1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật góp phần tăng năng suất lạc trên đất cát pha huyện nghi lộc tỉnh nghệ an

102 680 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Luận văn nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật góp phần tăng năng suất lạc trên đất cát pha huyện Nghi Lộc tỉnh Nghệ An
Trường học Trường Đại Học Nông Nghiệp Hà Nội
Chuyên ngành Kỹ thuật Nông nghiệp
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2023
Thành phố Nghệ An
Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 1,54 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

luận văn

Trang 1

1 mở đầu

1.1 Đặt vấn đề

Trước đây cũng như hiện nay, thuốc bảo vệ thực vật đóng một vai trò quan trọng trong việc bảo vệ an toàn cây trồng trước sự tàn phá của các loài gây hại Một trong những chi phí cho các biện pháp phòng chống dịch hại cây trồng, chi phí cho biện pháp hóa học bảo vệ thực vật hằng năm trên thế giới là rất lớn Cụ thể, Nguyễn Xuân Thành (1997) [18] cho biết năm 1940 toàn thế giới phải chi đến 40 triệu USD cho công tác phòng chống dịch hại, năm 1955

là 275 triệu USD, đến năm 1970 đã lên tới 1 tỷ USD

Phùng Minh Phong (2002) [17] cũng chỉ ra rằng, nhờ sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật mà ít nhất 20% sản phẩm nông nghiệp ở các nước phát triển và 40-50% ở các nước chậm phát triển không bị phá hoại bởi các loài gây hại Như vậy, không thể không thừa nhận các mặt tích cực của hóa chất bảo

vệ thực vật trong sản xuất nông nghiệp và bảo vệ mùa màng, nông sản, đặc biệt là Việt Nam, một nước với hơn 80% dân cư hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp và nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn trong nền kinh tế quốc dân Song trong quá trình sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật con người đã quá lạm dụng các mặt tích cực đó mà không chú ý mặt trái của chúng dẫn đến việc phá vỡ

hệ sinh thái gây hậu quả xấu, đi ngược lại nỗ lực của con người nhằm cung cấp đủ lượng thực, thực phẩm nuôi sống con người và tiến tới nâng cao chất lượng sản phẩm lương thực, thực phẩm, đáp ứng nhu cầu về thực phẩm sạch

đảm bảo sức khỏe cho con người

Sự lạm dụng hóa chất bảo vệ thực vật hay sự thiếu hiểu biết về nó là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến ô nhiễm hóa chất bảo vệ thực vật trong rau, quả, lương thực, thực phẩm, nguồn đất, nguồn nước, ô nhiễm bầu không khí tác

động trực tiếp đến sức khỏe, đời sống con người và những động vật khác

Trang 2

Tình trạng ô nhiễm hóa chất bảo vệ thực vật trên thế giới và Việt Nam

đang thực sự là vấn đề thời sự nóng bỏng thu hút sự quan tâm chú ý của các cấp, các ngành, các nhà khoa học quan tâm, vì tính chất nguy hiểm trực tiếp cũng như gián tiếp của chúng đã gây ra những hậu quả khôn lường đối với con người

Thật vậy, theo Huỳnh Dương [7] cho biết các vụ ngộ độc thực phẩm ở nước ta ngày một tăng lên về số lượng, quy mô với mức độ trầm trọng khác nhau Theo thống kê, từ năm 1999 đến nay toàn quốc đã có 1.282 vụ ngộ độc thực phẩm với 27 ngàn người nhiễm độc, làm 336 người tử vong Trong đó 10-25% số vụ ngộ độc trên là do tồn dư hóa chất bảo vệ thực vật trong rau quả, thực phẩm

Trong năm 2003, cả nước xảy ra 38 vụ ngộ độc thực phẩm hàng loạt (trung bình 30 người/vụ), chỉ riêng 6 tháng đầu năm 2004 đã có 7 vụ ngộ độc thực phẩm hàng loạt xảy ra Xuất phát từ những vấn đề thực tiễn đó, tình hình

sử sụng hóa chất bảo vệ thực vật của người nông dân như thế nào, ảnh hưởng của sự lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật đến đời sống người dân ra sao, mức độ

vệ sinh an toàn thực phẩm tại một số địa phương ra sao Với mong muốn tìm

hiểu phần nào thực trạng đó chúng tôi thực hiện đề tài: "ảnh hưởng của việc

sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật trong nông nghiệp đến tồn dư của chúng trong một số mô bào của lợn nuôi tại khu vực Nam Sách - Hải Dương" với

kỳ vọng tìm hiểu về mức độ tồn dư hóa chất bảo vệ thực vật trong thực phẩm

được tiêu thụ tại địa bàn nghiên cứu

1.2 Mục đích và ý nghĩa của đề tài

Tìm hiểu thực trạng sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật trong trồng trọt tại địa bàn nghiên cứu

Tìm hiểu mối quan hệ giữa hóa chất bảo vệ thực vật được sử dụng tại

địa phương với mức độ tồn dư của chúng trong một số mô bào của lợn

Trang 3

Tìm hiểu về mức độ an toàn của thực phẩm tiêu thụ tại địa phương về khía cạnh tồn dư HCBVTV

Đánh giá kết quả nghiên cứu theo một số thang tiêu chuẩn hiện hành

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Điều tra cơ bản về tình hình sử dụng HCBVTV tại địa bàn nghiên cứu trong những năm gần đây

Điều tra cơ bản về phương thức chăn nuôi, cơ cấu và quy mô chăn nuôi, nguồn thức ăn chủ yếu,

Các mẫu thức ăn, nước chăn nuôi

Các mẫu của một số cơ quan: mỡ, gan, thận của lợn nuôi tại địa phương

và các mẫu thịt tiêu thụ tại địa phương

1.4 Địa bàn nghiên cứu

Huyện Nam Sách là một trong những huyện thuần nông với nghề trồng lúa và cây hoa màu cùng với phát triển chăn nuôi chủ yếu là chăn nuôi lợn Nam Sách cũng là huyện mang những đặc điểm điển hình của khu vực đồng bằng sông Hồng

Trong huyện chúng tôi tập trung nghiên cứu tại hai xã: Hợp Tiến và ái Quốc, đây là những xã có diện tích lớn, mật độ dân cư cao đồng thời có phong trào trồng trọt và chăn nuôi điển hình cho huyện Ngoài ra xã Hợp Tiến là một trong những xã có các hợp tác xã chăn nuôi lớn dưới sự tác động của Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam, dự án lưu vực đồng bằng sông Hồng, hiện nay phong trào chăn nuôi đang rất phát triển

Trang 4

Hîp TiÕn ¸i Quèc

Trang 5

2 tổng quan tài liệu

2.1 Những hiểu biết cơ bản về hóa chất bảo vệ thực vật

2.1.1 Một số khái niệm cơ bản

Có nhiều khái niệm khác nhau về hóa chất bảo vệ thực vật (HCBVTV) HCBVTV là những hợp chất độc có nguồn gốc tự nhiên hay tổng hợp hóa học dùng để trừ sâu, bệnh, cỏ dại, loài gặm nhấm gây hại cho cây trồng ngoài

đồng ruộng, nông sản trong các kho bảo quản và được gọi chung là sinh vật hại cây trồng và nông sản, theo Trần Quang Hùng (1995, 1999) [12], [13] Theo Lê Trung (1997) [22] và [57], FAO định nghĩa hóa chất bảo vệ thực vật như sau: "Thuốc trừ sâu là bất kỳ một chất hay hỗn hợp chất được dùng để phòng, phá hủy hay diệt trừ bất kỳ loài vật nào kể cả vectơ gây bệnh của người hay súc vật, những loại cây cỏ dại, hoặc động vật gây hại can thiệp vào quá trình sản xuất, lưu kho, vận chuyển hoặc tiếp thị sản phẩm, lương thực, gỗ và các sản phẩm từ gỗ, thức ăn gia súc Thuật ngữ thuốc trừ sâu còn bao gồm những chất dùng để điều hòa tăng trưởng cây trồng, làm rụng lá, hút ẩm, chất làm thưa quả, cho chín sớm, những chất dùng trong thu hái hay vận chuyển Thuật ngữ thuốc trừ sâu không bao gồm phân bón, thức ăn gia súc, chất cho thêm vào thực phẩm và thuốc cho súc vật"

2.1.2 Phân loại hóa chất bảo vệ thực vật

Có nhiều cách phân loại HCBVTV khác nhau, xin nêu ra một số cách phân loại chủ yếu sau

2.1.2.1 Phân loại dựa vào đối tượng phòng chống

Theo Lê Trung (1997) [22], HCBVTV được chia thành

Thuốc trừ sâu (insecticide)

Thuốc trừ nấm và vi khuẩn (fungicide, bactericide)

Thuốc diệt loài gặm nhấm (rodenticide, zoocide)

Thuốc trừ ký sinh trùng (acarcide, miticide)

Trang 6

Thuốc trừ cỏ và cây dại (herbicide, arboricide)

Thuốc gây rụng lá (defulicunt)

Chất điều hòa sinh trưởng (grow regulator)

2.1.2.2 Phân loại dựa vào con đường xâm nhập

Theo Trần Quang Hùng (1999) [13]

Thuốc có tác dụng tiếp xúc: là những thuốc có thể gây độc cho cơ thể khi

chúng tiếp xúc và xâm nhập qua da

Thuốc có tác dụng vị độc: đầu độc cơ thể sinh vật khi chúng qua đường tiêu hóa Thuốc có tác dụng xông hơi: đầu độc sinh vật khi qua đường hô hấp Thuốc nội hấp: thuốc có thể xâm nhập vào trong cây và dịch chuyển ở

trong đó qua thân, lá hoặc rễ

Thuốc có tác dụng thấm sâu: thuốc có khả năng xâm nhập vào cơ thể qua

lớp biểu bì và thấm sâu vào lớp tế bào nhu mô

2.1.2.3 Phân loại dựa vào nguồn gốc cấu trúc hóa học

Trần Quang Hùng (1995) [12] phân chia HCBVTV theo cấu trúc hóa học

và nguồn gốc thành các nhóm sau:

Nhóm 1: Nhóm lân hữu cơ: diazinon, diclorvos, triclorfon

Nhóm 2: Nhóm clo hữu cơ: lindane, DDT, dieldril, 2,4- D, thiodane Nhóm 3: Các hợp chất chứa acid phenoxy alkanic

Nhóm 4: Các hợp chất các bon mạch thẳng, vòng và các chế phẩm của nó Nhóm 5: Nhóm carbamat: carbaryl, carbofuran

