1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển của một số giống thanh long và biện pháp kỹ thuật tăng năng suất, phẩm chất giống thanh long ruột đỏ trồng ở gia lâm hà nội

71 3,5K 29
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Luận Văn Nghiên Cứu Khả Năng Sinh Trưởng, Phát Triển Của Một Số Giống Thanh Long Và Biện Pháp Kỹ Thuật Tăng Năng Suất, Phẩm Chất Giống Thanh Long Ruột Đỏ Trồng Ở Gia Lâm Hà Nội
Trường học Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh
Thể loại Luận văn
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 71
Dung lượng 615,38 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

luận văn

Trang 1

phần 1

Mở đầu 1.1 Đặt vấn đề

Cây thanh long (Hylocereus undatus, Haw) thuộc họ Xương rồng

(Cactaceae) có nguồn gốc ở khu vực Trung và Bắc Mĩ Theo nhiều tài liệu, cây thanh long được người Pháp nhập vào Việt Nam cách đây khoảng một trăm năm, ban đầu cây thanh long chỉ được trồng với số lượng ít để phục vụ cho vua chúa và sau đó là cho các gia đình quý tộc và để thờ cúng ở các đền, chùa [3] [5] Thanh long thực sự được trồng rộng rãi và phát triển thành hàng hoá từ năm 1989 - 1990 trở lại đây, từ khi quả thanh long được xuất khẩu sang các nước như Nhật Bản, Hồng Kông, Trung Quốc, Singapore và Châu

Âu

Cây thanh long là một trong những cây ăn quả mang lại hiệu quả kinh

tế cao ở những nơi không chủ động nước của các tỉnh phía nam và phù hợp với phương thức canh tác kinh tế hộ gia đình như hiện nay Cây thanh long sau trồng một năm đã bắt đầu cho quả, thời gian cho quả kéo dài từ 6 - 7 tháng trong năm và chia ra thành nhiều đợt quả, tránh được hiện tượng quả bị

ế đọng trong mùa vụ Quả thanh long có giá trị dinh dưỡng rất cao và khác hẳn với thành phần dinh dưỡng của các loại qủa khác Hàm lượng dinh dưỡng

có trong 100gr thịt quả thanh long ruột trắng là tổng hàm lượng chất rắn hoà tan: 13%; đường khử: 6,1g; đường tổng số: 11,5g; acid hữu cơ: 0,13g; protein: 0,53g; K20: 212,2mg; P205: 8,7mg; Ca: 134,5mg; Mg: 60,4mg; Vitamin C: 9,4mg và chất xơ là 0,71g (Nguồn bộ môm sinh lí sinh hoá - Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh,1995) [11]

Giống thanh long ruột đỏ được Viện Nghiên cứu Nông nghiệp Đài Loan tạo ra bằng phương pháp lai hữu tính, giữa giống thanh long ruột trắng

Trang 2

và một giống thanh long của Mêhicô Kể từ khi giống này được ra đời, nó đã thay thế dần giống thanh long ruột trắng và hiện tại ở Đài Loan giống thanh long ruột trắng còn trồng không đáng kể Giống thanh long ruột đỏ được một

số chuyên gia nông nghiệp Đài Loan đưa sang trồng ở đảo Hải Nam - Trung Quốc từ năm 1996 - 1997 và giống này đang được phát triển rất tốt ở một số trang trại liên doanh giữa Trung Quốc - Đài Loan tại đảo Hải Nam Đặc điểm của giống này là cho quả có hình thức cũng như chất lượng hơn hẳn quả thanh long ruột trắng Quả khi thu hoạch có khối lượng từ 300 - 400g, vỏ màu đỏ và thịt quả màu đỏ thẫm Thịt quả ăn ngọt trung bình đạt 18 - 20% tổng chất rắn hoà tan, không có vị ngái Nhờ thịt quả có màu đỏ thẫm tự nhiên, những quả không có khả năng bán để ăn tươi có thể sử dụng làm nguyên liệu chế biến rượu vang để cho ra loại rượu có màu rất hấp dẫn Hàm lượng dinh dưỡng có trong 100gr thịt quả thanh long ruột đỏ thuỷ phần: 82,5 - 83g; chất béo: 0,21 - 0,61g; Protein: 0,159 - 0.229g; chất xơ: 0,7 - 0,9g; Carotene: 0,005 - 0.012mg; Ca: 6,3 - 8,8mg; P205: 30,2 - 36,1mg; Fe: 0,55 - 0,65mg; Vitamin C: 8 - 9mg; Vitamin B1: 0,028 - 0,043mg; Vitamin B2: 0,043 - 0,045mg; Vitamin B3: 0,297 - 0,43mg; tro: 0,28g và chất khác là 0,54 - 0,68g [2] [33]

Vài năm gần đây giống này không chỉ phát triển mạnh ở đảo Hải Nam

mà cả ở một số vùng thuộc tỉnh Quảng Tây - Trung Quốc Sản phẩm của giống này chủ yếu được tiêu thụ ở thị trường Bắc Kinh và Hồng Kông Năm

2001, giống thanh long ruột đỏ lần đầu tiên được Viện nghiên cứu Rau quả

đưa về trồng thử nghiệm tại Viện và một số vùng miền Bắc nước ta như Hà Tây, Hưng Yên, Nghệ an

Ngoài tác dụng ăn tươi, quả thanh long còn có giá trị cao trong y học như thịt quả thanh long có tác dụng chữa bệnh thiếu máu, huyết áp cao và xuất huyết não Thịt quả thanh long ruột vàng có chứa hàm lượng chất captin

Trang 3

cao, người ta chiết xuất để làm thuốc trợ tim Hoa thanh long đem sắc lấy nước uống chữa bệnh ho Vỏ quả được chiết xuất lấy màu đỏ tự nhiên dùng trong chế biến công nghiệp thực phẩm [20] Thân cành thanh long chữa bệnh thần kinh toạ và có thể là nguồn thức ăn cho gia súc ở những nơi khô hạn, cỏ không thể mọc được Quả thanh long ăn vị ngọt mát, nên rất hấp dẫn thị hiếu người Việt Nam cũng như người nước ngoài Ngoài việc dùng để ăn tươi, thịt quả còn sử dụng để chế biến ở Malaysia, họ dùng thịt quả để trộn salad, làm xirô, rượu, nước quả, mứt Hoa thanh long để nấu súp, ướp chè

Thanh long là một loại cây rất dễ trồng, có thể sinh trưởng, phát triển trên mọi loại đất nhưng để góp phần tăng năng suất, chất lượng sản phẩm, ngoài việc mở rộng diện tích thì vấn đề tăng cường về giống, biện pháp kĩ thuật là vô cùng quan trọng ở Việt Nam, cây thanh long phát triển mạnh ở các tỉnh phía nam với diện tích trồng thanh long hiện nay lên tới 5.000 ha với sản lượng 125 000 tấn Tuy nhiên ở miền Bắc nước ta, cây thanh long ruột trắng được trồng rải rác từ lâu nhưng chưa được chú trọng do năng suất, chất lượng thấp Vì vậy, việc đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển của một số giống thanh long là để đưa cây thanh long vào cơ cấu giống cây trồng ở miền Bắc Xuất phát từ vấn đề trên, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển của một số giống thanh long và biện pháp kĩ thuật tăng năng suất, phẩm chất giống thanh long ruột đỏ trồng ở Gia Lâm - Hà Nội”

1 2 Mục đích và yêu cầu

1 2.1 Mục đích

1 Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển của một số giống thanh long nhằm tuyển chọn giống thanh long có năng suất cao, phẩm chất tốt trồng sản xuất ở miền Bắc - Việt Nam

Trang 4

2 Thăm dò ảnh hưởng của một số biện pháp kĩ thuật làm tăng năng suất, chất lượng giống thanh long ruột đỏ trồng trong điều kiện Gia Lâm - Hà Nội

1 2 2 Yêu cầu

1 Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển của một số giống thanh long trồng trong điều kiện Gia Lâm - Hà Nội

2 Đánh giá ảnh hưởng của một số liều lượng phân kaliclorua, phân bón lá

và thời gian cắt tỉa đến năng suất, phẩm chất giống thanh long ruột đỏ trồng ở Gia Lâm - Hà Nội

1.2.3 ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

- ý nghĩa khoa học

Cho phép khẳng định khả năng phát triển trồng trọt cây thanh long ở

điều kiện của vùng đồng bằng sông Hồng và miền Bắc - Việt Nam

Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở cho các công trình nghiên cứu tiếp theo để chọn lọc và xây dựng quy trình kỹ thuật thâm canh tăng năng suất thanh long ở điều kiện miền Bắc nước ta

Đề tài đã khẳng định được vai trò của các giải pháp kỹ thuật nhằm ổn

định và tăng năng suất cây thanh long ở miền Bắc - Việt Nam

- ý nghĩa thực tiễn

Những kết quả thu được của đề tài nghiên cứu sẽ góp phần bổ sung hoàn thiện quy trình thâm canh thanh long cho vùng Gia Lâm - Hà Nội và có thể được áp dụng mở rộng cho tất cả các vùng trồng thanh long ở miền Bắc - Việt Nam

Trang 5

phần 2 tổng quan các vấn đề nghiên cứu 2.1 Cơ sở khoa học của đề tài

Việc xây dựng vùng trồng thanh long phải phù hợp về điều kiện khí hậu thời tiết, đất đai, giống và các biện pháp kỹ thuật trồng trọt Tuy vậy, với các yếu tố trên thì yếu tố giống và biện pháp kỹ thuật là những yếu tố cần thiết, đang thiếu nhất

Thanh long trồng ở miền Bắc - Việt Nam ra hoa tốt nhưng tỷ lệ đậu quả không cao dẫn đến năng suất thấp Nguyên nhân của vấn đề này được nhiều tác giả trong một số tài liệu cho rằng: các giống hiện trồng có ít hoa và mùa

ra hoa trùng với mùa mưa nên sự thụ phấn, thụ tinh bị hạn chế Vì vậy, cần thiết phải có giống thanh long thích ứng với điều kiện này để khắc phục được hạn chế trên Tuy nhiên, thanh long ra hoa trong điều kiện ngày dài, vì thế phải nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật thúc đẩy cho cây ra hoa tại thời điểm thích hợp

Ngoài năng suất không cao, khối lượng quả của thanh long cũng là vấn

đề cần chú ý khi trồng trọt trong điều kiện vùng sinh thái Gia Lâm - Hà Nội Những hạn chế này, có thể do chế độ chăm sóc, việc bổ sung dinh dưỡng cho cây chưa hợp lý Vì vậy, cần thiết phải có những nghiên cứu để xây dựng quy trình chăm sóc hợp lý cho cây thanh long trồng tại miền Bắc - Việt Nam

2.2 Tổng quan nghiên cứu về thanh long

2.2.1 Nguồn gốc phân bố và phân loại

Cây Thanh long có tên khoa học là Hylocereus undatus (Haw) Britt &

Rose (Phạm Hoàng Hộ 1968, 1970, Vũ Văn Chuyên 1977, Võ Văn Chi và Dương Đức Tiến 1978) [3] Cây thanh long ngoài tên phổ thông là dragon fruit còn có tên như Pitahaya, Strawberry bear (Phạm Hoàng Hộ 1970,

Trang 6

Barbeau 1990) [31] Thanh long thuộc họ Cactaceae (Xương rồng) bộ Cactales lớp Dicotyledonac (Song tử diệp), ngành Angiospermae (Hột kín)

Họ Xương rồng có từ 50 đến 200 giống và hơn 2.000 loài (Mascré và Deysson 1967, Phạm Hoàng Hộ 1968, Vũ Văn Chuyên 1977, Trương Thị

Đẹp 1999) [3]

Theo Võ Hữu Thoại và Nguyễn Minh Châu [13] cho thấy: họ xương rồng gồm có 220 giống và trên 1.500 loài, phân bố từ vĩ tuyến 360 Bắc đến 450Nam; chủ yếu là các vùng nóng và khô của châu Mỹ như ở vùng sa mạc Mêhicô Một số loài ở vùng nhiệt đới châu Phi, Madagasca, Xây-lan [3] Có khoảng 20 loài trong họ xương rồng, được trồng lấy quả và có một số chi quan trọng như Hylocerus, Opuntia, Stenocereus, Cereus, Selenicereus Trong

loài Opuntia ficus - Indica (L) có giống Stenocereus được trồng trong vùng Bắc khô hạn ở miền Trung và miền Nam - Mêhicô Loài Cereus peruvianus

(L) Miller đã được biết đến như là cây cảnh trong vùng nhiệt đới và cận nhiệt

đới, gần đây được trồng ở israel và miền Nam - California để lấy quả (Nerd at

al 1994) [31] Theo Mazrahi 1996 [29], loài Selenicereus được trồng với diện tích lớn ở Colombia và loài Hylocereus undatus trồng ở Việt Nam với quy mô

Trang 7

Bảng 2.1: Phân loại một số cây lấy quả thuộc họ xương rồng

Chi/Loài Tên thường gọi Đặc tính thực vật Đặc điểm quả

1 Opuntia

O.ficus-indica (L)

Miller

Tuna, prickly or cactus pear

Thân phẳng có nhiều đoạn khúc khưỷu, dạng bụi

Quả nặng 100-200g, hình bầu dục Màu sắc vỏ và thịt quả thay đổi rất khác nhau từ xanh, vàng đến đỏ Vỏ quả có nhiều lông

cactus pear

Thân phẳng có nhiều đoạn khúc khưỷu, dạng bụi

Thân có nhiều gai

Quả nặng 100-200g, hình bầu dục Màu sắc vỏ và thịt quả thay đổi rất khác nhau từ xanh, vàng đến đỏ Vỏ quả có nhiều lông

Quả hình cầu trọng lượng 100-200g, vỏ có nhiều gai, thịt quả màu vàng đến đỏ

S.queretaroensis

(Weber) Busbaum

Pitaya de Quertaro

Thân thẳng đứng mọc bụi hoặc dạng cây nhỏ

Quả hình cầu trọng lượng 100-200g, vỏ có nhiều gai, thịt quả màu trắng, vàng, đỏ tía đến đỏ thẫm

Quả hình cầu trọng lượng 100-200g, vỏ có nhiều gai, thịt quả màu đỏ

3 Ceureus

C.Peruvianus (L)

Miller

Pitaya, apple cactus

Thân thẳng đứng mọc bụi hoặc dạng cây nhỏ

Quả bầu dục nặng 200-300g

Vỏ mỏng, màu vàng, tím đến màu đỏ Thịt màu trắng

Thân mảnh, hình tam giác, dạng bò

Quả hình cầu, 300-600g, vỏ màu đỏ sẫm có nhiều vẩy lớn, thịt quả màu đỏ tím

H undatus

(Haworth) Britton

& Rose

Pitaya (Pitahaya) roja, red pitaya

Thân mảnh, hình tam giác, dạng bò

Quả hình cầu nặng 300-600g,

vỏ màu đỏ sẫm có nhiều vẩy lớn, thịt quả màu trắng

Trang 8

2.2.2 Một số nghiên cứu về giống và chọn tạo giống thanh long

* Một số nghiên cứu về giống

ở australia có 3 giống chính đó là giống vỏ đỏ ruột trắng, giống vỏ đỏ ruột đỏ và giống vỏ vàng ruột trắng [26]

Giống vỏ đỏ ruột trắng (Hylocerus undatus Britt & Rose) là giống

thuộc họ xương rồng, có nguồn gốc từ rừng nhiệt đới ẩm của miền Trung và miền Bắc Nam Mĩ Trước đây, cây thanh long được coi là hoang dại, sử dụng như cây cảnh vì có nhiều hoa với kích thước lớn, có mùi thơm và nở vào ban

đêm Hiện nay giống này rất được ưa chuộng trên toàn thế giới đặc biệt ở israel, Việt Nam, australia Bởi vì, quả thanh long ăn rất hấp dẫn, có mùi vị khác biệt so với các loại quả khác Giống này có thân hình tam giác, ít gai thường cho quả rất to, nặng khoảng 1kg thậm chí còn cao hơn Vỏ quả có màu đỏ sáng rất đẹp, thịt quả màu trắng đục có nhiều hạt nhỏ màu đen Thời gian từ khi nở hoa đến thu hoạch khoảng 30 ngày

Giống vỏ đỏ ruột đỏ (Hylocerus polyrhizus): giống này có thân 3 - 4

cánh dẹp, nhiều gai, quả nhỏ hơn giống vỏ đỏ ruột trắng thường dưới 1kg Vỏ màu đỏ thẫm, thịt quả màu đỏ thẫm và nhiều hạt nhỏ màu đen

Giống vỏ vàng ruột trắng (Selenicereus megalanthus): thân cây gầy hơn

thân cây của hai giống trên, có nhiều gai nhưng gai to và ngắn Quả nhỏ thường chỉ 200 - 300g/quả, vỏ quả màu vàng có nhiều gai Thịt quả màu trắng trong, rất nhiều hạt màu đen Quả có chứa hàm lượng đường rất cao [26] [30]

* Một số nghiên cứu về chọn tạo giống

Theo Weiss 1994, trong cùng một loài Hylocerus spp, loài Hylocerus undatus tự thụ phấn kém nhưng thụ phấn chéo với các loài khác đạt tỷ lệ đậu

quả cao Và ông ghi nhận rằng, bao phấn ở thanh long thành thục trước khi

hoa nở và nhuỵ nhận hạt phấn ngay đó Theo Nguyễn Minh Trí, Bùi Thị Mỹ

Trang 9

Hồng, Nguyễn Trịnh Nhất Hằng [17], thanh long ruột đỏ được thụ phấn bổ sung với nguồn phấn hoa từ các giống/dòng thanh long Chợ Gạo và Bình Thuận đều làm tăng năng suất, phẩm chất quả thanh long Đặc biệt, khối lượng quả trên 350g/quả đã tăng lên đáng kể, tăng độ dầy vỏ quả, màu sắc vỏ quả đồng đều hơn giống ruột đỏ để thụ phấn tự nhiên và ruột đỏ được thụ phấn với ruột đỏ

Trần Thi Oanh Yến, Trần Kim Cương và Phạm Ngọc Liễu (2001 - 2002), bước đầu đánh giá các con lai của hai tổ hợp lai thuận nghịch thanh long Bình Thuận và thanh long ruột đỏ, thu được 188 con lai trong đó có 18 con lai có đặc tính tốt: cây sinh trưởng khoẻ, khối lượng quả lớn, vỏ quả bóng

đẹp và không mẫn cảm với các bệnh nguy hiểm Những con lai đó là:

TLL1-5, TLL 1-11, TLL 1-28, TLL 1-3TLL1-5, TLL 1-50, TLL 1-61, TLL 1-80, TLL1-86 thuộc tổ hợp lai thanh long ruột đỏ với thanh long Bình Thuận và TLL 2-12, TLL 2-22, TLL 2-23, TLL 2-39, TLL 2-66, TLL 2-76, TLL 2-80, TLL 2-93, TLL 2-95 thuộc tổ hợp lai thanh long Bình Thuận với thanh long ruột đỏ [23]

Qua quá trình khảo nghiệm giống của Trần Thị Oanh Yến và ctv (2001

- 2002), cho kết quả là hai dòng thanh long Bình Thuận và Chợ Gạo cho năng suất cao hơn hai giống thanh long vỏ vàng ruột trắng và giống thanh long ruột

đỏ ở điều kiện thụ phấn tự nhiên [22]

2.2.3 Tình hình sản xuất và tiêu thụ thanh long

Sản xuất cây ăn quả xuất khẩu đang là vấn đề quan tâm không chỉ đối với các nhà chuyên môn, mà cả đối với người dân Thanh long ở miền Nam,

đang có mặt ở nhiều thị trường trên thế giới và có ở hầu hết các vùng trong cả nước Riêng tỉnh Bình Thuận, thu được kim ngạch xuất khẩu gần 9 triệu USD

từ thanh long với lượng xuất khẩu 25.000 tấn Tuy nhiên, điều này chưa thực

sự phát huy hết thế mạnh của cây trồng, vì sản lượng thanh long mỗi năm ở

Trang 10

Bình Thuận lên tới 95.000 tấn do còn nhiều mặt hạn chế như chất lượng sản

phẩm chưa được an toàn, sản phẩm chưa được đồng đều

Theo đánh giá của trung tâm thông tin (Bộ Thương mại), thanh long ở

tỉnh Bình Thuận đứng đầu cả nước về năng suất và sản lượng Trong 10 năm

gần đây, sản lượng thanh long ở đây tăng bình quân 33 - 38%/năm Riêng

2003, sản lượng đạt 87.000 tấn trong đó lượng quả đủ tiêu chuẩn xuất khẩu

đạt từ 40 - 50% Tỉnh Bình Thuận đã có qui hoạch phát triển thanh long đến

năm 2010 với diện tích 11.000ha, đạt sản lượng 250.000 tấn [13]

Bảng 2.1: Diện tích và sản lượng quả thanh long trên cả nước [34]

Trang 11

Mặc dù, thanh long ở miền Nam phát triển rất mạnh nhưng ở miền Bắc

- Việt Nam, việc trồng cây thanh long chưa thực sự thu hút người dân do năng suất thấp, chưa có bộ giống phù hợp

2.2.4 Yêu cầu về sinh thái của cây thanh long

* Đất đai

Thanh long trồng được trên nhiều loại đất từ đất khô cằn, đất cát, đất xám bạc màu, đất phèn đến đất thịt, thịt pha sét [11] Tuy nhiên, để trồng thanh long đạt hiệu quả cao, đất phải tơi xốp, thông thoáng, thoát nước tốt đặc

Trang 12

biệt ở đất có chứa 30 - 40% cát [26] [33] Yêu cầu đất có pH từ 6,5 - 7,5, hàm lượng hữu cơ cao, không bị nhiễm mặn

2.2.5 Một số đặc điểm thực vật học của cây thanh long

rễ trên không bám vào các chỗ hổng, chỗ trống của choái để giúp cây leo lên

đỉnh choái và cũng làm một phần nhiệm vụ hút dinh dưỡng để nuôi cây [30] Vì vậy, việc phun phân bón lên thân cây, cây không chỉ hấp thụ chất dinh dưỡng qua các lỗ khí khổng mà hút bởi các lông hút ở rễ khí sinh Những rễ khí sinh nằm gần đất sẽ đi dần xuống đất Khả năng ra rễ của thanh long rất cao, do một yếu tố nào đó mà đoạn gốc (cả nhu mô và lõi) bị mất đi mà đoạn phía trên vẫn ra rễ và hút chất dinh dưỡng tiếp tục nuôi cây

* Thân, cành

Thanh long là loại cây leo nửa phụ sinh - lúc đầu mọc rễ dưới đất sau

đó tạo ra nhiều rễ bất định bám lên một vật nương tựa nào đó như bờ tường, trụ, thân cây khác [3]

Thân, cành thanh long ưa nắng, thân mập thường có 3 cánh dẹp hiếm khi có 4 cánh, màu xanh lục (Nguyễn Văn Kế 1998) [11] ở một số chi khác, thân có 3 - 5 cánh, thắt khúc từng đoạn là điểm giới hạn của những đợt sinh trưởng Thân bò rất dài thậm chí tới 5 - 7m, đường kính 3 - 7cm Thân không

có lá, lá đã bị tiêu giảm [11] [26] [30] Theo Nguyễn Văn Kế (1998) [11],

Trang 13

Trên mỗi cành có nhiều thuỳ, tại thuỳ có nhiều lông mịn, ngắn và có 2 - 5 gai nhỏ dài 2 - 4mm (Barbeau 1990, Trương Thị Đẹp 1999) [3] Các thuỳ xuất hiện đều trên 3 cánh của thân xếp dọc theo một đường xoắn ốc Thuỳ là vị trí

bị tiêu giảm được gọi là mắt và cũng là nơi nụ hoa xuất hiện Bìa mỗi cánh có

đường viền màu vàng nâu nối liền các mắt với nhau Tiết diện ngang cho thấy

có hai phần: bên ngoài là nhu mô chứa diệp lục, bên trong là lõi cứng hình trụ

* Hoa

Thanh long có duy nhất một loại hoa đó là hoa lưỡng tính rất to, chiều dài khoảng 25 - 35cm [3] [11] [30], chiều rộng 22,5cm [30] Hoa màu vàng sáng, mọc đơn độc trên thân cây, nhiều lá đài và cánh hoa dính nhau thành ống, nhiều chỉ nhị và một vòi nhuỵ Các lá đài hình vẩy dài, màu xanh xếp kiểu xoắn ốc Các cánh hoa có màu trắng ngà, mỏng manh xếp nối tiếp lá đài Các chỉ nhị xếp xoắn ốc trên ống bao hoa ở bầu noãn hạ, vòi nhuỵ dài hơn chỉ nhị, vòi nhuỵ dài khoảng 18 - 24cm, đường kính 5 - 8mm Tận cùng là nuốm nhuỵ, chia làm nhiều nhánh

Hoa nở vào ban đêm, thường nở tập trung từ 20 - 23 giờ Hoa nở đồng loạt trong vườn và sáng hôm sau thì hoa héo dần Số đợt hoa xuất hiện trong năm tuỳ thuộc vào từng giống, từng vùng Theo tác giả Nguyễn Văn Kế 1998 [11], hàng năm có khoảng 4 - 6 đợt đối với giống thanh long ruột trắng trồng tại miền Nam - Việt Nam Giống thanh long ruột đỏ trồng tại đảo Hải Nam - Trung Quốc, có 13 - 15 đợt hoa trong năm [2] Mỗi đợt hoa chỉ kéo dài 2 - 3 ngày Hoa xuất hiện sớm nhất vào cuối tháng 3 kết thúc vào khoảng tháng 10,

nở rộ từ tháng 4 đến tháng 9 Theo Trương Thị Đẹp 1999 [3], sự nở hoa của thanh long theo chu kỳ sau: tất cả các hoa trong cùng một cây và tất cả các cây trong cùng một dòng tiến triển cùng một thời gian theo ba pha đó là:

Xuất nụ tới nở hoa: 15 - 16 ngày

Trang 14

Nở hoa: 3 - 5 ngày

Nở hoa đến khi quả chín: 30 - 35 ngày

Sự nở hoa vừa kết thúc, đã xuất hiện những nụ hoa mới của chu kỳ tiếp theo Vì vậy, có thể thấy trên một cây ở cùng một thời điểm có cả nụ hoa, những quả non và những quả gần chín Do đó, để tăng năng suất, chất lượng quả thanh long cần chú trọng đến kỹ thuật bón phân cho cây trong thời kỳ cây cho quả

Sự nở hoa phụ thuộc vào hiện tượng quang chu kỳ, việc tưới nước cho cây trong suốt mùa khô không phân hoá mầm hoa, ngoại trừ nếu gần đến thời

kỳ ra hoa chính vụ (Barbeau 1990) [3] Đợt nụ đầu tiên rụng 30 - 40%, sau đó

tỷ lệ này giảm dần khi gặp điều kiện thuận lợi [3] [11] Cây thanh long ruột trắng 3 tuổi có khoảng 94 - 95 hoa/trụ trong năm (Nguyễn Văn Kế 1998) [11] Hoa thanh long tự thụ phấn nhờ gió và côn trùng [2] [5] [26] [27] [33]

* Quả

Sau khi hoa thụ phấn, thụ tinh sẽ phát triển thành quả Trong 10 ngày

đầu, tốc độ quả phát triển tương đối chậm sau đó tăng rất nhanh về kích thước

và khối lượng [10] [11] [20] Vì vậy, có thể phun phân bón lá vào thời điểm sau 10 ngày đậu quả cho hiệu quả cao Khi chín, quả rất to có màu đỏ tía Quả có thể hình tròn hoặc hình bầu dục Quả thường có chiều dài khoảng 12 - 16cm, đường kính 8 - 13,5cm Vỏ quả có mang nhiều vẩy (tai) màu xanh và

có chiều dài 2 - 5cm Đó là những phiến ngoài cùng của bao hoa Mỗi trụ thanh long ruột đỏ trồng tại đảo Hải Nam - Trung Quốc, cho khoảng 30 quả/năm Số lượng quả trên cây tuỳ thuộc vào vùng sinh thái, kỹ thuật chăm sóc Quả thanh long ruột đỏ có khối lượng từ 400 - 800g, tổng hàm lượng chất rắn hoà tan 18% [2] Khối lượng quả phụ thuộc phần lớn vào kỹ thuật bón phân, tưới nước Khối lượng trung bình là 250 - 350g/quả (Barbeau 1990) [3]

ở giai đoạn đầu vào ngày thứ 26, từ khi hoa nở đến khi quả thành thục, khối lượng quả tăng chủ yếu là do khối lượng vỏ, tỷ lệ thịt quả tăng rất chậm

Trang 15

Vào ngày thứ 5 sau khi quả đậu, vỏ quả chiếm 92,25% đến khi quả thành thục

tỷ lệ vỏ quả chỉ còn 59,31% ở ngày thứ 26, lúc này vỏ quả thanh long rất dầy, thịt quả có màu hồng tím nhạt Khi quả chín hoàn toàn, thịt quả chiếm khoảng 60% ở ngày thứ 28 - 30 sau khi quả đậu Nếu tiếp tục để quả trên cây,

tỷ lệ thịt quả vẫn tăng nhưng dễ dẫn đến hiện tượng vỏ quả bị nứt và vẩy quả

bị úa vàng rất nhanh (Thái Thị Hoà, 2002) [10] Quả thanh long ruột đỏ có khuynh hướng chiều cao quả tăng chậm hơn so với đường kính quả [10]

Màu sắc của thịt quả rất đa dạng, có thể màu trắng trong, trắng đục hoặc màu đỏ tuỳ thuộc vào giống Thịt quả chứa nhiều hạt nhỏ màu đen giống như hạt vừng đen Một quả có khoảng 10.500 - 20.000 hạt [2], hạt nhỏ phân

bố đều, hạt mềm nên khi ăn không ảnh hưởng đến chất lượng quả

Bên ngoài thịt quả giáp với phần vỏ quả là màng trong suốt do vậy rất

dễ bóc vỏ (Trương Thị Đẹp 1999, Vũ Công Hậu 1996) [3] [5]

2.2.6 Một số nghiên cứu về dinh dưỡng cho cây thanh long

Khác với một số cây ăn quả khác, cây thanh long ra quả tập trung và sau mỗi vụ quả cây bị lấy đi khối lượng sản phẩm lớn Mặt khác, cây thanh long không có lá, khí khổng đóng vào ban ngày và mở vào ban đêm nên cường độ và sản phẩm quang hợp ở cây rất thấp [3] Vì thế, việc cung cấp dinh dưỡng cho cây là vô cùng quan trọng Theo khuyến cáo của một số nông dân vùng xuất xứ cây thanh long ruột đỏ, bón lót phân hữu cơ 10 - 20 kg/trụ trong năm Tỷ lệ phân N - P - K là 3: 4: 5 với lượng bón như sau [2]:

Bảng 2.3: Lượng phân bón cho một trụ thanh long ruột đỏ trong năm

Tuổi cây Đạm urê (g) Lân supe (g) Kaliclorua (g)

Trang 16

Lượng phân trên dùng trong một năm và được chia làm 12 lần, bón vào tháng 3 là 1/6 lượng phân trên + toàn bộ lượng phân hữu cơ Từ tháng 4 - 11, mỗi tháng bón 1/12 lượng phân trên

Từ tháng 12 sau khi thu hoạch và cắt tỉa, bón 1/6 tổng lượng phân Vào mùa đông, cần bón tăng phân kali để tăng cường sức chống hạn và chống rét cho cây

Những cây con mới trồng, khả năng hấp thu dinh dưỡng của bộ rễ yếu hơn, sau khi bón phân phải tưới nước tránh ảnh hưởng đến bộ rễ hoặc có thể hoà phân vào nước để tưới là tốt nhất

ở khu vực đảo Hoa Nam - Đài Loan, hàng năm nhiệt độ xuống 60C kèm theo mưa phùn, các bộ phận non của cây thanh long ruột đỏ dễ bị ảnh hưởng xấu trước khi vào mùa đông Vì vậy, khi bón phân cần chú ý thêm phân kali để chống rét, chống hạn cho cây

Có rất nhiều quan điểm về bón phân cho cây thanh long, theo khuyến cáo của Sở khoa học công nghệ môi trường tỉnh Bình Thuận [14] [15] như sau:

Trang 17

Lần 1 bón sau khi thu hoạch : 100% lân + toàn bộ lượng phân chuồng hoai mục + 200g urê

Lần 2 cuối tháng 12: 200g urê + 150g KCl

Lần 3 cuối tháng 2: 80g urê + 150g KCl thúc ra hoa

Lần 4 cuối tháng 4: 200g urê + 100g KCl

Từ lần thứ 5 đến lần thứ 8 cứ mỗi tháng bón một lần, liều lượng bón là 100g urê + 100g KCl

Ngoài ra, có thể phun bổ sung thêm các loại phân vi lượng bằng cách phun thêm phân bón lá vào 10 ngày sau khi đậu quả và lúc quả phát triển nhanh Theo tác giả Nguyễn Văn Kế 1998 [11], chưa có một thí nghiệm nào

về bón phân cho thanh long trên các loại đất khác nhau Lượng phân bón thay

đổi tuỳ thuộc vào tính chất đất, theo tuổi cây và theo sản lượng mà cây đã cho thu hoạch Qua kết quả điều tra thu thập số liệu ở các vườn có năng suất cao cho thấy có hai kiểu bón phân điển hình [11]:

Bón theo đợt: 3 lần/năm chiếm 70% số hộ phỏng vấn

Bón rải ra nhiều lần trong năm chiếm 30% số hộ còn lại

Riêng phân chuồng chỉ cần bón một lần sau tỉa cành, vào tháng 11

Đây là loại phân quan trọng nhất đối với các loại đất thiếu chất hữu cơ, đất giữ ẩm kém Phân vô cơ đem hoà tan vào nước để tưới, riêng phân đạm urê có thể tưới hoặc phun lên cả thân cành để thúc cành nhanh leo lên đầu trụ Các năm sau rải phân quanh gốc rồi tưới nhẹ cho phân hoà tan và ngấm xuống đất

Giai đoạn kiến thiết cơ bản: chỉ kéo dài từ 1 - 2 năm Tổng lượng phân bón thúc thường được áp dụng là 300g urê + 200g N - P - K (16 - 16 - 8) cho 1trụ bón trong năm và được chia đều để bón cho cây làm 3 lần vào giai đoạn

15 – 20 ngày, 4 - 5 tháng và 7 - 8 tháng sau khi trồng

Như vậy, việc chia phân bón làm nhiều lần đã nâng cao hiệu suất sử dụng phân bón của cây và tránh được sự ảnh hưởng xấu đến bộ rễ yếu ớt của

Trang 18

cây thanh long Ngoài ra, bổ sung các phân vi lượng bằng cách phun hoặc tưới các chế phẩm như HVP 301, Mymix Như vậy, cây con sẽ tăng trưởng nhanh ở giai đoạn đầu cây sẽ sớm ra quả

Giai đoạn kinh doanh: năm thứ 3 trở đi năng suất đã khá ổn định cần chú trọng bón phân kali Đó là một loại phân cần thiết để làm tăng chất lượng quả và chống hạn, chống rét cho cây Lượng phân trung bình bón cho mỗi trụ như sau:

Phân chuồng 15kg, supe lân 500g, urê 500g, N - P - K (16 - 16 - 8) 1.500g, Kaliclorua 500g chia làm 3 lần bón

Lần 1 sau khi cắt tỉa vào tháng 10 - 11, gồm toàn bộ lượng phân chuồng và phân lân + 1/3 lượng phân urê để thúc các đợt lộc cành đầu tiên xuất hiện sớm và nhanh thành thục; làm cơ sở cho việc ra quả vào vụ tới

Lần 2 cách lần 1 là 40 - 50 ngày, gồm 1/3 lượng phân urê + 1/5 lượng phân N - P - K + 1/2 lượng phân kaliclorua để thúc đợt cành thứ 2

Lần 3 bón vào tháng 3, gồm lượng phân urê còn lại + 2/5 lượng phân N

- P - K + lượng phân kaliclorua còn lại nhằm thúc đợt lộc cuối cùng và tạo

điều kiện cho đợt cành thứ nhất phân hoá mầm hoa

Sau 3 lần bón thúc, bụi cây thanh long có 3 - 4 đợt lộc và sau đó là các

đợt nụ, các đợt quả xen kẽ nhau Thông thường, người làm vườn quan sát sự

ra hoa và năng suất mà bón bổ sung từng đợt N - P - K cho hết 2/5 lượng phân còn lại, bằng cách chia nhỏ lượng phân này để bón làm nhiều đợt trong thời gian cây nuôi quả Ngoài ra, còn bổ sung thêm phân vi lượng như Bortrac, Kích phát tố Thiên nông

Theo Vũ Công Hậu 1996 [5], phân bón chủ yếu cho thanh long là phân chuồng với lượng bón là 10 - 20 tấn/ha tức là khoảng 10 - 20kg phân chuồng

và 400 - 500g phân N - P - K cho một trụ khi cây còn nhỏ Khi cây đã lớn,

Trang 19

bón 1.000 – 2.000g phân N - P - K cho một trụ Trong thời gian cây cho quả thì yếu tố phân đạm và kali cần thiết nhất sau đó đến phân lân

Theo Nguyễn Như Hiến 1998 [7], bón phân ở mức 500g N + 500g P2O5+ 500g K2O tương ứng 1.080g ure + 3.200g supe lân + 800g kaliclorua đã làm tăng số lượng, khối lượng quả, tăng năng suất và chất lượng quả thanh long Lượng phân bón này được chia đều cho hai lần bón, vào tháng 3 và tháng 10 Bón phân đạm đã nâng cao số lượng quả, khối lượng quả, tăng tỷ lệ quả trên 400g, tăng năng suất và phẩm chất quả thanh long

2.2.7 Những nghiên cứu về kỹ thuật trồng thanh long

* Chuẩn bị đất

Nhiều tác giả cho rằng, đối với vùng đất đồi núi, đào hố với kích thước

50 x 100 x 50cm, vùng đồng bằng kích thước hố 50 x 50 x 50cm Chôn trụ, lấp đất đến khi hố sâu khoảng 20 - 30cm so với mặt đất, bón lót phân chuồng rồi phủ lớp đất mặt lên trên Đối với vùng đất thấp phải đào mương, độ cao băng đất trồng phải cao hơn mực nước cao nhất trong năm từ 20 - 30cm Sau

đó đào hố trồng và bón lót Việc chuẩn bị đất trước khi trồng khoảng 1 tháng [1] [19] [21]

* Chuẩn bị trụ

Thanh long không thể thiếu cây trụ, nên phải chuẩn bị trụ trước khi đặt hom giống Có nhiều loại trụ có thể dùng trụ gỗ, trụ ximăng Theo kết luận của tác giả Trần Ngọc Hùng 1999 [9], thay thế được trụ gỗ bằng trụ bêtông cho việc trồng mới hoặc thay thế những trụ gỗ ở vườn kinh doanh, không làm

ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng quả trong những năm tới Trồng trụ trước khi đặt hom một tháng, chiều cao trụ 1,5 - 1,7m, phần chôn xuống từ 0,5 - 0,7m đảm bảo trụ phải đứng chắc không bị đổ khi cây từ 3 năm tuổi trở

đi hoặc khi có gió bão Đường kính trụ 15 - 20cm Đối với trụ ximăng mỗi cạnh 12 - 15cm Trên đầu trụ, đặt thêm giá đỡ hình chữ thập hoặc đóng nẹp

Trang 20

hai bên mép trụ giúp cành thanh long có chỗ bám trên đầu trụ, cành dễ rủ xuống

Mật độ trồng khoảng 700 - 1.000 trụ/ha khoảng cách 3m x 3m hoặc 3m

x 3,5m Có thể bố trí trồng xen các loại cây ngắn ngày, nhưng phải đảm bảo cho thanh long nhận đủ ánh sáng

* Thời vụ trồng

Thông thường, thời vụ trồng thanh long vào tháng 10 - 11 Thời gian này, nguồn hom giống dồi dào do trùng với thời gian tỉa cành, lợi dụng ẩm độ cuối mùa mưa, tránh được ngập úng Tuy nhiên, đến mùa khô cây chưa đủ sức chống chịu với nắng hạn, cần phải tưới và giữ ẩm cho cây

* Tỉa cành và tạo tán

Mục đích tỉa cành là tạo bộ khung tán đẹp cho trụ thanh long, mặt khác làm hạn chế sâu bệnh và sự cạnh tranh dinh dưỡng Sau khi trồng 7 - 10 ngày, cây đã ổn định và bắt đầu đâm chồi, chọn một chồi khoẻ nhất, bám chặt vào trụ để lại Số chồi còn lại cần tỉa bỏ Khi cành từ đỉnh trụ trở lên cao 30 - 40cm, tiến hành uốn cành nằm xuống đỉnh trụ Nên uốn vào lúc trưa nắng, lúc này cành mềm dễ uốn Uốn cành hàng ngày đến khi cành nằm ngang trên

đỉnh trụ dùng dây buộc cố định Biện pháp này giúp cành mau ra chồi mới Khi cành đâm chồi, chỉ chọn 1- 2 chồi khỏe để lại, các chồi khác tỉa bỏ Trụ

có dạng hình tròn đều sẽ cho năng suất cao và ổn định

Trang 21

Tạo tán nhằm tạo cho trụ thanh long có bộ khung tán cơ bản, vững chắc Sau khi thu hoạch, tỉa bỏ các cành cũ bên trong tán, cành sâu bệnh, cành già không có khả năng cho quả Nên cắt ngang cành cách gốc cành 30 - 40cm nhằm làm giá đỡ cho cây Cành vừa cho quả vụ trước nên để lại nuôi chồi mới [18]

* Tỉa hoa và quả

Hoa thanh long nở rất tập trung, nếu để hoa quá nhiều sẽ tiêu hao nhiều dinh dưỡng ảnh hưởng lớn đến năng suất, chất lượng thanh long Như vậy, nên giữ lại những hoa ở vị trí thuận lợi và ngắt bớt một số hoa ở nơi không có

ánh sáng, ở một số cành có quá nhiều hoa Thời gian ngắt hoa trước khi hoa

nở 2 - 3 ngày ở Trung Quốc, người ta sử dụng hoa này làm rau ăn [2]

Sau khi quả đậu, nên để 2 - 3 quả trên một cành, tránh bị ảnh hưởng

đến chất lượng quả đồng thời thúc đẩy sự phát triển nụ hoa đợt sau

* Thu hoạch

Đối với cây ăn quả nói chung và cây thanh long nói riêng, thời điểm thu hoạch quả có tính chất quyết định đến năng suất và phẩm chất quả Thông thường với quả thanh long, khi vỏ quả chuyển từ màu xanh sang màu hồng tím là có thể thu hoạch được Tức là vào thời điểm 28 - 30 ngày sau khi hoa

nở Tuy nhiên, tuỳ từng mục đích thu hái để chọn thời điểm thu hái thích hợp,

đối với thanh long xuất khẩu thu hái vào ngày thứ 25 - 28 sau khi hoa nở và thu vào ngày thứ 29 - 30 sau khi hoa nở phục vụ thị trường nội địa

Thời gian phát triển của thanh long từ lúc hoa nở đến khi thu hoạch phụ thuộc vào từng loài 32 - 35 ngày đối với thanh long ruột trắng và ruột đỏ; 120

- 160 ngày đối với thanh long vỏ vàng (Nerd & ctv, 1999) [10]

Thanh long là quả không tăng bột phát hô hấp nên được thu hoạch khi quả đã chuyển màu hoàn toàn (Nerd & ctv, 1999; Thái Thị Hoà & ctv, 2001)

Trang 22

[10] Sau thu hoạch, sự mất nhanh hương vị và héo “vẩy” quả là hai trong các vấn đề quyết định đến giá trị cảm quan và giá trị xuất khẩu Đó cũng là những yếu tố hạn chế trong việc vận chuyển thanh long đến các thị trường xa Vì thế nên, thu hoạch vào sáng sớm, chiều mát, tránh ánh nắng trực xạ vào quả Dụng cụ thu hái nên sử dụng kéo cắt cành sắc Khi cắt quả xong, quả được

đặt vào thùng và để trong bóng râm Cần phải vận chuyển nhanh về nhà càng sớm càng tốt.ẳTong khi thu hái thanh long, không để quả xuống đất tránh nhiễm nấm bệnh gây hỏng cuống khi bảo quản

2.2.8 Một số nghiên cứu về kỹ thuật nhân giống thanh long

Có nhiều phương pháp nhân giống thanh long, có thể sử dụng phương pháp gieo hạt Chọn các cây sinh trưởng, phát triển tốt, cho quả ổn định Sau

đó, chọn những quả không bị sâu bệnh, chín tự nhiên rửa sạch hạt loại bỏ phần thịt quả và lớp nhầy Sau đó gieo hạt vào cát sạch, sau 5 - 6 tháng khi cây đạt chiều cao khoảng 40 - 50cm đem ra trồng Phương pháp này có hạn chế là kéo dài thời gian từ trồng đến khi cho quả, khoảng 2 - 3 năm Phương pháp gieo hạt thường được áp dụng trong công tác lai tạo giống [24]

Tuy nhiên, phương pháp phổ biến nhất là nhân giống bằng cách giâm cành Phương pháp này có ưu điểm là cây con mang đặc tính di truyền của cây mẹ, nhanh cho quả chỉ sau 6 tháng trồng Các bước nhân giống như sau [33]:

Bước 1: chọn các đoạn cành từ cây được trồng trong điều kiện thuận lợi Tuổi hom từ 6 - 24 tháng, chọn các cành có gốc cành bắt đầu hoá gỗ nhằm hạn chế bệnh thối cành khi đặt hom xuống đất, tạo điều kiện rễ nhanh phát triển Các mắt mang chùm gai phải mẩy, có khả năng nẩy chồi tốt

Bước 2: cắt các đoạn cành có chiều dài khoảng 50 - 60cm, cành có màu xanh thẫm, khoẻ không và có vết sâu bệnh Sau khi cắt cành, để các đoạn

Trang 23

cành ở nơi khô ráo trong khoảng một tuần nhằm làm khô vết thương, hạn chế

bị thối cành Sau đócác đoạn cành này đem trồng vào khay cát sạch

Bước 3: đặt các khay đó dưới bóng râm mát, hạn chế tưới nước đảm bảo độ ẩm 65 - 75% để bộ rễ phát triển Tốc độ sinh trưởng của đoạn cành không phụ thuộc vào chiều dài đoạn cành, tốc độ sinh trưởng của đọan cành

đạt khoảng 3,05 cm/ngày Đoạn cành sinh trưởng tốt nhất cho quả sau trồng 6 tháng, thường 9 tháng sau trồng cây mới cho quả Cũng có thể bằng phương pháp giâm hom nhưng không qua công đoạn giâm cát mà trồng trực tiếp ra vườn vì cây thanh long rất dễ ra rễ

2.2.9 Một số nghiên cứu về sâu bệnh hại thanh long

Nhìn chung cây thanh long không bị đối tượng sâu bệnh nguy hiểm gây hại như nhiều loại cây ăn quả khác Một số sâu bệnh hại chính như sau:

Kiến: cắn, đục khoét các hom giống, các cành lộc thanh long và cắn cả các vẩy quả gây tổn thương vỏ quả, làm ảnh hưởng đến chất lượng quả Đây

là loại côn trùng dễ phòng trừ có thể dùng Basudin 10H, Padan 3H trộn đều với cát với tỷ lệ 2/1.000 rải đều quanh gốc hoặc nơi làm tổ

Bọ xít (Bọ xít đen và bọ xít xanh): thường tập trung thành từng đám phá hại phần non của cành, nụ, quả non Chúng phá hại thanh long từ khi xuất hiện nụ hoa đến khi quả hình thành Chúng chích hút nhựa để lại những vết chích rất nhỏ, đến khi quả chín ở các vết chích sẽ xuất hiện một chấm màu

đen làm giảm giá trị cảm quan và giá trị xuất khẩu Cách phòng trừ: dùng Trebon, ôfatốc nồng độ 0,2% phun lên cây khi bọ xít xuất hiện

Sâu khoang: ăn phần diệp của thân cành nhất là phần non, gây ra vết thương lớn dễ dẫn đến bệnh thối nhũn Ban ngày thường trú ở giữa các cành thanh long hoặc dưới đất Cách phòng trừ như đối với bọ xít nhưng phải phun thuốc vào sáng sớm hoặc chiều tối

Trang 24

ốc sên: vào mùa ưa ốc sên xuất hiện nhiều, ban ngày thường trú trên trụ thanh long hoặc dưới đất nơi cỏ mọc tốt ốc sên thường ăn phần diệp lục

và ăn vỏ quả gây ra các vết sẹo ở vỏ quả Cách phòng trừ có thể bắt băng tay

và tận dụng nguồn ốc sên đó đem ngâm để tưới cho cây Cũng có thể phòng trừ như đối với sâu khoang

Ruồi vàng (Dacus dorsalin): đẻ trứng vào lớp dưới của vỏ quả, dòi nở ra gây hại phần thịt quả ở gần phía ngoài làm thịt quả dễ bị hư hỏng Ruồi vàng

là đối tượng mới xuất hiện trên các vườn thanh long ở phía nam trong vài năm gần đây Cách phòng trừ là thường xuyên vệ sinh đồng ruộng, thu dọn và huỷ

bỏ các quả rụng Xử lý đất để diệt nhộng bằng cách có thể bón vôi hàng năm

và có thể đặt bả có chứa chất dẫn dụ [16]

Bệnh thối nhũn (erwinia sp): bệnh thường xảy ra vào cuối mùa nắng do nấm Alternaria sp gây ra Nấm bệnh thâm nhập qua các vết thương cơ giới trên cây và phá hại.Từ đó mô mềm của cành thanh long từ màu xanh chuyển thành màu vàng rồi mềm ra, sau đó thối nhũn Từ vị trí này lây lan sang vị trí xung quanh, rồi huỷ hoại toàn bộ mô mềm của cành Cuối cùng, chỗ thân cây

bị bệnh chỉ còn lại phần lõi bên trong Biện pháp phòng trừ: không lấy giống

ở những cây đã bị bệnh, sau khi cắt hom giống để lành vết thương mới đem trồng hoặc giâm Trước khi giâm, phải xử lý đất và hom giống để diệt nấm bệnh Khi cây đã bị bệnh, cắt bỏ các cành bị bệnh dùng vôi sát trùng vết cắt sau đó phun Rovral 0,1% hai lần liên tiếp cách nhau một tuần

2.2.10 Một số nghiên cứu về bảo quản thanh long

Thanh long là cây ăn quả đặc sản, có giá trị dinh dưỡng và giá trị xuất khẩu cao vì sự hấp dẫn về hình dáng, màu sắc, dinh dưỡng và hương vị Để góp phần giải quyết vấn đề chất lượng và mở rộng thị trường thanh long thì vấn đề bảo quản thanh long là vô cùng quan trọng

Trang 25

Quả thanh long thuộc loại quả có cường độ hô hấp cao khi quả xanh và giảm dần khi chín Vì vậy, có thể bảo quản thanh long bằng phương pháp

điều chỉnh thành phần không khí Nguyên tắc là làm tăng nồng độ CO2 và giảm nồng độ O2 trong không khí xung quanh quả, để giảm cường độ hô hấp của quả Khi bảo quản, quả được bao bằng túi polyetylen có đục 20 - 30 lỗ nhỏ và hàn kín túi Đựng quả trong thùng carton với kích thước 46 x31 x13cm

có 10 lỗ thông khí có kích thước 2,5 x 4cm có vách ngăn bề dày vách 5mm Vận chuyển bằng container lạnh 50C và có độ thông khí 20 - 25 m3/giờ [15]

Điều kiện bảo quản thanh long ở nhiệt độ 50C, độ ẩm 90% kết hợp với

kĩ thuật bao gói, thanh long có thể bảo quản tươi 40 - 50 ngày Khi nhiệt độ quá thấp, dưới 50C quả bị tổn thương, độ ẩm trong phòng bảo quản thấp, tai quả sẽ bị héo đi nhanh Vì vậy, ở trong phòng bảo quản phải duy trì độ ẩm cao, để giữ được giá trị cảm quan Nhiệt độ 280C và độ ẩm 70% thời gian bảo quản chỉ được 1 tuần Sau đây là quy trình bảo quản thanh long ruột trắng:

Quả (thu hoạch đúng thời điểm, lúc mát trời, không để ánh nắng chiếu vào, không để quả xuống đất) → Làm mát sơ bộ → Phân loại → Xử lí phòng trừ nấm, bệnh và ruồi đục quả (cho thị trường yêu cầu) → Đóng gói

Để nâng cao năng suất thanh long, ngoài một số nghiên cứu về chế độ phân bón chúng tôi đã đề cập ở trên, còn một số công trình về xử lý hoá chất,

Trang 26

sử dụng đèn chiếu sáng để ra hoa trái vụ, thử nghiệm một số chất điều hoà sinh trưởng và lai tạo để tạo ra giống có năng suất cao, phẩm chất tốt

Theo Nguyễn Như Hiến 1998 [8], phun GA3 7 ngày/lần đã làm tăng số quả/trụ từ 36,25 lên 41,0 quả/trụ, tăng khối lượng quả, tăng tỷ lệ quả có khối lượng >400g và quan trọng là làm tăng năng suất từ 6,30 đến 17,97%

Nguyễn Đăng Nghĩa [14] cho rằng: Gibberellin và KNO3 có tác dụng kích thích sự ra hoa ở thanh long nhưng KNO3 có hiệu quả hơn, đặc biệt là ở nồng độ 200g pha với 8 lít nước phun lên cây 5 tuổi đã làm tăng số nụ/cây

Phun phân bón lá Humamix có tác dụng nâng cao năng suất và phẩm chất quả thanh long, khoảng 40% khi phun ở thời điểm đầu vụ, cuối vụ và trái

vụ Hơn nữa, việc bổ sung phân hữu cơ đã làm tăng số nụ/cây, tỷ lệ nụ hữu hiệu và tăng khối lượng trung bình quả; hơn hẳn việc sử dụng nguyên phân khoáng Ngoài ra, việc bổ sung phân hữu cơ còn có tác dụng tăng phẩm chất quả thanh long như mẫu mã đẹp hơn, tăng độ cứng của quả và tổng hàm lượng chất rắn hoà tan, đường tổng số [14]

Cây thanh long thuộc nhóm cây dài ngày, sự ra hoa chịu ảnh hưởng bởi quang chu kỳ ở miền Nam, thanh long bắt đầu ra hoa vào tháng 4 đến tháng 9; vì ở thời điểm đó, số giờ chiếu sáng trong ngày >12 giờ Vì vậy, muốn thanh long ra hoa trái vụ vào giai đoạn đêm dài ngày ngắn Một trong những biện pháp hiệu quả nhất hiện nay là tạo ra sự chiếu sáng nhân tạo trong giai

đoạn ngày ngắn, bằng cách thắp điện bổ sung trong một thời gian nhất định giúp cho cây ra hoa đồng loạt [12]

Tuỳ theo mùa vụ mà số đêm chiếu sáng và thời gian chiếu sáng thay

đổi Số giờ chiếu sáng trong ngày càng ngắn và thời tiết càng lạnh, thì thời gian chiếu sáng và số giờ thắp điện càng tăng Số đêm chiếu sáng từ 15 - 20

đêm với số giờ chiếu sáng 6 - 10 giờ/đêm, thanh long có thể ra hoa.Thời gian

từ khi ra nụ đến khi nở hoa là 18 - 21 ngày và từ khi hoa nở đến khi thu hoạch

Trang 27

là 28 - 35 ngày Do đó, tuỳ theo mục đích và nhu cầu quả trên thị trường mà quyết định thời gian xử lý ra hoa Loại bóng đèn chiếu sáng có thể sử dụng là loại bóng tròn 75 - 100W, khoảng cách từ bóng đèn đến cành thanh long đã thành thục là 0,5 - 1,0m Cùng với việc xử lý cho thanh long ra hoa trái vụ phải bón phân bổ sung cho cây để thu được năng suất tối đa

Trang 28

phần 3

đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu 3.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu

Thí nghiệm tiến hành trên 3 giống:

- Giống thanh long vỏ đỏ ruột đỏ, nhập nội từ Đài Loan (phương pháp nhân giống bằng hạt) được ký hiệu là TL1

- Giống thanh long vỏ đỏ ruột trắng, là giống địa phương (nhân giống bằng phương pháp giâm hom) được ký hiệu là TL2

- Giống thanh long vỏ vàng ruột trắng, nhập nội từ Đài Loan (nhân giống bằng phương pháp giâm hom) được ký hiệu là TL3

3.1.2 Địa điểm nghiên cứu

- Thí nghiệm tiến hành tại Viện Nghiên cứu Rau quả, trên nền đất phù sa không được bồi đắp hàng năm, thành phần cơ giới trung bình Các giống thanh long được trồng từ tháng 3 năm 2001, khoảng cách trồng 3m x3m tương đương với mật độ trồng 1000 trụ/ha

- Quy trình chăm sóc được áp dụng theo: “Quy trình trồng, chăm sóc và thu hoạch Thanh long” của Viện Nghiên cứu Rau quả

3.1.3 Thời gian nghiên cứu

Từ tháng 7 năm 2004 đến tháng 9 năm 2005

3.2 Nội dung nghiên cứu

3.2.1 Nghiên cứu khả năng sinh trưởng và phát triển của các giống TL1, TL2 và TL3 tại Gia Lâm - Hà Nội

- Mô tả đặc điểm thực vật học và đánh giá khả năng sinh trưởng của các giống thanh long thí nghiệm trồng ở Gia Lâm - Hà Nội

Trang 29

- Đánh giá khả năng ra hoa, đậu quả, năng suất và phẩm chất của các giống thanh long thí nghiệm trồng ở Gia Lâm - Hà Nội

- Đánh giá một số sâu bệnh hại chính trên các giống thanh long

+ Theo dõi thành phần các đối tượng sâu bệnh gây hại trên các giống thanh long

+ Theo dõi đặc điểm phát sinh và gây hại của một số đối tượng sâu bệnh gây hại chính

3.2.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật đến khả năng sinh trưởng, phát triển, năng suất và phẩm chất của giống thanh long ruột đỏ

- Nghiên cứu ảnh hưởng của một số liều lượng phân kaliclorua đến khả năng

sinh trưởng, phát triển, năng suất và phẩm chất giống

- Nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại phân bón qua lá: Botrac,

Multipholate, Pomior và Urê đến khả năng ra hoa, đậu quả, năng suất và phẩm chất của giống thanh long ruột đỏ

- Nghiên cứu ảnh hưởng của thời gian cắt tỉa đến khả năng ra hoa, đậu quả,

năng suất và phẩm chất của giống thanh long ruột đỏ

- Sơ bộ đánh giá hiệu quả kinh tế của việc tác động một số biện pháp kĩ thuật trên cây thanh long ruột đỏ

3.3 Phương pháp nghiên cứu

3.3.1 Bố trí thí nghiệm

- Thí nghiệm khảo sát khả năng sinh trưởng và phát triển của một số giống thanh long trồng ở Gia Lâm - Hà Nội, theo dõi trên 3 giống: TL1, TL2 và TL3 trồng năm 2001 trên vườn thí nghiệm của Viện Nghiên cứu Rau quả Thí nghiệm theo dõi mỗi giống 10 trụ

- Thí nghiệm1: Nghiên cứu ảnh hưởng của một số liều lượng phân kaliclorua

đến khả năng sinh trưởng, phát triển, năng suất và phẩm chất giống thanh

Trang 30

long ruột đỏ Thí nghiệm bố trí theo kiểu hoàn toàn ngẫu nhiên (CRD), gồm 4

công thức, mỗi công thức 6 trụ với 3 lần nhắc lại

Lần 3 (cuối tháng 3): 10% urê + 12% kaliclorua

Lần 4 (cuối tháng 4): 10% urê + 12% kaliclorua

Lần 5 (cuối tháng 5): 10% urê + 12% kaliclorua

Lần 6 (cuối tháng 6): 10% urê + 12% kaliclorua

Lần 7 (cuối tháng 7): 10% urê + 12% kaliclorua

Lần 8 (cuối tháng 8): 10% urê + 12% kaliclorua

- Thí nghiệm 2: ảnh hưởng của một số loại phân bón qua lá: Botrac, multipholate, pomior và urea đến khả năng ra hoa, đậu quả, năng suất và phẩm chất của giống thanh long ruột đỏ Thí nghiệm bố trí theo kiểu hoàn toàn ngẫu nhiên (CRD), gồm 5 công thức mỗi công thức 6 trụ, 3 lần nhắc lại Phun ướt đều trên cây trên nền thí nghiệm lượng bón cho một trụ/năm là: 30kg phân hữu cơ + 0,5kg N + 0,5kg P2O5 + 0,5kg K2O tương ứng với: 1,08kg urê + 3,1kg lân supe + 0,83 kg kaliclorua

Công thức 1: Phun nước lã (ĐC)

Công thức 2: Phun bortrac nồng độ 0,25%

Trang 31

Công thức 3: Phun multipholate nồng độ 0,25%

Công thức 4: Phun pomior nồng độ 0,5%

Công thức 5: Phun đạm ure nồng độ 1%

Các công thức được xử lý 3 lần:

Lần 1: phun khi phân hoá mầm hoa

Lần 2: phun sau khi hoa nở 5 ngày

Lần 3: phun sau khi hoa nở 15 ngày

- Thí nghiệm 3: ảnh hưởng của thời gian cắt tỉa đến khả năng sinh trưởng, ra

hoa, đậu quả, năng suất và phẩm chất của giống thanh long ruột đỏ Thí nghiệm bố trí theo kiểu hoàn toàn ngẫu nhiên (CRD), gồm 3 công thức mỗi công thức 6 trụ với 4 lần nhắc lại Nền thí nghiệm lượng bón cho một trụ/năm là: 30kg phân hữu cơ + 0,5kg N + 0,5kg P2O5 + 0,5kg K2O tương ứng với: 1,08kg urê + 3,1kg lân supe + 0,83kg kaliclorua

3.3.2 Chỉ tiêu và phương pháp theo dõi

3.3.2.1 Các thí nghiệm khảo sát đánh giá giống, chế độ phân bón và thí nghiệm cắt tỉa cành

* Các chỉ tiêu theo dõi

+ Thời gian hình thành cành từng đợt lộc: bắt đầu ra lộc, ra lộc rộ và kết thúc

ra lộc

+ Số đợt lộc xuất hiện trong năm

+ Tổng số lộc/trụ

Trang 32

+ Động thái tăng trưởng chiều dài cành đối với thí nghiệm chế độ phân bón + Thời gian từ khi xuất hiện lộc đến khi ra hoa

* Phương pháp theo dõi

+ Theo dõi thời gian hình thành từng đợt lộc

Thời gian xuất hiện lộc: được tính từ khi 10% số cây ra lộc

đó bắt đầu xuất hiện nụ

3.3.2.2 Các thí nghiệm khảo sát đánh giá giống, chế độ phân bón, nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại phân bón lá và thời vụ cắt tỉa cành

* Các chỉ tiêu theo dõi

+ Thời gian từ bắt đầu xuất hiện nụ đến khi nở hoa,

+ Thời gian từ nở hoa đến khi thu hoạch,

+ Số hoa /trụ/đợt

+ Số đợt hoa/vụ

Trang 33

+ Số quả trước thu hoạch

+ Tỷ lệ cấp quả khi thu hoạch trên 1 trụ

+ Khối lượng trung bình quả ở các đợt

+ Hình dạng, kích thước quả

+ Màu sắc vỏ quả và thịt quả

+ Độ dày vỏ

+ Tỷ lệ phần ăn được

+ Năng suất quả thu được/đợt

+ Năng suất của cả vụ thu hoạch

- Một số chỉ tiêu đánh giá chất lượng quả

* Phương pháp theo dõi

+ Thời gian từ bắt đầu xuất hiện nụ đến khi nở hoa (ngày): đánh dấu 30 nụ bắt đầu xuất hiện ở các đợt hoa trong năm

+ Thời gian từ nở hoa đến khi thu hoạch (ngày): theo dõi trên 30 hoa

+ Số hoa /trụ/đợt (hoa): đếm toàn bộ số hoa hình thành trên cây

+ Số đợt hoa/vụ (đợt): tính số đợt hoa ra tập trung

Tổng số quả đậu ban đầu + Tỷ lệ đậu quả ban đầu (%) = ⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯ x 100

Tổng số hoa nở + Số quả trước khi thu hoạch (quả): Đếm toàn bộ số quả thu được trên trụ ở tất cả các đợt

+ Tỷ lệ cấp quả khi thu hoạch trên một công thức (%): 100 - 150g; 151 - 200g; 201 - 250g; 251 - 300g và >300g

+ Khối lượng trung bình quả ở các đợt (g): cân, đo 10 quả/đợt

+ Hình dạng quả

+ Kích thước quả (cm): đo đường kính, chiều cao quả ở vị trí cao nhất,

+ Màu sắc thịt quả: đánh giá bằng cảm quan

+ Màu sắc vỏ quả: đánh giá bằng cảm quan

Trang 34

+ Độ dày vỏ (cm)

+ Tỷ lệ phần ăn được (%) = ⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯⎯ x 100

Khối lượng quả

+ Năng suất của cả vụ thu hoạch (kg/trụ): tổng năng suất của các đợt

+ Một số chỉ tiêu phân tích hàm lượng dinh dưỡng của cây và đất; một số chỉ tiêu đánh giá chất lượng quả: Chất khô (%), Đường tổng số (%), Caroten (%)

và Vitamin C được phân tích tại Phòng Nghiên cứu Thí nghiệm của Viện Nghiên cứu Rau quả

Xác định hàm lượng đường tổng số theo phương pháp Bectrand

Vitamin C theo phương pháp Tillman

Axit tổng số theo phương pháp chuẩn độ

Chất khô theo phương pháp sấy đến trọng lượng không đổi

Brix: Đo trên máy Refrac Tometer (chiết quang kế)

3.3.2.3 Đánh giá mức độ gây hại của một số sâu bệnh hại chính

+ Theo dõi thành phần các đối tượng sâu bệnh gây hại trên các giống

+ Theo dõi thời điểm bắt đầu phát sinh và gây hại tập trung của một số đối tượng chính

+ Mức độ nhiễm bệnh của các giống với một số đối tượng bệnh hại chính

Trang 35

- Ước lượng trị số trung bình của mẫu

n X

X n

96 , 1

96 ,

R là số lần nhắc lại

dfe là độ tự do của sai số

MSE là bình phương trung bình của sai số

MSE = SSE/ dfe

Đồ thị và biểu đồ biểu diễn các số liệu trung bình được vẽ theo chương trình Excel trên máy vi tính

- Hiệu quả kinh tế:

Lãi (đ) = Giá trị tăng được do tăng năng suất – mức đầu tư để tăng năng suất (tính trên 1 đơn vị diện tích)

Ngày đăng: 28/11/2013, 10:33

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban khoa học kĩ thuật Long An (1990), Thông tin chuyên đề Cây thanh long 2. Lâm Minh Bồng (1999), Cây thanh long và quy trình chăm sóc bảo quản, Bản dịch từ tiếng Trung Quốc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tin chuyên đề Cây thanh long" 2. Lâm Minh Bồng (1999), "Cây thanh long và quy trình chăm sóc bảo quản
Tác giả: Ban khoa học kĩ thuật Long An (1990), Thông tin chuyên đề Cây thanh long 2. Lâm Minh Bồng
Năm: 1999
3. Trương Thị Đẹp (2000), Xác định các chất tăng trưởng và các sản phẩm do quang kỳ ngày dài tạo ra để tạo hoa cho cây thanh long, Luận văn tiến sĩ.Tr−ờng Đại học Khoa học Tự nhiên, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xác định các chất tăng trưởng và các sản phẩm do quang kỳ ngày dài tạo ra để tạo hoa cho cây thanh long
Tác giả: Trương Thị Đẹp
Năm: 2000
4. Nguyễn Trịnh Nhất Hằng (1995), “Kết quả điều tra kinh tế - kỹ thuật cây thanh long ở Chợ Gạo - Tiền Giang”, Tạp chí Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm, số 399 tháng 9/1995, Kết quả nghiên cứu của Trung tâm cây ăn quả Long Định Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả điều tra kinh tế - kỹ thuật cây thanh long ở Chợ Gạo - Tiền Giang"”, Tạp chí Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm
Tác giả: Nguyễn Trịnh Nhất Hằng
Năm: 1995
5. Vũ Công Hậu (1996), Trồng cây ăn quả ở Việt Nam, Nhà xuất bản Nông nghiệp thành phố Hồ Chí Minh, 1996, trang 423 - 426 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trồng cây ăn quả ở Việt Nam
Tác giả: Vũ Công Hậu
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1996
6. Nguyễn Nh− Hiến (1995), “Kết quả điều tra cây thanh long tại tỉnh Thuận Hải”, Tạp chí Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm, số 402 tháng 12/1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả điều tra cây thanh long tại tỉnh Thuận Hải”, "Tạp chí Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm
Tác giả: Nguyễn Nh− Hiến
Năm: 1995
7. Nguyễn Như Hiến (1998), “ảnh hưởng của phân bón đến năng suất và chất l−ợng thanh long”, Tập san Khoa học kỹ thuật Nông lâm nghiệp, số 3/1998, Tr−ờng Đại học Nông lâm thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: ảnh hưởng của phân bón đến năng suất và chất l−ợng thanh long”," Tập san Khoa học kỹ thuật Nông lâm nghiệp
Tác giả: Nguyễn Như Hiến
Năm: 1998
8. Nguyễn Như Hiến (1998), “ảnh hưởng của việc phun chất GA 3 đến năng suất thanh long”, Tạp chí Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm, số 433 tháng 7/1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ảnh h−ởng của việc phun chất GA3 đến năng suất thanh long”, "Tạp chí Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm
Tác giả: Nguyễn Như Hiến
Năm: 1998
10. Thái Thị Hoà, Đỗ Minh Hiền (2001 - 2002), Khảo sát độ chín thu hoạch thanh long ruột đỏ, Kết quả nghiên cứu khoa học công nghệ rau quả 2001- 2002, Viện nghiên cứu cây ăn quả miền Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát độ chín thu hoạch thanh long ruột đỏ
11. Nguyễn Văn Kế (1998), Cây thanh long, Tr−ờng Đại học Nông lâm thành phố Hồ Chí Minh, Nhà xuất bản Nông nghiệp thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây thanh long
Tác giả: Nguyễn Văn Kế
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1998
12. Nguyễn Văn Kế, Đỗ Ngọc Bảo, Phan Văn Thu (2000), “Cảm ứng ra hoa cho cây thanh long”, Tập san Khoa học kỹ thuật Nông lâm nghiệp, số 2/2000, Tr−ờng Đại học Nông lâm thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cảm ứng ra hoa cho cây thanh long”, "Tập san Khoa học kỹ thuật Nông lâm nghiệp
Tác giả: Nguyễn Văn Kế, Đỗ Ngọc Bảo, Phan Văn Thu
Năm: 2000
13. Phan Kim Hồng Phúc (2002), Hỏi đáp về kỹ thuật trồng thanh long theo ph−ơng pháp mới, Nhà xuất bản Thanh niên 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hỏi đáp về kỹ thuật trồng thanh long theo ph−ơng pháp mới
Tác giả: Phan Kim Hồng Phúc
Nhà XB: Nhà xuất bản Thanh niên 2002
Năm: 2002
14. Sở khoa học công nghệ và môi tr−ờng tỉnh Bình Thuận (1999), “Hội thảo khoa học về cây thanh long”, T8/1999, Bình Thuận Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội thảo khoa học về cây thanh long
Tác giả: Sở khoa học công nghệ và môi tr−ờng tỉnh Bình Thuận
Năm: 1999
15. Sở khoa học công nghệ môi tr−ờng tỉnh Bình Thuận (2000), “H−ớng dẫn đảm bảo chất l−ợng trái thanh long”, Bình Thuận Sách, tạp chí
Tiêu đề: H−ớng dẫn đảm bảo chất l−ợng trái thanh long
Tác giả: Sở khoa học công nghệ môi tr−ờng tỉnh Bình Thuận
Năm: 2000
16. Nguyễn Thị Thu Thuỷ, Huỳnh Trí Đức (2001 - 2002), Đánh giá khả năng nhiễm hai loại ruồi đục trái trên thanh long, dứa và chanh, Kết quả nghiên cứu khoa học công nghệ rau quả 2001-2002, Viện nghiên cứu cây ăn quảmiÒn Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá khả năng nhiễm hai loại ruồi đục trái trên thanh long, dứa và chanh
17. Trần Minh Trí, Bùi Thị Mĩ Hồng, Nguyễn Trịnh Nhất Hằng, Nguyễn Minh Châu (2001 - 2002), ảnh hưởng của việc thụ phấn bổ sung đối với thanh long ruột đỏ nhằm tăng trọng l−ợng quả, Kết quả nghiên cứu khoa học công nghệ rau quả 2001 - 2002, Viện nghiên cứu cây ăn quả miền Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: ảnh h−ởng của việc thụ phấn bổ sung đối với thanh long ruột đỏ nhằm tăng trọng l−ợng quả
18. Trần Thế Tục, Cao Anh Long, Phạm Văn Côn, Hoàng Ngọc Thuận, Đoàn Thế L− (1998), Giáo trình cây ăn quả, Tr−ờng Đại học Nông nghiệp I, Nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nội, 1998, trang 238 - 241 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình cây ăn quả
Tác giả: Trần Thế Tục, Cao Anh Long, Phạm Văn Côn, Hoàng Ngọc Thuận, Đoàn Thế L−
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 1998
19. Nguyễn Danh Vàn (1997), Kỹ thuật canh tác cây thanh long ở phía Nam, Bài giảng cho lớp tập huấn cây ăn quả của Chi cục bảo vệ thực vật thành phố Hồ Chí Minh tháng 8/1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật canh tác cây thanh long ở phía Nam
Tác giả: Nguyễn Danh Vàn
Năm: 1997
20. Nguyễn Kim Vũ, Nguyễn Hồng Nga, Trần Tuấn Quỳnh, Nguyễn Thanh Thuỷ, Lâm Huy Mân, Bùi Bích Thuỷ (2001), Nghiên cứu chiết xuất màu đỏ tự nhiên từ vỏ quả thanh long, Kết quả nghiên cứu khoa học công nghệ của viện công nghệ sau thu hoạch năm 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu chiết xuất màu đỏ tự nhiên từ vỏ quả thanh long
Tác giả: Nguyễn Kim Vũ, Nguyễn Hồng Nga, Trần Tuấn Quỳnh, Nguyễn Thanh Thuỷ, Lâm Huy Mân, Bùi Bích Thuỷ
Năm: 2001
21. Ngô Quang Yêm (1992), “Kỹ thuật trồng thanh long”, Tạp chí Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm, số 359/1992 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật trồng thanh long”, "Tạp chí Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm
Tác giả: Ngô Quang Yêm
Năm: 1992
22. Trần Thị Oanh Yến, Phạm Ngọc Liễu, Trần Kim C−ơng, Nguyễn Văn Hạnh (2000-2001), Kết quả tuyển chọn giống thanh long ruột đỏ, Kết quảnghiên cứu khoa học công nghệ cây ăn quả, Viện nghiên cứu cây ăn quả miền Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả tuyển chọn giống thanh long ruột đỏ

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Phân loại một số cây lấy quả thuộc họ x−ơng rồng. - Luận văn nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển của một số giống thanh long và biện pháp kỹ thuật tăng năng suất, phẩm chất giống thanh long ruột đỏ trồng ở gia lâm hà nội
Bảng 2.1 Phân loại một số cây lấy quả thuộc họ x−ơng rồng (Trang 7)
Bảng 2.1: Diện tích và sản l−ợng quả thanh long trên cả n−ớc [34]. - Luận văn nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển của một số giống thanh long và biện pháp kỹ thuật tăng năng suất, phẩm chất giống thanh long ruột đỏ trồng ở gia lâm hà nội
Bảng 2.1 Diện tích và sản l−ợng quả thanh long trên cả n−ớc [34] (Trang 10)
Đồ thị và biểu đồ biểu diễn các số liệu trung bình được vẽ theo chương  trình Excel trên máy vi tính - Luận văn nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển của một số giống thanh long và biện pháp kỹ thuật tăng năng suất, phẩm chất giống thanh long ruột đỏ trồng ở gia lâm hà nội
th ị và biểu đồ biểu diễn các số liệu trung bình được vẽ theo chương trình Excel trên máy vi tính (Trang 35)
Bảng 4.1: Một số yếu tố khí hậu ở vùng trồng thanh long thí nghiệm - Luận văn nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển của một số giống thanh long và biện pháp kỹ thuật tăng năng suất, phẩm chất giống thanh long ruột đỏ trồng ở gia lâm hà nội
Bảng 4.1 Một số yếu tố khí hậu ở vùng trồng thanh long thí nghiệm (Trang 36)
Bảng 4.2: Động thái xuất hiện lộc ở các giống thanh long thí nghiệm - Luận văn nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển của một số giống thanh long và biện pháp kỹ thuật tăng năng suất, phẩm chất giống thanh long ruột đỏ trồng ở gia lâm hà nội
Bảng 4.2 Động thái xuất hiện lộc ở các giống thanh long thí nghiệm (Trang 38)
Bảng 4.3: Một số chỉ tiêu sinh tr−ởng ở các giống thanh long thí nghiệm - Luận văn nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển của một số giống thanh long và biện pháp kỹ thuật tăng năng suất, phẩm chất giống thanh long ruột đỏ trồng ở gia lâm hà nội
Bảng 4.3 Một số chỉ tiêu sinh tr−ởng ở các giống thanh long thí nghiệm (Trang 39)
Bảng 4.4: Động thái nở hoa ở các giống thanh long thí nghiệm - Luận văn nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển của một số giống thanh long và biện pháp kỹ thuật tăng năng suất, phẩm chất giống thanh long ruột đỏ trồng ở gia lâm hà nội
Bảng 4.4 Động thái nở hoa ở các giống thanh long thí nghiệm (Trang 41)
Đồ thị 4.1: Tổng số hoa nở trên đợt của các giống thanh long. - Luận văn nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển của một số giống thanh long và biện pháp kỹ thuật tăng năng suất, phẩm chất giống thanh long ruột đỏ trồng ở gia lâm hà nội
th ị 4.1: Tổng số hoa nở trên đợt của các giống thanh long (Trang 43)
Đồ thị 4.2: Tỷ lệ hoa hoa nở trên đợt của các giống thanh long - Luận văn nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển của một số giống thanh long và biện pháp kỹ thuật tăng năng suất, phẩm chất giống thanh long ruột đỏ trồng ở gia lâm hà nội
th ị 4.2: Tỷ lệ hoa hoa nở trên đợt của các giống thanh long (Trang 43)
Đồ thị 4.3: Năng suất của một số giống thanh long thí nghiệm - Luận văn nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển của một số giống thanh long và biện pháp kỹ thuật tăng năng suất, phẩm chất giống thanh long ruột đỏ trồng ở gia lâm hà nội
th ị 4.3: Năng suất của một số giống thanh long thí nghiệm (Trang 45)
Bảng 4.6: Một số đặc điểm đánh giá quả ở các giống thanh long thí  nghiệm - Luận văn nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển của một số giống thanh long và biện pháp kỹ thuật tăng năng suất, phẩm chất giống thanh long ruột đỏ trồng ở gia lâm hà nội
Bảng 4.6 Một số đặc điểm đánh giá quả ở các giống thanh long thí nghiệm (Trang 46)
Bảng 4.8: Một số sâu bệnh gây hại ở các giống thanh long thí nghiệm - Luận văn nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển của một số giống thanh long và biện pháp kỹ thuật tăng năng suất, phẩm chất giống thanh long ruột đỏ trồng ở gia lâm hà nội
Bảng 4.8 Một số sâu bệnh gây hại ở các giống thanh long thí nghiệm (Trang 48)
Bảng 4.9: Thành phần các chất dinh d−ỡng trong đất và trong thân cây ở  các thời điểm tr−ớc khi ra hoa và sau khi thu hoạch - Luận văn nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển của một số giống thanh long và biện pháp kỹ thuật tăng năng suất, phẩm chất giống thanh long ruột đỏ trồng ở gia lâm hà nội
Bảng 4.9 Thành phần các chất dinh d−ỡng trong đất và trong thân cây ở các thời điểm tr−ớc khi ra hoa và sau khi thu hoạch (Trang 50)
Đồ thị 4.4: ảnh hưởng của một số liều lượng phân kaliclorua đến động  thái tăng trưởng chiều dài lộc ở giống thanh long ruột đỏ - Luận văn nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển của một số giống thanh long và biện pháp kỹ thuật tăng năng suất, phẩm chất giống thanh long ruột đỏ trồng ở gia lâm hà nội
th ị 4.4: ảnh hưởng của một số liều lượng phân kaliclorua đến động thái tăng trưởng chiều dài lộc ở giống thanh long ruột đỏ (Trang 52)
Bảng 4.12: ảnh hưởng của một số liều lượng phân kaliclorua đến khả - Luận văn nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển của một số giống thanh long và biện pháp kỹ thuật tăng năng suất, phẩm chất giống thanh long ruột đỏ trồng ở gia lâm hà nội
Bảng 4.12 ảnh hưởng của một số liều lượng phân kaliclorua đến khả (Trang 53)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w