1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn nghiên cứu sự sinh trưởng, phát triển của một số giống mộc nhĩ trên giá thể bã mía vùng đồng bằng sông hồng

91 1,1K 9
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu sự sinh trưởng, phát triển của một số giống mộc nhĩ và xây dựng quy trình trồng mộc nhĩ trên giá thể bã mía vùng đồng bằng sông hồng
Tác giả Nguyễn Văn Dũng
Người hướng dẫn TS. Phan Hữu Tôn
Trường học Trường Đại Học Nông Nghiệp I
Chuyên ngành Trồng trọt
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2005
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 1,25 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

luận văn

Trang 1

Bộ giáo dục và đào tạo

trường đại học nông nghiệp i

-

nguyễn văn dũng

Nghiên cứu sự sinh trưởng, phát triển của một số giống mộc nhĩ và xây dựng quy trình trồng mộc nhĩ trên giá thể b∙ mía

Trang 2

Lời cam đoan

- Tôi xin cam đoan rằng, số liệu, hình ảnh và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và ch−a từng đ−ợc sử dụng để bảo vệ một học vị nào

- Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã đ−ợc cám ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn này đã đ−ợc chỉ

rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày 24 tháng 9 năm 2005

Tác giả luận văn

Nguyễn Văn Dũng

Trang 3

Lời cảm ơn

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới:

- T.S Phan Hữu Tôn, thầy đã hướng dẫn tận tình và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian hoàn thành luận văn này

- G.S T.S Nguyễn Hữu Đống, thầy đã hướng dẫn, động viên tôi trong suốt quá trình nghiên cứu

- C.N Đinh Xuân Linh và C.N Nguyễn Thị Sơn đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành luận văn

- Lãnh đạo và tập thể cán bộ Trung tâm Công nghệ Sinh học Thực vật – Viện Di truyền Nông nghiệp cùng toàn thể các thầy cô trong bộ môn Công nghệ Sinh học – trường Đại học Nông nghiệp I đã cộng tác giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện luận văn

- Gia đình, bạn bè đã động viên giúp đỡ tôi trong suốt thời gian qua

Hà Nội, ngày 24 tháng 9 năm 2005

Tác giả luận văn

Nguyễn Văn Dũng

Trang 4

Mục lục

3 Vật liệu nội dung và phương pháp nghiên cứu 25

3.1 Đối tượng, vật liệu, địa điểm và thời gian nghiên cứu 253.2 Nội dung nghiên cứu 253.3 Phương pháp nghiên cứu 263.4 Phương pháp theo dõi 28

4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 30

4.1 Nghiên cứu sự sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số giống nấm mộc nhĩ 304.1.1 Đặc điểm hình thái của giống tham gia thí nghiệm 304.1.2 Thời gian sinh trưởng của các giống 33

Trang 5

4.1.3 Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các giống 454.1.4 Các loại sâu hại chính trên mộc nhĩ 484.2 ảnh hưởng của giá thể đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của mộc nhĩ 504.2.1 Đặc điểm hình thái của giống tham gia thí nghiệm 504.2.2 ảnh hưởng của giá thể đến thời gian sinh trưởng của mộc nhĩ 504.2.3 ảnh hưởng của giá thể đến năng suất thực thu của mộc nhĩ 534.2.4 ảnh hưởng của giá thể đến các loại sâu hại chính trên mộc nhĩ 554.3 ảnh hưởng của thời vụ đến sự sinh trưởng, phát triển và năng suất của

nấm mộc nhĩ 564.3.1 ảnh hưởng của nhiệt độ đến thời gian sinh trưởng của mộc nhĩ 564.3.2 ảnh hưởng của nhiệt độ đến năng suất thực thu 594.3.3 Các loại sâu hại chính xuất hiện 604.4 ảnh hưởng của chế độ khử trùng giá thể đến sự sinh trưởng, phát triển và năng suất của mộc nhĩ 624.4.1 ảnh hưởng của chế độ khử trùng đến tỷ lệ nhiễm 624.4.2 ảnh hưởng của chế độ khử trùng đến thời gian sinh trưởng của mộc nhĩ634.4.3 ảnh hưởng của chế độ khử trùng đến năng suất thực thu mộc nhĩ 644.5 ảnh hưởng của công thức phối trộn giá thể đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của mộc nhĩ 654.5.1 ảnh hưởng của công thức phối trộn đến tỷ lệ nhiễm 674.5.2 ảnh hưởng của công thức phối trộn đến thời gian sinh trưởng của nấm mộc nhĩ 684.5.3 ảnh hưởng của dinh dưỡng bổ sung đến năng suất thực thu của mộc nhĩ69

5 Kết luận và đề nghị 72

5.1 Kết luận 72

Trang 6

Danh môc c¸c ch÷ viÕt t¾t

CNSH : C«ng nghÖ sinh häc

§/C : §èi chøng FAO : Tæ chøc n«ng l−¬ng thÕ giíi

NS : N¨ng suÊt TGST : Thêi gian sinh tr−ëng PTNT : Ph¸t triÓn n«ng th«n UBND: Uû ban nh©n d©n C/N : TØ lÖ cacbon vµ nit¬

Trang 7

Danh mục các bảng

Bảng 2.1: Thành phần dinh dưỡng có trong một số nguyên liệu bổ sung 12Bảng 2.2: Thành phần dinh dưỡng của nấm mộc nhĩ (theo FAO, 1972) 14Bảng 3.1 Công thức phối trộn phụ gia trồng nấm 28Bảng 4.1 Đặc điểm của các giống tham gia thí nghiệm 30Bảng 4.2 Thời gian sinh trưởng của các giống (ngày) 34Bảng 4.3 Nhiệt độ thích hợp của nấm mộc nhĩ ở các giai đoạn sinh

trưởng và phát triển 35Bảng 4.4 Tốc độ mọc sợi của các giống (cm/ngày) 36Bảng 4.5 Các giai đoạn sinh trưởng sinh thực của mộc nhĩ (ngày) 37Bảng 4.6 Thời gian phát dục quả (ngày) 41Bảng 4.7 Kích thước quả ở một số giai đoạn (cm) 41Bảng 4.8 Quá trình tích luỹ chất khô của giống (g/bịch) 43Bảng 4.9 Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất lý thuyết 45Bảng 4.10 Năng suất thực thu của các giống 47Bảng 4.11 Mức độ nhiễm bệnh của các giống 49Bảng 4.12 ảnh hưởng giá thể đến thời gian sinh trưởng của giống (ngày) 50Bảng 4.13 ảnh hưởng của giá thể đến thời gian sinh trưởng sinh thực

của mộc nhĩ (ngày) 52Bảng 4.14 ảnh hưởng của giá thể đến thời gian phát dục quả (ngày) 53Bảng 4.15 ảnh hưởng của giá thể đến năng suất thực thu của mộc nhĩ 54Bảng 4.16 ảnh hưởng của giá thể đến mức độ nhiễm bệnh của mộc nhĩ 55Bảng 4.17 ảnh hưởng của nhiệt độ đến thời gian sinh trưởng của mộc

nhĩ (ngày) 57Bảng 4.18 ảnh hưởng của nhiệt độ đến sinh trưởng sinh thực (ngày) 59

Trang 8

Bảng 4.20 ảnh hưởng của nhiệt độ mức độ nhiễm bệnh 61Bảng 4.21 ảnh hưởng của chế độ khử trùng đến tỷ lệ nhiễm 62Bảng 4.22 Thời gian sinh trưởng của mộc nhĩ ở các công thức (ngày) 63Bảng 4.23 ảnh hưởng của chế độ khử trùng đến năng suất 64Bảng 4.24: Công thức thí nghiệm 66Bảng 4.25 ảnh hưởng của công thức phối trộn đến tỷ lệ nhiễm 67Bảng 4.26 ảnh hưởng của công thức phối trộn đến thời gian sinh trưởng

(ngày) 68Bảng 4.27 ảnh hưởng của công thức phối trộn đến năng suất 70

Trang 9

Danh mục các đồ thị

Đồ thị 4.1 Các giai đoạn sinh trưởng của mộc nhĩ 34

Đồ thị 4.2 Các giai đoạn sinh trưởng sinh thực của mộc nhĩ 38

Đồ thị 4.3 Sự tăng trưởng của đường kính quả ở một số giai đoạn 42

Đồ thị 4.4 Quá trình tích luỹ chất khô của giống 44

Đồ thị 4.5 Biểu diễn thời gian sinh trưởng của giống trên các giá thể 51

Đồ thị 4.6 Biểu diễn ảnh hưởng của nhiệt độ đến thời gian sinh trưởng 58

Đồ thị 4.7: Biểu diễn ảnh hưởng của nhiêt độ thời gian sinh trưởng sinh

Trang 10

1 Mở đầu

1.1 Đặt vấn đề

Nấm được biết đến từ xa xưa và được truyền tụng như là một quà tặng quí gía của thượng đế Trước đây nấm chỉ được dùng cho vua chúa Ngày nay, giá trị của nấm càng được tăng lên nhờ những khám phá khoa học về dinh dưỡng và khả năng trị bệnh của chúng Tuy được biết đến và sử dụng từ hàng nghìn năm nay, nhưng việc nghiên cứu và nuôi trồng nấm chỉ mới được thực hiện gần đây Không phải ngẫu nhiên mà nấm được cả thế giới biết đến, quan tâm và khuyến khích nuôi trồng Chỉ tính trong vòng 25 năm (từ 1965 – 1990) sản lượng nấm tăng lên gấp 10 lần Giá trị lưu thông của nấm trên thị trường thế giới năm 1990 đạt khoảng 7,5 tỉ USD

Nấm ăn là một loại thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao, hàm lượng protein chỉ đứng sau thịt, cá, rất giàu chất khoáng, hàm lượng axit amin không thể thay thế, các vitamin A, B, C, D và không chứa các độc tố Nấm được coi như là một loại “rau sạch”, “thịt sạch” Mặc dù có hàm lượng đạm cao, nhưng nấm cung cấp dinh dưỡng cho cơ thể mà không gây ra hậu quả bất lợi như

đạm động vật, hay đường hoặc tinh bột của thực vật Vì vậy, nấm không chỉ tốt cho sức khoẻ cho người bình thường mà còn là thực phẩm hàng đầu cho người ăn kiêng Ngoài các giá trị về dinh dưỡng, nấm còn chứa nhiều đặc tính dược liệu, như acid folic giúp khả năng phòng ngừa và điều trị bệnh thiếu máu, chất retine phòng ngừa và làm chậm sự phát triển của tế bào ung thư, ngoài ra còn có khả năng phòng chống nhiều bệnh như: chống viêm nhiểm, tăng cường sức đề kháng của cơ thể, chống bệnh còi xương, rối loạn tiêu hoá, tiểu đường Hiện có nhiều công trình nghiên cứu về tác dụng y học của nấm

và sẽ được làm sáng tỏ trong tương lai

Trang 11

Nấm là loại hàng hoá có giá trị kinh tế cao, với giá các loại nấm hiện nay như: nấm rơm, nấm mỡ giá bán trung bình 1.000 – 1.200 USD/tấn muối, mộc nhĩ khoảng 3.000 – 4.000USD/tấn khô, như vậy so với các loại nông sản khác nấm có giá trị cao hơn rất nhiều Mặt khác với diện tích nhỏ cũng có thể

tổ chức nuôi trồng nấm được, vốn đầu tư ít, hệ số quay vòng vốn nhanh (như nấm rơm chu kỳ sống kéo dài khoảng 25 ngày), khi gặp khó khăn về điều kiện sản xuất hoạ hoặc biến động thị trường có thể tạm ngừng sản xuất, đây là thế mạnh mà không một ngành, nghề nào trong sản xuất nông nghiệp có thể sánh

được Do đó, nấm đã được nghiên cứu và nuôi trồng rộng rãi để phục vụ cho cuộc sống hàng ngày của con người

ở Việt Nam, nấm được biết từ lâu Tuy nhiên, chỉ khoảng 15 năm lại

đây, trồng nấm mới được xem như là một nghề mang lại hiệu quả kinh tế thực thụ, việc nuôi trồng nấm ngày càng đang được đẩy mạnh trong cả nước và là nguồn thu đáng kể trong kinh tế nông nghiệp

Tuy bước đầu đã có những thành tựu nhất định, nhưng đây là một ngành non trẻ có nhiều tiềm năng Để đóng góp vào sự phát triển của ngành trồng

nấm trong tương lai, chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu sự sinh trưởng, phát triển của một số giống mộc nhĩ và xây dựng quy trình trồng mộc nhĩ trên giá thể b∙ mía vùng đồng bằng Sông Hồng”

1.2 Tính cấp thiết của đề tài

Mộc nhĩ đã được biết đến và tiến hành trồng từ lâu, nhưng chưa có nghiên cứu cụ thể nào về ảnh hưởng của yếu tố môi trường đến quá trình sinh trưởng và phát triển của mộc nhĩ ở miền bắc Việt Nam dẫn đến việc bố trí thời

vụ sai lệch, điều tiết chế độ nuôi trồng không chính xác làm giảm năng suất hoặc mất trắng, chất lượng của sản phẩm không đảm bảo

Nguồn giống nấm còn nghèo nàn, giống thường bị thoái hoá sau một thời gian sản xuất, mà chưa có các nguồn giống đa dang để cung cấp cho nghề

Trang 12

nuôi trồng nấm

Hiện nay, nước ta có khoảng 40 nhà máy sản xuất mía đường với công suất khoảng 1 triệu tấn đường mỗi năm vậy chúng ta có một khối lượng bã mía khổng lồ, sau khi sử dụng đốt lò hơi, làm phân vi sinh, ván ép, bột giấy Lượng bã còn lại hàng triệu tấn mỗi năm Bã mía gây ổ nhiểm môi trường của nhà máy và khu vực dân cư, mỗi năm các nhà máy đường phải chi phí một khoản tiền lớn cho việc xử lý bã mía thải ra từ nhà máy Vì vậy, nghiên cứu và hoàn thiện công nghệ trồng nấm mộc nhĩ trên bã mía, sẽ góp phần thúc đẩy nghề trồng nấm, giảm thiểu ô nhiểm môi trường và mang lại nguồn lợi kinh tế không nhỏ trong sản xuất nông nghiệp (Lê Văn Trí, 1999).[19]

Trong những năm qua việc trồng mộc nhĩ ở các tỉnh Miền Bắc chậm hơn Miền Nam, một phần là do điều kiện tự nhiên, một phần là do từ trước

đến nay mộc nhĩ chỉ được trồng trên mùn cưa cao su, do các tỉnh Miền Nam (Sông Bé, Đồng Nai) cung cấp giá thành vận chuyển cao, hiệu quả kinh tế thấp Vì vậy, sử dụng bã mía để nuôi trồng nấm sẽ góp phần giải quyết được vấn đề nguyên liệu rẻ tiền và bền vững

1.3 ý nghĩa khoa học và thực tiễn

1.3.1 ý nghĩa khoa học

Xác định được một số đặc điểm hình thái, sự sinh trưởng và phát triển của một số giống mộc nhĩ, từ đó tác độngcác biện pháp làm tăng năng suất nấm

Xác định được một số biện pháp kỹ thuật và từng bước hoàn thiện quy trình nuôi trồng mộc nhĩ trên giá thể bã mía

Kết quả thực hiện đề tài sẽ xây dựng quy trình kỹ thuật nuôi trồng nấm mộc nhĩ trên giá thể bã mía Thúc đẩy việc ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, nâng cao năng suất chất lượng sản phẩm, hiệu quả sản xuất

Trang 13

cho người nông dân trồng nấm

Xúc tiến quá trình tuần hoàn hữu ích trong nông nghiệp: phụ phẩm nông nghiệp ặ trồng nấm ặ bã nấm chế biến thành phân bón hữu cơ trả lại cho cây trồng

1.3.2 ý nghĩa thực tiễn

Trồng nấm sẽ tận dụng được lực lượng nông nhàn, tận dụng nguồn bã mía, mà không phải tốn một đồng chi phí để phát triển vùng nguyên liệu, mang lại hiệu quả kinh tế thiết thực, góp phần nâng cao giá trị ngày công nông nghiệp, làm tăng hiệu quả kinh tế trên một đơn vị diện tích Hình thành một nghề mới ở nông thôn, đầu tư ít, lợi nhuận cao Tạo ra sản phẩm sạch phục vụ tiêu dùng nội địa và xuất khẩu thu ngoại tệ

Phát triển nghề trồng nấm góp phần tạo nên một nền nông nghiệp hàng hoá, nông nghiệp sạch, bền vững phù hợp với chủ trương chính sách công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn của đảng và nhà nước

1.4 Mục tiêu

- Nghiên cứu sự sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số giống nấm mộc nhĩ ở điều kiện đồng bằng Sông Hồng Nhằm lựa chọn giống có chất lượng tốt, năng suất cao ổ định phục vụ cho sản xuất

- Nghiên cứu sự sinh trưởng, phát triển và năng suất của giống nấm mộc nhĩ trên một số phụ phẩm trong nông nghiệp (Bã mĩa, mùn cưa, lõi ngô, trấu, bông hạt), tìm ra được phụ phẩm thích hợp nhất

- Nghiên cứu ảnh hưởng của thời vụ đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của nấm mộc nhĩ

- Nghiên cứu, xây dựng và đề xuất quy trình trồng nấm mộc nhĩ trên giá thể bã mía

Trang 14

2 Tổng quan tài liệu nghiên cứu

2.1 Sinh học nấm mộc nhĩ

2.1.1 Phân Loại nấm

Theo nghiên cứu và phân loại của các nhà khoa học trên thế giới Nấm

được xếp thành một giới riêng, do có đặc tính khác biệt với động vật và thực vật về khả năng quang hợp, dinh dưỡng và sinh sản Giới nấm có nhiều loại, chúng đa dạng về hình thái, màu sắc và sống ở khắp nơi

Theo 2 tác giã Đỗ và Trịnh năm 1975 (trích theo Vương Bá Triệt, 1994) [21] thì sự phân loại của mộc nhĩ dựa vào lớp lông tơ trên mặt quả thể

Đây là một dạng hình thái bên ngoài của mộc nhĩ, nên dễ dàng nhầm lẫn do hình thái bên ngoài thường bị thay đổi khi điều kiện môi trường thay đổi Nhưng đến năm 1951 tác giã Lowy đã đưa ra phương pháp phân loại dựa vào hình thái cấu tạo bên trong của nấm [21]

Nấm mộc nhĩ có tên khoa học là Aricularia spp, quả thể hình đĩa tròn

(hình tai), đường kính từ 2 - 15cm, có nhiều màu sắc và hình thái khác nhau Tác giã X.C Luo, 1993 (trích theo Lê Duy Thắng, 1999) [17] cho rằng mộc nhĩ có khoảng 15 - 20 loài khác nhau, theo nghiên cứu của Trịnh Tam Kiệt,

1986 ở Việt Nam hiện nay mới chỉ tìm thấy 6 loài và trong đó có 2 loại trồng

phổ biến đó là: Auricularia polytricha (Mont) Sacc và Auricularia auricula

(L.ex Hook.) Underw Hiện nay, giống nấm mộc nhĩ cũng ngày một đa dạng nhưng chưa được nuôi trồng và đánh giá đúng tiềm năng của giống để đưa vào sản xuất [10][12]

Theo phân loại của 2 tác giã Lowy (1951) (trích theo Vương Bá Triệt, 1994) [21], Trịnh Tam Kiệt, 2001 [12] nấm Mộc nhĩ thuộc:

Trang 15

2.1.2 Chu kỳ sống của nấm

Chu kỳ sống của mộc nhĩ bắt đầu từ khi quả thể trưởng thành, sinh sản

và phát tán bào tử vào trong môi trường Khi đảm bào tử gặp điều kiện thuận lợi (nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng, pH, dinh dưỡng) sẽ nảy mầm tạo thành hệ sợi

nấm sơ cấp (Primary mycelium), đơn nhân (Monokaryons) Sợi sơ cấp không

có khả năng hình thành quả thể

Giai đoạn sợi sơ cấp diễn ra ngắn vì sợi sơ cấp có xu hướng chia nhánh

và bắt cặp với nhau tạo thành hệ sợi song nhân (Dikaryons), gọi là hệ sợi thứ cấp (Secondary mycelium) Hệ sợi phát dục hình thành đảm quả thể, hệ sợi thứ

cấp chiếm hầu hết chu kỳ sống của nấm đảm ở giai đoạn sinh dưỡng này, hệ sợi nấm sẽ hấp thu và tích luỹ dinh dưỡng để chuẩn bị hình thành quả thể Hệ sợi thứ cấp sẽ liên kết lại tạo thành các mầm nhỏ gọi là mầm quả thể

(Primordia), khi mầm quả thể gặp điều kiện thuận lợi (nhiệt độ, độ ẩm, ánh

sáng, dinh dưỡng) quả thể sẽ tăng kích thước rất nhanh để tạo quả thể trưởng thành Khi quả thể trưởng thành mặt dưới hình thành tầng màng bào có sự

dung hợp 2 nhân tạo nên tế bào sinh bào tử, sau khi giao nhân (karyogmy)

thành đảm tử song bội thể 1 nhân Trước hết là sự phân bào giảm nhiễm, đồng thời đảm bào tử kéo dài ra và hình thành vách ngăn ngang, 1 nhân nhân đôi rồi qua một lần phân bào có sợi, để hình thành 4 tế bào nằm cùng một phía của tế

bào đảm rồi hình thành cuống bào tử (sterigma), sau đó phát triển vượt ra

Trang 16

ngoài trở thành đảm bào tử hình vòng cung (basidiospore), còn các nhân tự

chuyển vào trong đảm bào tử Sau khi đảm bào tử thành thục được phát tán vào môi trường và quay lại chu trình sống mới (hình1)

Hình 2.1 Chu trình sống của nấm mộc nhĩ 2.1.3 Điều kiện sống

2.1.3.1 Dinh dưỡng

Mộc nhĩ là một loài nấm sống hoại sinh, không quang hợp được nên phải sử dụng các nguồn dinh sẵn có Trong tự nhiên nấm mọc trên các loại phế thải có nguồn gốc thực vật Dinh dưỡng cơ bản để nấm sinh trưởng và phát triển gồm: cacbon, nitơ, chất khoáng và vitamin Nồng độ đường thích hợp cho sợi nấm sinh trưởng xấp xỉ 2% (P.G Miles,1999)[31], nấm cũng có thể sử dụng nguồn cacbon không phải là cacbonhydrate như ethanol, glycerin

ở giai đoạn mầm quả thể, sự tăng trưởng phụ thuộc nhiều vào nguồn dinh dưỡng cacbon Theo kết quả nghiên cứu của Horr (1936) nấm sinh trưởng tốt hơn trên môi trường đường đơn Nguồn dinh dưỡng này được lấy chủ yếu từ thực vật giàu xenlulo như gỗ, bông hạt, rơm rạ

Trang 17

Nitơ là yêu cầu cơ bản trong môi trường sợi sinh trưởng, nó cần thiết cho sự tổng hợp protein, purines, pyrimidines của sợi và nó luôn cần cho sự tổng hợp chitin ( P.G Miles,1999) [31][15], trong các nguồn nguyên liệu nuôi trồng nấm mộc nhĩ, mùn cưa có lượng nitơ tổng số thấp từ 0,03 – 0,3% là yếu

tố giới hạn phát triển của sợi nấm Một trong những nhu cầu nitơ của sợi nấm

để tổng hợp enzyme cellulase để phân huỷ cellulose Vì vậy, nuôi trồng nấm thường phải bổ sung thêm đạm Tuy nhiên, hàm lượng nitơ quá cao sẽ kích thích hình thành sợi khí sinh làm giảm khả năng hình thành quả thể.[31][56]

Tỉ lệ C/N rất quan trọng đối với sự sinh trưởng và phát triển của nấm mộc nhĩ, theo Lê Duy Thắng (2001) thì để cho sợi nấm mộc nhĩ mọc tốt cần

tỷ lệ C/N là 35/1, trong khi đó tỷ lệ C/N của mùn cưa cao su là 56/1 vì vậy trong quả trình sản xuất cần bổ sung cân đối dinh dưỡng [16]

Để nấm phát triển thì trong môi trường nhất thiết phải có các nguyên tố khoáng Phospho bao giờ cũng chiếm tỷ lệ cao nhất trong các nguyên tố khoáng và là nguyên tố không thể thiếu được Phospho có mặt trong nhiều trong thành phần cơ bản của tế bào (acid nucleic, phosphoprotein, các coenzim quan trong như ATP, ADP, UDP, UTP) [31][15] Theo Milles (1993) nồng độ phospho thích hợp cho nấm sinh trưởng là 0,004M

Kali cũng là nguyên tố chiếm tỷ lệ cao trong thành phần khoáng của tế bào nấm, nhưng không tham gia và bất kì thành phần nào của nguyên sinh chất tế bào, mà chỉ đóng vai trò cộng tố trong nhiều enzyme, nồng độ thích hợp từ 0,001 – 0,004M.[31]

Lưu huỳnh tham gia cấu tạo của một số acid amin (xistein,xistin, metionin), một số vitamin tham gia vào cấu trúc của tế bào và còn đóng vai trò trong qúa trình oxy hoá khử Nhu cầu về lưu huỳnh của nấm vào khoảng 0,0001 – 0,0006M [31] Magie cần với hàm lượng 10-3 – 10-4M Magie mang tính chất một cộng tố

Trang 18

Ngoài ra còn các yếu tố khoáng khác như sắt, mangan, kẽm, canci, cũng không thể thiếu đối với sự sinh trưởng của nấm

Các nguyên tố vi lượng cần một lượng rất nhỏ nhưng cũng ảnh hưởng nhiều đến sự sinh trưởng của nấm.[2]

2.1.3.2 Nhiệt độ

Mộc nhĩ là loại nấm nhiệt đới, được nuôi trồng gần như quanh năm ở nước ta Theo Vương Bá Triệt, Lê Duy Thắng thì nhiệt độ thích hợp cho nấm mộc nhĩ sinh trưởng và phát triển từ 22 – 32oC Tuy nhiên, mỗi giai đoạn cần một nhiệt độ thích hợp khác nhau :

- Nuôi sợi tốt nhất từ 25 – 30oC

- Ra quả tốt nhất từ 23 – 28oC

ở nhiệt độ trên 40oC và dưới 4oC sợi nấm bị ức chế phát triển và nếu kéo dài sẽ chết Nhiệt độ không chỉ ảnh hưởng đến năng suất mà còn ảnh hưởng đến hình thái quả thể, nhiệt độ cao phiến nấm mỏng, nhỏ, xoăn, nhạt màu, nhiệt độ thấp nấm phát triển chậm, phiến dày, sâu bệnh ít [5][6][9][21]

2.1.3.3 Độ ẩm

Là một yếu tố quan trọng trong suốt cả quá trình nuôi trồng, vì trong quả thể nấm chứa đến 90% nước, có những nhu cầu khác nhau trong quá trình sinh trưởng và phát triển của nấm[1] Thời kỳ nuôi sợi ẩm độ nguyên liệu thích hợp khoảng 60 – 65%, ẩm độ không khí thích hợp ở mức 80 – 90% Thời kỳ ra quả ẩm độ nguyên liệu thích hợp 65 – 70%, ẩm độ không khí thích hợp ở khoảng 90 – 95% Việc duy trì độ ẩm không khí trong suốt quá trình hình thành mầm quả rất quan trọng, khi đã hình thành mầm quả rồi thì nên giữ

độ ẩm ổn định ở mức 80 – 90%.[56]

Trang 19

2.1.3.4 ánh sáng

Nấm không có khả năng quang hợp Tuy nhiên trong từng giai đoạn khác nhau cũng cần điều chỉnh ánh sáng thích hợp để nấm phát triển tốt Theo một số tác giả thì trong bóng tối sợi nấm vẩn phát triển bình thường, nhưng nếu có ánh sáng yếu thì sợi nấm lan nhanh hơn [21][48][43][44] ánh sáng rất quan trọng trong sự hình thành và chín của các cấu trúc tái sinh ở nhiều loại nấm (Kitamoko và cộng sự, 1972; Perkins và Gonrdon, 1969), hơn nữa chất lượng và số lượng ánh sáng là những vấn đề quan trọng đối với sinh trưởng và phất triển của nấm [3] Đối với nấm mộc nhĩ thì nhu cầu về ánh sáng:

- Thời kỳ nuôi sợi không cần ánh sáng, bóng tối hoặc ánh sáng tán xạ

sẽ giúp sợi nấm phát triển khoẻ và dày hơn

- Thời kỳ ra quả thể ta nâng dần chế độ chiếu sáng từ 250 – 1000lux

để kích thích sự tạo quả và màu sắc quả nấm [21]

2.1.3.5 độ thoáng khí

Mộc nhĩ là loại nấm hiếu khí, việc điều chỉnh nồng độ O2 và CO2 hợp lý

là rất cần thiết Hiệu ứng khí CO2 lên sinh lý nấm thật rõ ràng Các nghiên cứu cho thấy rằng khi tăng nồng độ CO2 đến 0,6% sẽ làm tăng sinh trưởng của sợi nấm Nồng độ CO2 từ 0,4 – 0,6% sẽ ức chế toàn bộ quả trình hình thành mầm quả thể, khi nồng độ CO2 từ 0,2 – 0,4% quả thể có chân dài Nồng độ CO2 thích hợp nhất cho giai đoạn ra quả là dưới 0,2% (P Vedder, 1978)[56]

Trong quá trình nuôi sợi, nếu nồng độ CO2 cao hơn 1% sợi nấm phát triển chậm, quả nấm khó hình thành, chân nấm dài, phiến nấm dị dạng Nếu nồng độ CO2 trên 5% sợi nấm bị ngạt

2.1.3.6 Độ pH

Môi trường thích hợp cho nấm sinh trưởng và phát triển có pH dao động

từ 4 – 12 ở giai đoạn nuôi sợi nấm cần môi trường có tính axit yếu pH

Trang 20

khoảng 4,5 – 6,5 Khi xử lý nguyên liệu cần khống chế để có pH phù hợp

Đến giai đoạn ra quả nấm ưa môi trường trung tính đến hơi kiềm Điều chỉnh yếu tố này góp phần nâng cao năng suất mộc nhĩ [6][9][17]

2.2 Kỹ thuật nuôi trồng nấm mộc nhĩ

2.2.1 Lựa chọn và xử lý nguyên liệu

Trong tự nhiên mộc nhĩ thường mọc trên các cây gỗ mục như sung, vả, mít, cao su, bồ đề, và cây thân thảo [2][17] Do vậy nguyên liệu được lựa chọn dùng để nuôi trồng mộc nhĩ thường là mùn cưa, trấu, lõi ngô, bông hạt, bã mía Trải qua công đoạn xử lý cơ học như nghiền, trộn, đảm bảo tiêu chuẩn, sạch tạp chất, độ đồng nhất cao, không bị nhiễm mốc, mục nát

Hàm lượng protein thô trong mùn cưa thấp, khoảng 1,16% (Cục Khuyến nông và Khuyến lâm, 2003) [2] là yếu tố hạn chế sinh trưởng của nấm Khi trồng nấm trên mùn cưa phải bổ sung phụ gia để cân bằng dinh dưỡng, cân bằng tỷ lệ C/N cho sợi nấm mộc nhĩ sinh trưởng phát triển tốt

Nguồn dinh dưỡng bổ sung vào cơ chất với mục đích tăng tốc độ sinh trưởng của sợi nấm, tăng sinh khối sợi, rút ngắn chu kỳ nuôi trồng và tăng năng suất Nguồn dinh dưỡng bổ sung chủ yếu là nitơ, cacbon và các dinh dưỡng khoáng

Nguồn dinh dưỡng bổ sung thường là đường và tinh bột Trong giới hạn cho phép, dinh dưỡng bổ sung càng cao thì năng suất nấm càng cao, nhưng hàm lượng dinh dưỡng cao sẽ làm tăng tỷ lệ nhiễm bệnh

Việc bổ sung dinh dưỡng cân đối cũng rất quan trọng đối với sinh trưởng của sợi nấm mộc nhĩ Các nguyên liệu bổ sung trong nuôi trồng nấm thường là bột ngô, cám gạo, đậu tương thành phần dinh dưỡng của một số nguyên liệu bổ sung ghi trong bảng 1.1 Phạm Văn Sổ và cộng sự, 1991 (Trích theo Nguyễn Thị Bích Thuỳ, 2004)[18]

Trang 21

Bảng 2.1: Thành phần dinh dưỡng có trong một số nguyên liệu bổ sung Nguyên

liệu

Chất khô (%)

Nitơ

(%)

Phospho (%)

Carbon- hydrat (%)

Chất béo (%)

Khoáng (%)

Xử lý nguyên liệu

Nguyên liệu đưa vào tạo ẩm với nước vôi (hoặc bột nhẹ) sau đó phối trộn phụ gia theo công thức thí nghiệm Đóng vào túi nilon PP có kích thước

19 x 37 cm hoặc 25 x 35 cm, khối lượng bịch từ 1,2 – 1,4 kg, làm cổ đậy nút

và đưa vào thanh trùng

Hiện nay, có 2 phương pháp thanh trùng phổ biến là thanh trùng bằng hơi nước ở nhiệt độ 95 - 99 OC thời gian kéo dài 8-10 giờ và thanh trùng với áp suất cao 1,2 – 1,5 atm nhiệt độ trên 121 OC với thời gian 2 giờ, tuỳ theo khôi

Trang 22

lượng bịch mà xác định thời gian thanh trùng, sau khi thanh trùng xong các bịch giá thể được để nguội và cấy giống

2.2.2 Cấy giống và ươm sợi

Thông thường lượng giống cấy vào khoảng 1 – 5 % giá thể có trong bịch, giá thể của giống nấm hiện nay rất đa dạng như giống trên mùn cưa, giống trên que sắn, giống trên hạt

Đối với giống nấm mộc nhĩ thường được sản xuất trên cơ chất que sắn,

đây là loại cơ chất phù hợp nhất đối với nước ta [6], nó thuận lợi cho việc cấy giống, thao tác nhanh tránh được nhiễm bệnh, giá thành hạ Nguyên liệu đã

được xử lý để nguội và tiến hành cấy giống trong phòng cấy ở điều kiện vô trùng Thao tác cấy nhanh chính xác Bịch nấm sau khi được cấy giống, đưa vào ươm sợi trong điều kiện thuận lợi, chọn nhiễm thường xuyên

2.2.3 Giai đoạn ra quả thể

Sau 25-30 ngày khi sợi ăn kín bịch, có màu trắng đồng nhất, đưa bịch ra treo 7 bịch/dây và rạch 15-18 vết/bịch để chăm sóc cho ra quả thể Rạch bịch sau khoảng 7 ngày trên các vết rạch bắt đầu xuất hiện nấm con, thường xuyên tưới nước mỗi ngày 2-3 lần để nâng cao độ ẩm của phòng nuôi sao cho ẩm độ không khí đạt trên 90%, phiến nấm thường xuyên đủ ẩm Giai đoạn chăm sóc thu hái thường kéo dài khoảng 45 – 60 ngày và thu hái làm 3 đợt (Nguyễn Hữu Đống, 2002; Lê Duy Thắng, 1999) [6][9]

2.2.4 Quản lý và phòng trừ dịch hại

Trong quá trình trồng mộc nhĩ xuất hiện một số bệnh như mốc xanh, mốc vàng hoa cau, mốc đen Các loại mốc này cùng phát triển đồng thời với sợi nấm, chúng có thể làm chết hoàn toàn sợi nấm (Nguyễn Hữu Đống, 2002;

Lê Duy Thắng, 1999; Trịnh Tam Kiệt, 1986; Vương Bá Triệt, 1994) Ngoài ra con có bệnh tuyến trùng, nhện, bệnh lây lan rất nhanh (Quimio and Chang,

Trang 23

1990; Staments, 2000; Vedder, 1978).[22] [48][55][56][58]

Để phòng chống các bệnh trên ta phải hết sức coi trọng khâu xữ lý nguyên liệu, thanh trùng, cấy giống, chăm sóc, phòng nuôi trồng phải thường xuyên giữ vệ sinh, thông thoáng

2.3 Giá trị dinh dưỡng và dược liệu của nấm mộc nhĩ

2.3.1 Giá trị dinh dưỡng

Từ xưa đến nay, nấm ăn được coi là thực phẩm cao cấp, đặc biệt cho người giàu vì vị ngon và lạ của nó Ngày nay, tính phổ biến của nó là do giá trị nấu nướng mà còn do tiềm năng của nó như một nguồn protein tăng cường cho sự thiếu hụt ở người, đặc biệt là các nước đang phát triển, nơi mà thực phẩm còn thiếu và đắt tiền

Lượng protein cung cấp cho cơ thể con người hàng ngày chủ yếu từ thực phẩm động vật như thịt, cá Thực phẩm có nguồn gốc từ động vật có hàm lượng protein cao nhưng chúng lại chứa nhiều lipid, khi sử dụng nhiều sẽ gây béo phì và tăng hàm lượng cholesterol trong máu Trong thành phần của protein có chứa hơn 20 loại amino acid, trong số đó có 8 loại mà cơ thể người không thể tổng hợp được mà nhất thiết phải do protein của thực phẩm cung cấp, 8 loại đó là lysin, threonin, methionin, leuxin, isoloxin, triptophan, phenylalanin và valin, trong rau hàm lượng 8 loại amino acid này rất ít, trong ngũ cốc thường thiếu 1 - 2 loại, còn trong nấm có đủ 8 loại mà hàm lượng lại cao (Cục Khuyến nông và Khuyến lâm, 2003)[2]

Bảng 2.2: Thành phần dinh dưỡng của nấm mộc nhĩ (theo FAO, 1972)

Loại mấm Mẫu phân

tích(100g)

Hàm lượng nước %

Protein thô %

Chất béo

%

Carbon hydrat %

87.1 13.0

7.7 7.9

0.8 1.2

87.6 84.2

14.0 9.1

3.9 6.7

347

357

Trang 24

Theo (Dương, 1988) thành phần dinh dưỡng của nấm mộc nhĩ rất phong phú, protein tương đương thịt, gạo và rau quả không thể so sánh

Hàm hượng chất béo thô của các loài nấm ăn chiếm khoảng 1 – 10% khối lượng khô của nấm Chất béo thô này đại diện cho tất cả các hợp chất của lipid bao gồm acid béo tự do, sterols, sterol esters và phospholipid (E.V Crisan,1978) [32] Chính vì hàm lượng và chất lượng protein của nấm cao nên

tổ chức nông lương thế giới (FAO) công nhận nấm là thức ăn góp phần dinh dưỡng protein cho những nước phụ thuộc vào ngũ cốc (Chang, 1993) [34]

Cùng với nước, hydratcarbon là thành phần chính của nấm, chiếm khoảng từ 3 –28% khối lượng của nấm tươi Nó bao gồm như đường pentoz, hexoz, disaccarit, trong đó glucose được dùng như thành phần tích luỹ năng lượng, có thể so sánh được với tinh bột của thực vật thượng đẳng Ngoài ra trong nấm còn có một polysaccharide, thu hút sự quan tâm của nhiều người vì hoạt tính chống khối u của nó (Buswell, 1999)[31]

Chất xơ chứa trong nấm chủ yếu là chitin, chiếm 7,3 – 8,0% Chitin không có vai trò về dinh dưỡng nhưng thành phần chất xơ trong thức ăn cao sẽ làm giảm nguy cơ mắc bệnh ung thư kết tràng và ổn định hàm lượng đường trong máu cho các bệnh nhân tiêu đường chứa các axit amin và các khoáng chất

Nấm ăn là nguồn cung cấp vitamin dồi dào như thiamin, riboflavin, và tiền vitamin D2, vitamin D2 giúp tăng cường hấp thụ Ca, P, chống lão hoá chống còi xương (Staments, 2000) [54] Nhiều loại nấm ăn có chứa vitamin B2với hàm lượng cao, trong 140 loài nấm ăn phân tích ở Nhật Bản có tới 118 loài chứa bình quân 0,126mg vitamin B2/100g nấm Vitamin B12 vốn không có

trong thức ăn thực vật nhưng lại có chứa trong nấm A bisporus, Morchella spp vitamin có mặt phổ biến trong nấm ăn, hàm lượng trung bình khoảng 13

mg/100g nấm (Nguyễn Lân Dũng, 2001) [4] Một nghiên cứu của (Hayes và

Trang 25

Hand, 1981) chỉ ra rằng một lượng nấm nhỏ chỉ 3g nấm tươi cung đủ cung cấp nhu cầu vitamin B12 cho 1 người trong ngày [3] Theo tác giả Lưu (1984) cho rằng cứ 100g mộc nhĩ tươi có tới 200mg vitamin C

Nấm ăn rất giàu chất khoáng, các nguyên tố khoáng chính như Kali, canxi, phospho, magie, nari Phospho và canxi rất cần cho cơ thể người, chúng

có ở trong nấm nhiều hơn là trong ở trong hoa quả và rau [56][44]

Ngoài ra nấm ăn còn chứa nhiều nguyên tố hiếm như đồng, kẻm một trong các nguyên tố này có vai trò chống lão hoá, kéo dài tuổi thọ

Giá trị của nấm ăn cao nên được coi là “thực phẩm của sức khoẻ”, được coi là đỉnh cao của thực phẩm “thực phẩm của thế kỷ 21” (Cục Khuyến nông

và Khuyến lâm, 2003) [2]

2.3.2 Giá trị dược liệu

Theo thống kê, trên thế giới có khoảng 250.000 chủng nấm, trong đó có

độ 300 chủng có giá trị dược liệu, mà nay thực sự sử dụng làm thuốc chỉ 20 –

30 chủng Trung quốc là nước sử dụng nấm làm thuốc sớm nhất, cách đây

2000 năm, trong “Thần nông bản thảo kinh” và sau đó nhiều sách thuốc khác

đề có ghi tác dụng điều trị của các loài nấm như Linh Chi, Phục linh, Đông trùng hạ thảo, Trư linh Trong đó Phục linh được dùng nhiều nhất Trong nấm

có chứa nhiều chất đa đường, được các nhà khoa học trên thế giới hết sức coi

trọng Một số loại nấm có khả năng chống khối u như L edodes, P ostreatus,

A bisporus, A aricula [30][39] Ngày nay các nhà khoa học thống kê được có

trên 60 loại kháng sinh từ nấm, nhưng chưa ứng dụng được nhiều vì chúng có hoạt tính thấp Nấm sinh ra các chất kháng sinh để tăng tính cạnh tranh trong môi trường sống tự nhiên

Mộc nhĩ có tính hàn, không độc có tác dụng giải nhiệt, tăng cường khả năng đề kháng của cơ thể tham gia chữa bệnh, mộc nhĩ đen có khả năng giảm

được tình trạng máu vón cục, làm dịu hiện tượng động mạch bị xơ cứng và do

Trang 26

đó phòng được tác hại hình thành mạch máu bị tắc nghẽn, có hiệu lực tốt với bệnh tim mạch (Mão, 1989) Qua thực nghiệm cho thấy, chất đa đường có tính acid của nó đạt hiệu quả khống chế khối u trong cơ thể chuột bạch tới 42,6% (dương, 1988) [21], ngoài ra mộc nhĩ còn có khả năng phòng chống một số bệnh khác như bệnh bướu cổ, máu xấu, lão hoá

2.4 Tình hình nghiên cứu và sản xuất nấm

2.4.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới

Theo các tài liệu khảo cổ thì từ thời kì đồ đá cũ (5000 - 4000) năm trước công nguyên) những cư dân nguyên thủy ở Trung Quốc đã biết thu lượm

và sử dụng nhiều loại nấm ăn từ thiên nhiên [4][58] Năm 400 trước công nguyên ở nước này đã có những miêu tả khoa học về sinh lí, về sinh thái của không ít các loại nấm ăn Năm 300 trước công nguyên nấm ăn đã được xem là

mĩ thực trong cung đình Trung Hoa Từ thời ấy, nấm đã dược coi là một nhóm sinh vật đặc biệt, không phải là thực vật [4] Nhà triết học Hy Lạp, Theopraste (372 - 287 trước công nguyên) đã cho biết rằng nấm thu hái từ các trang trại,

từ đồng ruộng được dùng như thực phẩm Năm 100 trước công nguyên bắt đầu

có những ghi chép đầu tiên về kĩ thuật thuật trồng nấm [58]

Cho đến nay đã phát hiện khoảng 2000 loại nấm ăn - nấm dược liệu, trong đó có 80 loại ăn ngon hoặc được sử dụng làm dược liệu Việc nghiên cứu và nuôi trồng ngày càng diễn ra mạnh mẽ vì qui mô và hướng đi riêng biệt, so với các loại cây trồng và vật nuôi trong nông nghiệp [16][25]

Báo cáo sớm nhất và lần đầu tiên đầy đủ nhất về việc trồng nấm ở Pháp

là sách của Touricforil (1907), ông mô tả phương pháp dùng phân ngựa chế biến rồi cấy vào đó bào tử lấy từ cây nấm trưởng thành Từ phần phân ngựa có sợi nấm người ta có thể dùng để cấy vào những lô phân ngựa mới Đây chính

là phương pháp chọn giống sơ khai nhất [58]

Từ đầu thế kỉ 20, nhất là những năm 1950 trở lại đây, các nước có nghề

Trang 27

trồng nấm phát triển đã nghiên cứu chọn tạo giống theo nhiều phương pháp khác nhau kể cả ở mức độ phân tử Các thành tựu khoa học kĩ thuật trong việc chọn tạo giống nấm ở nhiều nước, đã tạo ra sự đa dạng các chủng loại nấm Nhiều loại giống có năng suất, phẩm chất tốt, có tính chống chịu và thích ứng với điều kiện môi trường

Năm 1954 Takemaru thực hiện phép lai bắt cặp giữa 2 dòng đơn nhân ở

nấm Collybia velutipes, Năm 1973 DeVries và Wessel thực hiện kỹ thuật dung hợp tế bào trần trên một số nấm đảm như nấm mỡ (A bisporus) Sau đó

vào những năm 1980 dung hợp tế bào trần được thực hiện trên nấm sò

(Pleurotus spp) và linh chi (G.lucidum) Trong những năm gần đây các nhà

khoa học đã quan tâm nghiên cứu tạo ra những chủng đột biến ít bào tử nhằm hạn chế ảnh hưởng của bào tử nấm đến sức khỏe con người Bằng phương pháp chiếu xạ tử ngoại, đã tạo ra các chủng đột biến mất bào tử ở nấm

L.edodes và Agrocybe cylindracea.[14][18]

Các nước trồng nấm đang phát triển với tốc độ rất nhanh Năm 1939 toàn thế giới chỉ có 10 nước sản xuất nấm ăn, đến năm 1995 đã có trên 100 nước trồng nấm Xu thế ngày càng phát triển về quy mô sản xuất, phương thức sản xuất, nguyên liệu sản xuất Loại hình sản phẩm và chủng loại ngày càng

đa dạng.[2]

Việc nghiên cứu và sản xuất nấm ăn trên thế giới ngày nay phát triển rất mạnh mẽ, nó đã trở thành một ngành công nghiệp thực phẩm thực thụ Nghề trồng nấm đã được cơ giới hoá cao từ khâu xử lý nguyên liệu đến chăm sóc thu hái và chế biến đều do máy móc thực hiện như Hà lan, Pháp, Mỹ, Đức ở các nước châu á như Đài Loan, Trung Quốc, Thái Lan Nghề trồng nấm cũng

được phát triển mạnh Sản lượng nấm các loại của thế giới năm 2001 đạt 6.280 nghìn tấn, đặc biệt trong đó có Trung Quốc có sản lượng đạt 5.230 nghìn tấn nấm chiếm khoảng 5/6 sản lượng nấm của thế giới Thị trường tiêu thụ nấm ăn

Trang 28

lớn nhất hiện nay là Mỹ, Nhật Bản, Đài Loan và các nước Châu Âu Nhu cầu nấm ăn trên thị trường trên thế giới khoảng 20 triệu tấn nấm/năm và tăng mỗi năm khoảng 4% Trong khi đó sản lượng nấm hiện nay chỉ đáp ứng được 1/4 nhu cầu của thị trường [1][20][56]

ở Trung Quốc sản xuất nấm ăn được coi là một trong 9 nghề sản xuất lớn của nông nghiệp Sản lượng nấm trong năm 2001 đạt 5.230 nghìn tấn nấm với giá trị kinh tế 19.960 triệu USD, xuất khẩu đạt 650 triệu USD Một trong

24 tỉnh trồng nấm của Trung Quốc đó là tỉnh Phúc Châu một tỉnh có tài nguyên nấm rất lớn, sản lượng nấm năm 2001 của tỉnh là 1.453 nghìn tấn, đạt giá trị kinh tế 4.500 triệu USD, xuất khẩu đạt 380 triệu USD Lợi ích của nghề trồng nấm mang lại rất lớn như sau:

- Tăng nhanh thu nhập cho nông dân, trở thành một ngành kinh tế lớn trong nông thôn, tại huyện Phúc Kiến thu nhập từ nấm ăn chiếm 20 – 30% thu nhập của nông dân, bình quân mỗi người dân thu nhập từ nấm khoảng 60USD/năm

- Kim ngạch xuất khẩu lớn, là chủ lực thu ngoại tệ nông sản Nấm ăn của Phúc Kiến nổi tiếng trong và ngoài nước, kim ngạch xuất khẩu tăng liên tục, năm 1996 đạt 360 triệu USD

- Nghề nấm đã thúc đẩy nhiều ngành nghề khác phát triển, nhất là các ngành dịch vụ trứơc, trong và sau sản xuất nấm Nghề trồng nấm ở Phúc Kiến

đã tạo được khoảng 3 triệu việc làm các loại, chiếm 32,7% lao động nông thôn

Trang 29

Một nghiên cứu ở Hy Lạp chứng minh thị trường nấm ngày càng được

người tiêu dùng quan tâm, đặc biệt là các loài nấm hương (L edodes), nấm rơm (V volvarea), nấm Trân châu (A aegerita) (Philippoussis, (1998)[46]

Theo đánh giá của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn nước ta, thị trường tiêu thụ nấm ăn lớn nhất hiện nay là Mỹ, Nhật Bản, Đài Loan và các nước châu Âu tổng lượng như cầu hàng năm lên đến 20 triệu tấn và đang có

xu hướng tăng, dự kiến với tốc độ 3,5%/ năm [1]

2.4.2 Tình hình nghiên cứu và sản xuất nấm trong nước

ở nước ta trồng nấm không biết chính xác bắt đầu từ lúc nào, chỉ biết miền Bắc trồng được nấm hương từ lâu, còn ở miền Nam đã trồng được nấm rơm và nấm mộc nhĩ, dựa trên các tài liệu lịch sử thì có lẽ chúng ta biết trồng nấm cách đây 2000 năm, do dân tộc thiểu số ở miền Bắc đã mang nấm hương

từ Trung Quốc đến trồng ở vùng Cao Bắc Lạng, do vậy việc trồng nấm có thể chia làm 3 giai đoạn Giai đầu chỉ mang những cây gỗ có mọc nấm trong tự nhiên về nhà để chăm sóc, giai đoạn 2 biết gây giống nấm bằng cách để những cây gỗ chặt trong tự nhiên cạnh cây gỗ có nấm, đến năm 1965 La Như Vi đã bắt đầu trồng nấm bắng sợi thuần chủng ở Quảng Ninh, trước đó khoảng 2-3 năm Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội đã biết nuôi cấy sợi nấm thuần, nhưng chưa biết trồng

Hiện nay, các nhà khoa học đã có nhiều phát hiện về khu hệ nấm của Việt Nam, đã xác định có khoảng 1200 loài nấm lớn trong đó có gần 200 loài nấm ăn và dược liệu [12] Tuy nhiên, những nghiên cứu về đặc điểm sinh thái, sinh lý, sinh hóa và quy trình công nghệ nuôi trồng nấm để phục vụ việc chọn tạo các loại giống nấm ở Việt Nam chưa được tiến hành đồng bộ.[11]

Vấn đề nghiên cứu và phát triển sản xuất nấm ăn ở nước ta bắt đầu từ những năm 1970 trở lại đây Nước ta có khả năng phát triển rất nhiều chủng loại nấm khác nhau giống như ở Trung Quốc và một số nước khác trong khu

Trang 30

vực, song hiện nay đang triển khai 6 loại nấm chính đó là nấm rơm, mộc nhĩ, nấm sò, nấm mỡ, nấm hương và nấm dược liệu Linh chi

Mặc dù các loại nấm này có thể trồng được quanh năm, ở nhiều nơi trong cả nước nhưng ở các tỉnh phía Nam chủ yếu trồng nấm rơm, mộc nhĩ và nấm Linh chi Các tỉnh phía Bắc sản xuất nấm mỡ, nấm sò, nấm hương (chịu nhiệt dộ lạnh), nấm rơm, mộc nhĩ (chịu nhiệt độ nóng) vào mùa hè và nấm Linh chi [16]

Một số cơ quan, đơn vị chủ yếu ở Việt Nam đã bắt đầu chú ý tới việc nghiên cứu chọn tạo các giống nấm ăn và dược liệu như:

- Năm 1984 thành lập Trung tâm nghiên cứu nấm ăn - Đại học Tổng hợp Hà Nội

- Năm 1985 tổ chức FAO tài trợ và UBND Thành phố Hà Nội thành lập Trung tâm sản xuất giống nấm Tương Mai- Hà nội (sau đổi tên thành công ty sản xuất giống, chế biến và xuất khẩu nấm Hà nội)

- Năm 1986 tổ chức FAO tài trợ và UBND Thành phố Hồ Chí Minh thành lập xí nghiệp sản xuất giống nấm thành phố Hồ Chí Minh và cũng trong năm này nhiều công ty, đơn vị sản xuất nấm khác cũng được thành lập

- Khoa Sinh học - Đại học Khoa học Tự nhiên - Đại học Quốc gia Hà Nội

- Trung tâm nghiên cứu Vi sinh vật - Đại học Khoa học Tự nhiên -

Đại học Quốc gia Hà Nội

- Khoa Sinh học - Đại học Tổng hợp TP Hồ Chí Minh

- Công ty Dược liệu Trung ương II (TP Hồ Chí Minh)

Trong giai đoạn này nghề trồng nấm của nước ta chỉ ở giai đoạn tiếp nhận công nghệ và áp dụng vào sản xuất, công tác nghiên cứu còn chưa được tập trung rõ nét, chúng ta nhập công nghệ, giống, thiết bị và trồng nấm để xuất khẩu Năm 1992 – 1993 Công ty nấm Hà Nội nhập thiết bị chế biến đồ hộp nấm và “nhà trồng nấm công nghiệp” của Italia Theo đó, thành phố Hà Nội,

Trang 31

Unimex Quảng Ninh, các tỉnh như Hà Nam Ninh, Vĩnh Phú, Hà Bắc, Thái Bình, đã đầu tư nhiều tỷ đồng cho nghiên cứu và sản xuất nấm ăn Phong trào trồng nấm mỡ đã lan rộng cả miền bắc, đã có hàng ngàn hộ nông dân tham gia trồng nấm mỡ Vì vậy, sản lượng nấm tăng từ khoảng 30 tấn/năm (1988) lên

500 tấn/năm (1993) Tuy nhiên, do nhiều lý do khác nhau, nhiều cơ sở làm ăn thua lỗ, phải giải thể Phong trào trồng nấm tạm lắng xuống Đến năm 1996 sản lượng nấm ăn lại quay về điểm xuất phát 500 tấn/năm, cùng thời gian này Trung tâm công nghệ Sinh học Thực vật (Viện Di truyền Nông nghiệp) bắt

đầu đi vào nghiên cứu và chuyển giao công nghệ nuôi trồng nấm ăn và nấm dược liệu.[1]

Sau những nỗ lực cố gắng của Trung tâm công nghệ Sinh học Thực vật, Trường Đại học Quốc gia Hà Nội, cùng với sự hợp tác giúp đỡ của các tổ chức trong và ngoài nước, cũng như sự mở rộng thị trường trong và ngoài nước, nghề trồng nấm dần dần được phục hồi (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2003).[1]

Hiện nay, nghề trồng nấm đang từng bước được nuôi trồng khắp 61 tỉnh thành trong cả nước Các tỉnh phía Nam như Cần Thơ, Trà Vinh, Đồng Nai, Vũng Tàu, Tiền Giang, Đồng Tháp, nghề trồng nấm đang từng bước được hồi sinh Sản xuất chủ yếu các loại nấm rơm, nấm mộc nhĩ, nấm sò Sản lượng hàng năm đạt khoảng trên 100 nghìn tấn/năm Thị trường tiêu thụ chủ yếu là nội tiêu và sơ chế biến xuất khẩu đi các nước như Mỹ, ý, Đài loan, Trung Quốc, Nga, Nhật và châu Âu

Các tỉnh phía Bắc và miền Trung nghề trồng nấm đang càng ngày càng phát triển mạnh mẽ như Hà Nội, Vĩnh Phúc, Thái Bình, Ninh Bình, Quảng Bình, Đà Nẵng, Quảng Nam, nhiều hộ gia đình, trang trại và các cơ sở quốc doanh tham gia nuôi trồng nấm Sản lượng ước đạt khoảng 30 nghìn tấn/năm Nghề trồng nấm đã trãi qua nhiều thăng trầm, đến nay đã được khẳng định là

Trang 32

vùng trồng nấm và các loại nấm trồng ở nước ta như sau:

- Nấm rơm trồng tập trung tại các tỉnh miền Tây Nam bộ (Đồng tháp, Sóc Trăng, Trà Vinh, Cần Thơ) sản lượng đạt 90% sản lượng nấm rơm cả nước

- Nấm mộc nhĩ trồng tập trung tại các tỉnh miền Đông Nam bộ (Đồng nai, Lâm Đồng, Bình Phước) sản lượng đạt 70% sản lượng nấm mộc nhĩ cả nước

- Nấm Mỡ, nấm sò, nấm hương, chủ yếu được nuôi trồng tại miền Bắc với sản lượng hàng năm khoảng 1.000 tấn

- Nấm Linh chi, Hỗu thủ, vân chi là loại nấm dược liệu chỉ mới được trồng một số ít ở các tỉnh (tp Hà Nội, tp Hồ Chí minh, Đà Lạt) sản lượng mỗi năm khoảng 100 tấn

Theo báo cáo tham luận tại hội thảo "phát triển nghề nuôi trồng nấm ăn

và nấm dược liệu " năm 2004 ( Nguyễn Hữu Đống, Đinh xuân Linh, 2004) thì Tổng sản lượng các loại nấm trong cả nước đạt trên 100.000 tấn (tính năm 2001) Lượng xuất khẩu đạt 40.000 tấn, kim ngạch xuất khẩu khoảng 40 triệu USD/năm

Mục tiêu đề ra của Bộ Nông nghiệp và phát triển Nông thôn thì dự kiến

đến năm 2010 nước ta sẽ sản xuất được trên 1,0 triệu tấn nấm, sử dụng khoảng 6,0 triệu tấn phế liệu, phụ phẩm nông nghiệp cho nuôi trồng nấm Tổng giá trị sản phẩm đạt 7.000 tỷ đồng/năm, kim ngạch xuất khẩu đạt trên 200 triệu USD/năm.[1]

Mục tiêu trên hoàn toàn có thể thực hiện được do nước ta là một trong những nước có tiềm năng rất lớn trong việc phát triển nghề sản xuất nấm

Điều kiện khí hậu nước ta rất thích hợp cho các loại nấm phát triển, các tỉnh phía Nam và mùa hè ở phía Bắc rất thích hợp cho các loại nấm ưa nhiệt độ cao, vào mùa đông ở phía Bắc rất thích hợp với các loại nấm ưa nhiệt độ thấp

Trang 33

như nấm sò, nấm mỡ, nấm hương, kim châm, trân châu Nguyên liệu trồng nấm rất sẵn có như rơm rạ, mùn cưa, thân cây gỗ, thân lõi ngô, bông phế liệu, bã mía Vốn đầu tư ban dầu cho ngành trồng nấm thấp hơn so với các ngành sản xuất khác, nên thích hợp với điều kiện của nông dân hiện nay Thị trường tiêu thụ trong nước và trên thế giới ngày càng mở rộng Ngoài ra phát triển nghề trồng nấm còn có ý nghĩa góp phần giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường Trong thực tế, nhiều cơ sở trồng nấm hiện nay sử dụng phế phẩm sau thu hoạch nấm chuyển sang làm phân bón hữu cơ cho lúa, rau đã tăng năng suất cao hơn từ 15 - 20% so với tập quán canh tác cũ

Một số thành tựu trong công tác nghiên cứu và sản xuất nấm ăn và nấm dược liệu của Trung tâm công nghệ Sinh học Thực vật:

- Tiến hành sưu tầm, phân lập, nhập nội và tuyển chọn được một số

chủng nấm như Linh chi (Ganoderma lucidum, Dt), Nấm đỏ thuộc họ

Russula, nấm thông

- Nghiên cứu đánh giá đặc điểm sinh thái của một số chủng giống nhập

nội như nấm sò (Pleurotus spp), nấm rơm (Volvariella spp), thường xuyên

phục tráng và lưu giữ hơn 50 chủng giống nấm tại Trung tâm Tiến hành nghiên cứu và xây dựng nhiều quy trình nuôi trồng nấm phù hợp với điều kiện tự nhiên trong cả nước, từng bước đơn giản hoá công nghệ để đáp ứng nhu cầu của nông dân

- Chuyển giao công nghệ sản xuất giống, nuôi trồng chế biến các loại nấm ăn và nấm dược liệu cho hơn 40 tỉnh thành trong cả nước (Nguyễn Hữu

Đống và công sự, 2003)[20]

- Thực hiện hành công đề tài trồng nấm Linh chi trên bã mía, được Bộ công nhận là tiến bộ kỹ thuật [24], 4 giống nấm được công nhận là giống quốc gia

Trang 34

3 Vật liệu nội dung và phương pháp nghiên cứu

3.1 Đối tượng, vật liệu, địa điểm và thời gian nghiên cứu

3.1.1 Đối tượng

- Gồm các giống mộc nhĩ A 1 , A 2 , A 3 , A 4 , A 5 được lựa chọn từ tập đoàn giống của Trung tâm Công nghệ Sinh học thực vật (Viện Di truyền Nông nghiệp)

3.1.2 Vật liệu

- Nguyên liêu nuôi trồng nấm: mùn cưa, bã mía, trấu, bông hạt, lỏi ngô

- Các loại vật tư: CaCO3, túi nilon PP 19 x 37 cm hoặc 25 x 35 cm, bông nút, cổ nhựa, chai 600ml, cám gạo, cám ngô, hoá chất vô cơ

3.2 Nội dung nghiên cứu

3.2.1 So sánh sự sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số giống nấm mộc nhĩ trên nguyên liệu mùn cưa cao su

3.2.2 Nghiên cứu sự sinh trưởng, phát triển và năng suất của giống nấm

Trang 35

mộc nhĩ trên các loại nguyên liệu mùn cưa, b∙ mía, trấu, bông hạt, lỏi ngô 3.2.3 Nghiên cứu ảnh hưởng của thời vụ đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của nấm mộc nhĩ

3.2.4 Nghiên cứu ảnh hưởng của phương pháp và thời gian khử trùng đến

sự sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số giống nấm mộc nhĩ 3.2.5 Nghiên cứu và xây dựng quy trình nuôi trồng nấm mộc nhĩ trên giá thể b∙ mía

3.3 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp: Sử dụng các phương pháp nấm học trong nghiên cứu hình thái quả thể, tốc độ mọc sợi, năng suất của nấm (Theo Trịnh Tam Kiệt, 1981)[10] Sử dụng phương pháp nuôi trồng (Theo Nguyễn Hữu Đống, 2002;

Lê Duy Thắng, 1999)[7][17] Để nghiên cứu các nội dung trên chúng tôi tiến hành bố trí thí nghiệm như sau:

3.3.1 Thí nghiệm 1: So sánh sự sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số giống nấm mộc nhĩ trên giá thể mùn cưa

Thí nghiệm được bố trí trong cùng một phòng nuôi trồng nên các yếu tố môi trường được coi là đồng nhất Thiết kế thí nghiệm theo kiểu CRD với 5 giống nấm được bố trí lặp lại 3 lần mỗi công thức 50 bịch, kỹ thuật nuôi trồng theo quy trình cơ bản thí nghiệm này nhằm xác định chọn ra giống tốt có năng suất cao và ổn định phục vụ cho sản xuất

3.3.2 Thí nghiêm 2: Đánh giá ảnh hưởng của nền giá thể đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của nấm mộc nhĩ

Thí nghiệm được bố trí trong cùng một phòng nuôi trồng nên các yếu tố môi trường được coi là đồng nhất Giống nấm được lựa chọn từ thí nghiệm 1, với 1 giống được sử dụng Thiết kế thí nghiệm theo kiểu CRD với 5 loại giá thể mùn cưa(I đ/c), bã mía(II), lõi ngô(III), bông hạt(IV), trấu (V) được bố trí

Trang 36

lặp lại 3 lần mỗi công thức 50 bịch được đặt ngẫu nhiên trong phòng nuôi, kỹ thuật nuôi trồng theo quy trình cơ bản thí nghiệm này nhằm xác định chọn ra các loại giá thể phù hợp cho năng suất cao ổn định phục vụ cho sản xuất

3.3.3 Thí nghiệm 3: ảnh hưởng của thời vụ đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của nấm mộc nhĩ

Thí nghiệm được bố trí trên cùng một giá thể bã mía, với một giống, mỗi lần 100 bịch Thí nghiệm được bố trí liên tục mỗi tháng 1 lần bắt đầu từ tháng 10/04 đến tháng 4/05 Đánh giá ảnh hưởng của nhiệt độ đến sự sinh trưởng, phát triển và năng suất của mộc nhĩ

3.3.4 Thí nghiệm 4: ảnh hưởng của chế độ khử trùng giá thể đến sự sinh trưởng, phát triển và năng suất của mộc nhĩ

Thí nghiệm được bố trí trên giá thể bã mía, với 1 giống mỗi công thức

50 bịch và lặp lại 3 lần Thí nghiệm được bố trí theo các công thức sau:

CT1: Thanh trùng trong điều kiện hơi nước bảo hoà, nhiệt độ 121OC, áp suất 1,5 atm, thời gian 3 giờ

CT2: Thanh trùng trong điều kiện hơi nước bảo hoà, nhiệt độ 95 - 100OC, trong thời gian 8-10 giờ

CT3: Thanh trùng trong điều kiện hơi nước bảo hoà, nhiệt độ 121OC, áp suất 1,5 atm, thời gian 2 giờ

3.3.5 Thí nghiệm 5: ảnh hưởng của phụ gia bổ sung vào giá thể đến sự sinh trưởng, phát triển và năng suất của mộc nhĩ

Thí nghiệm bố trí với giống A1 trên 5 nền giá thể khác nhau được bố trí cùng một lúc Mỗi công thức 50 bịch với 3 lần nhắc lại

Trang 37

Bảng 3.1 Công thức phối trộn phụ gia trồng nấm

I Bã mía không bổ sung phụ gia (Đ/C)

đều bổ sung CaCo3 1%

- Theo dõi thời điểm xuất hiện quả

- Đo kích thước đường kính phiến nấm tăng trưởng quả theo các giai

đoạn phát triển của nấm (giai đoạn nụ nấm, giai đoạn dạng tách, giai đoạn dạng chén, dạng đĩa, dạng trưởng thành), mỗi giống đo 10 quả

- Tích luỹ chất khô mẫu được lấy theo các giai đoạn phát triển của nấm (giai đoạn nụ nấm, giai đoạn dạng tách, giai đoạn dạng chén, dạng đĩa, dạng trưởng thành), Mẫu được lấy quả trên 3 bịch, đem loại bỏ tạp chất đưa vào sấy

ở nhiệt độ 45 – 50OC đến khô rồi nâng nhiệt độ lên 55 – 60OC sấy đến khi trọng lượng không đổi, đem cân

- Theo dõi chỉ tiêu phát dục quả Bằng cách theo dõi 10 quả trên một giống từ khi xuất hiện quả đến khi thu hoạch

Trang 38

3.4.3 Chỉ tiêu về các yếu tố cấu thành năng suất

- Theo dõi số quả thể thu trên 1 bịch (mỗi công thức 3 bịch)

- Cân trọng lượng 100 quả (P100) các giống (qua 3 lần cân)

- Năng suất lý thuyết (kg nấm tươi/tấn nguyên liệu khô)

- Năng suất thực thu trên 10 bịch thí nghiệm của mỗi giống

3.4.4 Sâu bệnh chính

- Theo dõi loại sâu bệnh phát sinh

- Theo dõi thời gian xuất hiện bệnh

- Theo dõi mức độ tỷ lệ hại

Kết quả thu được sẽ được xử lý thống kê sinh học trên chương trình IRRSTAT và Excel

Trang 39

4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận

4.1 Nghiên cứu sự sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số giống nấm mộc nhĩ

4.1.1 Đặc điểm hình thái của giống tham gia thí nghiệm

Đặc điểm hình thái của các giống nấm mộc nhĩ, là sự biểu hiện kiểu hình mang tính đặc trưng của giống Đặc tính về màu sắc, hình thái, kích thước được trình bày ở bảng 4.1, hình 4.1 và hình 4.2 (xem ở phụ lục)

Từ các đặc điểm của giống cho chúng ta nhận xét ban đầu có liên quan

đến sự sinh trưởng, phát triển, khả năng cho năng suất cao, ổn định và tính chống chịu với điều kiện ngoại cảnh của giống

Bảng 4.1 Đặc điểm của các giống tham gia thí nghiệm

Giống Màu

phiến Phiến nấm Lông

Đường kính phiến (cm)

Độ dày phiến (cm)

Ghi chú: mô tả nấm tươi

Cũng như các sinh vật khác, mộc nhĩ cũng có hai bộ phận là cơ quan sinh dưỡng và sinh sản Cơ quan dinh dưỡng của mộc nhĩ là sợi nấm và cơ quan sinh sản là quả thể nấm

Theo quan niệm cũ thì nấm là loại thực vật hạ đẳng, không có diệp lục

tố, nên có đời sống dị dưỡng vì nấm không có khả năng tổng hợp được chất

Trang 40

hữu cơ từ chất vô cơ và năng lượng của ánh sáng mặt trời Mà chúng lấy thức

ăn theo kiểu động vật, những chúng cũng không được xếp vào giới động vật Ngày nay, các nhà khoa học xếp nấm vào một giới riêng gọi là giới nấm

(Mycota)

Sợi nấm

Sợi nấm mộc nhĩ là một loại tế bào, không có màu hoặc màu khói trong trường hợp giàu nitrogen có màu trắng, sợi nấm khi mới nảy mầm mang một

nhân gọi là haploid Nhiệm vụ của sợi nấm trong giai đoạn này chủ yếu là lấy

dinh dưỡng từ môi trường bên ngoài vào Sợi nấm là một hệ đa bào nên có quan hệ với nhau do trao đổi chất qua những cầu liên bào cấu tạo bằng cytoplasma

Sự sinh dưỡng của nấm mộc nhĩ được thông qua quá trình hoại sinh, nấm lấy nguồn cacbon từ celluloza, hemicel pectin, amiloz Các hợp chất hữu cơ được lấy từ các xác bã thực vật khác như rơm rạ, bông thải, bã mía Sợi nấm tiết ra loại enzym phân giải các hợp chất hữu cơ làm thức ăn và vận chuyển thức ăn để nuôi hệ sợi Khi sợi nấm khoẻ thì khă năng tích luỹ và vận chuyển dinh dưỡng tốt sẽ cung cấp dinh dưỡng cho việc hình thành quả thể tốt nhất, cho năng suất cao nhất khi sinh khối sợi lớn nhất

Quả thể

Quả thể là cơ quan sinh sản của nấm mộc nhĩ, quả thể được hình thành sau khi pha sợi nấm đã đủ thời gian và tích luỹ đủ dinh dưỡng cho sự hình thành quả Giai đoạn này phụ thuộc nhiều vào từng giống và điều kiện môi trường nuôi trồng nấm Từ lúc hình thành quả thể đến khi trưởng thành thì quả thể nấm trải qua nhiều giai đoạn khác nhau Dựa theo hình dạng của quả thể

mà người ta phân biệt thành các giai đoạn: giai đoạn nụ nấm, giai đoạn dạng tách, giai đoạn dạng chén, dạng đĩa, dạng trưởng thành (Theo Lê Duy Thắng, 1999)

Ngày đăng: 28/11/2013, 10:34

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1. Chu trình sống của nấm mộc nhĩ  2.1.3. Điều kiện sống - Luận văn nghiên cứu sự sinh trưởng, phát triển của một số giống mộc nhĩ trên giá thể bã mía vùng đồng bằng sông hồng
Hình 2.1. Chu trình sống của nấm mộc nhĩ 2.1.3. Điều kiện sống (Trang 16)
Bảng 2.1: Thành phần dinh d−ỡng có trong một số nguyên liệu bổ sung - Luận văn nghiên cứu sự sinh trưởng, phát triển của một số giống mộc nhĩ trên giá thể bã mía vùng đồng bằng sông hồng
Bảng 2.1 Thành phần dinh d−ỡng có trong một số nguyên liệu bổ sung (Trang 21)
Bảng 4.2. Thời gian sinh tr−ởng của các giống (ngày) - Luận văn nghiên cứu sự sinh trưởng, phát triển của một số giống mộc nhĩ trên giá thể bã mía vùng đồng bằng sông hồng
Bảng 4.2. Thời gian sinh tr−ởng của các giống (ngày) (Trang 43)
Đồ thị 4.2. Các giai đoạn sinh tr−ởng sinh thực của mộc nhĩ - Luận văn nghiên cứu sự sinh trưởng, phát triển của một số giống mộc nhĩ trên giá thể bã mía vùng đồng bằng sông hồng
th ị 4.2. Các giai đoạn sinh tr−ởng sinh thực của mộc nhĩ (Trang 47)
Đồ thị 4.3. Sự tăng tr−ởng của đ−ờng kính quả ở một số giai đoạn - Luận văn nghiên cứu sự sinh trưởng, phát triển của một số giống mộc nhĩ trên giá thể bã mía vùng đồng bằng sông hồng
th ị 4.3. Sự tăng tr−ởng của đ−ờng kính quả ở một số giai đoạn (Trang 51)
Đồ thị 4.4. Quá trình tích luỹ chất khô của giống - Luận văn nghiên cứu sự sinh trưởng, phát triển của một số giống mộc nhĩ trên giá thể bã mía vùng đồng bằng sông hồng
th ị 4.4. Quá trình tích luỹ chất khô của giống (Trang 53)
Bảng 4.11.  Mức độ nhiễm bệnh của các giống  Gièng  Tổng số bịch  Mốc xanh Mốc vàng Nhện  Mốc đen  % - Luận văn nghiên cứu sự sinh trưởng, phát triển của một số giống mộc nhĩ trên giá thể bã mía vùng đồng bằng sông hồng
Bảng 4.11. Mức độ nhiễm bệnh của các giống Gièng Tổng số bịch Mốc xanh Mốc vàng Nhện Mốc đen % (Trang 58)
Đồ thị 4.5. Biểu diễn thời gian sinh tr−ởng của giống trên các giá thể - Luận văn nghiên cứu sự sinh trưởng, phát triển của một số giống mộc nhĩ trên giá thể bã mía vùng đồng bằng sông hồng
th ị 4.5. Biểu diễn thời gian sinh tr−ởng của giống trên các giá thể (Trang 60)
Bảng 4.15. ảnh hưởng của giá thể đến năng suất thực thu của mộc nhĩ - Luận văn nghiên cứu sự sinh trưởng, phát triển của một số giống mộc nhĩ trên giá thể bã mía vùng đồng bằng sông hồng
Bảng 4.15. ảnh hưởng của giá thể đến năng suất thực thu của mộc nhĩ (Trang 63)
Bảng 4.17. ảnh hưởng của nhiệt độ đến thời gian sinh trưởng của mộc nhĩ - Luận văn nghiên cứu sự sinh trưởng, phát triển của một số giống mộc nhĩ trên giá thể bã mía vùng đồng bằng sông hồng
Bảng 4.17. ảnh hưởng của nhiệt độ đến thời gian sinh trưởng của mộc nhĩ (Trang 66)
Đồ thị 4.6. Biểu diễn ảnh hưởng của nhiệt độ đến thời gian sinh trưởng - Luận văn nghiên cứu sự sinh trưởng, phát triển của một số giống mộc nhĩ trên giá thể bã mía vùng đồng bằng sông hồng
th ị 4.6. Biểu diễn ảnh hưởng của nhiệt độ đến thời gian sinh trưởng (Trang 67)
Đồ thị 4.8. Biểu diễn thời gian sinh tr−ởng của mộc nhĩ qua các công thức - Luận văn nghiên cứu sự sinh trưởng, phát triển của một số giống mộc nhĩ trên giá thể bã mía vùng đồng bằng sông hồng
th ị 4.8. Biểu diễn thời gian sinh tr−ởng của mộc nhĩ qua các công thức (Trang 73)
Bảng 4.23. ảnh hưởng của chế độ khử trùng đến năng suất - Luận văn nghiên cứu sự sinh trưởng, phát triển của một số giống mộc nhĩ trên giá thể bã mía vùng đồng bằng sông hồng
Bảng 4.23. ảnh hưởng của chế độ khử trùng đến năng suất (Trang 73)
Bảng 4.24: Công thức thí nghiệm  Công thức  Bã mía (%) Cám gạo (%) Cám ngô (%)  CaCO 3  (%) - Luận văn nghiên cứu sự sinh trưởng, phát triển của một số giống mộc nhĩ trên giá thể bã mía vùng đồng bằng sông hồng
Bảng 4.24 Công thức thí nghiệm Công thức Bã mía (%) Cám gạo (%) Cám ngô (%) CaCO 3 (%) (Trang 75)
Đồ thị 4.8. Biểu diễn thời gian sinh tr−ởng của mộc nhĩ qua các công thức - Luận văn nghiên cứu sự sinh trưởng, phát triển của một số giống mộc nhĩ trên giá thể bã mía vùng đồng bằng sông hồng
th ị 4.8. Biểu diễn thời gian sinh tr−ởng của mộc nhĩ qua các công thức (Trang 78)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w