1. Trang chủ
  2. » Trung học cơ sở - phổ thông

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM SỬ DỤNG KIẾN THỨC LIÊN MÔN GIẢNG DẠY MÔN NGỮ VĂN 11

52 37 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tích hợp kiến thức liên môn trong dạy học tác phẩm thơ Ngữ văn 11 - chương trình cơ bản nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh
Trường học Trường Trung – Tiểu học PéTrus Ký
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Sáng kiến kinh nghiệm
Định dạng
Số trang 52
Dung lượng 3,46 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM SỬ DỤNG KIẾN THỨC LIÊN MÔN GIẢNG DẠY MÔN NGỮ VĂN 11 SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM SỬ DỤNG KIẾN THỨC LIÊN MÔN GIẢNG DẠY MÔN NGỮ VĂN 11 SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM SỬ DỤNG KIẾN THỨC LIÊN MÔN GIẢNG DẠY MÔN NGỮ VĂN 11 SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM SỬ DỤNG KIẾN THỨC LIÊN MÔN GIẢNG DẠY MÔN NGỮ VĂN 11

Trang 1

1 MỞ ĐẦU1.1 Lí do chọn đề tài

Nhà văn Nga M.Groki đã nói: “Văn học là nhân học” Học Văn chính là

học làm người Đó là một chân lí mà bất cứ giáo viên dạy văn nào cũng phảitrăn trở, suy nghĩ và tìm phương pháp tốt nhất để truyền đạt kiến thức về vănhọc đến học sinh

Luật giáo dục (2005) đã nêu: “Mục tiêu giáo dục phổ thông là giúp HS phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân, chuẩn bị cho HS tiếp tục học lên và đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng bảo vệ Tổ quốc”1 Việc vận dụng dạy học tích hợp là yêu cầu tất yếucủa nhiệm vụ dạy học và là một lí thuyết giáo dục hướng vào việc phát triểntoàn diện theo các yêu cầu của mục tiêu giáo dục

Trong bối cảnh bùng nổ của công nghệ thông tin, các nguồn thông tinphong phú, đa chiều người học có thể tìm kiếm và tiếp nhận kiến thức một cáchphong phú hơn Vì vậy yêu cầu chung đặt ra là việc dạy học cũng cần được đổimới, không chỉ dạy kiến thức mà cần phải dạy các kĩ năng trong sự tích hợpnhiều môn học khác nhau Trong hệ thống các môn khoa học ở trường trung họcphổ thông thì môn Ngữ văn là môn học đã góp phần quan trọng trong việc thựchiện mục tiêu giáo dục trong nhà trường

Tuy nhiên, thực trạng dạy và học môn Ngữ văn trong trường trung họcphổ thông còn nhiều tồn tại, chưa thực sự cuốn hút HS yêu thích học văn Hiệnnay, với việc lấy HS làm trung tâm trong quá trình dạy học, yêu cầu bản thânngười giáo viên phải tích cực, chủ động và sáng tạo trong quá trình dạy học đểtruyền lửa cũng như khơi gợi sự hứng thú của học trò, đặc biệt với môn Văn.Qua thực tế giảng dạy ở trường phổ thông và những buổi dự giờ, trao đổi chuyênmôn với các đồng nghiệp, tôi nhận thấy trong mỗi tiết dạy cần phải có sự sángtạo về mặt phương pháp dạy học và áp dụng việc đổi mới phương pháp trong

1 Mục I.1 Đoạn “Mục tiêu Tổ quốc”, Tác giả tham khảo nguyên văn từ TLTK số 2

Trang 2

những lần đi học chuyên đề Việc vận dụng tích hợp kiến thức liên môn giữamôn Ngữ văn với các môn khoa học khác, với các tình huống thực tiễn của cácvấn đề trong đời sống xã hội sẽ làm cho hiệu quả của bài học Ngữ văn đượcnâng cao, giúp cho HS say mê, hứng thú Trong thời gian gần đây, việc dạy tíchhợp liên môn cũng được nhiều giáo viên tìm hiểu, tuy nhiên mỗi bài học sẽ cómột hướng nghiên cứu tiếp cận khác nhau, vì vậy vẫn sẽ có những hướng mở.

Từ những những lí do đã nêu trên tôi mạnh dạn chọn đề tài “Tích hợp kiến thức liên môn trong dạy học tác phẩm thơ Ngữ văn 11 - chương trình cơ bản nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh” làm sáng

kiến kinh nghiệm

1.2 Mục đích nghiên cứu

Với những tiết học sử dụng phương pháp này đã giúp học sinh chủ độngchiếm lĩnh văn bản văn học, vận dụng kiến thức vào thực tiễn một cách hiệu quảhơn, không khí lớp học sôi nổi, sinh động tạo sự yêu thích và say mê học ở HS

Việc vận dụng nhiều kiến thức của các môn học khác nhau sẽ giúp HSchủ động khơi gợi, chiếm lĩnh tri thức, rèn luyện kĩ năng, phát triển năng lực,phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo trong nhiều môn học

1.3 Đối tượng nghiên cứu

Học sinh lớp 11.2, 11.3 trường Trung – Tiểu học PéTrus Ký

Lựa chọn của tôi dựa trên các tiêu chí tương đương về sĩ số, giới tính,thành phần dân tộc, kết quả học tập của môn Văn, của tất cả các bộ môn trongnăm học trước, ý thức học tập và khả năng tiếp thu kiến thức Điều đó được cụthể bằng bảng biểu sau đây:

Kết quả học tập (> = TB)

Trang 3

1.4 Phương pháp nghiên cứu

Phối hợp nhiều phương pháp trong đó chủ yếu là phương pháp:

Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lí thuyết: Đọc tài liệu tham

khảo có liên quan đến đề tài, soạn bài giảng theo phương pháp, kế hoạch đã đềra

Phương pháp thực hành: Soạn và thiết kế giáo án theo phương pháp vận

dụng tích hợp kiến thức liên môn, tiến hành thực nghiệm tại lớp 11.2, 11.3

Đầu năm học tôi đã tiến hành lấy ý kiến học sinh hai lớp về việc học mônNgữ văn bằng phiếu thăm dò theo mẫu:

Trang 4

PHIẾU THĂM DÒ VỀ VIỆC HỌC MÔN NGỮ VĂN

(Học sinh không cần ghi họ tên)

Câu 1: Em có yêu thích môn ngữ văn không?

Câu 3: Em thích học môn Văn theo cách nào?

a Giáo viên bình giảng rồi cho ghi chép ngắn

b Đọc chép

c Giáo viên gợi ý bài, HS hiểu bài, chép ngắn gọn

d Giáo viên giảng và cho chép thành bài văn để thi

Câu 4: Em thích học Văn theo hướng nào?

a Chỉ liên quan tới bình giảng nội dung môn Văn

b Đặt trong tương quan với các môn học khác

Câu 5: Em có thích viết Văn (làm bài văn hoặc sáng tác văn chương) không?

a Rất thích c Ít thích

b Thích d Không có khả năng

Câu 6: Em thích học phân môn nào nhất?

a Tiếng Việt c Tập làm văn

b Đọc văn d Lí luận văn học và văn học sử

Câu 7: Theo em để làm tốt bài văn nghị luận văn học cần đảm bảo điều gì trướctiên?

a Đọc kĩ tác phẩm và bài giảng c Đọc nhiều sách tham khảo

b Có khả năng cảm thụ, phân tích tốt d Hiểu bài giảng, nghiên cứu bài họckĩ

Trang 5

Câu 8: Theo em, môn Văn liên quan đến những môn học nào?

a Sử c Giáo dục công dân

b Địa d Nhiều môn học khác nhau

Câu 9: Em nhận thức vai trò của môn Ngữ văn trong nhà trường, quan trọngnhất là:

a Giúp phát triển năng khiếu văn chương

b Giúp phát triển khả năng giao tiếp

c Tạo khả năng thi đỗ đại học

d Là môn học giúp học tốt các môn học khác và hoàn thiện nhiều kĩ năng choHS

Câu10: Theo em sau khi đỗ vào các khoa tự nhiên của các trường đại học, mônVăn còn cần thiết hay không?

a Cần

b Không

- Kết quả thu được:

+ Số phiếu phát ra: 45

+ Số phiếu thu vào: 45

- Kết quả phiếu thăm dò

Trong phiếu học tập trên, tôi đưa ra các câu hỏi nhằm mục đích tìm hiểu

về sở thích và thói quen học tập đối với bộ môn Văn của học sinh, cũng như tìmhiểu về phương pháp học và nhận thức về tầm quan trọng môn học của các em

Trang 6

Kết quả điều tra trên cho ta thấy đa số học sinh đều hứng thú và thích họcmôn ngữ Văn, giúp tôi có thêm cơ sở để làm đề tài này Từ đó tôi có sự đầu tưđúng hướng cho chuyên môn và khả năng hợp tác với học sinh Đây cũng là mộtthao tác để HS ý thức đến phương thức học tập bộ môn.

Trang 7

2 NỘI DUNG

2.1 Cơ sở lý luận của vấn đề

Nhà nghiên cứu Pháp Edgar.Morin cho rằng: xu hướng dạy học tách biệt,

chia ô các bộ môn, phân môn “làm mất khả năng nắm được những gì kết dệt vào nhau, phá vỡ thế giới thành những mảnh tách rời nhau Nó teo đi sự lĩnh hội và

sự suy nghĩ cùng cách nhìn về lâu về dài” Chính vì vậy mà giáo dục hiện đại cần từ bỏ tư duy tách biệt để xác lập tư duy nối liền, thay thế quan hệ nhân quả tuyến tính bằng quan hệ nhiều vòng, nhiều quy chiếu; thay thế lôgíc cứng nhắc bằng lôgic biện chứng; thay thế sự hòa nhập bộ phận và cái toàn thể bằng sự hòa nhập cái toàn thể bên trong” Như vậy, chúng ta thấy rằng việc dạy học

tích hợp là một vấn đề quan trọng cũng như cần thiết trong hoàn cảnh hiện nay.Nhất là khi, cuộc sống hiện đại kết hợp với sự tiến bộ vượt bậc của công nghệ,con người được đặt trong một chỉnh thể của cuộc sống, mọi sự vật gắn liền vàđều có liên quan với nhau, không thể tách rời độc lập Vậy nên, giáo dục cũngcần hướng đến hình thành cho học sinh tư duy logic biện chứng

Dạy học tích hợp là quá trình dạy học kết hợp, lồng ghép nhiều nội dung,kiến thức, kĩ năng thuộc nhiều lĩnh vực, môn học khác nhau nhằm giúp học sinh

hình thành các năng lực cần thiết, nhằm phục vụ các quá trình học tập tiếp theo

và chuẩn bị cho HS bước vào cuộc sống lao động 2 Mục tiêu cơ bản của dạyhọc tích hợp là phát triển được những năng lực cần thiết, nhất là năng lực giảiquyết vấn đề trong học tập và trong thực tiễn cuộc sống góp phần nâng cao chất

lượng giáo dục HS phù hợp với các mục tiêu giáo dục toàn diện của nhà trường

Dạy học tích hợp hướng tới việc tổ chức các hoạt động học tập, trong đó

HS học cách sử dụng phối hợp các kiến thức và kĩ năng trong các tình huống có

ý nghĩa gần với cuộc sống3 Trong quá trình học tập như vậy, các kiến thức của

HS từ các môn học khác nhau được huy động và phối hợp với nhau, tạo thànhmột nội dung thống nhất từ đó hình thành các năng lực xử lí vấn đề cho họcsinh

2 Mục II.1 Đoạn “ Dạy học tích hợp … lao động”, tác giả tham khảo nguyên văn từ TLTK số 2

3 Mục II.1 Đoạn “ Dạy học tích hợp… cuộc sống”, tác giả tham khảo nguyên văn từ TLTK số 2

Trang 8

Từ việc dạy học tích hợp liên môn, sẽ giúp khơi gợi kiến thức của cácmôn học có liên quan, góp phần giúp học sinh củng cố lâu hơn các kiến thức đó

và nhờ các kiến thức liên quan ấy để đi sâu vào bộ môn Ngữ văn

Việc dạy học các tác phẩm thơ theo phương pháp tích hợp kiến thức liênmôn sẽ giúp HS phát huy tính chủ động, sáng tạo, gắn bài học với thực tiễn,khắc sâu các kiến thức liên môn và rèn luyện các kĩ năng trong cuộc sống

Nhà trường tạo điều kiện về cơ sở vật chất tốt, đáp ứng cho quá trình giảngdạy có nhiều thuận lợi

Về phía HS: Các em có hứng thú với bộ môn, yêu thích môn học, nên việctiếp cận văn bản theo hướng tích hợp kiến thức liên môn có nhiều thuận lợi

Khó khăn:

Học sinh không chú trọng nhiều đến môn Ngữ văn, thường cho rằng mônVăn chỉ học để thi xét tốt nghiệp, tâm lí ngại học, học một cách hời hợt, nhàmchán nên GV cần phải đổi mới phương pháp để gây hứng thú cho học sinh Tác phẩm văn học cần đặt trong hoàn cảnh lịch sử mới có thể thấu hiểuđại ý tác phẩm một cách toàn vẹn nhất

Vì vậy, vận dụng tích hợp liên môn trong giảng dạy và học tập sẽ góp phầngiúp học sinh chủ động, tích cực, sáng tạo trong việc nắm kiến thức và hứng thúnhiều hơn đối với bài học

Trang 9

2.3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề

Một trong những phương pháp giúp HS hứng thú, say mê học tập văn bản

là GV và HS vận dụng kiến thức liên môn vào chiếm lĩnh văn bản một cách phùhợp Dưới đây là một số giải pháp cụ thể:

2.3.1 Tích hợp kiến thức môn Lịch Sử - Địa lí – Sinh học

2.3.1.1 Văn bản “Từ ấy” của Tố Hữu

Nhà văn phải là người thư kí trung thành của thời đại”(Banlzac) Vậy

nên để hiểu được tác phẩm văn chương một cách toàn vẹn, nhất là đối với tácphẩm của nhà văn cách mạng thì bắt buộc GV cần vận dụng kiến thức lịch sửphù hợp với hoàn cảnh ra đời của tác phẩm

Khi dạy văn bản “Từ Ấy” (Tố Hữu) GV nên vận dụng tích hợp kiến thức

lịch sử phù hợp với từng nội dung kiến thức, từng phần của bài học như sau:

Mục I Tìm hiểu chung

Mục 2: Tác phẩm Từ ấy

Mục a Hoàn cảnh ra đời: GV Tích hợp kiến thức môn lịch sử lớp 9:

(Bài 18: Đảng Cộng Sản Việt Nam ra đời;

Bài 20: Cuộc vận động dân chủ trong những năm 1936 – 1939) để giúp

HS hiểu rõ hơn về hoàn cảnh ra đời của tác phẩm:

Hoạt động tái hiện kiến thức

GV dùng máy chiếu cho HS quan sát hình ảnh Hồ Chí Minh và đặt câu hỏi:Hình ảnh này gợi đến tổ chức quan trọng nào? Tổ chức ấy được thành lập vàongày tháng năm nào? Đến nay là kỉ niệm bao nhiêu năm thành lập? Ai là người

có công quan trọng trong việc thành lập ấy? Tổ chức ấy có ý nghĩa ra sao vớitình hình đất nước lúc bấy giờ?

HS: Quan sát tranh gợi ý và bằng những hiểu biết về lịch sử lớp 9 GV nhận xét,

bổ sung, chốt ý:

Trang 10

Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam (3-2-1930) gắn liền với vai trò của lãnh

tụ Nguyễn Ái Quốc (Hồ Chí Minh) - người tiếp thu, truyền bá chủ nghĩa Lênin vào Việt Nam, tổ chức chuẩn bị và sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam

Mác- Hoạt động thuyết trình để củng cố kiến thức lịch sử:

Cho HS trình bày về phong trào dân chủ 1936 -1939 (Đã cho câu hỏi, vấn đề

chuẩn bị trước) để nắm được tình hình thế giới và trong nước vào thời điểm bàithơ ra đời, từ đó thấy được ý nghĩa lớn lao của việc bắt gặp lí tưởng cộng sảncủa nhà thơ Tố Hữu

Ảnh HS Trung Trọng – Hoàng Khang thuyết trình về vai trò của Đảng trong

phong trào dân chủ 1936 -1939.

GV nhận xét, chốt ý ngắn gọn dựa vào slide các em đã thuyết trình:

Trang 11

Hình ảnh minh họa

Trang 12

GV: Liên hệ từ kiến thức lịch sử với hoàn cảnh ra đời bài “Từ ấy”

Tố Hữu (1920-2002) tên khai sinh là Nguyễn Kim Thành, sinh năm 1920tại Thừa Thiên – Huế Ông xuất thân trong một gia đình nhà Nho nghèo, mồ côi

mẹ năm 12 tuổi Tố Hữu tham gia phong trào đấu tranh cách mạng và trở thànhngười lãnh đạo chủ chốt của Đoàn Thanh niên Dân chủ ở Huế, sau đó được kếtnạp vào Đảng cộng sản Đông Dương

Tác phẩm “Từ ấy” của Tố Hữu ra đời năm 1938 đúng vào lúc cuộc vận

động dân chủ bùng nổ mạnh Phong trào lan rộng và rất sôi nổi trong mọi tầnglớp, giai cấp, nhất là giai cấp thanh niên Cùng với sự ra đời của Đảng cộng sản,như một bước ngoặt cho cách mạng Việt Nam

Nguyễn Công Trứ từng nói:

“Đã mang tiếng ở trong trời đất

Phải có danh gì với núi sông.”

Đây cũng chính là tinh thần của lớp thế hệ thanh niên lúc bấy giờ, trái tim họđang sục sôi máu lửa cùng nhân dân cả nước Chính vì thế người thanh niên TốHữu vô cùng sung sướng, hãnh diện, tự hào khi được vinh dự đứng vào tổ chứcĐảng Cộng sản Đông Dương đấu tranh cho lý tưởng cách mạng khi tuổi đờiđang còn rất trẻ - 18 tuổi Từ đây, sự nghiệp thơ ca của thi sĩ gắn liền với sựnghiệp cách mạng

Mục đích của việc tích hợp các kiến thức lịch sử giúp cho HS thấy tìnhhình của đất nước lúc bấy giờ, cùng với vai trò quan trọng của Đảng cộng sảnĐông Dương Từ đó, HS sẽ hiểu sâu sắc hơn niềm vui, hạnh phúc của tác giả khiđược thể hiện trong bài

2.3.1.2 Văn bản “Chiều tối” (Mộ) của Hồ Chí Minh

Hoạt động tìm kiếm và sưu tầm tài liệu lịch sử tham khảo

Khi dạy văn bản “Chiều tối” (Hồ Chí Minh) GV cần mở rộng nội dung kiến

thức Lịch sử để học sinh nắm rõ hơn mạch cảm xúc của bài thơ ở phần hoàncảnh ra đời bài thơ

Văn bản “Chiều tối”, được Hồ Chí Minh lấy cảm xúc từ một lần chuyển lao từ

Tĩnh Tây đến Thiên Bảo khi bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giam Vì vậy,

Trang 13

việc cung cấp thêm thông tin cho HS về hành trình lao khổ, bị bắt và tù đày của

Hồ Chí Minh là cần thiết, từ đấy khơi gợi cảm xúc để các em tiếp cận bài thơ

Ở đây, người viết dùng phương pháp: cho HS tìm kiếm và sưu tầm thông tin, tàiliệu lịch sử có liên quan đến hoàn cảnh ra đời của bài thơ GV có thể yêu cầu HStrình bày hiểu biết của em về hoàn cảnh lịch sử khi Hồ Chí Minh bị bắt giamvào mùa thu 1942 đến mùa thu 1943

Ảnh HS Huỳnh Như trình bày hoàn cảnh ra đời bài thơ.

Gv sau khi chỉnh sửa câu trả lời của HS có thể cung cấp thêm về kiến thức

lịch sử giai đoạn này dựa vào tài liệu của tác giả Dương Trung Quốc trong Việt Nam những sự kiện lịch sử (1919-1945) Hà Nội, Giáo Dục, Tr 356:

“Ngày 13-8-1942, mang tên gọi mới là Hồ Chí Minh, Nguyễn Ái Quốc rời Cao Bằng sang Trung Quốc, với danh nghĩa là đại biểu Việt Nam độc lập đồng minh

và Phân bộ Quốc tế phản xâm lược của Việt Nam để tranh thủ sự viện trợ quốc

tế Ngày 29-8, bị nhà cầm quyền địa phương của Tưởng Giới Thạch bắt giữ tại thị trấn Túc Vinh (thuộc huyện Tĩnh Tây, Quảng Tây, Trung Quốc), Người bị giam giữ, đối xử tàn tệ suốt 13 tháng, bị giải qua hơn 30 nhà tù, thuộc 13 huyện của tỉnh Quảng Tây (như Thiên Bảo, Điền Đông, Quảng Đức…) Trong thời gian này, Người đã làm hơn một trăm bài thơ chữ Hán (134 bài), sau đó được

Trang 14

tập hợp lại trong một cuốn sách nổi tiếng Nhật ký trong tù Ngày 13-9-1943, Người được thả tự do ở Liễu Châu và ngay lập tức, đã bắt liên lạc với Hội giải phóng Việt Nam, một bộ phận của Việt Minh tại Vân Nam (Trung Quốc), cũng như nhiều tổ chức chống Nhật – Pháp ở đây.”

Như vậy, GV cũng là người đồng tìm kiếm sưu tầm thông tin để cung cấp cho

HS Mục đích của thông tin này nhằm làm rõ hơn quá trình gian lao, khổ cựccủa Hồ Chí Minh khi bị bắt giam ở Trung Quốc để HS dễ dàng hiểu nội dungbài thơ

Hoạt động quan sát và trình bày

Khi dạy tác phẩm “Chiều tối”, GV có thể tích hợp với kiến thức Địa lí ở đầu

phần tìm hiểu văn bản, để HS thích thú và tập trung hơn

Gv cho HS xem hình ảnh về địa lí ở biên giới phía Bắc khu vực Tĩnh Tây –Thiên Bảo của Trung Quốc HS có thể trình bày hiểu biết của mình về vị trí địa

lí, địa hình, thời tiết và khí hậu của hai khu vực Tĩnh Tây – Thiên Bảo, dựa vàonhững hiểu biết của mình về biên giới phía Bắc Việt Nam

GV có thể gới ý bằng các câu hỏi: Em hãy quan sát bản đồ và cho biết TĩnhTây (Trung Quốc) tiếp giáp với tỉnh nào của Việt Nam Từ đó, em hãy trìnhbày đôi nét về địa hình, khí hậu của khu vực đó?

GV hướng dẫn HS cách trình bày tự tin, chỉ trên bản đồ và đưa ra nhữngkiến thức cơ bản về tỉnh Cao Bằng (giáp biên giới với Tĩnh Tây):Núi non trùng

Trang 15

điệp Rừng núi chiếm hơn 90% diện tích toàn tỉnh Địa hình nguy hiểm Thờitiết khắc nghiệt, thất thường mùa đông rất lạnh và mùa hè đôi khi lại rất nóng.

Từ đó HS có thể thấy được quãng đường chuyển lao của Hồ Chí Minh phải trảiqua vô cùng khó khăn, khắc nghiệt, nguy hiểm nhưng sự khó khăn đó khôngbao giờ chiến thắng được tinh thần lạc quan của Hồ Chí Minh GV dẫn dắt vàgiúp HS hiểu hơn về cảm xúc của Hồ Chí Minh khi viết bài thơ khiến HS hứngthú hơn trước khi vào bài

2.3.1.3 Văn bản “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử

Hoạt động quan sát, trình bày bản đồ Địa lí

Khi dạy văn bản “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử GV có thể tích hợp với

kiến thức môn Địa lí ở phần mở đầu trước khi vào bài bằng việc chiếu minh họamột hình ảnh bản đồ của Huế GV yêu cầu HS bằng sự quan sát và hiểu biết củamình trình bày về cảnh quan của Huế Từ đó GV khéo léo đưa những kiến thức

về Địa lí ấy vào khi phân tích nội dung hai khổ thơ đầu tiên

Gv nhận xét và dẫn dắt cho HS về địa lí của Huế, sự thơ mộng, hữu tình vớidòng Sông Hương uốn lượn ôm lấy kinh thành Huế (con sông này các em sẽ

gặp lại trong chương trình lớp 12 với tác phẩm “Ai đã đặt tên cho dòng sông”

Trang 16

của nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường) Nằm cạnh dòng sông là Vĩ Dạ - mộtphường của Huế, với thiên nhiên là những khu vườn, những hàng cau đặctrưng của vùng quê yên bình đã in sâu trong tâm trí nhà thơ, khiến ông rưngrưng xúc động khi viết bài thơ này.

Mục đích của hoạt động này nhằm cung cấp cho HS một phần kiến thức

về địa danh được tác giả lấy cảm hứng sáng tác Qua đó, các em sẽ dễ dàng đivào phân tích, cảm thụ các mục:

II Đọc – hiểu văn bản

1 Khổ 1: Cảnh thôn Vĩ lúc bình minh và tâm trạng của tác giả

2 Khổ 2: Cảnh sông nước xứ Huế

Hoạt động thảo luận nhóm và tranh luận

Khi dạy văn bản “Đây thôn Vĩ Dạ”, có một phần kiến thức GV cần cung cấp cho

HS, đặc biệt là những em HS ít kiến thức về Sinh học và bệnh lí Từ đó giúp các

em có nhận thức tốt hơn về các căn bệnh, đặc biệt là tránh sự kì thị với nhữngngười mắc bệnh hiểm nghèo cũng như có kiến thức để bảo vệ bản thân

Trang 17

các hình ảnh và cùng nhau tranh luận về vấn đề kì thị những người bị bệnh hiểmnghèo hay những suy nghĩ lạc hậu đối với căn bệnh phong.

Theo wikipedia.org/wiki: Bệnh phong, còn gọi là bệnh hủi, cùi hay bệnh Hansen, do vi khuẩn Mycobacterium leprae gây ra Trước kia, bệnh phong là bệnh nan y (không có thuốc chữa), các triệu chứng của nó khi ở giai đoạn nặng rất đáng sợ (rụng ngón tay ngón chân, mặt mũi biến dạng) nên người ta rất khiếp hãi căn bệnh này Da thịt người mắc bệnh thường phát nhọt, lở loét Khi nặng hơn vết thương lõm vào da thịt Lông mày rụng, mắt lộ ra, thanh quản bị

lở nên giọng nói khàn Người bệnh cũng không còn cảm giác nóng, lạnh và đau Tình trạng mất cảm giác xuất hiện ở một vài bộ phận trên cơ thể do dây thần kinh bị nhiễm trùng Sau đó các bắp thịt tiêu đi, gân cốt co làm hai bàn tay co quắp Ở mức độ nặng ngón tay ngón chân rụng dần.

Trước kia, bệnh phong là bệnh nan y nên người ta rất khiếp sợ nó Trong xã hội, người bị nhiễm bệnh thường chịu thành kiến, chịu sự hắt hủi, xa lánh thậm chí

bị ngược đãi (trôi sông, chôn sống, bỏ vào rừng cho thú dữ ǎn thịt).

Thực ra bệnh chỉ lây khi tiếp xúc lâu dài với các thể phong nặng (phong hở) như phong ác tính, phong đang tiến triển, chảy nước mũi nhiều và có tổn thương lở loét ở da, ở bàn tay, bàn chân Các thể phong nhẹ khác như phong bất định, phong củ ít có khả nǎng lây hơn nhiều Bệnh không di truyền và có thể chữa khỏi.

Từ việc cung cấp kiến thức này, GV hướng các em đến những nhận thức lạc hậukhi căn bệnh này được xem vô cùng đáng sợ, những người mắc bệnh phải đưa đimột nơi xa khu dân cư để sinh sống Hàn Mặc Tử cũng như vậy, đang trong giaiđoạn tài năng nhất của cuộc đời, ông lại phải sống và chết đi tại vùng đất QuyHòa (Quy Nhơn) – nơi dành cho những bệnh nhân bị phong và hoàn toàn biệtlập với bên ngoài Ở đây, ông không chỉ bị bệnh tật dày vò, mà đau đớn hơn đóchính là sự cô đơn và kì thị, xa lánh của xã hội đã khiến một người con tài năngcủa đất Quảng Bình ra đi khi tuổi đời còn rất trẻ 28 tuổi

Mục đích của hoạt động này nhằm định hướng đúng đắn hơn cho các em nhậnthức về bệnh phong cũng như vấn đề xa lánh, tẩy chay những người bị bệnh lây

Trang 18

nhiễm, bệnh “lạ” Trong quá trình tranh luận và phản biện với nhau các em sẽhình thành tình yêu thương, lòng nhân ái đối với con người.

2.3.2 Tích hợp kiến thức môn GDCD kết hợp với giáo dục kĩ năng sống trong dạy học văn bản

2.3.2.1 Tích hợp môn GDCD trong văn bản “Từ ấy” của Tố Hữu

Hoạt động hình thành kiến thức mới và tái hiện kiến thức cũ

GV đặt câu hỏi để khơi gợi vấn đề: Khi được ánh sáng của lí tưởng soirọi, nhà thơ đã có những nhận thức mới về lẽ sống như thế nào? Quan niệm sống

đó có gì khác với quan niệm của tầng lớp trí thức tiểu tư sản đương thời?

HS quan sát kết hợp với việc đọc tác phẩm để trả lời: Nhà thơ đã thể hiện

“cái tôi” cá nhân gắn bó với “cái ta” chung của mọi người, chan hòa với mọi

người

Đến đây, GV có thể chốt vấn đề: Ở khổ thơ 2 chúng ta thấy Tố Hữu tựnguyện buộc lòng mình với nhân dân đói khổ lầm than, với mọi tầng lớp giaicấp Đây cũng chính là nhận thức mới mẻ của nhà thơ về khối đại đoàn kết dântộc Tình cảm giai cấp, sự quan tâm đặc biệt đến quần chúng lao khổ đó chínhlà: Tinh thần đoàn kết các em đã được kế thừa như một truyền thống quý báu

Trang 19

Trong nhà trường, bộ môn GDCD cũng đã đề cao đến tinh thần đoàn kết tươngtrợ, ở lớp 7 (Bài 7: Đoàn kết, tương trợ)

Khi tìm hiểu mục 3 Khổ 3: Chuyển biến sâu sắc trong tình cảm

GV có thể gợi ý qua câu hỏi: Sự chuyển biến sâu sắc trong tâm hồn nhà thơ được biểu hiện ra sao trong khổ thơ thứ 3?

HS: Nhà thơ đã cảm nhận sâu sắc mối quan hệ giữa bản thân với quầnchúng lao khổ Tố Hữu sau khi đứng vào hàng ngũ của Đảng, được giác ngộ lítưởng cách mạng, tâm hồn nhà thơ không chỉ tưng bừng sức sống, mà sức mạnhcủa ánh sáng Đảng đã làm thay đổi cả nhận thức lẫn tình cảm của nhà thơ Ởkhổ 3, tinh thần đoàn kết tương trợ, đã được nâng cao lên một tầng cao mới, đókhông còn là sự xót thương với tầng lớp lao động nghèo khổ, không còn là sựtương trợ của cộng đồng dân tộc, mà trên hết đó chính là tình yêu thương, nghĩa

vụ, trách nhiệm của người trong gia đình Từ đây chúng ta thấy khối đại đoànkết toàn dân được tác giả xem trọng như là tình cảm gia đình ruột thịt (GV nhậnxét chốt vấn đề và tích hợp kiến thức môn Giáo dục công dân lớp 7: Bài 7: Đoànkết, tương trợ)

GV gợi ý: Em học được gì qua nhận thức về lẽ sống và tình cảm của nhàthơ?

HS: Đoàn kết tương trợ cùng với yêu thương mọi người là những phẩmchất đạo đức truyền thống của dân tộc ta từ bao đời nay Nhờ đó đã chiến thắngbiết bao kẻ thù xâm lược, vượt qua khó khăn

GV chốt vấn đề: Yêu thương và đoàn kết là truyền thống lâu đời của dântộc Việt Nam, cũng là bài học được ông bà xưa nhắc nhở không chỉ qua mônGDCD mà còn có qua ca dao, danh ngôn:

“Bầu ơi thương lấy bí cùng

Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”

Lãnh tụ vĩ đại Hồ Chí Minh cũng dạy:

“ Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết

Thành công, thành công, đại thành công.”

Trang 20

GV cho học sinh xem video về tinh thần đoàn kết chiến thắng ngoại xâmcủa dân tộc để chốt vấn đề Mục đích làm rõ hơn về nội dung được thể hiện ởbài thơ: sự giác ngộ của chân lí Đảng.

Hoạt động tư duy và sử dụng ngôn ngữ

Tích hợp GDCD lớp 10: Bài 14 “Công dân với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc”

Tích hợp GDCD lớp 11: Bài 14 “Chính sách quốc phòng , an ninh”

GV gợi ý câu hỏi: Qua tác phẩm “Từ ấy”, em thấy Tố Hữu là người thanh niên

như thế nào? Em học được điều gì sau khi học bài thơ?

Để trả lời cho câu hỏi này, GV yêu cầu HS mỗi em trả lời một từ ngữ hoặccụm từ thể hiện tính cách, con người của Tố Hữu Từ nào lặp lại sẽ không đượctính HS trả lời bằng cách đứng tại bàn HS nào không trả lời được hoặc hết từngữ sẽ bị phạt ngâm một câu thơ trong bài

HS có thể trả lời những từ ngữ sau: Tố Hữu là người thanh niên yêunước, thương dân, đoàn kết, tương trợ, cảm thông, thương xót, quý trọng, trântrọng con người, không chia rẽ, không xem thường người nghèo khổ, chí lớn, tựgiác, nhạy cảm, thấu hiểu, giác ngộ lí tưởng Cộng Sản sớm

GV nhận xét, chốt ý: Trong môn GDCD lớp 10 Bài 14 “Công dân với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc” đã học, chúng ta thấy yêu nước là một

truyền thống quý báu của dân tộc Vì vậy các em cần gìn giữ và tiếp nối truyềnthống đó bằng cách học tập, bảo vệ và xây dựng đất nước ngày càng giàu mạnhhơn

Mục đích của việc tích hợp này nhằm gợi lại kiến thức cũ cho HS, qua đócác em có thể áp dụng trực tiếp những bài học rút ra từ văn bản Từ việc tìm từngữ thích hợp cho câu trả lời, sẽ giúp bồi dưỡng thêm lượng kiến thức về từ ngữ

của HS – giúp các em không còn “nghèo” từ ngữ trong diễn đạt hay làm văn.

Trang 21

2.3.2.2 Giáo dục kĩ năng sống qua văn bản “Từ ấy” của Tố Hữu

Hoạt động thảo luận nhóm nhỏ

Thông qua việc tích hợp kiến thức liên môn GDCD như nói trên, GV giáodục kỹ năng sống cho HS bằng cách nêu câu hỏi: Theo em, trong học sinh hiệnnay cần làm gì để xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc?

HS: Liên hệ thực tế và trả lời, GV nhận xét và chốt ý:

Bồi đắp lòng yêu nước, tự hoàn thiện bản thân để biết đặt mục tiêu phấnđấu rèn luyện, tự trọng, tự tin vào khả năng của bản thân Rèn luyện sức khoẻ, rasức học tập Có lối sống lành mạnh, không tham gia vào các tệ nạn xã hội Pháthuy sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết toàn dân tộc

Mục đích hoạt động nhằm giúp HS thao tác nhanh hơn, mỗi HS trongnhóm sẽ có một bài học riêng, từ đó các em tổng hợp được nhanh và đầy đủ hơnnhiệm vụ của người thanh niên trong việc xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc.Hình thành cho HS tình yêu thương chan hòa, đoàn kết trong tập thể

2.3.2.3 Tích hợp môn GDCD, kỹ năng sống trong văn bản “Chiều tối” của

Hồ Chí Minh

Hoạt động nhóm

Sau khi dạy văn bản “Chiều tối” của Hồ Chí Minh, GV cần củng cố cho HS các

bài học về kỹ năng sống qua câu hỏi: Sau khi học xong tác phẩm, em học tậpđược gì về tâm hồn và nhân cách của Bác?

Học sinh có thể trả lời một vài ý sau: Bác là một người yêu cuộc sống, có ý chísắt đá vượt lên hoàn cảnh khó khăn khắc nghiệt, sự hi sinh lớn lao cũng như tinhthần lạc quan dũng cảm chính là bài học lớn cho HS cũng như thế hệ tương lainoi theo

Hoạt động đóng vai – kể chuyện

GV liên hệ một vài tấm gương trong cuộc sống có tinh thần vươn lên và chiếnthắng mọi khó khăn để học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.Yêu cầu HS chuẩn bị trước một vài tiểu phẩm nhỏ để đóng vai, hoặc kể một câuchuyện tương tự

Trang 22

Mục đích của hoạt động là tạo hứng thú cho HS và giúp HS ghi nhớ lâu hơnnhững bài học được rút ra từ nội dung văn bản Những bài học này cũng nhằm

cổ vũ giúp các em cố gắng hơn trong học tập và rèn luyện trên ghế nhà trường

2.3.2.4 Tích hợp môn GDCD, kỹ năng sống trong văn bản “Đây thôn Vĩ Dạ”

của Hàn Mặc Tử

Hoạt động tư duy, thấu cảm

Sau khi dạy xong văn bản “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử, ở phần tổng kết

GV có thể tích hợp với môn GDCD, kỹ năng sống để hình thành cho các emnhững bài học rút ra từ văn bản GV có thể hỏi: Theo em, sau khi học xong bài

Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử em thấy Hàn Mặc Tử là một người như thế

nào? Nếu đặt mình trong hoàn cảnh của nhà thơ, em sẽ cảm thấy như thế nào?

Và mong muốn điều gì?

Mục đích của hoạt động là để HS một lần nữa củng cố lại kiến thức đã học, từcảm xúc của nhà thơ khi viết về bức tranh thiên nhiên thôn Vĩ Dạ, chúng ta thấymột hồn thơ yêu đời, yêu cuộc sống tha thiết, nhưng luôn có dự cảm cô đơn, usầu chiếm lấy tâm hồn thi nhân Cho HS tự đặt mình vào hoàn cảnh của tác giả

để cảm nhận được sự đau xót, cô đơn khi bệnh tật bị xa lánh, hắt hủi Từ đó khơigợi cho HS tình yêu thương con người, trân trọng những tâm hồn yêu cuộc sống,trân trọng thời gian hiện tại và những gì đang có, tránh những hành động kỳ thị,khinh ghét những hoàn cảnh khó khăn, bệnh tật

* Ý nghĩa

Việc tích hợp kiến thức môn GDCD – Kỹ năng sống vào việc dạy và họcvăn bản cho thấy ưu thế của phương pháp giảng dạy này Nó làm cho quá trìnhhọc tập có ý nghĩa bằng cách gắn quá trình học tập với đời sống hằng ngày,khiến các em cảm thấy văn chương gần gũi hơn, nên dễ tiếp nhận hơn Vănchương không đơn thuần là bình giảng là cảm nhận cái hay của ngôn từ nữa mà

nó là lịch sử là thời đại là cuộc đời

Cung cấp cho HS những kiến thức về tình yêu nước về trách nhiệm vànghĩa vụ của công dân đối với đất nước, để các em thấy được nhiệm vụ và vị trícủa bản thân trong xã hội Từ đó các em có tinh thần cố gắng và cầu tiến hơn

Trang 23

trong việc rèn luyện Rèn cho học sinh tinh thần yêu nước, đoàn kết, bảo vệ lẫnnhau.

2.3.3 Tích hợp kiến thức môn Âm nhạc – Mỹ thuật

Hoạt động tạo tâm thế hứng thú

Khi giảng dạy văn bản này giáo viên có thể đổi mới phần vào bài bằngcách cho HS nghe một bài hát được phổ nhạc từ lời thơ của các tác phẩm

Đối với GV có giọng hát hay có thể tự tin hát, hoặc ngâm thơ, nếu khônghãy tạo cho HS cơ hội được thể hiện tài năng ca nhạc bằng cách cho các emchuẩn bị bài hát từ trước

Hiện nay, trên youtube.com có nhiều bài hát được phổ nhạc từ các tácphẩm văn học và được các em đón nhận một cách nồng nhiệt Đây cũng là cáchgây hứng thú khi mở bài, cũng như giúp các em dễ thuộc lời thơ, không thấy lờithơ khô khan khó học Ngoài ra, GV có thể cho HS bài tập vận dụng bằng cách

phát họa nội dung bài thơ: Với bài “Đây thôn Vĩ Dạ” yêu cầu HS phát họa cảnh

thiên nhiên thôn Vĩ Dạ vào buổi sớm bình minh (khổ một), hoặc cảnh sông nước

đêm trăng (khổ hai) Với bài “Chiều tối”, có thể yêu cầu HS phát họa bức tranh

núi rừng chiều tối (hai câu đầu) hay bức tranh đời sống con người (hai câu cuối)

Bài hát phổ thơ Từ ấy: https://www.youtube.com/watch?v=OI-Ou9XQ6Ig

Bài hát phổ thơ Đây thôn Vĩ Dạ:

https://www.youtube.com/watch?v=JgFXYt2I26w

Bài hát rap từ lời thơ Chiều tối

https://www.youtube.com/watch?v=WG6gatq4gKE

Trang 24

Ảnh bức tranh thôn Vĩ Dạ sớm bình minh và đêm trăng – tranh chì của HS Ngọc

Minh

Trang 25

Ảnh lấy cảm hứng từ bài “Chiều tối” của HS Bích Chân.

Trang 26

Với hoạt động này có thể tạo điều kiện cho các em tham gia hoạt động trảinghiệm, sáng tạo ngoại khóa Riêng trường Trung – Tiểu học PéTrus Ký hàngnăm luôn tạo điều kiện cho các em học sinh tham gia hoạt động này, bằng việcchuyển thể các tác phẩm văn học sang hình thức sân khấu hóa Hoạt động nhằmgiúp HS hứng thú hơn với việc học Ngữ văn và cũng khơi gợi sự sáng tạo choHS.

Ảnh hoạt động trải nghiệm, sáng tạo sân khấu hóa năm 2018 -2019

Mục đích của hoạt động này nhằm giúp tạo hứng thú cho HS khi bắt đầu bàimới, cũng như giúp các em khám phá ra tài năng của bản thân, kích thích khảnăng tưởng tượng và sáng tạo của HS Đây cũng là một cách gây hứng thú trongviệc học bài cũ, thay vì trả bài bằng cách thuộc thơ, GV có thể cho các em hát,rap, ngâm theo sở trường của mình Đối với hoạt động này, GV dường như cũngtrong tâm thế của người nghe, người học, bắt kịp xu hướng, tâm sinh lí tuổi vịthành niên, tạo hứng thú cho HS, giúp các em yêu thích môn học, học tập tíchlũy kiến thức trong tâm thế nhẹ nhàng, học để hiểu- học để thực hành- học đểyêu thương Từ đó, hi vọng các em sẽ yêu thích hơn bộ môn Ngữ văn

Trên đây là một số biện pháp tích hợp liên môn trong trong việc dạy và

học môn ngữ văn được thực hiện cụ thể ở việc dạy và học các văn bản “Từ ấy”của Tố Hữu, “Đây thôn Vĩ Dạ”của Hàn Mặc Tử, “Chiều tối” của Hồ Chí

Ngày đăng: 15/04/2021, 22:23

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình ảnh minh họa - SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM SỬ DỤNG KIẾN THỨC LIÊN MÔN GIẢNG DẠY MÔN NGỮ VĂN 11
nh ảnh minh họa (Trang 11)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w