TRUYỀN BÁ VÀ CẢI BIÊN TRUYỆN KIỀU CỦA NGUYỄN DU Ở NAM BỘ TÓM TẮT Đề tài tập trung nghiên cứu vấn đề truyền bá, tiếp nhận và cải biên Truyện Kiều của Nguyễn Du ở Nam Bộ dưới góc nhìn l
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG
KHOA SƯ PHẠM
TRUYỀN BÁ VÀ CẢI BIÊN TRUYỆN KIỀU
CỦA NGUYỄN DU Ở NAM BỘ
CNĐT: NGUYỄN THANH PHONG
AN GIANG, THÁNG 7/2019
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG
KHOA SƯ PHẠM
TRUYỀN BÁ VÀ CẢI BIÊN TRUYỆN KIỀU
CỦA NGUYỄN DU Ở NAM BỘ
CNĐT: NGUYỄN THANH PHONG
AN GIANG, THÁNG 7/2019
Trang 3TRANG CHẤP THUẬN CỦA HỘI ĐỒNG
Đề tài nghiên cứu khoa học Truyền bá và cải biên Truyện Kiều của Nguyễn
Du ở Nam Bộ, do tác giả Nguyễn Thanh Phong, công tác tại Khoa Sư phạm thực
hiện Tác giả đã báo cáo kết quả nghiên cứu và được Hội đồng Khoa học và Đào tạo Trường Đại học An Giang thông qua ngày 19/6/2019
Thư ký
Chủ tịch Hội đồng
Trang 4LỜI CẢM TẠ
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu Trường Đại học An Giang, lãnh đạo Khoa Sư phạm, lãnh đạo Bộ môn Ngữ văn đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi thực hiện đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn các cơ quan, thư viện, các hộ gia đình lưu trữ tư liệu, các nhà nho Nam Bộ đã nhiệt tình đón tiếp và chia sẻ thông tin tư liệu trong quá trình tôi tiến hành điều tra điền dã thực hiện đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn các Thầy Cô trong Hội đồng nghiệm thu đề tài: PGS.TS Võ Văn Thắng, TS Phạm Thanh Hùng, TS Nguyễn Đức Thăng, ThS Trần Tùng Chinh, ThS Lê Minh Tuấn Lâm, TS Võ Thị Minh Phụng, ThS Nguyễn Thị Thu Giang đã đọc kĩ đề tài và đóng góp cho tôi nhiều ý kiến quý báu
để chỉnh sửa hoàn thiện nội dung lẫn hình thức của đề tài
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn ThS Nguyễn Thị Lan Phương, CN Nguyễn Lan Tuyền, CN Mai Thị Kim Hải đã hỗ trợ nhiệt tình về mặt thủ tục, giấy tờ và thanh toán cho đề tài
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè đã động viên tinh thần rất lớn để tôi hoàn thành tốt đề tài
An Giang, ngày 01 tháng 7 năm 2019
Người thực hiện
Nguyễn Thanh Phong
Trang 5LỜI CAM KẾT
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các thông tin, số liệu trong công trình nghiên cứu này có xuất xứ rõ ràng Những kết luận mới về khoa học của công trình nghiên cứu này chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
An Giang, ngày 01 tháng 7 năm 2019
Người thực hiện
Nguyễn Thanh Phong
Trang 6TRUYỀN BÁ VÀ CẢI BIÊN TRUYỆN KIỀU CỦA NGUYỄN DU Ở
NAM BỘ
TÓM TẮT
Đề tài tập trung nghiên cứu vấn đề truyền bá, tiếp nhận và cải biên Truyện Kiều của
Nguyễn Du ở Nam Bộ dưới góc nhìn lịch sử - chức năng của tác phẩm văn học Dựa trên các hệ thống lý thuyết như lý thuyết tiếp nhận văn học, lý thuyết văn học sử, lý thuyết loại hình tác phẩm, đồng thời vận dụng các phương pháp luận nghiên cứu nhân loại học, văn bản học, Hán Nôm học, sử học, văn hóa học, đề tài đã lần lượt giới thiệu đến người đọc các phương diện của hoạt động truyền bá, tiếp nhận, cải biên, tái hiện, ảnh hưởng của Truyện Kiều ở Nam Bộ
Qua việc tìm hiểu bối cảnh lịch sử, xã hội và văn học Nam Bộ dưới triều Nguyễn (1802-1945), khảo sát tình hình di cư, xác lập chủ quyền lãnh thổ lẫn văn hóa, cùng với diễn tiến của đời sống văn học trên vùng đất Nam Bộ, đề tài xác định vị trí, ý nghĩa và giá
trị của Truyện Kiều trong trào lưu truyền bá văn học đến Nam Bộ Trên cơ sở đó, công trình tập trung thảo luận vấn đề truyền bá và tiếp nhận Truyện Kiều ở Nam Bộ ở ba phương diện:
đối tượng truyền bá, nội dung truyền bá và hoạt động tiếp nhận Về đối tượng truyền bá, chúng tôi phân tích ba nhóm đối tượng cụ thể là các nhà nho người Việt Nam Bộ, giới trí thức Tây học xuất thân Nho học và giới nho - thương người Hoa Chợ Lớn Về nội dung
truyền bá, chúng tôi chỉ ra các ấn bản thuộc dòng Truyện Kiều Nam Bộ đã lưu hành và thiết
lập ảnh hưởng đến toàn bộ miền Nam Về hoạt động tiếp nhận, đề tài tập trung làm rõ hoạt động thưởng thức và vịnh Kiều của giới Nho sĩ trí thức, hoạt động tranh luận và nghiên cứu,
phê bình Truyện Kiều trên báo chí Quốc ngữ và tình hình tiếp nhận tác phẩm này trong ca
dao, dân ca của người bình dân
Cải biên và tái hiện Truyện Kiều ở Nam Bộ cũng là một nội dung chính mà đề tài quan tâm tìm hiểu Thông qua giới thiệu các phó phẩm của Truyện Kiều, các loại hình nghệ
thuật tuồng hát bội, cải lương và hội họa liên quan đến tác phẩm này ở Nam Bộ, đề tài đã
đưa ra những luận điểm xác tín về hoạt động cải biên sôi nổi và sáng tạo của Truyện Kiều ở
Nam Bộ, khái quát thành những đặc trưng khu biệt so với ở Bắc và Trung Bộ Ở phần kết
luận, đề tài đúc kết một cách ngắn gọn đặc điểm truyền bá, tiếp nhận và cải biên Truyện
Kiều ở Nam Bộ, đánh giá thực trạng hệ thống tư liệu Hán Nôm liên quan đến Truyện Kiều,
từ đó đề xuất một số kiến nghị về việc ứng xử và tận dụng giá trị của tác phẩm này trong đời sống xã hội hiện nay
Từ khóa: Truyện Kiều, Nguyễn Du, Nam Bộ, truyền bá, cải biên
Trang 7THE SPREADING AND REFORMING OF TALE OF KIỀU BY
NGUYEN DU IN THE SOUTHERN VIETNAM
ABSTRACT
This study focuses on researching the issues of spreading, receiving and reforming of
Tale of Kiều by author Nguyen Du in Southern Vietnam from the historical - functional
view of literary works By using the theory of receiving literature, Historical-literary theory, the theory of type of works; also used methodology of anthropology, texts studies, Cino Nom studies, historical - cultural studies, the research has in turn introduced to readers the
aspects of spreading, receiving, reforming, recreating and influencing of Tale of Kiều in the
Southern Vietnam
Through the study of the Southern historical, social and literary context under the Nguyễn Dynasty (1802-1945), surveying the migration situation, establishing territorial and cultural sovereignty, along with the evolution of literary life on the land of Southern
Vietnam, this study identifies the position, meaning and value of Tale of Kiều in the trend
of spreading literature to the Southern On that basis, this research focused on discussing
the issue of spreading and receiving Tale of Kiều in Southern in three aspects: spreader,
spreading contents and reception activities Regarding the spreader, we analyze three groups of subjects: the Southern Confucians, the Western intelligentsias and Chinese
traders in Chợ Lớn Regarding the spreading content, we show the publications of Tale of
Kiều which have been circulated and established affecting the entire Southern Vietnam
Regarding the reception activities, this study focuses on activities enjoying and chanting
Tale of Kiều by the Confucian scholars, activities debating, researching and criticizing Tale
of Kiều in Quốc ngữ press and the situation of receiving this work in the folk songs
The reforming and re-creating activities of Tale of Kiều in the Southern is also a main content that this study is interested in By introducing of the works which reform from Tale
of Kiều, some traditional art forms as Hát bội, Cải lương and painting related to Tale of Kiều in the Southern, this study provides the arguments about the extremely diverse
reforming activities of Tale of Kiều, to point out how these reforms differ from theirs in the
Northern and the Middle of Vietnam In the conclusion, this study briefly is summarized
the spreading, receiving and reforming of Tale of Kiều in Southern, assessed the status of the Cino Nom books system which related to Tale of Kiều, then proposed some
recommendations on using this work in social life nowadays
Keywords: Tale of Kiều, Nguyen Du, Southern Vietnam, spread, reform
Trang 8MỤC LỤC
CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1
1.1 TÍNH CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3
1.3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 3
1.4 NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI 3
CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 5
2.1 TRONG NƯỚC 5
2.2 NGOÀI NƯỚC 10
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 13
3.1 CÁCH TIẾP CẬN NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 13
3.2 CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỤ THỂ 13
3.3 CÂU HỎI ĐIỀU TRA ĐIỀN DÃ 13
3.4 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU VÀ GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU 14
CHƯƠNG 4 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 16
4.1 TRUYỀN BÁ, TIẾP NHẬN, CẢI BIÊN VÀ ẢNH HƯỞNG TRONG VĂN HỌC 16
4.1.1 Truyền bá văn học 16
4.1.2 Tiếp nhận văn học 17
4.1.3 Cải biên văn học 19
4.1.4 Ảnh hưởng văn học 20
4.2 TRUYỆN KIỀU TRONG TRÀO LƯU TRUYỀN BÁ VĂN HỌC ĐẾN NAM BỘ 21
4.2.1 Lịch sử, xã hội và văn học Nam Bộ dưới triều Nguyễn (1802-1945) 22
4.2.2 Vị trí của Truyện Kiều trong trào lưu truyền bá văn học đến Nam Bộ 27
4.3 TRUYỀN BÁ VÀ TIẾP NHẬN TRUYỆN KIỀU Ở NAM BỘ 29
4.3.1 Các chủ thể truyền bá Truyện Kiều trên đất Nam Bộ 30
4.3.1.1 Vai trò của các nhà nho Nam Bộ 30
4.3.1.2 Vai trò của giới trí thức Tây học xuất thân Nho học 38
4.3.1.3 Vai trò của giới nho – thương người Hoa Chợ Lớn 48
4.3.2 Các ấn bản thuộc dòng Truyện Kiều Nam Bộ 55
4.3.3 Tiếp nhận Truyện Kiều ở Nam Bộ 57
4.3.3.1 Thưởng thức, ngâm vịnh Truyện Kiều của nho sĩ trí thức Nam Bộ 57
4.3.3.2 Tiếp nhận Truyện Kiều trên báo chí Nam Bộ 67
4.3.3.3 Truyện Kiều trong ca dao, dân ca Nam Bộ 83
Trang 94.4 CẢI BIÊN, TÁI HIỆN TRUYỆN KIỀU Ở NAM BỘ 92
4.4.1 Các phó phẩm của Truyện Kiều ở Nam Bộ 92
4.4.1.1 Túy Kiều phú ở Nam Bộ 93
4.4.1.2 Kim Vân Kiều ca ở Nam Bộ 103
4.4.1.3 Kim Vân Kiều phú ở Nam Bộ 109
4.4.1.4 Kim Vân Kiều tập án ở Nam Bộ 113
4.4.1.5 Kim Vân Kiều lục ở Nam Bộ 115
4.4.2 Tuồng hát bội cải biên từ Truyện Kiều ở Nam Bộ 119
4.4.3 Cải lương cải biên từ Truyện Kiều ở Nam Bộ 124
4.4.4 Truyện Kiều trong hội họa ở Nam Bộ 131
CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN 138
5.1 HOẠT ĐỘNG TRUYỀN BÁ VÀ TIẾP NHẬN TRUYỆN KIỀU Ở NAM BỘ 138
5.2 HOẠT ĐỘNG CẢI BIÊN TRUYỆN KIỀU Ở NAM BỘ 139
5.3 TÌNH HÌNH TƯ LIỆU HÁN NÔM VỀ TRUYỆN KIỀU Ở NAM BỘ HIỆN NAY 140
5.4 TRUYỆN KIỀU TRONG ĐỜI SỐNG NGƯỜI DÂN NAM BỘ HIỆN NAY 141
TÀI LIỆU THAM KHẢO 143
1 SÁCH THAM KHẢO 143
2 ĐỀ TÀI, LUẬN VĂN, LUẬN ÁN 146
3 BÀI VIẾT TẠP CHÍ, KỶ YẾU HỘI THẢO 146
4 TÀI LIỆU INTERNET 147
PHỤ LỤC
Trang 10CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU
1.1 TÍNH CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Hiếm có một tác phẩm văn học nào trên thế giới lại có một sinh mệnh kì lạ và thú vị
như Truyện Kiều của đại thi hào Nguyễn Du Tác phẩm này được Nguyễn Du cải biên, sáng tác dựa trên cốt truyện của tiểu thuyết Hán văn bạch thoại Kim Vân Kiều truyện của Thanh
Tâm Tài Nhân, một nhà văn không rõ nguồn gốc xuất thân, tên tuổi sống đầu đời nhà Thanh Trung Quốc Cốt truyện của tác phẩm dựa trên một sự kiện có thật là cuộc chiến chống Oa khấu (cướp biển Trung Quốc cấu kết với cướp biển Nhật Bản) trên khu vực duyên hải Hoa Đông vào khoảng 20 năm (1543-1563) dưới niên hiệu Gia Tĩnh triều Minh của Trung Quốc, gắn liền với ba nhân vật chính là Vương Thúy Kiều, Từ Hải và Hồ Tôn Hiến Sự kiện này đầu tiên được ghi chép trong nhiều tư liệu chính sử và dã sử dưới triều Minh, sau đó lan truyền trong dân gian dưới dạng truyện kể truyền miệng, được một số văn nhân đời Minh viết thành tiểu thuyết văn ngôn, chuyển thể thành kịch bản hí khúc và tiểu thuyết thoại bản Đến đầu đời Thanh mới được một văn sĩ với bút hiệu là Thanh Tâm Tài
Nhân viết lại thành tiểu thuyết hoàn chỉnh dài 20 hồi Kim Vân Kiều truyện Trong suốt quá
trình diễn biến đó, nội dung cốt lõi của câu chuyện được thêm thắt phong phú hơn, nhiều tình tiết, sự kiện được xây dựng đan xen phức tạp hơn, nhiều nhân vật được hư cấu thêm để dần hoàn chỉnh như hình hài chúng ta biết đến hiện nay Bộ tiểu thuyết này gần như bị khuất lấp bởi nhiều bộ tiểu thuyết chương hồi đồ sộ khác ra đời trong thời kì Minh – Thanh
như Tam quốc diễn nghĩa, Thủy hử truyện, Tây du kí, Hồng lâu mộng, Liêu trai chí dị, Nho
lâm ngoại sử… Thế nhưng, khi được lưu truyền rộng rãi trong khu vực văn hóa chữ Hán, ở
Nhật Bản nó được phiên dịch nhiều lần và cải biên thành tiểu thuyết Kim ngư truyện; còn ở
Việt Nam, Nguyễn Du đã sử dụng một cách điêu luyện ngôn ngữ dân tộc để cải biên thành
Đoạn trường tân thanh, hay Kim Vân Kiều truyện, Truyện Kiều Chúng là những sinh mệnh
mới độc lập với tác phẩm cũ, mang một sức sống trường cửu gắn liền với nền văn hóa của từng dân tộc, điều mà những bộ tiểu thuyết đồ sộ khác không dễ làm được
Truyện Kiều đặt trong bối cảnh văn hóa đó, rõ ràng rất đáng để tiếp tục tìm hiểu,
nghiên cứu tường tận để thấy những giá trị đặc thù trong mối liên hệ liên khu vực, liên văn hóa Ở Việt Nam, từ khi ra đời đến nay, tác phẩm này được lưu truyền rộng rãi trong quần chúng nhân dân, được nhiều thế hệ độc giả thuộc nhiều giai tầng khác nhau trong xã hội đón nhận và yêu thích, ca ngợi, thậm chí có cả các vị hoàng đế dưới triều Nguyễn Trong quá trình cư dân Bắc Bộ và Trung Bộ di cư vào Nam khai khẩn vùng đất Nam Bộ, truyện thơ Nôm này cũng được truyền bá và ảnh hưởng sâu rộng đến đời sống tinh thần của nhiều tầng lớp cư dân Nam Bộ Nó được cải biên thành truyện thơ, kịch bản tuồng, cải lương, truyện kể dưới nhiều hình thức văn bản Hán Nôm và ngôn bản truyền miệng khác nhau Ngoài ra, tác phẩm này còn khơi gợi cảm hứng nơi các văn nhân thi sĩ Nam Bộ, trở thành
đề tài ngâm vịnh của nhiều tác phẩm văn thơ ứng họa Sự truyền bá và cải biên Truyện
Trang 11Kiều ở Nam Bộ, vì vậy, rất đáng để chúng ta quan tâm nghiên cứu tìm hiểu, nhằm làm rõ
giá trị của một di sản văn hóa dân tộc, đồng thời thấy rõ diện mạo đời sống tinh thần của cư
dân Nam Bộ từ khi tiếp nhận Truyện Kiều đến nay
Trong bài báo cáo đề dẫn Nguyễn Du và những giá trị vượt thời gian tại Hội thảo kỷ
niệm 250 năm năm sinh đại thi hào dân tộc Nguyễn Du (ngày 23/12/2015, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh), Đoàn Lê Giang
đã chỉ ra 4 hướng có thể tiếp tục đào sâu nghiên cứu về Nguyễn Du và Truyện Kiều ở tương lai Trong đó, hướng thứ tư là: “Nghiên cứu phê bình Truyện Kiều: Bên cạnh việc đào sâu
hơn nữa vào giá trị của tác phẩm, cũng cần phải nghiên cứu rộng ra sự tiếp nhận của đời sau đối với Truyện Kiều Việc nghiên cứu một cách công phu, có hệ thống việc tiếp nhận Truyện Kiều ở phía Nam đất nước vẫn còn là một mảnh đất cần được khai phá thêm Những Túy Kiều phú, Túy Kiều án, Kim Vân Kiều ca cho thấy những ‘phó bản’ Truyện Kiều ở đất Nam Bộ còn rất phong phú” (Đoàn Lê Giang, 2015) Đề tài này của chúng tôi
vô tình rất sát hợp với định hướng mà Đoàn Lê Giang đã gợi ý, qua đó xác tín hơn tính hữu ích và cần kíp của đề tài
Từ năm 2012 đến nay, qua nhiều lần điều tra điền dã trên các địa bàn An Giang, Cần Thơ, Đồng Tháp, Thành phố Hồ Chí Minh, chúng tôi đã thu thập được khá nhiều tư liệu
Hán Nôm và tư liệu hình ảnh, kí ức… liên quan đến Truyện Kiều, chuyển tải nhiều thông
tin mới mẻ và giá trị về sự truyền bá và cải biên của tác phẩm này ở Nam Bộ Đơn cử trường hợp tư liệu Hán Nôm đang lưu trữ tại Thư viện tỉnh An Giang, trong số 263 đầu tài liệu Hán Nôm do một vài hộ dân tại Thốt Nốt (Cần Thơ) quyên tặng năm 2016, có ít nhất 3
tài liệu liên quan đến Truyện Kiều: (1) Bài Phú Kiều bằng chữ Nôm do Phạm Tôn Long soạn lại từ tác phẩm Kim Vân Kiều phú (khuyết danh) lưu truyền trong dân gian; (2) Kịch bản Tuồng Kiều bằng chữ Nôm do Phạm Tôn Long soạn, Cao Đảnh Hưng (Cao Văn Hân) chép; (3) Thơ xướng họa, bình phẩm về vài nhân vật trong Truyện Kiều Những tư liệu này
có giá trị văn học cao, cung cấp nhiều thông tin quan trọng về sự truyền bá, thưởng thức và
cải biên Truyện Kiều trên địa bàn An Giang xưa
Truyện Kiều là một tác phẩm lớn trong nền văn học dân tộc, được nhiều thế hệ độc
giả yêu thích và truyền tụng, được giới học giả trong và ngoài nước dày công nghiên cứu, được trích dạy trong nhiều bộ sách giáo khoa phổ thông từ 1945 đến nay, là một trong những tác phẩm bắt buộc trong chương trình giảng dạy Ngữ văn phổ thông mới Thành quả nghiên cứu tác phẩm này tuy có rất nhiều nhưng chắc chắn vẫn chưa đủ, đặc biệt là với hướng tiếp cận từ góc độ văn học - nhân loại học ở một phạm vi hẹp hơn trong điều kiện phát hiện thêm nhiều tư liệu mới
Vì những điều trên, đề tài Truyền bá và cải biên Truyện Kiều của Nguyễn Du ở Nam
Bộ là rất cần thiết trong hoàn cảnh hiện nay, hứa hẹn sẽ mang lại nhiều kiến thức khoa học
mới, đóng góp cho sự nghiệp nghiên cứu văn hóa, xã hội của tỉnh nhà và khu vực Nam Bộ
Trang 121.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Đề tài nghiên cứu này tập trung thực hiện các mục tiêu sau:
- Thu thập các tư liệu Hán Nôm, tư liệu hình ảnh, tư liệu kí ức… đang tản mác trong
dân gian liên quan đến lĩnh vực văn học, đặc biệt là liên quan đến tác phẩm Truyện Kiều;
bước đầu biên dịch, trích dịch những tư liệu quan trọng để giới thiệu đến công chúng
- Khảo sát hệ thống tư liệu đã công bố và tư liệu Hán Nôm mới sưu tầm được liên
quan đến tác phẩm Truyện Kiều ở Nam Bộ trên các phương diện: thể loại, ngôn ngữ, chữ
viết, nội dung, hình thức nghệ thuật, tình hình xuất bản, tái bản, in ấn, phát hành… Qua đó,
đề tài khái quát thành hệ thống kiến thức về quá trình truyền bá và tiếp nhận Truyện Kiều ở
Nam Bộ
- Tìm hiểu tình hình truyền bá Truyện Kiều của di dân người Việt từ Bắc Bộ và Bắc
Trung Bộ đến Nam Bộ, đánh giá tác động của văn nhân, nghệ sĩ và quần chúng trong quá trình truyền bá này Đồng thời, đề tài cũng làm rõ vai trò các hiệu buôn sách của người Hoa
ở Chợ Lớn (Sài Gòn) trong việc in ấn Truyện Kiều ở Phật Trấn, Quảng Đông (Trung Quốc)
với số lượng lớn rồi mang về kinh doanh, phát hành ở Nam Bộ
- Tìm hiểu tình hình cải biên, chuyển thể Truyện Kiều trong đời sống văn hóa, văn
nghệ ở Nam Bộ dưới các hình thức: tuồng hát bội, cải lương, truyện thơ, phú, thơ ca ứng tác xướng họa Qua đó, đề tài giới thiệu khái quát các tác giả và tác phẩm cải biên thành công tiêu biểu trên đất Nam Bộ
- Phân tích tác động, ảnh hưởng của Truyện Kiều đến đời sống tinh thần của cư dân
Nam Bộ, mà cụ thể là đến tầng lớp văn nhân thi sĩ, thông qua quan sát các biểu hiện về mặt ngôn ngữ, tình cảm, thái độ, nhận thức… từ giữa thế kỷ 19 đến năm 1975
1.3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu: là các sách vở, ấn bản liên quan đến hoạt động in ấn, truyền
bá, tiếp nhận, cải biên, tái hiện… Truyện Kiều diễn ra trên vùng đất Nam Bộ, do các thành
phần cư dân với nhiều nguồn gốc xuất thân khác nhau cư trú trên vùng đất Nam Bộ làm chủ thể thực hiện và sáng tạo
Phạm vi nghiên cứu: là các nguồn tư liệu bằng chữ Hán, chữ Nôm, chữ Quốc ngữ, tư
liệu kí ức, tư liệu phim ảnh, báo chí có liên quan đến tác phẩm Truyện Kiều trên vùng đất
Nam Bộ Tất cả những tư liệu này chứa đựng nhiều thông tin quý giá về đời sống của một tác phẩm văn học dân tộc trong quá khứ
1.4 NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI
Đóng góp về mặt khoa học: Thông qua nghiên cứu tài liệu sách vở kết hợp với điều
tra điền dã tại thực địa, đề tài sẽ tập hợp các tư liệu văn học Hán Nôm, Quốc ngữ quý giá
Trang 13lưu truyền tản mác trong dân gian, từ đó dựng lại khung cảnh đời sống văn học trong quá khứ ở Nam Bộ gắn liền với một tác phẩm lớn của dân tộc ra đời ở Bắc và Trung Bộ là
Truyện Kiều Công trình nghiên cứu sẽ khái quát nên những luận điểm khoa học tương
thích liên quan đến quá trình truyền bá, tiếp nhận, cải biên, tái hiện tác phẩm này ở Nam Bộ; góp phần làm phong phú hơn thành quả ngành nghiên cứu Kiều học và Nam Bộ học ở Việt Nam
Đóng góp công tác đào tạo: Đề tài cung cấp tài liệu khoa học bổ ích, thiết thực cho
việc học tập và nghiên cứu Văn học trung đại Việt Nam, Văn học Nam Bộ, Hán Nôm của giảng viên và sinh viên Trường Đại học An Giang và bạn đọc, nhà nghiên cứu yêu thích
Truyện Kiều nói chung
Đóng góp phát triển kinh tế xã hội: Đề tài đóng góp những tri thức khoa học Ngữ
văn bổ ích để nâng cao hiểu biết của người đọc về tác phẩm Truyện Kiều của Nguyễn Du
và đời sống văn học Nam Bộ thế kỉ 19-20 Đặc biệt, đề tài giúp người bản địa hiểu biết hơn
về đời sống văn hóa xã hội Nam Bộ trong quá khứ và thêm yêu quý mảnh đất này
Sản phẩm của đề tài:
- Sách chuyên khảo
- Bài báo đăng tạp chí trong nước
- Báo cáo đăng kỷ yếu hội nghị, hội thảo quốc tế ở trong nước
Địa chỉ ứng dụng kết quả nghiên cứu:
- Dùng làm tài liệu tham khảo, tài liệu giảng dạy cho giảng viên Bộ môn Ngữ văn (Khoa Sư phạm), sinh viên ngành Sư phạm Ngữ văn và Cử nhân Văn học, giáo viên và học sinh Trường Phổ thông Thực hành Sư phạm, Đại học An Giang
- Dùng làm tài liệu tham khảo cho tất cả bạn đọc tại Thư viện Đại học An Giang và Thư viện tỉnh An Giang
- Dùng làm tài liệu tham khảo cho các cơ quan quản lý văn hóa địa phương, các cá nhân và tập thể soạn thảo chương trình giảng dạy văn học địa phương
- Đăng trên Tạp chí Khoa học Đại học An Giang và các tạp chí chuyên ngành
- Xuất bản thành sách để phục vụ đông đảo bạn đọc, các nhà nghiên cứu
Trang 14CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Để đánh giá thành quả nghiên cứu hiện nay liên quan đến đề tài này, chúng tôi đã tập
hợp được khá nhiều tài liệu mang tính lý luận lẫn thực tiễn khoa học của các học giả trong
và ngoài nước Đây là những tài liệu có giá trị tham khảo, đối sánh, cung cấp thông tin, số liệu quan trọng để thực hiện đề tài; một bộ phận trong số đó là nguồn cứ liệu quan trọng để chúng tôi phân tích, đúc kết nên những nhận định khoa học cho đề tài Ở đây, chúng tôi xin giới thuyết khái quát tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài ở trong và ngoài nước Tài liệu dùng để khái quát bao gồm sách nghiên cứu văn học, sách lý luận văn học, luận án tiến
sĩ và luận văn thạc sĩ, các bài báo khoa học, các bài viết trên báo điện tử được viết bằng các ngôn ngữ Việt, Trung, Anh
2.1 TRONG NƯỚC
Thành tựu khoa học của học giới Việt Nam trong suốt 200 năm nghiên cứu Truyện
Kiều vừa qua vô cùng đồ sộ và khó thể nào thống kê, tập hợp đầy đủ Những người đầu tiên
thưởng thức, bình phẩm, nhuận sắc Truyện Kiều là anh em thân thích, bạn bè, vua quan
triều Nguyễn sống cùng thời với Nguyễn Du như Vũ Trinh, Nguyễn Lượng, Phạm Quý Thích, Mộng Liên Đường chủ nhân, vua Minh Mạng, Phong Tuyết chủ nhân Thập Thanh Thị Điều này cho thấy, ngay từ khi mới ra đời, tác phẩm đã thu hút được sự chú ý đặc biệt của văn giới Sau đó, Nguyễn Văn Thắng, vua Tự Đức, Hà Tông Quyền, Nguyễn Văn Chi,
Nguyễn Công Trứ bắt đầu làm thơ đề vịnh, phẩm bình nhân vật trong Truyện Kiều dựa
trên lập trường và quan điểm đạo đức luân lý phong kiến Ngô Đức Kế, Chu Mạnh Trinh, Tản Đà, Huỳnh Thúc Kháng cũng là những trí thức Nho học tiếp tục thưởng thức và phê bình theo quan điểm truyền thống Nho giáo, bao gồm cả quan điểm nhà nho đạo đức và quan điểm nhà nho tài tử Bắt đầu từ học giả Phạm Quỳnh, phương pháp tiếp nhận và phê bình theo quan niệm văn học phương Tây mới được vận dụng Nhiều công trình nghiên cứu của Phan Kế Bính, Phạm Quỳnh, Nguyễn Tường Tam, Vũ Đình Long, Trần Trọng Kim
đã đi sâu phân tích tâm lý các nhân vật trong Truyện Kiều, khám phá cái hay của chữ nghĩa
và nghệ thuật tự sự trong tác phẩm Đến thập niên 40 của thế kỷ 20, một làn sóng nghiên
cứu Truyện Kiều với tinh thần khoa học mới trỗi dậy, dẫn đầu là các học giả Dương Quảng Hàm, Đào Duy Anh, Hoài Thanh Truyện Kiều được đưa vào sách giáo khoa trung học,
được nghiên cứu từ nhiều khía cạnh, dựa trên nhiều hệ thống lý thuyết khác nhau, được thẩm định giá trị và đặt để đúng vị trí đáng có của nó Thập niên 50, nổi bật trong giới
nghiên cứu Truyện Kiều có Lê Văn Hòe, Minh Tranh, Trần Đức Thảo, Trương Tửu, họ đã
áp dụng phương pháp và lý thuyết xã hội học vào việc lý giải Truyện Kiều Năm 1965, Nguyễn Du được công nhận là danh nhân văn hóa thế giới, Truyện Kiều lại được nhìn nhận
theo nhiều góc độ mới, các nhà thơ và học giả miền Bắc như Tố Hữu, Chế Lan Viên, Lưu Trọng Lư, Xuân Diệu trong cảm hứng lạc quan phấn khởi tiến lên chủ nghĩa xã hội đã dựa
trên nhiều bình diện khác nhau để đánh giá Truyện Kiều Cách cảm thụ của họ thể hiện ý
Trang 15thức chính trị cao độ, khẳng định đây là tác phẩm tố cáo chế độ phong kiến, phản ánh tinh thần nhân đạo sâu sắc của Nguyễn Du và chỉ ra những hạn chế trong thời đại và tư tưởng tác giả
Ở miền Nam, Truyện Kiều của Nguyễn Du đã được truyền bá từ khá sớm Năm 1875,
chỉ 10 năm sau khi tờ báo Quốc ngữ đầu tiên là Gia Định báo ra đời, Trương Vĩnh Ký đã phiên giải tác phẩm này từ chữ Nôm sang chữ Quốc ngữ (La tinh) để giới thiệu rộng rãi hơn một kiệt tác văn học dân tộc, đồng thời mong qua đó góp phần phổ biến chữ Quốc ngữ
Đương nhiên, trước đó giới nho sĩ Nam Bộ đã tiếp xúc với Truyện Kiều dựa trên nguyên
bản chữ Nôm, và mặc dù đã có bản phiên âm Quốc ngữ của Trương Vĩnh Ký cùng một số học giả khác, nhưng việc thưởng thức tác phẩm này qua nguyên tác vẫn kéo dài đến nửa sau thế kỷ 20 Một số hiệu buôn người Hoa Chợ Lớn nắm bắt nhu cầu của độc giả Nam Bộ,
đã mang bản in sớm nhất năm 1866 được Duy Minh Thị khảo đính sang Phật Trấn (Quảng Đông, Trung Quốc) khắc in với số lượng lớn vào các năm 1872, 1879, 1891 rồi mang về
phát hành ở Nam Bộ Một số học giả người Pháp bắt đầu chú ý đến Truyện Kiều và dịch tác
phẩm này sang tiếng Pháp như Abel des Michels
Tình hình tiếp nhận, nghiên cứu Truyện Kiều ở Nam Bộ đến nửa sau thế kỷ 20 mới
thực sự tiến triển rõ rệt, và dĩ nhiên dựa theo những hệ quy chiếu khác so với miền Bắc Hà
Như Chi viết Việt Nam thi văn giảng luận, Thạch Trung Giã viết Văn học phân tích toàn
thư, Nguyễn Đăng Thục viết Tâm lý văn nghệ trong Truyện Kiều, Đàm Quang Thiện viết Ý niệm bạc mệnh của Truyện Kiều, Nguyên Sa viết Nguyễn Du trên những nẻo đường tự do, Chân dung Nguyễn Du, Đặng Tiến viết Truyện Kiều như một chiến thắng, Vũ Hạnh viết Đọc lại Truyện Kiều, Thanh Lãng viết Bảng lược đồ văn học Việt Nam Tất cả đều là
những công trình nghiên cứu, phê bình giá trị xuất phát từ nhiều điểm nhìn khác nhau, bắt kịp dòng chảy nghiên cứu văn học thịnh hành trên thế giới đương thời
Sau đó, nhiều công trình nghiên cứu về Truyện Kiều mới tiếp tục ra đời trên khắp cả nước, như Truyện Kiều và chủ nghĩa hiện thực của Nguyễn Du của Lê Đình Kỵ, phần viết
về Truyện Kiều trong giáo trình lịch sử văn học của Lê Trí Viễn và Nguyễn Lộc, Truyện
Kiều và thể loại truyện Nôm của Đặng Thanh Lê, Về chủ nghĩa hiện thực thời đại Nguyễn
Du của Đỗ Đức Dục, Thực tại, cái thực và vấn đề chủ nghĩa hiện thực trong văn học Việt Nam trung cận đại của Trần Đình Hượu, Thi pháp Truyện Kiều của Trần Đình Sử, Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều của Phan Ngọc, Từ Hải - ước mơ biển cả của
Đỗ Đức Hiểu, Đi tìm cảm quan dân tộc qua ngôn từ Truyện Kiều của Phạm Công Thiện Đây tiếp tục là những khảo luận chuyên sâu về Truyện Kiều, một vài trong số đó ra đời để
bàn bạc, bác bỏ quan niệm của người nghiên cứu đi trước, làm nổi bật chân dung con người
Nguyễn Du và những giá trị nội dung, nghệ thuật của Truyện Kiều
Tuy nhiên, hầu hết những công trình trên đều đánh giá sự truyền bá, tiếp nhận và ảnh
hưởng của Truyện Kiều trên phạm vi quốc gia, dân tộc, lịch đại và hầu như đều lấy miền
Trang 16Bắc làm trung tâm bàn bạc Hiếm thấy công trình nào tập trung sự chú ý vào phạm vi vùng đất Nam Bộ May mắn thay, thời gian gần đây, học giới quan tâm nghiên cứu về văn hóa, văn học Nam Bộ nhiều hơn, trong đó có nghiên cứu về sự ảnh hưởng, truyền bá, cải biên
Truyện Kiều ở vùng đất cuối cùng Tổ quốc Tiếp theo đây, chúng tôi xin được điểm qua
một số công trình, bài viết tiêu biểu đã được công bố
Thuần Phong Ngô Văn Phát trong dịp kỷ niệm 200 năm năm sinh Nguyễn Du (1965)
đã công bố trên tạp chí Bách khoa ở Sài Gòn 4 bài viết: (1) Túy Kiều ở Đồng Nai (đăng trên
Bách khoa số 200, 15/9/1965, tr.33-46) trình bày một cách tổng quát những ảnh hưởng của Truyện Kiều đến đời sống tinh thần, văn chương bình dân và văn chương của trí thức Nam
Bộ cuối thế kỷ 19 - đầu thế kỷ 20; (2) Túy Kiều với trí thức (đăng trên Bách khoa số 210, 1/10/1965, tr.33-40) nghiên cứu việc tiếp nhận Truyện Kiều của các tác giả Trương Vĩnh
Ký, Nguyện Văn Mai, Huỳnh Tịnh Của; (3) Túy Kiều với đại chúng (đăng trên Bách khoa
số 211, 15/10/1965, tr.59-66) nghiên cứu những ảnh hưởng của Truyện Kiều đối với văn học dân gian, giới thiệu Túy Kiều án và Túy Kiều phú; (4) Túy Kiều với kịch trường (đăng trên Bách khoa số 212, 1/11/1965, tr.55-64) giới thiệu nội dung và nghệ thuật tuồng hát bội
Kim Vân Kiều, khẳng định Tuồng Kim Vân Kiều bản Trương Minh Ký phiên âm ra chữ
Quốc ngữ (1895) là từ bản chữ Nôm của Bùi Hữu Nghĩa
Trong công trình nổi tiếng Thi pháp Truyện Kiều, Trần Đình Sử đã dành hẳn một chương (Chương 6 Sức sống của Truyện Kiều) để cung cấp một bức tranh bao quát về tác động to lớn của Truyện Kiều trong đời sống tinh thần của dân tộc Việt Nam Ông khẳng định có thể tìm thấy nhiều dấu vết của Truyện Kiều trong truyện thơ Nôm của các tác giả miền Nam như Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu, U tình lục của Hồ Biểu Chánh; đồng thời điểm qua nhiều công trình tiếp nhận và phê bình Truyện Kiều ở miền Nam của Hà Như
Chi, Thạch Trung Giã, Nguyễn Đăng Thục, Đàm Quang Thiện, Nguyên Sa, Đặng Tiến, Vũ
Hạnh, Thanh Lãng Cuối sách là Thư mục nghiên cứu Truyện Kiều, cung cấp 661 đầu sách, tài liệu, bài viết nghiên cứu về Truyện Kiều từ trước đến nay, làm nguồn tài liệu bổ
ích để chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài này
Phan Mạnh Hùng trong bài viết Truyện Kiều và văn học Quốc ngữ Nam Bộ - Khảo
sát Túy Kiều phú và Túy Kiều án đã nêu lên sự chú ý của học giới Nam Bộ đối với Truyện Kiều trong xu hướng dịch thuật và giới thiệu văn học cổ dân tộc ở miền Nam, đồng thời
khẳng định vai trò các “phó bản” (còn gọi là phó phẩm, phó sản, phụ bản, phụ phẩm) của
Truyện Kiều như Kim Vân Kiều phú, Túy Kiều thi tập (36 bài), Kim Vân Kiều tập án (22
bài) trong việc truyền bá rộng rãi tác phẩm này ở Nam Bộ Bên cạnh việc giới thiệu nội dung, nguồn gốc văn bản, tác giả biên soạn , tác giả bước đầu còn so sánh nội dung văn
bản của các “phó bản” với nhau, so sánh vị trí của Truyện Kiều và truyện Lục Vân Tiên
trong đời sống tinh thần Nam Bộ, từ đó đi đến nhận định tồn tại “một cách thức và hình
thức đọc Truyện Kiều độc đáo ở Nam Bộ”, “trong đại chúng bình dân Nam Bộ, Truyện
Trang 17Kiều nhìn chung ít được tiếp nhận từ phương diện văn chương mà chủ yếu là phương diện
luân lý”
Nguyễn Văn Sâm trong bài viết Kim Vân Kiều ca ở vùng Nam Kỳ Lục Tỉnh cuối thế
kỷ 19 đã giải thích lý do vì sao những “phó phẩm” của Truyện Kiều này lại được chào đón
nồng nhiệt ở miền Nam Tác giả cũng công bố nội dung bài Kim Vân Kiều ca bằng chữ Nôm đã được dịch và chú thích sang Quốc ngữ dài 221 câu Tác giả suy luận rằng Kim Vân
Kiều ca xuất hiện trước, người đời sau lấy cảm hứng từ đó chấp bút viết Túy Kiều phú tiếp
theo Bài viết đã gợi mở cho chúng tôi một số thông tin về mặt văn bản, toàn văn của Kim
Vân Kiều ca, là tư liệu hữu ích để tìm hiểu về hoạt động cải biên Truyện Kiều ở Nam Bộ
Bài viết Tiếp nhận và cải biên Truyện Kiều thành kịch bản cải lương trước năm 1945 của Đào Lê Na đã khái quát tình hình cải biên và diễn xuất Truyện Kiều trên sân khấu cải
lương Nam Bộ nửa đầu thế kỉ 20 Cùng với việc khẳng định chuyển thể tác phẩm văn học
cổ là một trong những khuynh hướng sáng tác kịch bản cải lương trước năm 1945, tác giả
còn giới thiệu nhiều vở cải lương chuyển thể từ Truyện Kiều như Kim Vân Kiều của Trương Duy Toản, Hoạn Thơ tróc Kiều của Trương Quang Tiền và Kiều du thanh minh của Phạm
Đình Khương Dĩ nhiên, cách lựa chọn tình tiết, sự kiện, văn liệu, lời dẫn, ngôn ngữ nhân vật, xây dựng nhịp điệu tiết tấu, lựa chọn nút thắt để chuyển thể tác phẩm là những nội dung bài viết tập trung phân tích làm rõ Với mục đích là phản ánh xã hội và đề cao đạo lý,
các vở cải lương lấy Truyện Kiều làm đề tài đã đáp ứng nhu cầu thưởng thức nghệ thuật của
quần chúng khán giả trong bối cảnh giao thoa văn hóa nghệ thuật cũ và mới, Việt và Pháp Bài viết là một tài liệu tham khảo hữu ích, gợi mở nhiều vấn đề cho chúng tôi trong quá
trình nghiên cứu các hoạt động cải biên, tái hiện Truyện Kiều trên sân khấu cải lương Nam
Bộ
Trần Hoài Anh trong bài viết Nguyễn Du và Truyện Kiều trong tiếp nhận của phê
bình văn học ở miền Nam giai đoạn 1954-1975 đã điểm qua nhiều xu hướng phê bình của
học giới miền Nam khi tiếp cận giải mã Truyện Kiều dựa trên những hệ hình tư tưởng khác
nhau, đó là xu hướng tiếp cận từ góc nhìn triết học tôn giáo, triết lý nhân bản truyền thống
Á Đông, triết học hiện sinh, triết lý về định mệnh hay thân phận con người, phê bình từ góc nhìn phân tâm học, xu hướng phê bình xã hội học, xu hướng phê bình duy vật biện chứng Các nhà phê bình văn học đương thời ở miền Nam như Chơn Hạnh, Thích Thiên Ân, Thạch Trung Giã, Nguyên Sa, Tô Thùy Yên, Nguyễn Văn Trung, Nguyễn Sỹ Tế, Lê Tuyên, Đặng Tiến, Thanh Lãng, Đàm Quang Thiện, Bùi Hữu Sủng, Vũ Hạnh đã dựng nên một thời kì phê bình văn học mang tính đa nguyên rõ rệt, tự do về học thuật, cởi mở, thẳng thắn về tư tưởng; ở một số phương diện gần như bắt kịp xu hướng phê bình tiên tiến của thế giới Bài
viết làm nguồn tài liệu tham khảo quý giá để chúng tôi hiểu rõ hơn vị thế của Truyện Kiều
trong nhận thức của giới phê bình văn học miền Nam đương thời
Trang 18Bài viết Nguyễn Du trong lòng miền Nam: Lược thuật các hoạt động văn hóa học
thuật kỷ niệm 200 năm năm sinh Nguyễn Du tại miền Nam năm 1965 của Nguyễn Tuấn
Cường đã sưu tập và biên mục các công trình nghiên cứu phục vụ hoạt động kỉ niệm, đăng
tải tập trung hoặc rải rác trên nhiều số của các tạp chí Văn hóa nguyệt san, Bách khoa thời
đại, Văn, Văn học, Bình minh và một số sách in trong dịp kỉ niệm này Bài viết đã giới
thiệu khá chi tiết sự góp mặt của các trí thức tinh hoa Nam Bộ như Lê Ngọc Trụ, Bửu Cầm, Đông Hồ, Tạ Quang Phát, Vương Hồng Sển, Thanh Lãng, Vũ Hạnh, Nguyễn Hiến Lê, Bình Nguyên Lộc, Trần Văn Khê trong dịp kỷ niệm này bằng bài viết của mình trên nhiều tờ báo Bên cạnh đó, nhiều hoạt động kỷ niệm cũng được nhắc đến như diễn thuyết, triển lãm
tư liệu về Nguyễn Du, trình diễn văn nghệ, lễ mít tinh tại Đại học Văn khoa Sài Gòn Các hoạt động ấy thể hiện rất thống nhất một thái độ vô cùng trân trọng của người miền Nam đối với thi hào Nguyễn Du, kể cả trong lớp người lớn tuổi và trẻ tuổi Kèm theo bài viết là thư mục tài liệu xuất bản trong dịp kỷ niệm tại miền Nam năm 1965 với 4 tên sách và 89 tên bài báo Đây là những chỉ dẫn tài liệu quý giá để chúng tôi tập hợp khảo sát vị trí của
Truyện Kiều trong nhận thức của trí thức miền Nam nửa sau thế kỉ 20
Nguyễn Xuân Diện trong bài viết Truyện Kiều – Từ truyện thơ Nôm nguyên tác đến
kịch bản chèo Nôm khẳng định tồn tại một đời sống văn hóa phong phú xoay quanh tác
phẩm, hình thành một trào lưu sáng tạo sân khấu hóa Truyện Kiều qua nghệ thuật chèo,
tuồng, điện ảnh, ca kịch, cải lương làm giàu hơn cho kho tàng nghệ thuật biểu diễn của dân tộc Trong đó, miền Nam tuy không thịnh hành các hoạt động tập Kiều, lẩy Kiều, đố
Kiều, bói Kiều như miền Bắc, nhưng các hình thức sân khấu hóa Truyện Kiều như tuồng
hát bội, cải lương, kịch nói, điện ảnh đã từng được biểu diễn, trình chiếu nhiều nơi ở Nam
Bộ gây được sự hưởng ứng nồng nhiệt của công chúng Bài viết gợi mở nhiều góc nhìn và nhận định khoa học về mặt văn bản, kịch bản chuyển thể, thái độ tiếp nhận của công
chúng đối với các loại hình sân khấu hóa Truyện Kiều ở Nam Bộ
Bài viết Truyện Kiều và Nguyễn Du trên báo chí Quốc ngữ Nam Bộ nửa đầu thế kỉ 20
của tác giả Nguyễn Thị Phương Thúy đã cung cấp nhiều thông tin quý giá về cách mà báo
chí Quốc ngữ Nam Bộ nửa đầu thế kỉ 20 thể hiện sự quan tâm đặc biệt đến Truyện Kiều và thi hào Nguyễn Du Một số tờ báo Nam Bộ như Nam Kì tuần báo, Việt báo đã tổ chức
nhiều hoạt động để tưởng niệm Nguyễn Du nhân kỉ niệm ngày giỗ của ông Hoạt động này được đông đảo văn nhân, báo giới nhiệt liệt hưởng ứng Nhiều hoạt động diễn thuyết, diễn
ngâm về Nguyễn Du và Truyện Kiều được tổ chức ở Sài Gòn, Cần Thơ, thu hút được đông đảo giới trí thức quan tâm theo dõi Ngoài ra, nhiều tờ báo như Sống, Nam kỳ tuần báo, Đại
Việt tập chí cũng ra các chuyên san về Nguyễn Du để kỉ niệm nhà thơ Nhiều ý kiến bình
luận Truyện Kiều được nêu lên, kéo theo những cuộc tranh luận sôi nổi giữa học giới Bắc – Nam và Nam Bộ với nhau Có báo như Đời mới còn có chuyên mục nhiều kì chú giải từ ngữ Truyện Kiều để giúp học sinh dễ lĩnh hội nội dung tác phẩm Thông qua việc đề cập đến Truyện Kiều, nhiều quan điểm về văn chương, xã hội, thời đại được các nhà báo, nhà
Trang 19văn mạnh dạn bày tỏ Bài viết này đã gợi mở nhiều thông tin, manh mối hữu ích để chúng
tôi thu thập tư liệu và nghiên cứu quá trình truyền bá, tiếp nhận Truyện Kiều ở Nam Bộ
thông qua báo chí Quốc ngữ được toàn diện hơn
Có thể thấy rằng, nghiên cứu về sự truyền bá, tiếp nhận, cải biên Truyện Kiều ở Nam
Bộ đã rải rác có một vài thành tựu, dù ít nhưng chúng có giá trị to lớn Tuy nhiên, cần nghiên cứu sự ảnh hưởng của tác phẩm này bằng một cái nhìn tương đối toàn diện bởi một công trình dài hơi hơn Đó cũng là đích nhắm của chúng tôi khi bắt tay thực hiện đề tài này
2.2 NGOÀI NƯỚC
Truyện Kiều của Nguyễn Du là một tác phẩm mang tầm vóc quốc tế Điều đầu tiên
làm nên tầm vóc quốc tế đó chính là nguốn gốc ra đời của câu chuyện, tức được cải biên từ quyển tiểu thuyết dài 20 hồi của Thanh Tâm Tài Nhân sống đời nhà Thanh ở Trung Quốc
Chính vì lẽ đó, Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân, Truyện Kiều của Nguyễn
Du, và các dạng văn bản, ngôn bản sơ khai có trước đó đã được học giới Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Hoa Kì nghiên cứu từ khá sớm, đồng thời công bố nhiều công trình giá trị
Dĩ nhiên, chúng ta hoàn toàn có thể hình dung lập trường, thái độ, phương tiện, phương pháp, điểm nhìn, mục đích trong nghiên cứu của họ có nhiều điểm khác biệt so với học giả
Việt Nam Nguyễn Nam trong bài viết Những thẩm định mới về Kim Vân Kiều truyện của
Thanh Tâm Tài Nhân đăng trên trang báo Văn hóa Nghệ An ngày 17/3/2016, đã cung cấp
Bảng tổng hợp danh mục các công trình nghiên cứu về Kim Vân Kiều truyện ở nước ngoài
hiện nay Theo đó, tính từ năm 1958 đến năm 2015, chưa kể các bản dịch tác phẩm sang ngoại văn, tổng cộng có 95 công trình nghiên cứu dưới dạng sách chuyên khảo, luận án tiến
sĩ, luận văn thạc sĩ, bài báo khoa học liên quan đến Kim Vân Kiều truyện Dĩ nhiên đây
chưa phải là con số đầy đủ, vì như chúng tôi được biết, còn rất nhiều bài báo lớn nhỏ khác chưa được liệt kê vào vì mức độ ảnh hưởng học thuật không đáng kể Ở đây, chúng tôi xin giới thiệu một vài hướng nghiên cứu, tác giả và công trình tiêu biểu
Nghiên cứu toàn diện quá trình diễn tiến của câu chuyện Vương Thúy Kiều, từ lúc còn là một sự kiện lịch sử đến khi được sáng tác thành một tiểu thuyết chương hồi hoàn thiện, rồi cả quá trình du biến thành sáng tác văn học ở các nước đồng văn, là hướng nghiên cứu quan trọng được nhiều học giả quan tâm Trong đó, tiêu biểu có các công trình của Đổng Văn Thành, Charles Benoit và Trần Ích Nguyên Đổng Văn Thành (Đại học Liêu
Ninh, Trung Quốc) với các công trình Khảo luận văn bản Kim Vân Kiều truyện, Diễn hóa
câu chuyện Kim Vân Kiều truyện, Kim Vân Kiều truyện và Hồng lâu mộng đã mang lại
cái nhìn tương đối tổng thể về nguồn gốc hình thành và diễn biến của Kim Vân Kiều truyện
Charles Benoit (tên tiếng Việt Lê Vân Nam), một học giả người Mỹ có nhiều duyên nợ với
Việt Nam, đã thực hiện luận án tiến sĩ The Evolution of the Wang Cuiqiao Tale: From
Historical Event in China to Literary Masterpiece in Vietnam (Diễn tiến câu chuyện Vương Thúy Kiều: Từ sự kiện lịch sử Trung Hoa đến kiệt tác văn chương Việt Nam), hoàn thành
Trang 20tại Đại học Havard năm 1981, được phiên dịch và xuất bản ở Việt Nam năm 2016 Công trình đã khảo luận rất chi tiết diễn tiến của các văn bản liên quan câu chuyện nàng Kiều, dựa trên một nhãn quan sắc sảo và tinh thần khoa học khách quan nghiêm nhặt, đã làm rõ hơn các mối quan hệ văn bản và bổ sung những khuyết điểm trước đây của Đổng Văn Thành, được học giới Việt Nam đánh giá cao Năm 2001, Trần Ích Nguyên (Đại học Thành
Công, Đài Loan) cho xuất bản công trình Nghiên cứu câu chuyện Vương Thúy Kiều để bổ
sung những nguồn tư liệu mới, đính chính nhiều quan điểm chưa khách quan và thỏa đáng của Đổng Văn Thành Công trình này được dịch và xuất bản ở Việt Nam từ năm 2004, được nhiều nhà nghiên cứu Việt Nam tham khảo và trích dẫn
Nghiên cứu so sánh Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân với Truyện Kiều
của Nguyễn Du cũng là một hướng nghiên cứu mà học giới nước ngoài tốn nhiều giấy mực
bàn luận Một số công trình quan trọng là So sánh Kim Vân Kiều truyện Trung Việt của Đổng Văn Thành, So sánh Kim Vân Kiều truyện Trung Việt của Trương Huy, Văn bản, dịch
bản, tính khả độc, tính khả truyền: Bàn về Kim Vân Kiều truyện và Đoạn trường tân thanh
của Hà Kim Lan, luận án tiến sĩ Nghiên cứu mối quan hệ giữa truyện Nôm Việt Nam và tiểu
thuyết Trung Quốc của Trần Quang Huy, So sánh thủ pháp miêu tả trong hai bộ Kim Vân Kiều truyện Trung Việt của Hà Minh Trí và Vi Mậu Bân, Nghiên cứu so sánh Kim Vân Kiều truyện và Truyện Kiều Trung Việt của Trần Thị Nhung, Tư tưởng mỹ học sinh thái
“Thiên nhân hợp nhất” trong Kim Vân Kiều truyện Trung Việt của Đàm Mỹ Tĩnh và Mạc
Quốc Phương, luận văn thạc sĩ Từ Kim Vân Kiều truyện của Trung Quốc đến Truyện Kiều
của Việt Nam của Nguyễn Ngọc Quỳnh Trâm
Hướng nghiên cứu thứ ba là nghiên cứu vấn đề truyền bá Kim Vân Kiều truyện ở các nước Đông Á Tiêu biểu theo hướng nghiên cứu này có các công trình: On Kim Van Kieu:
China, Vietnam, Japan của Hatakenaka Toshio, Kim Vân Kiều truyện và văn học hậu kỳ Edo Nhật Bản của Đổng Văn Thành, Lover, Traitor, or National Heroine: Courtesan Wang Cuiqiao in China and Vietnam (1550-1820) của Triệu Mật (Zhao Mi)
Hướng nghiên cứu thứ tư là giới thiệu kiệt tác Truyện Kiều và thi hào Nguyễn Du đến công chúng nước ngoài Những công trình tiêu biểu theo hướng nghiên cứu này là Nhà thơ
Nguyễn Du của Việt Nam và kiệt tác Kim Vân Kiều truyện của tác giả Hoàng Dật Cầu, Đại thi hào Nguyễn Du của Việt Nam và danh tác Kim Vân Kiều truyện của Hà Minh Trí, Tự sự dân tộc và tiếng nói nữ tính: Nguyễn Du của Việt Nam và tác phẩm kinh điển Kim Vân Kiều truyện của Hoàng Linh
Có thể nói, Kim Vân Kiều truyện đã được học giới ngoài nước quan tâm nghiên cứu
từ lâu, đáng chú ý hơn là thành quả nghiên cứu ở nước ngoài luôn chịu tác động ảnh hưởng
bởi nghiên cứu Truyện Kiều ở Việt Nam Có thể nhận thấy, các công trình này chỉ đề cập đến sự truyền bá, diễn dịch, tiếp nhận, cải biên Truyện Kiều một cách chung chung ở Việt
Nam, chưa thấy công trình nào đề cập cụ thể hơn ở phạm vi Nam Bộ
Trang 21Tóm lại, trong phạm vi tư liệu chúng tôi có thể thu thập và bao quát được, chưa thấy công bố công trình nghiên cứu nào, cả trong lẫn ngoài nước, tiến hành thực hiện với phạm
vi và đối tượng nghiên cứu tương tự Dĩ nhiên, trong quá trình thực hiện, chúng tôi sẽ tham khảo nhiều nguồn tư liệu quý giá của người đi trước, những nội dung trích dẫn sẽ được dẫn nguồn cẩn thận Có thể khẳng định rằng, đây là công trình nghiên cứu hoàn toàn mới được thực hiện bởi chính tác giả
Trang 22CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 CÁCH TIẾP CẬN NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
- Nghiên cứu lý thuyết – khảo sát thực trạng – khái quát thành hệ thống tri thức mới
- Chúng tôi xuất phát trên hệ thống phương pháp luận nghiên cứu Ngữ văn để tiến hành thực hiện đề tài Cụ thể là vận dụng lý thuyết tiếp nhận văn học, lý thuyết văn học sử,
lý thuyết loại hình tác phẩm để soi sáng nội dung nghiên cứu
- Ngoài ra, chúng tôi còn kết hợp phương pháp luận nghiên cứu nhân học, phương pháp luận nghiên cứu văn bản học, phương pháp luận nghiên cứu văn hóa học để góp phần làm sáng rõ vấn đề
3.2 CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỤ THỂ
- Phương pháp điều tra điền dã: Chúng tôi sẽ tiến hành một vài chuyến đi điền dã để
thu thập tư liệu Hán Nôm và Quốc ngữ liên quan đến tác phẩm Truyện Kiều tại Cục Lưu trữ
Trung ương 2 – Thành phố Hồ Chí Minh), Thư viện Đại học Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, Thư viện Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh, Thư viện
An Giang, Thư viện Cần Thơ, Thư viện Đồng Tháp và một số hộ dân lưu giữ sách cổ ở An Giang, Đồng Tháp, Cần Thơ, Tiền Giang, Vĩnh Long Trong các chuyến khảo sát, chúng tôi sẽ tiến hành chụp ảnh, ghi hình, phỏng vấn, thu thập sao in tư liệu, ghi chép chỉnh lý tư liệu
- Phương pháp phân tích – tổng hợp: Tiến hành đọc và phân tích sâu dữ liệu thu thập
để khái quát tình hình truyền bá tác phẩm này ở Nam Bộ; đồng thời phân tích lần lượt từng
tác phẩm cải biên liên quan đến Truyện Kiều được đưa vào phạm vi nghiên cứu, từ đó tổng
hợp thành hệ thống lý thuyết về tình hình cải biên tác phẩm này ở Nam Bộ
- Phương pháp so sánh – đối chiếu: Chúng tôi tiến hành so sánh tác phẩm văn học cải
biên với nguyên tác Truyện Kiều của Nguyễn Du, tìm hiểu cụ thể sự thay đổi về chủ đề, đề
tài, nhân vật, tình tiết, sự kiện, ngôn ngữ, thủ pháp nghệ thuật, văn liệu, thi liệu để khái
quát nên đặc điểm tư duy thẩm mỹ của văn nhân Nam Bộ
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Vì đề tài có liên quan đến các yếu tố địa lý
vùng miền, lịch sử xã hội, văn hoá phong tục, tư tưởng triết học, ngôn ngữ văn tự, kĩ thuật
in ấn, di dân định cư, thông thương mậu dịch cả ở Trung Quốc lẫn Việt Nam, nên phương pháp nghiên cứu liên ngành sẽ là chiếc cầu nối thông suốt giữa các lĩnh vực khoa học, giúp
chúng tôi triển khai vấn đề một cách thuận lợi và rõ ràng, chặt chẽ hơn
3.3 CÂU HỎI ĐIỀU TRA ĐIỀN DÃ
- Phỏng vấn gia đình/cá nhân lưu giữ văn bản Truyện Kiều cổ: Ông/Bà/Anh/Chị sở
hữu tác phẩm này từ khi nào? Do người khác truyền lại, trao tặng hay tự mình mua? Nếu
Trang 23mua thì mua ở đâu, trong hoàn cảnh nào? Nếu do người khác truyền lại hoặc trao tặng lại thì người đó là ai, hoàn cảnh xuất thân, bối cảnh học vấn như thế nào? Tác phẩm này từ khi được lưu giữ trong gia đình thì những ai đọc và tần suất đọc thế nào? Những người đó bàn luận gì, bàn luận với ai, có bao giờ kể lại cho con cháu nghe không? Có bao giờ dùng để hát ru hay mượn chuyện để răn đe giáo dục con cái hay không? Những câu hỏi này góp
phần làm rõ quá trình truyền bá và tiếp nhận Truyện Kiều trong phạm vi một gia đình và
xóm làng lân cận
- Phỏng vấn cá nhân thưởng thức và góp phần lưu truyền Truyện Kiều trong dân gian: Ông/Bà/Anh/Chị có biết tác phẩm Truyện Kiều của Nguyễn Du không? Có thuộc đoạn nào
trong tác phẩm này không? Có bao giờ dùng các câu thơ trong đó để hát ru hay ngâm nga
tiêu khiển không? Có bao giờ đem Truyện Kiều ra để bàn luận với người khác hay răn dạy con cháu không? Có bao giờ xem cải lương về Truyện Kiều không, nhân vật do ai đóng,
cảm nhận về nội dung, vai diễn như thế nào? Có biết Thúy Kiều, Kim Trọng, Từ Hải, Mã Giám Sinh, Tú Bà, Sở Khanh, Hoạn Thư là những ai không? Có biết tại sao người ta hay dùng Sở Khanh để chỉ những tên lừa tình phản bội không? Có biết tại sao người ta hay dùng Hoạn Thư để chỉ những người đàn bà ghen tuông không? Những câu hỏi này góp
phần làm rõ mức độ lưu truyền và tiếp nhận Truyện Kiều trong dân gian
- Phỏng vấn chuyên gia am tường về lịch sử, văn hóa, văn học vùng đất Nam Bộ:
Theo Ông/Bà/Anh/Chị, Truyện Kiều có được người dân Nam Bộ xưa biết đến rộng rãi
không? Phạm vi lưu truyền và ảnh hưởng như thế nào? Ở Nam Bộ có từng diễn ra các hoạt động vịnh Kiều, lẩy Kiều, tập Kiều, đố Kiều, bói Kiều không? Những đặc điểm nào của
Truyện Kiều khiến cho người dân Nam Bộ dễ dàng tiếp nhận? So với truyện Lục Vân Tiên,
thì mức độ ảnh hưởng của Truyện Kiều như thế nào? Cốt truyện Truyện Kiều được sử dụng
trong diễn xướng văn nghệ xưa nay như thế nào? Những câu hỏi này góp phần làm rõ
mức độ lưu truyền, tiếp nhận và cải biên Truyện Kiều trong dân gian
3.4 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU VÀ GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU
Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi đã đặt ra và cố gắng làm sáng tỏ những câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu sau:
- Có hay không một dòng văn bản Truyện Kiều ở Nam Bộ? Nếu có, nguồn gốc văn
bản từ đâu, tồn tại những đặc điểm giống và khác nào với các dòng văn bản Bắc Bộ và Trung Bộ?
- Ở vùng đất mới Nam Bộ vốn không có truyền thống văn học lâu đời như Bắc Bộ và
Trung Bộ, một tác phẩm giá trị như Truyện Kiều đã được truyền bá và thiết lập ảnh hưởng
như thế nào?
Trang 24- Truyện Kiều đã được cư dân Nam Bộ tiếp nhận như thế nào? Người Nam Bộ đã
bình phẩm, đánh giá về nội dung, tình tiết, sự kiện, nhân vật… trong tác phẩm này ra sao? Các nhà nghiên cứu đã tranh luận, nhìn nhận về tác phẩm này như thế nào?
- Ở Nam Bộ, đã có những ai dựa vào cốt truyện Truyện Kiều để cải biên, phóng tác
thành những tác phẩm văn học nghệ thuật khác? Đó là những tác phẩm nào, giá trị nghệ thuật và mức độ ảnh hưởng ra sao?
- Chúng ta cần khai thác những giá trị tinh hoa trong kho tàng văn học dân tộc để làm
phong phú hơn đời sống văn hóa tinh thần của xã hội hiện tại như thế nào? Truyện Kiều đã
từng đóng góp được gì và có thể tiếp tục đóng góp được gì?
Trang 25CHƯƠNG 4 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
4.1 TRUYỀN BÁ, TIẾP NHẬN, CẢI BIÊN VÀ ẢNH HƯỞNG TRONG VĂN HỌC
Đề tài Truyền bá và cải biên Truyện Kiều của Nguyễn Du ở Nam Bộ liên quan đến
nhiều vấn đề lý thuyết, lý luận nghiên cứu văn học cần phải làm rõ như: truyền bá văn học, tiếp nhận văn học, cải biên văn học, ảnh hưởng văn học, văn học so sánh Vì vậy, trước khi tiến hành đi sâu làm rõ vấn đề, chúng tôi trình bày một số cơ sở lý luận nhằm định hướng cho việc nghiên cứu được sáng tỏ hơn
4.1.1 Truyền bá văn học
Truyền bá văn học là một dạng hoạt động văn học đã có lịch sử hình thành và diễn tiến từ rất lâu đời, có thể nói là từ lúc ra đời tác phẩm văn học Ngay từ trong bản chất phản ánh, biểu hiện, trình bày, bộc lộ, nói ra cảm xúc suy nghĩ của nhà văn qua tác phẩm văn học
đã hàm chứa mầm mống của hoạt động truyền bá văn học Thế nên, khi tác phẩm văn học
từ tác giả truyền đến người nghe, người đọc đầu tiên thì hoạt động truyền bá văn học đã bắt đầu diễn ra Rồi tác phẩm đó tiếp tục truyền đến người thứ hai, thứ ba và rất nhiều người khác, bởi chính tác giả hay chính những người vừa mới tiếp nhận, dẫn đến sự phổ biến rộng rãi tác phẩm văn học trong cộng đồng, trong không gian và thời gian nào đó, tạo nên muôn hình vạn trạng các hoạt động truyền bá văn học khác nhau Có thể nói, từ khi tác phẩm văn học hình thành và phát triển đến nay, hoạt động truyền bá văn học đã song hành với nó trong xã hội loài người
Ngành khoa học nghiên cứu về hoạt động truyền bá văn học bắt nguồn từ học giới phương Tây, với một hệ thống lý luận và phương pháp nghiên cứu tương đối hoàn chỉnh Nói đến truyền bá văn học, nghĩa là nói đến chủ thể truyền bá, phương thức truyền bá, nội dung truyền bá, đối tượng tiếp nhận truyền bá và hiệu quả của hoạt động truyền bá (Vương Bình, 2006, tr.1) Nghiên cứu truyền bá văn học, tức là tìm ra đặc trưng và quy luật của sự sản sinh, lưu truyền, tiếp nhận, cải biên, ảnh hưởng giữa một hay nhiều tác phẩm văn học khác nhau, hoặc giữa một tác phẩm gốc và các hình thức phái sinh của nó về sau Vì thế, truyền bá văn học bao hàm một phạm vi khá rộng, kéo theo các vấn đề liên quan của văn học sử, văn học so sánh, ngôn ngữ chữ viết, trào lưu tư tưởng, lịch sử di dân, hoạt động in
ấn xuất bản
Truyền bá văn học từ xưa đến nay đã diễn ra dưới nhiều dạng thức, nhiều động cơ và nhiều phạm vi tác động khác nhau Có những hoạt động truyền bá gắn liền với quá trình di dân, có hoạt động theo sau hành vi xâm lược lãnh thổ, có hoạt động đi liền với sự lan truyền ngôn ngữ văn tự, cũng có hoạt động là kết quả của quá trình giao lưu trao đổi văn hóa, văn học Sự truyền bá văn học có thể diễn ra từ một cá nhân đến nhiều cá nhân, từ một tập thể đến nhiều tập thể, từ một vùng miền đến các vùng miền khác trong cùng quốc gia, hoặc từ quốc gia này đến các quốc gia khác, thậm chí đến cả một phần lục địa Tùy từng
Trang 26bối cảnh lịch sử xã hội, từng môi trường văn hóa chính trị, từng nền giáo dục và trình độ dân trí, thậm chí từng cá tính dân tộc và chủng tộc khác nhau, mà diễn ra quá trình truyền
bá văn học khác nhau
Truyền bá tác phẩm văn học trong thời kỳ trung đại thường gắn liền với các hoạt động giao lưu trao đổi văn học truyền thống như hội ngộ, thù tạc, xướng họa, đề tặng, viết lời tựa, lời bạt, đề vịnh, phỏng tác, nhuận sắc, cải biên, phiên dịch, bình điểm, hiệu đính, diễn
ca, truyền giáo ; đồng thời cũng không tách khỏi hoạt động nhân rộng văn bản, tái hiện tác phẩm bằng cách truyền khẩu, chuyền tay sao chép, khắc mộc, khắc bia, in ấn xuất bản, vẽ tranh minh họa, diễn xuất trên sân khấu Bước sang thời cận hiện đại, khi nền kinh tế thị trường hình thành, tác phẩm văn học dần trở thành một sản phẩm hàng hóa trên thị trường, thì hoạt động giao dịch sách vở là phương thức chủ yếu để truyền bá văn học, công nghệ in
ấn giúp cho việc nhân bản sách vở diễn ra nhanh chóng hơn, thúc đẩy truyền bá văn học thêm sâu rộng hơn, phức tạp hơn Tất cả các nhân tố đó nối kết chặt chẽ với nhau, tạo nên diện mạo của từng giai đoạn, từng tác phẩm, từng trường hợp truyền bá văn học khác nhau
Sự truyền bá của Truyện Kiều trong lịch sử văn học Việt Nam là một trường hợp điển
hình hiếm có Không chỉ đa dạng về đối tượng truyền bá, đối tượng tiếp nhận, nội dung truyền bá, mà tác phẩm này còn phức tạp về các phương thức truyền bá như cải biên, nhuận sắc, hiệu đính, phóng tác, xướng họa, đề vịnh, chuyển ngữ, chú giải Tất cả những điều đó luôn tạo cảm hứng mãnh liệt trong giới Kiều học Việt Nam từ xưa đến nay
4.1.2 Tiếp nhận văn học
Có truyền bá thì ắt phải có tiếp nhận, tiếp nhận có diễn ra thì truyền bá với hoàn thành các công đoạn của nó Nếu người truyền bá, tức tác giả, là người tìm tòi, khái quát, sáng tạo ra tác phẩm văn học; thì người tiếp nhận, tức độc giả, là người đi sâu khám phá, thưởng thức, tiếp thu tác phẩm văn học đó
“Tiếp nhận văn học là một hoạt động mang tính cá nhân sâu sắc, gắn liền với tình cảm và thị hiếu của mỗi người” (Phương Lựu, 2006, tr.226) Điều này không có gì phải bàn cãi Bởi lẽ, ở những cá nhân có năng lực nhận thức, khả năng tư duy, vốn tri thức, quá trình lịch duyệt khác nhau thì sẽ có hoạt động tiếp nhận khác nhau, từ đó dẫn đến hiệu quả tiếp nhận cũng không giống nhau Vì thế, một khi có sự tham gia của toàn bộ nhân cách con người với các năng lực tri giác, cảm giác, tưởng tượng, liên tưởng, suy luận, trực giác vào quá trình tiếp nhận văn học thì cá tính, thị hiếu của người tiếp nhận được bộc lộ, hình thành lập trường ủng hộ hay phản đối, khen hay chê Dĩ nhiên, mọi hoạt động tiếp nhận văn học đều có sự ảnh hưởng của các yếu tố ngoại tại như bối cảnh lịch sử xã hội, đời sống kinh tế chính trị, xu hướng phát triển văn học, các trào lưu tư tưởng xã hội; nhưng dù sao, quá trình tiếp nhận vẫn gắn liền với đời sống thực tế, dựa trên những hiểu biết phổ quát lẫn nền tảng nhân tính của con người nên dù có khác biệt nhưng nhìn chung điểm tương đồng vẫn là rất lớn
Trang 27Các nhà lý luận văn học đã chia hoạt động tiếp nhận văn học thành 4 cấp độ khác nhau Ở cấp độ một, tiếp nhận đòi hỏi người đọc trước hết phải biết tri giác, cảm thụ tác phẩm, phải hiểu ngôn ngữ, tình tiết, cốt truyện, thể loại để có thể cảm nhận hình tượng trong sự toàn vẹn các chi tiết, các liên hệ Ở cấp độ thứ hai, người đọc tiếp xúc với ý đồ sáng tạo của nghệ sĩ, thâm nhập vào hệ thống hình tượng như là sự kết tinh sâu sắc của tư tưởng và tình cảm tác giả Cấp độ thứ ba, đưa hình tượng vào văn cảnh đời sống và kinh nghiệm sống của mình để thể nghiệm, đồng cảm Và ở cấp độ cuối cùng, nâng cấp lý giải tác phẩm lên cấp quan niệm và tính hệ thống, hiểu được vị trí tác phẩm trong lịch sử văn hóa, tư tưởng, đời sống và truyền thống nghệ thuật (Phương Lựu, 2006, tr.223) Trên thực
tế, không nhiều độc giả có khả năng tiếp nhận văn học ở cấp độ ba và bốn, dù biết rằng đó
là hoạt động tiếp nhận lý tưởng
Thông thường, hoạt động tiếp nhận sẽ giúp độc giả hình thành nhận thức, thái độ, tình cảm mới về đối tượng được tiếp nhận Từ nhận thức, thái độ, tình cảm mới đó, độc giả có thể tái sáng tạo, tái thể hiện tác phẩm dưới một lớp vỏ hình thức khác qua công tác biên tập, tóm tắt, nhuận sắc, dịch thuật, vẽ tranh minh hoạ, chuyển thể kịch bản, từ Hán diễn sang Nôm hoặc phiên chuyển từ Nôm sang Quốc ngữ Trong những trường hợp đó, người tiếp nhận đã trở thành người đồng sáng tạo với tác giả: “Trong tiếp nhận, đồng sáng tạo của người đọc được hiểu là hoạt động cùng sản xuất sản phẩm tinh thần với tác giả, hoàn thành chu trình sản xuất mà tác giả đã khởi đầu, và chủ yếu là nói sự đồng thể nghiệm, đồng cảm, cùng biểu diễn để làm sống dậy cái điều nhà văn muốn nói” (Phương Lựu, 2006, tr.228) Khi đó, người tiếp nhận vừa đóng vai trò là độc giả tiếp nhận, vừa đóng vai trò là tác giả sáng tạo nên tác phẩm mới có một sinh mệnh nghệ thuật mới dù có liên hệ mật thiết với tác phẩm gốc
Do hoạt động tiếp nhận mà các tác phẩm văn học có tầm vóc, giá trị và thậm chí là sứ mệnh lịch sử khác nhau Điều này một phần do giá trị thực của tác phẩm ấy mang lại, một phần khác do hoàn cảnh xã hội, do khuynh hướng nhận thức và do hoạt động tiếp nhận quyết định Trong lịch sử, có nhiều tác phẩm đã chìm lấp mãi mãi không mấy người biết đến, có nhiều tác phẩm nổi lên một thời rồi sau đó bị lãng quên, một số tác phẩm khác ban đầu không ai để ý nhưng về sau được vinh danh ca ngợi, cũng có những tác phẩm tìm được chỗ đứng vững vàng suốt thời gian dài trong lòng dân tộc Thế nên, “lịch sử văn học không chỉ là lịch sử ra đời của các tác phẩm, mà còn là lịch sử tiếp nhận tác phẩm nữa Đời sống lịch sử của tác phẩm văn học là sự vận động của tác phẩm trong dòng trôi của các thế hệ và thời đại lịch sử” (Phương Lựu, 2006, tr.229)
Tiếp nhận Truyện Kiều ở Việt Nam trong suốt hai thế kỷ qua chưa từng bị giới hạn
trong một phạm vi cố định nào Ở từng bối cảnh lịch sử cụ thể với sự quan tâm xã hội khác
nhau, Truyện Kiều đã được đặt vào những văn cảnh mới, quan hệ mới để phát hiện ra những tầng lớp ý nghĩa mới Nguyễn Du sáng tác Truyện Kiều trong bối cảnh thời đại nhiễu
nhương mà ông đang sống, những người tham gia bình phẩm Kiều sau đó đều ít nhiều nhận
Trang 28thấy sự đồng điệu với trăn trở của tác giả Các nhà văn lãng mạn trước 1945 với nhu cầu
giải phóng cá tính đã đề cao Truyện Kiều ở phương diện khẳng định nhân tính của con
người Còn trong thời chiến tranh thì văn nghệ sĩ lại thấy ở Kiều sự nổi trôi dâu bể của thân phận con người, tinh thần vươn lên thay đổi định mệnh, đấu tranh chống áp bức bất công Soi rọi ý nghĩa tác phẩm dưới ánh sáng của bối cảnh xã hội chắc chắc là quy luật phổ biến của hoạt động tiếp nhận văn học Nhờ đó, ý nghĩa ẩn tàng của tác phẩm văn học ngày càng được bóc tách, hiện ra đa tầng đa diện hơn
Truyện Kiều là một hiện tượng lạ trong lịch sử tiếp nhận văn học Việt Nam và thế
giới Về vấn đề này, có nhiều nhà nghiên cứu đã đề cập, ở đây chỉ nói thêm về sự tiếp nhận
của Truyện Kiều ở Nam Bộ Dù là một tác phẩm có cốt truyện nước ngoài, nhưng thông qua bàn tay Việt hóa tài tình bằng ngôn ngữ dân tộc điêu luyện của Nguyễn Du, Truyện
Kiều đã đến gần hơn với tâm thái tiếp nhận của đông đảo người Việt Trên vùng đất có lịch
sử hình thành và phát triển chưa quá lâu nhưng nhiều đặc thù như Nam Bộ, Truyện Kiều
vừa tồn tại với dạng thức Việt hóa của nó để đến với tầng lớp trí thức nho sĩ Nam Bộ, vừa phải tồn tại dưới nhiều dạng thức Nam Bộ hóa khác nhau để phù hợp hơn với xu hướng thẩm mĩ và năng lực tiếp nhận của đông đảo tầng lớp cư dân khác Như các nhà lý luận văn học nhận định: “Tác phẩm càng có âm hưởng xã hội lớn lao, càng có nhiều dị bản”
(Phương Lựu, 2006, tr.229), thì Truyện Kiều có thể nói là tác phẩm văn học duy nhất của
miền Bắc chiếm trọn tình cảm của người tiếp nhận Nam Bộ trong quá khứ
4.1.3 Cải biên văn học
Cải biên văn học có thể hiểu là hoạt động tái tạo, tái cấu trúc, tái diễn giải một tác phẩm văn học đã có theo hướng thêm, bớt hoặc vừa thêm vừa bớt để tạo thành một tác phẩm mới theo ý đồ sáng tạo riêng của tác giả Hoạt động cải biên thường diễn ra từ cảm hứng được hình thành sau khi tiếp nhận nguyên tác, từ những khoảng trống nhận thức còn
bỏ ngỏ mà người tiếp nhận muốn thông qua cách cải biên nó để lấp đầy, hoặc từ cảm giác chưa thỏa mãn, chưa đồng tình, chưa thuyết phục nên cải biên tác phẩm để cất lên tiếng nói
cá nhân, hay đơn giản chỉ là để giúp những người khác tiếp nhận được tác phẩm dễ dàng hơn Lúc này, người cải biên vừa là độc giả của quá trình truyền bá - tiếp nhận cũ, vừa là tác giả của quá trình truyền bá - tiếp nhận mới
Hoạt động cải biên có thể diễn ra trong cùng một loại hình nghệ thuật như trong văn chương, một tiểu thuyết chương hồi được cải biên thành truyện thơ, một truyện ngắn được cải biên thành bài thơ hoặc ngược lại; cũng có thể diễn ra giữa nhiều loại hình nghệ thuật khác nhau như: văn chương, hội họa, sân khấu, điện ảnh, âm nhạc Khi đó, những chất liệu đặc trưng của từng loại hình nghệ thuật được khai thác để phản ánh nội dung của cùng một câu chuyện Chúng ta thường thấy nhiều bài thơ được vẽ tranh minh họa hay phổ nhạc ca hát, nhiều tác phẩm tiểu thuyết được chuyển thể thành phim truyền hình, hoặc nhiều truyện thơ được cải biên thành tuồng hát bội lẫn cải lương biểu diễn trên sân khấu Các tác phẩm
Trang 29cải biên khác nhau cùng mang đến cho khán giả sự tiếp nhận vừa giống vừa khác nhau tùy mức độ cải biên của tác phẩm và trình độ tiếp nhận của khán giả
Cải biên văn học, xét cho cùng cũng là một quá trình sáng tác văn học Quá trình này đòi hỏi người cải biên phải có cảm hứng sáng tác, trăn trở suy tư, tâm huyết gan ruột mới
có thể tạo ra được tác phẩm nghệ thuật có giá trị mới Người cải biên phải biết chọn lọc nguyên liệu trong nguyên tác, tức văn liệu thi liệu, hay sự kiện, tình tiết, nhân vật, biết thủ
xả hợp lý, để chuyển tải ý đồ nghệ thuật của mình Có những tác phẩm cải biên thành công hơn hẳn nguyên tác, tạo được tiếng vang lớn trong bầu trời nghệ thuật nhưng cũng có nhiều tác phẩm cải biên thất bại, chẳng bao lâu đã bị chìm khuất Mỗi tác phẩm cải biên, dù đã là một cá thể nghệ thuật độc lập, được truyền bá và tiếp nhận theo cách riêng, nhưng lúc nào cũng tồn tại sợi dây liên hệ mật thiết giữa nó với nguyên tác Hiện tượng này cũng là một dạng “liên văn bản” đang được giới nghiên cứu văn học đặc biệt quan tâm hiện nay
Bản thân Truyện Kiều của Nguyễn Du đã là một sản phẩm cải biên thành công từ Kim
Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân Khi được truyền bá rộng rãi ở Việt Nam, không
ai cảm thấy lạ lẫm khi Truyện Kiều lại trở thành nguyên tác của nhiều sản phẩm cải biên khác từ xưa tới nay Ở Nam Bộ, Truyện Kiều tiếp tục được cải biên thành các “phó phẩm” Kiều (như Túy Kiều phú, Túy Kiều án, Kim Vân Kiều ca, Kim Vân Kiều phú) hay các kịch bản tuồng Kim Vân Kiều, cải lương Kim Vân Kiều
“Phó phẩm” (hay “phó sản”, “phó bản”) của Truyện Kiều là những tác phẩm ra đời ở Nam Bộ trong giai đoạn truyền bá rộng rãi nhất của Truyện Kiều vào cuối thế kỷ 19 đầu thế
kỷ 20, được các nhà nho Nam Bộ sáng tác bằng chữ Nôm hoặc chữ Quốc ngữ dưới nhiều hình thức thể loại khác nhau như thơ lục bát, thơ thất ngôn, thơ thất ngôn xen bát ngôn với dung lượng không đồng đều nhau Tất cả đều mang đặc điểm chung là giản lược hơn so với tác phẩm gốc, phản ánh rõ đặc trưng hành văn của phương ngữ Nam Bộ, vừa kế thừa nguyên bản lưu hành của tác phẩm nhưng cũng vừa mang đậm đấu ấn sáng tạo nghệ thuật của tác giả miền Nam
4.1.4 Ảnh hưởng văn học
Ảnh hưởng văn học là một khái niệm của ngành văn học so sánh, dùng để chỉ mối quan hệ tác động qua lại giữa các nhà văn, các tác phẩm và các nền văn học Ảnh hưởng văn học là kết quả tất yếu của quá trình truyền bá và tiếp nhận văn học giữa nhiều đối tượng, diễn ra ở một phạm vi không gian và thời gian nhất định, được chứng minh bằng những dấu
ấn đặc thù của đối tượng này có thể được tìm thấy trong lòng một đối tượng khác, ở một dạng thức biến đổi nào đó Ảnh hưởng văn học phải là một sự tiếp nhận có sáng tạo, có cải biên để tạo ra cái mới so với nguyên gốc, chứ không phải là sự tiếp nhận nguyên xi theo kiểu bắt chước, áp dụng rập khuôn cái có sẵn
Trang 30Về mặt mức độ, có ảnh hưởng giữa các nhà văn (từ một nhà văn đến nhiều nhà văn hoặc từ nhiều nhà văn đến một nhà văn), ảnh hưởng giữa các tác phẩm (từ một tác phẩm đến nhiều tác phẩm hoặc từ nhiều tác phẩm đến một tác phẩm), ảnh hưởng giữa các nền văn học (văn học đa số đến văn học thiểu số, văn học tộc người này đến văn học tộc người khác, văn học quốc gia này đến văn học quốc gia khác, hoặc văn học lục địa này đến văn học lục địa khác) Ở mỗi mức độ, nội dung chịu ảnh hưởng cũng rất đa dạng, bao gồm: trào lưu tư tưởng, khuynh hướng thẩm mỹ, phong cách sáng tác, hệ thống thể tài, phương pháp sáng tác, nguyên liệu sáng tác, ngôn ngữ sáng tác
Về xu hướng thiết lập sự ảnh hưởng, thường thì các nền văn học có trình độ phát triển cao sẽ thiết lập ảnh hưởng đến các nền văn học phát triển thấp hơn, các nhà văn có tài năng
và tầm bao quát rộng sẽ thiết lập ảnh hưởng đến các nhà văn nhỏ hơn, các tác phẩm có giá trị nội dung lẫn nghệ thuật lớn sẽ thiết lập ảnh hưởng đến các tác phẩm nhỏ Hiếm khi có trường hợp xảy ra theo hướng ngược lại Theo trình tự thời gian, những tác giả, tác phẩm ra đời trước sẽ thiết lập sự ảnh hưởng đến tác giả, tác phẩm ra đời sau Còn đối với một nhóm văn bản thì văn bản gốc (nguyên tác) sẽ thiết lập sự ảnh hưởng đến các văn bản thứ cấp (phó phẩm, cải tác)
Muốn xác định sự ảnh hưởng trong văn học, không cách nào khác là phải tìm ra những yếu tố làm bằng chứng cho sự thiết lập ảnh hưởng giữa các đối tượng Đó có thể là các bằng chứng về quá trình giao lưu, trao đổi và tiếp biến văn học trong lịch sử; có thể là bằng chứng về dẫn xuất tư liệu tiếp nhận tham khảo; cũng có thể là bằng chứng tương đồng dựa trên sự đối chiếu cách thức diễn giải văn bản Vì vậy, đi sâu khảo sát diễn ngôn của văn bản là thao tác không thể thiếu để xác minh nguồn gốc và khả năng thiết lập ảnh hưởng giữa các tác phẩm, hoặc giữa các văn bản của cùng một tác phẩm
Không thể phủ nhận, Nguyễn Du trong quá trình sáng tác Truyện Kiều đã tiếp nhận ảnh hưởng trên nhiều khía cạnh của Kim Vân Kiều truyện (Thanh Tâm Tài Nhân), thế
nhưng sự sáng tạo to lớn của Nguyễn Du trên nhiều phương diện tự sự là điều phải thừa nhận Có thể nói, Nguyễn Du đã vượt ra cái bóng ảnh hưởng của nguyên tác để tạo nên một
sản phẩm cải tác vượt lên trên giá trị vốn có của nó Đến lượt Truyện Kiều của Nguyễn Du
lại thiết lập ảnh hưởng đến nhiều sáng tác về sau, không chỉ đối với những sáng tác cải biên,
phóng tác từ Truyện Kiều mà còn ở nhiều tác phẩm độc lập khác như truyện thơ Nôm Lục
Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu, tuồng Kim thạch kỳ duyên của Bùi Hữu Nghĩa
4.2 TRUYỆN KIỀU TRONG TRÀO LƯU TRUYỀN BÁ VĂN HỌC ĐẾN NAM BỘ
Nam Bộ là vùng đất được mở mang cuối cùng của đất nước, là địa bàn tụ cư của nhiều nhóm di dân khác nhau, là cái nôi sản sinh văn hóa Nam Bộ gắn liền với lưu vực sông Đồng Nai và sông Cửu Long Chính trên mảnh đất này, một nền văn học Nam Bộ mới được hình thành, dù không có bề dày phát triển như ở Bắc và Trung Bộ, thế nhưng văn học Nam Bộ vẫn khẳng định được giá trị của nó với những đặc tính đa nguyên, linh hoạt, cập
Trang 31nhật, tính địa phương lẫn đại chúng Trong phần này, chúng tôi lần lượt giới thiệu bối cảnh lịch sử, xã hội và nền văn học Nam Bộ dưới triều Nguyễn; từ đó xác định vị trí, vai trò của
Truyện Kiều trong dòng chảy văn học Nam Bộ
4.2.1 Lịch sử, xã hội và văn học Nam Bộ dưới triều Nguyễn (1802-1945)
Nam Bộ (còn được gọi là Nam Kỳ, Nam Phần) có lịch sử hình thành trên 320 năm, tính từ mốc chúa Nguyễn Phúc Chu phái Thống suất Nguyễn Hữu Cảnh vào Nam kinh lược
và xác lập chủ quyền trên đất Đồng Nai – Gia Định năm 1698 Trước đó, Nam Bộ là địa bàn tụ cư rải rác của các tộc người bản địa như Khmer, Chăm, Êđê, Giarai, Stiêng, Mạ; chịu ảnh hưởng của các dòng văn hóa Bà la môn giáo và Phật giáo Nam truyền từ Ấn Độ lan sang Sau đó, các lực lượng di dân người Việt, người Hoa cũng tiến vào khai phá, biến vùng đất này trở thành nơi sinh cơ lập nghiệp của nhiều cộng đồng người khác nhau
Ban đầu, đối tượng di dân người Việt chủ yếu là dân nghèo di trú, tù nhân lưu đày, lính tráng chúa Nguyễn rời quân ngũ, giới thương gia hải hồ tứ chiếng; tiếp theo là các nhóm tướng sĩ người Minh Hương thời cuối Minh đầu Thanh sang tị nạn chính trị, các nhóm thương nhân người Hoa sang buôn bán làm ăn Về sau, chúa Nguyễn ra sức chiêu mộ dân cư Đàng Trong vào Nam mở đất khẩn hoang, cùng người Hoa lập nên những vùng đất trù phú như Đồng Nai, Biên Hòa, Gia Định, Vĩnh Long, Mĩ Tho, Hà Tiên Phố xá, thương cảng, làng mạc bắt đầu mọc lên ở những vùng đất cao, gần các cửa biển hoặc dọc theo các nhánh sông lớn
Cùng với quá trình di dân đó, giới tướng sĩ có ít nhiều học vấn và giới nho sĩ trí thức vùng Thuận Quảng cũng đã lần lượt đặt chân lên đất Nam Bộ Có người vào Nam công cán rồi trở về vùng Thuận Quảng hoặc mất tại Nam Bộ như võ tướng Nguyễn Hữu Hào (?-1713, anh Nguyễn Hữu Cảnh), Nguyễn Hữu Cảnh (1650-1700, bị mất trên đường trở về), Nguyễn
Cư Trinh (1716-1767), Nguyễn Văn Thoại (1761-1829, mất tại Châu Đốc, An Giang) Nguyễn Tri Phương (1800-1873) Họ cũng đã kịp để lại một số tác phẩm cho đời, ngoại
trừ truyện thơ Nôm Sãi vãi của Nguyễn Cư Trinh, các văn bia và văn tế của Nguyễn Văn
Thoại được nhiều người Nam Bộ biết tới, các tác phẩm khác ảnh hưởng đến Nam Bộ không đáng kể Theo chân các vị tướng lĩnh trên vào Nam chắc hẳn có rất nhiều nho sĩ phụ tá,
giúp thảo soạn văn thư như trường hợp Bia Vĩnh Tế, Bia Thoại Sơn, Tế nghĩa trủng văn
do các học sĩ dưới trướng Nguyễn Văn Thoại soạn thảo Ngoài đối tượng này, nhiều nhà nho vô danh khác vì nhiều nguyên nhân: bất đắc chí vì thi cử không đỗ đạt, tị nạn chiến tranh loạn lạc, tìm vùng đất lập nghiệp mới cũng đã chọn Nam Bộ làm quê hương thứ hai của mình
Bên cạnh các nhà nho tích cực ra phục vụ triều đình, trổ tài “kinh bang tế thế”, còn có một số nhà nho trứ danh chỉ chọn con đường ẩn sĩ Nổi bật nhất trong số đó là Đặng Đức Thuật, Võ Trường Toản, hai dật sĩ Chiêu và Trúc (học trò của Võ Trường Toản) Đặng Đức Thuật được biết đến là người học rộng hay chữ, thời Tây Sơn ẩn cư dạy học ở Bình
Trang 32Thuận, sau đó vào Gia Định sinh sống, được các nhà thơ gốc Minh Hương là Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhân Tĩnh, Lê Quang Định thường xuyên lui tới và kính trọng như bậc thầy Có thể ông có ít nhiều đóng góp cho trào lưu thơ ca Gia Định hưng thịnh một thời Còn Võ Trường Toản (?-1792) là nhà nho, xử sĩ gốc Minh Hương nổi tiếng khắp đất Gia Định Suốt
cả cuộc đời ông không màng tới chính sự, chỉ chuyên tâm mở trường dạy học, bồi dục nhân tài Nhiều học trò của ông về sau làm quan lớn dưới triều Nguyễn, lập nhiều công lao hiển hách như Ngô Tùng Châu, Trịnh Hoài Đức, Phạm Ngọc Uẩn, Lê Quang Định, Lê Bá Phẩm, Ngô Nhân Tĩnh Ông trở thành biểu tượng của học phong Nam Bộ, là tấm gương của tiết tháo và đạo đức nhà nho cho nhiều danh sĩ đời sau noi theo
Trong quá trình truyền bá văn học đến Nam Bộ, ngoài các lực lượng di dân đến từ Bắc và Trung Bộ, như trên có nói, di dân Trung Hoa cũng từng đóng vai trò khá quan trọng Năm 1679, Tổng binh Long Môn (Quảng Tây) là Dương Ngạn Địch và phó tướng Hoàng Tiến, cùng với Tổng binh các châu Cao, Lôi, Liêm (Quảng Tây) là Trần Thượng Xuyên và phó tướng Trần An Bình đã dẫn hơn 3000 quân đi trên 50 chiến thuyền sang xin chúa Nguyễn cho tị nạn giặc Mãn Thanh, sau lần lượt được phái đến khai mở vùng đất Biên Hòa, Đồng Nai và Mĩ Tho, Vĩnh Long Một người khác là Mạc Cửu ở Lôi Châu (Quảng Đông)
đã đưa tùy tùng và gia quyến lên thuyền sang tị nạn tại Chân Lạp, mở mang vùng đất Mang Khảm thành trấn Hà Tiên trù phú sau này Họ đều là giới tướng lĩnh có nhiều hiểu biết lẫn chữ nghĩa, làm quan dưới thời Minh mạt, vì không thần phục Mãn Thanh nên quyết chí lên thuyền về phương Nam tị nạn Tiếp theo đó, rải rác nhiều nhóm nạn dân chính trị và thương nhân người Hoa tiếp tục sang Nam Bộ rồi định cư lại đây, dựng vợ gả chồng, buôn bán làm
ăn tương đối hòa thuận với người Việt
Người Hoa đến đâu, văn hóa, văn học, sách vở của người Hoa sẽ theo đến đấy Các tác phẩm văn học Trung Quốc, đặc biệt là tiểu thuyết Minh Thanh, cũng dần dần được truyền bá đến Nam Bộ, tạo nên sự giao lưu văn hóa, văn học mật thiết giữa khu vực Hoa Nam và Nam Bộ trong suốt thế kỷ 18-19, kéo dài đến tận nửa đầu thế kỷ 20 Hậu duệ của các nhóm người Minh Hương và Hoa di dân đó về sau cũng đều được ra làm quan dưới triều Nguyễn, trở thành các vị hộ quốc công thần, nho sĩ trí thức, nhà văn nhà thơ lớn của đất Nam Bộ như Mạc Thiên Tích, Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhân Tĩnh, Lê Quang Định, Phan Thanh Giản, Trương Hảo Hiệp Về văn học, đáng chú ý nhất là nhóm “Chiêu Anh Các” của Mạc Thiên Tích ở Hà Tiên và nhóm “Gia Định tam gia” ở Gia Định
Mạc Thiên Tích (1706-1780) là con trai trưởng của Mạc Cửu, từ nhỏ đã được tiếp nhận nền học vấn Trung Hoa do các Hoa kiều truyền thụ Năm Thiên Tích được 30 tuổi thì Mạc Cửu mất, ông được chúa Nguyễn cho thay cha làm chức Tổng trấn Hà Tiên Bên cạnh xây dựng thành lũy, khai khẩn đất đai sản xuất nông nghiệp, phát triển thông thương mậu dịch với các nước, ông cũng quan tâm mở mang văn hóa, sáng tác văn học Mạc Thiên Tích cho xây dựng Chiêu Anh Các làm Văn miếu thờ Khổng Tử, đồng thời là nơi hội tụ tao nhân mặc khách đến xướng họa thơ văn Trong đó, nổi bật nhất là “Thập bát anh”, tức 18 bậc thi
Trang 33bá, chí sĩ nổi trội của đất Hà Tiên, ngoài ra còn có nhiều nhà thơ Hoa kiều Quảng Đông và Gia Định thường xuyên lui tới luận bàn ngâm vịnh Chủ đề “Hà Tiên thập vịnh” gồm 10 bài thơ vịnh cảnh Hà Tiên do Mạc Thiên Tích đề xướng năm 1736, được 31 thi sĩ khác hưởng ứng xướng họa, chỉ một năm sau đã được khắc gỗ ấn hành tại Hà Tiên với 220 bài thơ Không chỉ vậy, các thành viên và bản thân Mạc Thiên Tích còn có nhiều thơ chữ Hán và chữ Nôm khác, tiếc là phần nhiều trong đó đã thất lạc Có thể thấy, dưới thời các chúa Nguyễn, Hà Tiên đã từng là một trung tâm văn hóa, văn học lớn ở Nam Bộ (Đông Hồ, 1970)
Sau Hà Tiên vài chục năm, Gia Định cũng trở thành một trung tâm văn hóa, văn học lớn Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhân Tĩnh, Lê Quang Định là ba nhà thơ lỗi lạc đương thời, được người đời sau mệnh danh là “Gia Định tam gia” Họ cùng sáng lập một hội thơ có tên
là “Bình Dương thi xã”, còn gọi là “Sơn hội” vì các thành viên đều có chữ Sơn trong bút hiệu Cũng giống như Chiêu Anh Các, Bình Dương thi xã là nơi hội tụ tao nhân mặc khách đất Gia Định cùng bàn thơ xướng họa, đến nay vẫn còn lưu lại nhiều tác phẩm Do được triều đình trọng dụng, ba ông nhiều lần được phái đi sứ nhà Thanh, cùng văn nhân thi sĩ Quảng Đông kết giao thù tạc, nhiều tập thơ sau những chuyến đi sứ cũng lần lượt ra đời, góp phẩn làm phong phú hơn kho thơ ca đi sứ dân tộc
Chính nhờ những hoạt động giáo dục, giao lưu văn học mạnh mẽ đó, Nam Bộ dần nổi lên là một trung tâm văn hóa lớn của xứ Đàng Trong Thành kiến của nhiều người về một vùng đất hoang dã, nhiều tội phạm lưu đày, lục lâm thảo khấu và giang hồ tứ chiếng dần nhạt nhòa đi Các nhóm di dân tinh hoa dần dần Nam tiến sâu hơn, tìm đến những vùng đất
xa xôi từng được Chân Lạp cắt dâng cho chúa Nguyễn, như nhóm di dân hai huyện Phước Long và Tân Bình theo chân Thống suất Nguyễn Hữu Cảnh năm 1698 Họ cũng là những lực lượng chính đưa văn hóa, văn học Đồng Nai – Gia Định lan tỏa khắp vùng Định Tường,
An Giang dưới triều Nguyễn
Khi thực dân Pháp chiếm 3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ năm 1862, một số sĩ phu vốn nặng lòng với vận nước, không chịu khuất phục chung sống với quân xâm lược, đã từ miền Đông di chuyển sang tị nạn tại 3 tỉnh miền Tây Đến năm 1867, thực dân Pháp chiếm luôn miền Tây thì một số người lại di chuyển ra vùng Nam Trung Bộ Vốn không có tấc sắt trong tay, không biết lựa chọn cách phản kháng nào khác, các nho sĩ yêu nước chỉ còn cách rời khỏi nơi sinh trưởng của mình để giữ tròn khí tiết cương trực, son sắc, đau đáu với vận nước Nổi bật trong số đó là các danh sĩ yêu nước Phan Thanh Giản (1796-1867), Bùi Hữu Nghĩa (1807-1872), Huỳnh Mẫn Đạt (1807-1883), Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888), Phan Văn Trị (1830-1910) Những sáng tác của các ông ra đời cuối thế kỷ 19 thể hiện lòng yêu nước dạt dào, chí khí căm thù quân xâm lược ngút trời, phê phán những kẻ đầu quân tay sai cho Pháp, nhưng cũng day dứt nỗi buồn vì bất lực
Trang 34Trong khi đó, một bộ phận giới nho sĩ, giới cựu tướng lĩnh, cựu binh sĩ trong quân đội nhà Nguyễn lại chọn lựa con đường hiệu triệu dân chúng cầm vũ khí vùng lên đuổi giặc Cuộc đấu tranh này thu hút đông đảo quần chúng nghèo khổ, tín đồ các giáo phái nội sinh ở miền Tây Nam Bộ Nổi bật nhất là các cuộc khởi nghĩa của Trương Định (1820-1864) ở Gò Công, Tiền Giang (1859-1864), khởi nghĩa của Nguyễn Trung Trực (1837-1868) ở Kiên Giang (1861-1868); khởi nghĩa của Thiên Hộ Dương (1827-1866) ở Đồng Tháp (1862-1866); khởi nghĩa Bảy Thưa của Trần Văn Thành (?-1873) ở Láng Linh, An Giang (1867-1873) Dù tất cả đều bị thực dân Pháp đàn áp thất bại, nhưng chí khí yêu nước của các tướng sĩ đã trở thành đề tài cho văn chương đời sau ca ngợi
Từ thế kỷ 18 đến nửa đầu thế kỷ 20, một lượng lớn thư tịch cổ chữ Hán từ khu vực Hoa Nam đã theo thuyền buôn người Hoa truyền đến Nam Bộ Ban đầu, đối tượng tiếp nhận chủ yếu là di dân Hoa kiều, dần dà mở rộng sang giới nhà nho người Việt, vốn dần lớn mạnh trong quá trình khẩn hoang mở cõi Điều này khiến cho tư tưởng học thuật Hoa Nam thông qua Hoa kiều và nho sĩ được lan truyền tương đối sâu rộng trên vùng đất Nam
Bộ Ngoài các loại sách học chữ Hán vỡ lòng, sách phong thủy địa lý bói toán, sách y dược học, kinh sách của các tôn giáo, còn có một lượng lớn các tác phẩm văn học Trung Quốc trải dài qua các đời, trong đó tiểu thuyết Minh Thanh chiếm một số lượng đáng kể
Tiểu thuyết Minh Thanh truyền đến Nam Bộ, ban đầu được các nhà nho tiếp nhận từ nguyên bản chữ Hán, sau được một số nhà nho giỏi chữ nghĩa diễn dịch ra “quốc âm” (chữ Nôm) dưới dạng văn vần, phần lớn dùng các thể thơ truyền thống Việt Nam như lục bát và song thất lục bát, trở thành các truyện Nôm Tuy nhiên, do tiểu thuyết Minh Thanh thường được sáng tác theo hình thức chương hồi với dung lượng lớn, nên các truyện thơ Nôm cũng khó thể nào diễn dịch từ đầu đến cuối nội dung cốt truyện Khi đó, có hai hướng diễn Nôm thường thấy, hoặc là tóm lược nội dung cốt truyện bằng một dung lượng câu thơ hữu hạn, hoặc là chọn lọc một số chương hồi quan trọng để diễn Nôm và giới thiệu đến độc giả Sau
đó, các bản diễn Nôm này tiếp tục lan truyền đến các nhà nho khác, tạo nên trào lưu cải biên, ứng tác, xướng họa, đề vịnh sôi nổi, càng khiến tác phẩm văn học Trung Quốc lan truyền sâu rộng trong dân gian
Trong quá trình lưu truyền đó, hai hình thức nhân rộng văn bản đáng lưu ý là in khắc mộc và chép tay Mặc dù ở Nam Bộ đã tồn tại các trung tâm in ấn sách vở chữ Hán như Hà Tiên của dòng họ Mạc, hay chùa Giác Lâm ở Gia Định chuyên in ấn kinh Phật; thế nhưng
từ các khâu kỹ thuật, nguyên liệu giấy mực, đến nhân công nhìn chung vẫn còn nhiều hạn chế, nên việc in ấn còn khép kín nội bộ và số lượng in có hạn, chưa đáp ứng nhu cầu của giới nho sĩ trí thức ngày một đông đảo ở Nam Bộ Khi đó, các hiệu in ở Quảng Đông (Trung Quốc), thông qua giới Hoa thương nhạy bén ở Gia Định, đã góp phần bổ khuyết cho nhu cầu truyền bá sách vở trên Bên cạnh đó, chép tay dù mất khá nhiều thời gian và công sức, lại thiếu thốn về nhân lực, vẫn là cách nhân rộng văn bản phổ biến nhất đương thời
Trang 35Thập niên 60 của thế kỷ 19, khi thực dân Pháp xâm chiếm toàn cõi Nam Kỳ, báo chí Quốc ngữ ra đời đánh dấu cho sự hình thành văn học Quốc ngữ Nam Bộ Dưới vai trò chủ xướng của người Pháp và các trí thức Nam Kỳ thân Pháp, chữ Quốc ngữ không chỉ thông qua các trường đào tạo thông ngôn, thông qua báo chí, mà còn thông qua các tác phẩm văn học chữ Nôm trước đó lan truyền rộng rãi Nhiều tác phẩm chữ Nôm, đứng trước nhu cầu truyền bá và tiếp nhận mới, đã được phiên chuyển sang chữ Quốc ngữ trước khi giới thiệu đến công chúng Lúc này, công nghệ in ấn bằng máy móc hiện đại của Pháp đã giúp việc nhân bản sách vở diễn ra nhanh chóng hơn, số lượng ấn bản lớn hơn, đưa ra các hiệu sách phát hành rộng rãi hơn, khắc phục những hạn chế trước đây của kỹ thuật in mộc bản Có thể nói những thập niên sau cùng của thế kỷ 19 là khoảng “thời gian vàng” của việc chuyển dịch truyện thơ Nôm sang chữ Quốc ngữ, đương nhiên việc chuyển dịch này vẫn còn kéo dài mấy chục năm sau nữa
Tiếp theo đó là phong trào chuyển dịch tiểu thuyết Minh Thanh từ chữ Hán sang chữ Quốc ngữ Do tầng lớp thị dân ngày một đông đảo làm hình thành nhu cầu thưởng thức tác phẩm văn học, lại thêm báo chí Quốc ngữ Nam Bộ ngày một phát triển, công nghệ in ấn của Pháp ngày một hoàn thiện, nên từ những năm cuối thế kỷ 19, ngoài một số tác phẩm văn học Pháp được chuyển dịch sang chữ Quốc ngữ, thì đông đảo trí thức gốc Hoa lẫn người Việt đã tích cực phiên dịch tác phẩm văn học Trung Quốc giới thiệu trên báo chí
Nam Bộ Hầu hết trong số đó là các bộ tiểu thuyết Minh Thanh đồ sộ như Tam Quốc diễn
nghĩa, Tây du ký, Thủy hử truyện, Phong thần diễn nghĩa, Nhờ những ưu thế vượt trội dễ
học dễ nắm của chữ Quốc ngữ, các tác phẩm văn học Trung Quốc qua công cụ truyền bá này đã nhanh chóng đi vào lòng quần chúng Nam Bộ, ảnh hưởng đến các loại hình nghệ thuật khác như sân khấu tuồng, cải lương, kịch nói, hội họa , càng in đậm dấu ấn trong tâm hồn cư dân miền Nam
Những người dịch thuật nói trên đa phần vừa là nhà báo, vừa là dịch giả văn học, cũng vừa là người sáng tác văn học Với một ý thức tự cường, tinh thần trách nhiệm trước văn hóa dân tộc, sự nhạy cảm trước chuyển biến của cuộc sống, một số cây bút trong họ đã chuyển sang sáng tác truyện và tiểu thuyết Quốc ngữ, làm hình thành dòng tiểu thuyết Quốc ngữ Nam Bộ, vốn đi trước tiểu thuyết Quốc ngữ miền Bắc, đáp ứng đầy đủ hơn thị hiếu thưởng thức ngày càng đa dạng của người Nam Bộ Nghiên cứu dòng “tiểu thuyết kim thời” này, chúng ta không chỉ nhận thấy rất nhiều dấu ấn của tiểu thuyết Minh Thanh, những “truyện Tàu” đươc sáng tác về sau này, mà còn thấy cả dấu ấn của nền văn học Pháp Đó là những dấu ấn liên quan đến loại hình tác phẩm, thủ pháp sáng tác, cách xây dựng hình tượng tính cách nhân vật, cách sử dụng văn liệu tuồng tích Trung Quốc, cách diễn đạt theo truyền thống lãng mạn Pháp thường thấy trong sáng tác của các văn nghệ sĩ Nam Bộ như Trương Duy Toản, Lê Hoằng Mưu, Hồ Biểu Chánh Điều này hoàn toàn phù hợp với xu hướng giao thoa văn hóa, văn học Việt – Pháp – Trung đầu thế kỷ 20
Trang 36Tóm lại, cùng với quá trình di dân của các nhóm người Việt và người Hoa đến vùng đất Nam Bộ là hai dòng văn học chính: (1) Dòng văn học Việt Nam từ Đàng Ngoài truyền đến Đàng Trong rồi từ Đàng Trong truyền đến Nam Bộ bằng đường bộ; (2) Dòng văn học Trung Hoa từ Hoa Nam trực tiếp truyền sang Nam Bộ bằng đường biển Về sau, theo chân thực dân Pháp, văn học Pháp cũng bắt đầu đặt chân lên đất Nam Bộ, thúc đẩy văn học Nam
Bộ đi trước một bước trong quá trình hiện đại hóa
Có thể thấy rằng, tiếp nhận văn học ở miền Nam ngay từ đầu đã diễn ra một cách tự
do, thoải mái, linh hoạt dựa trên nhu cầu tự thân của người truyền bá lẫn người tiếp nhận, cũng như thuộc tính cố hữu của sự lan truyền văn hóa từ nơi có đến nơi không có, từ nơi cao đến nơi thấp Mặt khác, do sự chuyển biến sang nền kinh tế thị trường, sinh hoạt văn học cũng dần dần chuyển hình, khác xa truyền thống trước đây Phiên dịch, in ấn, xuất bản, thậm chí sáng tác tác phẩm văn học dần mang tính thương mại đầy đủ hơn, đáp ứng nhu cầu thị trường theo quy luật cung cầu của đời sống xã hội Nam Bộ
Chính bối cảnh văn hóa – xã hội đó đã hun đúc nên tính cách tự do, phóng khoáng, chân chất, nghĩa hiệp, cởi mở của người Nam Bộ Những đặc tính này đã thấm đẫm trong từng lời ăn tiếng nói, từng câu ca dao, từng điệu hát ru, từng tác phẩm văn học Hán Nôm lẫn Quốc ngữ, kiến tạo nên bản sắc văn học của người Nam Bộ
4.2.2 Vị trí của Truyện Kiều trong trào lưu truyền bá văn học đến Nam Bộ
Cùng với quá trình khẩn hoang và di cư trên vùng đất Nam Bộ, văn học dân gian, văn học Hán Nôm cũng theo chân các nhóm di dân lan truyền đến vùng đất mới Văn học dân gian bao gồm các câu hò điệu lý Bắc Trung Bộ, các loại hình nghệ thuật dân gian như nghệ thuật tuồng cổ, có lẽ được truyền bá sớm hơn vì không quá cần những tầng lớp trí thức tinh hoa góp công Còn đối với văn học Hán Nôm, một yêu cầu đặt ra là phải có các nhà nho tinh thông chữ nghĩa đóng vai trò là người truyền bá lẫn người tiếp nhận, thì việc lưu truyền mới có thể diễn ra được Chính vì thế, văn học Hán Nôm hình thành và phát triển có phần muộn màng hơn cùng với sự lớn mạnh của tầng lớp nho sĩ trí thức Nam Bộ
Truyện Kiều có lẽ là tác phẩm văn học hiếm hoi ở Bắc Hà truyền đến Nam Bộ đương
thời Bởi lẽ từ khi Trịnh – Nguyễn phân tranh, các chúa Nguyễn chủ trương tự lực tự cường phát triển kinh tế lẫn văn hóa ở Đàng Trong, không giữ nhiều mối liên hệ với Đàng Ngoài Sau đó là một khoảng thời gian dài chiến loạn dưới triều Tây Sơn, hoạt động giao lưu truyền bá văn học vì chịu ảnh hưởng chiến sự nên không được diễn ra thông suốt Câu hỏi
thú vị mà ai cũng quan tâm là Truyện Kiều giữ vị trí như thế nào trong trào lưu truyền bá
văn học đến Nam Bộ?
Như trên đã phân tích, trước khi Truyện Kiều đến với Nam Bộ thì trên vùng đất này
đã lưu hành tương đối phổ biến các tác phẩm văn – sử - triết – giáo – nghệ du nhập từ Trung Quốc, không chỉ phổ biến trong cộng đồng người Hoa mà còn trong cả không ít nhà
Trang 37nho Nam Bộ Từ nhu cầu tinh thần của xã hội, các tác phẩm này thông qua giới nho sĩ bản địa thiết lập sự ảnh hưởng vi tế đến người bình dân Ngoài ra, nền văn học Hán Nôm Nam
Bộ cũng dần hình thành ở những trung tâm lớn như Hà Tiên, Gia Định, thế nhưng những tác phẩm văn học Hán Nôm này vẫn chỉ ảnh hưởng trong phạm vi giới nho sĩ trí thức thời
đó, không ảnh hưởng rộng rãi đến quần chúng bởi tính bác học điển nhã, không phù hợp với năng lực và nhu cầu tiếp nhận của đông đảo người bình dân Còn các “truyện Tàu” thì chắc cũng không có mấy ai hiểu được nếu không thông qua các hình thức sân khấu dân gian truyền đến công chúng, mà phổ biến đương thời là tuồng hát bội Vì thế, nhu cầu thưởng thức sáng tác văn học bằng lời ăn tiếng nói dân tộc, bằng ngôn ngữ bình dân dễ hiểu vẫn là một nhu cầu thường trực Và chỉ cần một giọt nước nhỏ vào đúng nơi khô hạn đó thì
nó sẽ nhanh chóng thấm sâu vào từng thớ đất Truyện Kiều là một giọt nước như vậy
Truyện Kiều ra đời đã tạo được một tiếng vang lớn ở Bắc và Trung Bộ Hiếm có tác
phẩm nào trong lịch sử dân tộc lại có sức lay động tinh thần tới nhiều tầng lớp xã hội đến như vậy Và cũng không cần nói thêm về mức độ ảnh hưởng của nó ở phía Bắc đất nước lúc mà các nho sĩ Nam Bộ như Phan Thanh Giản, Nguyễn Đình Chiểu, Bùi Hữu Nghĩa lui
tới kinh thành Huế Truyện Kiều đã Nam tiến trên hành trang trở về phương Nam của các
nhà nho đó
Cái thú vị của Truyện Kiều là dựa trên cốt truyện của một tiểu thuyết thông tục Trung
Quốc, diễn đạt lại bằng thứ ngôn ngữ thơ ca hàm súc, điển nhã, sâu sắc, tinh túy nhất của người Việt vùng Bắc và Trung Bộ Tiểu thuyết thông tục Trung Quốc vốn đã là một món ăn vừa hợp khẩu vị, vừa quen thuộc với cư dân Nam Bộ; nó có cốt truyện lôi cuốn, sinh động,
dễ hiểu, gần gũi với tâm lý thưởng thức văn nghệ của quần chúng Nay lại được diễn đạt bằng ngôn ngữ dân tộc, có phần dễ hiểu hơn thơ văn chữ Hán lẫn lời lẽ uốn éo khó nghe trong tuồng cổ Đương nhiên cũng có rất nhiều câu chữ điển nhã, hàm súc khó hiểu, vừa tạo thách thức đối với người bình dân Nam Bộ, vừa góp phần nâng tầm văn hóa của họ Vì thế,
Truyện Kiều đã thông qua nhiều hình thức khác đến với người thưởng thức phương Nam
qua bàn tay cải biên của các nho sĩ Có vẻ Truyện Kiều là khá lưỡng toàn, phù hợp với nhu
cầu và năng lực tiếp nhận của đông đảo người dân Nam Bộ Đáng nói hơn, thời điểm đó
không nhiều người biết rằng Truyện Kiều dựa trên cốt truyện của tiểu thuyết thông tục Trung Quốc, bởi chưa từng thấy nghe về sự hiện diện của Kim Vân Kiều truyện của Thanh
Tâm Tài Nhân ở Nam Bộ, điều này có phần khác với các tác phẩm được diễn Nôm tương
tự
Ngoài được sáng tác bằng ngôn ngữ dân tộc, Truyện Kiều còn được người dân yêu
thích bởi chính cốt truyện hấp dẫn, gần gũi của nó Tác phẩm kể về cuộc đời lênh đênh chìm nổi về phương Nam của nàng Vương Thúy Kiều, từ lúc bán mình lìa xa quê hương xứ
sở, rơi vào lầu xanh, rồi bị lừa gạt, bắt cóc, hành hạ, bán mua, hãm hại, đến khi cùng đường phải nhảy sông tự tử đầy đau thương và nước mắt Phận đời trôi dạt tha phương đầy đắng cay đó dễ tìm thấy sự đồng cảm thân phận với cư dân Nam Bộ, gồm cả người Việt lẫn
Trang 38người Hoa di cư, những người vốn cũng đã trải qua muôn ngàn sóng gió đề tìm thấy mảnh đất sinh cơ của mình Từ chỗ cảm thông với nàng, nhiều người cũng thấy ở Kiều những phẩm chất đạo đức nhân luân cao quý đáng để nêu gương học hỏi
Từ góc độ tâm lý xã hội, không ít người tin rằng, việc tìm về với Truyện Kiều, một
tác phẩm đỉnh cao của văn học Việt Nam, một biểu tượng của ngôn ngữ và truyền thống văn hóa dân tộc, là cách mà các sĩ phu và nhà nho yêu nước Nam Bộ phản ứng trước tình cảnh đất nước rơi vào tay giặc Pháp Hầu hết giới nho sĩ Nam Bộ đều “ghét cay ghét đắng ghét vào tận tâm” những kẻ xâm lược đã đem một thứ văn hóa xa lạ đến gieo rắc trên mảnh đất Nam Bộ, cũng đắn đo lưỡng lự không ít trước cảnh chữ Hán chữ Nôm mất dần vị thế so
với loại chữ Quốc ngữ mà chính quyền thực dân ra sức đẩy mạnh Chính vì thế mà Truyện
Kiều càng được các nhà nho yêu quý, giống như yêu quý nền văn hóa và ngôn ngữ dân tộc
do ông cha để lại
Từ những điều trên, có thể khẳng định Truyện Kiều của Nguyễn Du là một trong
những thành tựu hiếm hoi của văn học miền Bắc được truyền đến Nam Bộ đương thời Nó
là chiếc cầu nối văn học giữa hai miền sau một thời gian dài bị chia cắt về địa lý lẫn văn hóa Nó là tác phẩm đỉnh cao về nội dung lẫn nghệ thuật, phù hợp với tâm lý và tình cảm của người dân Nam Bộ
4.3 TRUYỀN BÁ VÀ TIẾP NHẬN TRUYỆN KIỀU Ở NAM BỘ
Tìm hiểu sự truyền bá của Truyện Kiều ở Nam Bộ là một công việc thú vị và có ý nghĩa lớn Tại sao lại nói như vậy? Bởi lẽ Truyện Kiều là kiệt tác văn học Việt Nam đầu thế
kỷ 19, ra đời ở Bắc Bộ bởi một nhà thơ lớn xuất thân từ vùng đất Bắc Trung Bộ (Hà Tĩnh)
là Nguyễn Du Trong Truyện Kiều, ta thấy rõ dấu ấn văn hóa, tư duy, nhận thức, ngôn ngữ
của vùng đất phía Bắc của đất nước Từ lúc ra đời đến nay, tác phẩm này nhanh chóng được công chúng yêu thích và đón nhận, từ đó lan tỏa ra các vùng miền khác của đất nước, đến cả những chỗ heo hút, nơi sinh sống của các cộng đồng dân tộc thiểu số Có thể nói
trong quá khứ, Truyện Kiều như là vị sứ giả văn hóa, đem tinh hoa văn học đỉnh cao của
dân tộc chủ thể là người Kinh đến với các vùng miền, các cộng đồng khác nhau để kết nối văn hóa, tăng cường giao lưu hiểu biết và nhận đồng
Đương nhiên, trên những nền tảng văn hóa, lịch sử khác nhau, thái độ tiếp nhận của các cộng đồng người cũng có nhiều điểm khác nhau Nam Bộ, với tư cách là vùng đất được
mở mang sau cùng của đất nước, nơi hội tụ nhiều cộng đồng bản địa và di dân, nơi vừa tồn tại tương đối cách biệt, cũng vừa có sự kết nối xuyên suốt với Bắc và Trung Bộ trong quá
khứ, đã tiếp nhận và chuyển hóa Truyện Kiều trong đời sống văn hóa như thế nào? Có thể
nói, đây là trường hợp điển hình để khái quát nên thái độ ứng xử của truyền thống văn hóa Nam Bộ xưa với các giá trị văn hóa đến từ Bắc và Trung Bộ
Trang 39Nội dung dưới đây thảo luận vấn đề truyền bá và tiếp nhận Truyện Kiều ở Nam Bộ
qua ba phương diện: (1) Các chủ thể truyền bá (tức đối tượng truyền bá); (2) Các ấn bản được truyền bá (tức nội dung truyền bá); và (3) Hoạt động tiếp nhận sự truyền bá đó
4.3.1 Các chủ thể truyền bá Truyện Kiều trên đất Nam Bộ
Theo dõi quá trình truyền bá Truyện Kiều ở Nam Bộ từ nửa sau thế kỷ 19 đến 1975,
có thể nhận ra vai trò của nhiều nhóm đối tượng khác nhau như: nho sĩ trí thức Nam Bộ, giới trí thức Tây học xuất thân Nho học, giới Nho thương người Hoa Chợ Lớn, giới lãnh đạo các tôn giáo nội sinh, thậm chí cả học giả người Pháp ở Nam Bộ Đề tài chỉ tập trung
giới thiệu ba nhóm đối tượng truyền bá chủ đạo để lại nhiều dấu ấn rõ rệt nhất
4.3.1.1 Vai trò của các nhà nho Nam Bộ
Truyện Kiều từ khi nào bắt đầu hiện diện trên đất Nam Bộ là câu hỏi đến nay chưa có
lời giải đáp cụ thể Vùng đất 320 năm tuổi này đã có tuổi đời lớn hơn Truyện Kiều khoảng
120 năm Nghĩa là ít nhất ngần ấy thời gian trong dòng chảy giao lưu văn hóa Bắc và Trung
Bộ với Nam Bộ chưa có một công cụ liên kết giá trị là Truyện Kiều Những tưởng, ở một
vùng đất mới mở chưa có bề dày văn hóa, lịch sử như Nam Bộ, nơi mà lưu dân tị nạn, tội phạm lưu đày, dân nghèo phiêu dạt, thương thuyền giang hồ tứ chiếng gặp nhau, thì chỉ những loại tiểu thuyết võ hiệp, ca ngợi các anh hùng hảo hán, ca ngợi đạo đức nhân nghĩa ở
đời như Tam Quốc diễn nghĩa, Thủy Hử truyện, hay tiểu thuyết thần tiên ma quái như
Phong thần diễn nghĩa, Tây du ký mới có thể tìm được mảnh đất gieo mầm vươn rộng Có
ai ngờ, một tác phẩm thuộc lớp truyện thế thái nhân tình, pha màu sắc giai nhân tài tử như
Truyện Kiều vẫn có thể bám rễ và lan tỏa sâu rộng nơi miền đất này Xem xét kỹ, điều này
không có gì là lạ cả bởi trước khi có sự hiện diện của Truyện Kiều, vùng đất Nam Bộ đã
dần hình thành một đội ngũ nhà nho đáng kể từ cuối thế kỷ 18, những người chắc chắn là
chủ thể du nhập Truyện Kiều vào Nam Bộ Lực lượng này đã ngày một đông đảo hơn, ít nhất là đến giữa thế kỷ 19, nhờ đó mà Truyện Kiều mới có thể truyền bá và ảnh hưởng rộng
rãi trên khắp Nam Bộ
Nho giáo được du nhập vào Nam Bộ theo hai lực lượng di dân chính là người Việt di
cư từ Bắc, Trung Bộ và người Hoa di cư từ Hoa Nam (Trung Quốc) sang Quá trình đó kéo dài từ cuối thế kỷ 17 đến hết thế kỷ 19 khi thực dân Pháp thiết lập bộ máy cai trị trên khắp cõi Đông Dương Nếu Nho giáo đến từ Bắc và Trung Bộ là thứ Nho giáo đã được Việt hóa lâu đời, thì Nho giáo Hoa Nam lại mang đậm màu sắc Nho giáo Tống Minh và tính hỗn dung tam giáo Nếu các thế hệ quan lại, tướng lĩnh và nho sĩ thời kỳ đầu Nam tiến chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của nền Việt Nho phía Bắc, thì cùng với sự phát triển của kinh tế hàng hóa
mà giới Hoa thương giữ vai trò dẫn dắt, thế hệ nho sĩ trí thức sau này do tiếp nhận sách vở Nho học từ Trung Quốc trực tiếp truyền sang, đã dần chịu ảnh hưởng sâu sắc tư tưởng học thuật Hoa Nam thời nhà Thanh Đó là lý do Nho giáo Nam Bộ không đặt nặng vấn đề học hành thi cử, đỗ đạt làm quan mà chú trọng hơn việc tu dưỡng đạo đức và đối nhân xử thế
Trang 40Trên thực tế, hai hệ thống Nho học này đã đan xen vào nhau, đặc biệt là trong bối cảnh kinh
tế - chính trị mới của xã hội Nam Bộ từ khi thực dân Pháp sang đô hộ Việt Nam giữa thế kỷ
19
Nam Bộ dù không phải là vùng đất có truyền thống Nho học lâu đời, cũng không phải
là nơi có số lượng nhà nho đông đảo như Bắc và Trung Bộ Những nhà nho lớn như Võ Trường Toản, Ngô Tùng Châu, Phạm Đăng Hưng, Trịnh Hoài Đức, Phạm Ngọc Uẩn, Lê Quang Định, Lê Bá Phẩm, Ngô Nhân Tĩnh, Nguyễn Thông, Phan Thanh Giản, Nguyễn Đình Chiểu, Bùi Hữu Nghĩa, Phan Văn Trị là những gương mặt chính xây dựng nền Nho học non trẻ trên đất Nam Bộ, góp phần lan truyền tinh thần đạo học trên mảnh đất này Họ
cũng là những người đầu tiên đưa Truyện Kiều vào đất Nam Bộ khoảng giữa thế kỷ 19, mô phỏng các câu thơ Kiều trong tác phẩm của mình, góp phần làm cho Truyện Kiều lan tỏa
trong giới nho sĩ trí thức đang hình thành và tiếp tục ảnh hưởng đến người bình dân đến hết
thế kỷ 20 Truyện Kiều, với vẻ đẹp văn chương hiếm có, cốt truyện hấp dẫn chân thực, dù
không được đông đảo nhà nho đồng tình về mặt nội dung tư tưởng, thậm chí bị không ít người đả kích về mặt đạo đức luân lý, nhưng vẫn kịp để lại những dấu ấn sâu đậm trong tinh thần cư dân Nam Bộ
Vậy ai là nhà nho đầu tiên đưa Truyện Kiều đến với đất Nam Bộ và vào thời điểm
nào? Học giả Nam Bộ dành nhiều tâm trí để suy tư về vấn đề này là Thuần Phong Ngô Văn
Phát Trong loạt bài viết liên quan đến Truyện Kiều đăng trên Tạp chí Bách khoa thời đại trước năm 1975: Túy Kiều ở Đồng Nai (số 209, 15/9/1965, trang 34-46), Túy Kiều với trí
thức (số 210, 01/10/1965, trang 33-40), Túy Kiều với đại chúng (số 211, 15/10/1965, trang
59-66), Tuồng hát bội Kim Vân Kiều – Túy Kiều với kịch trường (số 212, 01/11/1965, trang
55-64), Ngô Văn Phát đã đưa ra những nét phác thảo đầu tiên về quá trình truyền bá của
Truyện Kiều đến Nam Bộ Theo đó, Ngô Văn Phát cho rằng Truyện Kiều đến với Nam Bộ
khoảng trước sau năm 1860: “Sau khi Nguyễn Du nhắm mắt chừng 40 năm, mặc dù sơn khê hiểm trở, nàng Kiều đã vượt ải băng ngàn trải bước lưu lạc vào xứ Đồng Nai” (Ngô Văn Phát, 01/11/1965, tr.55) Nguyễn Du qua đời năm 1820, khoảng 40 năm sau đó mới
thấy sự hiện diện của Truyện Kiều trong văn chương thơ phú Nam Bộ, nghĩa là khoảng năm
1860 Ở một chỗ khác, ông dựa vào sinh hoạt văn chương và tình hình chính trị đương thời,
khẳng định Truyện Kiều được “đưa vào Đồng Nai trước khi Pháp chiếm lấy Sài Gòn (1859) không mấy năm” (Ngô Văn Phát, 15/9/1965, tr.40) Như vậy, có thể phán đoán Truyện
Kiều truyền đến Nam Bộ chậm nhất là thập niên 50 của thế kỷ 19
Vậy cụ thể ai là người đã đưa tác phẩm này đến với mảnh đất phương Nam? Ngô Văn
Phát cũng đã đưa ra câu trả lời: “Kim Vân Kiều muốn vào được đến Đồng Nai ắt phải được
một tay hay chữ, một nhà nho chép tay rồi đem về Nếu được phép tin như vậy thì cũng nên
tin rằng Kim Vân Kiều đã vào Đồng Nai theo những người đã từng ra vào xứ Huế, như
Phan Thanh Giản, Nguyễn Đình Chiểu, Tôn Thọ Tường và Thủ khoa Nghĩa” (Ngô Văn Phát, 15/9/1965, tr.35) Để minh chứng cho nhận định này, Ngô Văn Phát đã dẫn ra nhiều