1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu chiết xuất các chất có hoạt tính sinh học và ứng dụng chế biến nước uống từ nấm linh chi (ganoderma lucidum)

134 39 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 134
Dung lượng 1,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kết quả định tính các chất có hoạt tính sinh học trong dịch chiết nấm Linh chi .... Vì vậy việc tìm hiểu và ứng dụng nấm Linh chi vào lĩnh vực công nghệ thực phẩm một phần nào đã góp phầ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA

ĐÀO ĐỨC DUY

CHUYÊN NGÀNH : KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỰC PHẨM

LUẬN VĂN THẠC SĨ

TP HỒ CHÍ MINH, Tháng 08 năm 2003

Trang 2

CÔNG TRÌNH NÀY ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA

ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH

Cán bộ hướng dẫn khoa học:

TS ĐỐNG THỊ ANH ĐÀO

Cán bộ chấm nhận xét 1:

PGS TS ĐỒNG THỊ THANH THU

Cán bộ chấm nhận xét 2:

TS TRẦN CÔNG LUẬN

Luận văn thạc sĩ được bảo vệ tại HỘI ĐỒNG CHẤM BẢO VỆ LUẬN VĂN THẠC SĨ TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA TP HỒ CHÍ MINH

Ngày 19 tháng 07 năm 2003

Trang 3

Đại Học Quốc Gia Tp Hồ Chí Minh CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc

NHIỆM VỤ LUẬN VĂN THẠC SĨ

Họ và tên học viên : ĐÀO ĐỨC DUY Phái : Nam Ngày, tháng, năm sinh : 11/05/1978 Nơi sinh : Cà Mau Chuyên ngành : Khoa học và Công nghệ Thực phẩm

I- TÊN ĐỀ TÀI: Nghiên cứu chiết xuất các chất có hoạt tính sinh học và ứng dụng

chế biến nước uống từ nấm Linh chi (Ganoderma lucidum)

II- NHIỆM VỤ VÀ NỘI DUNG:

- Tổng quan tài liệu về nấm Linh chi

- Khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình chiết xuất chất khô

- Định tính các chất có hoạt tính sinh học

- Ứng dụng chế biến nước uống nấm Linh chi

III- NGÀY GIAO NHIỆM VỤ : 10/01/2003

IV- NGÀY HOÀN THÀNH NHIỆM VỤ : 10/07/2003

V- HỌ VÀ TÊN CÁN BỘ HƯỚNG DẪN :

TS ĐỐNG THỊ ANH ĐÀO

VI- HỌ VÀ TÊN CÁN BỘ CHẤM NHẬN XÉT 1:

PGS TS ĐỒNG THỊ THANH THU VII- HỌ VÀ TÊN CÁN BỘ CHẤM NHẬN XÉT 2:

TS TRẦN CÔNG LUẬN CÁN BỘ HƯỚNG DẪN CÁN BỘ NHẬN XÉT 1 CÁN BỘ NHẬN XÉT 2

Nội dung và đề cương luận văn Thạc sĩ đã được Hội Đồng Chuyên Ngành thông qua

Ngày tháng năm 2003

PGS TS PHẠM VĂN BÔN

Trang 4

Lời cảm ơn

Tôi vô cùng cảm ơn Ba mẹ đã ủng hộ và giúp đỡ rất nhiều về tinh thần cũng như vật chất trong suốt thời gian tôi làm luận văn tốt nghiệp

Tôi xin chân thành cảm ơn TS.ĐỐNG THỊ ANH ĐÀOđã tận tình hướng dẫn, truyền đạt rất nhiều về kiến thức và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành tốt bài luận văn này

Tôi cũng tỏ lòng biết ơn đến TS Trần Công Luận,

ThS Dương Thị Mộng Ngọc đã có nhiều ý kiến đóng góp quý báu cho luận văn này Tôi rất cảm ơn em Phạm Thị Thanh Thảo, người đã giúp đỡ tôi, cùng tôi chia sẻ những khó khăn, và đặc biệt là động viên tinh thần tôi rất nhiều trong suốt quá trình làm luận văn

Học viên Cao học CNTP 12

ĐÀO ĐỨC DUY

Trang 5

MỤC LỤC

Lời cảm ơn

Danh mục các bảng và hình Danh mục các ký hiệu viết tắt

Abstract Lời mở đầu Trang

Phần 1: Tổng quan 1

1.1 Giới thiệu về nấm Linh chi 1

1.1.1 Nguồn gốc 1

1.1.2 Hệ thống học Họ Ganodermataceae Donk 2

1.1.3 Lịch sử nghiên cứu nấm Linh chi trên thế giới và tại Việt Nam 5

1.1.4 Đặc điểm sinh học cơ bản của nấm Linh chi 6

1.1.5 Một vài phương pháp nuôi trồng nấm Linh chi 10

1.1.6 Thành phần hóa dược cơ bản của nấm Linh chi 14

1.1.7 Các nghiên cứu về dược tính của nấm Linh chi 25

1.1.8 Một số dạng chế phẩm sản xuất từ nấm Linh chi 28

1.2 Hợp chất saponin 31

1.2.1 Định nghĩa 31

1.2.2 Cấu trúc hóa học và phân loại 31

1.2.3 Một số phương pháp định tính 37

1.2.4 Tác dụng của saponin 38

1.3 Hợp chất alkaloid 40

1.3.1 Định nghĩa 40

Trang 6

1.3.3 Tính chất của alkaloid .41

1.3.4 Tác dụng của alkaloid 42

1.4 Hợp chất flavonoid 43

1.4.1 Định nghĩa 43

1.4.2 Cấu trúc hóa học và phân loại của flavonoid 43

1.4.3 Tính chất và phản ứng định tính của flavonoid 49

1.4.4 Tác dụng của flavonoid .50

1.5 Mật ong 52

1.5.1 Thành phần hóa học của mật ong .52

1.5.2 Công dụng của mật ong .53

Phần 2: Nguyên liệu và phương pháp nghiên cứu 56

2.1 Nguyên liệu .56

2.1.1 Nấm Linh chi .56

2.1.2 Nước .57

2.1.3 Mật ong .58

2.1.4 Acid citric 58

2.1.5 Đường saccaroza 59

2.2 Phương pháp nghiên cứu 61

2.2.1 Chiết xuất hoạt chất trong nấm Linh chi .61

2.2.2 Quy trình chiết xuất saponin thô toàn phần .65

2.2.3 Quy trình chiết xuất alkaloid thô toàn phần 67

2.2.4 Quy trình chiết xuất flavonoid thô toàn phần .68

2.2.5 Quy trình chế biến nước uống nấm Linh chi 70

2.3 Phương pháp phân tích .74

2.3.1 Phân tích hóa lý .74

2.3.2 Kiểm nghiệm vi sinh 82

Trang 7

2.3.3 Đánh giá cảm quan sản phẩm .82

Phần 3: Kết quả và bàn luận 88

3.1 Kết quả khảo sát quá trình chiết xuất chất khô 88

3.1.1 Khảo sát ảnh hưởng của nhiệt độ và dung môi 88

3.1.2 Khảo sát ảnh hưởng của tỷ lệ nguyên liệu và dung môi 91

3.1.3 Khảo sát thời gian chiết xuất 92

3.2 Kết quả khảo sát ảnh hưởng của nhiệt độ và độ cồn đến quá trình chiết xuất saponin 93

3.3 Kết quả kiểm tra sự ảnh hưởng của nhiệt độ, độ cồn đến hàm lượng chất khô và lượng saponin thô thu được từ dịch chiết nấm Linh chi 94

3.4 Kết quả định tính các chất có hoạt tính sinh học trong dịch chiết nấm Linh chi 97

3.4.1 Kết quả định tính saponin trong dịch chiết cồn 98

3.4.2 Kết quả định tính alkaloid trong dịch chiết cồn 103

3.4.3 Kết quả định tính flavonoid trong dịch chiết cồn 105

3.5 Khảo sát quá trình phối chế nước uống nấm Linh chi 106

3.5.1 Khảo sát hàm lượng đường bổ sung vào sản phẩm 106

3.5.2 Khảo sát hàm lượng mật ong bổ sung vào sản phẩm 107

3.5.3 Khảo sát hàm lượng acid citric bổ sung vào sản phẩm 108

3.6 Kết quả cảm quan của cao Linh chi 109

3.7 Kết quả kiểm tra các thông số của sản phẩm 109

3.7.1 Kết quả định tính saponin trong mẫu nước uống nấm Linh chi 110

3.7.2 Kết quả định tính alkaloid trong mẫu nước uống nấm Linh chi 116 3.7.3 Kết quả định tính flavonoid trong mẫu nước uống

Trang 8

nấm Linh chi 119

3.7.4 Kết quả phân tích thành phần hóa học của sản phẩm 122

3.7.5 Kết quả kiểm tra vi sinh của sản phẩm 124

3.7.6 Kết quả đánh giá cảm quan sản phẩm 125

Phần 4: Kết luận và đề nghị 126

4.1 Kết luận 126

4.2 Đề nghị 127

Tài liệu tham khảo

Phụ lục

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG VÀ HÌNH

Trang

Hình 1: Nấm Linh chi 1

Hình 2: Hình thái cấu trúc giải phẫu nấm Linh chi 7

Bảng 1: Thành phần hóa học chủ yếu trong nấm Linh chi 14

Bảng 2: Thành phần nguyên tố khoáng 17

Bảng 3: Thành phần các acid amin 19

Bảng 4: Thành phần hoạt chất cơ bản ở nấm Linh chi 20

Bảng 5: Tác dụng trị liệu của các loại nấm Linh chi 25

Bảng 6: Thành phần các chất trong mật ong 52

Hình 3: Tai nấm và bột nấm Linh chi 56

Bảng 7: Quy định về thành phần hóa học của nước 57

Bảng 8: Quy định về chất lượng cảm quan của acid citric 58

Bảng 9: Quy định về thành phần hóa học của acid citric 58

Bảng 10: Quy định chỉ tiêu cảm quan của đường 59

Bảng 11: Quy định chỉ tiêu hóa lý của đường 60

Hình 4: Hàm lượng chất khô dưới ảnh hưởng của nhiệt độ và độ cồn 88

Hình 5: Ảnh hưởng của nhiệt độ đến hàm lượng chất khô khi dùng nước làm dung môi chiết xuất 89

Hình 6: Ảnh hưởng của nhiệt độ đến hàm lượng chất khô khi dùng cồn ethylic 46% thể tích làm dung môi chiết xuất 90

Hình 7: Ảnh hưởng của tỷ lệ nấm : cồn ethylic 91

Hình 8: Ảnh hưởng của thời gian chiết xuất 92

Hình 9: Hàm lượng saponin thô được chiết xuất dưới ảnh hưởng của nhiệt độ và độ cồn 93

Bảng 12: Kết quả kiểm tra đối với hàm lượng chất khô 94

Trang 10

Bảng 14: Kết quả định tính sơ bộ các chất có hoạt tính sinh học 97

Hình 10: Thử nghiệm tạo bọt định tính saponin trong dịch chiết cồn 98

Hình 11: Phản ứng Liebermann – Burchard định tính saponin trong dịch chiết cồn 99

Hình 12: Sắc ký bản mỏng sau khi phun thuốc thử H2SO4 10% 101

Hình 13: Sắc ký bản mỏng sau khi soi dưới đèn tử ngoại 102

Hình 14: Phản ứng định tính alkaloid trong dịch chiết cồn 104

Bảng 15: Kết quả định tính flavonoid trong dịch chiết cồn 105

Bảng 16: Kết quả mức độ ưa thích khi thay đổi hàm lượng đường 106

Bảng 17: Kết quả mức độ ưa thích khi thay đổi hàm lượng mật ong 107

Bảng 18: Kết quả mức độ ưa thích khi thay đổi hàm lượng acid citric 108

Hình 15: Sản phẩm nước uống nấm Linh chi 109

Hình 16: Thử nghiệm tạo bọt định tính saponin trong mẫu nước uống nấm Linh chi 110

Hình 17: Phản ứng Liebermann – Burchard định tính saponin trong mẫu nước uống nấm Linh chi 111

Hình 18: Sắc ký bản mỏng sau khi phun thuốc thử H2SO4 10% 113

Hình 19: Sắc ký bản mỏng sau khi soi dưới đèn tử ngoại 114

Hình 20: Phản ứng định tính alkaloid trong mẫu nước uống nấm Linh chi 116

Hình 21: Kết quả định tính alkaloid trong mẫu nước uống nấm Linh chi bằng sắc ký bản mỏng 117

Bảng 19: Kết quả định tính flavonoid trong mẫu nước uống

Trang 11

nấm Linh chi 119 Hình 22: Kết quả định tính flavonoid trong mẫu nước uống

nấm Linh chi bằng sắc ký bản mỏng 120 Bảng 20: Kết quả phân tích thành phần hóa học của

mẫu nước uống nấm Linh chi 122 Bảng 21: Kết quả phân tích hàm lượng các kim loại

có trong nước uống nấm Linh chi 123 Bảng 22: Kết quả kiểm tra vi sinh của sản phẩm

nước uống nấm Linh chi 124 Bảng 23: Bảng điểm cho sản phẩm nước uống nấm Linh chi 125

Trang 12

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT

STT Ký hiệu viết tắt Dạng nguyên (không viết tắt)

Trang 13

ABSTRACT

Reishi, Ganoderma lucidum is a kind of pharmaceutical fungi which has been known in China,

Japan and other countries It is considered a kind of food and raw material for developing of drugs Recent studies have shown that there are many valuable substances in Reishi such as polysaccharides, steroids, triterpenoids, germanium… These compounds might be useful in curing many diseases They can reduce blood pressure, blood cholesterol, blood sugar levels; resist cancers; protect liver and intensify the immune system Therefore, in this thesis, we concentrate on studying the optimum condition to extract the maximum dry matter and apply this result to produce soft drink from Reishi On the other hand, we also preliminarily quantify many precious compounds such as saponin, alkaloid and flavonoid Finally, we hope that these results can be applied to actual production to diversify the products from Reishi

Trang 14

LỜI MỞ ĐẦU

Ngày nay người ta cho rằng các loại thực phẩm đều có chứa một số hoạt chất có thể phòng và điều trị các bệnh rất hiệu quả Ở nước ta và nhiều nước phát triển trên thế giới, việc ăn no, ăn đủ một phần nào đã được giải quyết Vấn đề quan trọng mới được đặt ra là ăn thế nào là tốt nhất và chất lượng thức ăn ra sao để đảm bảo tốt khả năng lao động trí óc và chân tay, để đảm bảo cuộc sống khỏe mạnh, vui vẻ phấn khởi và kéo dài tuổi thọ

Nước ta nằm trong vùng nhiệt đới nên có hệ động, thực vật vô cùng phong phú và

đa dạng Từ thời xa xưa tổ tiên chúng ta đã biết sử dụng nhiều loại thực phẩm thuốc và thực phẩm chức năng từ các loài động, thực vật sẵn có Một trong những thực phẩm thuốc và thực phẩm chức năng có tác dụng sinh học tốt như là thuốc thiên nhiên – đó là nấm Linh chi

Vì vậy việc tìm hiểu và ứng dụng nấm Linh chi vào lĩnh vực công nghệ thực phẩm một phần nào đã góp phần giải quyết được vấn đề thực phẩm không chỉ ăn để no mà còn có tác dụng như các loại thuốc phòng và điều trị một số bệnh hiểm nghèo (ung thư, tim mạch, tiểu đường),

kéo dài tuổi thọ của con người Đó cũng chính là mục tiêu của đề tài “Nghiên cứu chiết xuất các

chất có hoạt tính sinh học và ứng dụng chế biến nước uống từ nấm Linh chi (Ganoderma lucidum)”

Trang 15

PHẦN 1: TỔNG QUAN

1.1 Giới thiệu về nấm Linh chi: [18, 19]

1.1.1 Nguồn gốc:

Hình 1: Nấm Linh chi (Ganoderma lucidum (Leyss ex Fr.) Karst)

™ Vị trí phân loại của Linh chi đã được thừa nhận rộng rãi: [19]

Ngành nấm đảm : Basidiomycota

Lớp nấm đảm : Basidiomycetes

Bộ nấm lỗ : Aphyllophorales

Họ Linh chi : Ganodermataceae

Chi Linh chi : Ganoderma

Loài Linh chi : Ganoderma lucidum

™ Nấm Linh chi đã nổi tiếng từ ngàn xưa ở các nước Á Đông Phiên âm tiếng Trung Quốc gọi là Lingzhi, theo tiếng Nhật là Reishi, ở Việt Nam thì hay gọi là nấm Lim (do vậy thường bị thành kiến coi là nấm độc – độc như Lim vậy) Thực tế thì trong cả nhóm Linh chi, chưa có loại nào được chứng tỏ là độc cả

™ Trái lại người ta thường dùng các tên đẹp, huyền bí để chỉ các nấm dược liệu quý giá này, không phải ngẫu nhiên mà trên 4000 năm trước cho đến nay Linh chi vẫn được

Ganoderma lucidum

(Leyss ex Fr.) Karst

Trang 16

coi là “thượng dược” – được xếp vào hàng siêu dược liệu, trên cả nhân sâm (Panax ginseng)

™ Trong số các tên gọi: Bất lão thảo, Vạn niên nhung, Thần tiên thảo, Chi linh, Mộc Linh chi, Hổ nhũ Linh chi, Đoạn thảo … tên Linh chi có lẽ là tiêu biểu và mang tính lịch sử cần giữ lại hơn cả, trong sách “Thần nông bản thảo” cách đây hơn 2000 năm, tên này đã chính thức được sử dụng Đến thời nhà Minh, Lý Thời Trân (1417 – 1495) đã chia ra 6 loại Linh chi theo màu sắc: đỏ (hồng), vàng, xanh, trắng, đen, tím và theo công dụng dược lý khác nhau Ngày nay Trung Quốc cũng xứng đáng với truyền thống y dược của mình, đang trở thành trung tâm nuôi trồng sản xuất Linh chi lớn nhất thế giới với các sản phẩm bán khắp các nước, trong đó Lục bảo Linh chi đã được độc quyền thương mại trên toàn cõi Việt Nam (Công ty Domesco – Xuất nhập khẩu Y tế Đồng Tháp) Nhưng ở nước

ta, Lục bảo Linh chi hoang dại từ hàng ngàn năm qua vẫn còn là hoang dại, và đang ngày càng bị xói mòn nguồn gen quý hiếm trong thời mở cửa và phá rừng vô tội vạ hiện nay

1.1.2 Hệ thống học Họ Ganodermataceae Donk:

™ Lịch sử nghiên cứu hệ thống tự nhiên của họ Linh chi có thể nói là lịch sử nghiên cứu cấu trúc bào tử đảm của chúng

¾ Năm 1881, Karsten nhà nấm học Phần Lan, lần đầu tiên đã tách từ các nấm

Polypore ra một nhóm đặc biệt, xây dựng nên chi mới độc lập Ganoderma Karst …, theo

kiểu bào tử đảm đặc trưng

¾ Năm 1905, Murrill lại phát hiện ra một nhóm nấm Polypore nữa, chu trình sống ngắn (1 – 3 tháng), luôn có cuống đính gần tâm – đính tâm, rất giống các loài

Ganoderma, và ông đề nghị xác lập một chi mới nữa độc lập – các nấm Linh chi đen –

Amauroderma Murr

¾ Năm 1948, Donk – nhà nấm học Hà Lan đã xây dựng nên họ Linh chi

Ganodermataceae Donk – lần đầu tiên được được tách khỏi họ Polyporaceae sen lat., và

cho đến nay đã được thừa nhận rộng rãi

Trang 17

¾ Năm 1972, Steyaert với các khảo sát tinh vi trên kính hiển vi điện tử quét

(electron scanning microscope) đã xác lập nên 3 chi nữa Đó là Humphreya Stey với 4 loài và Haddowia Stey với vỏn vẹn 2 loài Việc xây dựng 2 chi này trong họ Linh chi Ganodermataceae Donk quả là táo bạo nếu để ý rằng chi Ganoderma Karst bao gồm hàng trăm loài và chi Amauroderma Murr cũng tới vài chục loài với tính đồng nhất cao

trong cấu trúc bào tử đảm

™ Ở nước ta đã ghi nhận ít nhất 30 loài, theo dự kiến của chúng tôi, nếu được điều tra

chu đáo hơn, phải có đến 50 ÷ 60 loài Ganodermataceae còn ở nước ta Cũng có đến hàng

chục loài chưa thể định danh chính xác được, do nguồn tư liệu rất thiếu thốn và chưa có điều kiện trao đổi, đối chiếu mẫu vật

™ Hầu hết các loài đều sưu tập được vào mùa mưa (ở miền Nam) hoặc vào mùa xuân – hạ – thu (ở miền Bắc), tức là từ tháng 3 đến tháng 12 Chỉ một số loài đa niên thực thụ

có thể gặp quanh năm: G applanatum, G tornatum, G subtornatum, … Hầu hết các loài

đều hằng niên (thực chất chu trình sinh trưởng tạo thể quả trong 2 ÷ 7 tháng), nhiều loài

Amauroderma chỉ tạo thể quả trong vòng 1 ÷ 2 tháng, tạo nên các tán nấm rất bé Chẳng hạn ở A macer và A niger, đường kính tán chỉ đạt từ 0,7 ÷ 2,2cm cuống rất mảnh cỡ 0,3cm, dài 1,6 ÷ 2,8cm Trong khi ở nhiều loài Linh chi cổ không cuống: G applanatum,

G fulvellum,… tán có thể lớn tới 50 ÷ 60cm, dày tới 10cm Đa số các loài (> 80%) tìm

thấy ở các vĩ độ 500 ÷ 1000m, nơi có nhiệt độ tương đối ôn hòa 20 ÷ 28oC, còn ở các vùng thấp số lượng loài ít hơn và có lẽ chúng ưa nhiệt hơn (từ 25 ÷ 35oC)

™ Cũng tương tự khu hệ Linh chi Trung Quốc và vùng Đông Nam Á, ở Việt Nam, số

loài Ganoderma chiếm ưu thế (tới 80%), còn Amauroderma mới biết có 5 loài (< 20%), chi Humphreya chỉ mới có 1 loài, chi Haddowia còn đang được hy vọng tìm thấy nay mai

¾ Ở Việt Nam, thường gặp Linh chi trên các cây Lim (nấm Lim), Phượng vĩ

(Delonix regia), cây so đũa (Sesban ia grandiflora), cây còng (Samanea saman), lim xẹt (Peltophorum pterocarpum) Ngoài ra còn gặp trên nhiều loài cây khác đã chết, mục hoặc

cả trên cây sống: xoài, mít, mãng cầu, phi lao, dừa, liễu đuôi sóc,… Những loài thoạt trông

Trang 18

vượt lên trên mặt đất Ở miền Bắc, dưới tán rừng lim dễ gặp từng vạt nấm Lim, ở rừng Lâm Đồng dưới tán rừng thông cũng dễ gặp Linh chi mọc từng đám

¾ Tính đa dạng của các loài Linh chi ở Việt Nam cũng bộc lộ qua biến dị hình thái thể quả

+ Cuống thể quả biến dị lớn, rất nhiều loài là không cuống (các loài đa niên đều

không cuống): G applanatum, G tornatum, … Các loài có cuống rất phong phú: từ rất

ngắn (0,5cm), rất mảnh (0,2cm) cho đến dài cỡ hàng

5 ÷ 10cm hoặc rất dài: 20 ÷ 25cm, rất to mập (đường kính có thể tới 3,3cm)

+ Tán nấm có biến động rất phong phú Có khi chỉ nhỏ như một chiếc vẩy cá cỡ

0,3cm (Amauroderma macer), có những loài Linh chi cổ (G applanatum,…) có thể quả đồ sộ (tới 60cm) Ngay các chủng Linh chi chuẩn G lucidum, tán nấm cũng dao động từ vài

centimet tới lớn hơn 30cm hình quạt, thận, gần tròn,… với các sắc màu phong phú của lớp vỏ láng như verni

+ Tính đồng nhất và phân hóa cấu trúc bào tử đảm ở họ Ganodermataceae Donk là một đặc trưng lý thú nhất và có tầm quan trọng đặc biệt như đã phân tích, chúng ta cần phải có những nghiên cứu chuyên khảo về các chi cơ bản trên toàn thế giới thuộc họ Linh

chi Ganodermataceae Donk

1.1.3 Lịch sử nghiên cứu nấm Linh chi trên thế giới và tại Việt Nam:

™ Theo Wang, X J (dẫn theo S T Chang, 1993) thì từ đầu thế kỷ 17 (1621), các nấm Linh chi đã được nuôi trồng ở Trung Quốc, chính bởi giá trị dược liệu cao của chúng Đến

1936, GS Dật Kiến Vũ Hưng và KS Trực Tính Hạnh Hùng Thị đã nuôi trồng đại trà

thành công nấm Linh chi Ganoderma lucidum ở Đại học Nông nghiệp Tokyo, Nhật Bản

™ Ở Đài Loan, Peng (1990), Hseu (1992) báo cáo đã sưu tầm, nuôi trồng tới hơn 10

loài Ganoderma khác nhau Song Trung Quốc vẫn được thừa nhận là trung tâm lớn nhất

thế giới về nuôi trồng, sản xuất Linh chi (Zhao et Zhang, 1994) Hàn Quốc cũng chiếm

một thị phần đáng kể, và đặc biệt chú trọng đến loài cổ Linh chi Ganoderma applanatum

Trang 19

với hiệu lực chống khối u cao, do đó các nghiên cứu lai protoplast giữa các loài đang được đẩy mạnh

™ Các nước vùng Đông Nam Á gần đây cũng bắt đầu công nghệ Linh chi Malaysia chú trọng cải tiến các quy trình trồng Linh chi ngắn ngày trên các phế thải giàu chất xơ, thậm chí cho thu hoạch thể quả sau 40 ngày

™ Ở Thái Lan đã có một số trang trại cỡ vừa nuôi trồng G lucidum và G capense (Linh chi sò) Linh chi cũng được nghiên cứu nuôi trồng từ 1929 ở Ấn Độ và phát triển ở qui mô nhỏ, vì rằng người ta vẫn có quan niệm cho là nấm Linh chi chỉ là nấm phá gỗ mạnh (Bakshi et al, 1976)

™ Gần đây do giá trị dược liệu cao của các nấm Linh chi đã được xác định trên các thực nghiệm khoa học, qui mô nuôi trồng công nghiệp đã bắt đầu xuất hiện ở Hoa Kỳ (Allice Chen et al, 1996), và việc thành lập Viện nghiên cứu Linh chi quốc tế ở New York là một bước tiến quan trọng Đáng chú ý là Adaskaveg và Gilbertson (1986),

Nobles ở Canada (1948) nghiên cứu nuôi trồng Linh chi G lucidum và nhiều loài khác,

nhằm đánh giá đặc tính phá gỗ, phân hủy cellulose và vận dụng vào định loại các nhóm

loài, đặc biệt là nhóm G lucidum

™ Ở Việt Nam, Danh y Hải Thượng Lãn Ông - Lê Hữu Trác đã nói về Linh chi từ lâu và Lê Quý Đôn đã chỉ rõ đó là “nguồn sản vật quý hiếm của đất rừng Đại nam” Song

gần đây, loài chuẩn G lucidum mới được nuôi trồng thành công trong phòng thí nghiệm

(1978) và vào thập niên 90, Linh chi mới “bùng nổ” ở TP Hồ Chí Minh (Đỗ Tất Lợi et

al, 1994), sản lượng hàng năm mới đạt khoảng 10 tấn (Cổ Đức Trọng, 1991, 1993) Năm

1994, Phạm Quang Thu đã đưa nấm Lim – một chủng Linh chi đỏ đặc sắc của miền Bắc Việt Nam vào nuôi trồng chủ động Chúng tôi đã sưu tầm và nuôi trồng thành công 11

chủng loài Linh chi thuộc 3 chi: Ganoderma, Amauroderma và Humphreya (Lê Xuân

Thám, 1995, 1996) Các kết quả phân tích hoạt chất và tác dụng dược lý Linh chi Việt Nam là rất có triển vọng

1.1.4 Đặc điểm sinh học cơ bản của nấm Linh chi:

Trang 20

™ Nấm Linh chi đỏ (Xích chi, Đơn chi, Hồng chi) tức là Linh chi chuẩn Ganoderma

lucidum (Leyss ex Fr.) Karst – phiên âm theo tiếng Trung Quốc là Lingzhi, theo tiếng

Nhật là Reishi (hay Mannentake) – hiện nay đã có tới khoảng 10 chủng (xuất xứ từ các vùng địa lý khác nhau) được nuôi trồng khá phổ biến ở Việt Nam

1.1.4.1 Đặc điểm hình thái cấu trúc:

Hình 2: Hình thái cấu trúc giải phẫu nấm Linh chi [19]

a – Đính cuống bên kiểu lồi

b – Đính cuống bên kiểu lõm

c – Đính cuống gần tâm kiểu lõm rốn do liền tán (hiếm)

d – Cấu trúc đỉnh (apex) bào tử đảm và kiểu phân lớp vỏ

e, f – Các vị trí bào tử: Miệng lồi (e), miệng lõm (f)

Context (Mô thịt nấm) Crust cortex

(Vỏ tán nấm)

Hymenium (Bào tầng – Thụ tầng) Stipe (Cuống nấm)

1 cm Aperture – Germpore

(Lỗ nảy mầm)

Tectum cap (Convex) Tectum (Tầng phủ)

a

b

c

Columallae (Tầng cột chống) Sexine (Lớp vỏ ngoài) Nexine (Lớp vỏ trong)

Cavity (Xoang) Porus (Lỗ thủng) Pseudoaperture

d

Trang 21

™ Thể quả có cuống dài hoặc ngắn, thường đính bên, đôi khi trở thành đính gần tâm

do quá trình liền tán mà thành Cuống nấm thường hình trụ, hoặc thanh mảnh (cỡ 0,3 ÷ 0,8cm đường kính), hoặc mập khỏe (tới 2 ÷ 3,5cm đường kính), ít khi phân nhánh, từ 2,7

÷ 22cm, đôi khi có uốn khúc cong quẹo Lớp vỏ cuống láng đỏ – nâu đỏ – nâu đen, bóng, không có lông, phủ suốt trên mặt tán nấm

™ Mũ nấm dạng thận – gần tròn, đôi khi xòe hình quạt hoặc ít nhiều dị dạng Trên mặt mũ có vân gợn đồng tâm, màu sắc từ vàng chanh – vàng nghệ – vàng nâu – vàng cam – đỏ nâu – nâu tím – nâu đen, nhẵn bóng, láng như verni Thường sẫm màu dần khi già, lớp vỏ láng phủ tràn kín mặt trên mũ, đôi khi có lớp phấn ánh xanh tím Kích thước tán biến động từ 2 ÷ 36cm, dày 0,8 ÷ 3,3cm, cuống dài từ 2,5 ÷ 25cm, tròn mập hoặc mảnh (đường kính từ 0,5 ÷ 2,2cm) Phần đính cuống hoặc lồi lên hoặc lõm như lõm rốn Thịt nấm dày từ 0,4 ÷ 2,2cm màu vàng kem – nâu nhợt – trắng kem, phân chia kiểu lớp trên và lớp dưới Nấm mềm dai khi tươi, khi khô chắc cứng và nhẹ, hệ sợi kiểu trimitic, đầu tận cùng lớp sợi phình hình chùy, màng rất dày đan khít vào nhau tạo thành lớp vỏ láng phủ trên mặt trên mũ và bao quanh cuống bởi sự hình thành các chất laccate (tan mạnh trong cồn) Nhờ lớp laccate láng bóng không tan trong nước đó mà nấm chịu được mưa, nắng Ở lớp dưới, hệ sợi tia xuống đều đặn, tiếp giáp vào tầng sinh bào tử

™ Tầng sinh sản (bào tầng, thụ tầng – hymenium) là một lớp ống dày từ

0,2 ÷ 1,8cm màu kem – nâu nhạt, gồm các ống nhỏ thẳng, miệng tròn, màu trắng – vàng chanh nhạt, khoảng 3 ÷ 5 ống/mm Đảm đơn bào (holobasidie) hình trứng – hình chùy, không màu, dài 16 ÷ 22μm, mang bốn đảm bào tử (basidiospores)

¾ Bào tử đảm thường được mô tả có dạng trứng cụt (truncate), đôi khi có tác giả mô tả là dạng hình trứng có đầu chóp tròn – nhọn Thực ra đó là do chụp phủ lỗ nảy mầm (tectum cap) hoặc phồng căng (convex cap – convex germpore), hoặc lõm thụt (concave germpore) vào mà thành

¾ Bào tử đảm có cấu trúc lớp vỏ kép (bitunicate), màu vàng mật ong sáng, chính giữa khối nội chất tụ lại một giọt hình cầu, dạng giọt dầu, kích thước bào tử dao động ít

Trang 22

nhiều (8 ÷ 11,5) x (6 ÷ 7,7)μm Vỏ bào tử (sporederma) khá dày, cỡ 0,7 ÷ 1,2μm có cấu trúc phức tạp

1.1.4.2 Đặc điểm sinh thái và phân bố Linh chi ở Việt Nam:

™ Nấm Linh chi có thể mọc trên cây gỗ (thường là thuộc bộ đậu Fabales) sống hay đã chết Thể quả gặp rộ vào mùa mưa (từ tháng 5 đến tháng 11 dương lịch), có thể ở trên thân cây (cuống thường ngắn, tai nấm nhỏ), quanh gốc cây hoặc từ các rễ cây (nổi hoặc ngầm gần mặt đất), khi ấy cuống nấm thường dài, và có thể phân nhánh và đôi khi tán nấm rất lớn (có thể xấp xỉ 30cm) Nấm thường mọc tốt dưới bóng rợp, ánh sáng khuếch tán nhẹ Do có lớp vỏ láng đỏ, không thấm nước, Linh chi có thể chịu nắng rọi – khi ấy thường xuất hiện lớp phấn ánh xanh tím và có thể chịu được mưa nhiều

™ Ở những vùng thấp (< 500m) có lẽ ưu thế là các chủng chịu nhiệt độ cao (28oC ÷

35oC) như ở vùng châu thổ sông Hồng và đồi núi trung du Bắc Việt Nam và vùng đồng bằng sông Cửu Long Ở các vùng đồi vĩ độ cao (> 1000m) thường có các chủng ôn hòa, thích hợp nhiệt độ thấp hơn (20oC ÷ 26oC) như vùng Đà Lạt, Sapa, Tam Đảo, Tây

Nguyên … ở nước ta

1.1.5 Một vài phương pháp nuôi trồng nấm Linh chi: [14, 18, 19]

™ Hiện nay, hai công nghệ chính được áp dụng phổ biến là: trồng trên gỗ khúc và trồng trên cơ chất hỗn hợp Bên cạnh đó, biện pháp phủ đất cũng thường được khuyến cáo

™ Ngoài ra, công nghệ nuôi cấy chìm hệ sợi thu sinh khối cũng được thử nghiệm ở nhiều nơi, song chất lượng vẫn còn chưa được thuyết phục Do vậy, nuôi trồng thu thể quả vẫn giữ vai trò chủ đạo

Sau đây xin giới thiệu quy trình trồng Linh chi đã phổ biến ở nhiều nước và đã áp dụng ở Việt Nam:

Trang 23

Sơ đồ quy trình trồng Linh chi ở Đà Lạt [18]

Mẫu nấm tươi Sưu tập mẫu nấm

Phối trộn,

nhồi cơ chất,

khử trùng Giống gốc

Cấy giống Giống sản xuất

Bảo quản lạnh

6oC ÷ 9oC 26oỦ tối C ± 2oC

Pha sợi hoàn chỉnh

Hạ nhiệt, tăng ánh sáng, tưới tạo độ ẩm cao

Trang 24

1.1.5.1 Quy trình nuôi trồng trên gỗ khúc:

Cây gỗ chặt hạ, bỏ cành, nhánh, cưa thành khúc 80 ÷ 120cm, mặt cắt quét vôi, chất đống ủ khoảng 1 tháng Sau đó tiến hành các bước sau:

™ Cấy giống: Dùng búa hoặc khoan đột những hàng lỗ so le, đường kính

1 ÷ 1,5cm dọc theo khúc gỗ, cách nhau 5cm, sâu 3 ÷ 5cm Sau đó gieo meo giống cho đầy lỗ cấy và đậy lại bằng chính miếng gỗ đục từ lõi ra Dán giấy parafin hoặc nhỏ sáp lên bao bọc kín lỗ cấy Tiếp theo là thao tác đột lỗ cấy và gieo meo giống, công việc này nên làm kế tiếp nhau và nhanh để tránh nhiễm tạp

™ Nuôi ủ gỗ: Sau khi gieo meo giống, gỗ được ủ ở điều kiện độ ẩm 75 ÷ 85%, nhiệt độ khoảng 25 ÷ 30oC Trong thời gian 15 ÷ 20 ngày, mật độ lan tỏa của sợi nấm được kiểm tra và chuyển sang ủ trong đất với cát Sau đó sợi nấm được tưới phun giữ ẩm trong khoảng 30 ngày

™ Vùi đất: Các khúc gỗ được cưa thành đoạn 15 ÷ 20cm (có thể kiểm tra thấy hệ sợi nấm đã lan trắng mặt gỗ) và vùi cắm chúng xuống nền đất đã làm kỹ và khử trùng diệt mối mọt, sâu bọ,… Bên trên làm thành mái vòm che mưa nắng và ánh sáng chiếu trực tiếp Người ta thường vùi các khúc gỗ để nhô lên cỡ 5 ÷ 7cm và tưới phun sương giữ ẩm độ không khí 80 ÷ 95% Sau 15 ÷ 20 ngày sẽ xuất hiện mầm thể quả Từ giai đoạn này, nấm rất hay bị sâu, mối, ốc sên,… ăn phá, nên cần chăm sóc cẩn thận Tai nấm sẽ phát triển, sau 50 ÷ 60 ngày thì trưởng thành, xuất hiện bào tử bụi và lớp vỏ láng đã lan sát mép tán nấm

™ Thu hoạch: Sau khi nấm đã trưởng thành thì tiến hành thu hoạch, các tán nấm được hái và đem phơi, sấy ở nhiệt độ ấm (40 ÷ 45oC) trong 2 ÷ 3 ngày Nấm sau khi sấy được đóng gói bảo quản trong túi PE Theo quy trình này thì từ lúc gieo meo giống cho tới khi thu hoạch đợt 1, có thể từ 4 ÷ 5 tháng Nếu nấm được chăm sóc tốt, có thể sau 2 ÷ 2,5 tháng lại cho thu hoạch tiếp đợt sau và có thể cho thu hái trong vòng 3 năm

1.1.5.2 Quy trình nuôi trồng trên giá thể tổng hợp:

Trang 25

™ Phối trộn cơ chất: Tận dụng mùn cưa các loại, nhưng tránh mùn cưa mủn mốc Tỷ lệ mùn cưa khô nên đạt 30 ÷ 60%, phần còn lại dùng rơm rạ băm nhỏ, trấu, bã trà khô, vỏ hạt bông, vỏ quả đậu phộng, cành thân cây nhỏ … Xử lý hỗn hợp cơ chất này với nước vôi 1,5% Nguồn dinh dưỡng bổ sung quan trọng là các loại cám ngũ cốc, tỷ lệ nên phối trộn khoảng 15 ÷ 20% Nên cho thêm (NH4)2SO4 (0,5%), superphosphate (1 ÷ 1,5%) và

MgSO4.7H2O (0,05%) Độ ẩm sau cùng đạt 65 ÷ 70%

™ Khử trùng giá thể: Sau khi đã nhồi cơ chất tổng hợp vào túi PP hay chai PP với lượng khoảng 0,5 ÷ 1,5kg, tiến hành hấp khử trùng giá thể Khử trùng kỹ 3 lần, mỗi lần

45 phút trong nồi Autoclave, sau đó lấy giá thể ra để nguội

™ Cấy giống: Cấy giống vào giữa khối cơ chất (khoảng 3 ÷ 5% khối lượng giống so với cơ chất) và nuôi ủ trong buồng tối, ở 25 ÷ 30oC, sau 25 ÷ 35 ngày hệ sợi sẽ lan hầu khắp giá thể

™ Tưới đón nấm: Hệ sợi bắt đầu bện kết sau 25 ÷ 30 ngày Tại thời điểm này, cần chuyển túi (chai) vào nhà trồng có ánh sáng khuếch tán nhẹ, nhiệt độ hạ thấp 21oC ± 3oC Có thể vùi đất hoặc treo, xếp trên giàn kệ, mở nút túi cho mầm nấm vươn ra dễ dàng Duy trì độ ẩm phòng nuôi cấy ở 80 ÷ 90% và thông thoáng phòng nuôi cho tán nấm xòe lớn, hình tai quạt chuẩn, ít bị dị dạng Theo quy trình này, tán nấm sẽ thành thục trong khoảng 35 ÷ 45 ngày kể từ khi cấy giống Mỗi túi (chai) thường chỉ cho một tán lớn, khoảng 20g (với 350 ÷ 500g cơ chất)

™ Thu hoạch: Tương tự như trường hợp nuôi trồng trên gỗ khúc

Trang 26

1.1.6 Thành phần hóa dược cơ bản của nấm Linh chi: [8, 18, 19]

™ Số lượng các chủng loài nấm Linh chi được sử dụng trong công nghệ dược liệu, dược phẩm ngày càng tăng ở các quốc gia Á Đông Khái niệm Lục bảo Linh chi từ thời Lý Thời Trân (1495) có lẽ phải bao hàm hàng chục loài khác nhau Cho nên, không phải ngẫu nhiên mà ở Trung Quốc có khá nhiều

cơ sở tầm cỡ nghiên cứu và sản xuất Linh chi (đặc biệt là ở Phúc Kiến và Tứ Xuyên)

™ Với các phương pháp cổ điển trước đây người ta đã phân tích các thành phần hóa học tổng quát của Linh chi, cho thấy:

Bảng 1: Thành phần hóa học chủ yếu trong nấm Linh Chi [8, 18]

STT Thành phần Hàm lượng (%)

5 Chất béo (kể cả dạng xà phòng hóa) 1,9 ÷ 2,0

7 Hợp chất sterol toàn phần 0,11 ÷ 0,16

1.1.6.1 Cellulose: [13]

™ Cellulose là thành phần chính của tế bào thực vật Cellulose là một phân tử gồm các đơn vị glucose nhưng khác tinh bột ở chỗ dây nối giữa các đơn vị glucose là β - 1, 4 Khi thủy phân không hoàn toàn thì trong sản phẩm thủy phân có cellotetraose, cellotriose, cellobiose và khi thủy phân hoàn toàn thì có glucose Số lượng đơn vị glucose dao động từ 3000 đến 10000

Trang 27

™ Các phân tử cellulose kết hợp với nhau tạo thành micelle, tức là bó sợi có chiều dài 50 ÷ 100 Å Các micelle lại tạo thành bó microfibril với đường kính khoảng 250 Å có thể thấy được bằng kính hiển vi điện tử Fibril tạo thành từ các microfibril có đường kính 2000 Å và có thể quan sát được bằng kính hiển vi thường Các sợi cellulose chính là các fibril Các phân tử glucose trong các micelle nhờ có rất nhiều liên kết hydro nên tạo được dạng bền chắc

™ Cellulose không tan được trong nước và dung môi hữu cơ nhưng tan được trong dung dịch kẽm clorua đậm đặc

1.1.6.2 Lignin: [16]

™ Cùng với cellulose, lignin là một trong những hợp phần chính có tính bền cao, khá rắn chắc trong chống đỡ và bảo vệ Mô cứng và xylem là những mô lignin hóa

™ Trong mô gỗ sơ cấp, lignin có rất ít Tuy nhiên, lignin lại có rất nhiều trong mô cứng và trong một số mạch gỗ với trung bình là 25 ÷ 35% lignin và 50% cellulose Đó là một phức hợp dễ biến đổi

™ Lignin được nhuộm màu vàng đặc trưng với sulphat hoặc chlorua anilin và có màu đỏ với acid chlohydric

1.6.1.3 Sterol: [22]

Sterol có trong mỡ động vật và dầu thực vật Sterol tồn tại dạng tự do hoặc dạng este với các acid béo cao Trong thiên nhiên, các sterol tự do và các hợp chất tương tự sterol chiếm nhiều hơn so với sterit Các sterol là những chất rượu chưa no đơn chức, có vòng Đó là những dẫn xuất của steran (hay còn gọi là xiclopentanoperhydrophenantren)

Trang 28

a Lý tính:

Các sterol đều không màu, dễ kết tinh nhưng dạng tinh thể và nhiệt độ nóng chảy của chúng khác nhau Sterol không tan trong nước nhưng hòa tan dễ dàng trong các dung môi thông thường của chất béo (cloroform, ether, …) và trong rượu nóng Sterol là những chất hoạt quang Khi chưng cất ở áp suất khí quyển sterol bị phân hủy, nhưng ở trong chân không thì không bị phân hủy và phần nào được kéo theo với hơi nước quá nhiệt khi khử mùi chất béo trong chân không

1.1.6.4 Các nguyên tố khoáng: [18, 19, 33]

Cho đến nay, tư liệu về thành phần các nguyên tố khoáng trong nấm Linh chi vẫn còn rất nghèo nàn Vì hầu hết các nhà nghiên cứu đều tập trung vào thành phần hóa sinh học, nhất là thành phần hàm lượng các phức hệ hoạt chất hữu cơ có hoạt tính dược lý Thành phần các nguyên tố khoáng trong nấm Linh chi chịu ảnh hưởng rất lớn bởi nguồn cơ chất sử dụng trong nuôi trồng

Do nấm Linh chi thu hút dưỡng chất từ cơ chất để tạo nên sinh khối Những năm gần đây, khoa học kỹ thuật đã có những bước đột phá mới, nên một số kỹ thuật hiện đại đã được ứng dụng trong nghiên cứu thành phần khoáng chất trong nấm Linh chi Có thể kể một vài phương pháp như: quang phổ phát xạ nguyên tử kết hợp plasma, phương pháp phân tích bằng kích hoạt neutron trên lò phản ứng hạt nhân…

Trang 29

Bảng 2: Thành phần nguyên tố khoáng trong nấm Linh chi Đà Lạt [18]

STT Nguyên tố Hàm lượng (ppm) STT Nguyên tố Hàm lượng (ppm)

do nấm Linh chi nuôi trồng được tưới phun sương bằng nước máy thành phố (khử trùng bằng Cl), nên dễ dàng tích tụ nhiều Cl Hàm lượng Fe trong nước máy cũng cao, cùng với lượng Fe trong cơ chất, góp phần tạo nên tỷ lệ lớn nhất của Fe trong số các nguyên tố vi lượng Từ năm 1976, các nhà khoa học

Trang 30

mặt của rất nhiều nguyên tố khoáng trong nấm Linh chi như: Ag, Bi, Br, Cu,

Fe, Sn, Mn, Na, W, Zn, … và cho rằng chúng có vai trò sinh – dược lý nhất định Ngoài ra, năm 1988, Mizuno cũng tìm thêm được ba nguyên tố: Mo, B và Ge Trong đó, Mo chỉ là mức vết (từ nhỏ hơn 0,01 đến 0,2ppm), Bo thì nhiều hơn (0,3 ÷ 11ppm và tập trung trong khoảng 3 ÷ 6ppm) Riêng Ge thì cực ít, chỉ có cỡ 10 ÷ 60ppb Hàng loạt các nguyên tố đất hiếm (rare earth elements) cũng được phát hiện, định lượng tinh vi, như: Ce, Cu, Gd, La, Lu,

Nd, Sb, Sm,… Mặc dù vai trò sinh lý học của chúng còn chưa rõ ràng, nhưng gần đây đã có một số thực nghiệm chỉ ra hoạt tính kháng khuẩn của La – aspartate, hoạt tính chống tế bào u của phức chất Ce và Gd Bên cạnh đó, hàng loạt các vi khoáng khác cũng được tìm thấy, tuy chỉ ở mức vết, như: Au,

Ba, Co, Cr, I, Se, Sr, V,… Chúng có tầm quan trọng sinh – dược lý nhất định Các nguyên tố độc và kim loại nặng cũng được tìm thấy: As, Cd, Hg, Pb, Th,… nhưng hàm lượng của chúng rất thấp

(< 1ppm, riêng Pb: 3 ÷ 5ppm), nên chưa có ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng dược liệu của nấm Linh chi

1.1.6.5 Các acid amin: [18, 19, 34]

Acid amin là những hợp chất hữu cơ mạch thẳng hoặc mạch vòng trong phân tử có chứa ít nhất một nhóm amin (- NH2) và một nhóm cacboxyl (- COOH) Các acid amin thường gặp trong các protein (trong tự nhiên) là những L - α - acid amin có nhóm amin đính vào nguyên tử cacbon α đứng cạnh nhóm cacboxyl

Theo tài liệu của Nhật (Takashi Miruno, 1985), thành phần các acid amin

trong Glycoprotein chiết xuất từ Ganoderma lucidum như sau:

Trang 31

Bảng 3: Thành phần các acid amin trong Glycoprotein

chiết xuất từ Ganoderma lucidum [18]

Acid amin

μMo

Arg 29 10,5 Thr 11 4,0 Ser 18 6,6 Glu 27 9,8 Gly 34 12,4 Ala 32 11,6 Val 7 2,5 Met 5 1,8 Ile 3 1,1 Leu 17 6,2 Tyr 7 2,5 Phe 49 17,9 Lys 17 6,2 His 19 6,9

Tổng

Từ những năm 1980 đến nay, các phương pháp nghiên cứu hiện đại như: phổ kế tử ngoại (UV), hồng ngoại (IR), phổ kế khối lượng – sắc ký khí (GC–MS), phổ kế cộng hưởng từ hạt nhân (NMR) và đặc biệt là kỹ thuật sắc ký lỏng cao áp (HPLC) và phổ kế plasma (ICP), đã xác định chính xác gần 100 hoạt chất và dẫn xuất trong nấm Linh chi

Điều đáng lưu ý là các nhóm hoạt chất chính gặp khá phổ biến ở nhiều loài Ganoderma Karst và cả ở các loài Amauroderma, như luận điểm về tính thống nhất của họ

Ganodermataceae Donk về phương diện hóa sinh học (Lê Xuân Thám, Đàm Nhận,

1994)

Trang 32

Bảng 4: Thành phần hoạt chất cơ bản ở nấm Linh chi [18]

Hoạt chất Nhóm Hoạt tính dược lý

Adenosine dẫn xuất Nucleotid Ức chế kết dính tiểu cầu, thư giãn

cơ, giảm đau

Lingzhi – 8 Protein Chống dị ứng phổ rộng, điều hòa

miễn dịch

Lanosporeric acid A Steroid Ức chế sinh tổng hợp cholesterol Lanosterol Steroid Ức chế sinh tổng hợp cholesterol

II, III, IV, V Steroid Ức chế sinh tổng hợp cholesterol Ganoderans A, B, C Polysaccharid Hạ đường huyết

β – D – Glucan Polysaccharid Chống ung thư, tăng tính miễn

dịch

BN – 3B: 1, 2, 3 Polysaccharid

D – 6 Polysaccharid Tăng tổng hợp protein, tăng

chuyển hóa acid nucleic

Ganoderic acid R, S Triterpenoid Ức chế giải phóng histamin

Ganoderic acid B, D,

F, H, K, Y Triterpenoid Hạ huyết áp, ức chế ACE

Ganoderic acid Triterpenoid Ức chế sinh tổng hợp cholesterol Ganodermadiol Triterpenoid Hạ huyết áp, ức chế ACE

Ganodermic acid M, F Triterpenoid Ức chế sinh tổng hợp cholesterol Ganodermic acid T, O Triterpenoid Ức chế sinh tổng hợp cholesterol Lucidone A Triterpenoid Bảo vệ gan

Hoạt chất Nhóm Hoạt tính dược lý

Trang 33

Lucidenol Triterpenoid Bảo vệ gan

Ganosporelacton A Triterpenoid Chống khối u

Ganosporelacton B Triterpenoid Chống khối u

Dẫn xuất acid oleic Acid béo Ức chế giải phóng histamin

™ Chú thích:

ACE (Angiotension Converting Enzym): enzym có tác dụng làm tăng huyết áp Histamin: có tác động làm giãn và tăng tính thấm của mao mạch, tăng nhịp tim và tăng co bóp cơ tim, giảm co thắt cơ trơn và gây ngạt thở (ở người hen suyễn), giảm kích thích thần kinh, gây đau ngứa, gây giãn mạch, nhức đầu, ức chế hiện tượng thực bào của bạch cầu trung tính

∗∗∗ : Hợp chất thuộc nhóm Alkaloid chưa được định danh

∗∗∗∗ : Hợp chất thuộc nhóm Polysaccharid chưa được định danh

™ Nhóm có bản chất protein nổi bật với Lingzhi – 8 do các nhà khoa học Nhật Bản

tìm ra (Kino K et al 1989, 1991…), được chứng minh là một tác nhân chống dị ứng phổ rộng và điều hòa miễn dịch rất hữu hiệu, đồng thời duy trì tạo kháng thể chống các kháng nguyên viêm gan B

™ Nhóm nucleosid, nổi bật trong Ganoderma lucidum và Ganoderma capense có các dẫn xuất của adenozin với tác dụng thư giãn cơ, giảm đau và ức chế sự dính kết tiểu cầu

™ Nhóm alkaloid, mặc dù có tác dụng trợ tim, nhưng chưa được nghiên cứu nhiều

™ Nhóm steroid khá phong phú ở nấm Linh chi với tác dụng chủ đạo ức chế sinh tổng

hợp cholesterol Đặc biệt từ bào tử đảm Ganoderma lucidum ngoài 2 lacton A, B còn có 5

hợp chất sterol đã được Chen – Ry và Yu 1991 xác định chính xác công thức phân tử:

¾ 3, 7, 11, 12, 15, 23 – hexaoxo – 5 α – lanosta – 8 – en – oic acid (I)

¾ 3 β, 7 β – dihydroxy – 11, 15, 23 trioxo – 5 α – lanosta – 8 – en – 26 oic acid (II)

¾ 7 β – hydroxy – 11, 15, 23 – pentaoxo – 5 α – lanosta – 8 – en – 26 – oic acid (III)

¾ 3, 7, 11, 15, 23 – pentaoxo – 5 α – α – lanosta 8 – 26 – oic acid (IV)

¾ 24, 25, 26 – trihydroxy – 5 α – lanosta – 7, 9 (11) – dien – 3 – one (V)

Trang 34

Trong đó, hợp chất đầu (I) là một chất mới tìm thấy được đặt tên là Ganosporeric A,

còn 4 chất sau được thu nhận đầu tiên từ bào tử Ganoderma lucidum

™ Các hợp chất Lanostanoid có cấu trúc kiểu triterpen được phát hiện ngày một nhiều, năm 1986, Arisawa, M et al xác định cấu trúc 3 hợp chất mới:

5 α - lanosta – 7, 9 (11), 24 – trien – 3 β, 26, 27 – triol

™ Nhóm các ester với các acid béo không no linoleic được ghi nhận vào năm 1991 có hoạt tính chống ung thư với công trình của Lin, C.N et al Đó là 2 ergosterol mới:

¾ Steryl ester 1:

Egosta – 7, 22 – dien – 3 β – yl – linoleate

¾ Steryl ester 2:

5 α, 8 α – epidioxyergosta – 6, 22 dien – 3 β – yl – linoleate

Đồng thời các tác giả còn tìm ra một lanostanoid và steroid mới cũng có tác dụng ức chế các tế bào ung thư

™ Nhóm Polysaccharid: cũng rất phong phú ở các nấm Linh chi và có phổ hoạt lực mạnh

¾ He Y et al (1992) đã khảo cứu các BN3B – gồm 4 polysaccharid đồng nhất có hoạt tính tăng miễn dịch Trong đó BN3B1 được xác định là glucan (chỉ chứa glucose) và BN3B3 là một arabinogalactan mang các liên kết glycosid

¾ Hikino H et al từ 1985 – 1989 chứng minh hoạt lực hạ đường huyết của nhiều polysaccharide Đó là các heteroglycan có các hoạt tính chống ung thư, các ganoderan B có tác dụng làm tăng mức insulin huyết tương và đó là cơ sở trị liệu trên các bệnh nhân tiểu đường

Trang 35

¾ Đặc biệt các phức hợp polysaccharid – protein có hoạt tính chống khối u và tăng miễn dịch, đã được nêu ra từ lâu (Ukai, S et al, 1983) Byong kak Kim (1992, 1994) et al

còn tiến hành lai hệ sợi bằng dung hợp protoplast giữa Linh chi chuẩn Ganoderma

lucidum với các loài khác: Ganoderma applanatum… thậm chí với cả nấm hương Lentinus edodes, nhờ đó tăng cường hoạt tính chống khối u sarcoma 180 của các phức

polysaccharide – protein lên đáng kể Gần đây tác dụng tăng sinh tổng hợp IL – 2

(Interleukine – 2) và hoạt tính DNA polymerase ở chuột già tuổi bởi polysaccharid đã soi sáng thêm khả năng chống lão hóa, tăng tuổi thọ bởi các nấm Linh chi (Lei, L S và Lin,

Z B 1993)

¾ Loạt nghiên cứu về polysaccharid không tan trong nước của các tác giả Nhật Bản (Sone, Y et al, 1985; Takashi, M et al 1985) và Trung Quốc (Cheng, H H et al 1982 Liu, G T et al, 1993,…) đã chứng tỏ hiệu lực chống khối u rất rõ, thậm chí làm tan khối u

ở các loài Ganoderma applanatum và Ganoderma lucidum

¾ Gần đây Lin Zhibin và Lei Lin sheng (1994) đã xác định trọng lượng phân tử của

polysaccharid từ Ganoderma lucidum cho kết quả: 7100 ÷ 9300 Những tổng kết xác đáng

về vai trò sinh – dược học của nhóm hoạt chất này đã được R Chang (1994) giới thiệu tại Hội thảo Bắc Kinh với các báo cáo thực nghiệm của tác giả Đài Loan, Trung Quốc và Hoa Kỳ

™ Mặc dù còn ít được nghiên cứu, song các alkaloide ở Ganoderma capence (Lloyd) Teng rất đáng chú ý Chúng là các pyrroles đặc biệt (Yang, J J và Yu, DQ 1990); (Yu, J G., et al 1990)

Trang 36

Từ đó đã tổng hợp các alkaloid tương tự các mẫu tự nhiên có hiệu quả chống viêm (1A và 1B):

¾ 1A:

1 – isopentyl 1 – 2 – formyl – 5 – hydroxymethylpyrrole

¾ 1B:

1 – phenylethyl 1 – 2 formyl – 5 – hydroxymethylpyrrole

™ Nhóm saponin – triterpenoids – các acid ganoderic được xem là nhóm hoạt chất đa dạng và có tác dụng dược lý mạnh nhất trong số các thành phần của nấm Linh chi Lần đầu tiên Nishitoba et al (1984 – 1987) chứng minh các ganoderic acid C là mới trong tự nhiên, sau đó Morigiwa et al 1986, tìm ra thêm ganoderic acid B Chúng thể hiện hoạt lực ức chế giải phóng histamin, ức chế Angiotensine Conversion enzyme (ACE), ức chế sinh tổng hợp cholesterol và hạ huyết áp Ngoài lucideric acid (lucidone) do Kohda et al (1985) tìm ra, còn có dẫn xuất lucidenol được Su, C H et al (1993) chứng minh là mới hoàn toàn, các hoạt chất này đều có tác dụng bảo vệ gan Điều lý thú là từng triterpenoid tinh khiết riêng rẽ thể hiện hoạt lực thấp hơn khi dùng tổ hợp các đồng phân của chúng

Vì vậy dễ hiểu người ta thường dùng dịch chiết toàn bộ từ nấm Linh chi

1.1.7 Các nghiên cứu về dược tính của nấm Linh chi: [8, 18, 28, 31, 39, 49]

Linh chi được dùng như một thượng dược từ khoảng 4000 năm nay ở Trung Quốc Chưa thấy có tư liệu về tác dụng xấu, độc tính của Linh chi Cách đây hơn 500 năm, nhà

y dược nổi tiếng của Trung Quốc Lý Thời Trân đã phân ra các nhóm Linh chi chính và khái quát tác dụng trị liệu của chúng

Bảng 5: Tác dụng trị liệu của các loại nấm Linh chi [18]

Tên gọi Màu sắc Đặc tính dược lý

Thanh chi (Long chi) Xanh Vị chua, tính bình, không độc, chủ trị sáng mắt, bổ gan khí an thần, tăng trí

nhớ

Hồng chi (Xích chi,

Vị đắng, tính bình, không độc, tăng trí nhớ, dưỡng tim, bổ trung, chữa trị tức ngực

Trang 37

Hoàng chi (Kim chi) Vàng Vị ngọt, tính bình, không độc, an thần, ích tì khí

Bạch chi (Ngọc chi) Trắng Vị cay, tính bình, không độc, ích phổi, thông mũi, an thần, chữa ho nghịch hơi

Hắc chi (Huyền chi) Đen Vị mặn, tính bình, không độc, trị chứng

bí tiểu, ích thận khí

Tử chi Tím Vị ngọt, tính ôn, không độc, trị đau nhức khớp xương, gân cốt

™ Ngày nay, người ta đã và đang nghiên cứu các tác dụng trị liệu cơ bản của các nấm Linh chi và nhận thấy chúng có các tác dụng đối với các bệnh sau:

¾ Bệnh nhược cơ: Đến thời điểm năm 1988, tại Nhật Bản đã có tới 300 bệnh nhân

bị nhược cơ được điều trị thành công bằng Linh chi, theo biện pháp trị bệnh trên nguyên tắc điều hòa miễn dịch Điểm đáng chú ý ở đây là không nảy sinh một tác dụng phụ nào [8, 49]

¾ Bệnh gan và bệnh tiết niệu: hai bệnh này cũng được điều trị khả quan bằng chế

phẩm từ Linh chi Bệnh viện ở Sơn Đông – Trung Quốc dùng một loại “soup” Linh chi để giải độc và bổ gan có kết quả tốt (> 90%) cho 70000 ca, trong đó có 879 ca đang được

trị liệu chuyên biệt Tác giả còn cho rằng các nấm Linh chi bóng (Glossy Ganoderma)

đều tác dụng tốt lên tiết niệu, điều hòa rối loạn tuần hoàn não, tránh các cơn nguy kịch phát nghẽn mạch và làm dịu thần kinh Với thành công trên 319 bệnh nhân và các kết quả nghiên cứu tác giả đã được tặng thưởng huân chương hạng hai [49]

¾ Bệnh tim mạch: Vấn đề bệnh tim mạch ngày càng trầm trọng trong thế giới hiện

đại, tràn ngập các loại stress và tình trạng ô nhiễm môi sinh Do vậy người ta lại tìm đến với Linh chi, mặc dù không nên coi Linh chi là thuốc vạn năng – trị bá bệnh và cũng không nên để bệnh quá nặng mới tìm đến thuốc Kết quả thông báo mới đây của nhóm Wang chi et al (1944) trên 35 bệnh nhân bị bệnh mạch vành tim, tỏ ra triển vọng với tỷ lệ tiến triển tốt tới trên 85,7% [49]

Trang 38

¾ Bệnh cao huyết áp và xơ vữa động mạch: Hàng loạt các hoạt chất của Linh chi

được chứng tỏ có tác dụng kìm hãm sinh tổng hợp cholesterol cũng củng cố cho kết quả trị liệu các bệnh nhân cao huyết áp và xơ vữa động mạch Thực nghiệm ở Việt Nam trên chuột cho thấy hiệu quả giảm tới 50% lượng cholesterol khi áp dụng liều lượng 0,4g/kg thể trọng trong 30 ngày Từ đó xác định kết quả trị liệu trên bệnh nhân Sau một vài tuần, bệnh nhân có chuyển biến tốt, huyết áp ổn định dần, các cơn cao huyết áp nếu có tái phát cũng nhẹ hơn, ngắn hơn, thưa hơn Dùng thuốc hạ huyết áp kinh điển kết hợp với Linh chi, tác dụng điều chỉnh huyết áp tăng rõ rệt, hạn chế các tác dụng phụ của tây dược [49]

¾ Bệnh ung thư: Hiệu quả chống ung thư của các nấm Linh chi đã được chứng

minh từ lâu Trên các bệnh nhân ung thư phổi, ung thư vú và ung thư dạ dày, các phương pháp xạ trị, hóa trị và phẫu trị được kết hợp với trị liệu nấm Kết quả là thời gian sống được kéo dài, tỷ lệ người sống trên 5 năm cao hơn nhóm không dùng nấm Tại Trung tâm điều trị ung thư ở Tokyo, phương pháp trị liệu Linh chi kết hợp xạ trị cho kết quả tốt với các bệnh nhân ung thư cổ tử cung Đối với loại ung thư này, nhiều thông tin ở Đài Loan cho biết nếu dùng Linh chi trồng trên gỗ long não cho kết quả rất tốt – khối u tiêu biến hoàn toàn Các tế bào sarcoma 180 bị ức chế mạnh khi xử lý bởi phức polysaccharid không tan trong nước Hiệu lực cũng thể hiện rõ với các tế bào ung thư khoang miệng và ung thư gan, đặc biệt khi kết hợp với taxol từ cây thông đỏ Khởi đầu từ 1977, ở Nhật, các

nhà nghiên cứu đã thăm dò tác dụng của một số nấm (như Coriolus versicolor, Ganoderma – L.Z, Lentinus Edodes – nấm đông cô,…) khi dùng kết hợp với các trị liệu

chống ung thư cổ điển của Tây y, đặc biệt trong bệnh ung thư vú và ung thư phổi Sau những kết quả khả quan ban đầu, phương pháp điều trị nói trên đã được áp dụng cho những trường hợp ung thư dạ dày đã tiến triển nặng, đã được phẫu thuật và dùng hóa dược liệu nấm [8, 18, 49]

¾ Bệnh AIDS: Trong tình hình nhiễm HIV ngày càng gia tăng ở nước ta, Linh chi

có thể được đưa vào các phác đồ điều trị tạm thời, nhằm nâng đỡ thể trạng miễn dịch cho bệnh nhân Hiện nay ở Hoa Kỳ, FDA chỉ chấp thuận cho dùng ba loại thuốc để chữa bệnh AIDS: chất AZT (Azidothymidine), DDI (Dideoxyinosine) và DDC

Trang 39

(Dideoxycitidien) Ngoài vấn đề giá cả, AZT thường gây những tác dụng phụ nặng nề Từ thực tế này, một nhóm nghiên cứu của Nhật Bản – nhóm Yamaguchi – đã thử dùng một trị liệu chiết xuất từ nấm, kết hợp với AZT để chữa bệnh AIDS, và nhận thấy trị liệu nấm tăng cường rõ rệt tác dụng của AZT Sau sự kiện này, FDA chấp thuận cho thử nghiệm lâm sàng phương pháp dùng trị liệu nấm để chữa bệnh AIDS Trong các loại nấm, bệnh viện “The Quan Yin Clinic” ở San Francisco đã dùng Linh chi để chữa cho bệnh nhân nhiễm HIV từ hơn hai năm nay Những kết quả tích cực bước đầu đã được thông báo trong Hội nghị Trung Quốc năm 1987 Ở Trung Quốc đã kiểm tra hiệu quả đối kháng của chế phẩm từ Linh chi (chủ yếu Polysaccharid – protein) với morphine trên các đại thực bào, trên hoạt tính hệ Interleukine 1 và 2 các tế bào T,… Nhờ đó tăng cường khả năng miễn dịch của cơ thể nói chung (Lu Zheng Wu và Lin Zhi Bin, 1994) - đặc biệt có hiệu quả trong việc chống suy thoái miễn dịch bởi các loại ma túy chứa morphin [8, 49]

1.1.8 Một số dạng chế phẩm sản xuất từ nấm Linh chi: [8]

1.1.8.1 Dạng cao:

Linh chi thái lát, ngâm ngập nước 1 ÷ 2 giờ Nấu sôi trong 1 giờ, gạn lấy nước và cho nước mới vào Tiếp tục đun và gạn lấy nước 2 (có thể thêm nước và nấu lần 3) Nước chiết đổ chung và lọc kỹ Cô đặc dịch lọc, gạn bỏ tạp chất nổi trên Cho đường khuấy đều, để sôi thêm 10 phút Thường 10g Linh chi sẽ thu được 100ml nước chiết cuối cùng Nước chiết này rất đắng nên cần bổ sung đường hoặc mật ong cho dễ uống Đường cho vào tùy khẩu vị mỗi người thích ngọt hay lạt, nhưng khoảng 60g là vừa Trung bình một ngày uống từ 60 ÷ 90ml, chia làm 2 hoặc 3 lần Cao Linh chi có tác dụng cải thiện giấc ngủ, tăng sức đề kháng của cơ thể, chữa được một số bệnh mãn tính (viêm phế quản…) 1.1.8.2 Dạng phối hợp:

Linh chi có thể dùng phối hợp với một vài vị thuốc khác để tăng cường tác dụng như: hà thủ ô, thường kỳ tứ, nữ trinh tứ, ngăn nhị Các dược liệu này được nấu riêng và cho vào Linh chi Sau đó thêm đường hoặc mật ong để dễ uống Mỗi lần dùng 20 ÷ 25ml, ngày 2 hoặc 3 lần Có thể dùng một lần trước khi ngủ và liên tục 2 tuần Thuốc có tác dụng an

Trang 40

1.1.8.3 Dạng cốm:

Thành phần sử dụng gồm: Linh chi, đường và chất dính Linh chi xay thành bột, cho vào túi vải ngâm một ngày với cồn 95%, sau đó là cồn 75% và cuối cùng bằng cồn 50% Tiếp theo dùng máy nén để tách hết cồn trong bã nấm Xác nấm được nấu 2 lần với nước, mỗi lần để sôi 1 giờ Cô đặc dịch chiết thành cao lỏng, thêm đường và chất dính (như tinh bột), trộn đều Ép qua rây số 10, sấy khô ở 50 ÷ 60oC, rây lại bằng rây số 12 ÷ 14 và đóng gói Thường một gói tương đương 5g nấm Dùng nước sôi pha uống, mỗi ngày hai lần nửa gói Thuốc có tác dụng chữa trị suy nhược thần kinh

1.1.8.4 Dạng rượu:

™ Phương pháp ngâm: Linh chi thái lát cho vào thùng ngâm với cồn 50 ÷ 60% (tỷ lệ gấp 10 lần nấm) Thời gian ngâm là 15 ngày cho đến khi dịch chiết có màu nâu Rút và ép kiệt dịch chiết ở nấm Để lắng và lọc kỹ

™ Phương pháp nấu: Linh chi thái lát cho vào thùng ngâm với nước

4 ÷ 6 giờ Sau đó đun sôi 1 ÷ 2 giờ lọc lấy nước 1, thêm nước đun tiếp để lấy nước 2 Nước chiết 2 lần gộp lại để lắng và tách phần dịch Cô đặc dịch chiết thành cao Cho thêm cồn 50 ÷ 60% để lắng 5 ÷ 7 ngày Rút lấy dịch trong ở trên

™ Dạng rượu có thể phối hợp với đảng sâm, đương quy, hoàng kỳ, câu kỳ tử… mỗi ngày uống 3 lần, mỗi lần 20 ÷ 30ml Thuốc có tác dụng bồi dưỡng, tăng cường sức khỏe 1.1.8.5 Dạng nước:

Linh chi thái lát hoặc xay thành bột, ngâm cồn 95% trong một ngày Rút lấy dịch chiết Bã ngâm tiếp với cồn 75% và 50% Dịch chiết 3 lần gộp lại, thu hồi cồn, còn dạng cao Bã tiếp tục nấu với nước và chiết 2 lần: lần 1 để sôi 45 phút, lần 2 để sôi 1 giờ Dịch chiết được trộn với phần cao đầu Tỷ lệ cuối cùng là 100ml thuốc tương đương 10g nấm khô Mỗi ngày dùng 3 lần, mỗi lần 20ml Thuốc có hiệu quả trên các bệnh về hô hấp, viêm phế quản, hen suyễn

1.1.8.6 Bột bào tử nấm:

Ngày đăng: 16/04/2021, 04:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm