1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn nghiên cứu đặc điểm sinh học, biến động số lượng nhện bắt mồi amblyseius sp (acarina phytoseiidae) nuôi trên nhện đỏ son tetranychus cinnabarinus koch

124 1,6K 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu đặc điểm sinh học, biến động số lượng nhện bắt mồi amblyseius sp (acarina phytoseiidae) nuôi trên nhện đỏ son tetranychus cinnabarinus koch
Tác giả Cao Thị Hằng
Người hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Thị Kim Oanh
Trường học Trường Đại Học Nông Nghiệp I
Chuyên ngành Bảo vệ thực vật
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2006
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 124
Dung lượng 1,04 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

luận văn

Trang 1

Bộ giáo dục và đào tạo trường đại học nông nghiệp I

-

cao thị hằng

Nghiên cứu đặc điểm sinh học, biến động số lượng

nhện bắt mồi Amblyseius sp (Acarina:Phytoseiidae) nuôi trên

nhện đỏ son Tetranychus cinnabarinus Koch

tại trường Đại học Nông nghiệp I - Gia Lâm - Hà Nội

Trang 2

Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và ch−a từng đ−ợc sử dụng cho bảo vệ một học vị nào Các thông tin, tài liệu trong luận văn này đã

đ−ợc ghi rõ nguồn gốc

Mọi sự giúp đỡ cho việc hoàn thành luận văn đều đã đ−ợc cảm ơn

Tác giả

Cao Thị Hằng

Trang 3

Lời cám ơn Sau một thời gian học tập và nghiên cứu, đến nay tôi đã hoàn thành luận văn thạc sĩ với đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm sinh học, biến động số lượng nhện bắt mồi Amblyseius sp nuôi trên nhện đỏ son Tetranychus cinnabarinus Koch tại trường Đại học Nông nghiệp I - Gia Lâm - Hà Nội”

Tôi xin trân trọng bày tỏ lòng biết ơn đến các thầy giáo, cô giáo và đặc biệt là thầy cô giáo trong bộ môn Côn Trùng, khoa Nông học, trường Đại học Nông nghiệp I - Hà Nội, những người

đã tận tình dạy bảo, giúp đỡ và định hướng cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu khoa học

Tôi xin trân trọng bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cô giáo PGS TS Nguyễn Thị Kim Oanh, người đã định hướng, chỉ bảo

và dìu dắt tôi trong quá trình nghiên cứu đề tài

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến các tập thể, cá nhân, bạn bè và người thân đã giúp đỡ, động viên, khích lệ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu khoa học

Tác giả

Cao Thị Hằng

Trang 4

Mục lục

Lời cam đoan i

Lời cám ơn ii

Mục lục iii

Danh mục các chữ viết tắt v

Danh mục các bảng vi

Danh mục các hình viii

1.2 Mục đích, yêu cầu của đề tài 11

2 Tổng quan tài liệu và cơ sở khoa học của đề tài 13

2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 13

2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 15

3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 41

3.2 Vật liệu nghiên cứu 41

3.3 Phương pháp nghiên cứu 42

3.4 Phương pháp tính toán số liệu 52

4.1 Kết quả nghiên cứu nhện bắt mồi Amblyseius sp. 55

4.1.1 Đặc điểm hình thái các pha phát triển của nhện bắt mồi Amblyseius sp

thức ăn là nhện đỏ son Tetranychus cinnabarinus Koch 55

4.1.2 Đặc tính sinh học, sinh thái của nhện bắt mồi Amblyseius sp nuôi

trên nhện đỏ son T cinnabarinus Koch 57

4.2 Một số kết quả nghiên cứu về mối quan hệ giữa nhện bắt mồi

Trang 5

4.2.1 Thành phần cây ký chủ của nhện đỏ T cinnabarinus Koch vụ đông

xuân 2005 - 2006 tại trường ĐH Nông nghiệp I và thôn Đa Tốn, Gia

4.2.2 Diễn biến mật độ nhện đỏ son và nhện bắt mồi trên đậu cove vụ xuân

2006 tại xã Đa Tốn, Gia Lâm, Hà Nội 72

4.2.3 Sức ăn trứng nhện đỏ son Tetranychus cinnabarinus Koch của nhện

bắt mồi Amblyseius sp. 75

4.2.4 Sự phát triển của nhện đỏ son trên cây đậu Cove Phaseolus vulgaris L. 77

4.2.5 Sự biến động số lượng của nhện bắt mồi Amblyseius sp trên nhện đỏ son 78

4.2.6 Khả năng khống chế nhện đỏ son T cinnabarinus Koch của nhện bắt

Trang 6

Danh môc c¸c ch÷ viÕt t¾t

Trang 7

Danh mục các bảng

Bảng 4.1 Kích thước các pha phát dục của nhện bắt mồi Amblyseius sp 55 Bảng 4.2 Thời gian phát dục (ngày) của nhện bắt mồi Amblyseius sp 58

Bảng 4.3 Khả năng đẻ trứng của nhện bắt mồi Amblyseius sp nuôi trên

nhện đỏ son tại 2 ngưỡng nhiệt độ 250C và 300C 59

Bảng 4.4 Tỷ lệ trứng nở (%) của nhện bắt mồi Amblyseius sp nuôi trên

Bảng 4.11 Thành phần ký chủ của nhện đỏ son T cinnabarinus Koch

tại Đa Tốn và ĐHNN I - Hà Nội 71

Bảng 4.12 Diễn biến mật độ nhện đỏ son và NBM Amblyseius sp trên cây

đậu cove vụ xuân 2006 tại Đa Tốn, Gia Lâm, Hà Nội 73Bảng 4.14 Sức ăn trứng nhện hại của một số loài nhện bắt mồi 76Bảng 4.15 Sự phát triển của quần thể nhện đỏ son trên cây đậu Cove

Bảng 4.16 Sự biến động mật độ nhện bắt mồi Amblyseius sp trên nhện đỏ

son đã xác lập với mật độ khác nhau 79

Bảng 4.17 Sự biến động mật độ nhện bắt mồi Amblyseius sp trên nhện đỏ

son đã được xác lập với mật độ khác nhau 81

Trang 8

Bảng 4.18 Mật độ nhện đỏ son T cinnabarinus Koch sau khi thả nhện bắt

mồi Amblyseius sp (Thí nghiệm trong phòng) 83 Bảng 4.19 Mật độ nhện đỏ son T cinnabarinus Koch sau khi thả nhện bắt

mồi Amblyseius sp (Thí nghiệm ngoài đồng) 85 Bảng 4.20 Thời gian sống của trưởng thành NBM Amblyseius sp

tại các ngưỡng nhiệt độ 90 Bảng 4.21 Khả năng ăn trứng nhện đỏ son của trưởng thành cái NBM

Bảng 4.22 Tỷ lệ nở của trứng nhện bắt mồi Amblyseius sp (%) ở các nhiệt

độ khác nhau 93

Bảng 4.23 Tỷ lệ trứng nở của NBM Amblyseius sp sau bảo quản 94

Trang 9

Danh mục các hình

Hình 4.1 Giá trị đúng sức tăng tự nhiên (r) của nhện bắt mồi Amblyseius sp 68 Hình 4.2 Diễn biến mật độ nhện đỏ son và NBM Amblyseius sp trên đồng

ruộng ở vụ xuân tại Đa Tốn, Gia Lâm, Hà Nội 74

Hình 4.3 Sự biến động mật độ nhện bắt mồi Amblyseius sp trên nhện đỏ

son đã xác lập với mật độ khác nhau (trong phòng thí nghiệm) 79 Hình 4.4 Sự biến động mật độ nhện bắt mồi Amblyseius sp trên nhện đỏ

son đã xác lập với mật độ khác nhau (thí nghiệm ngoài đồng) 82

Hình 4.5 Mật độ nhện đỏ son T cinnabarinus Koch sau khi thả nhện bắt

mồi Amblyseius sp (Thí nghiệm trong phòng) 84

Hình 4.6 Mật độ nhện đỏ son T cinnabarinus Koch sau khi thả nhện bắt

mồi Amblyseius sp (Thí nghiệm ngoài đồng) 86 Hình 4.7 Khả năng ăn trứng nhện đỏ của trưởng thành cái nhện bắt mồi

sau bảo quản 92

Hình 4.8 Tỷ lệ trứng nở của NBM Amblyseius sp sau bảo quản 95

Trang 10

do sâu bệnh càng gia tăng Theo FAO, sự gia tăng năng suất cây trồng nông nghiệp trên toàn thế giới (theo các chỉ tiêu tương đối) chậm hơn khoảng 1,5 lần sự gia tăng tổn thất do dịch hại gây ra (Rucavishnikov, 1973) (dẫn theo Phạm Văn Lầm, 2005) [26] Các loài dịch hại là những lực lượng thiên nhiên lớn đã, đang và sẽ là mối đe doạ thường xuyên đối với sản xuất nông nghiệp

ở nhiều nước, thiệt hại do sâu, bệnh và cỏ dại trung bình từ 20 - 30% tiềm năng, năng suất cây trồng Có trường hợp, tỷ lệ này còn cao hơn Điều này có nghĩa là cứ gieo trồng 5ha thì ít nhất có 1ha không cho thu hoạch Hàng năm,

ở Hoa Kỳ, thiệt hại của các cây trồng nông nghiệp trị giá khoảng 15 tỷ đô la (Cheremisinov, 1973) [48] Theo tính toán của bộ Hoa Kỳ, thiệt hại do các loài dịch gây ra tương đương giá trị của một triệu người lao động trong một năm nghĩa là mất gần 10% nhân lực sống trong nông nghiệp (Bondarenko, 1978) (dẫn theo Phạm Văn Lầm, 1995) [25] Do đó, Bảo vệ thực vật là một

Trang 11

tiềm năng quan trọng để tăng năng suất và chất lượng sản phẩm

Nông nghiệp Việt Nam cũng không đứng ngoài quy luật phát triển đó Tình hình sâu, bệnh hại đang là vấn đề nhức nhối cho các nhà khoa học nói chung và nông dân nói riêng Đặc biệt, trong một số năm trở lại đây, ngoài những dịch hại phổ biến, sản xuất nông nghiệp của chúng ta gặp một trở ngại mới đó là sự gây hại của nhóm nhện hại trên cây trồng ngày một gia tăng Nhóm nhện hại cây nằm trong bộ Ve bét (Acarina), lớp hình nhện (Arachnida) Chúng đã gây hại trên rất nhiều cây trồng như bông, chè, cam,

đậu đỗ, cây cảnh và cả cây làm thuốc Chúng dùng kìm chích vào mô cây, hút dịch cây làm cho cây còi cọc, làm chết đỉnh sinh trưởng, rụng lá, hoa và quả Ngoài ra một số loài nhện còn truyền các bệnh virus nguy hiểm cho cây như bệnh đỏ (Kernel Red Streak), bệnh khảm lá lúa mỳ, bệnh Latent virus

Hiện nay, trong nông nghiệp thâm canh, người sản xuất cũng đã có những hiểu biết nhất định Nhưng do nhện hại có cơ thể rất nhỏ, đa số không nhìn thấy bằng mắt thường và vết gây hại của chúng nhỏ li ti nên thời kỳ gây hại ban đầu không thể phát hiện được Khi có điều kiện thuận lợi, nhện hại dễ bùng phát số lượng, gây lên hiện tượng cháy lá hoặc chết đỉnh sinh trưởng nhiều trường hợp nhầm lẫn với bệnh virus Chính vì vậy, hầu hết các loại thuốc hiện nay không có hiệu quả cao trong phòng trừ nhện hại, hoặc muốn

đạt được hiệu quả trừ nhện thì phải tăng thêm nồng độ thuốc hoá học Việc sử dụng thuốc trừ sâu hoá học một cách tuỳ tiện của người nông dân đã làm cho môi trường sinh thái chung bị ô nhiễm, đặc biệt là các sản phẩm nông nghiệp chứa nhiều dư lượng thuốc hoá học, là nguyên nhân gây ngộ độc cho người và gia súc Sử dụng thuốc hoá học không đúng còn làm giảm đáng kể số lượng sinh vật có ích trên đồng ruộng, làm tăng tính kháng thuốc của sâu hại trong tự nhiên, khiến cho công tác phòng trừ sâu, bệnh hại càng trở lên khó khăn hơn

Trong xu thế phát triển chung của toàn thế giới là xây dựng một nền nông nghiệp bền vững và ổn định, đòi hỏi công tác Bảo vệ thực vật phải có cái nhìn sâu hơn trong việc quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) Trong IPM, việc sử

Trang 12

dụng biện pháp sinh học phải là biện pháp chính còn thuốc hoá học chỉ là thứ

vũ khí cuối cùng, khi các biện pháp khác đã sử dụng mà chưa hạn chế được tác hại của sâu, bệnh Để phòng trừ nhện hại, một số nước đã thành công khi dùng biện pháp sinh học ở Việt Nam, theo nghiên cứu của tác giả Nguyễn

Văn Đĩnh (2005) [18], tại vùng Hà Nội, loài Amblyseius sp (Acarina: Phytoseiidae) là loài thiên địch thường gặp của nhện đỏ son Tetranychus cinnabarinus Koch trên các cây trồng như đậu đỗ, lạc, rau đay Loài này có

tỉ lệ tăng tự nhiên (r) cao, tương ứng với 250C và 300C là 0,246; 0,29, chúng có khả năng tiêu diệt nhện đỏ son cao, được coi là loài có triển vọng trong phòng trừ sinh học Song trên thực tế, cây trồng bị nhện gây hại đáng kể thì nhện bắt mồi mới xuất hiện, do đó sự khống chế sinh học ở đây là không có ý nghĩa Như vậy, vấn đề đặt ra là chúng ta có thể nhân nuôi nhện bắt mồi được được không? Có thể chủ động lây thả nhện bắt mồi, khống chế nhện hại luôn ở dưới mức gây hại kinh tế được không?

Để góp phần giải quyết các vấn đề trên, chúng tôi đã thực hiện đề tài:

“Nghiên cứu đặc điểm sinh học, biến động số lượng nhện bắt mồi

Amblyseius sp (Acarina: Phytoseiidae) nuôi trên nhện đỏ son Tetranychus

cinnabarinus Koch tại trường Đại học Nông nghiệp I - Gia Lâm - Hà Nội”

1.2 Mục đích, yêu cầu của đề tài

- Bước đầu tìm ra quy trình nhân nuôi nhện bắt mồi Amblyseius sp một

cách thích hợp, nhằm sử dụng trong biện pháp sinh học phòng trừ nhện hại

Trang 13

1.2.2 Yêu cầu

1 Tìm hiểu một số đặc điểm sinh vật học của nhện bắt mồi Amblyseius

sp nuôi trên nhện đỏ son Tetranychus cinnabarinus Koch

2 Nghiên cứu mối quan hệ giữa nhện bắt mồi Amblyseius sp với nhện

đỏ son Tetranychus cinnabarinus Koch

3 Bước đầu đề xuất quy trình nhân nuôi nhện bắt mồi Amblyseius sp

(Acarina: Phytoseiidae)

Trang 14

2 Tổng quan tài liệu

và cơ sở khoa học của đề tài

2.1 Cơ sở khoa học của đề tài

Tầm quan trọng của nhện nhỏ hại cây trồng đã được các nhà bảo vệ thực vật ở nhiều nước trên thế giới quan tâm Nhện nhỏ hại cây là những động vật nằm trong bộ Ve bét (Acarina), lớp nhện (Arachnida), ngành chân khớp (Arthropoda) Chúng gây hại lớn trên nhiều loại cây trồng, một số đã trở thành dịch hại nguy hiểm, ảnh hưởng nhiều đến kết quả trồng trọt Tuỳ điều kiện canh tác mà thiệt hại có thể từ vài phần trăm đến 60 - 70%, thậm chí có trường hợp bị mất trắng Trên thế giới, nhiều công trình nghiên cứu về nhện hại đã

được công bố Tiêu biểu cho những nghiên cứu cơ bản về nhện hại là các công trình của Prichard and Baker (1955) [60], Jeppson et al (1975) [52], Kantz G.W (1978) [54], Meyer (1981) [57] Những miêu tả và khoá phân loại của các tác giả này đã đặt nền tảng cho những nghiên cứu tiếp theo của nhiều nhà khoa học trên thế giới

Nhiều công trình nghiên cứu về nhện hại đã đề cập đến các đặc điểm sinh học, quy luật phát sinh gây hại của từng loài, ảnh hưởng của các yếu tố vô sinh và hữu sinh đến sức tăng quần thể làm cơ sở cho các biện pháp phòng chống chúng có hiệu quả

Nhện nhỏ hại cây có kích thước cơ thể nhỏ (0,1 - 0,5mm), khó nhìn thấy bằng mắt thường nhưng nhện hại cây lại được các nhà khoa học đánh giá

là có ưu thế sinh học rất cao so với các loài động vật khác Chúng có khả năng thích nghi cao với điều kiện môi trường Thông thường, nhện hại cây sống ở mặt dưới của lá, quả, trong búp non, thậm chí nhiều loài còn sống trong u sần nơi được bảo vệ rất tốt tránh được các điều kiện bất lợi của ngoại cảnh cũng như sự tấn công của kẻ thù tự nhiên Chu kỳ sinh học của nhện hại cây thường

Trang 15

ngắn cùng với sức sinh sản rất cao, dễ gây thành dịch Chính những đặc điểm

đó đã làm cho nhện nhanh trơ với thuốc hoá học (Jeppson et al, 1975) [52] Nhiều thông tin về tính kháng thuốc của nhóm nhện hại cây trồng đã được ghi nhận ở Trung Quốc, Nhật, Mỹ, ấn Độ và nhiều nơi khác

Ngày nay, trên thế giới, công tác phòng chống nhện hại cây đã đạt được nhiều thành tựu to lớn Cùng với sự phát triển không ngừng về khoa học bảo

vệ thực vật, hàng loạt thuốc trừ sâu thế hệ mới ra đời đã góp phần làm giảm

đáng kể thiệt hại do dịch hại gây ra Tuy vậy, việc sử dụng thuốc hoá học liên tục và không đúng cách hoặc dùng thuốc có độ độc cao là những nguyên nhân quan trọng làm gia tăng mức độ xuất hiện và gây hại của nhện Bởi vì khi sử dụng các loại thuốc đó, tập đoàn thiên địch rất phong phú của nhện hại

bị tiêu diệt, mặt khác nhiều loại thuốc hoá học trong chừng mực nào đó còn kích thích sự sinh sản của nhện hại

Biện pháp sinh học và quản lý dịch hại tổng hợp ngày càng được chú ý

ở nhiều nước trên thế giới ở nhiều nước như Mỹ, Hà Lan, Trung Quốc đã rất thành công khi sử dụng các loài thiên địch để phòng chống nhện hại Chương trình IPM (Intergratest Pest Management) được thử nghiệm và ứng dụng trên nhiều loại cây trồng để trừ nhện hại đã mang lại hiệu quả cao và bền vững

ở nước ta, đã có một số tác giả nghiên cứu về nhện hại cũng các loài thiên địch của chúng như Nguyễn Văn Đĩnh (1994) [13], Phạm Văn Lầm, Nguyễn Kim Hoa, Trương Thị Lan (2005) [27], Nguyễn Thị Kim Oanh (2003) [30], Ngô Đình Hoà (1992) [19] Những kết quả nghiên cứu của các tác giả trên góp phần rất lớn trong công tác phòng trừ nhện hại Nhiều tác giả đã thành công khi sử dụng các loài thiên địch nói chung và nhện bắt mồi để phòng trừ nhện hại tại Việt Nam Việc sử dụng biện pháp sinh học và biện pháp IPM để phòng chống nhện hại càng có ý nghĩa hơn khi nhện hại dần trở nên “trơ” với thuốc bảo vệ thực vật

Trang 16

Xuất phát từ các luận cứ khoa học trên, đáp ứng yêu cầu của sản xuất hiện nay và lâu dài, chúng tôi đã tiến hành thực hiện đề tài, nhằm đưa ra các dẫn liệu khoa học, làm cơ sở để đưa biện pháp sinh học, cụ thể là dùng nhện

bắt mồi Amblyseius sp để phòng chống nhện nhỏ hại cây trồng tại Việt Nam

2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

2.2.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

2.2.1.1 Một số nghiên cứu về nhện hại

Nhóm nhện hại là các đối tượng gây hại nghiêm trọng trên nhiều loại cây trồng ở nhiều vùng trên thế giới, chúng là điểm thu hút của nhiều nhà khoa học Nhiều công trình nghiên cứu đã xác định thành phần các loài nhện hại trên cây trồng khá phong phú Nhện hại cây trồng là những động vật nhỏ

đến rất nhỏ, nằm trong bộ Ve bét (Acarina) còn gọi là bộ nhện nhỏ (Viện bảo

vệ thực vật, 1999 [39], lớp hình nhện (Arachnida), ngành chân khớp (Arthropoda) Động vật ngành chân khớp có số lượng loài chiếm trên 3/4 số loài sinh vật, với đặc điểm là cơ thể có chi và được chia thành các đốt nối với nhau Bộ Ve bét (Acarina) là một trong 7 bộ của lớp nhện với những đặc thù riêng về cấu tạo, phương thức sống (Krantz, G.M, 1978) [54] Từ giữa thế kỷ 20 cho tới nay, ngành Ve bét học (Acarology) mới thực sự trở thành một ngành khoa học

Đặc trưng quan trọng của bộ Ve bét (Acarina) là cơ thể tập trung hình thành một khối hình ôvan, mặt lưng có tấm mai kitin phát triển, không có râu, phần phụ miệng biến đổi thành kìm Về hô hấp nhện chia thành 2 nhóm: thở bằng hệ thống khí quản và thở bằng túi phổi Tận cùng bên ngoài khí quản là các lỗ thở thường nằm ở phía dưới bụng Nhện thường có 4 đôi chân (một số

có hai đôi chân) Trong quá trình phát triển, nhện trải qua các pha: trứng, nhện non các tuổi và nhện trưởng thành

Trang 17

Những công trình nghiên cứu đã tập trung vào phân loại gồm có: “Giới thiệu về nhện nhỏ” của Baker và Whartson (1952); “Hướng dẫn về các họ nhện nhỏ” của Baker và Ctv (1958) “Ve bét sống trên cạn tại các đảo thuộc liên hiệp Anh” của Evan và Ctv (1960) (dẫn theo Nguyễn Văn Đĩnh, 2005) [18]; “Sổ tay về Ve bét học” của Krantz, G M (1978) [54] Các nhà khoa học đã giới thiệu về hệ thống phân loại của các nhóm, các họ, các giống tại một số vùng trên thế giới (dẫn theo Nguyễn Văn Đĩnh, 2002) [16] Sabelis,

1983 [62] đã đề cập đến đặc tính gây hại của nhện, ảnh hưởng của các yếu tố môi trường và sức tăng quần thể của nhện hại Các thí nghiệm của (Meyer, 1981) [57] cũng đã đưa ra các tập chuyên khảo về thành phần của nhện hại ở châu á, Thái Lan, Philipines bước đầu nghiên cứu về loài nhện hại, các tác giả phân loại họ và giống nhện Một số công trình không chỉ đề cập đến phân loại

mà còn đề cập tới tác hại và khả năng phòng trừ nhện hại cây như cuốn “Nhện hại cây trồng kinh tế” (Jeppson và Ctv, 1975) [52] Cuốn “Nhện chăng tơ, đặc

điểm sinh học” do Helle và Sabelis nghiên cứu năm 1985 [51]

Các kết quả tiêu biểu là: ở vùng Bắc Mỹ, đã phát hiện được 2.500 loài (Borro, DJ, 1981) He, Jun - hua et al, năm 1986, tại Trung Quốc các nhà nghiên cứu đã phát hiện và mô tả được hơn 900 loài ở Nhật Bản, Hokeiryukan, 1971, Takeo yaginuma, 1986 đã mô tả được 1.233 loài, chúng thuộc 52 họ Các dữ liệu này đều được tác giả Nguyễn Văn Đĩnh dẫn năm

2004 [17] ở châu úc, phát hiện trên 2.000 loại nhện và định tên cho 1.876 loài Trên quần đảo Anh, đã phát hiện 570 loài nhện, chúng thuộc 24 họ Vườn Quốc gia Thuỵ Điển, Holma A (1983) cũng đã phát hiện được 119 loài nhện (dẫn theo Hoàng Kim Thoa, 2004) [35] Tại Thuỵ Điển, tác giả AliNiazee M T, 1984 [42] cũng phát hiện thấy 94 loài nhện ở độ cao 600m của vùng cực Bắc Funkaralen

Trang 18

Với những thống kê sơ lược trên, chúng ta thấy thành phần nhện là tương đối lớn và đa dạng

Todd Murray (2002) [67] và một số nhà côn trùng học cho rằng, nhện hại được xem là loài dịch hại thứ 2 trong nông nghiệp Nhưng chúng thực sự trở thành đối tượng dịch hại quan trọng từ khi dùng DDT, một số thuốc trừ dịch hại được phun nhiều đã làm tăng khả năng sinh sản của nhện cái đồng thời còn tiêu diệt nhện bắt mồi trên đồng ruộng

Sự gây hại của nhện nhỏ bằng cách dùng kìm chích vào mô cây, tiết

nước bọt vào trong đó và nhờ sức căng bề mặt dịch cây trào ra vết chích, bơm hút phía sau kìm hút dịch cây vào ống tiêu hoá Do bị mất dịch, cây thiếu chất dinh dưỡng trở nên còi cọc và có thể bị chết Ngoài ra, vết thương cơ giới do nhện tạo nên rất nhỏ, ban đầu những vết châm có màu vàng sáng, có khi gây

ra hiện tượng khảm nhẹ Tiếp đó, cây bị hại nặng, nhiều vết thương liền kề nhau, mô lá hoặc mô cây bị biến màu, mất đi màu xanh đặc trưng Những phần bị hại đó lâu ngày sẽ chuyển thành màu đỏ hay màu huyết dụ hoặc màu nâu Triệu trứng này thể hiện rất rõ trên các cây trồng nông nghiệp như sắn, rau đay, đậu đỗ Một biểu hiện cũng thường gặp trên cây khi nhện gây hại là các bộ phận của cây hoặc bản thân cây bị biến dạng Đã có nghiên cứu chỉ ra rằng, khi chích hút, nhện còn truyền chất độc cho cây Chất độc này điều tiết

sinh trưởng của cây Ví dụ như nhãn, vải bị nhện Eriophyes litchii tấn công,

chúng đã truyền chất độc làm cho các tế bào bị dài ra tạo thành hiện tượng lông nhung trên cây

Nhện không những gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến năng suất cây trồng mà chúng còn là môi giới truyền bệnh cho cây Đặc biệt là bệnh virus

như bệnh virus Y trên cây khoai tây có vectơ truyền bệnh là nhện đỏ T cinnabarinus Koch Nhện Eriophyyes tulipae Keifer truyền bệnh khảm lá lúa

mỳ (Wheat spot mosaic) Bệnh Latent virus trên cây mận do nhện Aculus

Trang 19

khảm xoăn cũng có môi giới truyền bệnh là nhện nhỏ

Cho đến nay, nhóm nhện nhỏ hại cây trồng nằm chủ yếu trong bốn họ

thuộc hai tổng họ Tetranychoidea và Eriophyoidea

Họ Tetranychidae thuộc tổng họ Tetranychoidea, họ nhện này có trên

1200 loài thuộc 70 giống, là loài ăn thực vật và một số đang là dịch hại chính trên đồng ruộng Các nghiên cứu của Prichrad & Baker, 1955 [60], Guttereiz,

1985 [49] cho thấy họ Tetranychidae có đặc điểm chính sau: có kìm di động

dài trong đầu giả hoặc kìm có các đốt nhập chung ở gốc, đốt xúc biện thứ 4 có

1 vuốt to, đốt bàn I và II có các đôi lông đặc trưng, bàn chân có các lông nhỏ,

đệm vuốt có hoặc không có lông mịn, lỗ sinh dục cái là đặc trưng cho họ và cho loài Thông thường, có ba đôi lông phía trước lưng, 4 đôi lông mép lưng, 5

đôi lông lưng và 1 đôi lông mép ngang giữa lưng

Trong họ này, tiêu biểu là nhện SchizoTetranychus nanjingensis đã

được ghi nhận là một loài gây hại thường xuyên trên cây tre, cây trúc sào

Phyllostachys pubescens tại tỉnh Phúc Kiến - Trung Quốc Chúng có thể làm

giảm từ 20 - 40% năng suất măng tre Loài này xây tổ ở mặt dưới của lá, bên trong tổ, các con nhện sinh sống và trích hút mô lá Ban đầu, lá có những chấm nhỏ, sau đó chuyển sang màu vàng rồi màu nâu, nhìn xa như thấy rừng trúc bị “cháy” (Yan X Z & Zhi-Qiang Z, 2000) [71]

Tác giả He Lin, Zhao Zhimo (2003) [50] đã nhận định nhện đỏ son (T cinnabarinus koch) là loài phân bố rộng Nó là một trong những loài gây hại

nghiêm trọng tại Trung Quốc nhờ khả năng tái sinh mạnh và thích ứng tốt với

điều kiện ngoại cảnh Không những vậy, loài này hầu như không hề suy giảm

số lượng khi phun thuốc trừ nhện trong một thời gian dài Tetranychus cinnabacinus Koch (Common red spider mite) đã hoàn toàn kháng lại thuốc

gốc lân hữu cơ (Meyer, 1981) [57] tại vùng Nam Phi

Trang 20

Skumar, S prasad (2003) [63] nhện hai chấm Tetranychus urticae Koch (Tetrnychidae: Prostigmata) gây hại đáng kể trên cây cúc Vạn Thọ (Tagetes patula L.) Đây là cây trồng hàng năm, mang lại hiệu quả kinh tế cao tại

Varanasi, Ultttar Pradesh, ấn Độ Người dân ở đây, dùng hoa cúc để trang trí trong các dịp lễ thánh hoặc sử dụng làm vị thuốc quan trọng Nhưng khi bị nhện hai chấm tấn công, nó làm cho lá úa vàng, hoa không nở bình thường mà

bị dị dạng T urticae Koch còn là 1 trong 9 loài nhện gây hại trên cam quýt

tại Cu Ba (Rodrigueez N., 1981) [59] Ngoài ra, ký chủ của nó có thể là cây dại, cây ăn trái, cây rau màu hay cây thuốc

Trong tổng họ Tetranychoidea có họ Tenuipalpidae Năm 1975,

Jeppson và Ctv [52] đã xây dựng khoá phân loại các loài nhện hại thuộc họ

Tenuipalpidae thường gặp ở Mỹ Các loài chính trong họ Tenuipalpidae được ghi nhận là loài Brevipalpus californious Banks hại trên cam chanh, chè, cây cảnh Loài B chilensis Baker hại trên nho, cây ăn quả Chúng không những

gây hại trực tiếp mà còn gây nên vết thương cơ giới để nấm và vi khuẩn gây bệnh thối lan rộng trên cây trồng

Họ Tarsonemidae vẫn thuộc tổng họ Tetranychoidea tiêu biểu có loài nhện trắng (Polyphagotasonemus latus Bank) Nhện trắng là loài đa thực,

phân bố rộng mang tính toàn cầu nhất là trong vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới

ẩm, đã có 55 nước ghi nhận sự có mặt gây hại của loài này Chỉ tính riêng các nước trồng sắn tại Châu Phi, hàng năm nhện trắng gây thiệt hại ước tính là 1,8

tỷ đôla - chúng là một trong các nguyên nhân làm trầm trọng thêm nạn thiếu

đói ở lục địa này ở New Guinea, nhện trắng làm giảm 50 - 60% năng suất

đậu tương Không những thế, chúng còn là loài sâu hại quan trọng trên cam chanh ở úc (Smith and Papacek, 1985) [65]; là loài dịch hại nghiêm trọng trên cây chè, ớt, cà tím ở Trung Quốc (Li and Ctv, 1985) [55]; là loài dịch hại mới

Trang 21

ra, Tác giả Renou and Aspisot, 1984 (dẫn theo Hoàng Kim Thoa, 2004) [35] khi sử dụng thuốc hoá học có nguồn gốc họ cúc thì nó không những không có tác dụng tiêu diệt nhện trắng, mà ngược lại nó có tác dụng kích thích sự phát triển của nhóm nhện này

Loài S spinki (họ Tarsonemidae) là loài nhện hại lúa quan trọng nhất ở

phía Nam vùng lãnh thổ Đài Loan Trong năm 1977, tại đất nước này, nhện hại lúa đã làm 20 - 60% hạt bị lép trên diện tích bị hại 19.000ha, thiệt hại do

chúng gây nên ước tính là 9,2triệu đô la Mỹ (Chen và Ctv, 1978) [47] Loài S spinki trưởng thành có màu trong nhạt, cơ thể hình trứng dài khoảng 0,25 - 0,3mm Trưởng thành nhện có 4 đôi chân Trứng nhện S spinki hình e - líp

màu trắng

Tổng họ Eriophyoidea có 3 họ là Nalepillidae, Eriophyidae và Rhyncaphytopidae

Họ Nalepellidae: Có kìm ngăn, có lông và các dãy nếp nhăn tiêu giảm

Điểm đặc trưng nhất là có 1 - 2 đôi lông phía trước đầu Tiêu biểu là

Phytocoptella Newkirk and keifer còn gọi là nhện búp hoặc nhện u búp lớn với khoảng trên 10 loài Giống Trisetacus keifer có khoảng 20 loài Ngoài ra, còn có giống Acathrix keifer, Nalepella keifer…

Họ Eriophyidae, điển hình là loài Calacarus citrifoli Keifer (Citrus

grey mite) Đây là loài vô cùng nguy hiểm trên cây trồng, ngoài sự gây hại

đến năng suất cây trồng nó còn là vectơ truyền bệnh virus Loài này đã gây hại nặng trên cam, quýt vùng Rustenburg phía Nam châu Phi Cây trồng bị nhện phá hại làm cho quả non không phát triển được, bề mặt quả xù xì, múi khô giảm giá trị thương phẩm Theo kết quả nghiên cứu của Vander Merwe và Coates 1965 ở ngưỡng nhiệt độ 270C con cái đẻ được 33 quả trứng và giai

đoạn phát triển trứng là 6 ngày (dẫn theo Nguyễn Văn Đĩnh, 2005) [18] Bên

cạnh đó, còn có loài Phyllocoptruta oleivora Ashmead gây rám vàng cam

Trang 22

chanh cũng rất nặng Chúng gây rụng lá và quả khi gặp thời tiết nóng và khô,

đặc biệt là khi cây bị thiếu nước Mật độ nhện hại có xu hướng nặng hơn trong vườn cây ăn quả khi các loài kẻ thù tự nhiên bị tiêu diệt bởi việc sử dụng các

loại thuốc trừ sâu có phổ tác dụng rộng như Methidathion và Dimethoate

(Nguyễn Văn Đĩnh, 2004) [17] Năm 1975, Jeppson và Ctv [52] đã đề cập tới hiện tượng nhện rám vàng kháng Zineb ở Mỹ và Israel

Họ Phyncaphytopidae: về mặt cấu tạo tương đối giống Eriophyidae,

nhưng chiều rộng cơ thể có thể đạt 0,50 - 0,70mm Kìm dài hơn hai họ trên

Họ này bao gồm các giống Rhyncaphytoptus keifer, Catarhinus keifer, Diptilomiopus nalepa, Rhynacus keifer, Trmeroptes keifer

Những kết quả nghiên cứu cơ bản ở trên đã chỉ ra rằng thành phần nhện hại cây trồng là rất phong phú và đa dạng Đa số nhện hại có số lượng nhiễm sắc thể ít, sức sinh sản cao cho nên chúng có khả năng thích ứng rộng với môi trường mới và ngay cả trên một số môi trường chất độc Điều này là những thách thức lớn đối với di truyền học

Hiện nay, vẫn còn rất nhiều loài nhện hại đã và đang được nghiên cứu trên thế giới Hy vọng những năm tiếp theo sẽ được đón nhận nhiều kết quả nghiên cứu về nhện hại hơn, trên cơ sở đó tìm ra biện pháp phòng trừ chúng một cách thích hợp

2.2.1.2 Một số nghiên cứu về nhện bắt mồi

Thành phần kẻ thù tự nhiên của nhện hại rất phong phú, chúng được

đánh giá cao trong chương trình quản lý dịch hại tổng hợp Tuy nhiên, việc nhân nuôi và sử dụng các loài thiên địch, để phòng trừ nhện hại còn nhiều hạn chế, phạm vi áp dụng còn hạn hẹp Do vậy, hướng lợi dụng quần thể thiên

địch có sẵn trong tự nhiên (từ đó tạo cơ sở nhân nuôi chúng ) để phòng chống dịch hại được coi là vấn đề quan trọng hiện nay Trên cơ sở nghiên cứu, lựa

Trang 23

biện pháp khác (như canh tác, đốn tỉa, tưới nước ) để bảo vệ và phát huy vai trò của thiên địch trong điều hoà số lượng quần thể nhện hại

Kẻ thù tự nhiên của nhện hại cây bao gồm các nhóm chính sau: vi sinh vật, côn trùng và nhện bắt mồi Các loài côn trùng bắt mồi thuộc 189 họ của

16 bộ côn trùng và gần 100 họ của 2 bộ nhện (Phạm Văn Lầm, 2005) [26] NBM sống phổ biến trong đất mùn, rác, nơi mà ở đó chúng dễ săn bắt các loài chân đốt, tuyến trùng hoặc các loài Ve bét khác Đặc điểm của nhóm này là có chân dài, chuyển động nhanh nhẹn và có kìm dạng châm Ngoài tác dụng phòng trừ nhện hại, nhiều loài nhện nhỏ còn có tác dụng to lớn trong chu trình tuần hoàn vật chất, phân huỷ các chất hữu cơ làm tăng độ phì của đất

Nhện bắt mồi thuộc bộ Ve bét, thường gặp gồm 3 họ chính: họ

Phytoseiidae; họ Stigmaeidae và họ Anystidae, cheyletidae, Erythraeidae

Đây là nhóm kẻ thù tự nhiên quan trọng của nhện hại

Họ Phytoseiidae với các thành viên sống tự do trên cạn, không thấy

sống ký sinh Đặc điểm về mặt hình thái của họ này là con cái có lỗ để đưa túi tinh và lỗ sinh dục (đẻ trứng) riêng biệt nằm ngang ở phần đốt chân IV Lỗ phóng tinh của con đực nằm giữa đôi chân III và IV; cấu tạo kìm của con cái

và con đực có nét riêng biệt, đặc trưng cho từng loài Họ Phytoseiidae có 4 giống với trên 1200 loài: giống Typhlodromus scheuten với 275 loài, Amblyseius berlese có 800 loài, Phytoseius ribage có 400 loài và Phytoseiulus evans có 4 loài

Bên cạnh họ Phytoseiidae còn có họ Stigmaeidae, 2 giống trong họ này tấn công nhiều trên nhện hại chăng tơ Tetranychidae và một số họ nhện hại khác: Zetzelia oudemans và Agistemus summers Đặc điểm khác biệt của họ

này là trên lưng có 8 tấm, trong đó nổi rõ và to hơn cả là 2 tấm lưng và tấm trước sinh dục

Trang 24

Họ Anystidae, Cheyletidae, Erythraeidae, đặc điểm chung là cơ thể

mềm, có ít lông trên lưng và không có lông cảm giác phía trước lưng Những loài thuộc họ này đa số là nhện bắt mồi đa năng

Ngoài ra còn có họ Bdellidae, họ Tarsonemidae và một số loài nhện lớn

họ Theridiidae, Linyphiidae cũng sử dụng một số loài nhện hại làm thức ăn

Tác giả Nguyễn Văn Đĩnh, 2004 [17] đã đưa ra yêu cầu về một loài bắt mồi có hiệu quả khi chúng đáp ứng được phần lớn các đặc điểm dưới đây:

1 Có thời gian phát triển (vòng đời) ngắn hơn thời gian phát triển của một con mồi;

2 Có sức sinh sản cao;

3 Có khả năng ăn mồi lớn;

4 Có khả năng sống sót cao khi con mồi ít hoặc rất ít;

5 Có nơi ở và sự ưa thích ký chủ giống như con mồi;

6 Có sự ưa thích tiểu khí hậu như con mồi;

7 Có khả năng tìm kiếm con mồi tốt ngay cả khi mật độ con mồi thấp;

8 Có sự phát triển vật hậu theo mùa giống như con mồi;

9 Có khả năng chống chịu với các điều kiện thời tiết khắc nghiệt như con mồi;

10 Có khả năng chống chịu được với các loại thuốc trừ dịch hại

Nếu đạt được các tiêu chuẩn trên thì đó chính là loài bắt mồi có hiệu quả và là loài “lý tưởng” Loài đạt được 7/10 tiêu chuẩn, được nhân nuôi và sử

dụng rộng rãi nhất hiện nay là loài nhện bắt mồi Phytoseiulus persimilis A-H thuộc họ Phytoseiidae, tiếp theo là các loài thuộc giống Amblyseius Rất nhiều loài Phytoseiidae được nhân nuôi hàng loạt và là các tác nhân quan trọng

trong phòng chống nhện hại

Trang 25

Loài NBM đầu tiên được phát hiện là Typhlodromus pyri Scheuten năm

1857 Sau đó là Phytoseiulus macropilis Banks năm 1905 Nhện bắt mồi đa phần thuộc họ Phytoseiidae Trong họ này có ba chi lớn là Amblyseiinae, Typhlodromine và Phytoseiinae Đến nay, đã có hơn 1700 loài nhện bắt mồi

thuộc 50 giống được ghi nhận Các khoá phân loại về nhóm nhện bắt mồi này rất khác nhau, nó phụ thuộc vào vùng lãnh thổ riêng Tiêu biểu là khoá phân loại của Van der Merwe (1968) tại Nam Phi, Schicha (1987) tại Australia, Schicha & Corpuz-Raros (1992) tại Philippines, Ryu (1993) tại Hàn Quốc, Ehara (1998) tại Nhật Bản gần đây nhất có khoá phân loại của Becard (2001) (dẫn theo Nguyễn Văn Đĩnh, 2004) [17] ở Australia Một số tác giả cũng đã đưa ra kết quả của việc phòng trừ nhện hại bằng việc sử dụng nhện bắt mồi và côn trùng bắt mồi trong phòng trừ sinh học (Wysoki, 1985) [69]; (Woets, 1982) [68] Trong nửa cuối thế kỷ XX, sự quan tâm về vai trò của nhện bắt mồi ngày càng mạnh mẽ, chỉ tính trong 15 năm từ 1970 - 1985 đã có 500 công trình nghiên cứu được công bố về vấn đề này Hiện nay, có khoảng 20 loài nhện bắt mồi được nhân nuôi hàng loạt để phục vụ cho công tác phòng trừ dịch hại

Lorado, 1929 đã công bố kết quả trong việc sử dụng thành công loài

nhện Thanatus flavidus Simol để trừ rệp Cimex hại người ở các trại tỵ nạn

Hylạp (dẫn theo Hoàng Kim Thoa, 2004) [35]

Tác giả T Henn, R Weinzierl (2005) [65] cho biết nhện bắt mồi của

nhện hai chấm Tetranychus urticae (two spotted spider mites) thuộc hai chi Phytoseiulus and Amblyseius, cơ thể dạng hình ovan, vòng đời ngắn (khoảng 7-

17 ngày tuỳ vào nhiệt độ và độ ẩm), có khả năng tái sinh cao Chúng thường có màu hơi đỏ, chân dài không có chấm, di chuyển rất nhanh khi bị chạm phải Trứng của NBM hình bầu dục và to hơn so với trứng của nhện hại Trưởng thành nhện bắt mồi ăn tất cả các pha của nhện hại

Một số loài NBM thuộc hai chi trên, gần đạt tiêu chuẩn về một loài

Trang 26

NBM lý tưởng sử dụng trong đấu tranh sinh học Năm 1985, Chazeau J đã mô

phỏng hệ thống hoá phân loại họ Phytoseiidae và ghi nhận các sự kiện lịch sử

trong việc điều tra, định loại 20 loài quan trọng có thể sử dụng trong phòng

chống nhện hại Trong đó, hai loài nhện bắt mồi thuộc họ Phytoseiidae là Amblyseius sp và phytoseiuslus sp có tính chuyên hoá cao đối với nhóm nhện

hại cây trồng [46] Các tác giả đã phát hiện được 6 loài có khả năng kìm hãm nhện hại ngay cả khi mật độ của chúng còn thấp 1 - 3 con trên lá (dẫn theo Nguyễn Văn Đĩnh, 2005) [18] Các loài có tỷ lệ tăng tự nhiên r cao r > 0,25 ở

250C là Phytoseiulus macropilis Banks, Amblyseiu longispinosus, A deleoni Muma & Denmark, A chileensis Dosse, P persimilis Athias - Henriot, A bibens Blommers, P longipes Evans (Sabelis, 1983) [62]

Đặc biệt là loài Phytoseiulus persimilis Athias - Henriot là một trong

hai loài chân khớp được sử dụng rộng rãi nhất trong đấu tranh sinh học phòng chống côn trùng và nhện hại hiện nay (loài này được phát hiện vào năm 1957) Loài nhện này, phát triển tốt ở nhiệt độ 21 - 270C với ẩm độ khoảng 60 - 90%

Loài Phytoseiulus persimilis được nhân nuôi rộng rãi, loài này được dùng để trừ nhện đỏ Tetranychus urticae trong nhà kính ở Anh, Hà Lan, Liên Xô cũ,

diện tích sử dụng nhện bắt mồi ăn thịt ở Hà Lan tăng từ 12ha (năm 1974) lên 100ha (năm 1985) và đạt 580ha (năm 1990) ở các nước Tây Âu, diện tích sử

dụng nhện bắt mồi Amblyseiulus persimilis để trừ sâu hại năm 1982 là 100ha,

năm 1990 nên tới 2900ha (dẫn theo Phạm Văn Lầm, 1995) [25] Hiện tại, loài

Phytoseiulus persimilis và một số loài nhện bắt mồi khác thuộc họ Phytoseiidae được nuôi rộng rãi trên 15 nước như Anh, Mỹ, Nhật Bản, Đài

Loan với diện tích áp dụng là 5000ha

ở Hoa Kỳ, đã nghiên cứu sử dụng 6 loài nhện nhỏ bắt mồi ăn thịt và có trên 50 công ty sản xuất chế phẩm sinh học là NBM (dẫn theo Phạm Văn Lầm, 1995) [25] Tại đây, phòng nghiên cứu về côn trùng đã giới thiệu về việc

Trang 27

nhân nuôi Phytoseiulus persimilis bằng cách khi mật độ nhện hại nhiều hơn 1

con/lá thì chúng được dùng đầu tiên là thuốc trừ sâu hay một loại thuốc không

để lại dư lượng, sau đó họ mới thả NBM vào (phương pháp thả còn phụ thuộc

vào mật độ nhện hại) Mật độ khuyến cáo cho sử dụng NBM Phytoseiulus persimilis là 20 - 30 NBM đồng thời nó còn phụ thuộc vào giai đoạn phát triển

và tính nhạy cảm của cây trồng

Châu Phi là nguồn gốc của nhện bắt mồi Phytoseiulus longiper, nó là

thiên địch của nhện hai chấm Loài nhện bắt mồi này có khả năng chịu nhiệt

độ cao tới 380C nếu ẩm độ cao Khi ẩm độ thấp (40%) thì nhiệt độ mà nhện

Phytoseiulus longiper chịu được là 210C ở Nam Phi, loài Amblyseius newsami Evan là loài thiên địch quan trọng nhất đối với nhện hại Panonychus citri Qua điều tra cho thấy mật độ nhện hại phát triển theo mùa, mùa hè khi

nhiệt độ cao, thành phần nhện hại rất phong phú nhưng do sự có mặt của nhện

bắt mồi này mà loài nhện hại Panonychus citri chỉ gây hại ở dưới ngưỡng gây

hại kinh tế Một thí nghiệm của Rubin và Nakash (Wysoky dẫn 1985) [69] sau

khi thả NBM 35 ngày thì tỉ lệ nhện hại Panonychus citri giảm từ 31% xuống

còn 3,2%

ở Nhật Bản loài Amblyseius deloni Muma là thiên địch của nhện hại

Panonychus ulmi (Tanaka và Kashio, 1977) [66] Loài Amblyseius x là thiên

địch của loài nhện đỏ hại chè Oligonychus coffeae N Loài Amblyseius largoensis là loài thiên địch của nhện đỏ Tetranychus citri Thời gian sống của nhện bắt mồi Amblyseius sp dài nhất là 42 ngày, chúng có thể sống trên môi

trường thức ăn khác như phấn hoa của cây Cẩm Quỳ Trong điều kiện khan hiếm, nó ăn thịt đồng loại

Tại ấn Độ, kết quả nghiên cứu về độc tính của 7 loại thuốc đối với nhện

đỏ hại chè O coffeae và NBM thuộc giống Amblyseius, giống Agistemus vùng

Tây Bengan chỉ ra rằng Fenzaquin là thuốc an toàn nhất đối với các loài thiên

Trang 28

địch (Sah và Ctv, 1999), (dẫn theo Nguyễn Văn Đĩnh, 2005) [18]

Tại Trung Quốc, năm 2000, cuốn “ Công bố về hệ thống và ứng dụng

ngành nhện” trong đó có bài viết “Tiềm năng của loài Amblyseius cucumeris (Phytoseiidae) một tác nhân khống chế sinh học chống lại nhện SchizoTetranychus nanjingensis (Acari: Tetranychidae) tại Fujian, Trung

Quốc” của các tác giả Yan X Z, Zhi - Qiang Zhang, Lin Jian Zhen, JiE Ji thuộc Viện nghiên cứu Bảo vệ thực vật, Phúc Kiến, Trung Quốc [71] Nhóm

nghiên cứu đã thành công trong việc sử dụng NBM Amblyseius cucumeris để khống chế số lượng nhện SchizoTetranychus nanjingensis hại trên cây trúc sào tại tỉnh Phúc Kiến Loài Amblyseius cucurmeris cũng được sử dụng để trừ

nhện đỏ hại cam chanh, nhện hại tre trúc và bọ trĩ (Yan, 2003 trao đổi riêng), (dẫn theo Nguyễn Văn Đĩnh, 2004) [17] Ngoài ra, nhóm tác giả trên còn nhận thấy, trên cam quýt mật độ nhện đỏ tăng nhanh vào đầu vụ xuân, trong khi mật độ thiên địch của nhện đỏ lại tăng rất chậm Từ đó, các tác giả đã đề xuất giải pháp đơn giản là cắt và cho thêm những cành sồi xanh có nhiều thiên

địch lên cây cam quýt Với cách làm đó, mật độ nhện bắt mồi Phytoseius, Amblyseius tăng lên gấp đôi và mật độ nhện đỏ được khống chế

Tại châu Âu và Đông Mỹ, vấn đề xảy ra là NBM Amblyseius cucurmeris bắt đầu diapause dưới điều kiện ngày ngắn và mát Tuy nhiên, loài

nhện không diapause được chọn lựa ở Newzeland bởi nhà khoa học người Hà Lan Hiện nay, chúng có tính kinh tế cao và vẫn kiểm soát tốt số lượng bọ trĩ trong mùa đông

Loài NBM Amblyseius potentilla Garman được đem so sánh tại vườn

táo ở Hà Lan và vườn tại ý cho biết: ở Hà Lan thì nhện bắt mồi có một thời kỳ ngừng phát dục còn ở ý thì không có Như vậy, do khác nhau về điều kiện sống làm thay đổi một số đặc điểm sinh học của nhện bắt mồi, đặc biệt là độ

Trang 29

(Xin, 1984) [70] Nếu điều kiện ẩm độ là 100% thì tỷ lệ nở trứng và sự sống của thiếu trùng tương đối khó khăn Tỷ lệ chết ở hai pha là tương đối cao (Sabelis, 1981) [62]

Năm 1990, do tác hại ngày một gia tăng của nhện hại, một chương trình nghiên cứu quốc tế nhằm tìm kiếm kẻ thù tự nhiên có hiệu quả với nhện trắng

đã được xây dựng (Jassen, trao đổi riêng, 1997) Pena và Osborne, 1996 chỉ ra

rằng loài Neoseiulus califor Nicus là loài có khả năng kìm chế nhện trắng hại

trên ruộng đậu ở mật độ thấp (dẫn theo Nguyễn Văn Đĩnh, 2005) [18]

Cũng như đối với loài T urticae trên cây cà chua, bông là những ví dụ

trong việc sử dụng nhện bắt mồi theo quan điểm “lây nhiễm hại trước” để đạt chỉ số hại 0,4 (tương ứng khoảng 6% diện tích lá bị hại) sẽ thả 4 con NBM trên cây Ngưỡng gây hại đối với cà chua tại Anh là 2,0 tương đương với 30% diện tích lá bị hại

Năm 1989 Mitunda and Calilung (dẫn theo Nguyễn Văn Đĩnh, 2005)

[18], nghiên cứu về NBM Amblyseius sp ăn bọ trĩ cho thấy, nhện trưởng

thành có thể ăn 2 - 7 con/ngày Tại nhiệt độ 250C, nó có thể hoàn thành vòng

đời trong vòng 1 tuần và mật độ tăng nhanh hơn rất nhiều so với loài Orius spp (một loài thiên địch khác của bọ trĩ) NBM Amblyseius mackenzie và A Okinawanus ăn bọ trĩ trên dưa chuột tại Nhật Bản Thả 100 trưởng thành/cây,

3 tuần 1 lần, mật độ bọ trĩ giảm 1/3 - 1/5 so với mật độ ban đầu

Ngày nay, dịch hại phát triển một cách mạnh mẽ, người dân lại quen sử dụng thuốc hoá học nên nhiều loài nhện hại có tính kháng thuốc đồng thời hầu hết các loại nhện bắt mồi lại rất mẫn cảm với thuốc hoá học Một số phòng thí nghiệm ở California từ những năm 1980 đã có chương trình huấn luyện NBM

như Amblyseius occidentalis quen với các loại thuốc trừ dịch hại

Hiện nay, trên thế giới, có rất nhiều loài thiên địch (côn trùng và nhện bắt mồi) của nhện hại được nhân nuôi hàng loạt theo phương pháp công

Trang 30

nghiệp và cung cấp đến tận cơ sở sản xuất Một số công ty như Koppert, Syngenta Bioline, Biological Crop Protection Ltd and English Woodlands biocontrol và các trường đại học đã cung cấp các sản phẩm NBM hoặc đưa ra những phương pháp nhân nuôi nhện bắt mồi đem lại kết quả rất tốt

Quy trình nhân nuôi nhện bắt mồi của Đại học tổng hợp Leiden, Hà Lan

Để nhân nuôi được cần có 3 phòng lớn:

Phòng 1: trồng đậu sạch, nhiệt độ 300C Xung quanh bằng kính hoặc nilon, mái lợp ngói, phía trên đặt 2 chùm tuýt đèn cách chậu nhân đậu 50 - 80cm Đậu được trồng bằng hạt trong các chậu có đường kính 20cm, cao 20 - 20cm 10 chậu đặt trong một khay đựng nước

Phòng 2: lây nhiễm nhện đỏ với cùng nhiệt độ trên, khi đậu cao 15 - 20cm, sau gieo 3 - 4 tuần, chuyển sang phòng 2 rồi cho lây nhiễm nhện đỏ (2

- 3 con/lá) trong 7 - 10 ngày để khi có 1/3 số lá đậu có đốm bạc liên kết lại

Phòng 3: nhân nhện bắt mồi Nhiệt độ và phương thức như trên Khi cây

đậu ở phòng 2 đã có 1/3 số lá đốm bạc liên kết lại thì chuyển chậu trồng sang phòng 3 rồi thả nhện bắt mồi vào nhân (2 - 3 con/cây) Sau 1 - 2 tuần, tuỳ theo nhiệt độ khi mật độ NBM đạt 5 - 6 trưởng thành trên lá thì thu hoạch

Công ty hàng đầu nhân nuôi và bán rộng rãi các loài thiên địch của nhện hại là công ty Koppert - Hà Lan Công ty này, có chi nhánh tại 10 nước trên thế giới như Bỉ, Pháp, Mỹ, Canada, Thổ Nhĩ Kỳ Loài được nhân nuôi và

sử dụng rộng rãi nhất là loài nhện bắt mồi Phytoseiulus persimilis A - H vì

loài này đạt được 7/10 tiêu chuẩn của nhện bắt mồi “lý tưởng” Đa số sản phẩm NBM được đóng trong lọ nhựa hoặc gói trong giấy Mỗi lọ thường có

300 - 500 thiên địch Việc sử dụng khá đơn giản, người sản xuất có thể đặt mua hàng thông qua mạng Internet Khi nhện hại đạt ngưỡng mật độ phòng chống thì rắc sản phẩm trên cây

Trang 31

Một số sản phẩm sử dụng trong đấu tranh sinh học phòng chống nhện hại

của công ty Koppert - Hà Lan năm 2003

TT Tên

sản phẩm Loài thiên địch Đối tượng phòng trừ

1 Dicybug Bọ xít Dicyphus hesperus Nhện đỏ Tetranychus spp và bọ phấn

2.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước

2.2.2.1 Một số nghiên cứu về nhện hại cây trồng

ở nước ta hiện nay, môn học động vật hại nông nghiệp đã được chính thức đưa vào giảng dậy cho sinh viên của trường Đại học Nông nghiệp I, Hà Nội Mục tiêu của môn học là giúp cho sinh viên nắm được các kiến thức hình thái, sinh học, sinh thái học và phân loại cơ bản về các nhóm động vật hại cây trồng như nhện, chuột, ốc và biện pháp phòng chống chúng Giáo trình“ Nhện nhỏ hại cây trồng” của PGS.TS Nguyễn Văn Đĩnh, 2004 [17] đã cung cấp những thông tin cơ bản về nhện nhỏ hại và các biện pháp phòng chống chúng

Trang 32

trên thế giới cũng như ở Việt Nam Việc giảng dậy đối tượng gây hại này chứng tỏ là nhóm nhện nhỏ hại cây trồng được chú ý, những kiến thức về chúng đang được phổ biến rộng rãi trong nước

Nhện nhỏ hại cây trồng đã xuất hiện và gây hại đáng kể từ những năm

50 ở nước ta Khi thâm canh cao, trồng thuần cây bông, chè, cam chanh, đậu

đỗ, sắn… Nhện hại từ những loài thứ yếu trở thành phổ biến và trong những trường hợp trở thành loài nguy hiểm nhất (Nguyễn Văn Đĩnh, 1994 [13]

Trên cây chè, nhện đỏ Oligonychus coffeae là một trong ba loài gây hại

quan trọng nhất (Nguyễn Thái Thắng, 2001) [34] Nhện đỏ hại chè sống tập trung ở mặt trên lá bánh tẻ, nhất là lá già, rất ít khi thấy chúng sống trên lá non và ngọn Qua nghiên cứu, sức tăng quần thể nhện đỏ trên các giống chè (Nguyễn Văn Đĩnh, 1993) [12] thấy rằng nhện đỏ có sức tăng quần thể cao và chúng sinh trưởng mạnh trên các giống PH1, IA tiếp theo là các giống Gia Vài, Tham Vè và Trung Du Tác giả Nguyễn Thái Thắng (2001) [34] cho biết tương quan giữa mật độ nhện hại và tỷ lệ hại là tương quan thuận, khá chặt với

r = 0,7835 Ngoài ra, trung tâm nghiên cứu thực nghiệm chè Lâm Đồng cho

biết: loài nhện đỏ hại chè MetaTetranychus bioculatus Woodson ngày càng

phát triển và gây hại nặng (các giống bị nặng là Shan LĐ97, PH1, TB14, Tứ Quý đối với các vườn chè hạt nhện đỏ tác hại mang tính cục bộ hơn) Quy luật phát sinh của chúng là năm nào càng khô hạn thì năm đó nhện đỏ càng gây hại nặng Hiện nay, việc trừ nhện đỏ thường dùng các loại thuốc hoá học như comite 73EC, Dandy 15EC, Ortus 5EC

Trên sắn, nhện đỏ son Tetranychus cinnabarinus và nhện đỏ vàng Tetranychus piercei M chiếm ưu thế hơn cả, chúng gây tác hại đáng kể Nhện

đỏ gây hại tới 5 - 33,3% lá sắn (Trần Ngọc Ngoan, 1983) [28] Trong các năm

1977 - 1978, nhện đỏ tấn công gây hại nặng làm rụng lá sắn trên diện tích hàng trăm hecta ở Vĩnh Phúc, Phú Thọ và một số địa phương khác (Lê

Trang 33

Trường) [38] Loài nhện đỏ son T cinnabarinus đã từng gây tác hại nghiêm

trọng trên ớt tại một số huyện thuộc một số tỉnh miền Trung (Trần Thị Tú Ngà, 1990, trao đổi riêng) Chúng sống ở mặt dưới lá, làm cho lá ớt biến màu

và rụng, cây còi cọc không ra được hoa, quả

Tác giả Nguyễn Thị Kim Oanh, 2003 [30] đã nhận định nhện đỏ T cinnabarinus hại trên hoa hồng tại Hà Nội Chúng có thời gian phát triển các

pha ở 250C dài hơn ở 300C và thường gây hại nặng vào tháng 3, tháng 4 Nhiều

năm gần đây, loài nhện đỏ Tetranychus urticae với sự phát triển mạnh mẽ của

chúng là cứ một con cái đẻ trung bình 200 quả trứng, tỷ lệ nở trứng có thể đạt tới 90% ở điều kiện tốt cho nên sự gây hại trên sắn, bông, đậu đỗ… rất đáng

kể (Nguyễn Văn Đĩnh, 2005) [18]

Đối với dứa, hiện tượng “vàng trắng” lá dứa do nhện đỏ có tên

DolichoTetranychus floridanus đã phát sinh, gây hại trên hàng chục héc ta

dứa Cayen ở Nghệ An, Bắc Giang, Ninh Bình, Hoà Bình và một số tỉnh khác (Báo Nông nghiệp Việt Nam 11/11/2003) [1] Nhện chích hút trên phần mô trắng tại gốc của lá, chúng gây hiện tượng mất nước và tạo thành những đốm màu nâu hoặc nâu đen Cây bị hại nặng toàn bộ lá có màu vàng trắng, cây không phát triển được, quả rất nhỏ và xấu

Báo Nông nghiệp Việt Nam ra ngày 20/10/2004 cho biết: trên nho nhện

đỏ gây hại nặng vào cuối vụ và bộ lá có thể bị phá hỏng hoàn toàn Cây suy yếu, năng suất vụ sau giảm rất nhiều Nhện đỏ hại nặng từ tháng 11 đến tháng

7 năm sau Biện pháp, không để vườn nho bị khô hạn kéo dài, nhất là vùng cát pha, cát ven biển Sử dụng các loại thuốc như Selecron, Carbaryl, Sevinn để phòng trừ [1]

Nhện trắng Polyphagotarsonemus latus lần đầu tiên được ghi nhận hại

khoai tây với mức độ trung bình, sau đó nó trở thành một trong những loài gây hại chủ yếu trên khoai tây Chúng có thể làm giảm năng suất khoai tây từ 27 –

Trang 34

82% Nhất là trong vụ xuân, mức độ hại do P Latus tăng rất nhanh Từ khi cây

bị hại đến cấp hại cao nhất (cháy khô hoàn toàn) trong tháng tư chỉ diễn ra trong vòng 2 – 3 tuần (Nguyễn Văn Đĩnh, 1994) [13] Nhện trắng tấn công gây hại trên 59 loài thực vật tại vùng Hà Nội, trong đó những loài cây bị hại nặng gồm có khoai tây, ớt, cà, đậu tương, đậu đỗ, tía tô, cỏ dại… (Nguyễn Văn Đĩnh, 1992) [11] Vì vậy, trong 44 tài liệu công bố về loài nhện trắng này từ năm

1934 - 1987 có 50% tài liệu gắn với điều tra và phân biệt với bệnh virus

Đối với cam quýt, trong bài viết “Bước đầu đánh giá về sâu bệnh hại cam quýt ở các tỉnh phía Bắc trong mấy chục năm qua”, tác giả Vũ Khắc Nhượng (1993), [29] đã xác định có hai loài nhện thường xuyên xuất hiện với

mật độ cao và gây hại nặng là Panonychus citri và Phyllocoptruta latus Loài nhện đỏ Panonychus citri được coi là một trong 4 loài sâu hại cam chanh quan

trọng ở tỉnh Hà Giang (Trần Thị Bình, 2002) [2] Cây bưởi gốc ghép trong

vườn khi bị nhện đỏ Panonychus citri gây hại nặng thì chúng không phát triển

bình thường, vườn bưởi có màu trắng bạc, chiều cao cây bưởi con giảm tới 30% (Nguyễn Văn Đĩnh, 1991) [9] Trên cam chanh nhện rám vàng

Phyllocoptruta oleivora có tác hại ngày một gia tăng, ngay cả ở đồng bằng

sông Hồng, nơi mà trước đây bệnh rám quả ít xuất hiện (Nguyễn Văn Đĩnh, Nguyễn Thị Phương 2000) [15]

Tại vùng đồi Hoà Bình, phát hiện có 7 loài nhện hại cam chanh (Trần

Xuân Dũng, 2003) [6] Loài nhện rám vàng Phyllocoptruta oleivora gây lên

hiện tượng rám quả cam chanh (Nguyễn Văn Đĩnh và Nguyễn Thị Phương, 2000) [14] Tạ Hồng và Nguyễn Văn Nghiệp (1971) cho rằng, nhện rám vàng không gây hại đáng kể về năng suất nhưng làm giảm giá trị thương phẩm quả cam chanh, nhất là cam xuất khẩu và quất cảnh [20] Phạm Văn Vượng và Hà Quang Dũng (1994) [40] đã cho biết ở vùng Phủ Quỳ - Nghệ An có những lô cam bị nhện gây rám quả tới 70 - 80%

Trang 35

Điều tra lấy mẫu trên 2000 quả quất ở vườn nhà và ngoài đồng vào tháng 4, tháng 5 năm 1997 ở Văn Mỹ - Hưng Yên, tỷ lệ hại và chỉ số hại do nhện rám vàng gây lên rất cao và khác nhau đáng kể Tương ứng ở trong vườn nhà là 54,58%, 45,42% và ở ngoài đồng là 28,7%, 23,54%

Đối với nhãn, vải, nhện lông nhung Eriophyes litchii tấn công gây hại lá,

quả non, nụ hoa và chồi, làm cho lá nhãn, vải nhăn nheo, cây còi cọc, không ra hoa, kết quả Loài nhện này có hình con giun, dài 0,1 - 0,14mm, vuốt có dạng lông chim 5 hàng Vòng đời là 13 - 19 ngày Trong những năm gần đây, bệnh lông nhung như đánh giá của nhiều nhà vườn đã xuất hiện gây hại ngày một nhiều trên các vùng trồng vải, nhãn ở Bắc Giang, Hưng Yên, Vĩnh Phúc…

Trên lúa, năm 1992, tại Thừa Thiên Huế, Ngô Đình Hoà [19] đã xác định

diện tích lúa bị loài S spinkic họ Tarsonemidae gây hại 40ha và đã có 15% hạt

bị lép Năm 2004, báo Nông nghiệp Việt Nam ra ngày 31/12/2004 [1] công bố thành phần sâu hại trên lúa có thêm loài nhện Gié Chúng sống tập trung phía trong bẹ lá phần trên mặt nước Nhện Gié dùng vòi kim nhỏ chích hút nhựa ở bẹ lá, cuống bông, cuống gié và vỏ hoa lúa trước khi trổ Trên bẹ lá lúa, vết chích của nhện Gié tạo thành những sọc thối đen kéo dài, màu thâm nâu Khi lúa có

đòng, nhện hút nhựa đòng làm bông lúa trổ ra có nhiều hạt lép Hạt lúa bị nhện hại co xoắn lại, màu vàng nhạt (hiện tượng lép vàng), khi mật độ cao, chúng mới bò lên phía trên bông lúa và tiếp tục gây lép một số hạt Nhện Gié thường phát sinh gây hại vào tháng 5, tháng 6 trên các trà lúa hè thu sớm từ khi làm

đòng đến trổ bông Ngoài ra, nhện còn mang theo một số bào tử nấm gây bệnh thối bẹ lúa

Các nghiên cứu về đặc tính gây hại của nhện hại, thành phần các loài nhện hại cây trồng, đặc điểm sinh thái học của một số loài nhện hại cây trồng tại Việt Nam đã được tác giả Nguyễn Văn Đĩnh trình bày trong nhiều tài liệu Các nghiên cứu này đã góp phần đáng kể trong công tác phòng chống nhện hại cây trồng

Trang 36

Để đáp ứng trong việc tiến hành đề tài, chúng tôi đi sâu vào các nghiên

cứu về nhện đỏ son Tetranychus cinnabarinus (Acarina: Tetranychidae)

- Phạm vi ký chủ: nhện đỏ son phân bố rộng rãi mang tính toàn cầu, chúng có mặt ở các vùng nhiệt đới, cận nhiệt đới và ôn đới Trên thế giới, chúng phá hại trên 120 loài cây như bông, sắn, đậu đỗ, ớt, lạc, hoa hồng, đào, mận… (Meyer, 1981) [57]

- Triệu chứng và mức độ gây hại: nhện non và nhện trưởng thành sống ở mặt dưới cạnh gân chính lá bánh tẻ và lá già, tạo nên các màng tơ chằng chịt Nhện dùng kìm chích vào mô lá tạo nên các vết chích nhỏ li ti không có hình dạng nhất định Vết chích ban đầu có màu trắng nhạt sau đó chuyển sang màu trắng vàng Khi mật độ cao, các vết hại liên kết vào nhau tạo thành các mảng màu trắng vàng, nếu gặp mưa hoặc gió mạnh chỗ bị hại sẽ bị rách thủng, một thời gian sau lá bị rụng Hiện tượng trên thường gặp trên bông, sắn, đậu đỗ, rau đay Trên cây đậu xanh, đậu đũa triệu chứng hại có khác là vết hại mặt dưới lá chuyển sang màu huyết dụ, toàn bộ lá bị vàng Khi mật độ cao chúng tấn công cả trên lá non và ngọn, tạo nên một lớp tơ dày bao kín toàn bộ ngọn

và lá non Cây bị hại còi cọc, không ra hoa và kết quả được Chúng thường gây hại nặng khi thời tiết nóng và khô hạn

- Đặc điểm hình thái: cơ thể hình cầu khá lớn, có thể nhìn thấy bằng mắt thường Kích thước trưởng thành cái là 0,440(mm) x 0,237(mm) và trưởng thành đực là 0,335(mm) x 0,247(mm) Cơ thể màu đỏ son hoặc màu đỏ hơi vàng Trên lưng mỗi bên có một vệt đỏ sẫm Trứng hình cầu trơn nhẵn, màu vàng nhạt, khi sắp nở có màu hơi nâu được đẻ rải rác từng quả Nhện non tuổi

1 có màu trắng ngà hình bầu dục với 3 đôi chân, trên thân có nhiều lông dài Nhện non tuổi 2 có 4 đôi chân, màu vàng nhạt Nhện non tuổi 3 giống trưởng thành, kích thước nhỏ hơn Cơ thể có màu vàng rơm hoặc vàng đậm, bắt đầu xuất hiện 2 đốm hơi nâu hoặc đỏ nhạt trên lưng

+ Tập quán sinh sống và quy luật phát sinh gây hại: nhện đỏ son đẻ

Trang 37

trứng sát mặt dưới lá Sau 3 ngày, trứng nở thành nhện non Sau 1,8 ngày nhện non lột xác thành tiền trưởng thành 1 và sau 2 ngày lột xác lần 2 thành tiền trưởng thành II Nhện đỏ son trong các giai đoạn phát triển thì giai đoạn

trưởng thành dài nhất Một năm, nhện đỏ son Tetranychus cinnabarinus có thể

có 20 - 25 thế hệ Chúng có tỉ lệ sống tự nhiên cao, sau 14 ngày vẫn đạt 100% Sau đó, tỉ lệ sống sót giảm dần và chết 100% vào ngày thứ 36 (trên đậu Cove) Mỗi con cái có thể đẻ từ 4,5 - 8,0 quả/ngày Trung bình một con cái có thể đẻ

từ 40 - 85 trứng, cao nhất đạt 100 - 120 trứng Trong một năm, nhện đỏ son thường gây hại vào các tháng nóng và khô (tháng 4 - 5 và tháng 8 - 9)

Sự gia tăng của quần thể nhện hại cây phụ thuộc nhiều vào khả năng thích ứng của loài đối với sự thay đổi của môi trường sống Khi nhiệt độ xuống thấp vào mùa đông hay lên cao vào mùa hè có thể làm nhện đỏ son chết hàng loạt Tỷ lệ nở của trứng nhện nhện đỏ son phụ thuộc vào nhiệt độ mùa xuân Độ ẩm cao là một trong những nguyên nhân kìm hãm sự phát triển của quần thể nhện hại,

Lượng mưa cũng ảnh hưởng đáng kể đến số lượng quần thể nhện đỏ son, vào các tháng mưa phùn, mạng tơ nhện dẫn nước và giữ ngập nước, ảnh hưởng tới khả năng trứng nở Nếu mưa to nhện đỏ son sẽ bị trôi đi hàng loạt (Nguyễn Văn Đĩnh, 1991) [7]

- Biện pháp phòng chống nhện đỏ son: bao gồm 2 biện pháp chính là sử dụng thuốc hoá học và biện pháp đấu tranh sinh học Thuốc hoá học có khả năng ngăn chặn dịch khi chúng bùng phát số lượng, đem lại hiệu quả trừ nhện nhanh Nhưng khi sử dụng liên tục, không đúng thuốc, không đúng kỹ thuật

đã tiêu diệt thiên địch của nhện hại, gây tính chống thuốc cho dịch hại (như thuốc Tetranychus, Dicofol ) và để lại dư lượng thuốc trong nông sản, gây

độc hại cho người và động vật máu nóng

Biện pháp thứ 2 là đấu tranh sinh học, tuy biện pháp này chưa được sử dụng rộng rãi, nhưng những nghiên cứu về các loài thiên địch của nhện đỏ son

Trang 38

đã và đang được nhiều nhà khoa học quan tâm Một số loài thiên địch của

nhện đỏ son như bò rùa đen nhỏ Stethorus sp (Coccinellidae), cánh cộc Oligota sp (Staphylinidae), muỗi Lestodiplisis sp (Cecidomyiidae) và hai loài nhện bắt mồi, Phytoseiulus sp và Amblyseius sp (Phytoseiidae) Trong đó loài nhện bắt mồi Amblyseius sp có mật độ khá cao, diễn biến mật độ khá

đồng điệu với diễn biến mật độ nhện đỏ son và có tác dụng kiềm chế nhện đỏ

son khá rõ Amblyseius sp là một loài thiên địch trừ nhện hại có triển vọng ở

2.2.2.2 Một số nghiên cứu về nhện bắt mồi

Trong một hệ sinh thái nông nghiệp, ngoài tác động của thời tiết khí hậu từng vùng, sự phát triển số lượng quần thể nhện hại còn liên quan đến vai trò hoạt động của quần thể các loài thiên địch, cụ thể là nhện bắt mồi Nhằm hướng tới phát triển biện pháp sinh học, một số tác giả đã tập trung nghiên cứu xác định thành phần thiên địch và khả năng lợi dụng chúng trong phòng trừ nhện hại cây trồng

ở Việt Nam, từ năm 1994, tác giả Nguyễn Văn Đĩnh [13] đã đi sâu

nghiên cứu đặc điểm của ba loài nhện bắt mồi P persimilis, A anonymus, A idaeus và khả năng khống chế nhện đỏ của chúng Tác giả cho đó là những tác

nhân sinh học rất hứa hẹn trong việc hạn chế số lượng quần thể nhện hại trên

đồng ruộng Vì vậy, chúng cần được quan tâm nghiên cứu nhân nuôi và sử

Trang 39

dụng trong hệ thống quản lý phòng trừ dịch hại tổng hợp đối với nhện hại cây trồng ở nước ta

Hiện nay, có loài nhện bắt mồi Amblyseius sp (Acarina: Phytoseiidae)

có khả năng kìm hãm số lượng nhện hại dưới ngưỡng gây hại kinh tế (Nguyễn

Văn Đĩnh, Nguyễn Thị Kim Oanh, 2005) [31] Loài Amblyseius sp là kẻ thù

tự nhiên khá lý tưởng: có sức tấn công con mồi mạnh, sức ăn vật chủ cao, sống

được trong điều kiện bất lợi, có nơi ở và sự ưa thích ký chủ giống như con

mồi… Tác giả còn cho biết mật độ tương quan giữa nhện bắt mồi Amblyseius

sp với nhện đỏ son Tetranychus sp theo phương trình sau:

Y = 0,198x - 0,326

Loài nhện bắt mồi này có sức ăn trứng nhện đỏ son rất lớn, nhất là trong giai đoạn đẻ trứng, mỗi ngày nó có thể ăn được khoảng 18 quả ở các pha phát dục khác nhau, nhện bắt mồi có sức ăn là khác nhau, trưởng thành cái nhện bắt mồi có sức ăn nhện đỏ là lớn nhất

Tác giả Phạm Văn Lầm, Nguyễn Kim Hoa, Trương Thị Lan (2005) [27]

đã khẳng định nhện nhỏ Amblyseius sp là loài nhện bắt mồi quan trọng của

nhện nhỏ hại cây trồng

Tại Hà Nội, loài Amblyseius sp là thiên địch thường gặp của nhện đỏ

son trên các loại cây trồng như đậu đỗ, lạc, rau đay Loài này có tỷ lệ tăng tự nhiên (r) cao, tương ứng cho 250C và 300C là 0,246 và 0,291 và khả năng tiêu diệt nhện đỏ son cao, được coi là loài có triển vọng trong phòng chống sinh học nhện đỏ son (Nguyễn Văn Đĩnh, 2004) [17] Cũng tại Hà Nội, nhện bắt

mồi Amblyseius idaeus và Amblyseius anonymus là hai loài có hệ số nhân và

tỷ lệ tăng tự nhiên cao, vòng đời ngắn Sức ăn của loài nhện bắt mồi cũng rất cao khi nó ở giai đoạn đẻ trứng đối với con cái và đối với những con đực khi giao phối Nhiệt độ thích hợp cho nhện bắt mồi phát triển là 25 - 280C và độ

ẩm là 80 - 85%

Trang 40

Tại trường Đại học Nông nghiệp I - Hà Nội, loài nhện bắt mồi

Phytoseiulus persimilis Athias - Henriot (được nhập từ Hà Lan) đã được nhập

nội và nhân thả thành công, loài này có tỷ lệ tăng tự nhiên rất cao r > 0,3 và sức

ăn nhện hại cao, hoàn toàn có thể khống chế được nhện đỏ gây hại (Nguyễn Văn Đĩnh, 1994) [13]

Vai trò của nhện bắt mồi Amblyseius sp đối với nhện trắng P latus rất

cao, thể hiện qua kết quả thí nghiệm của Nguyễn Văn Đĩnh, 1994 [13] cho thấy ở những lô đối chứng (không có nhện bắt mồi) sau 25 ngày, cây có nhện trắng hại bị khô, thâm lá sau đó chuyển sang thâm đen, nhện hại không còn tồn tại trên cây ở lô đối chứng, có thả nhện bắt mồi thì cũng sau 25 ngày mật

độ của trứng, nhện non giảm đi 2 lần và ở pha trưởng thành thì giảm đi 7 - 8 lần Tỷ lệ gây hại của nhện trắng dưới ngưỡng gây hại kinh tế Cây trồng có thể phục hồi và phát triển ra hoa, quả được

Năm 2001, phát hiện ra hai loài nhện bắt mồi họ Phytoseiidae trên cây khoai tây và cây đơn buốt ở vùng Hà Nội Loài Amblyseius sp có khả năng

kìm hãm nhện trắng khá tốt (dẫn theo Nguyễn Văn Đĩnh, 2005) [18] Năm

2002, một lần nữa lại nhấn mạnh vai trò của nhện bắt mồi Amblyseius sp đối

với loài nhện trắng (Hoàng Kim Thoa, 2002) [35]

Nghiên cứu của Trần Xuân Dũng (2003) [6] đã xác định được 8 loài côn trùng và nhện bắt mồi của nhóm nhện hại cam quýt vùng đồi Hoà Bình trong thời gian từ năm 1998 - 2001 Tác giả cho biết có 2 loài nhện nhỏ bắt

mồi là Amblyseius sp và Phytoseilus sp có khả năng chuyên tính cao

Nghiên cứu gần đây nhất của các tác giả Nguyễn Thị Kim Oanh, Nguyễn Văn Đĩnh còn mở ra một hướng mới về nhân nuôi nhện bắt mồi trên các môi trường thức ăn khác nhau [31]

Ngày đăng: 28/11/2013, 10:14

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 4.1. Kích th−ớc các pha phát dục của nhện bắt mồi Amblyseius sp. - Luận văn nghiên cứu đặc điểm sinh học, biến động số lượng nhện bắt mồi amblyseius sp  (acarina phytoseiidae) nuôi trên nhện đỏ son tetranychus cinnabarinus koch
Bảng 4.1. Kích th−ớc các pha phát dục của nhện bắt mồi Amblyseius sp (Trang 58)
Bảng 4.3. Khả năng đẻ trứng của nhện bắt mồi Amblyseius sp. nuôi trên - Luận văn nghiên cứu đặc điểm sinh học, biến động số lượng nhện bắt mồi amblyseius sp  (acarina phytoseiidae) nuôi trên nhện đỏ son tetranychus cinnabarinus koch
Bảng 4.3. Khả năng đẻ trứng của nhện bắt mồi Amblyseius sp. nuôi trên (Trang 61)
Bảng 4.5. Tỷ lệ giới tính của nhện bắt mồi Amblyseius sp. - Luận văn nghiên cứu đặc điểm sinh học, biến động số lượng nhện bắt mồi amblyseius sp  (acarina phytoseiidae) nuôi trên nhện đỏ son tetranychus cinnabarinus koch
Bảng 4.5. Tỷ lệ giới tính của nhện bắt mồi Amblyseius sp (Trang 64)
Bảng 4.6. Bảng sống (life - table) của Amblyseius sp. ở 25 0 C - Luận văn nghiên cứu đặc điểm sinh học, biến động số lượng nhện bắt mồi amblyseius sp  (acarina phytoseiidae) nuôi trên nhện đỏ son tetranychus cinnabarinus koch
Bảng 4.6. Bảng sống (life - table) của Amblyseius sp. ở 25 0 C (Trang 65)
Bảng 4.8. Tổng giá trị lx.mx.e 7 – rx  t−ơng ứng với r = 0,294 - Luận văn nghiên cứu đặc điểm sinh học, biến động số lượng nhện bắt mồi amblyseius sp  (acarina phytoseiidae) nuôi trên nhện đỏ son tetranychus cinnabarinus koch
Bảng 4.8. Tổng giá trị lx.mx.e 7 – rx t−ơng ứng với r = 0,294 (Trang 68)
Hình 4.1. Giá trị đúng sức tăng tự nhiên r của nhện bắt mồi Amblyseius sp. - Luận văn nghiên cứu đặc điểm sinh học, biến động số lượng nhện bắt mồi amblyseius sp  (acarina phytoseiidae) nuôi trên nhện đỏ son tetranychus cinnabarinus koch
Hình 4.1. Giá trị đúng sức tăng tự nhiên r của nhện bắt mồi Amblyseius sp (Trang 69)
Bảng 4.11. Thành phần cây ký chủ của nhện đỏ T. cinnabarinus Koch vụ đông xuân 2005 - 2006 - Luận văn nghiên cứu đặc điểm sinh học, biến động số lượng nhện bắt mồi amblyseius sp  (acarina phytoseiidae) nuôi trên nhện đỏ son tetranychus cinnabarinus koch
Bảng 4.11. Thành phần cây ký chủ của nhện đỏ T. cinnabarinus Koch vụ đông xuân 2005 - 2006 (Trang 72)
Hình 4.2. Diễn biến mật độ nhện đỏ son và NBM Amblyseius sp. trên đồng - Luận văn nghiên cứu đặc điểm sinh học, biến động số lượng nhện bắt mồi amblyseius sp  (acarina phytoseiidae) nuôi trên nhện đỏ son tetranychus cinnabarinus koch
Hình 4.2. Diễn biến mật độ nhện đỏ son và NBM Amblyseius sp. trên đồng (Trang 75)
Hình 4.3. Sự biến động mật độ nhện bắt mồi Amblyseius sp. trên nhện đỏ - Luận văn nghiên cứu đặc điểm sinh học, biến động số lượng nhện bắt mồi amblyseius sp  (acarina phytoseiidae) nuôi trên nhện đỏ son tetranychus cinnabarinus koch
Hình 4.3. Sự biến động mật độ nhện bắt mồi Amblyseius sp. trên nhện đỏ (Trang 80)
Hình 4.4. Sự biến động mật độ nhện bắt mồi Amblyseius sp. trên nhện đỏ - Luận văn nghiên cứu đặc điểm sinh học, biến động số lượng nhện bắt mồi amblyseius sp  (acarina phytoseiidae) nuôi trên nhện đỏ son tetranychus cinnabarinus koch
Hình 4.4. Sự biến động mật độ nhện bắt mồi Amblyseius sp. trên nhện đỏ (Trang 83)
Bảng 4.18. Mật độ nhện đỏ son T. cinnabarinus sau khi thả nhện bắt mồi - Luận văn nghiên cứu đặc điểm sinh học, biến động số lượng nhện bắt mồi amblyseius sp  (acarina phytoseiidae) nuôi trên nhện đỏ son tetranychus cinnabarinus koch
Bảng 4.18. Mật độ nhện đỏ son T. cinnabarinus sau khi thả nhện bắt mồi (Trang 84)
Hình 4.5. Mật độ nhện đỏ son T. cinnabarinus sau khi thả nhện bắt mồi - Luận văn nghiên cứu đặc điểm sinh học, biến động số lượng nhện bắt mồi amblyseius sp  (acarina phytoseiidae) nuôi trên nhện đỏ son tetranychus cinnabarinus koch
Hình 4.5. Mật độ nhện đỏ son T. cinnabarinus sau khi thả nhện bắt mồi (Trang 85)
Hình 4.6. Mật độ nhện đỏ son T. cinnabarinus   sau khi thả nhện bắt mồi Amblyseius sp - Luận văn nghiên cứu đặc điểm sinh học, biến động số lượng nhện bắt mồi amblyseius sp  (acarina phytoseiidae) nuôi trên nhện đỏ son tetranychus cinnabarinus koch
Hình 4.6. Mật độ nhện đỏ son T. cinnabarinus sau khi thả nhện bắt mồi Amblyseius sp (Trang 87)
Hình 4.7. Khả năng ăn trứng nhện đỏ son của trưởng thành cái - Luận văn nghiên cứu đặc điểm sinh học, biến động số lượng nhện bắt mồi amblyseius sp  (acarina phytoseiidae) nuôi trên nhện đỏ son tetranychus cinnabarinus koch
Hình 4.7. Khả năng ăn trứng nhện đỏ son của trưởng thành cái (Trang 93)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm