh tế và thực tiễn trên thế giới cho thấy kinh tế trang trại và lợi thế trong việc áp dụng kỹ thuật hiện đại và cách thức tổ chức

và phương pháp canh tác mới sẽ đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế tạo tiền

đề cơ bản nhất để phát triển nông nghiệp hàng hoá Sự chuyển đổi này sẽ dẫn

đến hiện tượng cấu trúc lại lực lượng lao động trong xã hội Phần lớn lao động nông nghiệp sẽ chuyển sang lao động phi nông nghiệp, số lao động nông nghiệp sẽ được chuyên môn cao, nắm vững các công nghệ mới

2.2 Cơ sở thực tiễn

2.2.1 Trên thế giới

* Kinh nghiệm của các nước phương Tây

- ở Hoa Kì, trang trại gia đình chiếm 87% tổng số trang trại, 15% đất đai

và gần 70% giá trị nông sản của cả nước Thống kế chính thức cho biết 3,2 triệu trang trại sản xuất hơn 50% sản lượng ngô và đậu tương của toàn thế giới, hàng năm xuất khẩu 40- 50 triệu tấn lúa, các nhà kinh tế học Mĩ dự đoán, trong thế kỉ XXI, trang trại vẫn là hình thức xí nghiệp chủ yếu của nền nông nghiệp Mĩ Lao động của gia đình làm việc ở trang trại nếu nhận tiền công như người ngoài thì coi như lao động làm thuê ở Hoa Kì, muốn trở thành chủ trang trại được Nhà nước công nhận trình độ quản lý với tư cách pháp nhân thì phải tốt nghiệp các trường, lớp kỹ thuật và quản lý nông nghiệp, có kinh nghiệm từ lao động sản xuất kinh doanh một năm ở các trang trại khác trong hoặc ngoài nước, có bằng tốt nghiệp về nông học, bằng lái ô tô, máy kéo, có kiến thức về kinh tế kỹ thuật, kinh tế thị trường, luật pháp Chủ trang trại Hoa Kì là những chuyên gia trong lĩnh vực nông nghiệp, có trình độ học vấn Đại học Đồng thời họ tích cực tham gia vào nghiên cứu chuyên sâu lĩnh vực nông nghiệp Chủ trang trại thường xuyên có mối liên hệ tốt với các trung tâm nghiên cứu khoa học [dt 9]

Trang 22

ở Hoa Kỳ có trên 2 triệu lao động nông nghiệp làm thuê, trang trại nhỏ thu nhập dưới 110.000 USD/năm, không thuê lao động; trang trại trung bình thu nhập 100.000 - 500.000 USD/năm thuê 1 -2,5 lao động, trẻ em trên 14 tuổi trở lên làm ở trang trại sẽ được xem là công nhân làm thuê nông nghiệp [20] Công nhân làm thuê nông nghiệp được chia thành các loại sau: công nhân tạm thời, công nhân thời vụ, công nhân thường xuyên, công nhân quanh năm, đòi hỏi phải có yêu cầu kỹ thuật nhất định và mức lương phù hợp với trình độ được Việc công nhân ở Hoa Kì không bỏ nông nghiệp để ra Thành phố hoặc chuyển sang các ngành khác vì nhiều người không đủ trình độ nghề nghiệp để chuyển, vả lại mức thu nhập ở trang trại cũng khá vì chính phủ có đạo luật quy định mức lương tối thiểu cho lao động làm thuê trong nông nghiệp và hàng năm

được điều chỉnh Với tình hình nông nghiệp như trên, trong khi các ngành khác lại không kiếm được việc làm tạm thời như vậy, cho nên trang trại vẫn là nơi thu hút học sinh, sinh viên, số người hưu trí, số người thất nghiệp một phần, các

bà nội trợ có thời gian rảnh vẫn muốn đi làm ở trang trại để kiếm thêm tiền

- ở Tây Âu, hầu hết các trang trại là trang trại gia đình và đều là các quốc gia phát triển nên nông nghiệp đã đạt tới một trình độ cao Trong nông nghiệp chỉ đóng góp một phần rất nhỏ vào GDP và dân số lao động nông nghiệp cũng chiếm một tỉ lệ nhỏ tương tự Song nền nông nghiệp các quốc gia này không những đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước mà còn cho xuất khẩu với khối lượng, chất lượng ngày càng cao

Vai trò nông nghiệp trong việc bảo đảm sự tồn tại và phát triển nông nghiệp nông thôn là rất quan trọng Hàng năm, các quốc gia này phải bỏ ra một khoản tiền lớn để chi cho công tác chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật

và hỗ trợ cho các trang trại Chẳng hạn, trong khối EU, ngân sách trợ cấp của chính phủ cho nông nghiệp trong đó có hỗ trợ khá lớn ở Đức là 13,7% GDP, Pháp (7.1%), Anh (27,2%), Na Uy (32,5%)[dt 9]

Số lao động canh tác trên mỗi trang trại có xu hướng giảm Điều này

được giải thích bởi cuộc cách mạng KHCN trong lĩnh vực nông nghiệp đang

Trang 23

diễn ra mạnh mẽ đi đôi với chất lượng lao động của trang trại và một số lượng công nhân làm thuê ở mức tối thiểu vẫn có thể tiến hành sản xuất với quy mô lớn hơn trước và đạt được năng suất cao

ở Hà Lan, bình quân một trang trại có 2,2 lao động, trong đó lao động làm thuê chỉ có 0,4 lao động ở Pháp, một trang trại bình quân có 29 ha chỉ cần 2,07 lao động trong đó có 0,16 lao động làm thuê [dt 9]

Các trang trại đã đạt tới trình độ sản xuất tiên tiến Hầu hết các trang trại

đều được cơ giới hoá, hiện đại hoá và đang có xu hướng vi tính hoá, tự động hoá Điều này tạo ra sức sản xuất mạnh mẽ cho các trang trại đồng thời cũng giảm dần khoảng cách về trình độ cũng như điều kiện lao động giữa lao động công nghiệp và lao động nông nghiệp ở châu Âu, mỗi trang trại có từ 9-10 máy kéo, ô tô và các máy nông nghiệp công suất lớn Cứ 100 ha đất ở Anh có

61 máy kéo, Pháp (84), I-ta-li-a (105)… Các chủ trại chăn nuôi được cơ giới hoá và tự động hoá [dt 9]

Trình độ quản lí, học vấn của các chủ trang trại rất cao Chủ trang trại vừa là người quản lí, vừa là người tham gia trực tiếp vào quá trình SXKD Trước xu hướng cạnh tranh gay gắt để tồn tại cộng với quá trình CNH-HĐH, cuộc cách mạng khoa học công nghệ đang diễn ra mạnh mẽ buộc các chủ trang trại độc lập, phải luôn nâng cao trình độ quản lý, trình độ hiểu biết để kịp thời thích ứng với sự biến chuyển nền kinh tế, để nắm bắt và vận dụng các loại kỹ thuật, công nghệ mới

* Kinh nghiệm của các nước và lãnh thổ châu á gió mùa

Các nước châu á gió mùa gồm các quốc gia đã và đang phát triển với nền nông nghiệp chủ yếu đưa vào sản xuất lúa nước Quy mô diện tích đất canh tác bình quân không những rất thấp (dưới 1ha/người) mà còn rất phân tán, manh mún Đặc thù kinh tế trang trại khu vực này chiếm một tỉ lệ lớn song chưa hoàn toàn thống lĩnh toàn bộ nền nông nghiệp mà còn tồn tại song song cùng kinh tế trang trại vẫn còn các loại hình tổ chức sản xuất khác chủ

Trang 24

yếu là kinh tế tiểu nông (tự cung, tự cấp) từ một số quốc gia đã phát triển và các nước như Nhật, Đài Loan (Trung Quốc), Hàn Quốc

Các nước trên thành công nhanh chóng trong tiến trình công nghiệp hoá như Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Đài Loan (Trung Quốc) đều có đội ngũ trí thức lớn, có khả năng tiếp thu và áp dụng thành công vốn tri thức mới về công nghệ tiên tiến Kết quả đó nhờ vào việc chính phủ coi trọng giáo dục đại học, tỉ

lệ ngân sách đặt cho giáo dục ở nước này đều rất cao Tỉ lệ học sinh ở độ tuổi từ 20-24 vào đại học năm 1992 của Hàn Quốc là 40%, Thái Lan là 16%, Nhật Bản 31%, các nước Trung Quốc, ấn Độ, Băng-la-đét, Việt Nam xấp xỉ 2% [dt 32]

ở Nhật Bản, chính phủ mở các trường dạy nghề, trợ cấp đào tạo cho những ngành được Nhà nước khuyến khích Công nhân Nhật Bản được đào tạo theo hướng tổng hợp, không chuyên môn hoá nên họ rất dễ chuyển sang các ngành khác Tỉ lệ những người mới tham gia lực lượng lao động có trình độ

đại học tăng mạnh, gấp 4 lần từ 1975 đến 1995, các hình thức ở Nhật Bản rất

đa dạng, ngoài hệ thống trường chính quy nhà nước còn mở các lớp dài hạn, ngắn hạn đặc biệt Nhật Bản đã sử dụng chương trình truyền hình giáo dục để hướng dẫn cho nông dân và trang trại Phương pháp quản lí và áp dụng kỹ thuật vào sản xuất Nhật Bản cũng rất quan tâm nâng cao kiến thức và kĩ năng cho dân chúng Sách, tạp chí được dịch và xuất bản hàng năm Giáo dục và đào tạo của Nhật Bản như trong giáo dục phổ cập với mục tiêu để cho người học nắm

được kiến thức thực tế, nắm vững bí quyết và phương pháp sản xuất

Các nước khác cũng nhận thức được rằng trong điều kiện sản xuất từ nghèo khổ, lao động rẻ thì điều kiện tiên quyết để tiến hành CNH-HĐH trong sản xuất nông nghiệp phải coi trọng công tác giáo dục nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ lao động Do đó các nước đã có chiến lược dài hạn cho công tác tăng cường ngân sách nhà nước cho lĩnh vực này Tỉ lệ phần trăm ngân sách dành cho giáo dục và đào tạo nói chung của các nước: Singapore (23%), Malaixia (20%), Thái Lan (21%), Trung Quốc (16%), Việt Nam (11%) [dt 32]

Trang 25

Một kinh nghiệm quan trọng của các nước ASEAN là quan tâm phát triển hợp lí hệ thống giáo dục, coi trọng việc huấn luyện tại cơ sở sản xuất, chú trọng tới việc giáo dục văn hoá truyền thống và giáo dục hướng nghiệp cho người lao động Đặc biệt chính phủ các nước quan tâm tới việc giáo dục hướng nghiệp từ phổ thông đến đại học, thúc đẩy ứng dụng khoa học công nghệ nhằm nâng cao trình độ kỹ thuật cho người lao động

Hiện tượng chung của các nước là thiếu nguồn nhân lực có đủ trình độ để

đáp ứng yêu cầu sản xuất, nhất là nguồn nhân lực ở các trang trại ở đây có vấn đề đặc biệt là ở các nước phát triển chậm, điều kiện lao động ở nông thôn còn khó khăn nhưng chính phủ chưa có chính sách thu hút lực lượng lao động

có đủ trình độ về khu vực nông nghiệp nông thôn Mặt khác do ảnh hưởng của tư tưởng cũ nên những người được đào tạo chưa sẵn sàng về lao động ở khu vực này Vì vậy, việc cần bổ sung và đa dạng hoá các cơ sở giáo dục hướng nghiệp cho khu vực nông nghiệp, nông thôn Thực hiện phát triển rộng rãi mạng lưới khuyến nông, giúp đỡ các tổ chức cá nhân đầu tư vào nghiên cứu khoa học kỹ thuật, kêu gọi các nhà khoa học đang sống ở nước ngoài tham gia xây dựng

đất nước là việc làm cần thiết được chính phủ các nước quan tâm

ở Hàn Quốc sau khi tự túc được lương thực (năm 1975), các trang trại bắt đầu đa dạng hoá cơ cấu sản xuất, tăng các loại cây trồng có giá trị kinh tế cao Các trang trại ứng dụng ngày càng nhiều các tiến bộ khoa học và công nghệ trên các lĩnh vực sinh học, hoá học, cơ điện, tin học… Một trong những chính sách táo bạo nhất của Hàn Quốc để thực hiện CNH- HĐH, trong những năm 70 chính phủ đã tăng chỉ tiêu của các trường đại học về khoa học và cơ khí, các trường cao đẳng kỹ thuật và trung cấp Cùng thời gian này, chính phủ

mở thêm 22 trung tâm dạy nghề và viện nghiên cứu khoa học công nghệ trong

đó các trường, trung tâm phục vụ khu vực nông nghiệp nông thôn chiếm tỉ lệ

đáng kể Năm 1996, Hàn Quốc ban hành luật nghề để phát triển lực lượng lao

động có tay nghề và bắt buộc các xí nghiệp, các trang trại phải có chương trình đào tạo tại cơ sở

Trang 26

ở Đài Loan (Trung Quốc), tài sản chủ yếu do các trang trại gia đình

đóng góp, bao gồm thịt lợn, gạo, gia cầm, tôm, rau, hoa quả… Không chỉ đáp ứng nhu cầu trong nước mà cả nhu cầu xuất khẩu Có thể nói Đài Loan (Trung Quốc) tiến hành CNH-HĐH nông nghiệp rất có kết quả, mang lại cho các nước đang phát triển nhiều bài học quý giá Đài Loan (Trung Quốc) đặc biệt quan tâm chăm lo phát triển sự nghiệp giáo dục và khoa học kỹ thuật, có chế

độ ưu đãi trong việc phân phối thu nhập, sử dụng nhân tài Sự phát triển mạnh

mẽ nền giáo dục của Đài Loan (Trung Quốc) là yếu tố quan trọng thúc đẩy nền kinh tế [dt 32]

Kinh nghiệm của Đài Loan (Trung Quốc) trong việc đào tạo nguồn nhân lực cho nông nghiệp, nông thôn là: chọn những thanh niên ưu tú ở nông thôn để đưa đi bồi dưỡng lực lượng nòng cốt cho chính nông thôn Tiêu chuẩn những thanh niên được lựa chọn đi là phải đảm bảo có 3 chữ

“H” Đó là có trái tim nhiệt huyết gắn bó với khu vực nông nghiệp nông thôn (heart), có trí óc, năng khiếu, kinh nghiệm hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp nông thôn (head), có sức khoẻ (health) Đài Loan (Trung Quốc) có chính sách hợp lí để những thanh niên đó sẽ tự nguyện trở về làm việc ngay tại quê hương của họ

Chiến lược giáo dục của Đài Loan (Trung Quốc) rất đa dạng và phong phú

và đặc biệt có chính sách kịp thời và hợp lí Vì vậy, ngành giáo dục đại học của

Đài Loan (Trung Quốc) phát triển khá nhanh đã cung cấp cho lĩnh vực nông nghiệp nông thôn một lực lượng các nhà khoa học, các cán bộ chuyên môn kỹ thuật sâu và lao động có tay nghề Các trường chuyên nghiệp được mở ra nhiều

để dạy các nghề về trồng trọt, chăn nuôi, cơ khí, kinh nghiệm tổ chức và quản lí trang trại Các trường huấn luyện sau giờ làm việc để mở ra các lớp bồi dưỡng cho chủ trang trại và lao động quản lí trang trại, quản lí trong lĩnh vực nông nghiệp nông thôn Người Đài Loan (Trung Quốc) cũng coi trọng kế thừa, phát huy tinh thần văn hoá dân tộc đồng thời tăng cường giao lưu học hỏi kinh nghiệm của các nước công nghiệp phát triển

Trang 27

Trung Quốc là nước có dân số đông nhất trên thế giới với 1,26 tỉ người trong đó dân số nông thôn là 887 triệu, lao động nông nghiệp 333 triệu Từ giữa thập kỉ 80 Trung Quốc tiến hành cải cách mạnh mẽ trên tất cả các lĩnh vực, trong đó nhờ có chính sách cải cách mở cửa và phát triển lợi thế của từng vùng nên nền kinh tế của Trung Quốc ở hầu hết các khu vực nông nghiệp nông thôn đã phát triển nhảy vọt Có được bước tiến như vậy là do chính phủ Trung Quốc đã có chính sách đào tạo và phát triển khoa học công nghệ nông nghiệp rất mạnh mẽ Những tiến bộ KHCN chủ yếu đạt được là tập trung cải tạo các giống mới có năng suất cao, tăng luân canh và đa canh, phát triển máy móc nông nghiệp, phát triển các kỹ thuật canh tác mang lại chất lượng và hiệu quả cao cho các loại cây quan trọng, xây dựng các mô hình trang trại siêu năng suất, liên tục cải tiến và áp dụng công nghệ sinh học, phát triển các sản phẩm áp dụng công nghệ tiên tiến

Chính phủ Trung Quốc đã có những đổi mới trong cơ chế đào tạo Trước

đây, cơ chế gắn kết khoa học kỹ thuật với kinh tế chủ yếu thông qua con

đường hành chính, nay đã dần chuyển sang cơ chế lợi nhuận Trước đây, công tác đào tạo phổ biến khoa học kỹ thuật dù giới hạn trong các cơ quan của chính phủ ở cấp tỉnh, thành phố Hiện nay, công việc này đã được mở rộng

đến các viện, quận, thị xã hoặc thậm chí cả các tổ chức vụ khoa học kỹ thuật tư nhân Đến cuối năm 1997 tổ chức phổ biến khoa học kỹ thuật chuyên ngành phục vụ nông nghiệp nông thôn ở các cấp thành phố, huyện, thị, trong

đó số thành viên là hiệp hội kỹ thuật do nông dân thành lập là 1120 hiệp hội Hiện nay, nhiều nông dân cũng góp tiền thành lập các trung tâm đào tạo, viện nghiên cứu Họ mời các chuyên gia đến phụ trách công tác giảng dạy và nghiên cứu Số lượng các trung tâm viện nghiên cứu kiểu này ngày càng tăng

ở Trung Quốc, trong đó đặc biệt chú ý là các trung tâm đào tạo và nghiên cứu

Đại dược, ở Bình Cổ, viện nghiên cứu công nghệ làm vườn Anh Đào Vàng do

3 nông dân góp vốn thành lập nên Bốn loại viện nghiên cứu trên đóng góp vai

Trang 28

trò tích cực trong nghiên cứu cũng như khoa học nông nghiệp ở Trung Quốc, kinh phí và nghiên cứu trước đây thông qua một kênh duy nhất là nhà nước cung cấp, nay đã đa dạng hoá thành nhiều kênh

Một số bài học rút ra từ kinh nghiệm cải tổ hệ thống đào tạo và nghiên cứu khoa học nông nghiệp của Trung Quốc [dt 12]:

- Các trung tâm đào tạo đã định hướng phù hợp với nhu cầu của sản xuất

và thị trường

- Nông dân và các doanh nghiệp được tiếp thu nhiều tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ mới, giúp tăng năng suất và chất lượng sản phẩm

- Đầu tư cho mang lại hiệu quả khá cao, nhất là hiệu quả sản xuất

- Nông dân, các trang trại và các doanh nghiệp được tiếp thu nhiều tiến

bộ kỹ thuật và công nghệ mới, giúp tăng năng suất và chất lượng sản phẩm

- Công nghệ hoá trong nông nghiệp phát triển nhanh nhờ áp dụng các công nghệ cao với quy mô lớn

- Các trung tâm đào tạo đã thu hút được nhân tài có năng lực và trình độ thông qua chính sách đãi ngộ thích đáng

Khó khăn lớn ban đầu của cải tổ hệ thống đào tạo và nghiên cứu nông nghiệp của Trung Quốc là nhận thức về cải tổ Nhiều cán bộ kể cả cán bộ lãnh

đạo của các viện, các trung tâm đào tạo phải chuyển đổi không đồng đều Để cải tổ thắng lợi Trung Quốc phải áp dụng chính sách cứng rắn và kiên quyết trong chuyển đổi Nhiều biện pháp được áp dụng từ khuyến khích động viên

đén bắt buộc và xử lí hành chính nếu như cá nhân không chấp hành kể cả việc thay đổi giám đốc các trung tâm đào tạo (nếu cần) và thậm chí buộc thôi việc

Đến nay công việc chuyển đổi đã gần như đi vào nề nếp và xu hướng đào tạo

sẽ tiến hành rất mạnh mẽ hơn nữa trong những năm tới

Tuy vậy, dù đạt được nhiều thành tựu quan trọng nhưng hệ thống đào tạo của Trung Quốc cũng đang phải đối mặt với những tồn tại và thách thức mới là:

- Nông dân và cá các trang trại tiếp cận còn chậm và ít các thành quả mới về khoa học công nghệ

Trang 29

- Thiếu liên kết giữa các hoạt động nghiên cứu, giáo dục đào tạo và công tác khuyến nông

- Định hướng đào tạo, chuyển giao công nghệ vẫn mang nặng tính áp đặt

từ trên xuống thay vì cảnh tiếp cận từ dưới lên

2.2.2 ở Việt Nam

Nghiên cứu kinh nghiệm bồi dưỡng nguồn nhân lực cho trang trại và nông nghiệp nông thôn của các nước phương Tây, của các nước châu á gió mùa Từ kết quả thành công cũng như các mặt hạn chế có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

- Thực tiễn nhiều nước trên thế giới, kinh tế trang trại là sản phẩm tất yếu của nền kinh tế thị trường, nó cũng phát triển nhờ sự tác động của đổi mới thể chế Ngay từ ngày đầu thực hiện CNH-HĐH thì kinh tế trang trại đã hình thành và phát triển rất mạnh mẽ kể cả ở các nước châu á gió mùa nơi có quỹ

đất canh tác hạn hẹp

- Kinh tế trang trại là thành phần kinh tế cơ bản, chủ yếu trong sản xuất nông nghiệp ở nông thôn Tuy nhiên, sản xuất nông nghiệp còn gặp rất nhiều khó khăn, kém phát triển, rủi ro cao… Vì vậy, để trang trại đạt đến trình độ sản xuất cao thì không thể thiếu vai trò quản lí của Nhà nước trong việc hoạch

định các chính sách đầu tư cho giáo dục và đào tạo Ngay cả các nước phát triển thì trình độ sản xuất của các trang trại đã phát triển ở trình độ tiên tiến, hiện đại người ta lại càng quan tâm đầu tư cho giáo dục, đào tạo và dành một nguồn ngân sách thoả đáng cho công tác này

- Các trang trại ở các nước phương Tây cũng như các nước châu á gió mùa đều hướng tới trình độ sản xuất cao, hiện đại Phần lớn các trang trại đều đạt được mức độ cơ giới hóa cao và rất coi trọng công nghệ sinh học Như vậy, Việt Nam chấp nhận sự tồn tại của trang trại như là một xu hướng tất yếu thì cần phải hoạch định chính sách cho công tác đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho trang trại nói riêng và cho nông nghiệp, nông thôn nói chung Tuỳ theo các giai đoạn khác nhau thì chính sách phải

Trang 30

được bổ sung, điều chỉnh cho phù hợp Mỗi giai đoạn phát triển của trang trại có những vấn đề mới phát sinh Cải cách và đổi mới chính sách đào tạo là quá trình liên tục

- Trình độ phát triển của trang trại Việt Nam so với các nước còn là một khoảng cách khá xa, vừa là khó khăn nhưng cũng là thuận lợi vì nó cho phép chúng ta học tập kinh nghiệm của nhiều nước và thực hiện “đi tắt đón đầu về

áp dụng khoa học công nghệ” Kinh nghiệm của các nước cho thấy nhà nước phải có chính sách khuyến khích phù hợp để khuyến khích đội ngũ trí thức tự nguyện tham gia làm việc tại trang trại và các vùng nông thôn, ngoài ra phải

đồng bộ áp dụng những hệ thống chính sách khác cần thiết để bảo vệ các trang trại khỏi xu thế bị tụt hậu so với khu vực phi nông nghiệp và với sự cạnh tranh quyết liệt của nông sản hàng hoá nước ngoài [dt 12]

2.3 Các công trình nghiên cứu có liên quan

Thời gian qua những vấn đề lý luận về kinh tế trang trại đã được các nhà khoa học và các nhà hoạt động thực tiễn nghiên cứu và trao đổi Cho đến nay một số vấn đề lý luận cơ bản vẫn tiếp tục được nghiên cứu và trao đổi trên các diễn đàn và phương tiện thông tin đại chúng Kinh tế trang trại là vấn đề không mới với các nước tư bản phát triển và đang phát triển Tuy nhiên, đối với nước ta đây là vấn đề rất mới do nước ta mới phát triển kinh tế trang trại, nên việc nghiên cứu bổ sung các vấn đề lý luận và thực tiễn về kinh tế trang trại là điều hết sức cần thiết

Lý luận về kinh tế trang trại có thể điểm qua một số công trình nghiên cứu sau: Quá trình phát triển kinh tế trang trại ở Việt Nam và một số nước trên thế giới - Bài học kinh nghiệm của tập thể tác giả: Tiến sĩ Hoàng Văn Hoa, Tiến sĩ Hoàng Thị Quý và Tiến sĩ Phạm Huy Vinh; Thực trạng phát triển kinh tế trang trại ở nước ta của cố Giáo sư - Tiến sĩ Nguyễn Thế Nhã; Quan điểm phát triển kinh tế trang trại ở nước ta giai đoạn 2000 - 2010 của PGS - TS Lê Du Phong; Quan điểm phương hướng và giải pháp phát triển kinh tế trang trại trong thời kỳ CNH - HĐH ở nước ta của nhóm tác giả GS - TSKH Lê Đình Thắng, GS-TSKH

Trang 31

Nguyễn Đình Nam, TS Nguyễn Từ và PGS - TS Nguyễn Văn áng; Kinh nghiệm phát triển kinh tế trang trại trên thế giới và khả năng áp dụng ở Việt Nam của GS Nguyễn Điền Ngoài ra còn rất nhiều công trình nghiên cứu thực trạng và giải pháp phát triển kinh tế trang trại ở từng vùng, từng địa phương trong cả nước Trong thời gian qua các công trình nghiên cứu về lĩnh vực bồi dưỡng nguồn nhân lực nói chung đã được nhiều nhà khoa học và các nhà hoạt động trên quan tâm Tuy nhiên hầu hết các tác giả mới tập trung nghiên cứu ở phạm

vi rộng như: Đề án chiến lược về lao động và phát triển nguồn nhân lực trong nông nghiệp và PTNT thời kỳ CNH, HĐH của Bộ Nông nghiệp và PTNT (2000) Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH đất nước của tác giả Mai Quốc Chánh (2000) Bồi dưỡng và lại đội ngũ nguồn nhân lực phục vụ quá trình CNH, HĐH nông thôn Việt Nam của tác giả Trần Thanh Bình Gần đây nhất là báo cáo khoa học của Trường Cao đẳng lao động xã hội về đề tài “ Nghiên cứu, đề xuất phương án và phát triển nguồn nhân lực nông thôn ngoại thành trong quá trình đô thị hoá gắn với CNH - HĐH trên địa bàn Thành phố Hà Nội ”( 2005 ) Đề tài đã tập trung đi sâu nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn chủ yếu về và phát triển nguồn nhân lực nông thôn, các chủ trương, chính sách và phát triển nguồn nhân lực nông thôn ngoại thành

Hà Nội trong thời gian qua Từ đó phân tích những vấn đề thực tiễn và yêu cầu

đặt ra đối với việc bồi dưỡng và phát triển nguồn nhân lực trong quá trình CNH, HĐH nông thôn

Như vậy, đã có nhiều công trình nghiên cứu về đề tài đào tạo, bồi dưỡng nhưng mới chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu nguồn nhân lực cho nông thôn nói chung

Có một số công trình nghiên cứu về khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư nhưng hầu hết là các tập giáo trình phục vụ trên phạm vi rộng cho đông

đảo nông dân Chưa có công trình nào nghiên cứu riêng về công tác bồi dưỡng kiến thức cho các chủ trang trại ở Hà Nội

Trang 32

Từ việc xác định hướng phát triển nông nghiệp của các huyện ngoại thành trong các năm tới là: xây dựng nền nông nghiệp Thủ đô theo hướng nông nghiệp đô thị, sinh thái Tập trung đẩy mạnh các loại hình nông nghiệp công nghệ cao, công nghệ sinh học tạo một vành đai nông nghiệp hiện đại xung quanh nội thành Vì vậy, mục tiêu và nội dung bồi dưỡng kiến thức cho các chủ trang trại trong những năm tới là hết sức cần thiết

*

* *

Trang 33

3 Đặc điểm địa bàn và phương pháp nghiên cứu

3.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - x∙ hội Hà Nội

3.1.1 Đặc điểm tự nhiên

Hà Nội nằm ở trung tâm đồng bằng sông Hồng trong phạm vi từ 20o53’

đến 21o33’ vĩ độ Bắc và từ 105o44’ đến 106o02’ kinh độ Đông Hà Nội tiếp giáp với 5 tỉnh: Thái Nguyên ở phía Bắc, Bắc Ninh, Hưng Yên ở phía Đông, Vĩnh Phúc ở phía Tây, Hà Tây ở phía Nam và Tây nam

Trải qua các thời kỳ, địa giới hành chính của Hà Nội có nhiều thay đổi Hiện nay, Hà Nội gồm 9 quận nội thành và 5 huyện ngoại thành với 99 xã và 6 thị trấn Năm 2004, số dân toàn thành phố là 3.082.800 người, chiếm 3,5% và

đứng thứ hai dân số cả nước; trong đó ngoại thành có 1.153.300 người, chiếm 37,4% dân số toàn thành phố Mật độ dân số 1.561 người/km2

Đại bộ phận diện tích Hà Nội nằm trong vùng châu thổ sông Hồng nên

địa hình nói chung là bằng phẳng với độ cao trung bình 5-20m so với mực nước biển Chỉ có một phần nhỏ khu vực đồi núi ở phía Bắc và Tây Bắc huyện Sóc Sơn thuộc rìa nam của dãy núi Tam Đảo có độ cao từ 20 - 400m, với đỉnh cao nhất là núi chân chim 462m Địa hình Hà Nội thấp dần từ Bắc xuống Nam

và từ Tây sang Đông Dạng địa hình chủ yếu của Hà Nội được bồi đắp bởi các dòng sông với các bãi bồi cao và các bậc thềm; xen giữa các bãi bồi là các vùng trũng, các ao hồ đầm Ngoài ra, Hà Nội còn có dạng địa hình núi và đồi xâm thực tập trung ở các khu vực núi Sóc Sơn với diện tích hơn 8.000 ha Khí hậu Hà Nội tiêu biểu cho khí hậu Bắc Bộ, mang đặc trưng của khí hậu nhiệt đới gió mùa: mùa nóng và mùa lạnh Mùa nóng từ tháng 4 đến tháng

10, có đặc điểm là nóng ẩm và mưa nhiều, gió thịnh hành hướng Đông Nam; trong mùa nóng thường có giông bão; mùa nóng thường là mùa mưa Mùa lạnh bắt đầu từ tháng 11 và kết thúc vào tháng 3; khí hậu tương đối lạnh và khô, trời ít mưa Hai tháng 4 và tháng 10 được coi là những tháng chuyển tiếp,

Trang 34

tạo cho Hà Nội có bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông Lượng bức xạ hàng năm dồi dào, bình quân tăng cao: 24-25,10C, chênh lệch nhiệt độ giữa các ngày trong tháng đạt tới 7,80C Đặc biệt mùa đông, nhiệt độ trong một ngày có thể biến động tới 10-150C Ngoài ra, Hà Nội có lượng ẩm và mưa khá lớn Độ ẩm không khí trung bình hàng năm là 84%, dao động trong các tháng từ 80% đến 88% Lượng mưa trung bình đạt 1.676mm, dao động từ 1.300-1.700mm Số ngày mưa toàn năm là 140 ngày, năm 2001 lượng mưa tăng lên đến 2.247mm Lượng bốc hơi trung bình năm của Hà Nội là 938mm, trung bình tháng 78mm; vào các tháng 12-2 lượng bốc hơi thường cao hơn lượng mưa Trong một năm,

Hà Nội thường có 2 mùa gió chính: gió mùa Đông Bắc và gió Đông Nam

Hàng năm, Hà Nội chịu ảnh hưởng trực tiếp của khoảng 5- 7 cơn bão Bão mạnh nhất lên tới cấp 9, cấp 10 Bão thường trùng với mùa nước sông Hồng lên cao gây trở ngại và đe doạ đời sống và sản xuất của nhân dân

Hà Nội có mạng lưới sông ngòi dày đặc với nhiều khúc sông lớn chảy qua, với mật độ 0,5 km/km2 Hệ thống sông Hồng với đoạn qua Hà Nội 30km,

có lượng nước bình quân hàng năm 2.640 m3/s, với tổng lượng nước chảy qua tới 83,5 triệu m3 Các sông nhánh là sông Nhuệ, sông Đáy, sông Tích, sông

Chế độ nước sông Hồng của Hà Nội chia thành 2 mùa rõ rệt: Mùa lũ và mùa cạn Mùa lũ trùng với mùa mưa, kéo dài từ tháng 6 đến tháng 10 Lũ cao nhất vào tháng 8, chiếm từ 70-75% tổng lượng nước cả năm Mùa cạn từ tháng

11 đến tháng 5, mực nước sông thấp nhất vào tháng 3 Lũ sông Hồng là yếu tố gây ảnh hưởng lớn đến Hà Nội, với đê hiện nay mực nước lũ cho phép ở khu vực Hà Nội là 13m Vì vậy, cần được phân lũ khi mực nước dâng cao

Trang 35

Tổng lượng phù sa sông Hồng rất lớn, trung bình là 94.460 tấn/năm, độ

đục bình quân 842g/m3, nên phù sa sông Hồng rất màu mỡ

Hà Nội có mỏ nước ngầm với trữ lượng lớn Chất lượng nguồn nước nói chung tốt và có tầng phủ bảo vệ chống ô nhiễm Tổng trữ lượng từ 1,0- 1,2 triệu

m3/ngày Hiện nay, khai thác khoảng 400.000 m3/ngày Do phân bố các giếng lấy nước ngầm chưa thật hợp lí, việc quản lí khai thác chưa chặt chẽ nên xảy ra tình trạng tụt mực nước ngầm và sụt lún đất cục bộ đã xảy ra mọt một số nơi

Hà Nội có tổng diện tích đất tự nhiên là 92.097 ha Hiện nay, diện tích

đất ngoại thành chiếm 91% Trong tổng số đất tự nhiên, diện tích đất sông hồ chiếm 5,56 %, núi đá chiếm 0,13%

Bảng 3.1 Phân bố các loại đất theo mục đích sử dụng của Hà Nội

Chỉ tiêu Diện tích (ha) Cơ cấu (%)

- Tổng diện tích đất tự nhiên

- Diện tích đất nông nghiệp

- Diện tích đất lâm nghiệp

- Diện tích đất chuyên dùng

Trong đó:

+ Đất xây dựng + Đất giao thông + Đất thủy lợi, mặt nước + Đất an ninh, quốc phòng + Đất nghĩa địa

+ Đất chuyên dùng khác

- Diện tích đất ở

+ Đất đô thị + Đất nông thôn

- Đất chưa sử dụng

92.097,00 43.612,93 7.891,97 20.534,39

5.583,03 5.618,82 5.585,45 2.060,88 752,41 958,80

11.688,65

2.871,88 8.816,71

8.370,02

100.00 47,35 8,57 22,30

27,19 27,36 27,20 10,04 3,66 4,55

12,69

24,57 75,43

9,09

Nguồn: Niên giám Thống kê Hà Nội năm 2001

Đất đai của Hà Nội kể cả nội thành và 5 huyện ngoại thành (không tính

đất sông hồ, thổ cư) có 68.795,5 ha, chiếm 74,7 % diện tích đất tự nhiên Số diện tích này được chia thành 5 nhóm, gồm 19 đơn vị phân loại đất

Trang 36

Bảng 3.2 Các nhóm đất của Hà Nội

STT Nhóm đất Số đơn vị

phân loại đất

Diện tích (ha)

Cơ cấu ( %)

0,50 61,50 25,70 12,20 0,10

Nguồn: Kiểm kê đất đai 01.01.2000

Các loại đất phù sa có đủ các chất vi lượng Cu, Bo, Mo đáp ứng yêu cầu

của cấy trồng, trừ một số diện tích của huyện Thanh Trì thiếu Mo Đất xám

bạc màu thiếu Mo và Bo Đất đỏ vàng trên đá phiến thiếu Bo trầm trọng

Đất Hà Nội có tình trạng ô nhiễm kim loại nặng, song hàm lượng các

kim loại nặng trong đất hiện nay còn thấp hơn nhiều so với mức cho phép

Riêng một số khu vực thuộc huyện Thanh Trì, hàm lượng Cd (Cadmi) trong

đất đang xấp xỉ ở mức giới hạn cho phép

3.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội

Hà Nội là một đầu mối giao thông chính của cả nước Từ Hà Nội tới các

tỉnh, thành phố trong cả nước một cách thuận lợi bằng nhiều phương tiện giao

thông Đặc biệt đối với các tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng, Hà Nội có nhiều

mối quan hệ với nhiều đường thông tin, giao thông liên lạc Từ nay đến 2020,

tất cả các tuyến giao thông quan trọng nối liền Hà Nội với các cảng biển và

sân bay quốc tế đều được mở rộng, cải tạo và nâng cấp Điều đó giúp cho Hà

Nội gắn bó chặt chẽ với các trung tâm kinh tế, các tỉnh trong cả nước, tiếp

nhận kịp thời và chuyển đi nhanh chóng các thông tin cần thiết, các thành tựu

khoa học - công nghệ trong cả nước và trên thế giới Đồng thời, Hà Nội có

thêm điều kiện để tham gia vào quá trình phân công lao động quốc tế và quá

trình hội nhập với các nước trong khu vực và trên thế giới

Trang 37

Hà Nội nằm trong vùng trọng điểm vùng kinh tế phía Bắc: Hà Nội - Hưng Yên - Hải Dương - Hải Phòng - Quảng Ninh với tốc độ tăng trưởng kinh

tế hàng năm theo quy hoạch đến 2010 là 13 - 14 %, do đó sẽ sớm vươn lên trên con đường CNH - HĐH được xác định là trung tâm động lực của vùng trọng điểm kinh tế phía Bắc nên Hà Nội được đầu tư phát triển sẽ có tác động lớn đến kinh tế của cả vùng

Là địa bàn đông dân cư với mức sống cao, sức mua lớn nên Hà Nội là trung tâm thương mại - dịch vụ, thu hút phần lớn các sản phẩm hàng hoá nông nghiệp của các tỉnh trong vùng, đặc biệt là lương thực - thực phẩm và các loại nông sản nguyên liệu của công nghiệp chế biến, hàng xuất khẩu; các loại dịch

vụ kỹ thuật, thông tin, khoa học công nghệ

Là trung tâm chính trị - hành chính quốc gia nên địa bàn Hà Nội tập trung các cơ quan đầu não của Đảng, Nhà nước và các đoàn thể, các tổ chức quần chúng, các cơ quan ngoại giao đoàn, các văn phòng đại diện của tổ chức quốc tế, các đại diện của các công ty, các tập đoàn xuyên quốc gia Hà Nội cũng là địa bàn tập trung các cơ quan nghiên cứu khoa học với 44 trường đại học và cao đẳng, 34 trường trung học chuyên nghiệp, 41 trường dạy nghề; 112 viện nghiên cứu cơ bản và chuyên ngành, chiếm 86% tổng số các Viện nghiên cứu trong cả nước…

Hà Nội là trung tâm văn hóa lớn nhất của cả nước, nơi hội tụ tinh hoa văn hoá của cả dân tộc Việt Nam, cái nôi của nền văn minh sông Hồng và nơi tiếp thu văn hóa của nhiều nền văn minh, trong đó có văn hoá ẩm thực; không những nhu cầu tiêu dùng cao, đa dạng, đòi hỏi sản phẩm chất lượng cao mà còn là nhu cầu “thưởng thức ăn”, “ thưởng thức vui chơi” với những nét tinh

tế đặc thù, tạo nên phong cách của “ Người Tràng An” thanh lịch

Trang 38

3.1.3 Đặc điểm, đặc thù của nông nghiệp nông thôn ngoại thành

Bảng 3.3 Tình hình dân số và lao động ngoại thành Hà Nội

328.106 0,133

2.566,5 1.206,8 815.338 189.491 1,79

412.034 0,103

2.688,0 1.256,5 828.906 193.842 1,71

421.265 0,108

2.737,3 1.274,3 842.933 195.517 1,66

427.795 0,107

2.812,1 1.305,8 675.100 157.280 1,62

398.647 0,112

3.082,8 1.153,3 702.701 157.711 1,75

317.599 0,108

Nguồn: Niên giám thống kê Hà Nội 2004

Với điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội của Hà Nội, bên cạnh những lợi thế chung, nông nghiệp nông thôn còn chịu tác động của các đặc điểm đặc thù sau: Một là, Hà Nội đang trong quá trình đô thị hoá và công nghiệp hoá nhanh nên diện tích đất nông nghiệp hàng năm giảm hơn 1.000 ha Theo quyết định 1447 QĐ - TTg ngày 9/11/2001 của Thủ tướng chính phủ phê duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai thành phố Hà Nội đến 2010 thì Hà Nội sẽ chuyển 10.906 ha đất nông nghiệp sang phát triển công nghiệp, đô thị

và dịch vụ Trong đó, từ 2001 - 2005 giảm 5.677 ha, 2006 - 2010 giảm 5.229

ha Hiện nay, diện tích đất canh tác chỉ đạt 505 m2/khẩu và 957m2/lao động nông nghiệp, trong khi đó mức tăng dân số còn cao… Mặt khác, do tác động của quá trình đô thị hoá nên quy mô đất đai nông nghiệp không những bị thu hẹp nhanh lại bị chia cắt, phân tán khó tạo thành vùng chuyên canh lớn Đất nông nghiệp giảm nhanh nên lao động dư thừa nhiều, thu nhập khu vực nông thôn đạt thấp và chênh lệch lớn so với khu vực đô thị Tốc độ đô thị, công

Trang 39

nghiệp hoá nhanh, hệ thống hạ tầng giao thông nông thôn, thuỷ lợi, nước sạch… chưa đồng bộ nên tình trạng ngập úng, ô nhiễm môi trường, không khí, tiếng ồn và rác thải đang là vấn đề bức xúc cần tập trung giải quyết… Từ đó

đặt ra cho nông nghiệp, nông thôn Hà Nội phải có quy hoạch định hướng phát triển như thế nào cho phù hợp với sự biến động cao về đất đai, giải quyết hàng loạt vấn đề do tác động tiêu cực của đô thị hoá, công nghiệp hoá nhanh ở các huyện ngoại thành

Hai là, Hà Nội là một đô thị lớn có mức thu nhập cao nên nhu cầu về lương thực, thực phẩm có chất lượng cao rất lớn Vì vậy, sản xuất nông nghiệp như thế nào để tạo ra nhiều sản phẩm chất lượng cao, đa dạng, phong phú, nâng cao hiệu quả sản xuất và giá trị thu được trên đơn vị diện tích đất nông nghiệp để đáp ứng nhu cầu, thị hiếu tiêu dùng của dân cư Thủ đô

Ba là, Sự chênh lệch về thu nhập và đời sống giữa nội thành và ngoại thành còn cao, xu hướng ngày càng tăng lên, trong khi tỉ lệ hộ nghèo còn khá lớn đặc biệt là ở Sóc Sơn Như vậy, dễ dẫn đến sự bất ổn định trong khu vực nông thôn, tạo sức ép người lao động nông nghiệp sẽ đổ về thành phố tìm kiếm việc làm, gây khó khăn cho công tác quản lí và trật tự an toàn xã hội Vì vậy, vấn đề đặt ra cho Hà Nội là: phải nhanh chóng có biện pháp chuyển dịch nhanh cơ cấu kinh tế nông thôn để thu hút giải quyết việc làm, nâng cao đời sống người dân, giảm dần sự cách biệt giữa nông thôn và thành phố

3.2 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện được đề tài chúng tôi sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:

3.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu, chọn mẫu điều tra

* Chọn điểm nghiên cứu: Chúng tôi chọn địa bàn 5 huyện ngoại

thành và 2 quận mới thành lập làm điểm nghiên cứu của đề tài vì diện tích

đất tự nhiên lớn và có nhiều khả năng phát triển kinh tế trang trại

Trang 40

* Chọn mẫu điều tra: Số lượng các trang trại của Hà Nội rất lớn

nhưng do thời gian nghiên cứu có hạn nên chúng tôi tiến hành điều tra 30 trang trại đại diện thuộc địa bàn 5 huyện và 2 quận mới thành lập để nghiên cứu

3.2.2 Phương pháp thu thập thông tin, số liệu

* Số liệu thứ cấp được thu thập từ 2 nguồn:

+ Từ các công trình nghiên cứu, các báo cáo khoa học về đẩy mạnh sự nghiệp CNH-HĐH nông nghiệp, nông thôn và phát triển kinh tế trang trại

+ Từ các Nghị quyết đại hội Đảng thành phố Hà Nội, đại hội Đảng bộ

5 huyện ngoại thành và 2 quận, các báo cáo tổng kết hàng năm của UBND huyện 5 huyện và 2 quận, báo cáo của các phòng Kinh tế - kế hoạch & PTNT, phòng thống kê của các huyện qua 3 năm từ 2002 - 2004, quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 huyện và Hà Nội đến năm 2020, các chương trình phát triển kinh tế đồi rừng và kinh tế trang trại

* Số liệu sơ cấp:

+ Thực hiện điều tra bằng phỏng vấn trực tiếp chủ trang trại quý I, II năm 2005 trên bộ câu hỏi soạn thảo sẵn như: Tình hình sản xuất, đất đai, lao

động, mức đầu tư, thu nhập, đặc biệt là thực trạng trình độ của chủ trang trại

và người lao động và những ảnh hưởng của trình độ đến thu nhập và khả năng phát triển trong thời gian tới của trang trại, nhu cầu, nội dung, phương pháp và hình thức cần bồi dưỡng, những thuận lợi, khó khăn và các kiến nghị của chủ trang trại trong việc bồi dưỡng kiến thức cho chủ trang trại

3.2.3 Phương pháp xử lý số liệu thống kê

Việc xây dựng hệ thống bảng biểu, hệ thống chỉ tiêu, tính toán số liệu

được thực hiện trên chương trình phần mềm Excel làm cơ sở cho những kết luận phục vụ mục tiêu nghiên cứu của đề tài

3.2.4 Phương pháp phân tích

- Để phân tích thực trạng bồi dưỡng trình độ cho chủ trang trại và người lao động, khả năng phát triển các trang trại thuộc 5 huyện ngoài thành Hà Nội, chúng tôi sử dụng các phương pháp: Thống kê mô tả để mô tả thực trạng, thống

Ngày đăng: 28/11/2013, 10:38

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1 Phân bố các loại đất theo mục đích sử dụng của Hà Nội - Luận văn thực trạng và giải pháp bồi dưỡng kiến thức cho chủ trang trại ở hà nội
Bảng 3.1 Phân bố các loại đất theo mục đích sử dụng của Hà Nội (Trang 35)
Bảng 3.2  Các nhóm đất của Hà Nội - Luận văn thực trạng và giải pháp bồi dưỡng kiến thức cho chủ trang trại ở hà nội
Bảng 3.2 Các nhóm đất của Hà Nội (Trang 36)
Bảng 4.1 Phân loại trang trại theo giới tính, thành phần, - Luận văn thực trạng và giải pháp bồi dưỡng kiến thức cho chủ trang trại ở hà nội
Bảng 4.1 Phân loại trang trại theo giới tính, thành phần, (Trang 43)
Bảng 4.2 Bình quân diện tích đất tự nhiên  và  các loại đất của trang trại năm 2003 - Luận văn thực trạng và giải pháp bồi dưỡng kiến thức cho chủ trang trại ở hà nội
Bảng 4.2 Bình quân diện tích đất tự nhiên và các loại đất của trang trại năm 2003 (Trang 44)
Bảng 4.3 Tổng hợp vốn của trang trại Hà Nội năm 2003 - Luận văn thực trạng và giải pháp bồi dưỡng kiến thức cho chủ trang trại ở hà nội
Bảng 4.3 Tổng hợp vốn của trang trại Hà Nội năm 2003 (Trang 46)
Bảng 4.4  kết quả sản xuất kinh doanh của trang trại năm 2003 - Luận văn thực trạng và giải pháp bồi dưỡng kiến thức cho chủ trang trại ở hà nội
Bảng 4.4 kết quả sản xuất kinh doanh của trang trại năm 2003 (Trang 47)
Bảng 4.5 Số l−ợng và các loại hình trang trại điều tra  năm 2005 - Luận văn thực trạng và giải pháp bồi dưỡng kiến thức cho chủ trang trại ở hà nội
Bảng 4.5 Số l−ợng và các loại hình trang trại điều tra năm 2005 (Trang 48)
Bảng 4.7 trình độ chuyên môn của chủ trang trại thuộc nhóm điều tra năm 2005 - Luận văn thực trạng và giải pháp bồi dưỡng kiến thức cho chủ trang trại ở hà nội
Bảng 4.7 trình độ chuyên môn của chủ trang trại thuộc nhóm điều tra năm 2005 (Trang 50)
Bảng 4.9 số chủ trang trại điều tra có bằng quản lý nhà n−ớc - Luận văn thực trạng và giải pháp bồi dưỡng kiến thức cho chủ trang trại ở hà nội
Bảng 4.9 số chủ trang trại điều tra có bằng quản lý nhà n−ớc (Trang 51)
Bảng 4.10 trình độ ngoại ngữ, vi tính của chủ trang trại đến năm 2005 - Luận văn thực trạng và giải pháp bồi dưỡng kiến thức cho chủ trang trại ở hà nội
Bảng 4.10 trình độ ngoại ngữ, vi tính của chủ trang trại đến năm 2005 (Trang 52)
Bảng 4.15 Dự báo phát triển số l−ợng và lao động của trang trại đến năm  2010 - Luận văn thực trạng và giải pháp bồi dưỡng kiến thức cho chủ trang trại ở hà nội
Bảng 4.15 Dự báo phát triển số l−ợng và lao động của trang trại đến năm 2010 (Trang 66)
Bảng 4.16 Nhu cầu và hình thức bồi d−ỡng kiến thức - Luận văn thực trạng và giải pháp bồi dưỡng kiến thức cho chủ trang trại ở hà nội
Bảng 4.16 Nhu cầu và hình thức bồi d−ỡng kiến thức (Trang 67)
Bảng 4.17 Nhu cầu và nội dung bồi d−ỡng kiến thức về CMKT - Luận văn thực trạng và giải pháp bồi dưỡng kiến thức cho chủ trang trại ở hà nội
Bảng 4.17 Nhu cầu và nội dung bồi d−ỡng kiến thức về CMKT (Trang 68)
Bảng 4.19 So sánh ph−ơng pháp dạy học truyền thống và dạy học mới - Luận văn thực trạng và giải pháp bồi dưỡng kiến thức cho chủ trang trại ở hà nội
Bảng 4.19 So sánh ph−ơng pháp dạy học truyền thống và dạy học mới (Trang 96)
Hình thành ra cơ chế đúng để công tác bồi d−ỡng cho nguồn nhân lực  cho nông nghiệp, nông thôn nói chung và cho chủ trang trại nói riêng là hết  sức quan trọng và trải qua quá trình chuẩn bị rất công phu, phức tạp - Luận văn thực trạng và giải pháp bồi dưỡng kiến thức cho chủ trang trại ở hà nội
Hình th ành ra cơ chế đúng để công tác bồi d−ỡng cho nguồn nhân lực cho nông nghiệp, nông thôn nói chung và cho chủ trang trại nói riêng là hết sức quan trọng và trải qua quá trình chuẩn bị rất công phu, phức tạp (Trang 97)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w