Nhóm 11: Các chất chứa urê

Nhóm 12: Các loại thuốc còn lại

Trang 7

2.1.2.4 Phân loại theo nhóm độc

Bảng 2.1: Phân loại HCBVTV theo nhóm độc theo WHO

Độc cấp tính LD 50 (chuột nhà) mg/kg Phân loại và ký hiệu

II Độc trung bình 50-500 200-2000 100-1000 400-4000

III Độc ít 500-2000 2000-3000 >1000 >4000

2.2 Tình hình sản xuất và sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật

Theo Phùng Thị Thanh Tú (1994) [23], từ lâu con người đã biết sử dụng

một số sản phẩm tự nhiên để diệt trừ sâu hại bảo vệ cây trồng như các hợp chất

asen, đồng, các hợp chất chứa flo có nguồn gốc thực vật và dầu sa khoáng Cũng

theo Nguyễn Xuân Thành (1997) [18]: thuốc trừ sâu thảo mộc là loại thuốc dân

gian được điều chế, chiết xuất từ thực vật, một trong những cây thuốc được sử

dụng sớm nhất để diệt trừ sâu hại là cây thuộc họ cúc (Asteraceae) có chứa hợp

chất pyrethrin, các cây họ đậu có chứa hợp chất retenon

Theo Lê Trung (1997) [22] cho biết, cuối thế kỷ 19 người ta đã bắt đầu

nghiên cứu một cách có hệ thống việc sử dụng hóa chất bảo vệ mùa màng

Năm 1867, các hợp chất asen được nghiên cứu ứng dụng ở Hoa Kỳ Năm 1913

ở Đức, hợp chất thủy ngân hữu cơ đầu tiên được sử dụng để bảo quản hạt

giống Năm 1924 Zeidler đã tổng hợp được DDT nhưng phải đến năm (1939),

Muler mới phát hiện ra khả năng diệt sâu hại của nó Sau đó các hợp chất clo

hữu cơ, carbamat, các hợp chất phospho hữu cơ được phát hiện và sử dụng

rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới

Theo Phùng Thị Thanh Tú (1994) [23], từ sau năm 1923 thuốc trừ sâu

tổng hợp được ra đời, nhóm thuốc trừ sâu được dùng sớm nhất là DDT, HCH

tiếp theo là các eldrin, dieldrin Các chất này tồn tại quá lâu trong môi trường

Trang 8

và tích lũy trong cơ thể động vật gây hại cho môi trường và con người Do đó ngày nay, một số nước đã cấm dùng Vì vậy mà hiện nay các nước trên thế giới đang mở rộng hướng nghiên cứu và khuyến khích sử dụng các phương pháp sinh học phòng trừ tổng hợp dịch hại để hạn chế tác dụng độc hại đến môi trường Tuy nhiên, thuốc bảo vệ thực vật vẫn được dùng với khối lượng rất lớn, vi sinh vật hại ngày một thích nghi cao hơn với điều kiện sống và nhanh chóng quen thuốc Để đảm bảo có thu hoạch người ta vẫn phải sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật

2.2.1 Tình hình sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật trên thế giới

Theo Lê Trung (1997) [22], chi phí cho thuốc trừ sâu trên thế giới là rất cao, điển hình năm 1972 cả thế giới phải chi ra đế 3 tỷ USD cho thuốc trừ sâu,

đến năm 1985 là 15,9 tỷ USD tương đương với 3 triệu tấn hoạt chất thuốc trừ sâu Ước tính khoảng 20% tức khoảng 600.000 tấn được sản xuất cho các nước đang phát triển

Theo Agnes Rola, Prablu Pingali (1993) [54] chi phí cho thuốc trừ sâu lúa ở một số quốc gia năm 1988 như sau:

Bảng 2.2: Chi phí cho thuốc trừ sâu lúa ở một số quốc gia năm 1988 (triệu USD)

Tên nước

Thuốc trừ cỏ

Thuốc trừ sâu

Thuốc trừ nấm

Thuốc khác Tổng Tỷ lệ (%)

Trang 9

Như vậy, trong năm 1988 Việt Nam là một trong những quốc gia sử dụng ít HCBVTV, nhưng hiện nay Việt Nam lại là một trong những quốc gia

sử dụng nhiều hoá chất bảo vệ thực vật và cường độ sử dụng tập trung ở các tỉnh đồng bằng và ven đô, Nhật Bản và Trung Quốc vẫn là một trong những quốc gia sử dụng nhiều HCBVTV nhất châu á

Riêng khu vực châu á-Thái Bình Dương năm 1985 đã phải chi cho HCBVTV là 2,53 tỷ USD trong đó thuốc trừ sâu chiếm 75,8%, thuốc trừ cỏ chiếm 13,4% và 8,4% là thuốc trừ nấm

Theo Thu Thủy (2001) [20] khoảng 30% hóa chất trừ sâu sử dụng ở các nước đang phát triển có độ độc cao

Theo Sneh Bhandari (2003) [28], năm 1995 toàn thế giới sử dụng đến 2,6 triệu tấn hoạt chất HCBVTV tương đương với 38 tỷ đô la trong đó 85%

được sử dụng trong nông nghiệp

2.2.2 Tình hình sử dụng HCBVTV ở Việt Nam

Theo Truyet T Mai và Quang M Nguyen (2003) [57] cho biết, ở Việt Nam năm 2000 khoảng 43 nghìn tấn HCBVTV được nhập khẩu, con số này chưa bao gồm 1,5 triệu tấn hoá chất độc cao được nhập lậu và bán trôi nổi trên thị trường Mặc dù chúng ta đã có các nhà máy sản xuất HCBVTV hàng năm cho ra 130.000 tấn mà lượng HCBVTV nhập lậu không ngừng tăng lên

Cũng theo Truyet T.Mai và Quang M Nguyên (2003) [57], DDT được sử dụng lần đầu tiên ở Việt Nam năm 1949, năm 1961 có 315 tấn DDT đã được sử dụng tại Việt Nam, đây là loại hoá chất rất bền, tồn lưu rất lâu trong môi trường

và đang được xếp vào danh sách các hoá chất nghi ngờ ảnh hưởng đến nội tiết Tuy nhiên khi nhận thấy tác hại của DDT đối với môi trường và sinh vật thì đã

có có 24.042 tấn DDT được nhập vào Việt Nam từ năm 1957- 1990, và đến năm 1992 DDT đã bị cấm sử dụng tại Việt Nam nhưng đến tận năm 1994 DDT vẫn được nhập khẩu vào nước ta từ CHLB Nga

Theo Lê Trung (1994) [22] và Phạm Khắc Hiếu (1998) [11] tình hình sử dụng HCBVTV ở Việt Nam được thể hiện qua bảng 2.3

Trang 10

Bảng 2.3: Số lượng hoạt chất HCBVTV được sử dụng ở Việt Nam (1991-1994)

1991 1992 1993 1994 Nhóm chất Lượng

(kg)

Tỷ lệ

%

Lượng (kg)

Tỷ lệ

%

Lượng (kg)

Tỷ lệ

%

Lượng (kg)

Tỷ lệ

%

Thuốc trừ sâu 17590 82,2 18100 74,13 17700 69,15 20500 68,33

Thuốc trừ bệnh 2700 12,6 2800 11,5 3800 14,84 4650 15,5 Thuốc trừ cỏ 500 3,3 2600 10,65 3050 11,91 3500 11,7

Các thuốc khác 410 1,9 915 3,75 1015 4,1 1350 4,5

Tổng 21.400 100 24.415 100 25.600 100 30.000 100

Như vậy, số lượng HCBVTV được sử dụng ở nước ta trong các năm liên tục tăng lên đặc biệt là thuốc trừ cỏ và thuốc trừ bệnh

2.3 Tác hại của hoá chất bảo vệ thực vật

Theo Truyet T Mai và Quang M Nguyen (2003) [57], việc sử dụng một lượng lớn HCBVTV trong nông nghiệp bảo quản các sản phẩm nông nghiệp và để chống lại bệnh tật, ký sinh trùng (như bệnh sốt rét), diệt muỗi, mối đã gây nên hậu quả ô nhiễm hoá chất nghiêm trọng đối với môi trường

và con người Những hợp chất hữu cơ bền vững như PCB, HCB (hexachlorobenzen), HCH (hexachloro hexanes), dioxin, furan, và DDT là những nhân tố gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng trên thế giới nói chung

và Việt Nam nói riêng

Sự ô nhiễm hoá chất trong môi trường sẽ ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến con người gây nhiều tác hại khôn lường, theo các báo cáo gần đây số trường hợp trúng độc cấp tính do HCBVTV ngày một gia tăng, điều đó cảnh báo tác hại của HCBVTV trong môi trường sống cũng như trong thực phẩm

mà hàng ngày con người phải đối diện

2.3.1 Tình hình nhiễm độc HCBVTV trên thế giới

Phùng Thị Thanh Tú (1994) [23] chỉ ra rằng số người bị nhiễm độc HCBVTV ngày một gia tăng trên thế giới, ước tính hằng năm trên thế giới có

Trang 11

20.640 người bị chết vì HCBVTV Cũng theo WHO, năm 1981 toàn thế giới có 750.000 người bị nhiễm độc HCBVTV Riêng ở Mỹ có khoảng 3000 công nhân

bị nhiễm độc hàng năm, ở Indonesia từ năm 1974 - 1982 có ít nhất 1.065 người

bị nhiễm độc HCBVTV trong đó có 54 người chết ở Malaysia từ năm

1977-1981 có 569 người bị chết do HCBVTV ở Thái Lan ước tính hàng năm có ít nhất 1000 người bị nhiễm độc HCBVTV và khoảng 100 người tử vong Như vậy, số trường hợp nhiễm độc và tử vong do HCBVTV ngày một tăng, nguyên nhân có thể do tiếp xúc trực tiếp với nguồn hoá chất hoặc do chúng tồn tại trong thức ăn, nước uống hay không khí ảnh hưởng lâu dài đến sức khoẻ con người

Cũng theo Dudani (1999) [32] cho biết ở Trung Quốc năm 1993 có 10.000 người chết do nhiễm độc HCBVTV, ở Philipin từ tháng 1/1992 đến tháng 3/1993 có 1.303 trường hợp trúng độc Một nghiên cứu khác ở trung tâm Luzon cho thấy hàng năm có gần 900 nông dân bị chết/1 tỉnh do nhiễm

độc HCBVTV, tỷ lệ tử vong tăng 27% Một công ty sản xuất thuốc trừ sâu lớn

ở Anh đã phải nộp khoản tiền bồi thường là 90.000 USD cho việc làm gia tăng nguy cơ gây ung thư do PCP và Lindane

Theo Lê Trung (1994) [22] ước tính số người nhiễm độc HCBVTV hàng năm trên thế giới theo WHO qua hình 2.1

Tiếp xúc dài ngày, tổn thương mạn tính

không đặc hiệu

Tiếp xúc dài ngày, tổn thương mãn tính

và đặc hiệu Tiếp xúc một lần và ngắn ngày kể cả tự tử

37.00 người 755.000 người

3.000.000 người trúng độc (220.000 tử vong)

Hình 2.1 Số người bị nhiễm độc HCBVTV hàng năm trên thế giới (theo WHO)

Trang 12

Như vậy số người bị nhiễm độc cũng như tử vong trên thế giới do tác hại của chính những hoá chất bảo vệ thực vật được con người sử dụng là rất lớn, những con số trên chỉ là những con số thống kê được, còn chưa kể đến những trường hợp trúng độc mãn tính hoặc dư lượng HCBVTV cao trong cơ thể gây

ra những bệnh hiểm nghèo khác

2.3.2 Tình hình nhiễm độc HCBVTV ở Việt Nam

Theo Truyet T.Mai, and Quang, Nguyên (2003) [57], ô nhiễm hoá chất

đe doạ sự an toàn và sức khoẻ cộng đồng, ảnh hưởng đến chất lượng các sản phẩm nông nghiệp, tiêu biểu là số vụ ngộ độc tăng lên hàng năm

ở Việt Nam, năm 1998-1999 có 8.758 vụ ngộ độc thực phẩm với 10.034 người bị trúng độc nghiêm trọng làm 198 người tử vong Năm 2001 có 6.962

vụ ngộ độc làm 7.613 người bị nhiễm độc và 187 người tử vong

Theo thống kê của ủy ban Y tế dự phòng Bình Thuận, trong năm 2004 ở Bình Thuận đã xảy ra 6 vụ ngộ độc hàng loạt, 144 người nhiễm độc và 4 trường hợp

tử vong

2.3.3 Tác hại chung của HCBVTV

Theo U.S Environment Protection Agency (2004) [58], Trần Quang Hùng (1995) [12], hầu hết các HCBVTV đều có hại cho con người, chúng có thể tồn tại trong cơ thể người, động vật và môi trường, chúng cũng độc với những loại côn trùng có ích và các loại thuỷ sản khác

Căn cứ vào tác động độc hại đối với con người mà người ta chia HCBVTV thành 2 loại:

Chất độc nồng độ (concentration poison): các chất này gây độc cho cơ

thể phụ thuộc vào nồng độ thuốc xâm nhập vào cơ thể

Chất độc tích luỹ chúng có thể tích luỹ trong các mô bào động vật và gây

hại cho chính động vật đó và có thể gây ảnh hưởng lâu dài cho con người thông qua chuỗi thức ăn

Trang 13

Theo Việt Linh [15], các nhà khoa học tại Đại học Bristol tiến hành thí nghiệm cho thấy thuốc trừ sâu có thể liên quan đến hầu hết các ca bệnh ung thư bạch cầu ở trẻ em và cho hay đang thu thập bằng chứng để làm rõ nhận

định này Tiến sĩ khoa học Margret Sanders và đồng nghiệp tại Đại học Bristol cho biết "chất hoá học được sử dụng làm thuốc trừ sâu như DDT và một số hợp chất hữu cơ clo có thể xâm nhập qua nhau thai rất nhanh Thí nghiệm cũng cho thấy nếu người mẹ ăn thức ăn có nhiễm HCBVTV chúng sẽ qua nhau thai vào bào thai, hiện nay chúng ta chưa biết mức độ ảnh hưởng của chúng như thế nào, nhưng chúng ta biết bệnh bạch cầu ở trẻ em bắt đầu từ khi bào thai phát triển trong tử cung và thuốc trừ sâu có thể là một trong những nhân tố"

Cũng theo một số nghiên cứu về tác hại của HCBVTV, mỗi loại HCBVTV có tác

động khác nhau, có thể tổng hợp sự tác động của chúng qua hình sau

Độc sinh học

Độc bào thai

Dị ứng

Sinh tế bbào non

Mang HCBVTV

U lành tính

U ác tính

Biểu hiện tác động gây bệnh trên người của HCBVTV

Hình 2.2 Biểu hiện tác động gây bệnh trên người của HCBVTV

Trang 14

2.3.4 Gây trúng độc m∙n tính

Theo Perry (1998) [51] trạng thái trúng độc mãn tính là trạng thái trúng

độc trường diễn, thuốc BVTV xâm nhập vào cơ thể thành từng liều nhỏ trong thời gian kéo dài thường là 6-18 tháng đối với động vật lớn hoặc cả đời đối với

động vật nhỏ

Trần Quang Hùng (1999) [13] cho biết mỗi loại hóa chất được công nhận là HCBVTV đều phải qua kiểm tra độ độc mãn tính bao gồm: khả năng tích lũy trong cơ thể người và động vật máu nóng, khả năng gây đột biến tế bào, kích thích tế bào khối u phát triển, ảnh hưởng của hóa chất đến bào thai gây dị dạng đối với thế hệ sau

Tuy vậy, khi con người tiếp xúc với HCBVTV một cách thường xuyên

và lâu dài với thuốc (mặc dù thuốc đó đã được qua kiểm tra và ở nồng độ an toàn) có thể gây trúng độc mãn tính, làm suy yếu sự hoạt động chức năng của một số cơ quan đặc biệt là hệ thống miễn dịch Nhiều chất được tích lũy trong lớp mỡ dự trữ, khi cơ thể cần năng lượng lớp mỡ dự trữ đó được huy động lúc

đó chất độc mới được đưa trở lại máu và phát huy tác dụng độc hại đối với cơ thể, tạo điều kiện cho các bệnh mãn tính khác kế phát thậm chí có thể còn gây biến đổi tế bào gây ung thư

2.4 Dư lượng của hóa chất bảo vệ thực vật

Theo Vũ Hài (2001) [9] và Trần Quang Hùng (1999) [13] cho biết theo tiểu ban danh pháp dinh dưỡng của Liên Hợp Quốc định nghĩa "Dư lượng thuốc bảo vệ thực vật là những chất đặc thù tồn lưu trong lương thực, thực phẩm, trong sản phẩm nông nghiệp và trong thức ăn vật nuôi mà do sử dụng thuốc gây nên" Những hợp chất "đặc thù" này bao gồm "dạng hợp chất ban đầu, các dẫn xuất đặc hiệu, sản phẩm phân giải, chuyển hóa trung gian, các sản phẩm phản ứng và các chất phụ gia có ý nghĩa về mặt độc lý"

2.4.1 Động thái của HCBVTV trong môi trường

Việc sử dụng HCBVTV trong nông nghiệp, lâm nghiệp, y tế là nguồn gốc sinh ra tồn lượng của HCBVTV trong môi trường, sự tồn lưu và luân chuyển của chúng trong môi trường thể hiện qua hình sau:

Trang 15

H×nh 2.3: Sù di chuyÓn HCBVTV trong m«i tr−êng

Trang 16

2.4.2 Tồn lượng của HCBVTV trong đất

Theo các nhà khoa học [41], [43], [44], [45] cho biết, việc sử dụng HCBVTV có liên quan trực tiếp đến môi trường đất và nước Khoảng 50% thuốc trừ sâu được phun ra rơi xuống đất còn chưa kể đến biện pháp bón thuốc trực tiếp vào đất để diệt cỏ và tuyến trùng Thuốc bảo vệ thực vật tồn dư trong

đất với một lượng lớn, tốc độ phân giải chậm đặc biệt là những hóa chất có thời gian bán hủy sinh học dài, và một phần bị nước rửa trôi gián tiếp gây nhiễm bẩn nguồn nước, hơn nữa còn do việc dùng thuốc, rửa bình, vỏ thuốc Theo thống kê của chương trình môi trường Liên Hợp Quốc (UNEP) thì một năm sau khi phu thuốc lượng DDT còn lại 80%, lindane còn lại 60%, heptaclo còn 10% và aldrin còn 20% trong đất Sau 3 năm DDT vẫn còn lại đến 50%

Các hợp chất clo hữu cơ tồn tại trong đất đến 4-5 năm, carbamat 1-2 năm Trong các loại đất, đất trồng rau quả bị ô nhiễm nặng nề nhất do cường

độ sử dụng HCBVTV và thời gian trồng ngắn, đối tượng cây trồng rộng và đối tượng sâu bệnh nhiều

2.4.3 Tồn lượng của HCBVTV trong nước

Theo các tác giả Phùng Thị Thanh Tú (1994) [23] và [41], cho biết tồn lượng của HCBVTV trong nước là hậu quả tất yếu của các quá trình chu chuyển của chúng trong môi trường HCBVTV vào nước bằng nhiều đường khác nhau, do trực tiếp để diệt côn trùng và sâu bọ trong nước, hoặc do các khu rừng hay các vùng đất nông nghiệp bay đến, bị các trận mưa rửa trôi, do nước chảy qua các vùng có dùng thuốc trừ sâu hay các nguồn khác

Người ta ước tính có đến 213 tấn HCBVTV đã theo bụi và mưa đổ xuống

Đại Tây Dương hằng năm Sự ô nhiễm nước do HCBVTV bền vững ở dạng bụi thuốc trong không khí là rất đáng kể chưa kể hàng năm có hàng chục ngàn tấn DDT được đưa vào nước để diệt muỗi HCBVTV có thể thấm qua các tầng

đất gây ô nhiễm tầng nước ngầm

Năm 1992 theo báo cáo của U.S EPA cho biết đã tìm thấy 132 hợp chất thuốc trừ sâu, 117 chất gốc và 16 loại thuốc trừ sâu trong nước của 42 bang nước Mỹ, 119 chất được phát hiện phổ biến nhất là aldicarb, alachlor, thuốc trừ

Trang 17

cỏ, 2,4-D, và hàng tá các chất khác nữa Người ta cũng phát hiện trong nước giếng của dân địa phương cũng có chứa hoá chất bảo vệ thực vật

Từ năm 1991-1995 U.S Geological Survey đã kiểm tra 5000 mẫu nước suối và nước giếng thấy có ít nhất một loại HCBVTV trong mỗi mẫu Trong đó diazinon và chlorpyrifos phát hiện thấy nhiều nhất ngoài ra còn các HCPPHC khác, 2,4-D

Một nghiên cứu ở bang California (Mỹ) cho thấy 22 loại HCBVTV đã

được tìm thấy trong 436 mẫu nước ngầm năm 1996, đặc biệt ở những vùng sản xuất nông nghiệp sự xuất hiện của HCBVTV trong nước càng thường xuyên hơn Sự luân chuyển của HCBVTV trong môi trường nước tự nhiên được thể hiện qua hình 2.4:

Hấp thụ ở lớp trầm lắng

dưới đất

Thuốc trừ sâu tan trong nước

Cá ăn cá

Cá "hiền"

Động vật nổi ăn thịt

Động vật nổi ăn thực vật

Cá tầng đáy ĐV ăn thịt trong đất

SV tiêu thụ chất thối rữa, cặn bã

Hình 2.4: Sơ đồ tuần hoàn của các loại thuốc trừ sâu trong hồ nước tù

Trang 18

2.4.4 Tồn lượng của HCBVTV trong không khí

Theo các tác giả Phùng Thị Thanh Tú (1994) [23] và [30], [32], [47], [48], [49] sau khi dùng thuốc BVTV cho một vùng nào đó sẽ gây nhiễm bẩn một vùng không khí theo phương thức xâm nhập từng đợt và phóng thích liên tục những lượng nhỏ vào không khí

Sự xâm nhập từng đợt vào không khí: đây là đường xâm nhập quan

trọng và nghiêm trọng nhất vào không khí, khi dùng thuốc ngoài trời có thể là

điều kiện chủ yếu để thuốc xâm nhập vào không khí Sự xâm nhập này bao gồm các dạng:

+ Xâm nhâp dưới dạng bụi lỏng hoặc khí, khi thuốc BVTV được phun ra, gió

sẽ mang theo những hạt chứa thuốc có kích thước như hạt bụi có thể lơ lửng trong không khí và theo gió đưa đi khắp nơi, sự xâm nhập này cũng có thể do gió bào mòn các vùng đất khô có chứa HCBVTV, bụi khô có tốc độ và khả năng phát tán xa hơn bụi lỏng đặc biệt khi phun thuốc bằng máy bay

+ Sự xâm nhập dưới dạng hơi do bay hơi từ bề mặt có dùng thuốc đặc biệt với những thuốc dễ bay hơi như lindane, aldrin tốc độ bay hơi phụ thuộc vào tính chất hóa học của thuốc, dạng điều chế, dụng cụ sử dụng, cách sử dụng và

đặc biệt là tốc độ gió Người ta tính được tỷ lệ bay hơi của DDT là 12% và của aldrin là 50%

Ngoài ra các HCBVTV sử dụng trong công nghiệp, bảo quản nông sản,

vệ sinh môi trường, y tế thậm chí trong chiến tranh, sự thiếu thận trọng trong quá trình sản xuất làm hở và thoát một lượng lớn HCBVTV ra ngoài môi trường gây ô nhiễm một vùng không khí rộng lớn

Sự xâm nhập không liên tục do các bề mặt tiếp xúc với thuốc trở thành nguồn dự trữ thuốc để từ đó thuốc xâm nhập vào không khí với từng lượng nhỏ theo gió Nếu một diện tích lớn sử dụng HCBVTV sẽ là mối nguy hiểm lớn đối với không khí

Trang 19

Phùng Thị Thanh Tú (1994) [23] cho biết HCBVTV có thể phát tán rất xa,

ví dụ bụi HCBVTV ở Bắc và Trung Phi có thể lan tới Nam Đại Tây Dương Ngay tuyết ở vùng Bắc cực cũng chứa HCBVTV, người ta ước tính trong 25 năm thì có khoảng 2.500 tấn DDT được đưa tới Bắc cực Người ta cũng tìm thấy HCBVTV ở

độ cao 80-200 m sau 3- 8 ngày phun thuốc bằng máy bay

Với thực trạng này thì các làng quê Việt Nam là nơi phải hứng chịu nhiều nhất chính những HCBVTV mà người ta sử dụng do đặc điểm phân bố dân cư tập trung và các cánh đồng bao quanh, nên thuốc trừ sâu có thể tác động trực tiếp đến đời sống con người qua không khí, nguồn nước và chính những nông sản của họ

2.4.5 Tồn lượng của HCBVTV trong thực vật

Phùng Thị Thanh Tú (1994) [23] và Trần Quang Hùng (1995) [12] trong quá trình sử dụng thuốc trừ sâu có thể được đưa vào thực vật bằng nhiều đường khác nhau, có thể tác động trực tiếp khi phun, rắc, bón, tưới qua rễ cây hoặc do nguồn đất và nước bị ô nhiễm Cây trở thành một vật mang để cuối cùng hại chính nó và cho con người, các động vật khác Ví dụ nếu dư lượng DDT trong nước chỉ là 20 mg/l thì trong thực vật thủy sinh là 31 mg/kg Người ta cũng thấy rằng trên 1 hecta đất xử lý bằng 11,4 kg Lindane thì sau 2-3 năm dư lượng Lindane trong khoai tây là 0,6 mg/kg trong cà rốt là 4,4 mg/kg

Theo Phùng Thị Thanh Tú (1994) [23], nếu trong đất trồng khoai môn có hàm lượng DDT là 20,0 mg/kg thì hàm lượng DDT trong khoai môn là 4,6 mg/kg Nếu trong đất trồng khoai mì (sắn) có hàm lượng DDT là 20,2 mg/kg thì trong khoai mì là 5,5 mg/kg

Như vậy, HCBVTV sau khi thâm nhập vào cơ thể chúng không tham gia vào quá trình trao đổi năng lượng mà tích lũy lại trong cơ thể đặc biệt những chất có thời gian bán hủy sinh học dài, điều này rất nguy hiểm bởi người ta có thể tính toán liều lượng thấp nhất để không gây hại cho người và

động vật, nhưng khi dùng một thời gian dài người ta lại thấy có sự biến đổi dần dần trong sinh giới, đến khi phát hiện ra tác hại tích tụ của chúng trong

Trang 20

chuỗi thức ăn thì hàng chục ngàn tấn đã được sử dụng và chúng ngày ngày gây nguy hiểm cho con người và những động vật khác

Theo Trần Quang Hùng (1995) [12] thuốc BVTV được cây hấp thụ chuyển vào tích luỹ chủ yếu trong các bộ phận sinh trưởng và dự trữ chất dinh dưỡng của cây qua đó vào cơ thể động vật và người theo chuỗi thức ăn

2.4.6 Tồn lượng của HCBVTV trong nông sản

Khả năng thuốc tồn tại lâu dài một phần là cần thiết để phòng trừ sâu bệnh

có hiệu quả nhưng chúng lại ảnh hưởng đến con người và môi sinh Sự tồn lưu của HCBVTV trong nông sản phụ thuộc vào loại HCBVTV được sử dụng (có thời gian bán huỷ sinh học dài hay ngắn), thời gian dùng thuốc trước khi thu hoạch…vì vậy tổ chức FAO đã đưa ra mức tồn lượng tối đa (Maximum Residue Limit- MRL) cho phép đối với từng loại thuốc và từng loại nông sản ở mỗi nước căn cứ vào tình trạng vệ sinh môi trường, trình độ dân trí và nhận thức của người dân từ đó nâng cao dần chất lượng sản phẩm và hạ thấp dần mức dư lượng HCBVTV tối đa cho phép trong từng loại thực phẩm và nông sản mà xác

định mức dư lượng tối đa cho từng loại thuốc

MRL là lượng chất độc cao nhất được phép tồn lưu trong nông sản đó dùng làm thức ăn, được tính bằng mg/kg nông sản

Theo Vũ Hài và cộng sự (2001) [9], thời gian cách li tính từ ngày cây trồng (hoặc sản phẩm cây trồng) được xử lý thuốc lần cuối cùng cho đến ngày thu hoạch nông sản làm thức ăn cho người và vật nuôi mà không tổn hại đến cơ thể Trong thời gian này thuốc chuyển hoá đến mức không độc, hoặc chỉ còn lại dư lượng tối đa cho phép theo từng loại thuốc trên từng loại cây trồng Vì vậy thời gian cách li là khác nhau đối với từng loại thuốc và cây trồng khác nhau, nếu trong quá trình sản xuất chưa hết thời gian cách li đã thu hoạch sản phẩm và sử dụng con người và vật nuôi có thể có nguy cơ bị trúng độc và nguy hiểm đến tính mạng Tuy nhiên trong thực tế sử dụng người dân chưa thực sự quan tâm đến thời gian cách li của thuốc hoặc vì lợi

Trang 21

nhuận mà không quan tâm đến sự nguy hiểm đối với người khác, dẫn đến các vụ ngộ độc nghiêm trọng đặc biệt trên rau xanh

2.4.7 Tồn lưu của HCBVTV trong cơ thể người và quần thể động vật

Phùng Thị Thanh Tú (1994) [23] cho biết các nhà khoa học đã tìm thấy DDT trong mô mỡ của người dân trong các nước như sau: ở Hungari là 12,4 mg/kg, Mỹ là 6,98 mg/kg; Canada 3,8 mg/kg, Hà Lan là 2,2-7,1 mg/kg; Đan Mạch là 3,3 mg/kg và Italia là 16,4 mg/kg Lượng DDT trung bình trong huyết thanh người ở Malaysia là 0,66 mg/l; lượng xiclodien là 0,02 ở Malaysia và 0,0015 ở Mỹ

Theo Truyet T Mai và cộng sự [57] trong một nghiên cứu ở Nghệ An cho thấy DDT tồn lưu trong một kho chứa từ năm 1965-1985 với hàm lượng 3,38 và 960,6 mg/kg trong đất; 0,00012 và 0,00168 mg/l trong nước Sau nhiều năm DDT đã phát tán ra xung quanh với bán kính 600 m Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng trong khu vực đó đã có 25 người chết do bệnh ung thư và 22 con chim chết có hàm lượng DDT rất cao từ 4.220 –7.300 ppb, người ta cũng phát hiện thấy DDT trong sữa người dân địa phương

Trong một nghiên cứu năm 2002 ở 16 mẫu thực phẩm bao gồm thịt lợn, cá, thịt bò, thịt vịt và thịt cóc cho thấy hàm lượng dioxin là 0,025 - 331 ppt (part per trillion – phần triệu triệu), HCH là 8,6 - 919 ppt; PCB là 17- 8216 ppt; HCB là 1391 ppt; DDT là 46 - 44,72 ppt và DDE là 305-149,41 ppt

2.4.8 Tồn lượng của HCBVTV trong chuỗi thức ăn

Các chất độc bắt đầu tích tụ trong chuỗi thức ăn, các mắt xích đầu tiên của chuỗi thực phẩm thường có lượng chất độc nhỏ còn các mắt xích cuối thì

có thể đủ đê gây ngộ độc ở động vật tiêu thụ, chúng sử dụng một phần thức

ăn vào quá trình xây dựng cơ thể, số còn lại tham gia vào quá trình trao đổi năng lượng, nhưng các độc tố không tiêu huỷ lại không tham gia trao đổi năng lượng mà tích tụ lại trong cơ thể đặc biệt những chất có thời gian bán huỷ sinh học dài Hệ số tích luỹ của các chất độc không phân huỷ đặc biệt các thuốc trừ

Trang 22

sinh vật hại trong phần lớn trường hợp là gần 10 lần, theo Ronald Schmidt và cộng sự (2003) [52] Như vậy chuỗi thức ăn càng dài, càng nhiều mắt xích thì các mắt xích sau lượng chất độc không phân huỷ càng nhiều đến mức gây chết cho động vật tiêu thụ Sự tích tụ tăng lên do phản ứng chậm chạp và những hoạt động hạn chế của vật mang chất độc Trong những loại chất độc thường xuyên xâm nhập vào cơ thể người thì 70% qua thức ăn và 20% từ không khí, 10% còn lại qua nước uống

2.5 Độc tính của một số loại HCBVTV

2.5.1 Các HCBVTV thuộc nhóm Clo hữu cơ (HCCLHC)

Theo Trần Quang Hùng (1995, 1999) [12], [13], và Phùng Thị Thanh Tú (1994) [23] cho biết HCBVTV thuộc nhóm clo hữu cơ là loại đầu tiên được sử dụng và ngày nay vẫn dùng để diệt côn trùng và diệt muỗi Các chất này là dẫn xuất clo của hydro cacbon đa nhân, các xyclo parafin, các tecpen và bezen như aldrin, BHC, DDT, HCH, clodan…các chất này đều có clo trong phân tử nên tác động của chúng nhiều lúc giống nhau, chỉ khác nhau về mức độ độc tính và biểu hiện lâm sàng Đặc tính chung của nhóm này là có độ độc cao (thuộc nhóm độc I và II) rất bền vững ngoài môi trường gây ô nhiễm lâu dài nguồn đất, nước và tích luỹ trong cơ thể sinh vật nên nhìn chung đã bị đưa vào danh sách cấm sử dụng

Theo một số tác giả nghiên cứu về độc tính của nhóm HCCLHC [11], [13],25], [26], [22] cho biết HCCLHC có tác dụng hỗn hợp, vừa độc qua tiếp xúc vừa độc qua đường tiêu hoá, tuy nhiên chúng có thể xâm nhập vào cơ thể qua đường tiêu hoá, hô hấp, qua da và được thải chậm qua thận Sau khi được hấp thu chúng có thể xâm nhập qua màng tế bào, do tính chất ưa mỡ nên chúng được tích luỹ trong các tổ chức đặc biệt các mô mỡ, lớp màng của tế bào thần kinh Trong gan, thận và cơ tim cũng có một lượng đáng kể, tại đó chúng gây tổn thương mô bào, các hệ thống men quan trọng làm ảnh hưởng quá trình chuyển hoá và hô hấp mô bào gây thiếu oxy ở mức độ mô bào

Trang 23

Các HCCLHC do có khả năng tích luỹ nên dễ gây độc mãn tính với triệu chứng thần kinh là chủ yếu, đặc biệt chúng tác động lên hệ thống màng axon của tế bào thần kinh Do tác động của thuốc làm sự cân bằng ion K+ và Na+ ở các màng này bị rối loạn, sự chuyển hoá các amin sinh học ở não cũng bị rối loạn dẫn đến hàm lượng acetylcholin và serotonin ở não cũng thay đổi, gây rối loạn thần kinh Như vậy các HCCLHC trước tiên tác động đến não bộ sau là hành tuỷ gây ảnh hưởng đến toàn bộ hoạt động thần kinh của cơ thể

Theo Ngô Kiều Oanh (2002) [16] và một số tác giả [10],[11], [35], các HCCLHC là một trong những nguyên nhân chính gây rối loạn nội tiết Chúng gây ảnh hưởng hoặc làm mất chức năng hoạt động của các hormon điều tiết quá trình trao đổi chất, sinh trưởng, sinh sản của người và động vật Trong đó tetra clo dizenzo dioxin là một chất độc hại khó phân huỷ trong môi trường

được sử dụng làm chất diệt cỏ và được Mỹ sử dụng một lượng lớn trong chiến tranh Việt Nam đã gây hậu quả nghiêm trọng đối với môi trường và các thế hệ con người Việt Nam Theo Ngô Kiều Oanh (2002) [16] cho đến nay vẫn chưa

có lời giải thích đầy đủ về cơ chế gây rối loạn nội tiết của các HCCLHC (Endocrin Disrupting Chemicals – EDCs) song dựa trên một số nghiên cứu ở Nhật Bản và nhiều nước trên thế giới cho đến nay thì có thể giải thích như sau: Khi một hormon steroid được tổng hợp đưa vào máu và tới cơ quan đích, nó sẽ gắn với cơ quan thụ cảm ở đó và truyền tín hiệu để DNA tiến hành tổng hợp những protein đặc thù Khi EDCs cạnh tranh vị trí gắn của hormon và kết quả DNA thu

được thông tin sai lệch từ đó ra lệnh tổng hợp nên những protein không đúng với yêu cầu của cơ thể Như vậy khi một hoá chất gây rối loạn nội tiết gắn với thụ thể sẽ gây ra một tác động giống với hormon từ đó cản trở tác động của hormon

Những tác động giống hormon của các hoá chất như PCB, DDT và bisphenol A, chúng gắn với cơ quan thụ cảm của estrogen và hoạt động giống estrogen

Một số hoá chất như DDE, vinclozin… chúng gắn với cơ quan thụ cảm của androgen và ngăn cản hoạt động chức năng của kích tố này

Trang 24

Cũng theo Ngô Kiều Oanh (2002) [16], Phạm Khắc Hiếu (1998) [11] thì những tác động bất lợi trên cá, các loài bò sát, chim và động vật hoang dã khác, bao gồm chức năng sinh sản không bình thường, tập tính sinh sản bất thường, mất tính đực, hiệu quả nở trứng giảm…những nguyên nhân và hậu quả ngày nay vẫn đang được nghiên cứu và làm rõ

Theo các nhà nghiên cứu về độc tính của HCCLHC [10], [11], [32], [37], [39] đa số các hoá chất thuộc nhóm clo hữu cơ đều có khả năng tích luỹ trong cơ thể sinh vật, thời gian bán huỷ sinh học dài, do vậy chúng phải được quản lý nghiêm ngặt vì có liên quan đến sự mất cân bằng sinh thái và ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khoẻ con người Đặc biệt dioxin còn có khả năng gây đột biến gen ảnh hưởng đến chất lượng và sức khoẻ đời sau Tất cả các chất này đều được chứng minh là có thể gây ung thư cho người và động vật

a/ DDT (diclo diphenyl tricloetan)

Tên gọi khác: anofex, jeidan, chlorphenothane, gesarol…

Tên hoá học: 1,1,1-triclo-2,2-bis(P-clophenyl)etan

Công thức hoá học: C14H9Cl5

Phân tử lượng: M =354,5

C H

C.Cl 3

Cl Cl

Cấu trúc hoá học:

DDT có hai đồng phân 0, P’-DDT và P, P’-DDT nhưng loại có tác dụng kéo dài và phổ tác dụng rộng là P, P’-DDT

DDT nguyên chất ở dạng tinh thể không màu, có mùi mốc, nóng chảy ở

109oC, bay hơi ở 20oC là 2,7.10-6 mg/l, bay hơi ở áp suất 1,5.10-7 mmHg DDT dễ tan trong các dung môi hữu cơ (hydrocacbon thơm và các dẫn xuất của chúng, các xeton…), kém tan trong các hydrocacbon mạch thẳng và vòng, DDT là hợp chất bền vững không phân huỷ trong acid mạnh, dung dịch muối hoặc đun lâu trong nước Khi DDT phân huỷ chậm sẽ tạo ra 4,4’-diclophenyl axetic Dưới tác động

Trang 25

của kiềm hay tia cực tím, DDT bị phân huỷ thành DDE (Dichlo - diphenyl- etylen)

ít độc hơn với côn trùng ở điều kiện tự nhiên độc tính của DDT được duy trì 12 năm và chúng có thể tồn tại trong môi trường đến 20- 30 năm

Theo Phùng Thị Thanh Tú (1994) [23] trong điều kiện tự nhiên chỉ một lượng nhỏ DDT được phân huỷ còn lại bị chuyển hoá thành các hợp chất ít

độc hơn như DDE, DDD, DMC, dicofon, clobenzinat, metoxiclo

Trần Quang Hùng (1995, 1999) [12], [13] cho biết DDT là thuốc có tác dụng vị độc rất bền vững trong cơ thể sống, môi trường, sản phẩm động vật, thực vật Thuộc nhóm độc II, LD50 quang miệng là 113-118 mg/kg, LD50 qua

da 250 mg/kg, ADI 0,02 mg/kg Theo một số tiêu chuẩn về môi trường của Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường (1993) nồng độ tối đa cho phép trong môi trường lao động là 1 mg/m3 không khí, trong khí quyển là 0,05 mg/m3

Theo Phạm Khắc Hiếu (1998) [11], DDT xâm nhập vào cơ thể qua

đường tiêu hoá, hô hấp và da, nhưng đường hấp thu chủ yếu với số lượng lớn

là đường tiêu hoá DDT được tích luỹ lâu dài trong tổ chức mỡ của người và

động vật (do tính ưa mỡ của DDT), luân chuyển trong các sản phẩm tự nhiên của môi trường sống Vì vậy, mặc dù đã bị cấm sử dụng từ năm 1992 nhưng người ta vẫn tìm thấy chúng trong các cơ quan mô bào của người, động vật và thực vật ở những nơi trước đây đã từng sử dụng DDT với khối lượng lớn

Theo Phạm Khắc Hiếu (1998) [11] thì hàm lượng DDT trong máu và hoạt lực của enzime glucozo-6-phosphat-dehydrogenaza (G6PD)- là enzime có vai trò đảm bảo tính nguyên vẹn của hồng cầu, thiếu nó sẽ dẫn tới thiếu máu Người ta cũng chứng minh rằng DDT ảnh hưởng đến chức năng sinh sản của các loài chim, phá huỷ khả năng tích trữ vitamin A trong gan của động vật có

vú, chuột ăn thức ăn có nhiễm DDT thấy gan bị nhiễm độc nặng, bạch cầu tăng và kéo theo một số bệnh khác Khi nuôi các tế bào lympho của người

được xử lý bằng DDT thấy các nhiễm sắc thể bị gãy

Trang 26

Trường hợp nhiễm độc cấp tính của DDT thể hiện triệu chứng lâm sàng như sau: đau đầu, run rẩy, buồn nôn, nôn mửa, dị ứng da và niêm mạc, rối loạn vận động Các dấu hiệu có thể mất đi trong vài ngày Trường hợp nặng có thể thấy co giật thậm chí co thắt, hôn mê có thể dẫn đến tử vong, tổn thương gan, thận, cơ tim dạng thoái hoá và hoại tử

Nhiễm độc mãn tính có biểu hiện khó chịu, chuột rút, tổn thương da, rối loạn huyết học (mất bạch cầu đa nhân trung tính), thiếu máu, sút cân, tổn thương gan, thận, cơ tim, viêm đa thần kinh, rối loạn thần kinh trung ương và thần kinh ngoại vi

Một số nhà nghiên cứu về HCBVTV [10],[11],[28] và [30] cho rằng: HCH có 8 đồng phân trong đó đồng phân γ HCH có tính độc với côn trùng mạnh nhất

HCH ở dạng tinh thể có màu trắng xám, có mùi mốc khó chịu, sờ nhờn tay, dễ tan trong các dung môi hữu cơ, không bị phân huỷ bởi ánh sáng mặt trời, chất oxy hoá, acid đậm đặc nhưng dễ bị phân huỷ trong kiềm và nhiệt

HCH thuộc nhóm độc II, LD50 quan miệng là 88-125 mg/kg, LD50 qua

da 1000 mg/kg, ADI 0,01 mg/kg MRL 0,01-10 mg/kg, PHI 7-15 ngày (Châu

Âu) và 21-30 ngày (Mỹ, úc)

Trang 27

HCH có tác dụng vị độc, xông hơi và tiếp xúc, là loại thuốc có hoạt tính cao, phổ tác dụng rộng Thuốc tồn tại lâu trong môi trường, trong nông sản và tích luỹ trong cơ thể người, động vật và đặc biệt rất độc với cá nên từ lâu đã bị cấm sử dụng trên một số nước trên thế giới, một số nước khác bị sử dụng hạn chế và quản lý chặt chẽ

HCH có thể xâm nhập vào cơ thể qua đường tiêu hoá, hô hấp và qua da

Sự hấp thu qua da đóng vai trò quan trọng nhất đối với những đối tượng từng

có nghề nghiệp tiếp xúc với HCH Cường độ hấp thu sẽ nhanh và mạnh hơn trong môi trường có nhiệt độ và độ ẩm cao HCH có thể gây ra các phản ứng mẫn cảm tại chỗ, hơi thuốc có thể làm rộp mắt, mũi, cổ họng Vì vậy tuyệt đối không dùng HCH để diệt côn trùng trong nhà

Theo một số tác giả nghiên cứu về HCH Phạm Khắc Hiếu (1995,1998) [10], [11], [28], [33], [34] cho rằng sau khi vào cơ thể HCH được tích luỹ trong tổ chức mỡ, gan, thận, não Schutman A (1964) đã định lượng HCH trong tổ chức máu và mỡ của người tiếp xúc với HCH Kết quả cho thấy: ở mỡ lượng βHCH nhiều gấp 83 lần, αHCH gấp 124 lần và γHCH gấp 363 lần so với nồng độ của các chất này trong máu ở những người tiếp xúc lâu dài có biểu hiện nhiễm độc, HCH từ các cơ quan tích trữ lại được đưa vào máu và làm cho bệnh thêm trầm trọng hơn HCH thải trừ rất chậm khỏi cơ thể, 54% thải trừ qua nước tiểu, 13% được thải qua phân

Theo các nhà khoa học [11] và [51] biểu hiện lâm sàng của nhiễm độc HCH về cơ bản giống nhiễm độc DDT Triệu chứng ban đầu là rối loạn tiêu hoá, thần kinh, có thể co giật trầm trọng, thường có phù não, phù màng não HCH làm rối loạn về máu (thiếu máu, mất bạch cầu đa nhân) và cơ quan tạo máu HCH còn tác động đến quá trình chuyển hoá, tạo enzim ở gan gây nhiễm

mỡ, thoái hoá tế bào gan, cơ tim, hoại tử mạch máu ở thận, phổi và não

2.5.2 Các HCBVTV thuộc nhóm Phospho hữu cơ (HCPPHC)

Theo các nhà nghiên cứu về HCBVTV [11], [51], [42] các HCPPHC là rất

Trang 28

độc đối với cơ thể nhưng trong thực tế chúng lại được sử dụng rộng rãi trong nông nghiệp và y tế Vì vậy nó đã trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học Trong nông nghiệp chúng được dùng làm thuốc trừ sâu, trong

Y học được dùng để nghiên cứu độc học, sinh lý học thần kinh và dược lý học Tất cả các hợp chất lân hữu cơ đều có công thức chung:

OH

O C

R 2 O

R 1 O

X

R1, R2 là những nhóm alkyl-, alkoxyl-, dialkilamin

X- là gốc acid vô cơ hoặc những nhóm hữu cơ nào đó

Căn cứ vào các kiểu cấu trúc khác nhau, người ta chia các nhóm HCPPHC thành 8 nhóm sau:

Kiểu cấu trúc Photphat (1)

Kiểu cấu trúc Photphoamidat (2)

Kiểu cấu trúc Photphonat (3)

Kiểu cấu trúc Photphorothiolat (4)

Kiểu cấu trúc Photphotionat (5)

Kiểu cấu trúc Photphorothiolothionat(6)

Kiểu cấu trúc Photphonothionat (7)

Kiểu cấu trúc Photphonothiolothionat (8)

O

O

O P O

O

S

O P O

O

(8) (7)

(6) (5)

O

S P

S O

O P

S C O

O P

S S O

S

P

O

O

Trang 29

Trần Quang Hùng (1999) [13], các HCPPHC, khi S thay thế cho O thì

độ độc ít hơn Để tiện sử dụng người ta chia chúng thành 2 nhóm theo phương thức tác động gồm nhóm phospho hữu cơ tiếp xúc và phospho hữu cơ nội hấp Tất cả các HCPPHC đều độc với người và động vật máu nóng, độ độc còn cao hơn các hợp chất carbuahydro có chứa clo

2.5.2.1 Chuyển hoá các HCPPHC trong cơ thể

Phạm Khắc Hiếu (1998), [11] cho rằng các HCPPHC được hấp thu tốt trong đường tiêu hoá, da và niêm mạc đường hô hấp Sau khi vào đường tiêu hoá, chỉ một ít được thải trừ theo phân ở dạng không biến đổi, đặc điểm dễ tan trong lipid, các HCPPHC hấp thu nhanh chóng vào máu, các dịch thể của tổ chức đạt nồng độ cao trong các synap thần kinh trung ương và ngoại vi Các HCPPHC và các sản phẩm chuyển hoá của nó tập trung cao nhất ở gan và dần

được thải trừ qua đường tiết niệu Có hai xu hướng chuyển hoá có ý nghĩa quan trọng đối với các HCPPHC

Phân huỷ thành những phần tử thấp hơn và ít độc hơn, những phần tử này

có thể được hoà tan trong nước và thải trừ qua đường tiết niệu

Chuyển hoá thành dạng chất khác có tác dụng độc hơn, ức chế enzym ChE mạnh hơn

Phạm Khắc Hiếu (1998), [11], [35] cho rằng quá trình oxy hoá HCPPHC chủ yếu diễn ra ở gan tạo ra acid thiophosphoric và dithiophosphoric, ngoài ra còn quá trình thuỷ phân nhờ phản ứng với phosphataza, carboxyl esteraza, carboxyl amilaza và phản ứng kết hợp với glucoronic

2.5.2.2 Cơ chế nhiễm độc của HCPPHC

Một số nhà khoa học nghiên cứu về độc tính của HCPPHC [11], [20], [24], [35] cho biết chúng là những chất độc với nhiều loại enzim nhưng cơ chế quan trọng nhất là sự ức chế enzim acetyl cholin esteraza (AchE) Hậu quả là

sự ứ đọng acetyl cholin dẫn đến những rối loạn nghiêm trọng quá trình dẫn truyền ở hệ synap thần kinh, gây hưng phấn quá độ đối với hệ thần kinh trung

Trang 30

ương Nhiễm độc các HCPPHC thực chất là nhiễm độc các acetylcholin nội sinh bao gồm:

- Rối loạn chuyển hoá cholinesteraza (ChE)

- Acetylcholin – acetylhydrolase ký hiệu EC 3.1.1.7 có độc tính cao ở màng hậu synap, có tác dụng thuỷ phân acetylcholin

- Acetylcholin – acetylhydrolase ký hiệu EC 3.1.1.8 còn gọi là ChE giả có trong huyết tương và dịch ngoại bào

Những men này có đặc điểm là bị ức chế bởi chính cơ chất của nó, khi nồng độ acetylcholin tăng vừa phải thì nó kích hoạt các men nhưng khi nồng

độ của chúng tăng quá cao thì có tác dụng ức chế ngược lại ChE

Theo Phạm Khắc Hiếu(1998) [11] mỗi phân tử phospho hữu cơ có một trung tâm hoạt động tích điện dương (electron-accepter) gọi là electrofil và một trung tâm hoạt động tích điện âm gọi là nucleofil Chính nucleofil này gắn với trung tâm hoạt động sinh học của enzime và thực hiện phản ứng kết hợp giữa phospho và enzime cuối cùng thì AchE bị khoá chặt không phục hồi lại được Khi ngộ độc HCPPHC các achE không phân huỷ được hoặc phân huỷ rất chậm gây nên các triệu chứng ngộ độc như gây rối loạn hệ adenyl-cyclase và cAMP (cyclo Adenosine Mono Photphat), axon của các thần kinh vận động bị myelin hoá, hoạt động của ATP-aza trên màng thần kinh bị rối loạn và xuất hiện tổng thể các triệu chứng trúng độc của hệ thần kinh Khi ngộ độc HCPPHC các biến đổi ở cơ tim cũng có thể xảy ra, các bó cơ có xuất huyết và hoại tử, loạn nhịp tim biểu hiện rõ

Adenyl- cyclase là một thành phần của những thụ cảm trên màng tế bào Dưới tác dụng của một số hormon, transmitter (chất vận chuyển) và midiator (chất trung gian hoá học như Serotonin, Histamin…) adenyl-cyclase bị phản ứng

và hoạt hoá tạo ra cAMP tham gia vào quá trình chuyển hoá các chất nội bào Hợp chất cAMP tham gia vào quá trình chuyển hoá nội bào, quá trình dẫn truyền

ở synap và quá trình phát triển tế bào Hợp chất cAMP có liên quan đến điều hoà

Trang 31

hoạt động và quá trình tổng hợp enzim đặc biệt là ChE Người ta đã xác định các chất độc thần kinh (trong đó có các HCPPHC) đã ức chế thống adenyl- cylase và cAMP làm hạn chế khả năng hồi phục ChE Hợp chất cAMP vừa làm tăng tổng hợp vừa làm tăng giải phóng ChE từ gan Do vậy cAMP đã được dùng để điều trị

ở động vật thí nghiệm và có kết quả đáng kể trong việc hồi phục ChE

Hầu hết các HCPPHC đều độc với thần kinh ở giai đoạn cuối của quá trình trúng độc, phần lớn các chất PPHC có tác dụng gây đột biến và có thể qua nhau thai của động vật có vú, nhưng do bị phân huỷ nhanh và thải trừ nhanh nên phần lớn thai không bị ảnh hưởng

Nhiễm độc HCPPHC rõ nhất ở giờ thứ 48-72, có sự giảm protein huyết thanh kèm theo sự biến đổi sâu sắc các thành phần như giảm albumin và

γglobulin còn các α và βglubolin thì tăng Sự giảm albumin phù hợp với những tổn thương quan sát được như trạng thái tổn thương tế bào gan

2.5.2.3 Một số loại HCPPHC

a/ Diazinon:

Tên gọi khác: basudin, diazin, diaziquone

Tên hoá học: 0,0-diethyl 2-isopropyl-6-methyl-4-pyrimidinylphosphorothioate Công thức hoá học: C12H21N2O3PS

Độc tính: Tuỳ theo từng sản phẩm gia công mà độc tính thuộc nhóm

độc II hoặc III LD qua miệng (chuột cống) 300- 400 mg/kg, LD qua da

Trang 32

2-150 mg/kg, LD50 qua đường hô hấp (chuột cống) 5,4 mg/l - 4 giờ, ADI 0,002 mg/kg MRL rau quả 0,5- 0,7 mg/kg, PHI rau quả 14-20 ngày

b/ Dichlorovos:

Tên gọi khác: DDVP, dedevap, nogos, nuvan, vapona

Tên hoá học: 2,2-Diclovinyl dimethyl phosphat

OO

H3C

H3C

CClCl

Đặc tính: Dạng dung dịch từ không màu đến màu hổ phách, ít tan trong nước (10 g/l) dễ tan trong hầu hết các dung môi hữu cơ, bền với nhiệt nhưng thuỷ phân nhanh trong môi trường sống, trong nước và trong môi trường kiềm

Độc tính: Thuộc nhóm độc I, LD50 qua miệng 56-108 mg/kg, LD50 qua da 75-210 mg/kg, ADI 0,004 mg/kg, nồng độ tối đa cho phép trong không khí nơi làm việc là 1 mg/m3, MRL rau quả 0.2 mg/kg, thịt trứng 0,5 mg/kg PHI

đối với rau quả là 3 ngày, cây trồng khác 7 ngày

c/ Triclofon:

Tên gọi khác: dipterex, clorophos, diprozin, dipterin, neguvon

Tên hoá học: Dimethyl-2,2,2-triclohydro- ethylphosphate

O

CH OH

Đặc tính: Thuốc ở dạng bột kết tinh màu trắng, dễ tan trong nước (154 g/l)

Trang 33

và dung môi hữu cơ, ít tan trong dầu hoả Trong dung dịch nước chua bị phân giải chậm, trong dung dịch kiềm bị khử clo tạo thành DDVP và cuối cùng bị thuỷ phân thành chất ít độc đối với sâu

Độc tính: thuộc nhóm độc II, LD50 qua miệng 560-630 mg/kg, LD50 qua

da 2000 mg/kg, ADI 0,001 mg/kg MRL rau quả 0,5 mg/kg, cây họ đậu 0,1 mg/kg, thịt 0,1 mg/kg, các sản phẩm khác 0,05 mg/kg PHI rau quả 7 ngày, cây họ đậu 3 ngày, cây làm thức ăn chăn nuôi 3 ngày

HH

O

OO

C2 5

C2 5

Độc tính: có tác dụng tiếp xúc, vị độc và xông hơi, thuộc nhóm độc II,

LD50 qua miệng 135-163 mg/kg, LD50 qua da 202 mg/kg, ADI 0,01 mg/kg

2.5.3 Các HCBVTV thuộc nhóm Carbamat

Ngày nay trên thế giới đã sử dụng trên 50 hợp chất carbamat để thay thế dần cho các HCBVTV nhóm phospho hữu cơ có tính độc mạnh

2.5.3.1 Cơ chế nhiễm độc của Carbamat

Các nghiên cứu về độc tính của các nhóm HCBVTV [51], [52], [59] cho biết các hợp chất thuộc nhóm carbamat được phân ra thành 2 nhóm nhỏ đó là nhóm carbamat diệt côn trùng (carbamat insecticide) và nhóm carbamat diệt

Trang 34

nấm, diệt cỏ (carbamat - fungicide -herbincide) Sự khác biệt cơ bản giữa hai nhóm này là ở chỗ nhóm carbamat insecticide chứa nhóm n-methyl có tác dụng ức chế ChE Người ta quan tâm nhiều đến tác hại của nhóm carbamat insecticide bao gồm carbaryl, furadan, bassa, diadomet nhóm này có cấu trúc hoá học như sau:

Theo Phạm Khắc Hiếu (1998) [11], các carbamat insecticide ức chế AchE gây nên những triệu chứng tương tự như nhiễm độc phospho hữu cơ Carbamat insecticide ức chế enzime trong thời gian ngắn và tác dụng đó có khả năng phục hồi Lý do vi carbamat chỉ gắn lỏng lẻo, thuần tuý vật lý, không có phản ứng hoá học với enzime mà chỉ đính vào bề mặt của enzime

mà thôi Nhiều thực nghiệm chứng minh rằng carbamat không ức chế enzime AchE trong huyết thanh mà chỉ có tác dụng với enzime trong gan và hồng cầu, vì vậy tác dụng phong bế chỉ trong thời gian ngắn và bản thân AchE cũng nhanh chóng tách khỏi sự phong bế đó của carbamat Một thực nghiệm tiêm

10 mg/kg chuột bằng carbaryl sau đó kiểm tra sự phân bố của thuốc trong cơ thể bằng phương pháp phóng xạ đánh dấu và kết quả cho thấy: một ngày sau khi cho thuốc, thuốc phân bố ở hầu hết các khí quan trong cơ thể, có nhiều hơn một chút ở xương, thành dạ dày, ruột non và não, các tuyến sữa, trong dạ dày của gia súc non bú sữa cũng có carbamat

Carbamat insecticide xâm nhập vào cơ thể theo đường tiêu hoá, hô hấp

và qua da Đối với tiếp xúc nghề nghiệp, đường qua da có ý nghĩa quan trọng nhất Khi nhiệt độ tại môi trường lao động cao, khả năng bốc hơi của

Trang 35

carbamat mạnh hơn tạo điều kiện cho carbamat insecticide hấp thu vào cơ thể nhanh hơn và khả năng nhiễm độc cấp tính dễ xảy ra Sự phân huỷ của carbamat theo hai cách: hoặc là do tác dụng trực tiếp của các esteraza hoặc là

do các enzime của microsome: lúc đầu bị oxy hoá sau đó là bị thuỷ phân Trong cơ thể carbamat bị phân huỷ nhanh và rất nhiều sản phẩm trung gian

được tạo ra, nhưng chúng cũng nhanh chóng bị thải trừ khỏi cơ thể Về mặt hoá học carbamat không tích trữ, tuy nhiên carbamat vẫn có thể gây trúng độc cấp tính Trong nhiễm độc cấp tính carbamat insecticide có biểu hiện lâm sàng giống nhiễm độc muscarin (do cường thụ cảm M.cholin) và nhiễm độc nicotin (do cường thụ cảm N.cholin) Có thể nói rằng nhiễm độc carbamat insecticide thực chất là nhiễm độc Ach nội sinh do ức chế enzim ChE giống như cơ chế nhiễm độc các HCPPHC Ngoài ra có thể có một số dấu hiệu khác do rối loạn thần kinh trung ương, cường hệ giao cảm

2.5.3.2 Giới thiệu một số dẫn xuất của Carbamat- Carbaryl

Đặc tính: Dạng tinh thể trắng, ít tan trong nước (0,1%) tan nhiều trong dung môi hữu cơ, bền trong nhiệt độ, ánh sáng, trong môi trường trung tính và acid nhẹ

Trang 36

Độc tính: Thuộc nhóm độc II, LD50 qua miệng 246-850 mg/kg, LD50 qua

da 400 mg/kg, ADI 0,01 mg/kg MRL rau quả 1-1,5 mg/kg; cam, chuối 0,5 mg/kg; thịt 0,5 mg/kg PHI đối với rau quả 7 ngày, cây thức ăn chăn nuôi 3 ngày

2.5.4 Nhóm Pyrethroit

Pyrethroit trước đây có nguồn gốc từ một este của acid cacboxylic tự nhiên, rất độc với côn trùng và nhện hại cây trồng, trong đó có pyrethrin, sau này các nhà hoá học đã tổng hợp được bằng con đường hoá học

xiclopropan-ra nhiều dẫn xuất của pyrethrin có ưu điểm hơn các este tự nhiên, những dẫn xuất đó gọi là pyrethroit Nhóm pyrethroit hiện đang được sử dụng rộng rãi trong sản xuất nông nghiệp như: acrinathrin, alphamethrin, cyfluthrin, cypermethrin , vì chúng có những ưu điểm sau:

Lượng hoạt chất sử dụng trên đơn vị diện tích thấp, có tác dụng chọn lọc cao, ít độc hại với thiên địch có ích, tác dụng tiếp xúc mạnh, độc cấp tính với người và động vật máu nóng thấp hơn nhóm lân hữu cơ, phân huỷ nhanh trong cơ thể và môi trường

- Cypermethrin

Tên gọi khác: polytrin, sherpa, ambush C, cymbush, cymerin

Tên hoá học: (RS)-α-cyano-3-phenoxybenzyl(1RS, 3RS; 1RS, (2,2- dichlorovinyl)-2,2-dimethylcyclopropan carboxylate

3SR)-3-Công thức hoá học: C22H19Cl2NO3,

Phân tử lượng: 416

Đặc tính: thuốc ở dạng đặc sệt (ở 60oC chuyển thành dạng dung dịch

Trang 37

lỏng), hầu như không tan trong nước, tan nhiều trong dung môi hữu cơ, tương

đối bền trong môi trường trung tính và acid nhẹ, thuỷ phân trong môi trường kiềm, không ăn mòn kim loại

Độc tính: thuộc nhóm độc II, LD50 qua miệng 215 mg/kg; LD50 qua da

1600 mg/kg; ADI: 0,05 mg/kg; MRL sữa: 0,01 mg/kg; chè khô 20mg/kg; PHI

đối với rau ăn lá: 7-14 ngày; rau ăn quả 3- 4 ngày; bắp cải 14 ngày; hành 21 ngày, thuốc độc với ong mật

Trang 38

3 nội dung -nguyên liệu phương pháp nghiên cứu 3.1 Nội dung

Điều tra tình hình sử dụng HCBVTV trong sản xuất nông nghiệp và tình hình sử dụng nước, thức ăn xanh trong chăn nuôi tại hai xã Hợp Tiến và ái Quốc - Nam Sách - Hải Dương

Xác định hàm lượng một số loại HCBVTV trong các mẫu thức ăn xanh, nước, thịt và một số mô bào của lợn tiêu thụ tại địa bàn nghiên cứu

- Xác định hàm lượng một số loại HCBVTV trong các mẫu nước sử dụng trong chăn nuôi

- Xác định hàm lượng một số loại HCBVTV trong các mẫu rau muống, bèo tây

- Xác định hàm lượng một số loại HCBVTV trong mẫu cơ, mỡ và một số mô bào khác của lợn nuôi tại địa phương

Tìm hiểu mối quan hệ giữa việc dùng HCBVTV trong nông nghiệp đến hàm lượng các chất BVTV tồn dư trong thịt và một số mô bào của lợn

3.2 Nguyên liệu

3.2.1 Phương pháp lấy mẫu

Trong quá trình nghiên cứu chúng tôi tiến hành lấy mẫu theo phương pháp tổng hợp theo hệ thống để giảm chi phí, đơn giản, giảm sai số, thuận tiện cho công tác lấy mẫu và cũng phù hợp với phương pháp nghiên cứu tồn lượng

Theo Phùng Thị Thanh Tú (1994) [23] và Bùi Sĩ Doanh (2001) [6], có thể lấy mẫu theo 1 trong các sơ đồ sau:

Trang 39

A B C D

Hình 3.5 Sơ đồ lẫy mẫu hệ thống trong khảo sát tồn lượng

- Theo sơ đồ A chúng tôi lấy mẫu theo hai đường chéo và xung quanh

- Sơ đồ B chúng tôi lấy mẫu hình chữ Z theo chiều mũi tên

- Trong mô hình C lấy mẫu theo hình zích zắc

- Mô hình D: chúng tôi chia ô để lấy mẫu theo điểm

- Các mẫu nước được tiến hành thu thập theo phương pháp quy định trong TCVN 5992-1995 và 5993-1995

- Các mẫu rau muống, bèo tây được thu thập theo phương pháp quy định trong TCVN 4833-1989

- Các mẫu thịt được thu thập theo phương pháp quy định trong TCVN 4833-1993

- Việc điều tra được thực hiện theo phiếu điều tra theo mẫu ở phụ lục 6

3.2.2 Hoá chất và trang thiết bị phục vụ nghiên cứu

3.2.2.1 Hoá chất

- Natrisunfat (Na2SO4) khan dạng hạt có tác dụng hút nước

- n- hexane tinh khiết (C6H14)

- Ether petrole ở các nồng độ 6%, 15%

- Florisil cỡ hạt 60/100 mesh được hoạt hoá ở 650oC, nung ở 130oC trong

5 giờ trước khi dùng

- Các dung dịch chuẩn pha trong n - hexane

3.2.2.2 Thiết bị và dụng cụ

Trang 40

Trong quá trình xử lý và phân tích mẫu chúng tôi sử dụng các trang thiết

+ Cột florisil chiều dài 20 cm, đường kính 22 mm có khoá teflon

+ Một số dụng cụ khác trong phòng thí nghiệm

3.3 Phương pháp nghiên cứu

3.3.1 Chuẩn bị dung dịch chuẩn

Dung dịch chuẩn được pha theo công thức sau trong dung môi thích hợp (n-hexane tinh khiết)

1

2 2 1

2 2 1 1

N

V.NVV

.NV

Trong đó: N1-- nồng độ dung dịch chuẩn ban đầu (ppm)

N2 - nồng độ dung dịch chuẩn sau khi pha (ppm)

V1 - thể tích dung dịch chuẩn ban đầu (ml)

V2 - thể tích dung dịch chuẩn sau khi pha (ml)

3.3.2 Phương pháp xác định hàm lượng HCBVTV

Có nhiều phương pháp xác định dư lượng HCBVTV như các phương pháp hoá học, sinh học, sắc ký trong nghiên cứu này chúng tôi áp dụng quy trình AOAC (The Association of Official Analytical Chemist) trên liên hợp sắc kí khí/khối phổ (GC/MS)

3.3.2.1 Nguyên lý của phương pháp sắc kí khí (Gas Chromatography- GC)

"Sắc ký" là thuật ngữ chỉ quá trình tách các chất ra khỏi một hỗn hợp chất nào đó

Ngày đăng: 28/11/2013, 10:33

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2003), Danh mục thuốc bảo vệ thực vật đ−ợc phép sử dụng, hạn chế sử dụng, cấm sử dụng ở Việt Nam, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Danh mục thuốc bảo vệ thực vật đ−ợc phép sử dụng, hạn chế sử dụng, cấm sử dụng ở Việt Nam
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2003
2. Bộ Y tế (1992), Danh mục tiêu chuẩn vệ sinh đối với lương thực, thực phẩm, ban hành kèm theo Quyết định số 867/1998/QĐ- BYT ngày 4/4/1992, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Danh mục tiêu chuẩn vệ sinh đối với l−ơng thực, thực phẩm
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 1992
3. Bộ Y tế (1998), Danh mục tiêu chuẩn vệ sinh đối với lương thực, thực phẩm, ban hành kèm theo Quyết định số 867/1998/QĐ- BYT ngày 4/4/1998, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Danh mục tiêu chuẩn vệ sinh đối với l−ơng thực, thực phẩm
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 1998
4. Vũ Đăng Bộ (1997), Hóa học và sự ô nhiễm môi tr−ờng, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hóa học và sự ô nhiễm môi tr−ờng
Tác giả: Vũ Đăng Bộ
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1997
5. Cơ sở lý thuyết của ph−ơng pháp sắc ký khí (1988), Ch−ơng trình hợp tác Khoa học kỹ thuật Việt Nam - Hà Lan, tr−ờng Đại học Tổng hợp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở lý thuyết của ph−ơng pháp sắc ký khí (1988)
Tác giả: Cơ sở lý thuyết của ph−ơng pháp sắc ký khí
Năm: 1988
6. Bùi Sĩ Doanh (2001), Nghiên cứu, phân tích, đánh giá d− l−ợng thuốc trừ sâu Cypermethrin đối với rau quả và đất, nước, Luận án tiến sĩ hóa học, Đại học Tổng hợp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu, phân tích, đánh giá d− l−ợng thuốc trừ sâu Cypermethrin đối với rau quả và đất, n−ớc
Tác giả: Bùi Sĩ Doanh
Năm: 2001
7. Huỳnh Dương, Cảnh báo về ngộ độc thực phẩm, ngày 23/01/2005, http://www.binhthuan.gov.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cảnh báo về ngộ độc thực phẩm
Tác giả: Huỳnh Dương
Năm: 2005
8. Hoàng Thị Lệ Giang (1996), Tìm hiểu ảnh h−ởng của một số loại thuốc hóa học bảo vệ thực vật đến côn trùng bắt mồi và nhện lớn ăn thịt sâu hại lúa vụ đông xuân 1995-1996 tại Trâu Quì- Gia Lâm - Hà Nội, Luận văn Thạch sĩ khoa học Nông nghiệp, Đại học Nông nghiệp I, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu ảnh h−ởng của một số loại thuốc hóa học bảo vệ thực vật đến côn trùng bắt mồi và nhện lớn ăn thịt sâu hại lúa vụ đông xuân 1995-1996 tại Trâu Quì- Gia Lâm - Hà Nội
Tác giả: Hoàng Thị Lệ Giang
Nhà XB: Đại học Nông nghiệp I
Năm: 1996
9. Vũ Hài, Trần Quý Hiển, Lê L−ơng Tề (2001), Nghề bảo vệ thực vật, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghề bảo vệ thực vật
Tác giả: Vũ Hài, Trần Quý Hiển, Lê L−ơng Tề
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2001
10. Phạm Khắc Hiếu (1994), Độc chất học thú y, tài liệu sau đại học chuyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Độc chất học thú y
Tác giả: Phạm Khắc Hiếu
Nhà XB: tài liệu sau đại học chuyên
Năm: 1994
11. Phạm Khắc Hiếu (1998), Độc chất học thú y, tài liệu sau đại học chuyên ngành thú y, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Độc chất học thú y
Tác giả: Phạm Khắc Hiếu
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1998
12. Trần Quang Hùng (1995), Thuốc bảo vệ thực vật, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thuốc bảo vệ thực vật
Tác giả: Trần Quang Hùng
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1995
13. Trần Quang Hùng (1999), Thuốc bảo vệ thực vật, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thuốc bảo vệ thực vật
Tác giả: Trần Quang Hùng
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1999
14. Kỷ yếu hội thảo khoa học chuyên ngành bảo vệ thực vật, Ch−ơng trình bảo vệ thực vật phục vụ chủ trương chuyển đổi cơ cấu cây trồng ở các tỉnh phía nam và Tây Nguyên, Vũng Tàu ngày 24-25/6/2003, (trang 67-74) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu hội thảo khoa học chuyên ngành bảo vệ thực vật
15. Việt Linh, Thuốc trừ sâu có thể gây bệnh máu trắng, thứ 5 ngày 24- 25/6/2003, http://www.Vnexpress.net Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thuốc trừ sâu có thể gây bệnh máu trắng
Tác giả: Việt Linh
Nhà XB: VnExpress
Năm: 2003
16. Ngô Kiều Oanh (2002), Ch−ơng trình thông tin khoa học về an toàn hóa chÊt, Hội thảo quốc tế về ô nhiễm hóa chất sử dụng trong nông nghiệp gây rối loạn nội tiết, 15-16/2002, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ch−ơng trình thông tin khoa học về an toàn hóa chÊt
Tác giả: Ngô Kiều Oanh
Nhà XB: Hội thảo quốc tế về ô nhiễm hóa chất sử dụng trong nông nghiệp gây rối loạn nội tiết
Năm: 2002
17. Phùng Minh Phong (2002), Xác định tồn d− của một số loại hoá chất bảo vệ thực vật trong rau xanh, thịt tiêu thụ trên thị tr−ờng Hà Nội và tìm hiểu một số yếu tố ảnh h−ởng, Luận văn Thạc sĩ Khoa học Nông nghiệp, Tr−ờng Đại học Nông nghiệp I- Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xác định tồn d− của một số loại hoá chất bảo vệ thực vật trong rau xanh, thịt tiêu thụ trên thị tr−ờng Hà Nội và tìm hiểu một số yếu tố ảnh h−ởng
Tác giả: Phùng Minh Phong
Năm: 2002
18. Nguyễn Xuân Thành (1997), Nông d−ợc sử dụng và bảo quản, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nông d−ợc sử dụng và bảo quản
Tác giả: Nguyễn Xuân Thành
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1997
19. Lê Toàn Thắng (2003), Nghiên cứu sự ô nhiễm hoá chất bảo vệ thực vật trong thịt lợn, thịt gà tại một số địa phương miền Bắc - Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ Khoa học Nông nghiệp, Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu sự ô nhiễm hoá chất bảo vệ thực vật trong thịt lợn, thịt gà tại một số địa ph−ơng miền Bắc - Việt Nam
Tác giả: Lê Toàn Thắng
Năm: 2003
20. Thu Thủy, Liên Hợp Quốc cảnh báo về thuốc trừ sâu độc hại, chủ nhật ngày 4/3/2001, http://www.Binhthuan.gov.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Liên Hợp Quốc cảnh báo về thuốc trừ sâu độc hại
Tác giả: Thu Thủy
Năm: 2001

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.2: Chi phí cho thuốc trừ sâu  lúa ở một số quốc gia năm 1988 (triệu USD) - Luận văn nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật góp phần tăng năng suất lạc trên đất cát pha huyện nghi lộc tỉnh nghệ an
Bảng 2.2 Chi phí cho thuốc trừ sâu lúa ở một số quốc gia năm 1988 (triệu USD) (Trang 8)
Bảng 2.3: Số l−ợng hoạt chất HCBVTV đ−ợc sử dụng ở Việt Nam (1991-1994) - Luận văn nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật góp phần tăng năng suất lạc trên đất cát pha huyện nghi lộc tỉnh nghệ an
Bảng 2.3 Số l−ợng hoạt chất HCBVTV đ−ợc sử dụng ở Việt Nam (1991-1994) (Trang 10)
Hình 2.2. Biểu hiện tác động gây bệnh trên người của HCBVTV - Luận văn nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật góp phần tăng năng suất lạc trên đất cát pha huyện nghi lộc tỉnh nghệ an
Hình 2.2. Biểu hiện tác động gây bệnh trên người của HCBVTV (Trang 13)
Hình 2.4: Sơ đồ tuần hoàn của các loại thuốc trừ sâu trong hồ nước tù - Luận văn nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật góp phần tăng năng suất lạc trên đất cát pha huyện nghi lộc tỉnh nghệ an
Hình 2.4 Sơ đồ tuần hoàn của các loại thuốc trừ sâu trong hồ nước tù (Trang 17)
Hình 3.5 Sơ đồ lẫy mẫu hệ thống trong khảo sát tồn l−ợng - Luận văn nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật góp phần tăng năng suất lạc trên đất cát pha huyện nghi lộc tỉnh nghệ an
Hình 3.5 Sơ đồ lẫy mẫu hệ thống trong khảo sát tồn l−ợng (Trang 39)
Hình 4.1: Sự phối hợp HCBVTV trong sử dụng - Luận văn nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật góp phần tăng năng suất lạc trên đất cát pha huyện nghi lộc tỉnh nghệ an
Hình 4.1 Sự phối hợp HCBVTV trong sử dụng (Trang 51)
Hình 4.2: Nguồn nước sử dụng trong chăn nuôi tại địa bàn nghiên cứu - Luận văn nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật góp phần tăng năng suất lạc trên đất cát pha huyện nghi lộc tỉnh nghệ an
Hình 4.2 Nguồn nước sử dụng trong chăn nuôi tại địa bàn nghiên cứu (Trang 52)
Hình 4.3: Các loại thức ăn dùng trong chăn nuôi tại địa bàn nghiên cứu - Luận văn nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật góp phần tăng năng suất lạc trên đất cát pha huyện nghi lộc tỉnh nghệ an
Hình 4.3 Các loại thức ăn dùng trong chăn nuôi tại địa bàn nghiên cứu (Trang 53)
Bảng 4.5:  Hàm lượng HCBVTV trong nước mặt tại địa phương - Luận văn nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật góp phần tăng năng suất lạc trên đất cát pha huyện nghi lộc tỉnh nghệ an
Bảng 4.5 Hàm lượng HCBVTV trong nước mặt tại địa phương (Trang 54)
Bảng 4.6:  Hàm lượng HCBVTV trong nước ngầm tại địa bàn nghiên cứu - Luận văn nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật góp phần tăng năng suất lạc trên đất cát pha huyện nghi lộc tỉnh nghệ an
Bảng 4.6 Hàm lượng HCBVTV trong nước ngầm tại địa bàn nghiên cứu (Trang 56)
Hình 4.4: So sánh hàm l−ợng các loại HCBVTV  trong mẫu n−ớc ngầm và n−ớc mặt (mg/l) - Luận văn nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật góp phần tăng năng suất lạc trên đất cát pha huyện nghi lộc tỉnh nghệ an
Hình 4.4 So sánh hàm l−ợng các loại HCBVTV trong mẫu n−ớc ngầm và n−ớc mặt (mg/l) (Trang 58)
Hình 4.5 T−ơng quan hàm l−ợng HCBVTV trong n−ớc mặt và n−ớc ngầm - Luận văn nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật góp phần tăng năng suất lạc trên đất cát pha huyện nghi lộc tỉnh nghệ an
Hình 4.5 T−ơng quan hàm l−ợng HCBVTV trong n−ớc mặt và n−ớc ngầm (Trang 59)
Hình 4.6: Hàm l−ợng HCBVTV trong rau muống - Luận văn nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật góp phần tăng năng suất lạc trên đất cát pha huyện nghi lộc tỉnh nghệ an
Hình 4.6 Hàm l−ợng HCBVTV trong rau muống (Trang 62)
Bảng 4.11 : Hàm l−ợng HCBVTV trong thịt tại xã ái quốc - Luận văn nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật góp phần tăng năng suất lạc trên đất cát pha huyện nghi lộc tỉnh nghệ an
Bảng 4.11 Hàm l−ợng HCBVTV trong thịt tại xã ái quốc (Trang 67)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm