1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu xử lý nước thải từ ao nuôi cá tra bằng hồ sinh học và cánh đồng tưới

113 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 113
Dung lượng 6,71 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các nghiên cứu của luận văn thực hiện trên mô hình thực tế, xử lý bằng hồ sinh học và cánh đồng tưới sử dụng thực vật là lúa nước nhằm mục tiêu xử lý nitơ, phốt pho và các hợp chất hữu c

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA

HỒ TUẤN ANH

NGHIÊN CỨU XỬ LÝ NƯỚC THẢI TỪ AO NUÔI CÁ TRA

Trang 2

CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS Trịnh Thị Long …

Trang 3

Tp HCM, ngày …… tháng …… năm 2011

NHIỆM VỤ LUẬN VĂN THẠC SĨ

I- TÊN ĐỀ TÀI: Nghiên cứu xử lý nước thải từ ao nuôi cá tra bằng hồ sinh học và

cánh đồng tưới

II- NHIỆM VỤ LUẬN VĂN:

- Tổng quan về vấn đề ô nước thải từ nuôi cá tra và các công nghệ xử lý

- Xác định thành phần, tính chất và mức độ suy giảm chất lượng nước trong ao nuôi

cá tra tại khu vực thử nghiệm thực tế tại An Giang

- Xác định hiệu quả hấp thu và chuyển hóa chất ô nhiễm khi qua hồ sinh học có sẵn sau các ao nuôi tại khu vực thử nghiệm thực tế tại An Giang

- Xác định hiệu quả hấp thu chất ô nhiễm khi xử lý qua cánh đồng tưới (lúa nước) trên mô hình thử nghiệm thực tế tại An Giang

- Đề xuất giải pháp sử dụng nước thải từ ao nuôi cá tra để tưới cho lúa đáp ứng được hiệu quả về xử lý môi trường, đặc tính dinh dưỡng của cây lúa

IV- NGÀY HOÀN THÀNH NHIỆM VỤ : 10/01/2011

CÁN BỘ HƯỚNG DẪN

(Họ tên và chữ ký)

CHỦ NHIỆM BỘ MÔN QUẢN LÝ CHUYÊN NGÀNH (Họ tên và chữ ký)

Nội dung và đề cương luận văn thạc sĩ đã được Hội đồng chuyên ngành thông qua

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi trân trọng viết vào trang đầu cuốn luận văn này lòng biết ơn đối với cô Trịnh Thị Long – Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Môi trường và Xử lý nước – Viện Khoa học Thủy lợi Miền Nam, anh Nguyễn Công Chinh – Trưởng phòng môi trường Trung tâm Nghiên cứu Môi trường và Xử lý nước– Viện Khoa học Thủy lợi Miền Nam đã tận tình giúp đỡ và hỗ trợ tôi trong quá trình thực hiện đề tài này

Nhân đây tôi xin trân trọng gởi lời cảm ơn đến cô giáo Huỳnh Ngọc Phương Mai – Giảng viên Trường Đại Học Văn Lang đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình định hướng và chọn đề tài luận văn cùng tất cả thầy cô Khoa Môi Trường - Trường Đại học Bách Khoa thành phố Hồ Chí Minh đã truyền đạt kiến thức cho tôi trong suốt 2 năm học qua

Tôi xin chân thành cảm chú Minh – chủ trại cá tại xã Bình Phú – Phú Tân –

An Giang, anh Quốc và em Thành – Viện Khoa học Thủy lợi Miền Nam đã tạo điều kiện, giúp đỡ cho tôi trong quá trình vận hành mô hình và lấy mẫu tại mô hình thí nghiệm

Xin cảm ơn những lời góp ý và giúp đỡ của các bạn trong lớp Cao học – Công nghệ Môi trường K2009 để mình hoàn thành luận văn này

Trân trọng cảm ơn !

Trang 5

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ

Nuôi trồng thủy sản là ngành nghề chính trong sản xuất nông nghiệp tại khu vực Đồng bằng sông cửu long trong có đối tượng chính là cá tra nuôi ao Ô nhiễm do nước thải từ ao nuôi cá tra là vấn đề đang cấp thiết hiện nay tại các tỉnh này Nguồn chất thải từ các ao nuôi cá tra hầu như vẫn chưa được xử lý mà thường được thải trực tiếp ra sông rạch trong khu vực đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường nước tại khu vực Đặc biệt các thông số ô nhiễm như: nitơ, phốt pho vượt tiêu chuẩn nhiều lần là tác nhân chính gây ra hiện tượng phú dưỡng

Các nghiên cứu của luận văn thực hiện trên mô hình thực tế, xử lý bằng hồ sinh học

và cánh đồng tưới sử dụng thực vật là lúa nước nhằm mục tiêu xử lý nitơ, phốt pho và các hợp chất hữu cơ trong nước thải ra từ các ao nuôi

Kết quả nghiên cứu sử dụng hồ sinh học xử lý nước thải cho thấy thông số N-NH4+, P-PO43- giảm rõ rệt, tuy nhiên, xử lý chưa hoàn toàn triệt để mà chỉ chuyển hóa chất ô nhiễm từ dạng hòa tan sang dạng liên kết trong tảo, thực vật phù du

Kết quả nghiên cứu tưới tĩnh cho cánh đồng trồng lúa cho thấy, khả năng hấp thụ nitơ, phốt pho của cây lúa rất mạnh mẽ và nồng độ ô nhiễm giảm đi rõ rệt Sử dụng lúa nước sẽ xử lý nitơ tổng và phốt pho tổng hoàn toàn triệt để và hiệu quả Hiệu suất xử lý tương đối cao và có thể đạt tới 70 % trong thời gian 33 giờ kể từ lúc tưới Ngoài ra, kết quả nghiên cứu cũng cho thấy mô hình tưới động không mang lại hiệu quả về kinh tế và không áp dụng được

Từ những kết quả đạt được, học viên đề xuất mô hình tưới tĩnh cho lúa, áp dụng để

xử lý nước thải phát sinh từ những vùng nuôi cá tra tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long Để đảm bảo vận hành được mô hình tưới tĩnh, cần phát triển hệ thống kênh mương nội đồng, đảm bảo dẫn nước thải được dẫn đều vào các ruộng lúa

Trang 6

MỤC LỤC

Chương I - MỞ ĐẦU 1

1.1.TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI 3

1.3 PHẠM VI VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 3

1.4 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 3

1.5 TÍNH MỚI, TÍNH KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 4

Chương II - TỔNG QUAN 5

2.1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NUÔI CÁ TRA 5

2.1.1 Tình hình nuôi cá tra trên thế giới 5

2.1.2 Tình hình nuôi cá tra tại Việt Nam 7

2.2 ĐẶC TÍNH SINH HỌC CỦA CÁ TRA VÀ MÔI TRƯỜNG NUÔI 17

2.2.1 Đặc tính sinh học của cá tra 17

2.2.2 Vấn đề môi trường và dịch bệnh trong nuôi cá tra 20

2.3 ĐẶC TÍNH NƯỚC THẢI AO NUÔI CÁ TRA VÀ CÁC TÁC ĐỘNG ĐẾN MÔI TRƯỜNG 22

2.3.1 Đặc tính nước thải ao nuôi cá tra 22

2.3.2 Chu kỳ xả thải 25

2.3.3 Lưu lượng thải 25

2.3.4 Các tác động đến môi trường 26

2.4 CÁC BIỆN PHÁP XỬ LÝ NƯỚC THẢI TỪ AO NUÔI CÁ TRA 28

2.4.1 Công nghệ xử lý nước thải bằng công nghệ sinh học hiếu khí 29

2.4.2 Công nghệ xử lý nước thải bằng hồ sinh học 31

2.4.3 Công nghệ xử lý nước thải bằng cánh đồng tưới và cánh đồng lọc 32

2.5 TỔNG QUAN CÔNG NGHỆ XỬ LÝ NƯỚC THẢI BẰNG HỒ SINH HỌC VÀ CÁNH ĐỒNG TƯỚI 35

Trang 7

2.5.3 Ưu, nhược điểm của công nghệ xử lý nước thải bằng cánh đồng tưới 36

2.5.4 Cơ sở lý thuyết xây dựng hệ thống xử lý nước thải bằng hồ sinh học và cánh đồng tưới 36

2.5.5 Hiện trạng áp dụng công nghệ xử lý nước thải bằng đất ngập nước nhân tạo (cánh đồng lọc và cánh đồng tưới) trong nước và trên thế giới 38

2.5.6 Đặc tính sinh học của lúa nước 44

Chương III – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CÚU 50

3.1 ĐỊA ĐIỂM THỜI GIAN 50

3.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 50

3.2.1 Tổng quan thu thập tài liệu 50

3.2.2 Phương pháp thực nghiệm 50

3.3 PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH CÁC THÔNG SỐ HÓA LÝ 56

Chương IV - KẾT QUẢ THẢO LUẬN 58

4.1 XÁC ĐỊNH MỨC ĐỘ SUY GIẢM CHẤT LƯỢNG MÔI TRƯỜNG NƯỚC TỪ NUÔI CÁ TRA 58

4.1.1.Biến đổi hàm lượng N-NH4+ trong môi trường nước 58

4.1.2 Biến đổi hàm lượng P-PO43- trong môi trường nước 60

4.1.3 Biến đổi giá trị COD trong môi trường nước 61

4.1.4 Biến đổi giá trị DO trong môi trường nước 62

4.1.5 Biến đổi giá trị pH trong môi trường nước 63

4.1.6 Biến đổi hàm lượng cặn lơ lửng trong môi trường nước (TSS) 63

4.1.7 Nhận xét chung về chất lượng môi trường nước trong các ao nuôi cá tra theo thời gian 65

4.2 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỬ NGHIỆM XỬ LÝ NƯỚC THẢI TỪ NUÔI CÁ TRA BẰNG HỒ SINH HỌC 66

Trang 8

4.2.2 Diễn biến hàm lượng oxi hòa tan trong hồ sinh học 67

4.2.3 Diễn biến hàm lượng N-NH4+ trong hồ sinh học 68

4.2.4 Diễn biến hàm lượng Nitơ tổng trong hồ sinh học 69

4.2.5 Diễn biến hàm lượng P-PO43- trong hồ sinh học 70

4.2.6 Diễn biến hàm lượng TSS trong hồ sinh học 71

4.2.7 Diễn biến giá trị TOC trong hồ sinh học 71

4.2.8.Nhận xét chung về hiệu quả xử lý nước thải từ nuôi các tra bằng hồ sinh học 72 4.3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỬ NGHIỆM XỬ LÝ NƯỚC THẢI TỪ NUÔI CÁ TRA KHI TƯỚI CHO LÚA (MÔ HÌNH TƯỚI TĨNH) 73

4.3.1 Diễn biến hàm lượng N-NH4+ 73

4.3.2 Diễn biến hàm lượng Tổng nitơ (TN) 74

4.3.3 Diễn biến hàm lượng P-PO43- 75

4.3.4 Nhận xét chung về hiệu quả xử lý nước thải khi sử dụng tưới cho lúa 76

4.4 MỘT SỐ KẾT QUẢ RÚT RA TỪ VIỆC SỬ DỤNG MÔ HÌNH TƯỚI ĐỘNG CHO LÚA 77

4.5 ĐỀ XUẤT MÔ HÌNH XỬ LÝ NƯƠC THẢI CHO NUÔI CÁ TRA 78

4.5.1 Các căn cứ để đề xuất mô hình 78

4.4.2 Đề xuất mô hình xử lý 79

Chương V - KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ VÀ HƯỚNG MỞ RỘNG CỦA ĐỀ TÀI 82

5.1 KẾT LUẬN 82

5.2 TỒN TẠI 83

5.3 KIẾN NGHỊ VÀ HƯỚNG MỞ RỘNG CỦA ĐỀ TÀI 83

TÀI LIỆU THAM KHẢO 84 PHẦN PHỤ LỤC

Trang 9

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BOD Nhu cầu oxy sinh hóa (Biological Oxygen Demand)

NN&PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn

VASEP Hiệp hội chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam

Trang 10

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Sản lượng và giá trị cá da trơn nuôi tại Mỹ giai đoạn 1999-2005 6

Bảng 2.2: Sản lượng nuôi cá da trơn của Trung Quốc 2003-2005 6

Bảng 2.3: Sản lượng cá da trơn ở Đông Nam Á giai đoạn 1999-2005 7

Bảng 2.4: Sản lượng và kim ngạch xuất khẩu cá tra giai đoạn 2000 -2007 8

Bảng 2.5: Diện tích nuôi cá tra ở các tỉnh ĐBSCL giai đoạn 1997- 7T/2008 12

Bảng 2.6: Sản lượng cá tra nuôi vùng ĐBSCL giai đoạn 1997 - 7T/2008 15

Bảng 2.7 Thành phần thức ăn ở cá tra trong điều kiện tự nhiên 18

Bảng 2.8 Công thức thức ăn tự chế cho cá tra 19

Bảng 2.9: Ước lượng chất thải phát sinh từ 1ha nuôi cá tra 23

Bảng 2.10: Kết quả phân tích tính chất nước trong ao nuôi cá Tra tại Tiền Giang 24

Bảng 2.11 Tổng hợp lượng nước thải phát sinh trong nuôi thủy sản 25

Bảng 2.12 Cơ sở lý thuyết xây dựng và thiết kế hồ sinh học 37

Bảng 2.13 Yêu cầu về đạm qua các thời kỳ sinh trưởng của lúa nước 46

Bảng 2.14 Yêu cầu về lân qua các thời kỳ sinh trưởng của lúa nước 48

Bảng 3.1: Một số đặc điểm trong 3 ao nuôi theo dõi 52

Bảng 3.2: Các giai đoạn theo dõi chất lượng nước trong các ao nuôi cá tra theo thời gian 52

Bảng 3.3 Tổng hợp dụng cụ - phương pháp đo và độ chính xác 57

Trang 11

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 2.1: Diễn biến KNXK và giá XK trung bình cá tra giai đoạn 2000 – 2007 9

Hình 2.2 Diễn biến diện tích nuôi cá tra ở vùng ĐBSCL giai đoạn 1997-7T/2008 11

Hình 2.3: Diễn biến sản lượng nuôi cá tra ĐBSCL giai đoạn 1997-7T/2008 14

Hình 2.4 Diễn biến diện tích và sản lượng cá tra ở vùng ĐBSCL 16

Hình 2.5 Cấu tạo ao nuôi trước khi nuôi 18

Hình 2.6 Ao khi nuôi ổn định 18

Hình 2.7 Thức ăn cho cá tra 19

Hình 2.8 Thu hoạch cá tra 19

Hình 2.9 Cho cá ăn 22

Hình 2.10 Ô nhiễm nước ao cá 22

Hình 2.11 Thu nước thải từ ao 22

Hình 2.12 Thải nước từ rao ra kênh 22

Hình 2.13 Sơ đồ xử lý nước thải bằng công nghệ Aeroten 30

Hình 2.14 Mô hình đất ngập nước kiến tạo 33

Hình 2.15 Đất ngập nước chảy tràn (FWSF) 34

Hình 2.16 Sơ đồ ngập nưóc kiến tạo chảy theo phương ngang 39

Hình 2.17 Sơ đồ ngập nưóc kiến tạo chảy theo phương đứng 39

Hình 2.18 Sơ đồ mô hình xử lý nước thải thông thường tại các vùng nông thôn 40

Hình 3.1: Ví trí các ao theo dõi môi trường theo thời gian nuôi tại khu nuôi cá tra Ông Sáu Minh 51

Hình 3.2 Lấy mẫu tại mương dẫn nước từ trạm bơm về ao nuôi 51

Hình 3.3 Lấy mẫu tại ao nuôi nước từ trạm bơm về ao nuôi 51

Hình 3.4: Vị trí thử nghiệm xử lý nước thải từ ao nuôi cá tra bằng hồ sinh học 53

Trang 12

Hình 3.6 Ruộng thực nghiệm chụp từ bên phải 55

Hình 3.7 Ruộng thực nghiệm chụp từ bên trái 55

Hinh3.8 ống điều tiết lưu lượng nước vào ruộng 55

Hình 3.9 Lấy mẫu nước đầu vào ruộng lúa 55

Hình 4.1: Biến đổi hàm lượng N-NH4+ trong môi trường nước tại các ao nuôi cá tra 59

Hình 4.2: Biến đổi hàm lượng P-PO43- trong môi trường nước tại các ao nuôi cá tra 60

Hình 4.3: Biến đổi giá trị COD trong môi trường nước tại các ao nuôi cá tra 61

Hình 4.4: Biến đổi giá trị DO trong môi trường nước tại các ao nuôi cá tra 62

Hình 4.5: Biến đổi giá trị pH trong môi trường nước tại các ao nuôi cá tra 63

Hình 4.6: Biến đổi hàm lượng TSS trong môi trường nước tại các ao nuôi cá tra 64

Hình 4.7: Biến đổi giá trị pH trong hồ xử lý sinh học theo thời gian 66

Hình 4.8: Biến đổi giá trị DO trong hồ xử lý sinh học theo thời gian 67

Hình 4.9: Biến đổi giá trị N-NH4+ trong hồ xử lý sinh học theo thời gian 68

Hình 4.10: Biến đổi giá trị TN trong hồ xử lý sinh học theo thời gian 69

Hình 4.11: Biến đổi giá trị P-PO43- trong hồ xử lý sinh học theo thời gian 70

Hình 4.12: Biến đổi giá trị TSS trong hồ xử lý sinh học theo thời gian 71

Hình 4.13: Biến đổi giá trị TOC trong hồ xử lý sinh học theo thời gian 71

Hình 4.14a: Biến đổi hàm lượng N-NH4+ trong các ô ruộng theo thời gian 73

Hình 4.14b: Hiệu quả hấp thu N-NH4+ trong các ô ruộng theo thời gian 73

Hình 4.15a: Biến đổi hàm lượng TN trong các ô ruộng theo thời gian 74

Hình 4.15b: Hiệu quả hấp thu TN trong các ô ruộng theo thời gian 75

Hình 4.16a: Biến đổi hàm lượng P-PO43- trong các ô ruộng theo thời gian 75

Hình 4.16b: Hiệu quả hấp thu P-PO43- trong các ô ruộng theo thời gian 76

Hình 4.17: Mô hình xử lý nước thải ao nuôi cá tra bằng giải pháp tưới nông nghiệp 80

Trang 13

Chương I

MỞ ĐẦU 1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Đồng bằng sông Cửu long (ĐBSCL) có chiều dài bờ biển từ Long An đến Kiên Giang (Giáp Campuchia - không tính các đảo) là 780 km Trong nội địa có mạng lưới sông ngòi dày đặc với 15 cửa sông lớn đổ ra biển, nguồn lợi thủy sản phong phú với nhiều thành phần giống loài có giá trị kinh tế cao Khu vực nằm tiếp giáp với Thành phố Hồ Chí Minh là một trung tâm kinh tế lớn nhất của cả nước, đây là những lợi thế rất lớn để phát triển ngành thủy sản, đặc biệt là lĩnh vực nuôi trồng thủy sản (NTTS)

Cá tra là đối tượng được nuôi tương đối phổ biến ở các tỉnh, thành trong vùng, đặc biệt là các tỉnh nằm ven sông Tiền và sông Hậu Sản lượng cá tra của ĐBSCL chiếm trên 95% sản lượng cá da trơn của cả nước Trong những năm qua, giá trị xuất khẩu cá tra có tốc độ tăng trưởng khá cao và đóng góp rất lớn vào tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản của cả nước (chỉ đứng sau tôm sú) Mặt hàng cá tra chế biến của vùng ĐBSCL đã thâm nhập được nhiều thị trường trên thế giới, trong đó có cả những thị trường đòi hỏi tiêu chuẩn kỹ thuật khắt khe như EU và Mỹ Đến cuối năm

2008, sản lượng cá tra vùng ĐBSCL đạt 1.128.000 tấn với kim ngạch xuất khẩu trên 1,2 tỷ USD

Bên cạnh những thành tựu đạt được, trong sản xuất vẫn tiềm ẩn nhiều rủi ro về dịch bệnh, môi trường và thị trường Hầu hết người dân phát triển nuôi cá tự phát, nuôi với mật độ quá cao trong khi chưa có hệ thống cơ sở hạ tầng hỗ trợ (xử lý nước thải, chất thải ) Nguồn chất thải này hiện nay hầu như vẫn chưa được xử lý mà thường được thải trực tiếp ra sông rạch trong khu vực ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường nước, tác động tiêu cực đến nhiều ngành sản xuất sử dụng nguồn nước trong đó có cả tác động đến con người Theo ước tính, để sản xuất được 1 tấn cá tra,

Trang 14

Đề tài: Nghiên cứu xử lý nước thải từ ao nuôi cá tra bằng hồ sinh học và cánh đồng tưới

sẽ thải ra môi trường khoảng 16.000 m3 nước thải Các chất ô nhiễm chủ yếu trong thành phần nước thải gồm các chất hữu cơ, nitơ và phốt pho Hiện nay, ĐBSCL đang phải đối mặt với vấn đề bảo vệ môi trường vì lượng thức ăn thủy sản ngày càng thải ra nhiều hơn làm ảnh hưởng đến nguồn nước

Việc nghiên cứu giải pháp xử lý nước thải phát sinh từ quá trình nuôi cá tra đã

và đang là vấn đề cấp thiết và có ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển nghề nuôi một cách ổn định, bền vững trong những năm gần đây Một số nơi tại Việt Nam, đã

có các công trình nghiên cứu nhằm xử lý nguồn ô nhiễm này như: sử dụng công nghệ sinh học hiếu khí; ao, hồ sinh học; đất ngập nước kiến tạo (sử dụng bãi lọc trồng cây) Tuy nhiên, thực tế, các biện pháp xử lý này chưa đáp ứng đủ nhu cầu cần xử lý một khối lượng lớn nước thải từ ao nuôi cá tra Tại một số vùng của khu vực ĐBSCL, nông dân đã tự thử nghiệm tưới nước thải từ các ao nuôi cho các cánh đồng trồng lúa và trồng cỏ đã mang lại nhiều hiệu quả đáng kể Tuy nhiên, việc nghiên cứu áp dụng mô hình hiện nay vẫn chưa có công trình nghiên cứu cụ thể nào

Với đặc tính nghề nuôi có tính chất nông hộ, nơi có nhiều diện tích, chất ô nhiễm phát sinh thuộc loại dễ phân hủy sinh học nên quy mô và biện pháp xử lý cần phải được cân nhắc và lựa chọn để tăng tính ứng dụng vào thực tiễn sản xuất Công nghệ sinh học đơn giản chỉ dùng các đối tượng sinh học sẵn có, giải pháp cánh đồng tưới bằng lúa nước kết hợp với hệ thống công trình thủy lợi được xem như là định hướng đúng để góp phần giải quyết vấn đề ô nhiễm chất thải từ nuôi cá tra vùng ĐBSCL

Trước thực trạng và yêu cầu đặt ra như trên, Đề tài “NGHIÊN CỨU XỬ LÝ

NƯỚC THẢI TỪ AO NUÔI CÁ TRA BẰNG HỒ SINH HỌC VÀ CÁNH ĐỒNG TƯỚI” được tiến hành nghiên cứu nhằm xây dựng cơ sở khoa học và thực tiễn cho

việc xử lý nước thải từ ao nuôi cá tra cho vùng ĐBSCL, góp phần định hướng giải pháp xử lý có hiệu quả và thực tiễn nước thải từ các ao nuôi, đảm bảo phát triển lâu dài và bền vững cho nghề nuôi cá hiện nay

Trang 15

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài nhằm xác định hiệu quả xử lý các chất ô nhiễm

từ nước thải từ ao nuôi cá tra bằng hồ sinh học và cánh đồng tưới (sử dụng thực vật

là lúa nước), làm cơ sở khoa học và thực tiễn xây dựng các giải pháp xử lý nước thải từ nuôi cá tra

1.3 PHẠM VI VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu:

─ Nước thải từ hồ nuôi cá tra tại An Giang

─ Hồ sinh học (chứa nước thải) có sẵn từ khu vực nuôi cá tra (xem xét hiệu quả của thực vật phù du và các vi sinh vật có sẵn trong hồ trong việc hấp thu và chuyển hóa các chất ô nhiễm từ nước thải của các ao nuôi cá tra)

─ Sử dụng lúa nước để hấp thu N, P trong nước thải từ ao nuôi cá tra cũng như xem xét quá trình chuyển hóa các chất ô nhiễm trên mô hình thử nghiệm thực

tế

1.4 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

Các nội dung chính triển khai thực hiện nghiên cứu bao gồm:

a Tổng quan về vấn đề ô nước thải từ nuôi cá tra và các công nghệ xử lý

 Tổng quan về tình hình nuôi cá tra và các vấn đề phát triển nghề nuôi;

 Tổng quan về vấn đề ô nhiễm môi trường từ hoạt động nuôi cá tra;

 Tổng quan về các công nghệ xử lý nước thải từ nuôi các tra

 Tổng quan về quá trình sinh trưởng và phát triển của cây lúa, khả năng hấp thu các chất dinh dưỡng và các điều kiện môi trường

b Xác định thành phần, tính chất và mức độ suy giảm chất lượng nước trong ao nuôi cá tra tại khu vực thử nghiệm thực tế tại An Giang

Trang 16

Đề tài: Nghiên cứu xử lý nước thải từ ao nuôi cá tra bằng hồ sinh học và cánh đồng tưới

c Xác định hiệu quả hấp thu và chuyển hóa chất ô nhiễm khi qua hồ sinh học có sẵn sau các ao nuôi tại khu vực thử nghiệm thực tế tại An Giang

d Xác định hiệu quả hấp thu chất ô nhiễm khi xử lý qua cánh đồng tưới (lúa nước) trên mô hình thử nghiệm thực tế tại An Giang

e Đề xuất giải pháp sử dụng nước thải từ ao nuôi cá tra để tưới cho lúa đáp ứng được hiệu quả về xử lý môi trường, đặc tính dinh dưỡng của cây lúa

1.5 TÍNH MỚI, TÍNH KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

Việc áp dụng đất ngập nước tự nhiên (hệ sinh thái ngập nước) hay nhân tạo (cánh đồng tưới và cánh đồng lọc) đã xuất hiện các hệ thống xử lý từ những năm

1990 Tuy nhiên, việc áp dụng công nghệ đất ngập nước nhân tạo tại mỗi nước (có

vị trí, khí hậu, thủy văn khác nhau) sẽ có các nghiên cứu thử nghiệm khác nhau đối với từng loại nước thải khác nhau

Tại Việt Nam, công nghệ này cũng đã và đang phát triển từ những năm 2004 Đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu, thử nghiệm cho việc xử lý các loại nước thải như nước thải làng nghề giấy, nước thải sinh hoạt, nước rỉ rác, nước thải nuôi trồng thủy sản Các mô hình này lựa chọn các công nghệ chủ yếu như bãi lọc trồng cây (đất ngập nước dòng chảy ngang, dòng chảy đứng), cánh đồng tưới và các

mô hình kết hợp Mỗi một mô hình đều sử dụng các loài thực vật khác nhau, phù hợp cho từng tính chất nước thải và khả năng tận dụng sinh khối của thực vật Đối với nước thải từ ao nuôi cá tra, cũng đã có các công trình nghiên cứu xử lý bằng đất đất ngập nước dòng chảy ngang và dòng chảy đứng sử dụng thực vật là cỏ Tuy nhiên, mô hình cánh đồng tưới nông nghiệp (tưới cho lúa nước và cỏ) kết hợp giải pháp thủy lợi hợp lý vận chưa có công trình nghiên cứu nào Do đó, việc chọn

đề tài “Nghiên cứu xử lý nước thải từ ao nuôi cá tra bằng hồ sinh học và cánh đồng tưới” là một hướng đi mới góp phần nhỏ vào việc xử lý nước thải từ các ao nuôi cá tra đang gây ô nhiễm môi trường như hiện nay

Trang 17

Chương II TỔNG QUAN 2.1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NUÔI CÁ TRA

2.1.1 Tình hình nuôi cá tra trên thế giới

Cá da trơn được nuôi nhiều ở Đông Nam Á, Mỹ, Trung Quốc, một ít ở Nam

Mỹ Các loài chính có tên khoa học như Ictalurus punctatus (cá nheo Mỹ),

pangasius spp (cá tra), pangasius hypophthalmus, Silurus asotus, Leiocassi longirostris, Pelteobagrus fulvidraco trong đó các loài pangasius, Ictalurus punctatus, Silurus asotus được nuôi với khối lượng lớn nhất và tập trung ở Việt

Nam, Mỹ và Trung Quốc chiếm trên 99% tổng sản lượng

Cá tra phân bố ở một số nước Đông Nam Á như Campuchia, Thái Lan, Inđônêxia và Việt Nam Đây là loài cá được nuôi ở hầu hết ở các nước Đông Nam

Á và là một trong các loài cá nuôi quan trọng của khu vực này (đặc biệt ở Việt Nam) Bốn nước trong khu vực hạ lưu sông Mê Kông đã có nghề nuôi cá tra truyền thống là Thái Lan, Campuchia, Lào và Việt Nam do có nguồn cá giống tự nhiên khá phong phú Ở Campuchia, trong ba loài cá thuộc họ cá Tra thì cá Tra chiếm đến 98%, sản lượng cá tra nuôi, chiếm một nửa tổng sản lượng các loài cá nuôi của các nước Một số nước trong khu vực như Malaysia, Inđônêxia cũng đã nuôi cá tra có hiệu quả ngay từ những thập niên 70-80 của thế kỷ trước

- Tại Mỹ: Năm 2005, tổng sản lượng cá da trơn đạt 376.850 tấn (Nguồn: FAO,

2007), đối tượng chính là loài có tên khoa học Ictalurus punctatus Cá da trơn ở Mỹ

được nuôi chủ yếu ở 4 bang là: Alabama, Ankansas, Louisiana và Misissipi Tuy nhiên, gần đây giá thành sản phẩm tăng do giá xăng và giá thức ăn tăng đã gây khó khăn cho người nuôi Hơn nữa, thị trường cá da trơn Mỹ đang bị cạnh tranh bởi cá

da trơn từ nước ngoài (Trung Quốc, Việt Nam, Nam Mỹ) nên nghề nuôi cá da trơn

ở Mỹ hiện gặp rất nhiều khó khăn, sản xuất thu hẹp dần

Trang 18

Đề tài: Nghiên cứu xử lý nước thải từ ao nuôi cá tra bằng hồ sinh học và cánh đồng tưới

Bảng 2.1: Sản lượng và giá trị cá da trơn nuôi tại Mỹ giai đoạn 1999-2005

Danh mục 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 Tỷ lệ

tăng

Sản lượng

(tấn) 270.629 269.257 270.846 286.039 345.608 348.588 376.850 6% Giá BQ

Giá trị

(Nguồn: FAO, 2007)

- Tại Trung Quốc: Xét đến năm 2005, Trung Quốc trở thành nhà xuất khẩu cá da

trơn lớn nhất vào Mỹ (vượt qua Việt Nam) Xuất phát từ thị trường mở rộng hơn và nhu cầu nội địa rất lớn nên sản lượng cá da trơn nuôi của Trung Quốc tăng rất

nhanh, đạt 478.004 tấn vào năm 2005 tấn (Nguồn: FAO, 2007), tăng 100.000 tấn so với năm 2004 và tăng 160.000 tấn so năm 2003 Các đối tượng nuôi chính là Silurus

asotus, Ictalurus punctatus, Pelteobagrus fulvidraco

Bảng 2.2: Sản lượng nuôi cá da trơn của Trung Quốc 2003-2005 (Đơn vị: tấn)

- Đông Nam Á: Cũng là khu vực sản xuất cá da trơn quan trọng của thế giới Trong

đó, nhiều nhất là Việt Nam, sau đó là Thái Lan, Inđônêxia, Malaysia Các nước khác sản xuất cá da trơn không đáng kể Inđônêxia và Campuchia có sự tăng trưởng rất nhanh trong giai đoạn 1999-2005 đạt 25%/năm đối với Inđônêxia và đạt 49% đối với Campuchia

Trang 19

Bảng 2.3: Sản lượng cá da trơn ở Đông Nam Á giai đoạn 1999-2005 (Đơn vị: tấn)

Quốc gia 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 Tỷ lệ

tăng Tổng cộng 211.367 234.405 260.655 305.034 380.468 556.553 646.518 20%

Việt Nam 87.000 100.000 114.000 135.000 163.000 255.000 376.000 28% Thái Lan 83.628 89.226 92.543 101.312 124.691 189.940 130.784 8% Inđônêxia 27.350 31.629 36.979 49.457 70.826 80.234 102.090 25% Malaysia 11.767 12.115 15.124 15.623 18.345 20.849 24.689 13%

(Nguồn: FAO, 2007)

- Tại Nam Mỹ: Cũng có nhiều nước nuôi cá da trơn như Braxin, Costa Rica,

Êcuador, Chilê nhưng nhìn chung qui mô nuôi ở các nước này còn nhỏ so với nước

ở khu vực khác, đặc biệt là so với cá tra của Việt Nam Vì vậy, khả năng phát triển trong tương lai của họ sẽ khó cạnh tranh một khi Việt Nam vẫn giữ được lợi thế về giá và chất lượng sản phẩm Tính đến năm 2005, tổng sản lượng cá da trơn của

Braxin đạt 1.909 tấn, tăng 9% so với năm 2004 tấn (Nguồn: FAO, 2007), trong đó cũng chủ yếu là loài Ictalurus punctatus Cũng sản xuất loài cá này ở Costa Rica

nhưng sản lượng chỉ đạt 169 tấn

2.1.2 Tình hình nuôi cá tra tại Việt Nam

a Tình hình cả nước nói chung:

Có thể nói nuôi cá tra ở Việt Nam đã có từ những năm 50 của thế kỷ trước ở ĐBSCL, ban đầu chỉ nuôi ở qui mô nhỏ, cung cấp thực phẩm phục vụ tiêu dùng tại chỗ; các hình thức nuôi chủ yếu là tận dụng ao, mương, vườn và nguồn thức ăn sẵn

có Vào những năm cuối của thập niên 90 thế kỷ trước, tình hình nuôi cá tra đã có

Trang 20

Đề tài: Nghiên cứu xử lý nước thải từ ao nuôi cá tra bằng hồ sinh học và cánh đồng tưới

những bước tiến triển mạnh; các doanh nghiệp chế biến đã tìm được thị trường xuất khẩu, các Viện nghiên cứu đã thành công trong việc đưa ra qui trình sản xuất con giống và qui trình nuôi thâm canh đạt năng suất cao … ngay sau đó đối tượng nuôi này được lan tỏa và đưa vào nuôi ở nhiều vùng miền trên cả nước

Trong giai đoạn phát triển này, đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu về cá tra: Nghiên cứu đặc điểm sinh học sinh sản, tình hình dịch bệnh, khả năng thích ứng với các điều kiện môi trường, các loại thức ăn và thành phần thức ăn liên quan đến

tỉ lệ sống và tốc độ tăng trưởng… Đây là những nghiên cứu rất có giá trị, là cơ sở để nghề nuôi cá tra phát triển mạnh, đạt được những kết quả như ngày nay

Việc chủ động sản xuất giống cá tra nhân tạo, đáp ứng đủ nhu cầu nuôi đã mở

ra khả năng sản xuất hàng hóa tập trung phục vụ cho xuất khẩu và tiêu dùng nội địa

Kể từ sau năm 2005 đến nay, Việt Nam nổi lên trở thành nước sản xuất và xuất khẩu cá da trơn lớn nhất thế giới Loài có khả năng cung cấp cho chế biến xuất khẩu

có tên khoa học là Pangasius spp Sản lượng cá tra nuôi tính đến năm 2007 đã đạt

trên 1 triệu tấn (theo số liệu thống kê của Hải Quan), xuất khẩu đạt 386.870 tấn với KNXK gần 1 tỷ USD Sự thành công của Việt Nam chắc chắn sẽ làm cho nhiều nước ở Đông Nam Á quan tâm hơn đến đối tượng này

Bảng 2.4: Sản lượng và kim ngạch xuất khẩu cá tra giai đoạn 2000 -2007

Trang 21

2000 2001

2002 2003

2004 2005

sản lượng KNXK

Hình 2.1: Diễn biến KNXK và giá XK trung bình cá tra giai đoạn 2000 - 2007

b Tình hình nuôi cá tra tại các tỉnh Đồng Bằng Sông Cửu Long:

Từ nửa đầu thế kỷ 20, nuôi cá trong ao mới bắt đầu xuất hiện ở đồng bằng Nam bộ và đối tượng nuôi chính là cá tra Tài liệu thống kê của tỉnh An Giang cho thấy năm 1985 có hơn 90% diện tích ao nuôi cá ở nông thôn của tỉnh lúc bấy giờ là nuôi cá tra Từ trước những năm 1970, kỹ thuật nuôi còn hạn chế, thì nghề nuôi cá còn mang tính chất đơn điệu với đối tượng nuôi chủ yếu là cá tra, các đối tượng khác rất ít Hiện nay nuôi cá tra và ba sa đã phát triển ở nhiều địa phương, không chỉ ở Nam bộ mà một số nơi ở miền Trung và miền Bắc cũng bắt đầu quan tâm nuôi các đối tượng này Nuôi thương phẩm thâm canh cho năng suất rất cao, cá tra nuôi trong ao có khi đạt tới 200 - 300 tấn/ha, cá tra và ba sa nuôi trong bè có thể đạt tới

100 – 300 kg/m3 bè Nghề nuôi cá này có lẽ được bắt nguồn từ Biển Hồ (Ton le sap) của Campuchia được một số kiều dân Việt nam hồi hương áp dụng khởi đầu từ vùng Châu Đốc, Tân châu thuộc tỉnh An giang và Hồng Ngự thuộc tỉnh Ðồng Tháp vào khoảng cuối thập niên 50 thế kỷ trước Dần dần nhờ cải tiến, bổ sung kinh nghiệm cũng như kỹ thuật, nuôi cá bè đã trở thành một nghề hoàn chỉnh và vững chắc Ðồng bằng sông Cửu Long có hơn 50% số tỉnh nuôi cá bè, nhưng tập trung

Trang 22

Đề tài: Nghiên cứu xử lý nước thải từ ao nuôi cá tra bằng hồ sinh học và cánh đồng tưới

nhất là hai tỉnh An Giang và Ðồng Tháp, với hơn 60% số bè nuôi và có năm đã chiếm tới 76% sản lượng nuôi cá bè của toàn vùng Tuy nhiên trong thời gian từ năm 2005 đến nay thì cách thức nuôi cá tra bè đã giảm dần và chỉ còn lại hình thức nuôi cá trong ao

Nguồn giống cá tra và ba sa trước đây hoàn toàn phụ thuộc vào vớt trong tự nhiên Hàng năm vào khoảng đầu tháng 5 âm lịch, khi nước mưa từ thượng nguồn sông Cửu Long (MêKông) bắt đầu đổ về thì ngư dân vùng Tân Châu (An Giang) và Hồng Ngự (Ðồng Tháp) dùng một loại lưới hình phễu gọi là đáy để vớt cá bột Cá tra bột được chuyển về ao để ương nuôi thành cá giống cỡ 7-10 cm và được vận chuyển đi bán cho người nuôi trong ao và bè khắp vùng Nam Bộ Khu vực ương nuôi cá giống tập trung chủ yếu ở các địa phương như Tân Châu, Châu Đốc, Hồng Ngự, các cù lao trên sông Tiền Giang như Long Khánh, Phú Thuận Trong những thập niên 60-70 thế kỷ 20, sản lượng cá bột vớt mỗi năm từ 500-800 triệu con và cá giống ương nuôi được từ 70-120 triệu con Sản lượng vớt cá bột ngày càng giảm do biến động của điều kiện môi trường và sự khai thác quá mức của con người Ðầu thập niên 90, sản lượng cá bột vớt hàng năm chỉ đạt 150-200 triệu con Nghiên cứu sinh sản nhân tạo cá tra được bắt đầu từ năm 1978 và cá ba sa từ 1990 Mỗi năm, nhu cầu con giống cá ba sa từ 20-25 triệu con Từ năm 1996, trường Ðaị học Cần Thơ, Viện nghiên cứu nuôi trồng Thủy sản II, Công ty Agifish An Giang đã nghiên cứu nuôi vỗ thành thục cá bố mẹ và cho đẻ nhân tạo cá basa thành công, chủ động giải quyết con giống cho nghề nuôi cá ba sa

Trong năm 2006 ở các tỉnh, thành như Cần Thơ, An Giang, Đồng Tháp, Vĩnh Long đã có thêm hàng ngàn hecta ao hầm được khẩn trương đào mới để nuôi cá Trong lúc người nuôi cá hân hoan với món lợi bạc tỉ thì cả khu vực phải đối mặt với thảm họa ô nhiễm môi trường

Trung tuần tháng 4-2007 giá cá tra đã “hạ nhiệt” xuống dưới mức 17.000 đồng/kg, nhưng phong trào đào ao nuôi cá tra vẫn diễn ra rầm rộ ở nhiều nơi Tại Đồng Tháp, diện tích ao nuôi cá đã vượt con số 5.000 ha, tăng hơn 1.000 ha so với

Trang 23

năm 2005; An Giang đến đầu tháng 3-2007 có thêm hơn 200 ha ao cá đào mới, Vĩnh Long qui hoạch đến năm 2010 có 400 ha ao cá với sản lượng khoảng 80.000 tấn cá

Diễn biến diện tích nuôi cá tra tại ĐBSCL:

Vào năm 1997, cá tra mới chỉ được nuôi ở tỉnh Tiền Giang và An Giang, với diện tích 1.290 ha; đến năm 2002 nuôi cá tra đã phát triển ở 5 tỉnh với diện tích tăng lên 2.413,2 ha; tốc độ tăng trưởng bình quân về diện tích giai đoạn 1997-2002 là 13,34%/ năm

Đến năm 2003, diện tích nuôi là 2.792,4 ha, tăng nhanh vào năm 2007 lên tới 5.429,7 ha; tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2003-2007 là 18,1%/năm

Tốc độ tăng trưởng bình quân trong 11 năm (1997-2007) là 15,46 %/năm, diện tích nuôi cá tra năm 2007 tăng gấp 4,2 lần so với năm 1997 Đến tháng 7/2008

đã triển khai nuôi cá tra được 5.350,8 ha, gần bằng với diện tích nuôi năm 2007

Trong các tỉnh có diện tích nuôi lớn, Cần Thơ có diện tích nuôi cá tra cao nhất trong vùng là 1.569,9 ha, chiếm 29%; kế đến là tỉnh An Giang với diện tích nuôi là 1.393,8 ha, chiếm 25,7%; tỉnh Đồng Tháp với diện tích 1.272 ha, chiếm 23,4% Tổng tỷ lệ về diện tích của 3 tỉnh này chiếm khoảng 78% diện tích nuôi cá tra toàn vùng

1.290,0 1.735,0 2.253,0 2.123,0 2.316,6 2.413,2

2.792,4 3.325,1

4.912,5

3.653,0 5.429,75.350,8

Trang 24

Đề tài: Nghiên cứu xử lý nước thải từ ao nuôi cá tra bằng hồ sinh học và cánh đồng tưới

Bảng 2.5: Diện tích nuôi cá tra ở các tỉnh ĐBSCL giai đoạn 1997- 7T/2008 (ĐVT: ha)

(Nguồn: Báo cáo của các Sở Thủy sản, Sở NN & PTNT và Cục Nuôi trồng Thủy sản, giai đoạn 1997-7/2008)

Ghi chú: TĐTTGĐ - Tốc độ tăng trưởng giai đoạn (%/năm)

Trang 25

Như vậy, với bảng thống kê trên ta thấy được diện tích nuôi cá Tra tại ĐBSCL ngày càng tăng Với diện tích nuôi lớn như thế thì một vụ nuôi cá Tra sẽ thải ra một lượng lớn chất thải, kéo theo vấn đề ô nhiễm môi trường ngày càng gia tăng và môi trường nước thải cá Tra và môi trường xung quanh càng bị đe dọa

Diễn biến sản lượng Cá Tra tại ĐBSCL:

Sản lượng nuôi cá tra ao, đăng quầng liên tục tăng trong giai đoạn 1997-2007, từ

23.250 tấn (năm 1997) lên 683.567 tấn (năm 2007) và tăng gấp 29,4 lần Tốc độ tăng

trưởng sản lượng trung bình giai đoạn 1997-2007 là 40,23 %/năm, cao hơn rất nhiều so với tăng trưởng bình quân diện tích (15,46 %/năm)

Hệ quả của việc phát triển nuôi cá tra thiếu quy hoạch, kém bền vững trong năm

2007 và những tháng đầu năm 2008 dẫn đến sản lượng cá tra trong vùng tiếp tục tăng nhanh vào 7 tháng đầu năm 2008 với sản lượng đạt được 833.564 tấn, tăng gấp 36 lần

so với năm 1997 Theo ước tính thì sản lượng những tháng cuối năm 2008 sẽ còn tiếp tục tăng cao, tình trạng khủng hoảng thừa nguyên liệu cá tra do mất cân đối cung cầu vẫn còn tiếp diễn Sản lượng cá tra trong vùng thừa đến ngày 21/7/2008 ước113.000 tấn

Tốc độ tăng trưởng về sản lượng nuôi cá tra ao, đăng quầng bình quân giai đoạn 1997-2002 là 32,23 %/năm; giai đoạn 2003-2007 là 50,49% Song tốc độ tăng trưởng

về sản lượng cá tra nuôi lồng bè có xu hướng ngược lại với sản lượng cá tra nuôi ao Tốc độ tăng trưởng bình quân trong 10 năm (1997-2007) đạt 3,19 %/năm, trong đó tốc

độ tăng mạnh ở giai đoạn năm 1997-2002 (143,46 %/năm), nhưng lại giảm dần ở những năm tiếp theo (đạt -64,95%/năm, giai đoạn 2003-2007)

Theo số liệu thống kê được bổ sung từ các Sở NN & PTNT các tỉnh thành có nuôi

cá tra thâm canh đến tháng 7/2008 thì TP.Cần Thơ có sản lượng cao nhất là 260.000 tấn, chiếm 31,2% sản lượng toàn vùng, kế đến là tỉnh An Giang là 204.624 tấn, chiếm 24,5% và tỉnh Đồng Tháp là 150.994 tấn, chiếm 18,1% Nhìn chung, sản lượng 3 tỉnh này đóng góp đáng kể và chiếm 73,9% so tổng sản lượng; các tỉnh còn lại: Tiền Giang, Bến Tre, Sóc Trăng, Trà Vinh, Hậu Giang và Vĩnh Long chiếm tỷ trọng 26,1% so với toàn vùng Sản lượng nuôi lồng bè của các tỉnh An Giang, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Tiền

Trang 26

Đề tài: Nghiên cứu xử lý nước thải từ ao nuôi cá tra bằng hồ sinh học và cánh đồng tưới

Giang và TP Cần Thơ năm 2003 đạt cao nhất là 63.479 tấn, chiếm 33% tổng sản lượng Đến 7/2008 chỉ có tỉnh An Giang và Vĩnh Long còn nuôi lồng bè, với sản lượng không

đáng kể (2.608 tấn) chiếm 0,31% (Nguồn: Báo cáo của các Sở Thủy sản, Sở NN &

PTNT các tỉnh thành và Cục Nuôi trồng Thủy sản, giai đoạn 1997-7/2008)

Hình 2.3: Diễn biến sản lượng cá tra ĐBSCL giai đoạn 1997-7T/2008

(chưa qua chế biến)

Trang 27

Bảng 2.6: Sản lượng cá tra nuôi vùng ĐBSCL giai đoạn 1997 - 7T/2008, ĐVT: tấn

1997-2002

TĐTT GĐ 2003-2007

TĐTT GĐ 1997-2007

I Nuôi ao, đăng quầng 22.550 30.700 50.330 52.248 46.107 91.145 133.099 210.457 371.482 405.617 682.609 832.956 32,23 50,49 40,64

Trang 28

Đề tài: Nghiên cứu xử lý nước thải từ ao nuôi cá tra bằng hồ sinh học và cánh đồng tưới

(Nguồn: Báo cáo của các Sở Thủy sản, Sở NN & PTNT các tỉnh và Cục Nuôi trồng Thủy sản, giai đoạn 1997-7/2008)

Hình 2.4 Diễn biến diện tích và sản lượng cá tra ở vùng ĐBSCL

Trang 29

Theo quy hoạch phát triển vừa được Bộ Nông nghiệp và phát triển Nông thôn phê duyệt thì tốc độ tăng trưởng diện tích trong vùng trong các năm tới trung bình khoảng 4,2%/năm Cụ thể đến năm 2010 diện tích nuôi cá tra của vùng đạt 8.600 ha tập trung chủ yếu ở Đồng Tháp là 2.300 ha, An Giang với 2.100 ha Đến năm 2015 diện tích nuôi cá tra của vùng đạt 11.000 ha và đến năm 2020 là 13.000 ha

Như vậy, từ quy hoạch trên cho thấy diện tích nuôi cá tra sẽ tăng dần trong thời gian tới và sản lượng nuôi đến năm 2020 sẽ có thể đạt 1,8 triệu tấn Với sản lượng như trên áp lực đối với môi trường ngày càng cao đặc biệt trong điều kiện diện tích tăng trong thời gian tới chủ yếu sẽ nằm trong khu vực khó khăn hơn về chất lượng nguồn nước cấp

và khả năng tiêu thoát kém

2.2 ĐẶC TÍNH SINH HỌC CỦA CÁ TRA VÀ MÔI TRƯỜNG NUÔI

2.2.1 Đặc tính sinh học của cá tra

a Cá tra trong điều kiện tự nhiên:

Cá tra (Pangasius hypophthalmus) là loài cá

bản địa của Việt Nam và một số nước lân cận (Lào,

Camphuchia và Thái Lan) Hiện nay đã có 11 loài

thuộc họ cá tra được tìm thấy ở Việt Nam, trong đó

có 5 loài là đối tượng nuôi quan trọng trong ao và bè

Cá Tra thuộc họ cá da trơn, có thân dài, không

vẩy, màu sắc đen xám, bụng hơi bạc và to tròn vì có

lá mỡ rất lớn (nên trước đây gọi là cá bụng), miệng

rộng và có 2 đôi râu dài Cá sống chủ yếu ở nước

ngọt, chịu được nước lợ nhẹ (độ muối dưới 10%), chịu đựng được nước phèn có pH>4

Cá tra có cơ quan hô hấp phụ nên có thể sống đựơc ở những ao hồ chật hẹp, thiếu oxy, nên nuôi được mật độ rất cao

Cá Tra có tính ăn tạp thiên về động vật, thích ăn mồi có nguồn gốc động vật và cũng dễ dàng chuyển đổi loại thức ăn Trong vòng đời của cá, giai đoạn cá bột hết noãn hoàng thì thích ăn mồi tươi sống, ăn các loài động vật bột và còn ăn thịt lẫn nhau trong bể

Trang 30

Luận văn thạc sĩ: Nghiên cứu xử lý nước thải từ ao nuôi cá tra bằng hồ sinh học và cánh đồng tưới

ương nuôi Khi phân tích thức ăn trong ruột của cá đánh bắt ngoài tự nhiên Thành phần thức ăn được tìm thấy ở cá Tra như sau:

Bảng 2.7 Thành phần thức ăn ở cá tra trong điều kiện tự nhiên

b Cá tra trong điều kiện nuôi ao (Nguồn: website: hoind.tayninh.gov.vn, 2008)

Ao nuôi cá tra thông thường có diện tích lớn hơn 500 m2, có độ sâu ao khoảng 4- 5

m trong đó độ sâu nước 2,5-3 m, mật độ thả nuôi 15-20 con/m2

Kích cỡ cá thả 10-12 cm (15-17 gam/con), thu họach toàn bộ sau thời gian nuôi từ 6-7 tháng, cá có thể đạt cỡ 1-1,5 kg/con Sản lương trung bình 150 tấn/ha Người nuôi có thể linh hoạt theo giá cả và nhu cầu thị trường để thu hoạch cá vào lúc thích hợp nhất

Hình 2.5 Cấu tạo ao nuôi trước khi nuôi Hình 2.6 Ao khi nuôi ổn định

Trang 31

Thức ăn cho cá nuôi ao: nguyên liệu làm thức ăn cho cá rất phong phú gồm các loại nông sản (cám, tấm, đậu, bắp…), nguồn cá tự nhiên…

Thức ăn cho cá Tra có thể phân loại thành những loại sau:

- Thức ăn công nghiệp: là loại thức ăn được sản xuất từ nhà máy với hàm lượng dinh dưỡng cao, dạng viên và có các loại thức ăn tương ứng với số tuổi của cá

- Thức ăn tự chế: là loại thức ăn mà yêu cầu sử dụng các nguyên liệu tự chế tại nơi nuôi cá Thức ăn chế biến ngày nào sẽ cho ăn ngày đó, hàm lượng dinh dưỡng trong thức ăn tự chế này rất cao Nguyên liệu để chế biến nguồn thức ăn này thường là: Bột cá, xác đậu xanh, đậu nành, cám

Một số công thức thức ăn tự chế biến như sau:

Bảng 2.8 Công thức thức ăn tự chế cho cá tra

Nguyên liệu Tỷ lệ Nguyên liệu Tỷ lệ Nguyên liệu Tỷ lệ

đạm ước tính 25 – 26

Hàm lượng

Hàm lượng đạm ước tính 20 – 22

(Nguồn: website: hoind.tayninh.gov.vn, 2008)

Hình 2.7 Thức ăn cho cá tra Hình 2.8 Thu hoạch cá tra

Trang 32

Luận văn thạc sĩ: Nghiên cứu xử lý nước thải từ ao nuôi cá tra bằng hồ sinh học và cánh đồng tưới

Cách cho cá ăn: mỗi ngày cho cá ăn 2 lần, sáng từ 6-10 giờ, chiều từ 16-18 giờ Khẩu phần thức ăn tự chế biến 5-7% trọng lượng thân, thức ăn viên công nghiệp 2-2,5%

- Giai đoạn 100-500 g/con (cá con): dùng thức ăn tinh có tỷ lệ protein 26-28% Lượng thức ăn trong ngày bằng 4-6% trọng lượng đàn cá

- Giai đoạn cá có trọng lượng từ 500g-1000 g/con (cá thịt), lượng thức ăn trong ngày từ 2-4% trọng lượng đàn cá Thức ăn cho cá giai đoạn này có tỷ lệ protein 22%

- Giai đoạn cá có trọng lượng trên 1000 g/con, dùng thức ăn có tỷ lệ protein 18% Cho cá ăn từ 3-4 lần trong ngày

- Ngưng cho cá ăn 1 - 3 ngày trước khi đánh bắt

2.2.2 Vấn đề môi trường và dịch bệnh trong nuôi cá tra

a Quản lý chất thải và môi trường

Trong điều kiện nuôi ao, các chỉ tiêu của nước trong ao cần đạt như sau:

(Nguồn: website: hoind.tayninh.gov.vn, 2008)

Việc thiếu oxy gây cho cá luôn trong tình trạng sức khỏe yếu Khi oxy thấp cá phải trồi lên mặt nước đớp khí liên tục để lấy oxy và sự vận động liên tục làm tiêu hao năng lượng và dễ nhiễm ngoại ký sinh ở mang

Trang 33

Thức ăn dư thừa làm tăng lượng mùn bã hữu cơ từ đó làm nước luôn trong tình trạng giàu dinh dưỡng Khí NH3 một phần làm tiêu hao oxy trong nước nên người nuôi phải thay nước liên tục để loại bớt độc chất, tăng oxy và qua đó góp phần đưa mầm bệnh

và nguồn nước xấu từ ngoài vào ao nuôi (nhất là đối với trường hợp lấy nước trực tiếp ngoài môi trường)

Mặc dù cá tra chịu rất tốt trong điều kiện khắc nghiệt của môi trường nuôi, nhưng

do nuôi thâm canh mật độ cao, thức ăn cho cá nhiều và chất thải ra cũng lớn làm cho môi trường ao nuôi bị nhiễm bẩn rất nhanh Do đó cần phải thay nước mới hàng ngày, mỗi ngày khoảng 20-30% lượng nước trong ao, để môi trường luôn sạch, phòng cho cá không

bị nhiễm bệnh

b Quản lý dịch bệnh

Các bệnh không truyền nhiễm: Bệnh do môi trường gây ra do những biến đổi của môi trường, do đó, vào các tháng có khi nhiệt độ hạ thấp đột ngột, làm cho cá kém ăn hoặc bỏ ăn, dẫn đến cá suy dinh dưỡng và dễ nhiễm bệnh gây chết ở các tháng sau đó Vào tháng nhiệt độ lên cao (31 – 320C) cũng dễ làm cho cá nhiễm bệnh, đặc biệt xuất huyết đường ruột gây chết hàng loạt Cá có thể chết do nước có khí độc như H2S, CH4,

NH3… hoặc CO2 nồng độ quá cao, nước nhiễm phèn, nước thải công nghiệp có độc tố, thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ… Ngoài ra, thức ăn và vấn đề cho ăn cũng ảnh hưởng đến sức khỏe của cá Nếu nguyên liệu chế biến thức ăn để quá lâu (như bột cá để lâu quá sẽ bị

hư, mốc và nấm độc phát triển, cá tạp bị ươn thối, cám gạo bị mốc…) sẽ có nguy cơ gây độc cho cá Thức ăn không đủ hàm lượng đạm sẽ làm tăng trưởng chậm và dễ nhiễm bệnh Thiếu vitamin sẽ làm sức tăng trưởng giảm, cá bị co giật

Các bệnh truyền nhiễm: Gồm có nhiều tác nhân gây bệnh cho cá như vi khuẩn, virus và ký sinh trùng Một số bệnh xuất hiện theo mùa rõ rệt như bệnh viêm ruột gây chết cá tra vào các tháng đầu năm, bệnh đốm đỏ, đốm trắng xuất hiện nhiều vào các thời điểm giao mùa (tháng 2-3 và 5-6), bệnh nhiễm giun tròn xuất hiện ở tất cả các tháng trong năm

Trang 34

Luận văn thạc sĩ: Nghiên cứu xử lý nước thải từ ao nuôi cá tra bằng hồ sinh học và cánh đồng tưới

2.3 ĐẶC TÍNH NƯỚC THẢI AO NUÔI CÁ TRA VÀ CÁC TÁC ĐỘNG ĐẾN MÔI TRƯỜNG

2.3.1 Đặc tính nước thải ao nuôi cá tra

Nguyên nhân gây ô nhiễm nước từ các ao nuôi cá tra chủ yếu xuất phát từ lượng thức ăn dư thừa và sản phẩm bài tiết của cá Theo tính toán chỉ khoảng 20% lượng thức

ăn khô được cá hấp thu, còn lại là do dư thừa, bài tiết và đặc biệt được thải ra theo con đường tiêu hóa

Các nghiên cứu của Boyd tại Mỹ năm 1985, Gross và cộng sự tại Mỹ năm 1998 cho thấy cá da trơn chỉ hấp thu được 27 -30% Nitrogen, 16 – 30% photpho và 25% chất hữu

cơ đưa vào từ thức ăn

Các nghiên cứu của Yang – Trung Quốc năm 2004 đối với cá da trơn trong 90 ngày cho thấy cá chỉ hấp thu được khoảng 37% hàm lượng N và 45% hàm lượng P trong thức

Hình 2.12 Thải nước từ rao ra kênh Hình 2.11 Thu nước thải từ ao

Trang 35

ăn cho vào ao nuôi Sản lượng cá tra trung bình 150 tấn/ha Từ những ước tính của Yang – Trung Quốc năm 2004, có thể ước tính chất thải phát sinh từ 1 ha ao nuôi như sau:

Bảng 2.9: Ước lượng chất thải phát sinh từ 1ha nuôi cá tra

52

Khả năng phú dưỡng của

Như vậy, theo cách tính trên và theo quy hoạch phát triển đến năm 2020 sản lượng

cá tra nuôi trồng tại ĐBSCL sẽ là 1.850.000 tấn thì lượng chất thải tương ứng là 2.368.000 tấn chất hữu cơ trong đó có 93.240 tấn N; 19.536 tấn P và 651.200 tấn BOD5 Con số trên là một giá trị khổng lồ đối với các vùng nuôi tập trung, với lượng thải trên nếu không có giải pháp hạn chế sẽ là hiểm họa đối với môi trường nước vùng ĐBSCL nói chung và đặc biệt nghiêm trọng đối với các vùng nuôi cá tra

Tham khảo kết quả phân tích đã thực hiện của Trung tâm nghiên cứu môi trường và

xử lý nước – Viện Khoa học và Thủy lợi Miền Nam vào tháng 06 năm 2008 Tính chất nước trong ao nuôi cá Tra tại Tiền Giang như sau:

Trang 36

Luận văn thạc sĩ: Nghiên cứu xử lý nước thải từ ao nuôi cá tra bằng hồ sinh học và cánh đồng tưới

Bảng 2.10: Kết quả phân tích tính chất nước trong ao nuôi cá Tra tại Tiền Giang

Kênh dẫn nước thải 2

QCVN 24: 2009/BTNMT,cột B – Quy chuẩn Kỹ thuật quốc gia về nước thải công nghiệp, cột B

áp dụng cho các thông số ô nhiễm trong nước thải công nghiệp khi thải vào nguồn tiếp nhận là các nguồn nước không dùng cho mục đích cấp nước sinh hoạt

QCVN 08: 2008/BTNMT, cột B1- Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặt, cột B1 dùng cho mục đích tưới tiêu thủy lợi hoặc các mục đích sử dụng khác có chất lượng nước tương

tự

Thông số in đậm – Vượt tiêu chuẩn cho phép

Từ bảng 2.10 cho thấy mức độ ô nhiễm trong nguồn nước là khá lớn đặc biệt là chất ô nhiễm dạng N Có tới 80 – 82% hàm lượng tổng N ở dạng hòa tan trong đó 88 – 91% hòa tan ở dưới dạng NH4+ Xét giá trị hàm lượng các bon cho thấy 32 – 46 % các bon ở dạng hòa tan trong nước và 54 – 68% ở dạng lơ lửng

Như vậy với thải lượng lớn và nồng độ các chất ô nhiễm khá cao như trên chất thải từ các ao nuôi cá tra đã và đang tác động rất lớn đến môi trường nước ảnh hưởng tiêu cực không chỉ đến nghề nuôi mà còn tác động đến các hoạt động sinh hoạt của người dân trong vùng

Trang 37

2.3.2 Chu kỳ xả thải

Mặc dù cá tra chịu rất tốt trong điều kiện khắc nghiệt của môi trường nuôi, nhưng

do nuôi thâm canh mật độ cao, thức ăn cho cá nhiều và chất thải ra cũng lớn làm cho môi trường ao nuôi bị nhiễm bẩn rất nhanh Do đó cần phải thay nước trong ao để môi trường luôn sạch, phòng cho cá không bị nhiễm bệnh

Chu kỳ thay nước được áp dụng như sau:

─ Giai đoạn 1 tháng đầu (khi thả cá giống): 1 đến 1,5 tháng sẽ thải nước một lần

─ Giai đoạn tháng nuôi thứ 2 - 3: hai ngày xả nước một lần

─ Giai đoạn tháng nuôi thứ 4 - 5: 1 đến 2 ngày xả một lần, với 1m – 1,5 m/lần xả (chiếm khoảng 2/4 – 2/3 thể tích ao nuôi)

─ Giai đoạn tháng nuôi thứ 6 - 7: thay nước hàng ngày, bơm nước vào và thay nước

ra liên tục, với 1m – 1,5 m/lần xả (khi thay nước, đặt ống hút sát tận đáy ao để hút bùn loãng sát mặt ao để làm sạch môi trường ao nuôi)

2.3.3 Lưu lượng thải

Lưu lượng xả nước thải của các hình thức nuôi thủy sản trên thế giới được thống kê trong bảng sau:

Bảng 2.11 Tổng hợp lượng nước thải phát sinh trong nuôi thủy sản

Nuôi cá da trơn công nghiệp

Nuôi tôm công nghiệp tại

Trang 38

Luận văn thạc sĩ: Nghiên cứu xử lý nước thải từ ao nuôi cá tra bằng hồ sinh học và cánh đồng tưới

Lưu lượng xả thải đối với nuôi cá Tra tại Việt Nam: dựa theo số liệu về chu kỳ xả thải tại mục 2.3.2, ước tính lưu lượng xả thải như sau (tính trong trường hợp xả thải cao nhất): tính cho 01 ha ao nuôi, độ sâu mực nước trung bình 2,75 m (thể tích là 27.500 m3)

─ Tháng 1 (1 tháng xả 1 lần, mỗi lần 2/3 ao) = 18.333 m3/tháng

─ Tháng 2-3 (2 ngày/lần, mỗi lần 2/3 ao) = 2*30/2*2/3*27.500 = 550.000 m3

─ Tháng 4-5 (1,5 ngày/lần, mỗi lần 2/3 ao) = 2*30/1,5*2/3*27.500 = 733.333 m3

─ Tháng 6-7 (1 ngày/lần, mỗi lần 2/3 ao) = 2*30/1*2/3*27.500 = 1.100.000 m3

Tổng lượng nước thải: 2.400.000 m3/ha ( 16.000 m3/tấn sản phẩm)

2.3.4 Các tác động đến môi trường

Việc thải trực tiếp nước ao nuôi cá, bùn đáy ao không được xử lý ra môi trường sẽ góp phần làm nước kênh, rạch, sông tại khu vực Các dấu hiệu ô nhiễm chủ yếu gồm nồng độ hữu cơ tăng cao, làm hàm lượng oxy trong nước giảm, các khí CO2, H2S… tăng lên Ngoài ra, việc xả nước từ các ao cá bệnh ra nguồn nước hay tận dụng cá bệnh làm thức ăn cho cá trê, cá lóc đã làm nguồn bệnh từ cá phát triển thêm trên phạm vi rộng Hiện nay, có thể nói nguồn ô nhiễm từ việc nuôi cá Tra là nguồn ô nhiễm chủ yếu cho

các kênh rạch của Đồng bằng sông Cửu Long

Môi trường nuôi ngày càng biểu hiện xấu kết hợp với việc nuôi cá tra phát triển nhanh mà không theo quy hoạch (lượng chất hữu cơ thải trực tiếp ra môi trường là rất lớn

so với nuôi các đối tượng thủy sản khác) nên cá nuôi ngày càng phải chịu đựng với điều kiện môi trường sống khắc nghiệt, dễ bệnh hơn trước rất nhiều lần

Hiện nay, ĐBSCL lại phải đối mặt với vấn đề bảo vệ môi trường vì lượng thức ăn thủy sản ngày càng thải ra nhiều hơn, ảnh hưởng nghiêm trọng đến nguồn nước Số liệu quan trắc trên các sông rạch ĐBSCL cho thấy BOD, COD, SS, đạm tổng số (TKN), tổng

số Coliform vượt xa mức cho phép của TCVN Nước ô nhiễm cũng gia tăng nguồn bệnh chính cho người và thủy sản

+ Tại An Giang: Theo ý kiến của ông Văn Thạnh - Giám đốc Sở Thủy sản An Giang cho biết: hiện nay các hộ nuôi cá tra trên địa bàn tỉnh đều không tuân thủ các qui định về bảo vệ môi trường như xử lý nước cấp, nước thải, chất thải từ ao

Trang 39

nuôi cá, không đảm bảo điều kiện vệ sinh thú y trong nuôi trồng thủy sản nên gây

ô nhiễm môi trường là điều không thể phủ nhận “Đa số những hộ nuôi cá tra hầm (ao) đều không xây dựng hệ thống ao lắng để xử lý nước trước khi cho vào

ao nuôi và xử lý nước thải trước khi xả ra sông rạch, đó là nguyên nhân chính gây ô nhiễm nguồn nước” Bà Hoàng Thị Thanh Thủy, phó trưởng Phòng môi trường thuộc Sở TN-MT An Giang cho biết các thông số về chất rắn lơ lửng, hàm lượng hữu cơ trong nước và hàm lượng oxy hòa tan đều không đạt so với tiêu chuẩn TCVN 6774-2000 và vấn đề ô nhiễm môi trường nước đang có chiều hướng ngày càng nghiêm trọng

+ Tại Đồng Tháp: kết quả khảo sát nguồn nước ở các ao nuôi cá tra thuộc các huyện Hồng Ngự, Tam Nông, Thanh Bình, Lai Vung, Lấp Vò, Cao Lãnh của Sở TN-MT Đồng Tháp cho thấy tất cả các chỉ tiêu đều vượt gấp nhiều lần so với tiêu chuẩn TCVN 6774-2000 – Tiêu chuẩn nước nuôi thủy sản Cụ thể hàm lượng chất rắn lơ lửng trong nước (SS) vượt từ 20mg/lít - 200mg/lít, các chất hữu cơ trong nước (BOD, COD) chỉ cho phép nhỏ hơn 10mg/lít thì các ao đều “đạt” con

số từ 35mg/lít - 200mg/lít Riêng lượng oxy hòa tan trong nước (DO) qui định bằng hoặc lớn hơn 5 mg/lít thì tất cả ao nuôi đều không đạt, thậm chí ở nhiều ao lượng oxy hòa tan chỉ đạt 1,6 mg/lít Từ thị trấn Hồng Ngự theo tỉnh lộ 841 ngược về hướng biên giới qua các xã Thường Lạc, Thường Thới Tiền, hai bên đường ao nuôi cá tra san sát Tuy nhiên, nước ao xanh lè nổi đầy bọt bèo dù bầy

cá tra vẫn ngoi lên ngụp xuống lục ục như cơm sôi Anh Trường và những chủ ao

cá khu vực Thường Lạc, Thường Thới Tiền đều thừa nhận môi trường nước ở các ao nuôi cá tra đang ô nhiễm do ao luôn tù đọng, trong khi lượng thức ăn cho

cá vẫn phải đổ xuống mỗi ngày nên khó tránh khỏi chuyện nước đổi màu, bốc mùi vì cá ăn không hết mồi Những ông chủ ao cá ở Thường Lạc, Thường Thới Tiền khẳng định toàn bộ nguồn nước thải ô nhiễm từ các ao đều được bơm thẳng

ra sông Sở Thượng và các kênh rạch trong vùng, bùn đáy ao sau khi vét cũng được tống thẳng xuống sông bởi “không đổ xuống sông thì đổ đi đâu”

+ Tại Cần Thơ: dọc Quốc lộ 91 đoạn qua Thuận Hưng (Thốt Nốt) có rất nhiều ao nuôi cá tra bề thế Con kênh chạy dọc theo quốc lộ, nguồn cung cấp nước chủ yếu cho vùng nuôi cá tra, mùa khô thường nước đục ngầu đặc quánh, chảy lờ đờ

Trang 40

Luận văn thạc sĩ: Nghiên cứu xử lý nước thải từ ao nuôi cá tra bằng hồ sinh học và cánh đồng tưới

Tuy vậy, dọc bờ kênh mỗi ngày có hàng chục máy bơm cỡ lớn thò vòi xuống kênh hút nước đưa vào các ao nuôi cá tra Khi nước ròng, cũng hàng chục chiếc

“vòi rồng” này lại phun ào ào dòng nước thải hôi thối từ các ao cá xuống thẳng lòng kênh Trong khi đó ở những khu vực nuôi cá tra hầm nổi tiếng dọc bờ sông Tiền, sông Hậu như Tân Lộc (Thốt Nốt, Cần Thơ), Tân Lược, Tân Quới (Bình Minh, Vĩnh Long), Lai Vung, Lấp Vò (Đồng Tháp) ở đâu cũng thấy cảnh các chủ

ao đầm xả nước thải ô nhiễm và bùn đáy ao ra sông rồi lại bơm trực tiếp nguồn nước ô nhiễm đó vào lại ao nuôi cá

Hiện nay ô nhiễm nguồn nước mặt do nuôi cá tra đang hết sức nghiêm trọng

“Những người nuôi cá tra đều không quan tâm đến việc xây dựng hệ thống xử lý nước thải từ ao nuôi cá, mạnh ai nấy xả nguồn nước ô nhiễm này ra sông rạch Sự phát triển ồ

ạt của nghề nuôi cá tra và thái độ không quan tâm xử lý nước thải để bảo vệ môi trường của người nuôi cá sẽ làm các sông rạch mất khả năng tự làm sạch và ô nhiễm nghiêm trọng, trở thành những dòng sông chết do chất thải từ các ao cá tra” Ngoài ra, nguồn chất thải này lan truyền rất nhanh đối với hệ thống nuôi cá bè trên sông, nuôi cá trong các đầm trũng ngập nước cùng với lượng phù sa lan truyền có thể gây ô nhiễm môi trường và dịch bệnh thủy sản phát sinh Đó chính là nguyên nhân làm cá tra, chết hàng loạt ở một

số bè cá trên sông, dịch bệnh trên các ao hồ và cánh đồng một số tỉnh lưu vực sông Tiền, sông Hậu trong khu vực ĐBSCL trong thời gian vừa qua

2.4 CÁC BIỆN PHÁP XỬ LÝ NƯỚC THẢI TỪ AO NUÔI CÁ TRA

Với thành phần ô nhiễm trong nước thải chủ yếu là các hợp chất nitơ phân hủy từ protein, các chất hữu cơ hòa tan gồm hidratcacbon, protein dễ phân hủy sinh học, công nghệ áp dụng để xử lý nước thải này chủ yếu là các công nghệ xử lý bằng biện pháp sinh học Đặc biệt, với hàm lượng nitơ cao, có thể sử dụng nước thải làm phân bón cho cây trồng trong nông nghiệp Chất hữu cơ có trong nước thải là cơ chất dinh dưỡng, nguồn cacbon và năng lượng cho vi sinh vật Các hợp chất hydratcacbon, protein, lipit hòa tan thường là cơ chất dinh dưỡng tốt cho vi sinh vật

Hiện nay, một số công nghệ xử lý có thể sử dụng có hiệu quả trong xử lý nước thải

từ ao nuôi cá gồm:

Ngày đăng: 16/04/2021, 03:57

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
6. Bộ Thủy sản, 2005: Ban chỉ đạo Chương trình phát triển XK thủy sản, “Dự án Qui hoạch hệ thống CBTS toàn quốc đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dự án Qui hoạch hệ thống CBTS toàn quốc đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020
36. Trang website: http://www.dbc.uci.edu/~sustain/suscoasts/chapter5.htm Link
1. Lương Đức Phẩm, 2002: Công nghệ xử lý nước thải bằng biện pháp sinh học (Nhà xuất bản giáo dục) Khác
2. Lê Văn Cát - Viện khoa học công nghệ Việt Nam, 2007: Xử lý nước thải giàu hợp chất Nitơ và phốt pho (Nhà xuất bản Khoa học tự nhiên và Công nghệ) Khác
3. Nguyễn Đức Lượng - Đại học bách khoa TPHCM, 2003: Công nghệ sinh học môi trường (Nhà xuất bản Đại học quốc gia TP.HCM) Khác
4. Đinh Hải Hà, 2009 -Viện KHCN và QLMT: Phương pháp phân tích các chỉ tiêu môi trường Khác
5. P.Denny et al., 'Constructed wetlands in developing countries, Water Sci and Tech. 35 (5) pp167-174 1997 Khác
7. Bộ Thủy sản, 2006: Báo cáo đánh giá kết quả thực hiện Chương trình phát triển NTTS giai đoạn 2000-2005 và biện pháp thực hiện đến năm 2010 Khác
8. Bộ Thủy sản, 2004-6/2006: Tạp chí thủy sản, 2000-6/2006 Khác
9. Sở Thủy sản, Chi Cục Thủy sản các tỉnh, 2006: Báo cáo tình hình sản xuất thủy sản của các tỉnh trong vùng ĐBSCL từ năm 1997-2005 Khác
10. Trung tâm quan trắc, cảnh báo môi trường và dịch bệnh thủy sản khu vực phía Nam, 01/2006: Báo cáo kết quả khảo sát thực địa một số tỉnh An Giang, Đồng Tháp và Tiền Giang Khác
11. Cục thống kê các tỉnh vùng ĐBSCL, 2005: Niên giám thống kê năm 2004 của các tỉnh trong vùng ĐBSCL Khác
12. Chương trình phát triển Liên Hợp quốc, 1993: Quy hoạch tổng thể ĐBSCL đến năm 2010 Khác
13. Hiệp hội chế biến xuất nhập khẩu thủy sản, 2005, 6/2006: Các tạp chí thương mại thủy sản, 2005, 6/2006 Khác
14. NXB Chính trị Quốc gia, 2003: Bảo vệ môi trường và phát triển bền vững (GS- TSKH Nguyễn Hữu Tăng, 2003) Khác
15. NXB Nông nghiệp Hà Nội, 1996: Nguồn lợi thủy sản Việt Nam Khác
16. Phân viện Khảo sát Quy hoạch thủy lợi Nam bộ, 2005: Báo cáo tóm tắt Quy hoạch tổng hợp ĐBSCL tập 1 Khác
17. Phân viện khảo sát, quy hoạch thủy lợi Nam bộ, 2001: Báo cáo Cơ sở khoa học hệ thống quan trắc môi trường để cảnh báo môi trường và dịch bệnh vùng ĐBSCL.Báo cáo hiện trạng khai thác, sử dụng tài nguyên nước ĐBSCL Khác
18. Phân viện Quy hoạch thủy sản phía Nam, 2006: Quy hoạch phát triển NTTS tỉnh Bạc Liêu đến năm 2010 Khác
19. Phân viện Kinh tế và Quy hoạch thủy sản phía Nam, 2002: Quy hoạch phát triển NTTS tỉnh Tiền Giang đến năm 2010 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm