luận văn
Trang 1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
VIỆN KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
-
NGUYỄN THỊ TUYẾT
NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG PHÁT TRIỂN CỦA MỘT SỐ CÂY TRỒNG THÍCH HỢP TRÊN VÙNG ĐẤT KHÔ HẠN
TỈNH NINH THUẬN TRONG ĐIỀU KIỆN
TIẾT KIỆM NƯỚC
LUẬN VĂN THẠC SỸ NÔNG NGHIỆP
Chuyên ngành: Hệ thống nông nghiệp
Mã số: 60-62-20
Người hướng dẫn khoa học:TS Nguyễn Đức Đồng
Hà Nội - 2008
Trang 2ii
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Thầy hướng dẫn TS Nguyễn Đức Đồng đã tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện bản luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn tới tập thể cán bộ Ban Đào tạo Sau đại học, Ban Tổ chức hành chính và XDCB – Viện Khoa học Nông Nghiệp Việt Nam đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian học tập và hoàn thành luận văn này
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Trung tâm nghiên cứu cây trồng Bán khô hạn – Viện Khoa học kỹ thuật Nông nghiệp Duyên hải Nam Trung bộ; tới Huyện Ủy, Ủy ban Nhân dân, Phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Trạm khuyến nông, Phòng thống kê huyện, và UBND các xã thuộc Huyện Ninh Phước, Ninh Hải và Thành phố Phan Rang Tháp Chàm tỉnh Ninh thuận đã ủng
hộ và giúp đỡ nhiệt tình trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Nhân dịp hoàn thành bản luận văn này tôi xin chân thành cảm ơn các nhà khoa học, các bạn bè đồng nghiệp Đặc biệt, tôi xin cảm ơn lãnh đạo Viện Khoa học Nông Nghiệp Việt Nam và gia đình, đã động viên cổ vũ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài luận văn.
Hà Nội, tháng 12 năm 2008 Học viên
Nguyễn Thị Tuyết
Trang 3iii
Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình khác
Tác giả
Nguyễn Thị Tuyết
Trang 4iv
MỤC LỤC
Trang phụ bìa ……… ………….……… i
Lời cảm ơn……….……… … ii
Lời cam đoan……… ……… … iii
Mục lục……… ……… …… iv
Danh mục các chữ viết tắt……… viii
Danh mục bảng……….……….… ix
Mở đầu 11
1.Tính cấp thiết của đề tài 11
2 Mục tiêu nghiên cứu 12
2.1 Mục tiêu tổng quát 12
2.2 Mục tiêu cụ thể 12
2.3 Yêu cầu 12
3 ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 12
3.1 ý nghĩa khoa học 12
3.2 ý nghĩa thực tiễn 12
4 Đối tượng nghiên cứu 12
5 Phạm vi nghiên cứu 13
Chương 1 Tổng quan tài liệu Và cơ sở khoa học của đề tài 15
1.1.Cơ sở khoa học của đề tài 15
1.1.1.Một số khái niệm có liên quan 15
Trang 5(1)Hệ thống nông nghiệp (HTNN) 15
1.1.2.Những yếu tố cơ bản có ảnh hưởng tới hệ thống cây trồng 19
(1)Nhiệt độ và hệ thống cây trồng 19
(2) Lượng mưa và hệ thống cây trồng 19
(3) Đất đai và hệ thống cây trồng 20
(5)Hệ sinh thái và hệ thống cây trồng 21
(6) Hiệu quả kinh tế và hệ thống cây trồng 22
(7) Thị trường và hệ thống cây trồng 23
(8) Nông hộ và hệ thống cây trồng 24
(9) Chính sách và cơ cấu cây trồng 26
1.1.3 Phương pháp tiếp cận hệ thống 28
1.1.4.Khái niệm về cơ cấu cây trồng hợp lý 31
1.1.5 Phát triển nông nghiệp bền vững 32
1.2 Những nghiên cứu trên thế giới và trong nước 33
1.2.1 Những nghiên cứu trên thế giới 33
1.2.2 Những nghiên cứu tại Việt nam 35
1.2.3 Đất cát biển ở Ninh Thuận và khai thác 40
Chương 2 Vật liệu nội dung và phương pháp nghiên cứu 41
2.1 Vật liệu nghiên cứu 41
2.2 Nội dung nghiên cưú 41
2.2.1 Đặc điểm về điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội 41
2.2.2.Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp 41
2.2.3.Nghiên cứu các luận cứ khoa học cho phép phát triển một số cây trồng có hiệu qủa kinh tế cao ở vùng đất ven biển tỉnh Ninh Thuận 41
2.3 Phương pháp nghiên cứu 41
2.3.1 Phương pháp thu thập thông tin không dùng phiếu điều tra 41
2.3.2 Phương pháp thu thập thông tin sử dụng phiếu điều tra 42
Trang 62.3.3.Phương pháp thu thập thông tin qua nhóm cung cấp thông tin chủ lực
KIP 43
(key informant panenl) 43
2.3.4 Phương pháp thu nhập, phân tích, đánh giá thông tin SWOT
(Strength-Weakness-Opportunities-Threats) 43
2.3.5.Thu nhập thông tin, xác định chẩn đoán hạn chế trở ngại: sử dụng phân loại ABC và phương pháp WEB 43
2.3.6 Đánh giá về quản lý đất, nước với các loại cây trồng, về kỹ thuật canh tác cây trồng, phân bón đối với cây trồng, dựa vào các chỉ tiêu đánh giá của ngành (10 TCN) 44
2.3.7 Các phương pháp phân tích đất 44
Chương 3 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 47
3.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội tỉnh Ninh Thuận 47
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 47
3.1.1.1 Vị trí địa lý 47
3.1.1.2 Khí hậu thời tiết 47
3.1.1.3 Tài nguyên đất 50
3.1.2 Đặc điểm kinh tế xã hội 64
3.1.2.1 Đánh giá các nguồn lực 64
3.1.2.2 Thực trạng cơ sở vật chất kỹ thuật 66
3.1.2.3 Tình hình chế biến nông sản 68
3.1.2.4 Tình hình ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất 68
3.1.2.5 Tình hình kinh tế 69
3.2 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp 70
3.2.1 Các loại hình sử dụng đất 70
3.2.2.Ngành trồng trọt 71
Trang 73.2.2.2 Hệ thống trồng trọt cây ngắn ngày 76
3.2.2.3.Năng suất cây trồng qua các năm 80
3.2.3.Ngành chăn nuôi 81
3.2.3.1 Quy mô đàn gia súc gia cầm 81
3.2.3.2.Phương thức, tập quán chăn nuôi 82
3.2.3.3.Kỹ thuật chăn nuôi 83
3.2.4.Hiện trạng sản xuất ngành lâm nghiệp 84
3.2.4.1.Trồng rừng, khoanh nuôi phục hồi rừng 84
3.2.4.2.Khai thác lâm sản 85
3.3 Nghiên cứu các luận cứ khoa học cho phép phát triển một số cây trồng có hiệu quả kinh tế cao ở vùng đất ven biển tỉnh Ninh Thuận 85
3.3.1 Các yếu tố môi trường 85
3.3.1.1 ánh sáng (bức xạ mặt trời) 87
3.3.2 Một số đối tượng cây trồng có khả năng phát triển 92
3.3.2.1.Cây ăn quả 92
3.3.2.3.Cây rau 107
Kết luận và đề nghị 113
1 Kết luận 113
2.Đề nghị 113
Tài liệu tham khảo 9
Trang 8DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
1 AFSRN Nghiên cứu hệ thống canh tác Châu á
3 CIAT Trung Tâm Công Nghiệp Nhiêt Đới
5 CN-TTCN Công nghiệp tiểu thủ công nghiệp
7 FSR Nghiên cứu hệ thống canh tác
8 GIS Hệ thống thông tin địa lí
10 HTCT Hệ thống cây trồng
11 HTNN Hệ thống nông nghiệp
13 ICRISAT Viện Nghiên Cứu Cây Trồng Bán Nhiệt Đới
14 IITA Viện Nông Nghiệp Nhiệt Đới
15 IRRI Viện Nghiên Cứu Lúa Quốc Tế
16 KHKT Khoa học kĩ thuật
17 PRA Đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia của người dân
18 RRA Đánh giá nhanh nông thôn
19 SWOT Thu thập phân tích và đánh giá thông tin
22 WCED ủy Ban Môi Trường Thế Giới
Trang 9DANH MỤC BẢNG
3.1 Tổng hợp lượng mưa từ năm 1999 đến năm 2005 Trạm khớ tượng
3.6 Hiện trạng sử dụng đất vùng ven biển tỉnh Ninh Thuận 54
3.16 Năng suất và tốc độ tăng năng suất cây trồng chính 63 3.17 Quy mô và tốc độ tăng đàn gia súc - gia cầm
thời kỳ 1996 - 2005
64
3.18 Quy mô đàn gia súc năm 2005 theo tiểu vùng sản xuất 65
Trang 10X DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Vị trí của hệ thống trồng trọt trong hệ thống nông nghiệp 5
Hình 2.1 Biểu đồ khí tượng vùng Phan Rang – Tháp Chàm
Tỉnh Ninh Thuận ( Trạm khí tượng Phan Rang)
34
Trang 11MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài
Ninh Thuận một tỉnh nằm ở cực Nam duyên hải miền Trung, một vùng đất có tiềm năng ánh sáng cao, cường độ bức xạ mặt trời (149 Kcal/cm2) cao hơn miền Bắc (112 Kcal/cm2) và miền Nam (132 Kcal/cm2) Ánh sỏng mạnh giỳp cho cõy cú khả năng quang hợp tạo năng suất cao, chất lượng tốt Đây là một lợi thế để phát triển một số cây trồng nông nghiệp cho hiệu quả kinh tế cao, nhưng mưa lại rất ít, đất có tỷ lệ cát cao và dinh dưỡng thấp Ninh thuận được coi là nơi khô hạn nhất cả nước, lượng mưa hàng năm biến động từ 500-800
mm Sụng suối mựa khụ hầu hết đều khụ cạn khụng cú nước suốt 8-9 thỏng mựa khụ (từ thỏng 01 đến thỏng 9) Nguồn nước tưới cho cõy trồng hàng năm chủ yếu dựa vào nước tự hồ đập, vào độ ẩm và nước ngầm ở trong đất.Vào mựa khụ ngay cả gia sỳc cũng khụng đủ nước uống Hàng trăm nghỡn ha đất bị bỏ hoang hoặc cú cho thu hoạch cũng chẳng đỏng là bao Ninh Thuận cú tới 35 nghỡn ha đất hoang đồng bằng và 80 nghỡn ha đất hoang đồi nỳi Đối với vựng cỏt ven biển diện tớch lờn tới 51.265 ha nằm trong 11 xó, thuộc địa giới của cỏc huyện: Ninh Phước, Ninh Hải và Thành phố Phan Rang Thỏp Chàm Người dõn trong vựng cần cự lao động nhưng vẫn khụng đủ ăn
Từ hiện trạng nờu trờn, việc xác định loại cây trồng thớch hợp trong điều kiện ớt nước mà vẫn cho hiệu quả kinh tế cao nhằm gúp phần phỏt triển nền
nông nghiệp hàng hóa cần thực hiện đề tài “Nghiên cứu khả năng phát triển của một số cây trồng thớch hợp trờn vựng đất khụ hạn tỉnh Ninh Thuận trong điều kiện tưới tiết kiệm nước ”
Trang 122 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu tổng quát
Xỏc định được khả năng phỏt triển của một số cõy trồng thớch hợp trờn vựng đất khụ hạn tỉnh Ninh Thuận trong điều kiện tưới tiết kiệm nước, làm cơ sở cho việc phỏt triển cõy trồng thớch hợp với điều kiện tự nhiờn, kinh tế xó hội của tỉnh
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Đánh giá điều kiện tự nhiện, kinh tế-xã hội cú liờn quan đến phỏt triển
cõy trồng ở Ninh Thuận, đặc biệt là vựng đất ven biển tỉnh Ninh Thuận
- Xác định được khả năng phỏt triển của một số loại cây trồng thớch hợp với điều kiện tự nhiờn kinh tế xó hội vựng ven biển Ninh Thuận
2.3 Yêu cầu
- Đánh giá điều kiện tự nhiện, kinh tế-xã hội cú liờn quan đến phỏt triển
cõy trồng ở Ninh Thuận, đặc biệt là vựng đất ven biển tỉnh Ninh Thuận
- Xác định được khả năng phỏt triển của một số loại cây trồng thớch hợp với điều kiện tự nhiờn kinh tế xó hội vựng ven biển Ninh Thuận
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
3.1 Ý nghĩa khoa học
Thành công của đề tài là cơ sở khoa học cho việc chọn lựa đối tượng cây trồng thớch hợp với điều kiện khớ hậu đất đai và tập quỏn canh tỏc trờn vựng đất ven biển tỉnh Ninh Thuận
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Đối với địa phương ứng dụng kết quả nghiên cứu của đề tài: đề xuất các đối tượng cây trồng thích hợp có hiệu quả kinh tế cao trong điều kiện sản xuất thực tế của địa phương, nhằm khai thác có hiệu quả điều kiện tự nhiên của Ninh Thuận trong tương lai, cải thiện đời sống nông dân
4 Đối tượng nghiên cứu
Hệ thống cõy trồng nụng nghiệp và cỏc yếu tố tự nhiờn, kinh tế - xó hội tỏc động đến hệ thống cõy trồng trờn địa bàn tỉnh Ninh Thuận
Trang 135 Phạm vi nghiên cứu
Xỏc định khả năng phỏt triển của một số cõy trồng thớch hợp trờn vựng đất khụ hạn tỉnh Ninh Thuận
Trang 15CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1.1.Cơ sở khoa học của đề tài
- Hệ thống cây trồng chịu chi phối của:
+ Điều kiện tự nhiên
+ Điều kiện kinh tế
+ Điều kiện xã hội
- Hệ thống cây trồng tiến bộ là kết quả chọn lọc từ hệ thống hiện tại cộng với tiến bộ của khoa học công nghệ
1.1.1.Một số khái niệm có liên quan
(1)Hệ thống nông nghiệp (HTNN)
Theo FAO, 1989 khái niệm về hệ thống trang trại (Farming systems) đã
có từ thế kỷ 19 do nhà nông học người Đức Vonwalfen đề xuất Khái niệm hệ thống nông nghiệp (Agricultural systems) đầu tiên được các nhà địa lý sử dụng
để phân kiểu nông nghiệp trên thế giới và nghiên cứu sự tiến hoá của chúng (Grigg, 1979) (dẫn theo Đào Thế Tuấn, 1984) [81] Hệ thống nông nghiệp (HTNN) là sự biểu hiện không gian của sự phối hợp các ngành sản xuất và kỹ thuật do một xã hội thực hiện để thoả mãn nhu cầu cho họ.Nó biểu hiện sự tác động qua lại giữa hệ thống sinh học, sinh thái mà môi trường tự nhiên là đại diện, hệ thống văn hoá-xã hội qua các hoạt động xuất phát từ những thành quả
kỹ thuật (Vissac,1979 Dẫn theo Nguyễn Duy Tính, 1995) [71] HTNN thích ứng với các phương thức khai thác nông nghiệp trong không gian nhất định do một xã hội tiến hành, là kết quả của sự phối hợp giữa các nhân tố tự nhiên, xã hội-văn hoá, kinh tế và kỹ thuật (Touve, 1988 Dẫn theo Nguyễn Duy Tính,
1995) [71]
Đào Thế Tuấn (1989) [83] cho thấy về thực chất HTNN là sự thống nhất của hai hệ thống: 1) Hệ sinh thái nông nghiệp (HSTNN) là một bộ phận của hệ sinh thái tự nhiên bao gồm các vật sống trao đổi năng lượng, vật chất và thông tin
Trang 16với ngoại cảnh, tạo nên năng suất sơ cấp (trồng trọt) và thứ cấp (chăn nuôi) của hệ sinh thái 2) Hệ kinh tế xã hội, chủ yếu là hoạt động của con người trong sản xuất
để tạo ra của cải vật chất cho toàn xã hội Nếu so với HSTNN thì HTNN khác ở chỗ ngoài yếu tố ngoại cảnh và sinh học còn có yếu tố kinh tế-xã hội
(2)Hệ thống canh tác (HTCT)
Một số nhà khoa học Mỹ cho rằng HTCT (Farming systems) hay hệ thống nông trai, hệ thống nông nghiệp là sự bố trí một cách thống nhất và ổn định các ngành nghề trong nông trại, được quản lý bởi hộ gia đình trong môi trường tự nhiên, kinh tế xã hội phù hợp với mục tiêu, mong muốn và nguồn lực
của hộ (Shannor, W.W., và người khác, 1982) [107] Một số tác giả của viện
nghiên cứu lúa quốc tế cho rằng HTCT là tập hợp các đơn vị có chức năng riêng biệt đó là: hoạt động trồng trọt, chăn nuôi và tiếp thị Các đơn vị đó có mối quan hệ qua lại với nhau vì cùng dùng chung những nguồn lực nhận từ môi trường HTCT là hình thức tập hợp của một tổ hợp đặc thù các tài nguyên trong nông trại ở mọi môi trường nhất định, bằng những công nghệ sản xuất ra những sản phẩm nông nghiệp sơ cấp Định nghĩa này không bao gồm hoạt động chế biến, nó vượt quá hình thức phổ biến của nông trại cho các sản phẩm chăn nuôi
và trồng trọt riêng biệt, nhưng nó bao gồm các nguồn lực của nông trại được sử dụng cho việc tiếp thị những sản phẩm đó Như vậy đặc điểm chung nhất của hệ thống canh tác là bao gồm nhiều hệ thống: trồng trọt, chăn nuôi, chế biến, tiếp thị, quản lý kinh tế được bố trí một cách có hệ thống, ổn định và phù hợp với mục tiêu của mỗi nông trại hay mỗi tiểu vùng nông nghiệp (Nguyễn Duy Tính, 1995) [71] Về thực chất, HTCT đồng nhất với khái niệm HTNN HTCT được
sử dụng nhiều trong các nước nói tiếng Anh còn HTNN được dùng nhiều trong nghiên cứu nông nghiệp của Pháp Các khái niệm về HTCT cũng như HTNN là một phương thức khai thác môi trường trong một không gian và thời gian nhất
định nhằm thoả mãn nhu cầu của con người và phát triển bền vững [83], [107]
(3) Hệ thống trồng trọt (HTTT)
Trang 17HTTT là hệ thống con và trung tâm của HTNN vì cấu trúc của nó quyết định sự hoạt động của các hệ phụ khác như chăn nuôi, ngành nghề, chế biến, vậy HTTT là gì?
Theo Dufumier, 1997 hệ thống trồng trọt là thành phần các giống và loài cây được bố trí trong không gian và thời gian của một hệ sinh thái nông nghiệp nhằm tận
dụng hợp lý các nguồn lợi tự nhiên, kinh tế-xã hội (Dufumier M 1997)[103] Vấn
đề phức tạp của nghiên cứu hệ thống trồng trọt là nó liên quan chặt chẽ đến các yếu tố môi trường như : đất đai, khí hậu, sâu bệnh, mức đầu tư, trình độ của người sản xuất do vậy cần phải nghiên cứu nó trên quan điểm hệ thống
Trong hệ thống trồng trọt lại bao gồm hệ thống cây trồng (HTCT) và hệ thống các biện pháp kỹ thuật đi kèm nên khi nghiên cứu hệ thống trồng trọt trước hết phải nghiên cứu hệ thống cây trồng
(4) Hệ thống cây trồng (HTCT)
HTCT là thành phần các giống và loài cây được bố trí trong không gian
và thời gian của các loại cây trồng trong mọi HSTNN nhằm tận dụng hợp lý
nhất các nguồn lợi tự nhiên, kinh tế-xã hội (Đào Thế Tuấn, 1984) [81] Hệ
thống cây trồng là hoạt động sản xuất cây trồng của nông trại bao gồm tất cả các hợp phần cần thiết để tạo ra tổ hợp các cây trồng, mối quan hệ của chúng với môi trường, các hợp phần này bao gồm tất cả các yếu tố vật lý, sinh học
cũng như kỹ thuật, lao động và quản lý (Zandstra, 1981)[108]
Hình 1.1 Vị trí của hệ thống trồng trọt trong hệ thống nông nghiệp
Hệ thống nông nghiệp
Hệ thống
chăn nuôi
Hệ thống trồng trọt
Hệ thống chế biến
Hệ thống cây trồng
Trang 18Thông qua sơ đồ trên cũng như ý kiến của nhiều tác giả đều thống nhất
Thông qua sơ đồ trên cũng như ý kiến của nhiều tác giả đều thống nhất cho rằng trong hệ thống nông nghiệp thì hệ thống trồng trọt là một hệ phụ trung tâm,
sự thay đổi cũng như phát triển của HTTT sẽ quyết định xu hướng phát triển của HTNN vậy khi nói đến nghiên cứu HTNN cũng như HTCT luôn gắn liền với nghiên cứu HTTT Trong hệ thống trồng trọt, hệ thống cây trồng lại là trung tâm của nghiên cứu và kèm theo là hệ thống các biện pháp kỹ thuật
Nghiên cứu HTTT nhằm bố trí lại các bộ phận trong hệ thống hoặc chuyển đổi chúng để tăng hệ số sử dụng đất, sử dụng đất có hiệu quả hơn, tận dụng lợi thế của mỗi vùng sinh thái nông nghiệp cũng như sử dụng một cách có hiệu quả tiền vốn, lao động và kỹ thuật để nâng cao giá trị sản xuất cũng như lợi nhuận trên một đơn vị diện tích canh tác để tiến tới xây dựng nền nông nghiệp
bền vững (Nguyễn Duy Tính, 1995)[71]
Chỉ quan tâm đến cây trồng thì hệ thống cây trồng bao gồm những nội dung sau: Công thức luân canh và đa canh; cơ cấu cây trồng hay tỷ lệ diện tích dành cho những mùa vụ cây trồng nhất định; kỹ thuật canh tác cho cả hệ thống
đó Cơ cấu cây trồng về mặt diện tích, là tỷ lệ các loại cây trồng trên diện tích canh tác, tỷ lệ này phần nào nói lên trình độ sản xuất của từng vùng Tỷ lệ cây lương thực cao, tỷ lệ cây công nghiệp, cây thực phẩm thấp, phản ảnh trình độ phát triển sản xuất thấp Tỷ lệ các loại cây trồng có sản phẩm tiêu thụ tại chỗ cao, các loại cây trồng có giá trị hàng hoá và xuất khẩu thấp, chứng tỏ sản xuất nông nghiệp ở đó kém phát triển và ngược lại
Vì vậy, khi nói đến hệ thống cây trồng là nói đến cơ cấu cây trồng vì hệ thống cây trồng thay đổi thế nào, được xác lập ra sao là do cơ cấu cây trồng trong đó quyết định
kỹ thuật
Năng suất, chất lượng, giá cả
Trang 191.1.2.Những yếu tố cơ bản có ảnh hưởng tới hệ thống cây trồng
(1)Nhiệt độ và hệ thống cây trồng
Từng loại cây, giống cây, các bộ phận của cây, các quá trình sinh lý của cây, chúng sẽ phát triển thích hợp và chỉ an toàn ở một nhiệt độ nhất định Cây ưa nóng là những cây sinh trưởng và ra hoa kết quả tốt ở nhiệt độ trên 200C, cây ưa lạnh là những cây sinh trưởng và ra hoa kết quả tốt ở nhiệt độ dưới 200C, cây trung gian là những cây yêu cầu nhiệt độ xung quanh 200C để sinh trưởng, phát triển bình thường
Theo Lý Nhạc,1987 [49], đã đề nghị bố trí cơ cấu cây trồng trong một năm
Bảng1.1 Bố trí cơ cấu cây trồng trong một năm
Cơ cấu cây trồng Vùng Tổng số
nhiệt độ 0 C
Số ngày có nhiệt độ < 20 0 C Cây
ưa nóng
Cây
ưa lạnh
Cây ngày ngắn
(2) Lượng mưa và hệ thống cây trồng
Nước là yếu tố đặc biệt quan trọng đối với cây trồng Cây trồng đòi hỏi một lượng nước lớn gấp nhiều lần trọng lượng chất khô của chúng Lượng nước
mà cây tiêu thụ để hình thành một đơn vị chất khô của một số cây trồng (gọi là
hệ số tiêu thụ nước) như ngô 250 - 400, lúa 500 - 800, bông 300 - 600, rau 300 -
500, cây gỗ 400 - 600, (dẫn theoTrần Đức Hạnh, 1997)[26]
Trang 20Hầu hết lượng nước sử dụng cho nông nghiệp là nước mặt và một phần nước ngầm, các nguồn này được cung cấp chủ yếu từ lượng mưa hàng năm Nước mưa ảnh hưởng đến quá trình canh tác như làm đất, thu hoạch Mưa ít hoặc nhiều quá so với yêu cầu đều làm ảnh hưởng tới thời vụ gieo trồng và thu hoạch
Tuỳ theo lượng mưa hàng năm, khả năng cung cấp và khai thác nước đối với một vùng cụ thể để xem xét lựa chọn cơ cấu cây trồng thích hợp
(3) Đất đai và hệ thống cây trồng
Đất đai là nguồn tài nguyên đặc biệt, là công cụ sản xuất đặc biệt trong sản xuất nông nghiệp Đất và khí hậu hợp thành phức hệ tác động vào cây trồng Phải nắm được đặc điểm mối quan hệ giữa cây trồng với đất thì mới xác định được cơ cấu cây trồng hợp lý Tuỳ thuộc vào địa hình, chế độ nước, thành phần
lý hoá tính của đất để bố trí cơ cấu cây trồng phù hợp
Thành phần cơ giới của đất quy định tính chất của đất như chế độ nước, chế độ không khí, nhiệt độ và dinh dưỡng Đất có thành phần cơ giới nhẹ thích hợp cho trồng cây lấy củ; Đất có thành phần cơ giới nặng và có nước trên mặt phù hợp cho các cây ưa nước Các cây trồng cạn như ngô, lạc, đậu tương thường sinh trưởng tốt và cho năng suất cao trên các loại đất có thành phần cơ giới nhẹ (Lý Nhạc, 1987) [49]
Hàm lượng các chất dinh dưỡng trong đất quyết định đến năng suất cây trồng hơn là quyết định đến tính thích ứng Tuy vậy, trong các loại cây trồng cũng
có những cây ưa trồng trên những loại đất có hàm lượng dinh dưỡng cao và cũng
có cây chịu được đất có hàm lượng dinh dưỡng thấp, đất chua, mặn, có độ độc Bón phân và canh tác hợp lý là biện pháp điều khiển dinh dưỡng đất
Sử dụng "hợp lý đất và nước" chính là một bộ phận cấu thành của khái niệm
"nông nghiệp sinh thái", nó vừa là mục tiêu, vừa là phương tiện để phục vụ cho nền nông nghiệp theo quan điểm sinh thái và phát triển bền vững Nắm được các đặc điểm lý, hoá tính của đất, con người có thể tác động, cải tạo đất phù hợp dần với cây trồng hơn như: thau chua, rửa mặn, trồng cây xanh cải tạo đất, bón phân
Trang 21là những biện pháp tích cực cải tạo đất đem lại hiệu quả kinh tế [49],[56] (4) Cây
trồng và hệ thống cây trồng
Cây trồng là thành phần chủ yếu của hệ sinh thái nông nghiệp Bố trí cơ cấu cây trồng hợp lý là lựa chọn loại cây trồng nào để lợi dụng được tốt nhất các điều kiện tự nhiên cũng như các nguồn tài nguyên khác của vùng Sử dụng những nguồn lợi đó một cách tốt nhất, nghĩa là phải lựa chọn cho cây trồng những điều kiện thuận lợi nhất để chúng sinh trưởng, phát triển và cho năng suất cao [55], [49],Nguyễn Ích Tân(1994) [60]
Khác với khí hậu và đất đai là các yếu tố mà con người ít có khả năng thay đổi,còn với cây trồng thì con người có thể thay đổi,chọn lựa, di thực Với trình độ công nghệ sinh học ngày nay, con người có thể thay đổi bản chất của cây trồng theo ý muốn thông qua các biện pháp như lai tạo, chọn lọc, gây đột biến, nuôi cấy vô tính
Để bố trí cơ cấu cây trồng hợp lý với một vùng nào đó, cần nắm vững yêu cầu của loài, của từng giống cây trồng, đối chiếu các điều kiện tự nhiên với khả năng thích ứng của cây trồng để đưa ra những quyết định đúng đắn nhất
(5)Hệ sinh thái và hệ thống cây trồng
Theo Phạm Chí Thành 1993 [62], [63] Xây dựng cơ cấu cây trồng là xây dựng hệ sinh thái nhân tạo, đó là hệ sinh thái nông nghiệp Ngoài thành phần chính là cây trồng, hệ sinh thái này còn có các thành phần sống khác như cỏ dại, sâu, bệnh, vi sinh vật, các động vật, các côn trùng và những sinh vật có ích khác Các thành phần sống ấy cùng với cây trồng tạo nên một quần thể sinh vật, chúng chi phối lẫn nhau, tạo nên các mối quan hệ rất phức tạp Tạo dựng và duy trì cân bằng sinh học trong hệ sinh thái theo hướng hạn chế được các mặt có hại, phát huy mặt có lợi đối với con người là vấn đề cần quan tâm trong hệ sinh thái nông nghiệp
Bố trí cơ cấu cây trồng cần chú ý đến các mối quan hệ giữa các thành phần sinh vật trong hệ sinh thái nông nghiệp, dựa theo các nguyên tắc sau:
Trang 22- Lợi dụng mối quan hệ tốt giữa các sinh vật với cây trồng
- Khắc phục, phòng tránh hoặc tiêu diệt mầm mống có hại đối với cây trồng cũng như đối với lợi ích của con người
Các mối quan hệ giữa sinh vật với cây trồng trong hệ sinh thái được biểu hiện qua các mối quan hệ cạnh tranh, cộng sinh, ký sinh và ăn nhau theo nguyên tắc hình tháp số lượng trong dây chuyền dinh dưỡng Vì vậy, khi chuyển đổi cơ cấu cây trồng cần chú ý đến các mặt sau:
- Xác định thành phần, tỷ lệ giống cây trồng thích hợp với điều kiện cụ thể của từng vùng, từng cơ sở sản xuất
- Chọn thời vụ tốt nhất để tránh thời tiết bất thuận, tránh độc canh, chọn giống gieo trồng hợp lý sẽ bảo đảm năng suất, sản lượng, chất lượng cây trồng, hạn chế được tác hại của cỏ dại, sâu bệnh và thời tiết bất lợi gây ra
- Trồng xen nhiều loại cây trồng trong cùng một diện tích một cách hợp
lý có thể hạn chế được sự gây hại của cỏ dại, sâu bệnh, đồng thời làm tăng được
hệ số sử dụng đất đai
(6) Hiệu quả kinh tế và hệ thống cây trồng
Theo Phạm Tiến Dũng (1991) [8], [9] Để phát triển bền vững giá trị sản xuất trên một đơn vị diện tích có thể tăng vụ, thay đổi giống cây trồng hoặc tăng đầu tư thâm canh Vấn đề tăng vụ lại chỉ có thể giải quyết được trong một phạm vi nhất định và chịu sự chi phối lớn của điều kiện tự nhiên
Đặc điểm của sản xuất nông nghiệp là phải sản xuất đa dạng, ngoài cây trồng chủ yếu cần bố trí những cây trồng bổ sung để tận dụng các nguồn lợi thiên nhiên của vùng và cơ sở sản xuất Tóm lại, về mặt kinh tế cơ cấu cây trồng cần thỏa mãn các điều kiện sau đây:
Đảm bảo yêu cầu chuyên canh và tỷ lệ sản phẩm hàng hoá cao
Đảm bảo việc hỗ trợ cho ngành sản xuất chính và phát triển chăn nuôi, tận dụng các nguồn lợi tự nhiên
Đảm bảo thu hút lao động và vật tư kỹ thuật có hiệu quả kinh tế
Trang 23Đảm bảo chất lượng và giá trị hàng hoá cao hơn cơ cấu cây trồng cũ Khi đánh giá hiệu quả kinh tế của cơ cấu cây trồng có thể dựa vào một số chỉ tiêu như: năng suất, tổng sản lượng, giá thành, thu nhập và mức lãi của các sản phẩm hàng hoá Việc đánh giá này rất phức tạp do giá cả sản phẩm tuỳ thuộc vào sự biến động của thị trường
(7) Thị trường và hệ thống cây trồng
Trong Kinh tế học vĩ mô,1999 [33] Robert S Pindyck, Daniel L Rubingeld đã cho thấy thị trường là tập hợp những người mua và người bán tác động qua lại lẫn nhau dẫn đến khả năng trao đổi Thị trường là trung tâm các hoạt động kinh tế
Thị trường cạnh tranh hoàn hảo là thị trường có nhiều người mua và người bán, không một cá nhân nào có ảnh hưởng đáng kể tới giá cả Trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo thường phổ biến một giá duy nhất là giá thị trường
Thị trường cạnh tranh không hoàn hảo là những người bán khác nhau có thể đặt những giá khác nhau cho cùng một loại sản phẩm, khi đó giá thị trường được hiểu là giá trung bình phổ biến
Thị trường là động lực thúc đẩy cải tiến cơ cấu cây trồng hợp lý Theo cơ chế thị trường thì cơ cấu cây trồng phải làm rõ được các vấn đề: Trồng cây gì, trồng như thế nào và trồng cho ai Thông qua sự vận động của giá cả, thị trường có tác dụng định hướng cho người sản xuất nên trồng cây gì, với số lượng chi phí như thế nào để đáp ứng được nhu cầu của xã hội và thu được kết quả cao Thông qua thị trường, người sản xuất điều chỉnh quy mô sản xuất, cải tiến cơ cấu cây trồng, thay đổi giống cây trồng, mùa vụ cho phù hợp với thị trường
Thị trường có tác dụng điều chỉnh cơ cấu cây trồng, chuyển dịch theo hướng ngày càng đạt hiệu quả cao hơn Cải tiến cơ cấu cây trồng chính là điều kiện và yêu cầu để mở rộng thị trường Khu vực nông thôn là thị trường cung cấp nông sản hàng hoá cho toàn xã hội và là thị trường tiêu thụ sản phẩm của
Trang 24ngành công nghiệp, cung cấp nông sản cho ngành dịch vụ và đó cũng là nơi cung cấp lao động cho các ngành trong nền kinh tế quốc dân Do vậy, thị trường
và sự cải tiến cơ cấu cây trồng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Thị trường là động lực thúc đẩy cải tiến cơ cấu cây trồng, song nó có mặt hạn chế là nếu để cho phát triển một cách tự phát sẽ dẫn đến sự mất cân đối ở một giai đoạn, một thời điểm nào đó Vì vậy, cần có những chính sách của nhà nước điều tiết kinh tế
vĩ mô để phát huy mặt tích cực và hạn chế mặt tiêu cực của thị trường
Kinh tế hàng hoá là một hình thức tổ chức kinh tế trong đó người ta sản xuất ra sản phẩm để mua bán, trao đổi trên thị trường, giá trị của sản phẩm hàng hoá phải thông qua thị trường và được thị trường chấp nhận Giá thành sản phẩm bị chi phối bởi các yếu tố như vốn, trình độ lao động, giá cả dịch vụ, phạm vi địa lý Vì vậy, khi đánh giá hiệu quả kinh tế của cơ cấu cây trồng cần phải xem xét một cách tổng quát (Vũ Biệt Linh, 1995) [37]
Có thể sử dụng tỷ suất lợi nhuận MBCR (Marginal Benefit Cost Ratio)
để đánh giá hiệu quả kinh tế của cơ cấu cây trồng [32] :
còCCCT
phichiTæng-míiCCCT
phichiTæng
còCCCT
nhapthuTæng-míiCCCT
nhapthuTængMBCR =
Khi MBCR > 2 thì có hiệu quả kinh tế Hiện nay, thị trường nông thôn đang phát triển với sự tham gia đắc lực của tư thương, kể cả các mặt hàng xuất khẩu Các hộ nông dân ngày càng phụ thuộc vào thị trường tự do, thiếu hoạt động của hợp tác xã chế biến và tiêu thụ nông sản Nếu các hợp tác xã nắm được khoảng 30% khối lượng hàng hoá thì tư thương sẽ mất độc quyền trong buôn bán (Đào Thế Tuấn, 1997) [78]
(8) Nông hộ và hệ thống cây trồng
Nông hộ là đơn vị kinh tế tự chủ và đã góp phần to lớn vào sự phát triển sản xuất nông nghiệp của nước ta trong những năm qua Tất cả các hoạt động nông nghiệp và phi nông nghiệp ở nông thôn chủ yếu được thực hiện thông qua nông hộ Do vậy, quá trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng thực chất là sự cải tiến
Trang 25sản xuất nông nghiệp ở các hộ nông dân Vì vậy, nông hộ là đối tượng nghiên cứu chủ yếu của khoa học nông nghiệp và phát triển nông thôn
Kinh tế nông hộ là kinh tế của hộ sống ở nông thôn, bao gồm cả thu nhập
từ nông nghiệp và phi nông nghiệp Hộ nông dân là các nông hộ có phương tiện sống từ ruộng đất, sử dụng chủ yếu lao động gia đình trong sản xuất nông trại, nằm trong một hệ thống kinh tế rộng hơn, nhưng về cơ bản được đặc trưng bằng việc tham gia hoạt động trong thị trường với một trình độ ít hoàn chỉnh Hộ nông dân có những đặc điểm sau:
- Hộ nông dân là một đơn vị kinh tế cơ sở, vừa là một đơn vị sản xuất, vừa là đơn vị tiêu dùng
- Quan hệ giữa tiêu dùng và sản xuất biểu hiện ở trình độ phát triển của
hộ từ tự cấp hoàn toàn đến sản xuất hàng hoá hoàn toàn Trình độ này quyết định đến quan hệ giữa nông hộ với thị trường
- Các hộ nông dân ngoài hoạt động nông nghiệp còn tham gia vào hoạt động phi nông nghiệp với mức độ khác nhau, nên khó giới hạn như thế nào là một hộ nông dân Vì vậy, hộ nông dân tái sản xuất giản đơn nhờ vào ruộng đất thông qua quá trình cải tiến cơ cấu cây trồng, nhờ đó mà tái sản xuất mở rộng trong nông nghiệp, phục vụ lợi ích chung của xã hội nên cần thiết phải có chính sách xã hội đầu tư thích hợp cho lĩnh vực này
Hộ nông dân không phải là một hình thái sản xuất đồng nhất mà là tập hợp các kiểu nông hộ khác nhau, có mục tiêu và cơ chế hoạt động khác nhau Căn cứ vào mục tiêu và cơ chế hoạt động của nông hộ để phân biệt được các kiểu hộ nông dân
- Kiểu hộ hoàn toàn tự cấp: Trong điều kiện này người nông dân ít có phản ứng với thị trường, nhất là thị trường lao động và vật tư
- Kiểu nông hộ chủ yếu tự cấp, có bán một phần nông sản đổi lấy hàng tiêu dùng, có phản ứng ít nhiều với giá cả (chủ yếu giá vật tư)
- Kiểu hộ bán phần lớn sản phẩm nông sản, có phản ứng nhiều với thị trường
Trang 26- Kiểu hộ hoàn toàn sản xuất hàng hoá, có mục tiêu kiếm lợi nhuận như
là một xí nghiệp tư bản chủ nghĩa
Mục tiêu sản xuất của các hộ quyết định sự lựa chọn sản phẩm kinh doanh, cơ cấu cây trồng, quyết định mức đầu tư, phản ứng với giá cả vật tư, lao động và sản phẩm của thị trường
Quá trình phát triển của các hộ nông dân trải qua các giai đoạn từ thu nhập thấp đến thu nhập cao
- Giai đoạn nông nghiệp tự cấp: Nông dân trồng một cây hay một vài cây lương thực chính, năng suất thấp, kỹ thuật thô sơ, rủi ro rất nhiều Do sợ rủi ro nên việc tiếp thu kỹ thuật mới bị hạn chế và thị trường nông thôn là thị trường chưa hoàn chỉnh
- Giai đoạn kinh doanh tổng hợp và đa dạng: Lúc mới chuyển sang sản xuất hàng hoá, nông dân bắt đầu trồng thêm các cây hàng hoá, đa canh giảm bớt rủi ro của sản xuất nông nghiệp Nhờ có thêm thu nhập nên có thể đầu tư để cải tiến kỹ thuật và thâm canh, nếu lao động thừa nhiều có thể phát triển ngành nghề phi nông nghiệp (Đào Thế Tuấn, 1997) [78] Như vậy, hộ nông dân tiến hoá từ tình trạng tự cấp sang sản xuất hàng hoá ở các mức độ khác nhau và quá trình cải tiến cơ cấu cây trồng gắn với thị trường được thực hiện ngày càng hoàn thiện hơn Trong thực tế nếu không có sự hỗ trợ của Nhà nước, quá trình này cũng diễn ra nhưng rất chậm và trong quá trình phát triển sẽ nảy sinh các vấn đề làm cản trở tiến trình cải tiến cơ cấu cây trồng, cải tiến hệ thống canh tác [34]
(9) Chính sách và cơ cấu cây trồng
Muốn quá trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng có hiệu quả phải thúc đẩy một cách đồng bộ sự phát triển của tất cả các kiểu hộ nông dân chứ không thể chỉ thúc đẩy các hộ sản xuất giỏi Hơn nữa, nếu không thúc đẩy được các vùng hay tất cả các hộ phát triển nhanh thì sẽ gây nên những khó khăn cho quá trình chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp
Trang 27Quá trình phát triển kinh tế sẽ phân hoá giàu nghèo, có sự chênh lệnh về thu nhập giữa nông thôn và thành thị, cần thiết phải rút lao động ra khỏi nông nghiệp bằng cách phát triển công nghiệp nông thôn và thâm canh tăng vụ để sản xuất hàng hoá Đa dạng cây trồng nhằm đa dạng hoá sản phẩm là quá trình chủ yếu cải tiến cơ cấu cây trồng nhằm đáp ứng nhu cầu của thị trường nông nghiệp ngày càng đa dạng
Đào Thế Tuấn, (1997) cho rằng, quá trình đa dạng hoá cây trồng là do sự phát triển của kinh tế hộ quyết định và còn tuỳ vào từng vùng, nhưng yếu tố khó khăn về vốn mang tính quyết định nhất Các hộ nghèo kinh doanh rất đa dạng, chỉ khi họ giàu lên thì mới tập trung vào một số ngành nhất định Như vậy, chuyên môn hoá chỉ có thể xảy ra khi trình độ sản xuất hàng hoá đã phát triển đến mức cao
Một khó khăn khác làm cho nông dân ngần ngại không dám đầu tư vào sản xuất và cải tiến cơ cấu cây trồng là do thiếu thị trường cho nông sản Để giải quyết vấn đề thị trường, Nhà nước cần tạo môi trường lành mạnh cho sự phát triển của thị trường và xây dựng cơ sở hạ tầng chủ yếu là giao thông, thuỷ lợi, thông tin
Sự phân hoá của hộ nông dân và trình độ sản xuất của các kiểu hộ ảnh hưởng rất lớn đến cải tiến cơ cấu cây trồng Các kiểu hộ nông dân khác nhau có trình độ tiếp thu và áp dụng kỹ thuật ở các mức khác nhau Kỹ thuật là yếu tố quan trọng trong sự cải tiến cơ cấu cây trồng của các hộ nông dân trong giai đoạn đầu sản xuất hàng hoá, khi kỹ thuật áp dụng chưa phải cần nhiều vốn thì việc đa dạng hoá sản xuất là một xu thế cần cho sự phát triển
Để thúc đẩy quá trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng một cách có căn cứ và kịp thời, nhà nước cần có chính sách về khoa học - công nghệ để thông qua nghiên cứu, nhằm thiết lập ngay trên đồng ruộng của người nông dân những mô hình chuyển đổi cây trồng có hiệu quả và chuyển giao kỹ thuật thích ứng cho nông dân Đồng thời, sự phát triển đa dạng trong sản xuất nông nghiệp và
Trang 28ngành nghề nông thôn cần có chính sách quan tâm đến sự phát triển về giới (Gender Development)
1.1.3 Phương pháp tiếp cận hệ thống
Hệ thống là một vấn đề được nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu Các phương pháp nghiên cứu hệ thống được đề cập đến từ rất sớm, một số phương pháp nghiên cứu phổ biến như phương pháp mô hình hoá, phương pháp chuyên khảo, phương pháp phân tích kinh tế…, sau đây là một số quan điểm, phương pháp của các nhà khoa học khi nghiên cứu về hệ thống
Champer (1989) [101] đã đề xuất hướng nghiên cứu bắt đầu từ nông dân theo mô hình “nông dân trở lại nông dân” Điểm xuất phát vấn đề bắt đầu từ
sự lựa chọn của nông dân, nông dân trực tiếp tham gia thực hiện công tác nghiên cứu cùng với nhà khoa học và phổ biến, chuyển giao kiến thức, kỹ thuật, kinh nghiệm sản xuất cho nông dân khác trong vùng Một số cách trong hướng nghiên cứu này là nghiên cứu có định hướng tới nông dân nghèo; coi trọng kiến thức của nông dân nghèo; đặt người nông dân vào việc kiểm tra và có vai trò đảo ngược tình thế
FAO (1992) [104] đưa ra phương pháp phát triển hệ thống canh tác và cho đây là một phương pháp tiếp cận nhằm phát triển các hệ thống nông nghiệp
và cộng đồng nông thôn trên cơ sở bền vững, việc nghiên cứu xây dựng các hệ thống canh tác tiến bộ phải được bắt đầu từ phân tích hệ thống canh tác truyền thống
Những nghiên cứu phát triển hệ thống canh tác của FAO là một nỗ lực nhằm bổ sung và hoàn thiện cho các tiếp cận đơn lẻ Xuất phát điểm của hệ thống canh tác là nhìn nhận cả nông trại như một hệ thống; phân tích toàn bộ hạn chế và tiềm năng; xác định các nghiên cứu thích hợp theo thứ tự ưu tiên và những thay đổi cần thiết được thể chế vào chính sách; thử nghiệm trên thực tế đồng ruộng, hoặc mô phỏng các hiệu ứng của nó bằng các mô hình hoá trong trường hợp chính sách thay đổi Sau đó tiến hành phân tích, đánh giá hiệu quả
Trang 29hiện tại trên quy mô toàn nông trại và đề xuất hướng cải tiến phát triển của nông trại trong thời gian tới
Spedding, C.R.W., (1975) [106], đã đưa ra 2 phương pháp cơ bản trong nghiên cứu hệ thống canh tác:
- Nghiên cứu hoàn thiện hoặc cải tiến hệ thống đã có sẵn, tức là dùng phương pháp phân tích hệ thống để tìm ra “điểm hẹp” hay chỗ “thắt lại” của hệ thống, đó là chỗ có ảnh hưởng không tốt, hạn chế đến hoạt động của hệ thống, cần tác động cải tiến, sửa chữa khai thông để cho hệ thống hoàn thiện hơn, có hiệu quả hơn
Nghiên cứu xây dựng hệ thống mới: Phương pháp này đòi hỏi phải có đầu
tư, tính toán và cân nhắc kỹ lưỡng, cách nghiên cứu này cần có trình độ cao hơn
để tổ chức, sắp đặt các bộ phận trong hệ thống dự kiến đúng vị trí, trong các mối quan hệ giữa các phần tử để đạt được mục tiêu của hệ thống tốt nhất
Phạm Chí Thành (1996) [62] và Mai Văn Quyền (1996) [55] đã có đúc kết các phương pháp tiếp cận trong nghiên cứu hệ thống canh tác bao gồm:
- Tiếp cận từ dưới lên trên ((bottm - up) là dùng phương pháp quan sát phân tích tìm điểm ách tắc của hệ thống để xác định phương pháp can thiệp thích hợp và có hiệu quả Trước đây, thường dùng phương pháp tiếp cận từ trên xuống, phương pháp này tỏ ra không hiệu quả vì nhà nghiên cứu khống thấy được hết các điều kiện của nông dân, do đó giải pháp đề xuất thường không phù hợp và được thay thế bằng phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia của nông dân (PRA) (Robert Chambers, 1994) [6]
- Tiếp cận hệ thống (System approach): đây là phương pháp nghiên cứu dùng để xét các vấn đề trên quan điểm hệ thống, nó giúp cho sự hiểu biết và giải thích các mối quan hệ tương tác giữa các sự vật và hiện tượng
- Tiếp cận theo quá trình phát triển lịch sử từ thấp lên cao: phương pháp này coi trọng phân tích động thái của sự phát triển cơ cấu cây trồng trong lịch sử Vì qua đó, sẽ xác định được sự phát triển của hệ thống trong tương lai, đồng thời
Trang 30giúp cho việc giải quyết các trở ngại phù hợp với hướng phát triển đó
Năm 1981, Zandstra H.G và cộng sự [99] đã đề xuất một phương pháp nghiên cứu hệ thống canh tác của nông trại Các tác giả đã chỉ rõ: sản lượng hàng năm trên một đơn vị diện tích đất có thể tăng lên bằng cách cải thiện năng suất cây trồng hoặc trồng tăng thêm các cây trồng khác trong năm Nghiên cứu
hệ thống canh tác là tìm kiếm những giải pháp để tăng sản lượng bằng cả hai cách
Phương pháp nghiên cứu hệ thống canh tác về sau được Viện nghiên cứu lúa Quốc tế (IRRI) và các chương trình nghiên cứu về cơ cấu cây trồng quốc gia trong mạng lưới hệ thống cây trồng Châu á (Asian Cropping System Network - ACSN) sử dụng và phát triển (Bùi Huy Hiển và CTV, 2001) [100] Quá trình nghiên cứu liên quan đến một loạt các hoạt động trong nông trại Tổ chức thực hiện theo các bước sau:
(i) Chọn điểm: địa điểm nghiên cứu là một hoặc vài loại đất Tiêu chí để chọn điểm nghiên cứu là có tiềm năng năng suất, đại diện cho vùng rộng lớn, nông dân sẵn sàng hợp tác Sẽ rất thuận lợi nếu chọn điểm nghiên cứu được Chính phủ ưu tiên vì chương trình sản xuất sau này sẽ thực hiện dễ dàng hơn (ii) Mô tả điểm: điểm nghiên cứu sau khi chọn sẽ được mô tả về đặc điểm
tự nhiên, kinh tế - xã hội, hiện trạng cơ cấu cây trồng cần phải được đánh giá (iii) Thiết kế hệ thống canh tác: các mô hình cây trồng được thiết kế trên những đặc điểm của điểm nghiên cứu, nhằm đạt được sản lượng, lợi nhuận cao,
ổn định và bảo vệ môi trường sinh thái
(iv) Thử nghiệm cây trồng mới:cây trồng được thử nghiệm trên ruộng nông dân, nhằm xác định khả năng thích nghi và ổn định của chúng.Chỉ tiêu theo dõi gồm năng suất nông học,hiệu quả sử dụng đất,yêu cầu về tài nguyên(lao động,vật tư và hiệu quả kinh tế)
(v) Đánh giá sản xuất thử: những mô hình canh tác có năng suất và hiệu quả được xác định dựa trên kết quả thử nghiệm, sau đó được đưa vào sản xuất
Trang 31thử nhằm đánh giá khả năng thích nghi trên diện rộng của mô hình triển vọng trước khi xây dựng những chương trình sản xuất ở qui mô lớn hơn
(vi) Chương trình sản xuất: sau khi xác định những hệ thống canh tác thích hợp nhất và những biện pháp kỹ thuật liên hoàn kèm theo, các tổ chức khuyến nông với sự giúp đỡ của chính quyền, xây dựng chương trình quảng bá, thực hiện chương trình sản xuất
Mạng lưới hệ thống cây trồng Châu Á (ACSN) khi đưa ra hướng dẫn quá trình thiết kế và thử nghiệm hệ thống cây trồng cũng chỉ rằng "Nghiên cứu hệ thống cây trồng cải tiến cho một vùng bao gồm cả thâm canh, thay thế cây trồng năng suất thấp và đưa vào những kỹ thuật thâm canh cải tiến ở những nơi kỹ thuật thâm canh còn hạn chế hoặc chưa có sẵn, các nhà nghiên cứu hệ thống cây trồng sẽ thực hiện các thử nghiệm đơn giản trên ruộng nông dân "International Rice Research Institute", (1984) [105]
1.1.4.Khái niệm về cơ cấu cây trồng hợp lý
Cơ cấu cây trồng hợp lý là sự định hình về mặt tổ chức cây trồng trên đồng ruộng về số lượng, tỷ lệ, chủng loại, vị trí và thời điểm, nhằm tạo ra sự cộng hưởng các mối quan hệ hữu cơ giữa các loại cây trồng với nhau để khai thác và sử dụng một cách tiết kiệm và hợp lý nhất các nguồn tài nguyên cho các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội (Đào Thế Tuấn, 1978) [7980]
Theo Đào Thế Tuấn (1989) [84], Phùng Đăng Chinh và CTV (1987) [4] đã xác định: Cơ cấu cây trồng hợp lý là cơ cấu cây trồng phù hợp với điều kiện tự nhiên kinh tế - xã hội của vùng Cơ cấu cây trồng hợp lý còn thể hiện tính hiệu quả của mối quan hệ giữa cây trồng được bố trí trên đồng ruộng, làm cho sản xuất ngành trồng trọt trong nông nghiệp phát triển toàn diện, mạnh mẽ vững chắc theo hướng sản xuất thâm canh gắn với đa canh, sản xuất hàng hoá và có hiệu quả kinh
tế cao Cơ cấu cây trồng là một thực tế khách quan, nó được hình thành từ điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội cụ thể và vận động theo thời gian
Cơ cấu cây trồng hợp lý là phát triển hệ thống cây trồng mới trên cơ sở
Trang 32cải biến hệ thống cây trồng cũ hoặc phát triển hệ thống cây trồng mới trên cơ
sở thực tế là sự tổ hợp lại các công thức luân canh, tổ hợp lại các thành phần cây trồng và giống cây trồng, đảm bảo các thành phần trong hệ thống có mối quan hệ tương tác với nhau, thúc đẩy lẫn nhau, nhằm khai thác tốt nhất lợi thế
về điều kiện đất đai, tạo cho hệ thống có sức sản xuất cao, bảo vệ môi trường sinh thái (Lê Duy Thước, 1991) [67]
Theo Đào Thế Tuấn (1978) [79], đứng về quan điểm sinh thái học, bố trí
cơ cấu cây trồng hợp lý là chọn một cấu trúc cây trồng trong hệ sinh thái nhân tạo, làm thế nào để đạt năng suất sơ cấp cao nhất Về mặt kinh tế, cơ cấu cây trồng hợp lý cần thỏa mãn yêu cầu chuyên canh và tỷ lệ sản phẩm hàng hóa cao, bảo đảm việc hỗ trợ cho ngành sản xuất chính và phát triển chăn nuôi, tận dụng nguồn lợi tự nhiên, ngoài ra còn phải đảm bảo việc đầu tư lao động và vật tư kỹ thuật có hiệu quả kinh tế cao
Xác định cơ cấu cây trồng hợp lý ngoài việc giải quyết tốt mối liên hệ giữa cây trồng với điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, cần phải dựa trên phương hướng sản xuất của vùng Phương hướng sản xuất quyết định cơ cấu cây trồng, nhưng cơ cấu cây trồng hợp lý sẽ là cơ sở cho các nhà hoạch định chính sách xác định phương hướng sản xuất [60]
1.1.5 Phát triển nông nghiệp bền vững
Theo David C K (1996) [7], chiến lược tăng trưởng bền vững theo hướng công bằng gồm 6 giai đoạn: 1) Chuẩn bị cho sự thay đổi; 2) Cải cách về
tư liệu sản xuất và hạ tầng cơ sở nông thôn; 3) Nông nghiệp thâm canh và đa canh; 4) Công nghiệp hoá nông thôn; 5) Công nghiệp hoá thành thị; và 6) Khuyến khích xuất khẩu.Tuy nhiên không phải buộc tuần tự theo 6 giai đoạn nêu trên đây Như vậy nông nghiệp thâm canh và đa canh rất đáng được coi trọng trong phát triển bền vững
Theo lê Văn Khoa (1993) [36] đến nay có tới 70 định nhĩa khác nhau về
nông nghiệp bền vững Mỗi định nghĩa đều thể hiện các khía cạnh ưu tiên khác
Trang 33nhau cho vấn đề phát triển bền vững FAO, 1999d [103] cho rằng: phát triển bền vững là việc quản lý bảo tồn cơ sở tài nguyên thiên nhiên, định hướng các thay đổi công nghệ và thể chế theo một phương thức sao cho đạt đến sự thoả mãn một cách liên tục những nhu cầu của con người của những thế hệ hôm nay
và mai sau Nông nghiệp bền vững là xu thế tất yếu của quá trình phát triển nông nghiệp, thực chất đã được các nước công nghiệp hoá chú ý trước, sau đó ngày nay đã trở thành đối tượng cho nhiều nước đang thực hiện theo Mollison
B, Slay R.M (1994) [43]
1.2 Những nghiên cứu trên thế giới và trong nước
1.2.1 Những nghiên cứu trên thế giới
Các viện nghiên cứu nông nghiệp trên thế giới hàng năm đã lai tạo, tuyển chọn ra nhiều loại giống cây trồng mới, đưa ra nhiều công thức luân canh, quy trình kỹ thuật tiến bộ, đề xuất hệ thống canh tác tiến bộ, thích hợp cho từng vùng sinh thái nhằm tăng năng suất, sản lượng và giá trị sản phẩm trên đơn vị diện tích canh tác Viện nghiên cứu lúa Quốc tế IRRI đã góp nhiều thành tựu về
cơ cấu giống lúa ở Thái Lan, trong điều kiện thiếu nước, từ hệ thống canh tác hai vụ lúa hiệu quả thấp vì chi phí nước tưới quá lớn, công thức sản xuất độc canh lúa ảnh hưởng xấu đến kết cấu đất nên đã được thay bằng mô hình đậu tương xuân - lúa mùa làm cho hiệu quả kinh tế gấp đôi, độ phì đất tăng lên rõ rệt
Ấn Độ đã tiến hành chương trình nghiên cứu nông nghiệp trên phạm vi
cả nước từ 1962 - 1972, lấy hệ thâm canh, tăng vụ, chu kỳ một năm là hướng chiến lược phát triển nông nghiệp đã thu về kết quả: Hệ thống canh tác giành ưu tiên cho cây lương thực, chu kỳ một năm hai cốc (hoặc hai vụ lúa nước hoặc một
vụ lúa - một vụ màu), đưa vụ đậu đỗ vào luân canh đáp ứng 3 mục tiêu: khai thác tối đa đất đai, cải tạo độ phì nhiêu và tăng lợi ích cho nông dân
Các nghiên cứu ở Indonesia 1975 - 1976 đã thí nghiệm thành công các
mô hình tăng vụ và đa dạng hóa cây trồng ở đất có tưới 10 tháng, 7 tháng và 5 tháng Các mô hình chọn thử nghiệm như: 3 vụ lúa, 2 vụ lúa, 1 vụ lúa - 1 vụ màu, 2 vụ lúa 1 vụ màu (màu chủ yếu là đậu đỗ, rau và ngô)
Trang 34Ở Đài Loan, các nghiên cứu giống rau chịu bóng râm, trồng xen trong ruộng lúa nước đã làm tăng sản phẩm và giá trị sản phẩm trên một đơn vị diện tích đất ( dẫn theo Vũ Tuyên Hoàng, 1995 [29], Trần Đình Long, 1997 [39]
Nhật Bản là một nước có điều kiện tự nhiên không thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp Do đó, các nhà khoa học nông nghiệp Nhật Bản đã tập trung nghiên cứu và đề ra các chính sách quan trọng, xây dựng những chương trình có mục tiêu như an toàn lương thực, cải cách ruộng đất, ổn định thị trường nông sản và đẩy mạnh công tác khuyến nông, nhằm đảm bảo an ninh lương thực và thực hiện một số giải pháp kỹ thuật, cải cách nông thôn Nhờ vậy đến nay Nhật Bản đã trở thành một quốc gia có nền công nghiệp, nông nghiệp (nền nông nghiệp hiện đại) hàng đầu thế giới (Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, 1996) [76]
Các nhà khoa học Nhật Bản đã hệ thống hóa 4 tiêu chuẩn của hệ thống canh tác tiến bộ là phối hợp giữa cây trồng và vật nuôi, các phương pháp trồng trọt và chăn nuôi gia súc, cường độ lao động, vốn đầu tư, tổ chức sản xuất và sản phẩm làm ra, tính chất hàng hóa của sản phẩm (Nguyễn Duy Tính, 1995) [71]
Zandstra H.G., (1981) [109] đã dẫn số liệu của FAO cho thấy trên thế giới
có khoảng 5,6 tỷ người Để đảm bảo nhu cầu nông sản ngày càng tăng phải thực hiện ba giải pháp: mở rộng diện tích, tăng năng suất và đa dạng hóa cây trồng; trong đó, giải pháp thâm canh và đa dạng hóa được coi là quan trọng
Ở miền Bắc Ấn Độ có tổng số nhiệt độ cả năm 9.0000C, có 3 - 4 tháng nhiệt độ dưới 200C Từ xưa đến nay nhân dân vẫn có tập quán trồng 2 vụ/năm trên đất có tưới: một cây xứ lạnh như lúa mỳ, đại mạch, đậu đỗ mùa đông, cải dầu, khoai tây và một số cây xứ nóng như lúa, ngô Gần đây đã xác định nhiều công thức 3 vụ tiến bộ trên năm như:
+ Lúa - lúa - lúa mì
+ Ngô - khoai tây - cải dầu
+ Ngô - khoai tây - lúa mì
Trang 35Chương trình nghiên cứu nông nghiệp phối hợp toàn ấn Độ năm
1960-1972 lấy hệ thâm canh tăng vụ chu kỳ 1 năm làm hướng chiến lược phát triển sản xuất nông nghiệp đã kết luận: “Hệ canh tác dành ưu tiên cho cây lương thực chu kỳ 1 năm 2 vụ cốc (2 vụ lúa nước hoặc 1 vụ lúa và một vụ lúa mì) đưa thêm vào một vụ đậu đỗ đã đáp ứng được 3 mục tiêu khai thác tối ưu tiềm năng đất đai, ảnh hưởng tích cực đến độ phì nhiêu của đất trồng và đảm bảo lợi ích của người nông dân”( Bùi Huy Đáp, 1977)[17]
Ở Philippin: với tổng số nhiệt độ 98000C, không có tháng nào dưới 200C thuộc nhiệt đới, từ trước đến nay nhân dân vẫn có tập quán làm 2 vụ cây xứ nóng ở đất có nước tưới, nay nhờ có giống cây trồng ngắn ngày đã xác định có thể trồng 3-4 vụ/năm Đưa cây trồng cạn vào hệ thống luân canh như lúa- lúa- đậu tương hoặc lúa- khoai tây - đậu tương - ngô đường, đều cho kết quả tốt Trong những năm đầu thập kỷ 70 ở châu á, nhiều vùng đã đưa các cây hoa màu trồng cạn vào hệ thống cây trồng trên đất lúa như ở Thái Lan trong điều kiện thiếu nước, từ hệ thống cây trồng lúa xuân - lúa mùa hiệu quả thấp vì chi phí tiền nước quá lớn, mặt khác do độc canh cây lúa đã làm ảnh hưởng xấu đến độ phì của đất Bằng việc chuyển đổi cây lúa xuân sang cây đậu tương đã làm cho giá trị tổng sản phẩm tăng lên đáng kể Hiệu quả kinh tế tăng lên gấp đôi độ phì nhiêu của đất tăng lên rõ rệt kết quả là mang lại thành tựu mới trong chuyển đổi hệ thống cây trồng ở Thái Lan ” (Bùi Huy Đáp, 1985) [65]
Ở Trung Quốc đã xác định hệ thống cây trồng hợp lý trên các vùng đất 2
vụ, hệ thống phổ biến là 2 vụ lúa và 1 vụ lúa mì hoặc đậu Hà Lan, cải, khoai tây…(dẫn theo Đào Thế Tuấn, 1977)[60]
1.2.2 Những nghiên cứu tại Việt nam
Nghiên cứu hệ thống cây trồng mới nói riêng hay hệ thống canh tác nói chung đã được các nhà khoa học Nông nghiệp Việt Nam bắt đầu nghiên cứu ngay từ đầu những năm 1960
Năm 1960 Viện sĩ Đào Thế Tuấn đã cùng các nhà nghiên cứu khoa học của Viện khoa học kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam nghiên cứu cây lúa vụ
Trang 36xuân với các giống ngắn ngày có tiềm năng năng suất cao và tập đoàn cây vụ đông vào chân đất hai vụ lúa, đưa cây màu vụ xuân vào chân đất vụ mùa, đã tạo nên bước chuyển biến rõ nét về sản xuất lương thực thực phẩm ở vùng Đồng bằng sông Hồng (Đào Thế Tuấn, 1978)[79]
Bùi Huy Đáp (1974) [14] đã đề cập vấn đề luân canh, tăng vụ, xen canh, trồng gối để sử dụng tối ưu nguồn lợi đất đai, khí hậu sẵn có tại các vùng sản xuất
- Thâm canh là sản xuất mà người ta sử dụng các yếu tố sản xuất đến mức tối
đa để tăng năng suất và sản lượng cây trồng Các yếu tố sản xuất ở đây là chọn giống cây trồng tốt để tăng năng suất cây trồng, sử dụng tối đa mọi loại phân bón, phù hợp với yêu cầu của cây trồng và đầu tư nhân lực để thực hiện các khâu kỹ thuật thâm canh
- Tăng vụ là tăng số lần gieo trồng trên cùng một đơn vị diện tích đất
trong năm có nghĩa là trên một diện tích đất và trong một thời gian nhất định, nếu sắp xếp để tăng thêm một vụ sản xuất nữa Để đánh giá mức độ tăng vụ của đất, người ta tính số vòng quay của đất Vòng quay của đất là số lượng vụ sản xuất
đã tiến hành trên một đơn vị diện tích đất trong vòng một năm
- Luân canh là sự thay đổi cây trồng khác nhau trên cùng một mảnh đất
một hay vài vụ Luân canh có tác dụng khai thác tốt tiềm năng của đất, bồi dưỡng cho đất, có khả năng ngăn chặn sâu bệnh và tránh được cỏ dại
- Luân canh tăng vụ: là làm tăng tổng sản lượng sản phẩm, tăng hệ số sử
dụng đất Tạo điều kiện cho việc khai thác sử dụng tiềm năng lợi thế sẵn có về điều kiện tự nhiên, đất đai, khí hậu và tiềm năng xã hội Sử dụng nguồn lao động còn dư thừa trong nông nghiêp, tạo công ăn việc làm cho các lao động còn nhàn rỗi và tăng phần thu giá trị kinh tế trong nông nghiệp cao hơn, làm cho nông nghiệp đảm bảo được đa dạng hóa sản phẩm, Bùi Huy Đáp (1977) [15]
Thâm canh, luân canh tăng vụ là một trong những cơ sở cho việc bố trí hệ thống cây trồng hợp lý Ngược lại, bố trí hệ thống cây trồng hợp lý tạo điều kiện cho việc thực hiện luân canh tăng vụ đạt hiệu quả cao trên nhiều khía cạnh như: kinh tế, xã hội, môi trường Theo Bùi Huy Đáp (1977) [15], năm 1939, diện tích các loại cây lương thực chiếm 94,7% tổng diện tích gieo trồng miền
Trang 37Bắc, cây thực phẩm chiếm 1,8% và cây công nghiệp chiếm 34% đến năm 1955, vẫn 94,5% là cây lương thực, 2% là cây thực phẩm và 2,5% là cây công nghiệp Nhưng dến năm 1971, tỷ lệ cây lương thực đã giảm xuống còn 87,6% (tuy dân
số đã tăng gấp 2 lần), cây thực phẩm đã tăng 5% Riêng trong cơ cấu các loại cây lương thực, lúa từ 86% đã giảm xuống còn 80% và hoa màu từ 14% đã tăng lên 19,6% Cây vụ đông có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ đất, nhờ đó mà đất được che phủ trong suốt giai đoạn khí hậu khô hạn, tránh cho đất bạc màu, khỏi bị thoái hóa nhanh nhất bởi độ ẩm đất bị kiệt quệ các chất hữu cơ bị phân hủy nhiều Cây vụ đông đã làm tăng độ ẩm của đất tới 30 - 50% so với đất không trồng cây vụ đông Đất bạc màu được trồng cây vụ đông đều làm tăng năng suất cây trồng vụ sau một cách rõ rệt
Khi nhu cầu nội địa không còn cấp bách và bắt đầu có dư xuất khẩu thì vấn đề “đa dạng hóa” cây trồng ngoài cây lúa được đặt ra Đa dạng hóa cây trồng là xu hướng bố trí những cơ cấu cây trồng có hiệu quả kinh tế cao hơn trồng lúa, đồng thời góp phần cải thiện chế độ độc canh lúa Đa dạng hóa cây trồng và loại cây trồng cũng là biện pháp để nâng cao tính ổn định của hệ thống, (Trần Đình Long, 1997) [39]
Hệ thống canh tác lúa xuân đã xuất hiện ở miền Bắc Việt Nam từ năm
1965 như ở xã Phú Thạch, ứng Hoà Năm 1971 diện tích lúa xuân đã vượt diện tích lúa chiêm có nơi diện tích lúa xuân chiếm 60 - 65% diện tích lúa chiêm Năm 1970 nhờ chuyển vụ mạnh năng suất lúa chiêm xuân toàn miền Bắc được nâng lên 19,73 tạ/ha so với năng suất lúa Chiêm năm 1960 - 1969 là 13,6 đến 18,94 tạ/ha Năm 1985 năng suất chung của miền Bắc được nâng lên 31,9 tạ/ha Điển hình là tỉnh Thái Bình, bình quân năng suất 48tạ/ha, Đan Phượng 55 tạ/ha
Có những Hợp tác xã đạt năng suất cao như: Hợp tác xã Vũ Thắng 70 tạ/ha, Trực Đông- Hải Hậu đạt 72 tạ/ha (Bùi Huy Đáp, 1987) [18]
Cùng thời gian nghiên cứu vụ xuân các nhà khoa học Nông nghiệp miền Bắc đã tiến hành nghiên cứu vụ đông cho các vùng sinh thái với mô hình canh tác 3 vụ/năm: 2 vụ lúa- 1 vụ đông hoặc 1 lúa - 1 màu- 1 vụ đông (Bùi Huy Đáp,
1977 [15]
Vụ đông ở miền Bắc Việt nam là vụ thích hợp với cây trồng cạn trong mùa
Trang 38khô Theo Đào Thế Tuấn (1984) [80] vụ đông thích hợp với với các loại cây trồng ngắn ngày có nguồn gốc ôn đới như khoai tây, hành tây, bắp cải, su hào, súp lơ,
và một số cây trồng khác như thuốc lá, khoai lang, ngô, đậu tương, …
Nguyễn Duy Tính (1995) [71] cho rằng hầu hết các diện tích canh tác có nước tưới được sử dụng để trồng lúa, màu, cây công nghiệp ngắn ngày Được
sử dụng theo công thức luân canh phổ biến sau:
• Một vụ lúa/năm: một vụ lúa mùa bỏ hoá một vụ chiêm
• Hai vụ lúa/năm: (lúa chiêm - lúa mùa)
• Ba vụ lúa/năm: hai vụ lúa - 1 vụ màu (lúa chiêm - lúa mùa - vụ đông)
Gần đây xuất hiện một số công thức luân canh 4 vụ/năm: lúa xuân- lúa hè thu - lúa mùa - vụ đông và công thức lúa - cá - cây ăn quả vv… Tuy nhiên, hai công thức này chiếm tỷ lệ diện tích chưa nhiều
Trong những năm gần đây, góp phần thực hiện mục tiêu sản xuất nông nghiệp của Đảng và Nhà nước cùng với việc chọn tạo, du nhập, khu vực hóa nhiều giống cây trồng vừa có năng suất cao, vừa có khả năng chống chịu tốt với điều kiện ngoại cảnh bất lợi, vừa ngắn ngày, nhiều cơ quan khoa học đã quan tâm nghiên cứu và có nhiều kết quả quan trọng đóng góp cho sự phát triển của
hệ thống canh tác mới, tiến bộ như:
+ Kết quả đưa cây đậu tương vào hệ thống canh tác ở miền Bắc Việt Nam,
đã chỉ ra rằng: đậu tương hè có năng suất cao khá ổn định, có thể mở rộng ở vùng đồng bằng và trung du Bắc bộ trong hệ thống lúa xuân - đậu tương hè - lúa mùa (Lê Song Dự, 1990) [42]
+ Khi nghiên cứu về thời vụ ở miền Bắc Nguyễn Thế Côn (1994) [5] đã rút
ra một số kết luận: trong điều kiện vụ xuân thời vụ thích hợp đối với giống đậu xanh 044 có thể kéo dài từ giữa tháng 3 đến nửa cuối tháng 4 Các thời vụ trồng đậu xanh có thể bố trí quanh năm, gồm các vụ như vụ xuân sớm, xuân muộn, hè sớm, hè chính vụ, hè chính vụ, hè trung, hè thu
+ Nghiên cứu hệ thống canh tác ở tiểu vùng sinh thái bạc màu ngoại thành Hà Nội Đào Châu Thu và CTV (1990) [69] đã cho thấy có thể nâng cao hệ số sử dụng đất (2 - 4 vụ/năm) và trồng được nhiều vụ lương thực, hoa màu, cây công nghiệp ngắn ngày trên đất bạc màu, trừ chân ruộng quá cao, quá thấp
Trang 39+ Chuyển đổi cơ cấu cây trồng truyền thống sang cơ cấu cây trồng hợp lý của một vùng sinh thái bằng cách đánh giá một cách toàn diện các điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và thực trạng cơ cấu cây trồng ở vùng đó, trên cơ sở xác định hệ thống cây trồng thích hợp cho từng vùng đất, từng mùa vụ Tác giả đã
đề xuất các giải pháp sử dụng có hiệu quả tài nguyên đất, năng lượng mặt trời kết hợp với luân canh, xen canh, gối vụ, đa dạng hóa cây trồng ở ngoại thành
Hà Nội (Bùi Thị Xô, 1994) [99]
+ Dương Hữu Tuyền (1990) [91], khi nghiên cứu hệ thống canh tác 3 - 4 vụ/năm ở vùng lúa đồng bằng sông Hồng đã cho thấy đồng bằng sông Hồng có thể trồng 3 - 4 vụ/năm khi trồng 3 vụ không nên độc canh 3 vụ lúa mà nên bố trí 2 vụ lúa 1 vụ màu hay 2 vụ màu 1 vụ lúa, trong đó có thể 2 vụ cây ưa nóng, 1
vụ cây ưa lạnh hay cả 3 vụ là cây ưa nóng Trồng 4 vụ có thể thực hiện được ở những chân ruộng đất có thành phần cơ giới nhẹ, tưới tiêu chủ động và dồi dào lao động
+ Khi nghiên cứu chuyển đổi cơ cấu cây trồng tại huyện sóc sơn đã chỉ rõ:
mô hình 3 vụ cải tiến (lạc - lúa - ngô hoặc đậu tương - thuốc lá) mang lại lợi nhuận 12.537.000 đồng/ha/năm, tỷ suất lợi nhuận từ 12,7 - 176% Các mô hình
4 vụ (đậu xanh - đậu tương - lúa - khoai lang hoặc lúa CN2 - đậu tương - lúa ĐH60 - khoai tây) cho lợi nhuận 15.852.000 đồng/ha/năm, tỷ suất lợi nhuận 127,4 176%, Nguyễn Hữu Tề và ctv (1995) [61], Phạm văn My(1995)[44]
Như vậy có thể nói rằng trên cơ sở vận dụng các tiến bộ kỹ thuật về nông nghiệp, đã có nhiều nghiên cứu về hệ thống cây trồng theo hướng đổi mới tốt hơn (tiến bộ) ở nhiều vùng khác nhau, qua thời gian khác nhau và đã đạt được các kết quả nhất định nhưng như vậy không có nghĩa là dừng việc nghiên cứu Thời điểm này hệ thống canh tác hiện tại là tiến bộ, hợp lý nhưng sang thời gian sau có thể nó lại bị lạc hậu, kém hiệu quả do sự thay đổi của điều kiện môi trường như: nhu cầu của con người thay đổi, thị trường trong nước, quốc tế thay đổi, tiến bộ khoa học kỹ thuật thay đổi Chính lẽ đó mà việc nghiên cứu đề xuất các hệ thống canh tác tiến bộ luôn luôn được đạt ra nhằm không ngừng nâng cao hiệu quả sản xuất và tiến tới xây dựng các hệ thống canh tác bền vững hơn
Trang 401.2.3 Đất cát biển ở Ninh Thuận và khai thác
Đất cát biển ở Ninh Thuận, do thiếu nước nên chỉ có thể trồng trọt được lúa vào mùa mưa, trên đất cao trồng cây lâu năm là phổ biến như trồng nho và phát triển chăn nuôi
• Tình hình phát triển kinh tế trang trại và chăn nuôi ở tỉnh Ninh Thuận
Các địa phương có vốn đầu tư vào trang trại chăn nuôi cao nhất là huyện Ninh Phước, kế tiếp là huyện Ninh Sơn, Ninh Hải và thị xã Phan Rang Tháp Tràm Toàn tỉnh có đàn bò hơn 110.000 con, tăng gần 8%; đàn dê gần 58.000 con, tăng 22% và đàn cừu hơn 35.000 con tăng 41,7% so với năm 2004 Đến nay, nhiều hộ đã tích luỹ và mở rộng qui mô trở thành trang chăn nuôi từ vài trăm đến cả ngàn con gia súc Gia đình anh Trần Minh Châu và một số gia đình khác huyện Ninh Sơn có 800 con cừu, dê và 120 con heo nái sinh sản Huyện Ninh Phước cũng đã mở rộng qui mô lên 130 trang trại chăn nuôi, bình quân mỗi trang trại đầu tư hơn 400 triệu đồng (7)
• Tình hình phát triển chăn nuôi cừu ở tỉnh Ninh Thuận
Mặc dù tỉnh Ninh Thuận có điều kiện thời tiết khí hậu khắc nghiệt nhưng đây cũng là một lợi thế cho việc phát triển chăn nuôi cừu tại tỉnh Nhờ khí hậu khô hạn, ít mưa do đó độ ẩm không khí thấp tạo điều kiện thuận lợi cho chăn nuôi nói chung và nuôi cừu nói riêng, chính vì vậy cái tên “cừu Phan Rang” đã trở nên quen thuộc Mặc dầu cừu phát triển tốt nhưng phân cừu lại không được dùng để bón cho các cây công nghiệp (điều) hoặc cây ăn quả Chính vì vậy cây điều có điều kiện phát triển nhưng lại cho năng xuất thấp nhất trong các vùng trồng điều cả nước