luận văn
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
-
LÊ MINH TÂN
NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG PHÁT TRIỂN CỦA MỘT SỐ GIỐNG VÀ THỜI VỤ GIEO TRỒNG CHO LẠC
VỤ XUÂN TRÊN ðẤT CHUYÊN MÀU THỊ XÃ PHÚ THỌ-
Trang 2LỜI CAM đOAN
Tôi xin cam ựoan rằng, ựây là công trình nghiên cứu khoa học do tôi trực tiếp thực hiện trong vụ xuân 2008, dưới sự hướng dẫn của tiến
sỹ Vũ đình Chắnh Số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực, chưa từng ựược công bố và sử dụng trong một luận văn nào trong
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ sự biết ơn tới các thầy cô giáo Khoa Sau ựại học, Khoa Nông Học, ựặc biệt là các thầy cô giáo trong bộ môn Cây công nghiệp trườngđại học Nông nghiêp Hà Nội Thầy giáo, tiến sỹ Vũ đình Chắnh, người ựã chỉ bảo, hướng dẫn và giúp ựỡ tận tình trong suốt thời gian thực hiện ựề tài và trong quá trình hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Cho phép tôi ựược xin cảm ơn các thầy cô giáo của Trường Trung học Nông lâm nghiệp Phú Thọ, cán bộ và nhân dân xã Thanh Minh, uỷ ban nhân dân, phòng kinh tế tổng hợp thị xã Phú Thọ, nơi tôi thực hiện
ựề tài, ựã tạo mọi ựiều kiện thuận lợi nhất giúp tôi hoàn thành báo cáo thực tập tốt nghiệp theo kế hoạch của nhà trường ựề ra Tôi xin chân thành cảm ơn gia ựình, bạn bè ựồng nghiệp ựã ựộng viên khắch lệ và giúp ựỡ tôi hoàn thành ựề tài này Một lần nữa cho phép tôi xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc ựến tất cả các thành viên với sự giúp ựỡ này
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
LÊ MINH TÂN
Trang 41.3 ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
2.3 Tình hình sản xuất lạc trên thế giới và Việt Nam 162.4 Một số nghiên cứu về lạc trên thế giới và Việt nam 28
3 Đối tượng, địa điểm, nội dung và phương pháp nghiên cứu 41
4.2 Hiện trạng sản xuất và các yếu tố hạn chế sản xuất lạc ở Phú Thọ 524.2.1 Tình hình sản xuất lạc ở tỉnh Phú Thọ trong những năm qua 52
Trang 54.2.2 Tình hình sản xuất lạc tại Thị xK Phú Thọ 54
4.3.1 Kết quả so sánh một số giống lạc trong điều kiện vụ xuân 574.3.2 Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của thời vụ gieo trồng đến sinh
trưởng phát triển và năng suất lạc ở vụ xuân 2008 trong điều kiện
Trang 7danh mục bảng
2.1 Diện tích, năng suất, sản lượng lạc trên thế giới trong những
4.1 Diễn biến một số yếu tố khí hậu trung bình qua các năm tại Phú Thọ 49
4.2 Diễn biến một số yếu tố khí hậu vụ xuân 2008 50
4.3 Tình hình sản xuất lạc ở tỉnh Phú Thọ qua các năm 53
4.4 Tình hình sản xuất lạc ở thị xK Phú Thọ qua các năm 54
4.5 Thời gian và tỷ lệ mọc của một số giống lạc 58
4.6 Động thái tăng trưởng chiều cao thân chính của các giống lạc 59
4.7 Chỉ số diện tích lá của các giống lạc 62
4.8 Khả năng tích luỹ chất khô của các giống 64
4.9 Tổng số nốt sần, nốt sần hữu hiệu của các giống 65
4.10 Mức độ nhiễm sâu bệnh hại của các giống lạc 67
4.11 Các yếu tố cấu thành năng suất của các giống lạc 68
4.13 ảnh hưởng của thời vụ gieo trồng đến thời gian và tỷ lệ mọc 73
4.14 ảnh hưởng của thời vụ gieo đến chỉ số diện tích lá 75
4.15 ảnh hưởng của thời vụ gieo trồng đến khả năng tích lũy chất khô 78
4.16 ảnh hưởng của thời vụ gieo trồng đến khả năng hình thành
4.17 ảnh hưởng của thời vụ gieo trồng đến khả năng phân cành 82
4.18 ảnh hưởng của thời vụ gieo đến các yếu tố cấu thành năng suất 85
4.19 ảnh hưởng của thời vụ gieo đến năng suất lạc 87
4.20 Hiệu quả kinh tế của các thời vụ gieo trồng 89
Trang 8DANH MỤC HèNH
4.1 Diễn biến nhiệt độ 6 tháng đầu năm 2008 51 4.2 Diễn biến lượng mưa 6 tháng đầu năm 2008 51 4.3 Động thái tăng trưởng chiều cao thân chính 61 4.4 Năng suất lý thuyết và năng suất thực thu của các giống 72 4.5 ảnh hưởng của thời vụ đến năng suất của giống thí nghiệm 88
Trang 91 MỞ ðẦU
1.1 Tính cấp thiết của ñề tài
Cây lạc (Arachis hypogaea L.) là cây công nghiệp ngắn ngày, có giá trị
kinh tế cao Cây lạc chiếm một vị trí quan trọng trong nền kinh tế thế giới không chỉ do ñược gieo trồng trên diện tích lớn ở trên 100 nước, mà còn vì hạt lạc chứa 22- 26% prôtêin và 45- 50% lipít, là nguồn bổ sung ñạm, chất béo quan trọng cho con người, hạt lạc ñược sử dụng rất rộng rãi ñể làm thực phẩm và nguyên liệu cho công nghiệp Bên cạnh giá trị to lớn về dinh dưỡng cho con người và là nguyên liệu cho các ngành khác, cây lạc còn là cây quan trọng nhất trong hệ thống luân canh cây trồng ñạt hiệu quả cao vì nó còn có tác dụng cải tạo ñất rất tốt Nhu cầu sử dụng và tiêu thụ lạc ngày càng tăng ñã
và ñang khuyến khích ñầu tư phát triển sản xuất lạc với quy mô ngày càng
mở rộng ở các quốc gia trên thế giới
Từ những ưu ñiểm trên, cây lạc ñang ñược quan tâm phát triển cả về diện tích, năng suất và sản lượng
Trong hai thập kỷ cuối thế kỷ 20, sản xuất lạc ở nhiều nước trên thế giới ñã ñạt ñược những thành tựu to lớn bí quyết thành công trong chiến lược phát triển sản xuất lạc của các quốc gia là nhờ ứng dụng rộng rãi các thành tựu khoa học công nghệ mới trên ñồng ruộng của nông dân Trong những năm gần ñây, nhờ áp dụng các tiến bộ kỹ thuật về giống mới, kỹ thuật canh tác tiến
bộ như che phủ nilon, thời vụ gieo trồng, phân bón ðặc biệt việc ñưa cây lạc vào trồng trong vụ thu ñông ở nước ta ñã làm tăng sản lượng lên 30- 40% Theo kế hoạch của Bộ Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn ñến năm 2010 phấn ñấu ñưa diện tích lạc lên 400.000 ha và sản lượng ñạt khoảng một triệu tấn, trong ñó tập trung vào các vùng;
Trung du Bắc bộ là 50.000 ha
Vùng duyên hải Bắc trung bộ là 99.535 ha
Trang 10Vùng đông Nam Bộ 70.000 ha
(Nguồn: viện Quy hoạch và thiết kế nông nghiệp 2000)
để ựạt ựược mục tiêu ựó, cần ựẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học
kỹ thuật và triển khai áp dụng tiến bộ cho nông dân trên ựồng ruộng Theo các nhà khoa học ựã khẳng ựịnh một trong những nguyên nhân làm hạn chế năng suất lạc là do chưa áp dụng ựồng bộ các biện pháp kỹ thuật và chưa khai thác, tận dụng hết tiềm năng ựể tăng năng suất và sản lượng lạc Năng suất giữa các vùng, quốc gia và lãnh thổ còn có sự chênh lệch lớn, năng suất giữa thắ nghiệm và thực tiễn sản xuất của nông dân còn cách biệt khá xa Vì vậy việc tập trung nghiên cứu tìm ra các giải pháp kỹ thuật, giúp nông dân thâm canh tăng năng suất lạc là ựòi hỏi cấp bách, trong sản xuất
Phú Thọ là tỉnh trung du miền núi phắa Bắc, có nhiều tiềm năng ựể mở rộng và phát triển cây lạc, nhưng năng suất chưa cao, mới ựạt 15,74 tạ/ ha năm 2007, còn thấp so với ựiều kiện và tiềm năng Năng suất lạc còn thấp là
do nhiều nguyên nhân như: trình ựộ thâm canh của nông dân còn hạn chế, bộ giống mới ựưa vào sản xuất còn ắt, tỷ lệ diện tắch sử dụng giống mới chưa cao, ảnh hưởng của thời tiết khắ hậu, thời vụ gieo trồng, tập quán canh tác.Thực hiện chương trình phát triển kinh tế xã hội mà đảng bộ thị Xã Phú Thọ ựã ựề ra giai ựoạn 2005- 2015 trong lĩnh vực nông nghiệp là phấn ựấu ựạt mức thu nhập trên diện tắch canh tác cây hàng năm là 50.000.000ự/ ha/ năm
để ựạt ựược mục tiêu ựó, cần phải quan tâm ựến các giải pháp trước mắt cũng như lâu dài là bố trắ giống phù hợp với ựiều kiện sinh thái và trình ựộ canh tác, áp dụng ựồng bộ các biện pháp kỹ thuật ựể nâng cao năng suất và sản lượng lạc để góp phần giải quyết vấn ựề trên, dưới sự hướng dẫn của tiến sỹ
Vũ đình Chắnh, chúng tôi tiến hành thực hiện ựề tài: ỘNghiên cứu khả năng
sinh trưởng phát triển của một số giống và thời vụ gieo trồng cho lạc vụ xuân trên ựất chuyên màu thị xã Phú Thọ- tỉnh Phú ThọỢ
Trang 111.2 Mục ñích và yêu cầu của ñề tài
1.2.1 Mục ñích
ðề xuất một số giống lạc có năng suất cao, phù hợp với ñiều kiện sinh thái của ñịa phương, thay thế cho những giống cũ ñang sử dụng và xác ñịnh thời vụ gieo trồng lạc trong vụ xuân phù hợp với ñiều kiện tự nhiên và tập quán canh tác của người dân ñịa phương
1.2.2 Yêu cầu
Nghiên cứu ñiều kiện tự nhiên, tinh hình sản xuất lạc tại ñịa phương Theo dõi khả năng sinh trưởng, phát triển, năng suất và mức ñộ nhiễm sâu bệnh của một số giống lạc trên ñất chuyên màu của thị xã Phú Thọ trong
vụ xuân năm 2008
Tìm hiểu ảnh hưởng của thời vụ gieo trồng ñến sinh trưởng phát triển
và năng suất của giống lạc L14 trên ñất chuyên màu ở thị xã Phú Thọ vụ xuân
Kết quả nghiên cứu của ñề tài ñóng góp và bổ sung vào tài liệu phục vụ cho công tác nghiên cứu, giảng dạy, và chỉ ñạo sản xuất tại ñịa phương
Trang 12và ñất ñai của ñịa phương
Kết quả nghiên cứu góp phần tăng nhanh năng suất, mở rộng diện tích trồng lạc tại ñịa phương, nâng cao thu nhập cho nông dân, hạn chế rủi ro trong sản xuất
Góp phần cung cấp ñủ nhu cầu về lạc cho sử dụng, chế biến và xuất khẩu trên ñịa bàn
1.4 Giới hạn của ñề tài
ðề tài tập trung nghiên cứu sự sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số giống lạc trong ñiều kiện vụ xuân năm 2008 trên ñất phù sa trong ñê
sông Hồng thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ
ðề tài nghiên cứu ảnh hưởng của các thời vụ gieo trồng ñến sinh trưởng, phát triển và năng suất của giống lạc L14 trong ñiều kiện không che phủ và có che phủ nilon ở thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ trong vụ xuân 2008
Trang 132 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Cơ sở khoa học của ựề tài
2.1.1 Nguồn gốc và sự phân bố của cây lạc
Căn cứ trong tài liệu của các nhà sử học, tự nhiên học, khảo cổ học và ngôn ngữ học, nhiều nhà khoa học ựã xác ựịnh rằng lạc có nguồn gốc từ Nam
Mỹ Theo Skie (E.G.S quier) thì quả lạc ựược tìm thấy ở các ngôi mộ cổ Ancôn Ờ thủ ựô của Peru vào năm 1897 Lạc ựược ựựng trong các chum vại khác nhau Nhờ khảo cổ học và ựịa thực vật học con người ựã xác ựịnh ựược nguồn gốc cây lạc
Những ghi chép ựầu tiên về cây lạc do thuyền trưởng Gorzalo Fernandez, ông cũng là người ựầu tiên phổ biến tên ỘmaniỢ của cây lạc Từ vùng nguyên sản ở Nam Mỹ bằng nhiều con ựường, lạc ựược ựưa từ Peru tới Mexico và sau ựó ngang qua Thái Bình Dương theo các thương thuyền tới Philippin và ựi khắp các vùng trên thế giới, nó nhanh chóng thắch ứng với các vùng có các ựiều kiện thắch hợp
Người da ựỏ Inca ở Peru ựã ựạt tới một nền văn minh nông nghiệp khá cao và họ ựã trồng lạc suốt dọc các vùng ven biển Peru Theo Gregory (1979
Ờ 1980) tất cả các loài hoang dại thuộc chi arachis chỉ tìm thấy ở Nam Mỹ và
phân bố vùng đông Bắc Braxin ựến Tây Nam Achentina và từ bờ biển nam Uruquay ựến Tây Bắc Mato Grosso
Về mặt lịch sử học, chắc chắn người Inựiêng ựã biết ăn lạc theo nhiều cách: rang, luộc, giã nhỏ, nấu canh, ép dầu, Trung Quốc và Ấn độ cũng ựã biết ép dầu trước khi kỹ nghệ ép dầu lạc xuất hiện ở Châu Âu Sau khi xâm chiếm Xênêgan, Pháp ựã chú ý tới khả năng phát triển lạc ở vùng này ựể có thể nhập một lượng lạc lớn dùng cho công nghiệp Nhà hoá học Pháp Roussean năm 1841 lần ựầu tiên ựã nhập vào Pháp một lượng lớn 70
Trang 14tấn lạc cho nhà máy ép dầu
Lịch sử Việt Nam tới nay chưa xác minh ựược rõ ràng cây lạc có nguồn gốc từ ựâu Nếu căn cứ vào tên gọi mà xét ựoán danh từ ỘLạcỢ có thể do từ Hán ỘHoa sinhỢ là người Trung Quốc gọi là cây lạc Như vậy cây lạc có thể
từ Trung Quốc nhập vào nước ta khoảng thế kỳ XVII, XVIII (Lê Song Dự và Nguyễn Thế Côn, 1979) [24]
*Sự phân bố lạc trồng trên thế giới
Những tài liệu ghi chép sớm nhất về cây lạc của người châu Âu là ở thế
kỷ 16 Năm 1587 nhà tự nhiên học người Bồ đào Nha Gabriel Soares de sauza ựã mô tả cây lạc và Jean de Lery (1578) mô tả kỹ về quả lạc
Có lẽ cây lạc ựầu tiên ựược ựưa từ Nam Mỹ (Pêru) tới châu Âu vào năm 1574 theo báo cáo của Nicolas Monardes
Krapovickas (1968) cho rằng lạc ựược ựưa từ bờ biển phắa tây Pêru tới Mêxico và sau ựó ngang qua Thái Bình Dương theo các thương thuyền Tây Ban Nha tới Philắppin và các vùng khác thuộc châu Á- Thái Bình Dương Tại Hoa Kỳ, thành công trồng lạc sớm nhất là ựối với các giống quả
nhỏ, dạng cây bò và có thời gian sinh trưởng dài (Var hypogeae), có lẽ ựược
ựưa từ châu Phi tới Còn dạng quả nhỏ, có thời gian sinh trưởng ngắn thuộc
dạng Spanish (Var vulgaris) có thể do Thomat B.Rowland ựưa từ Tây Ban Nha tới năm 1871 (Anonymous, 1918), Dạng Valencia (Var.fastigiata) ựược
ựưa từ Paragoay và trung tâm Braxin
Tóm lại, từ vùng nguyên sản ở Nam Mỹ, bằng nhiều con ựường- lạc ựã ựược ựưa ựi khắp nơi trên thế giới và nó nhanh chóng thắch ứng với các vùng nhiệt ựới, á nhiệt ựới và các vùng có khắ hậu ẩm đặc biệt lạc ựã tìm ựược
Trang 15mảnh ñất phát triển thuận lợi ở châu Phi và vùng nhiệt ñới châu Á Lạc ñược trồng rộng rãi ở châu Phi rồi từ ñây, theo các thuyền buôn nô lệ, lạc lại ñược ñưa trở lại châu Mỹ và châu Âu Chính vì vậy ñã hình thành nhiều vùng gen thứ cấp và làm phong phú thêm hệ gen của lạc
2.1.2 Yêu cầu sinh thái của cây lạc
Trong các yếu tố khí hậu, nhiệt ñộ và chế ñộ nước ảnh hưởng lớn ñến sinh trưởng phát triển và khả năng cho năng suất của lạc Các yếu tố khí hậu
là nhân tố quyết ñịnh sự phân bố lạc trên thế giới
+ Nhiệt ñộ
Nhiệt ñộ là yếu tố ngoại cảnh chủ yếu có tương quan ñến thời gian sinh trưởng của lạc Theo Nguyễn Thế Côn tổng tích ôn hữu hiệu của lạc là 2600- 4.800oC thay ñổi tuỳ theo giống [3] Nhiệt ñộ là một trong hai yếu tố chính ảnh hưởng ñến thời gian mọc của lạc (nhiệt ñộ, ẩm ñộ ñất) và là yếu tố khí hậu quan trọng nhất ảnh hưởng trực tiếp hưởng ñến thời gian mọc của lạc ñến thời gian sinh trưởng dinh dưỡng (thời kỳ cây con) của lạc
- Thời kỳ nảy mầm cần tích ôn 250-320oc, nhiệt ñộ trung bình thích hợp ở thời kỳ này từ 25-30oc, tốc ñộ nảy mầm nhanh nhất ở nhiệt ñộ 32-34oc Nhiệt ñộ cao hơn, sức sống của hạt giảm ñi và hạt mất sức nảy mầm ở nhiệt
ñộ 54oc Nhiệt ñộ thấp kéo dài thời gian nảy mầm, nhiệt ñộ tối thấp ở thời kỳ nảy mầm là 12oc, hạt có thể chết ở nhiệt ñộ 5oc trong thời gian ngắn
Cũng theo Nguyễn Thế Côn, trong ñiều kiện ñồng ruộng, nhiệt ñộ 28-
300c là thích hợp nhất với quá trình nảy mầm, với nhiệt ñộ trên lạc có thể mọc sau gieo 5- 6 ngày là thích hợp Thời gian mọc quá ngắn do nhiệt ñộ cao có thể dẫn tới làm yếu cây con, vì cường ñộ hô hấp của hạt quá lớn dưới ảnh hưởng nhiệt ñộ của nhiệt ñộ cao, làm tiêu hao dinh dưỡng của hạt trong thời
Trang 16kỳ nảy mầm
Trong thời kỳ sinh trưởng dinh dưỡng, tổng tích ôn yêu cầu 700- 1000oc Khi nhiệt ñộ trung bình 20- 30oc, các quá trình sinh trưởng dinh dưỡng ñược tiến hành thuận lợi, nhất là sự phân cành và phát triển bộ rễ Thời gian trước ra hoa của lạc ñược kéo dài thích hợp (30- 35 ngày) ở nhiệt ñộ trung bình 25- 28oc khi ñó khả năng tích luỹ chất khô ở các bộ phận dinh dưỡng ñược tiến hành thuận lợi, thời kỳ phân hoá mầm hoa cũng ñược kéo dài hơn tạo ñiều kiện tăng số hoa, quả và trọng lượng hạt của lạc Theo các tài liệu nghiên cứu cho thấy ở vùng nhiệt ñới, nhiệt ñộ 28- 30oc, thời gian sinh trưởng dinh dưỡng thích hợp nhất là 30 ngày
Nếu nhiệt ñộ không khí quá cao (30- 35oc) rút ngắn thời kỳ sinh trưởng dinh dưỡng, làm giảm lượng chất khô tích luỹ và giảm số hoa trên cây, do ñó làm giảm số lượng quả và trọng lượng của hạt
Khả năng chịu rét của lạc cao nhất là ở thời kỳ trước ra hoa, tuy nhiên nhiệt dưới 18- 20oc làm ức chế sinh trưởng, phát triển của lạc, cản trở sự phân hoá mầm hoa và giảm trọng lượng khô của cây Nhiệt ñộ xuống quá thấp dù trong thời gian ngắn cũng có thể làm chết cây (Gillier, 1968)
Quá trình ra hoa của lạc ñòi hỏi nhiệt ñộ tương ñối cao, theo Gillier (1968) nhiệt ñộ thuận lợi cho sự ra hoa của lạc là 24- 33oc, và hệ số hoa có ích cao nhất 21% ñạt ñược ở nhiệt ñộ ban ngày 29oc, ban ñêm 23oc
Thời kỳ ra hoa kết quả là thời kỳ yêu cầu nhiệt ñộ cao nhất, thời kỳ này chỉ chiếm 1/3 chu kỳ sinh trưởng của lạc nhưng tích ôn ñòi hỏi bằng 2/3 tổng tích ôn của cả ñời sống cây lạc Nhiệt ñộ tối thấp sinh học cho sự hình thành các cơ quan sinh thực của lạc là 15- 20oc
Quá trình chín ñòi hỏi nhiệt ñộ giảm hơn so với thời kỳ trước Trong thời kỳ chín, nhiệt ñộ trung bình 25- 28oc là thích hợp Theo ý kiến của nhiều tác giả, trong ñiều kiện nhiệt ñộ ban ñêm 19oc, ban ngày 28oc có lợi cho quá trình tích luỹ chất khô vào hạt Trong thời kỳ này, sự chênh lệch nhiệt ñộ giữa ngày và ñêm lớn (khoảng 8-10oc) có lợi cho quá trình vận
Trang 17chuyển vật chất vào hạt
+ Ánh sáng
Theo nghiên cứu của Bùi Huy đáp, Nguyễn Danh đông cho thấy: thời gian sinh trưởng của lạc hầu như chỉ phụ thuộc vào nhiệt ựộ không khắ mà không phụ thuộc vào quang chu kỳ
Số giờ nắng/ngày có ảnh hưởng rõ rệt tới sự sinh trưởng và phát dục của lạc, quá trình nở hoa thuận lợi khi số giờ nắng ựạt khoảng 200 giờ/tháng
Ở các tỉnh phắa Bắc, trong ựiều kiện vụ xuân, nên bố trắ thời vụ ựể lạc ra hoa vào tháng tư, nếu lạc ra hoa sớm hơn, số giờ nắng thấp, làm giảm số hoa nở/ngày, kéo dài thời gian ra hoa, làm giảm tổng số hoa
+ Yêu cầu về nước
Nước là yếu tố ngoại cảnh có ảnh hưởng lớn nhất ựến năng suất của lạc, tuy lạc ựược coi là cây trồng chịu hạn, song thực tế lạc chỉ chịu hạn ở một giai ựoạn nhất ựịnh
độ ẩm ựất trong suốt thời gian sinh trưởng của lạc yêu cầu khoảng 70- 80% ựộ ẩm giới hạn ựồng ruộng, yêu cầu này cao hơn một chút ở thời kỳ ra hoa kết quả cần ẩm ựộ ựất 80- 85% và giảm ở thời kỳ chắn của hạt
Tổng nhu cầu về nước trong suốt thời kỳ sinh trưởng của lạc từ mọc ựến thu hoạch là 450- 700mm (Gillier, 1968), nhu cầu này thay ựổi tuỳ giống
và thời kỳ sinh trưởng khác nhau
Thời kỳ khủng hoảng nước của lạc ựược nhiều tác giả công nhận là thời
kỳ ra hoa rộ, thời kỳ ựâm tia, thời kỳ hình thành quả và hạt, trong ựó thời kỳ
ra hoa rộ mẫn cảm nhất nếu thiếu nước Nếu ựược cung cấp ựủ nước trong thời kỳ ra hoa - làm quả và hạt, năng suất tương ựương với cây ựược cung cấp nước trong cả quá trình sinh trưởng
Thời kỳ cây lạc cần ắt nước nhất và cũng là thời kỳ lạc có khả năng chịu hạn tốt nhất là thời kỳ sinh trưởng dinh dưỡng Tuy nhiên nếu hạn kéo dài cũng ảnh hưởng xấu ựến sinh trưởng và năng suất lạc Khi cây bị thiếu ẩm chiều cao
Trang 18cây giảm rõ rệt, lá nhỏ và dày hơn, cứng hơn trong ñiều kiện bình thường Lin (1963) thấy rằng ở ñiều kiện hạn rễ có thể ăn sâu hơn 5 - 10%, nhưng bán kính phân bố rễ giảm 2/3 Theo dõi ở vùng Bambe (Senegal) cho thấy: nếu lượng mưa giảm từ 700 mm xuống còn 400 mm, năng suất lạc giảm 50% Vùng Luga lượng mưa trung bình 450 mm/năm, khi lượng mưa tăng lên 100 mm, năng suất lạc tăng 150kg/ha [3] Nhu cầu về lượng mưa trong vụ lạc còn phụ thuộc vào khả năng giữ nước và thoát nước của ñất và ñịa hình ñồng ruộng
Theo các nhà khoa học, lạc không yêu cầu khắt khe về mặt ñộ phì ñất,
do ñặc ñiểm sinh lý của lạc, ñất trồng lạc phải luôn tơi xốp ñể thoả mãn ba yêu cầu là giúp bộ rễ phát triển, tăng cường hoạt ñộng của vi sinh vật cố ñịnh ñạm, thuận lợi cho quá trình hình thành quả vả thu hoạch Do vậy tiêu chuẩn ñầu tiên trong chọn ñất trồng lạc là thành phần cơ giới ñất: ñất thích hợp trồng lạc phải là ñất nhẹ có thành phần cát thô mịn nhiều hơn ñất sét, nói chung các loại ñất pha cát, ñất thịt nhẹ, có kết cấu viên, dung trọng ñất 1,1- 1,35 ñộ hổng 38- 50% là thích hợp với trồng lạc, những loại ñất này dễ tơi xốp, khả năng giữ nước và thoát nước tốt
Theo Nguyễn Thị Chinh (2005) lạc yêu cầu ñất có pH hơi chua, gần trung tính (pH từ 5,5- 7,0) là rất thích hợp Tuy nhiên, khả năng chịu ñựng với
pH ñất của lạc rất cao, lạc có thể chịu ñược pH từ 4,5- 8,9 [13]
Nói chung lạc ưa ñất sáng màu, hàm lượng chất hữu cơ dưới 2%, trên những ñất này, lạc thường ñạt kích thước quả lớn và vỏ quả sáng màu, thu hoạch dễ, chất lượng quả và hạt ñều cao
* Tiềm năng phát triển lạc ở Việt Nam
- Về nguồn lợi tự nhiên: lạc là cây trồng nhiệt ñới và á nhiệt ñới, nên khả năng thích ứng với ñiều kiện sinh thái khá rộng Với ñiều kiện khí hậu của Việt Nam khá phù hợp ñể cây lạc có thể phát triển tốt, mặc dù có một số vùng
sự phân bố lượng mưa và nhiệt ñộ không ñều trong năm ảnh hưởng ñến năng suất lạc Yêu cầu về ñất ñai ñối với cây lạc không khắt khe lắm, tất cả các loại
Trang 19ñất có thành phần cơ giới nhẹ, tơi xốp thoát nước tốt, pH 4,5 - 7 ñều có thể trồng ñược lạc Theo tài liệu ñánh giá ñất ở 9 vùng sinh thái nông nghiệp của viện qui hoạch và thiết kế nông nghiệp, ñối chiếu với nhu cầu về ñất của cây lạc thì diện tích từ rất thích hợp ñến ít thích hợp cho ñậu ñỗ trên cả nước là 4,592 triệu ha Trong ñó diện tích có thể trồng lạc là 1,814 triệu ha và ñược phân bố trên một số loại ñất chính như: ñất cát ven biển từ Thanh Hoá ñến Ninh Thuận, ñất bạc màu, ñất xám, ñất ñỏ bazan, ñất dốc tụ miền núi, ñất phù
sa thành phần cơ giới nhẹ dễ thoát nước [13]
2.1.3 Yêu cầu dinh dưỡng
+ Vai trò N
- N cấu thành prôtêin và các hợp chất có N khác ở trong các bộ phận non của cây, N có mặt trong các enzim quan trọng trong các hoạt ñộng sống của cây
- N là thành phần không thể thiếu ñược ở prôtêin dự trữ trong hạt ở thời kỳ sinh trưởng dinh dưỡng, N tập trung ở các phần non của cây, các mô phân sinh ñang hoạt ñộng, ở các phần sống của tế bào Khi hạt chín, phần lớn N trong cây tập trung ở hạt
Vì vậy thiếu ñạm cây sinh trưởng kém, còi cọc, lá vàng, chất khô tích luỹ chất khô giảm, số quả và trọng lượng quả ñều giảm, nhất là thiếu N ở thời kỳ sinh trưởng cuối Thiếu ñạm nghiêm trọng dẫn tới ngừng phát triển quả và hạt (Reid và York) Theo Thái Phiên & CS bón ñạm hợp lý vào giai ñoạn ñầu là cần thiết và xúc tiến quá trình cố ñịnh ñạm ñược sớm hơn [45]
Lượng N lạc hấp thu rất lớn, ñể ñạt ñược 1 tấn lạc quả khô cần sử dụng tới 50 – 75 kg ñạm Thời kỳ lạc hấp thu nhiều ñạm nhất là thời kỳ ra hoa- làm quả và hạt Thời kỳ này chỉ chiếm 25% thời gian sinh trưởng của lạc, nhưng hấp thu tới 40- 45% nhu cầu ñạm của cả chu kỳ sinh trưởng
Có hai nguồn cung cấp ñạm cho cây lạc là do bộ rễ hấp thu từ ñất và ñạm cố ñịnh ở nốt sần do hoạt ñộng của vi khuẩn cộng sinh cố ñịnh ñạm
Trang 20Nguồn N cố ñịnh có thể ñáp ứng ñược 50- 70% nhu cầu ñạm của cây ngài ra, lá cũng có khả năng hấp phụ N Vì vậy phương pháp bón bổ xung N qua lá rất có ý nghĩa, nhất là thời kỳ sinh trưởng cuối,
+ Vai trò hấp thu lân
Thiếu lân bộ rễ kém phát triển, ảnh hưởng hoạt ñộng cố ñịnh ñạm,lân còn ñóng vai trò quan trọng ñối với sự cố ñịnh N và sự tổng hợp lipít ở hạt trong thời kỳ chín Ngoài ra, bón lân còn kéo dài thời kỳ ra hoa và tăng tỷ lệ hoa có ích ðối với quá trình cố ñịnh ñạm, lân trong thành phần của mối liên kết cao năng ATP, chuyển năng lượng cho hoạt ñộng cố ñịnh ở hạt khi chín, lân nằm trong các enzim xúc tiến tổng hợp lipít Người ta thấy rằng trong thời
kỳ này, 50% lượng lân của cây tập trung ở hạt Bón ñủ lân hàm lượng dầu trong cây tăng lên ñáng kể
Các loại ñất bạc màu, ñất khô cằn nhiệt ñới thường thiếu lân, bón phân lân thường là mấu chốt tăng năng suất ở nhiều vùng trồng lạc [3]
Lạc hấp thu lân nhiều nhất ở thời kỳ ra hoa- hình thành quả, trong thời gian này, lạc hấp thu tới 45% lượng lân hấp thu của cả thời kỳ sinh trưởng của lạc Theo Nguyễn Thị Dần và Thái Phiên (1991) [18] cho biết trên nhiều vùng ñất trồng lạc ở Việt Nam với liều lượng bón 60 kg lân, 10 tấn phân chuồng,
30 kg ñạm và 30 kg kaly thì ñạt hiệu quả cao nhất
+ Vai trò hấp thu kali
Kali trong cây dưới dạng muối vô cơ hoà tan và muối của axít hữu cơ trong tế bào Kali không trực tiếp ñóng vai trò là thành phần cấu tạo của cây, nhưng tham gia vào hoạt ñộng của các enzim, nó ñóng vai trò chất ñiều chỉnh xúc tác Chính vì vậy kali tham gia chủ yếu vào các hoạt ñộng chuyển hoá chất ở cây vai trò quan trọng nhất của kali là xúc tiến quang hợp và sự phát triển của quả, ngoài ra kali còn làm tăng cường mô cơ giới, tăng tính chống
ñổ của cây
Trong cây kali tập trung chủ yếu ở các bộ phận non, lá non và lá ñang
Trang 21hoạt ñộng quang hợp mạnh Cây hấp thu kali tương ñối sớm và tới 60% nhu cầu kali của cây ñược hấp thu trong thời kỳ ra hoa - làm quả.Thời kỳ chín, nhu cầu về kali hầu như không ñáng kể (5- 7% nhu cầu kali)
Thiếu kali, thân cây chuyển thành màu ñỏ sẫm và lá chuyển màu xanh nhạt Tác hại lớn nhất của thiếu kali là cây bị lùn, khả năng quang hợp và hấp thu N giảm, tỷ lệ quả một hạt tăng, trọng lượng hạt giảm và năng suất lạc giảm rõ rệt Theo Nguyễn Thị Dần (1991) [18] bón kali cho ñất bạc màu ñã mang lại hiệu quả, hiệu suất 1 kg K2SO4 trên ñất bạc màu là 8- 10 kg lạc vỏ
Lạc có thể hút lượng kali rất lớn, trong môi trường giàu kali, nó có khả năng hấp thu kali quá mức cần thiết Lượng kali thích hợp cho các tỉnh phía bắc là 40kg/ ha trên nền 20 kg N + 80 kg P2O5 (Lê Song Dự và Nguyễn Thế Côn, 1979) [24]
Vai trò và sự hấp thu can xi:
Dinh dưỡng canxi ñối với lạc ñược coi là nguyên tố thường, lượng can
xi lạc hấp thu gấp gần 2- 3 lần lượng lân hấp thu
Các nhà khoa học ñã ñánh giá vai trò của can xi giúp ngăn ngừa tích luỹ nhôm và các cation gây ñộc, tăng hoạt ñộng của vi khuẩn nốt sần, tăng hấp thu ñạm
ðể quả phát triển bình thường, can xi phải có ở quả ñang phát triển (collwell & Brady, 1945; Bledso & harrit, 1960) [ 73]
Hàm lượng can xi cao trong lá theo (Gillier, 1968) [19] ở mức tới hạn
là 2%, các năng suất lạc cao ñều chuyển tới các bộ phận của cây, kể cả hoa và tia ñang phát triển, nhưng ngay sau khi tia quả ñâm vào ñất và phát triển quả, can
xi từ rễ không ñược vận chuyển tới tia quả nữa mà ñể hình thành và phát triển quả, tia phải trực tiếp hút can xi từ ñất (Wander, 1944; Bledso, 1966), ñiều này giải thích vì sao phải có can xi trực tiếp vùng hình thành quả
Hiện tượng quả lép, ốp thường xảy ra khi lượng can xi hữu hiệu trong ñất thấp và do ảnh hưởng xấu có thể gây ra bởi các loại phân khoáng
Trang 22hoặc thời tiết ñến sự hút can xi của quả
Can xi ít di ñộng trong cây, và hàm lượng can xi ở các bộ phận của cây phụ thuộc vào sự cung cấp can xi ở thời ñiểm bộ phận ñó hình thành Phân can xi ñược sử dụng ở hầu hết các vùng sản xuất lạc to quả, các dạng can xi
có ảnh hưởng rất lớn ñến khả năng hấp thu canxi của lạc Bón 60 kg CaSO4
có tác dụng ngang với bón 1000 kg vôi bột [3] Tuy nhiên, ở hầu hết các vùng trồng lạc, nhất là ở các nước nghèo, dạng can xi phổ biến bón cho lạc vẫn là vôi bột Trần Danh Thìn và Nguyễn ðức Lương (2000) [13] cho biết nếu bón 300- 800 kg vôi/ ha trên ñất ñồi làm tăng năng suất giống V79 lên 22,2- 42,7% so với không bón
+ Vai trò của Mg và S
- Mg là thành phần của diệp lục, vì vậy Mg có liên quan trực tiếp tới quang hợp của cây, nếu thiếu Mg cây giảm hàm lượng diệp lục ở lá, lá vàng úa, cây lùn ở nước ta hiện nông dân chưa bón Mg cho lạc, phân dolomite- một dạng phân tự nhiên có chứa Ca, Mg thường ñem lại hiệu quả kinh tế cao, tuy nhiên loại phân này không nhiều nên tính ứng dụng của nó không lớn (chủ yếu tập trung ở Thanh Hoá)
- Lưu huỳnh là thành phần của nhiều loại axit amin quan trọng trong cây, vì vậy S có mặt trong thành phần prôtêin của lạc Thiếu S sự sinh trưởng của lạc bị cản trở, lá có biểu hiện vàng nhạt, cây chậm Phát triển (Gopalakrishnan và Nagarajan, 1958) Theo GeenWood (1954) tác dụng tăng năng suất lạc của thạch cao (CaSO4) ở Nigeria là nhờ S chứ không phải Ca
Sự hút S có liên quan ñến sự hút N và P2O5 ñể hình thành các axit amin, S có thể hấp thu bằng cả rễ và quả, lượng S lạc hấp thu tương ñương lân Reich xác ñịnh hàm lượng S trong lá trong chu kỳ sinh trưởng của lạc là khoảng 0,2% (Reid P.H and Cox F.R, 1973) [67]
- Như vậy ñối với lạc, có thể coi 6 nguyên tố dinh dưỡng: N,P,K,Ca,Mg,S là những nguyên tố ña và thường lượng trong cây Ngoài ra
Trang 23các nguyên tố vi lượng như: Mo, Bo, Fe, Cu, Zn ñóng vai trò là chất xúc tác, hoặc là một phần của các enzim hoặc các chất hoạt hoá của hệ enzim cho các quá trình sống của cây và có vai trò rất quan trọng ñối với năng suất lạc [3]
- Bo ñống vai trò quan trọng trong sự thụ phấn thụ tinh của lạc và giúp cho bộ rễ phát triển, tăng khả năng chịu hạn, giúp cho quả không bị nứt, hạn chế bệnh xâm nhập (Nguyễn Thị Chinh, 2005) [13] Phun dung dịch axit boric có thể làm tăng năng suất lên 4- 10% [3]
Sử dụng sunphat mangan cũng góp phần làm tăng năng suất lạc (Trần Văn Lài, 1993) [19], [36]
- Molipñen (Mo) là nguyên tố vi lượng nằm trong thành phần của men nitrogenaza, có tác dụng làm tăng hoạt tính của vi khuẩn nốt sần, tăng việc ñồng hoá ñạm, mặc dù rất quan trọng nhưng lượng Mo cây cần là rất ít, vì thế theo ñịnh luật tối thiểu về dinh dưỡng của cây trồng, Mo ñược coi là nguyên
tố vi lượng quan trọng nhất Hàm lượng Mo trong cây rất thấp, khoảng 0,1- 0,93 mg/kg chất khô Việc cung cấp Mo cho cây bằng con ñường qua lá là biện pháp kỹ thuật quan trọng ñể lạc ñạt năng suất cao [60] Nhìn chung trên nền ñất có pH thấp, thì việc bón Mo có hiệu quả rõ nhất (Vũ Hữu Yêm, 1996) [65] Một số nguyên tố vi lượng khác như Fe, Zn, Mn cũng có vai trò rất quan trọng với năng suất lạc, tuy nhiên, các nguyên tố dinh dưỡng này có sẵn trong ñất và lạc có khả năng hấp thu mạnh các nguyên tố này nên trong sản xuất ít khi phải bổ xung các dinh dưỡng này
2.2 Cơ sở thực tiễn của ñề tài
Cây lạc là cây trồng cho sản phẩm có giá trị cung cấp dinh dưỡng cho con người, hạt lạc cung cấp thành phần chất béo và protein trong khẩu phần
ăn hàng ngày cho con người Ngoài ra hạt lạc còn chứa một lượng hydrat các bon, ñặc biệt các vitamin nhóm B, các nguyên tố vi lượng Dầu lạc là loại dầu tốt cho thực phẩm, chứa hàm lượng axit béo không no cao, tạo thêm hương vị cho bữa ăn, Uỷ ban chung của FAO/WHO ñề nghị phải có 18- 20% tổng số
Trang 24năng lượng trong khẩu phần ăn cần ñược tiêu thụ dưới dạng chất béo hoặc
dầu (tài liệu về thực phẩm và dinh dưỡng của FAO) ñược chế biến từ lạc Lạc
dùng trực tiếp làm thực phẩm thường là loại lạc tốt, còn lạc chất lượng thấp hơn ñược dùng ñể ép hoặc chiết xuất dầu
Bên cạnh giá trị to lớn là cung cấp dinh dưỡng cho con người, các sản phẩm phụ như khô dầu, thân lá lạc sử dụng cho chăn nuôi, cây lạc còn có giá trị vô cùng quan trọng là cây có tác dụng cải tạo, bồi dưỡng ñất và là cây trồng nằm trong hệ thống luân canh cây trồng mang lại hiệu quả kinh tế cao
và góp phần cải tạo ñất Mặt khác lạc là cây trồng có khả năng thâm canh cao, cho thu nhập cao và ñem lại lợi ích về nhiều mặt
Từ giá trị to lớn và vai trò quan trọng của cây lạc, căn cứ ñiều kiện ñất ñai, khí hậu của ñịa phương phù hợp cho cây lạc sinh trưởng phát triển và cho năng suất cao Mặt khác ñiều kiện kinh tế xã hội của Phú Thọ cũng rất thuận lợi cho việc mở rộng phát triển về diện tích, năng suất và sản lượng lạc phục
vụ cho nhu cầu tiêu dùng tại chỗ và phục vụ cho xuất khẩu Thế nhưng trong những năm qua mặc dù năng suất cây lạc ñã có tăng song vẫn chưa tương xứng với tiềm năng thực tế của ñịa phương Việc lựa chọn, tìm ra những giống lạc phù hợp với ñiều kiện sinh thái, cho năng suất cao ñang là ñòi hỏi cấp bách trong kế hoạch phát triển sản xuất của ñịa phương ðể tìm ra các biện pháp kỹ thuật trong canh tác nhằm nâng cao năng suất cây lạc cũng ñược ñặc biệt coi trọng và ñiều ñó quyết ñịnh ñến tình hình sản xuất lạc trong thời gian tới
2.3 Tình hình sản xuất lạc trên thế giới và Việt Nam
2.3.1 Tình hình sản xuất lạc trên thế giới
Cây lạc tuy ñã trồng lâu ñời ở nhiều nơi trên thế giới nhưng cho ñến giữa thế kỷ 18, sản xuất lạc vẫn có tính tự cung, tự cấp cho từng vùng Cho tới khi công nghiệp ép dầu lạc phát triển mạnh, việc buôn bán lạc trở nên tấp nập
và trở thành ñộng lực thúc ñẩy mạnh sản xuất lạc, trên thế giới hiện nay nhu
Trang 25cầu sử dụng và tiêu thụ lạc ngày càng tăng ñã và ñang khuyến khích nhiều nước ñầu tư phát triển sản xuất lạc với diện tích ngày càng lớn
Bảng 2.1 Diện tích, năng suất, sản lượng lạc trên thế giới trong những
Năng suất (Tạ/ha)
Sản lượng (triệu tấn)
2006 diện tích 21,67 triệu ha, giảm 4,79 triệu ha so với năm 2003
Xét về năng suất lạc, những nước có diện tích trồng lạc lớn, lại có năng suất thấp và mức tăng năng suất không ñáng kể Trong những năm gần ñây nhờ áp dụng tiến bộ kỹ thuật và sử dụng giống lạc mới nên năng suất lạc trên thế giới không ngừng tăng Năng suất lạc trung bình trong những năm 1980 là 11,0 tạ/ha, năm 1990 là 11,5 tạ/ha, từ năm 2000 ñến nay năng suất ổn ñịnh 14,4 tạ/ha, tăng so với năm 1980 là 30,9%, năm 90 là 25,2% Năng suất lạc
Trang 26trên thế giới tăng, song không ñều giữa các khu vực, có nhiều nơi giảm Năng suất giữa các quốc gia trên thế giới có sự chênh lệch nhau khá lớn Khu vực Bắc Mỹ tuy có diện tích trồng lạc không nhiều (820- 850 nghìn ha), nhưng lại
là vùng có năng suất cao nhất (20,0- 28,0 tạ/ha) Trong khi ñó Châu Phi trồng khoảng 6.400 nghìn ha, nhưng năng suất chỉ ñạt 7,8 tạ/ha (Nguyễn Thị Dần
và CS, 1996) [19], [15] Châu Á nhờ sự nỗ lực của các quốc gia ñầu tư, nghiên cứu áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật nên năng suất lạc tăng nhanh; tăng từ 14,5 tạ/ha năm 90 lên 16,4 tạ/ha năm 2005
Sản lượng lạc trên thế giới trong những năm gần ñây liên tục tăng, sản lượng trung bình hàng năm thập kỷ 90 là 23,2 triệu tấn ñến năm 2005 là 36,49 triệu tấn, tăng 13,29 triệu tấn (57%) so với những năm 90 Châu Á sản lượng lạc tăng 104,69%
Tuy vậy, nghiên cứu tình hình sản xuất lạc trên thế giới cho thấy, sản lượng lạc ñược sản xuất ra hàng năm, chủ yếu do một số nước có sản lượng trên một triệu tấn/năm tạo ra là: Ấn ðộ (8,0 triệu ha), Trung Quốc (3,76 - 5,12 triệu ha), Mỹ (0,53 - 0,65 triệu ha), Trong số các nước trồng lạc thì Ấn ðộ, Trung Quốc, Nigieria, Mỹ và Inñônêxia là những nước có sản lượng lạc hàng năm cao nhất [19]
Ngô Thế Dân cho biết theo thống kê của Florkowski W.J (1994) [19],
Ấn ðộ là quốc gia có diện tích trồng lạc ñứng ñầu thế giới (8,0 triệu ha), song lạc chủ yếu ñược trồng ở vùng khô hạn và bán khô hạn, nên năng suất lạc rất thấp (9,3 - 9,8 tạ/ha), thấp hơn năng suất trung bình của thế giới, sản lượng lạc hàng năm chỉ ñạt 7,5 - 8,0 triệu tấn Kinh nghiệm của Ấn ðộ cho thấy, nếu chỉ áp dụng giống mới mà vẫn áp dụng kỹ thuật canh tác cũ thì năng suất lạc chỉ tăng 20 - 43% Nhưng khi áp dụng giống mới kết hợp với kỹ thuật canh tác tiến bộ ñã làm tăng năng suất lạc từ 50 - 63% trên các ruộng trình diễn của nông dân [13]
Mỹ là nước có diện tích, năng suất lạc khá ổn ñịnh Năng suất trung
Trang 27bình ựạt 29,6 tạ/ha Gấp 3 lần so với năng suất lạc của các nước khác, thập niên 80 diện tắch trồng lạc của Mỹ là 0,597 triệu ha, năng suất ựạt trung bình hàng năm là 27,9 tạ/ha, thập kỷ 90, diện tắch hàng năm là 0,569 triệu ha, năng suất ựạt 27,9 tạ/ha [19] Năm năm gần ựây diện tắch trồng lạc là 0,58 triệu ha/năm, năng suất bình quân ựạt 31,7 tạ/ha, cao hơn năng suất trung bình những năm 90 là 13,6%, ựây là năng suất bình quân cao nhất thế giới Nguyên nhân của sự chênh lệch này là do sự ựầu tư ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ, ựầu tư, thâm canh khác nhau, cũng như do các yếu tố kinh
tế xã hội, yếu tố môi trường khác nhau chi phối
Khu vực đông Nam Á, diện tắch trồng lạc không nhiều, chỉ chiếm 12,95% sản lượng lạc của châu Á
Năng suất lạc ở đông Nam Á nhìn chung chưa cao, năng suất bình quân ựạt 11,7 tạ/ha Malayxia là nước có diện tắch trồng lạc không nhiều, nhưng lại là nước có năng suất lạc cao nhất trong khu vực, trung bình ựạt 23,3 tạ/ha Về xuất khẩu lạc chỉ có 3 nước Thái Lan, Việt Nam và Inựônêxia Trong ựó Việt Nam là nước có khối lượng xuất khẩu lạc lớn nhất với 33,8 ngàn tấn (chiếm 45,13% khối lượng lạc xuất khẩu trong khu vực) [13]
Theo nhận ựịnh của các nhà khoa học, tiềm năng ựể nâng cao năng suất
và sản lượng lạc của các nước còn rất lớn cần phải khai thác.Trong khi năng suất lạc bình quân của thế giới mới ựạt 1,3 tấn/ha thì ở Trung Quốc trồng thử nghiệm trên diện hẹp ựã thu ựược năng suất khoảng 12 tấn/ha, cao hơn 9 lần so với năng suất bình quân của thế giới Gần ựây, tại viện Quốc tế nghiên cứu cây trồng vùng nhiệt ựới bán khô hạn (ICRISAT) Ấn độ ựã thông báo sự khác biệt giữa năng suất lạc trên các trạm trại nghiên cứu và năng suất trên ựồng ruộng nông dân là từ 4- 5 tấn/ ha Trong khi cây lúa mì và lúa nước ựã gần ựạt tới trần
và có xu hướng giảm dần ở nhiều vùng trên thế giới thì năng suất cây lạc trong sản xuất còn cách rất xa so với tiềm năng Chiến lược này ựã ựược áp dụng thành công ở nhiều nước và trở thành bài học kinh nghiệm trong phát triển sản
Trang 28xuất lạc của thế giới (Ngô Thế Dân và CS, 2000) [19] Ở Ấn độ, nước ựứng ựầu thế giới về diện tắch trồng lạc ựã thực hiện chương trình phát triển và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật trồng lạc nhằm giải quyết cơ bản vấn ựề tự túc dầu
ăn cho ựất nước từ những năm 1980 Các kỹ thuật ựược nông dân áp dụng và chấp nhận phải là những kỹ thuật ắt ựòi hỏi ựầu tư chi phắ, dễ hiểu, dễ áp dụng
và phù hợp với ựiều kiện sản xuất của từng ựịa phương Vì vậy, Ấn độ rất quan tâm ựến công tác nghiên cứu và thử nghiệm các tiến bộ kỹ thuật trồng lạc trên ựồng ruộng với sự tham gia trực tiếp của nông dân Phương pháp này ựã ựem lại hiệu quả ở Ấn độ và sau ựó ựược nhiều nước khác ở châu Á áp dụng trong trình diễn và chuyển giao kỹ thuật vào sản xuất (Ngô Thế Dân, 2000) [19]
Trung Quốc là nước ựứng thứ hai sau Ấn độ về diện tắch trồng lạc với trên 3 triệu ha/năm, chiếm 16% tổng diện tắch trồng lạc của cả thế giới Nhiều năm nay, sản phẩm lạc của Trung Quốc là một trong những mặt hàng nông sản xuất khẩu nổi tiếng trên thị trường thế giới Trung Quốc cũng là nước gặt hái ựược nhiều thành tựu nhất trong phát triển sản xuất lạc, ựặc biệt trong thập kỷ
90 Vào những năm 1960, năng suất lạc của Trung Quốc mới chỉ ựạt 1,14 tấn/ha, năm 1970 là 1,21 tấn/ ha, năm 1980 là 1,78 tấn/ha, còn vào những năm
1990 năng suất lạc trung bình ựạt 2,5 tấn/ ha Năm 1994 năng suất trung bình lạc của Trung Quốc ựã ựạt 2,69 tấn/ha và năm 2000 năng suất là 3,0 tấn/ha Tỉnh Sơn đông là tỉnh có diện tắch trồng lạc lớn nhất Trung Quốc chiếm 23% diện tắch, 33% tổng sản lượng lạc của cả nước Năng suất trung bình lạc ở Sơn đông Trung Quốc cao hơn năng suất trung bình lạc của Trung Quốc là 34% theo USDA, FAS, 2000 [71]
Vậy yếu tố nào ựã quyết ựịnh bước tiến nhảy vọt về năng suất và sản lượng lạc của Trung Quốc Các nhà khoa học của Trung Quốc và thế giới ựều khẳng ựịnh rằng thành tựu nói trên ựạt ựược là nhờ chiến lược ựẩy mạnh nghiên cứu và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật trồng lạc nhằm phát huy tiềm năng to lớn của cây lạc còn ắt ựược khai thác trong sản xuất
Trang 29Thật vậy, Trung Quốc là nước ñặc biệt quan tâm ñến công tác nghiên cứu và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật trong nhiều năm qua Có tới 60 viện, trường và trung tâm nghiên cứu của Trung Quốc triển khai các hướng nghiên cứu trên cây lạc Trong giai ñoạn 1982- 1995 ñã có trên 82 giống mới có nhiều ưu ñiểm nổi bật như năng suất, ngắn ngày, chống chịu sâu bệnh và các ñiều kiện bất thuận, thích ứng rộng, ñã ñược chọn tạo và ñưa ra sản xuất ñại trà Diện tích gieo trồng các giống lạc mới năng suất cao ở Trung Quốc ñạt 90- 95% tổng diện tích lạc cả nước nhờ mạng lưới khuyến nông hoạt ñộng rất
có hiệu quả Cùng thời gian này, nhiều biện pháp kỹ thuật nhằm ñạt năng suất cao ñã ñược phát triển và áp dụng rộng rãi Các biện pháp ñó là cày sâu, bón phân cân ñối, mật ñộ gieo trồng hợp lý, phòng trừ sâu bệnh tổng hợp và ñặc biệt kỹ thuật che phủ nilon ñược coi là cuộc cách mạng trắng góp phần tăng năng suất, sản lượng lạc của Trung Quốc
Trong những năm tới, chiến lược phát triển sản xuất lạc ở Trung Quốc
là ổn ñịnh diện tích 4.2 triệu ha/năm, phấn ñấu tăng năng suất lên trên 3,0 tấn/ha, sản lượng 13 triệu tấn/năm trên cơ sở tiếp tục ñẩy mạnh nghiên cứu và ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ mới
Achentina cũng là một nước thành công trong nghiên cứu và ứng dụng các kỹ thuật tiến bộ ñể phát triển và nâng cao hiệu quả sản xuất lạc Trong suốt
50 năm (1932- 1982) năng suất lạc của Achentina chỉ ở mức khiêm tốn, trên dưới 700 kg lạc hạt tương ñương 1,0 tấn lạc vỏ/ha Vào thời gian này lạc ở Achentina chủ yếu ñược sử dụng ñể ép dầu, vì vậy hiệu quả kinh tế sản xuất lạc thấp ðứng trước nhu cầu sản xuất lạc phục vụ công nghiệp mứt kẹo, Achentina ñã ñẩy mạnh công tác nghiên cứu và ứng dụng tiến bộ kỹ thuật ñể ñạt chất lượng cao hơn và nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất lạc của ñất nước
Từ năm 1982 nghiên cứu và ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất ñã
Trang 30ñược tăng cường Năm 1991 năng suất lạc bình quân của Achentina ñã ñạt 2,0 tấn/ha, gấp 2 lần so với năm 1980 Các giống mới chất lượng cao ñược gieo trồng trên 70% diện tích lạc cả nước, ñã ñưa Achentina trở thành nước xuất khẩu lạc ñứng thứ ba trên thế giới, sau Mỹ và Trung Quốc, mặc dù diện tích trồng lạc của nước này không lớn, chỉ khoảng 180.000 ha/ năm (Ngô Thế Dân
và CS, 2000) [19]
Hàn Quốc là một nước khá phát triển ở châu Á, nổi tiếng về ñầu tư cho nghiên cứu và ứng dụng tiến bộ kỹ thuật trên cây lạc Chương trình nghiên cứu khoa học trên cây lạc ở Hàn Quốc ñược tăng cường rất sớm, bắt ñầu từ những năm 1960 Nhờ kết hợp giống mới, với biện pháp kỹ thuật che phủ nilon ñến ñầu những năm 1990 năng suất lạc của Hàn Quốc ñã tăng gấp 4 lần
so với năm 1960 Hiện nay trên những nông trại lớn của Hàn Quốc có sử dụng giống lạc mới và kỹ thuật tiến bộ, năng suất lạc ñã ñạt trên 6,0 tấn/ha Những thông tin trên ñây cho thấy, tất cả các nước ñã thành công trong phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất lạc ñều rất chú ý ñầu tư cho công tác nghiên cứu và ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ vào sản xuất Tiềm năng to lớn của cây lạc trong sản xuất chỉ có thể ñược khơi dậy thông qua việc áp dụng rộng rãi tiến bộ kỹ thuật trên ñồng ruộng
2.3.2 Tình hình sản xuất lạc ở Việt Nam
Những năm trước ñây Việt Nam do còn thiếu về lương thực nên trong sản xuất nông nghiệp chủ yếu tập trung vào sản xuất cây lương thực,
vì vậy cây lạc chưa ñược quan tâm chú trọng ñúng, năng suất, sản lượng lạc thấp Những năm gần ñây do có sự chuyển dịch cơ cấu cây trồng và sản xuất hàng hoá ñã góp phần thúc ñẩy tăng về diện tích, năng suất và sản lượng lạc Năm 2005 Việt Nam ñứng thứ 12 về diện tích, ñứng thứ 9 về sản lượng lạc trên thế giới
Trang 31Theo Ngô Thế Dân và CS (2000) [19] thì sự biến ñộng về diện tích, năng suất và sản lượng lạc từ những năm 1970 ñến nay như sau:
Trong thập kỷ 70 diện tích lạc từ 97.100 ha giảm xuống còn 91.800 ha, giảm 5%, năng suất từ 10,3 tạ/ ha giảm xuống còn 8,8 tạ/ha, giảm 14,6% ðến những năm 80 diện tích, năng suất và sản lượng bắt ñầu tăng từ 97.100 ha lên 237.800 ha Thập kỷ 90, trong vòng 10 năm, diện tích, năng suất và sản lượng tăng rất nhanh, riêng năng suất lạc tăng gần 30% Diện tích lạc tăng mạnh nhất là giai ñoạn 1990- 1995, diện tích 1991 ñạt 210.900 ha thì năm 1995 ñạt 259.900 ha, tăng 23,2% Năm 1996- 2000 diện tích trồng lạc cũng có biến ñộng, năm 2005 diện tích trồng lạc ñạt 263.680 ha
Việt Nam, từ những năm 1980 sản xuất lạc có chiều hướng phát triển ngày càng tăng Trong 10 năm từ 1981 ñến năm 1990, diện tích lạc tăng bình quân 7% trên năm, sản lượng tăng 9% trên năm Từ năm 1990 ñến 1995, sản xuất lạc tăng về diện tích và sản lượng song năng suất vẫn còn thấp, chỉ ñạt khoảng 1,0 tấn/ha Nhưng những năm gần ñây diện tích và sản lượng lạc tăng
rõ rệt, năng suất ñạt gần 1,5 tấn/ha Một trong những yếu tố quan trọng nhất góp phần nâng cao năng suất lạc là do việc áp dụng một số tiến bộ kỹ thuật
Từ năm 1990 ñến nay công tác nghiên cứu và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật trồng lạc ở nước ta ñã ñược quan tâm hơn trước Các ñề tài nghiên cứu cấp nhà nước và cấp ngành, các dự án trong nước, quốc tế về nghiên cứu và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật trên cây lạc ñã ñược triển khai thu hút sự tham gia của một ñội ngũ ñông ñảo các cán bộ nghiên cứu và khuyến nông trong cả nước Phát triển cây lấy dầu, trong ñó có cây lạc ñã ñược Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn xác ñịnh là một trong những vấn ñề trọng ñiểm trong chương trình phát triển nông nghiệp và nông thôn của nước ta Hợp tác quốc
tế trong lĩnh vực nghiên cứu và phát triển cây lạc ñã ñược tăng cường Thông qua chương trình hợp tác với ICRISAT và mạng lưới ñậu ñỗ và cây cốc châu
Trang 32Á (CLAN), Việt Nam ñã có ñiều kiện cử cán bộ nghiên cứu và khuyến nông
ñi ñào tạo nâng cao trình ñộ, ñồng thời tiếp thu ñược các thành tựu mới, học hỏi, trao ñổi kinh nghiệm nghiên cứu phát triển sản xuất lạc của các nước trên thế giới và khu vực Một số tiến bộ phổ biến của các nước ñã ñược chọn lọc, thử nghiệm và ứng dụng ñem lại hiệu quả ở Việt Nam Dự án nghiên cứu thử nghiệm các tiến bộ kỹ thuật trồng lạc trên ñồng ruộng nông dân giai ñoạn 1990- 1995, thực hiện ở một số tỉnh trọng ñiểm trồng lạc ở Việt Nam ñã ñược nông dân, cán bộ ñịa phương, mạng lưới CLAN và các nước trong khu vực ñánh giá cao Các yếu tố hạn chế chính ñối với sản xuất lạc ở nước ta ñã ñược xác ñịnh và trên cơ sở ñó các hướng nghiên cứu chính nhằm ñáp ứng yêu cầu của nông dân ñã ñược xây dựng và thực hiện bước ñầu ñem lại hiệu quả rất ñáng khích lệ như việc sử dụng tro dừa bón cho lạc, việc chọn tạo ra các giống kháng bệnh, chịu hạn Theo Ngô Thế Dân và Nguyễn Thị Chinh một số biện pháp kỹ thuật thâm canh lạc cũng ñã ñược áp dụng như bón phân cân ñối, mật ñộ gieo thích hợp, kỹ thuật che phủ nilon ñã làm tăng năng suất lạc lên 30- 40% [19], [13] Nhiều mô hình thâm canh lạc ñạt năng suất cao trên 3,0 tấn/ha ñã ñược trình diễn trên ñồng ruộng nông dân ở nhiều ñịa phương
Tiềm năng ñể nâng cao năng suất lạc ở nước ta còn rất lớn Kết quả nghiên cứu trong những năm gần ñây cho thấy trên diện tích rộng hàng chục
ha, gieo trồng giống mới với các biện pháp kỹ thuật tiên tiến, nông dân có thể
dễ dàng ñạt năng suất lạc 4,0-5,0 tấn/ha, gấp 3 lần so với năng suất lạc bình quân trong sản xuất ñại trà ðiều ñó chứng tỏ rằng nếu các kỹ thuật tiên tiến ñược áp dụng rộng rãi trong sản xuất sẽ góp phần ñáng kể trong việc tăng năng suất và sản lượng lạc ở nước ta Vấn ñề chính hiện nay là làm sao ñể các giống mới và các kỹ thuật tiên tiến ñến ñược với nông dân và ñược nông dân chấp nhận
Nhà nước ta ñã ñề ra chỉ tiêu ñưa diện tích cây lạc lên 400.000 ha, với
Trang 33năng suất bình quân 2,0 tấn/ha ðể ñạt ñược mục tiêu ñó, trước hết cần ñẩy mạnh hơn nữa công tác nghiên cứu và ứng dụng tiến bộ kỹ thuật một cách rộng rãi trong sản xuất Trên cơ sở áp dụng hệ thống các giải pháp kỹ thuật tổng hợp, ñồng bộ, tiếp thu kinh nghiệm của các nước, trong thời gian tới sản xuất lạc ở nước ta sẽ có ñiều kiện ñể ñạt ñược những thành tựu mới, góp phần phát triển một nền sản xuất nông nghiệp bền vững, tăng kim ngạch xuất khẩu, nâng cao thu nhập và ñời sống nhân dân
Trước thời kỳ ñổi mới ñất nước, nền nông nghiệp Việt Nam còn lạc hậu, kém phát triển, còn là nước thiếu về lương thực, hầu hết diện tích gieo trồng cây hàng năm tập trung chủ yếu trồng cây lương thực do vậy diện tích lạc chưa ñược chú trọng, năng suất, sản lượng thấp Từ khi thực hiện công cuộc ñổi mới ñất nước, ñặc biệt là ñổi mới về chính sách phát triển nông nghiệp, việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng ñể nâng cao thu nhập trên diện tích gieo trồng thì cây lạc càng ñược quan tâm phát triển Theo số liệu của tổng cục thống kê về diện tích, năng suất và sản lượng lạc giai ñoạn 1995- 2006 cho thấy
Năm 1995 diện tích lạc là 259,9 nghìn ha, năm 1996 diện tích 262,8 nghìn ha tăng 2.800 ha Năm 1997 diện tích giảm xuống còn 253,5 nghìn ha, giảm so với năm 1995 là 6.400 ha, năm 1998 diện tích lạc tăng lên 269.400 ha cao hơn năm 1995 là 9.500 ha, năm 1999 diện tích giảm mạnh 21.800 ha còn 247.600 ha Năm 2000 diện tích tiếp tục giảm xuống còn 244.900 ha, năm
2001, 2002 và 2003 diện tích lạc dao ñộng từ 243.800 ha ñến 246.700 ha, năm có diện tích gieo trồng thấp nhất là 2003 diện tích 243.800 ha giảm hơn so với năm 1995 là 16.100 ha Năm 2004 diện tích lạc tiếp tục ñược tăng lên 263.700 ha cao hơn so với năm 2003 là 19.900 ha năm 2005 diện tích tăng lên 269.600 ha cao hơn 9.700 ha, nhưng năm 2006 diện tích lại giảm xuống còn 249.300 ha
Nhìn chung diện tích lạc trong giai ñoạn 1995- 2006 có sự biến ñộng
Trang 34và thiếu tắnh ổn ựịnh do các nguyên nhân như thời tiết khắ hậu, tình hình giá
cả và tiêu thụ cũng làm ảnh hưởng ựến diện tắch trồng lạc qua các năm
Về năng suất lạc khác với diện tắch, năng suất lạc tăng tương ựối ựều qua các năm và từ năm 1990, năng suất lạc ựạt 10,6 tạ/ha/, năm 1995 sau 5 năm năng suất tăng lên 12,9 tạ/ha, tăng 21,7%, năm 2000 năng suất lạc ựạt 14,5 tạ/ha, tăng 12,4% so với năm 1995 Năm 2005 năng suất lạc tiếp tục tăng
và ựạt 18,1 tạ/ha, tăng so với năm 2000 là 29,7% và tăng so với năm 1995 là 40,3%, so với năm 1990 là 70,8% Năm 2006 năng suất lạc ựạt 18,6 tạ/ha/, tăng so với 2005 là 2,8%
Như vậy trong vòng 16 năm từ năm 1990- 2007 diện tắch biến ựộng không ựáng kể, nhưng năng suất lạc năm sau thường tăng cao hơn năm trước,
từ 1990- 2006 năng suất tăng 75,5% so với năm 1990
Về phân bố, lạc ựược trồng ở hầu hết các vùng sinh thái nông nghiệp Việt Nam Diện tắch lạc chiếm 28% tổng diện tắch cây công nghiệp hàng năm (ựay, cói, mắa, lạc, ựậu tương, thuốc lá), tuy nhiên, có 6 vùng sản xuất chắnh như sau:
Vùng đồng bằng sông Hồng: lạc ựược trồng chủ yếu ở Hà Nội, Vĩnh Phúc, Hà Tây, Nam định, Ninh Bình với diện tắch 31.400 ha, chiếm 29,3%
Vùng đông Bắc: lạc ựược trồng chủ yếu ở Bắc Giang, Phú Thọ Thái Nguyên với diện tắch 31.000 ha, chiếm 28,9%
Vùng Duyên hải Bắc Trung Bộ là vùng trọng ựiểm lạc của các tỉnh phắa Bắc với diện tắch 74.000 ha (chiếm 30,5%), tập trung ở các tỉnh Thanh Hoá (16.800 ha), Nghệ An (22.600 ha), Hà Tĩnh (19.900 ha)
Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ: diện tắch trồng 23.100 ha (chiếm 9,5%), ựược trồng tập trung ở 2 tỉnh Quảng Nam, Bình định
Vùng Tây Nguyên: diện tắch trồng Lạc 22.900 ha (chiếm 9,4%), chủ
Trang 35Hà Tĩnh và Phú Thọ Diện tích trồng lạc ở các tỉnh phía Nam giảm từ 133,6 ngàn ha năm 1995 xuống 98,5 ngàn ha năm 2003, diện tích giảm mạnh nhất ở tỉnh Tây Ninh (từ 41,1 ngàn ha năm 1995 xuống còn 19,8 ngàn ha năm 2003)
và tiếp ñó ở tỉnh Long An Diện tích Lạc ở các tỉnh phía Nam giảm do cây ăn quả và cây cà phê phát triển ồ ạt
Năng suất lạc ở phía Bắc thường thấp hơn năng suất lạc ở các tỉnh phía Nam Tuy nhiên, bước ñầu ñã có một số tỉnh ñạt năng suất lạc bình quân cao như: Nam ðịnh 37,7 tạ/ha (nhờ áp dụng giống lạc mới và kỹ thuật che phủ nilon); Hưng Yên 27,7 tạ/ha; thành phố Hồ Chí Minh 28,7 tạ/ha; Trà Vinh 28,8 tạ/ha; Khánh Hoà 26,0 tạ/ha, Phú Thọ 15,74 tạ/ha
2.3.3 Tình hình sản xuất lạc ở Phú Thọ
Phú Thọ có diện tích ñất tự nhiên của tỉnh 352.384 ha, trong ñó ñất sản xuất nông nghiệp (nông lâm thuỷ sản) là 267.612 ha Dân số 1.326.813 người, mật ñộ dân số bình quân 367,5 người/km2, tập trung ở 250 xã và 24 phường, thị trấn, trong ñó có 50 xã ñặc biệt khó khăn Về lao ñộng xã hội, tổng số lao ñộng là 787.500 lao ñộng, trong ñó số người trong ñộ tuổi lao ñộng là 765.500, có khả năng lao ñộng là 749.900 lao ñộng, mất khả năng lao ñộng là 15.600 lao ñộng Số người ngoài ñộ tuổi lao ñộng là 37.600 người Số lao ñộng trong lĩnh vực nông lâm, thuỷ sản là 489.200 lao ñộng, chiếm 62,12
Trang 36% tổng lao ñộng [44]
Phú Thọ là tỉnh miền núi có các ñiều kiện tự nhiên và sinh thái phù hợp cho sự sinh trưởng phát triển và nâng cao năng suất, sản lượng lạc Kết hợp với ñiều kiện xã hội, là tỉnh ñông dân cư, mật ñộ dân số tương ñối cao (367,5 người/ km2), người dân có kinh nghiệm sản xuất lâu ñời Cây lạc là cây trồng chính cho thu nhập cao ñã ñược nông dân quan tâm phát triển Trước khi thực hiện cơ chế khoán 10, cây lạc ñược sản xuất tập trung ở các hợp tác xã, do vậy năng suất không cao Từ khi thực hiện cơ chế khoán 10, người dân ñược làm chủ ruộng ñất của mình và ñược chủ ñộng trong sản xuất do vậy cây lạc ñược chú trọng hơn và là cây mang tính sản xuất hàng hoá sớm nhất trong số các cây trồng chính tại ñịa phương ðặc biệt trong 10 năm trở lại (từ 1998 ñến nay), diện tích lạc giữ ổn ñịnh trên 6000 ha, nhưng năng suất tăng lên ñáng
kể Nếu năm 1998, năng suất lạc ñạt 11,8 tạ/ha thì năm 2007 năng suất lạc tăng lên 15,74 tạ/ ha, tăng hơn 50% trong vòng 10 năm Trong những năm gần ñây do việc áp dụng giống mới và kết hợp với các biện pháp kỹ thuật canh tác sẽ hứa hẹn năng suất lạc tiếp tục tăng cao phù hợp với tiềm năng sẵn
có và lợi thế của ñịa phương
2.4 Một số nghiên cứu về lạc trên thế giới và Việt Nam
2.4.1 Những nghiên cứu về lạc trên thế giới
2.4.1.1 Kết quả nghiên cứu về chọn tạo giống
Mục tiêu chính của các nhà chọn tạo giống là tạo ra các giống có tiềm năng năng suất cao, thích ứng với các ñiều kiện môi trường sinh thái khác nhau, các ñiều kiện ñầu tư và canh tác khác nhau, kháng hoặc chống chịu với một số loại sâu bệnh hại chủ yếu Vì lạc ñược trồng ở các hệ thống luân canh cây trồng và ñiêù kiện sinh thái khác nhau do vậy mục tiêu cụ thể trong công tác chọn tạo giống cũng luôn thay ñổi ñể phù hợp với yêu cầu thực tiễn ñạt ra
ðể làm tốt công tác này, việc thu thập, ñánh giá và bảo quản nguồn gen
Trang 37của cây lạc là việc làm rất quan trọng, đã được nhiều tổ chức và quốc gia trên thế giới làm tốt Ở Mỹ đã thu thập được gần 29.000 lượt mẫu (Bank, 1976), ở
Ấn ðộ đã thu thập được 6.920 mẫu giống, ở Australia thu thập được gần 12.200 lượt mẫu giống, Trung Quốc là quốc gia cĩ diện tích và năng suất lạc cao trên thế giới cũng đã thu được trên 6000 lượt mẫu giống từ các vùng khác nhau (liao Boshou, 1975) Viện nghiên cứu các cây trồng Quốc tế cho vùng nhiệt đới bán khơ hạn (ICRISAT) Hyderabat, Ấn ðộ đã được chỉ định thực hiện việc thu thập, đánh giá, bảo quản và phân phối các vật liệu di truyền cây lạc Tại đây đang lưu giữ một tập đồn lạc tồn cầu bao gồm trên 13.915 mẫu giống thu thập từ 89 nước trên thế giới (Mengesha, 1993) Tồn bộ số mẫu đĩ thuộc loại lạc trồng ngồi ra cĩ khá nhiều lồi dại cũng đang được bảo quản tai ICRISAT (Stalker & Moss, 1987) [19] Một số lồi đã được sử dụng như những lồi cỏ gia súc (Prine, 1981) cịn phần lớn được sử dụng trong các chương trình cải tiến giống theo các hướng kháng sâu bệnh, chống chịu với các điều kiện mơi trường khĩ khăn như hạn, lạnh… hoặc cải tiến đặc tính quả, hạt (Guok, 1986) Các nước đang lưu giữ và bảo quản một số lượng lớn các mẫu giống lạc là Mỹ, Trung Quốc, Malawi, Indonexia Tuy nhiên các tập đồn này thường cĩ các mẫu trùng lặp với tập đồn quốc tế đang bảo quản tại ICRISAT, Ấn ðộ, số lượng mẫu giống đã thu thập được là rất lớn song thực
tế vẫn cịn thiếu nhiều so với tiềm năng Nhiều vùng trồng lạc trên thế giới vẫn chưa tiến hành thu thập được, vì vậy IBPGR (Simpson, 1990) [69] đã cho rằng cần ưu tiên thu thập trong thời gian tới đối với cây lạc và các mẫu giống tại 8 quốc gia với 22 vùng
Nhờ cơng tác thu thập, đánh giá và bảo quản nguồn gen lạc tốt đã giúp các nhà chọn tạo giống chọn được nhiều giống cĩ năng suất cao, chống chịu tốt với sâu bệnh và điều kiện bất lợi, phù hợp với các vùng sinh thái
ICRISAT đã tuyển chọn được các giống cho năng suất cao, kháng bệnh tốt như: ICGV- SM83005, ICGV-88438, ICGV86699 kháng bệnh gỉ sắt, đốm
Trang 38ựen, ựốm nâu, kháng bệnh héo xanh vi khuẩn là giống ICGV- SM86715, ICGV87165 (Moss & cộng sự, 1998) [19]
Theo Duan Shufen (1998) [64] cho biết ở Trung Quốc các nhà khoa học ựã chọn tạo ựược nhiều giống mới bằng các phương pháp khác nhau như: ựột biến sau khi lai, ựột biến trực tiếp, lai ựơn, lai kết hợp Hơn 200 giống lạc
ựã ựược phát triển và phổ biến cho sản xuất từ những năm cuối của thập kỷ
50, với những giống có năng suất cao là Haihua 1, Xuzhou 68-4, hua 37 các giống có chất lượng tốt như Baisha 1016, Hua 11, Hua 17, Luhua 10 ựưa vào sản xuất phục vụ cho xuất khẩu Một số giống kháng cao với bệnh héo xanh
vi khuẩn, gỉ sắt như Luhua 3, Zhonghua 2, Zhonghua 4, Yueyou 92 ựã ựược
sử dụng rộng rãi ở các vùng có nguy cơ nhiễm bệnh cao Viện nghiên cứu lạc tỉnh Sơn đông ựã chọn ựược một số giống mới có năng suất cao là Luhua 6, Luhua 8, Luhua 9, 1830, ựạt năng suất 50- 75 tạ/ha Viện cây lấy dầu Vũ Hán
ựã lai tạo ựược giống Zhoghua No4 chắn sớm và có năng suất cao Trong những năm 1980, các giống chắn sớm với những ựặc tắnh nông học tốt như Shan you 116, Yue suan 58, Yue you 92 ựã thay thế những giống thuộc loại
chắn trung bình Spanish, Virginia ở các tỉnh miền Trung và miền Nam Trung
Quốc [19]
Mỹ là một nước không ngừng cải tiến kỹ thuật, cơ cấu giống lạc và
ựã chọn tạo ựược nhiều giống cho năng suất cao, chất lượng tốt, có khả năng kháng sâu bệnh như: giống lai F2VA93B chắn sớm, hạt to, năng suất cao, giống Florigant ựược trồng rộng rãi ở nhiều vùng ở nước Mỹ, VGP9 có khả năng kháng bệnh thối trắng thân, bệnh thối quả (Cofelt và cộng sự 1994) Giống NC12C là giống hạt to, có khả năng kháng bệnh ựốm lá, gỉ sắt và héo xanh vi khuẩn, năng suất cao 30 Ờ 50 tạ/ha
Ấn độ cũng là một nước ựã ựạt ựược nhiều thành tựu to lớn trong công
Trang 39tác chọn giống Trong chương trình hợp tác với ICRISAT, bằng con ựường thử nghiệm các giống lạc của ICRISAT, Ấn độ ựã phân lập và phát triển ựược giống lạc chắn sớm phục vụ rộng rãi trong sản xuất, ựó là BSR (D.Sudhakar và CS, 1995) [19]
Một số nước khác trồng lạc trên thế giới ựã chọn tạo ựược nhiều giống lạc có tiềm năng năng suất cao, chất lượng tốt, chống chịu ựược với một số loại sâu bệnh như Inựônêxia ựã chọn tạo ựược giống Mahesa, Badak, Brawar
và Komdo có năng suất cao, phẩm chất tốt, chắn sớm và kháng sâu bệnh Ở Thái Lan ựã chọn tạo và ựưa vào sản xuất các giống Khon Kean 60-3; Khon Kean 60- 2; Khon Kean 60 Ờ 1 và Tainan 9 có năng suất cao, chắn sớm, chịu hạn, kháng sâu bệnh ựốm lá, gỉ sắt có kắch thước hạt lớn (Sanun Jognog và
CS, 1996) [68] Còn ở Hàn Quốc ựã chọn tạo ựược giống ICGS năng suất ựạt tới 56 tạ/ha.Philippin ựã chọn tạo ựược một số giống UPLPN06; UPLP N08 và BPIP N02, các giống này ựều kháng với bệnh ựốm lá muộn và gỉ sắt, ựều có kắch thước hạt lớn ựồng thời có 2- 3 hạt trên quả rất phù hợp cho sử dụng gia ựình (Perdido V.C and E.L Lopez, 1996) [66]
2.4.2 Những nghiên cứu ở Việt Nam
2.4.2.1 Những nghiên cứu về giống
Theo Ngô Thế Dân và cộng sự thì ở Việt Nam công tác thu thập và bảo quản sử dụng tập ựoàn lạc ựã ựược tiến hành từ rất lâu ở các trường đại học Nông nghiệp, các trung tâm và các viện nghiên cứu, nhưng không mang tắnh hệ thống đến những năm 1980, Trung tâm nghiên cứu giống cây trồng Việt Xô thuộc viện khoa học Nông nghiệp Việt Nam ựã tiến hành thu thập, nhập nội một cách có hệ thống các giống cây trồng trong ựó có cây lạc Số lượng mẫu giống trong tập ựoàn lạc lên tới 1.271 (Trần đình Long
&CTV, 1991) [41] Trong ựó có 100 giống ựịa phương và 1.171 mẫu giống nhập nội từ 40 nước trên thế giới
Trang 40Từ năm 1990- 2000 Trung tâm nghiên cứu và thực nghiệm đậu đỗ viện KHKTNN Việt Nam đã nhập trên 1894 mẫu giống từ ICRSAT Ấn ðộ để đánh giá, chọn lọc 250 mẫu giống đã và đang được nghiên cứu tại viện KHNN Miền Nam, trong số đĩ 150 mẫu nhập từ Viện nghiên cứu Vavilop (VIR), 24 mẫu từ ICRISAT (Phạm Ngọc Quý, 1990)
Tại Viện nghiên cứu cây cĩ dầu miền Nam, 433 mẫu thuộc 8 nhĩm giống như ngắn ngày, trung ngày, bánh kẹo, kháng bệnh lá, bệnh héo xanh vi khuẩn đã được nhập nội để khảo sát, đánh giá (Ngơ Thị Lâm Giang, 1998) [28] Ngồi các cơ quan trên Viện nghiên cứu ngơ, Viện Di truyền nơng nghiệp, trường ðại học NNI đang lưu giữ những tập đồn cơng tác để phục vụ cho cơng tác cải tiến giống
2.4.2.2 Nghiên cứu kỹ thuật che phủ nilon cho lạc
Kế thừa các kết quả nghiên cứu của Nhật Bản, kỹ thuật che phủ nilon cho lạc đã được đưa vào nghiên cứu ở Trung Quốc từ năm 1978, năm 1984, kết quả khảo nghiệm trên 16 tỉnh thành đã cho năng suất bình quân từ 37- 45 tạ/ha Ước tính đến năm 1995, diện tích trồng lạc cĩ che phủ nilon đã chiếm tới 80 – 90%, diện tích trồng lạc của tỉnh Sơn ðồng, đã thực sự tạo ra cuộc cách mạng trắng trong sản xuất lạc ở Trung Quốc (Sun Yanhao và Wang Caibin, 1995) [70] Ở Việt Nam, biện pháp này được Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm đậu đỗ tiến hành đưa vào thử nghiệm từ năm 1996 Qua nhiều năm nghiên cứu kết quả cho thấy như sau:
2.4.2.2.1 Kết quả nghiên cứu trong vụ xuân
Ở các tỉnh phía Bắc nước ta, vụ lạc xuân thường được gieo trồng từ trung tuần tháng 1 đến trung tuần tháng 2, vào thời gian này nhiệt độ trung bình thấp vào khoảng 16-18°c, đơi khi cĩ những đợt nhiệt độ xuống thấp dưới 13°c, kết hợp với khơ hanh kéo dài làm cho lạc mọc khơng đều, mật độ cây khơng đảm bảo, dẫn đến năng suất thấp và khơng ổn định qua các năm Vì vậy tạo điều kiện cho lạc mọc tốt đã giải quyết được một trong số các yếu tố