TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG KHOA NÔNG NGHIỆP – TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN BỘ MÔN KHOA HỌC CÂY TRỒNG ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG THÀNH PHẦN LOÀI, MỨC ĐỘ GÂY HẠI, ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI, S
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG KHOA NÔNG NGHIỆP – TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
BỘ MÔN KHOA HỌC CÂY TRỒNG
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG
THÀNH PHẦN LOÀI, MỨC ĐỘ GÂY HẠI, ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI, SINH HỌC VÀ THIÊN ĐỊCH
KÝ SINH CỦA SÂU SỪNG HỌ SPHINGIDAE GÂY HẠI TRÊN CÂY MÈ TẠI AN GIANG
Chủ nhiệm đề tài: ThS NGUYỄN THỊ THÁI SƠN
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG KHOA NÔNG NGHIỆP – TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG
THÀNH PHẦN LOÀI, MỨC ĐỘ GÂY HẠI, Đ ẶC ĐIỂM HÌNH THÁI, SINH HỌC VÀ THIÊN ĐỊCH
KÝ SINH CỦA SÂU SỪNG HỌ SPHINGIDAE GÂY HẠI TRÊN CÂY MÈ TẠI AN GIANG
BAN GIÁM HIỆU LÃNH ĐẠO ĐƠN VỊ
THỰC HIỆN ĐỀ TÀI CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI
ThS Nguyễn Thị Thái Sơn
An Giang, tháng 03 năm 2014
Trang 3LỜI CẢM TẠ
Tác giả nghiên cứu xin chân thành cảm ơn:
- Trường Đại Học An Giang đã cấp kinh phí hoạt động cho đề tài này
- Phòng Nông Nghiệp - PTNT, Khuyến nông và trạm BVTV của huyện Chợ Mới, Châu Phú, Tri Tôn - tỉnh An Giang đã cung cấp thông tin và tạo điều kiện thuận lợi cho nhóm nghiên cứu đi điều tra thu mẫu ngoài đồng
- Bộ môn Khoa học Cây Trồng, Khoa Nông Nghiệp và TNTN, Trường Đại Học
An Giang đã tạo mọi điều kiện cho đề tài được thực hiện tốt và đúng tiến độ
Tác giả Nguyễn Thị Thái Sơn
Trang 4- Về nghiên cứu trong phòng thí nghiệm, tiến hành khảo sát một số đặc điểm hình thái,
sinh học của loài Acherontia lachesis gây hại trên mè đều xuất hiện ở cả 3 địa bàn khảo sát
với mật số thấp và giai đoạn xuất hiện 28 – 49 NSKG Kết quả ghi nhận, trong điều kiện phòng thí nghiệm (T0
: 28 - 320C, H%: 75 – 85%): vòng đời của loài Acherontia lachesis biến
động từ 36 – 38 ngày (TB: 37,4 ± 0,03 ngày), giai đoạn ấu trùng có 5 tuổi, thời gian sinh trưởng của giai đoạn ấu trùng là 16,5 ngày Mật số sâu trung bình 0,8 con/m2
Sâu gây hại trên
lá, nặng nhất vào giai đoạn cây sinh trưởng, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quá trình quang hợp và năng suất của cây
- Thiên địch ký sinh, phát hiện một loài ruồi ký sinh nhộng họ Tachinidae, loài này chỉ phát hiện ở Tri Tôn và mức độ ký sinh rất thấp, tỷ lệ ký sinh chiếm 3,3%
Trang 5MỤC LỤC
Cảm tạ i
Tóm lược ii
Mục lục iii
Danh sách bảng vi
Danh sách hình vii
Ký hiệu và viết tắt .ix
CHƯƠNG I MỞ ĐẦU 1
A MỤC TIÊU VÀ NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 1
II MỤC TIÊU 1
II NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 1
B ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 2
I ĐỐI TƯỢNG 2
II PHẠM VI NGHIÊN CỨU 2
C CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2
I CƠ SỞ LÝ LUẬN 2
1.1 Tình hình sản xuất mè trên thế giới và ở Việt Nam 2
1.2 Sơ lược về nguồn gốc và sinh trưởng của cây mè 5
1.3 Phân bố và diện tích trồng mè 6
1.4 Một số đặc điểm của sâu, bệnh gây hại trên mè 8
1.5 Đặc điểm sâu thuộc họ Sphingidae 10
1.6 Thu hoạch và bảo quản 13
1.6.1 Thu hoạch 13
1.6.2 Bảo quản 13
II PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 14
2.1 Phương tiện thí nghiệm 14
2.1.1 Thời gian và địa điểm thí nghiệm 14
2.1.2 Vật liệu thí nghiệm 14
Trang 62.2 Phương pháp thí nghiệm 14
2.2.1 Điều tra thực tế ngoài đồng ruộng 14
2.2.1.1 Điều tra về thành phần của các loài sâu sừng trên cây mè 14
2.2.1.2 Diễn biến mật số và tỉ lệ gây hại trong điều kiện ngoài đồng 15
2.2.1.3 Điều tra thành phần và mức độ kí sinh ở ngoài đồng trên các loài sâu sừng thuộc họ Sphingidae 16
2.2.2 Khảo sát một số đặc điểm hình thái và sinh học của các loài sâu sừng họ Sphingidae gây hại trên cây mè 16
2.4 Định danh 16
2.5 Xử lý số liệu 16
CHƯƠNG II KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 17
1 Kỹ thuật trồng mè của nông hộ 17
2 Kết quả điều tra trực tiếp ngoài đồng 22
2.1 Tình hình chung trên các ruộng khảo sát 22
2.2 Các loài gây hại chủ yếu trên cây mè tại các địa bàn điều tra 23
2.3 Thành phần loài, mật số và mức độ gây hại của sâu sừng trên cây mè 27
2.3.1 Thành phần loài của sâu sừng trên cây mè 27
2.3.2 Mật số và mức độ gây hại của sâu sừng trên cây mè 27
1.3.2.1 Mật số gây hại của sâu sừng trên cây mè 27
1.3.2.2 Mức độ gây hại của sâu sừng trên cây mè 29
2.4 Tình hình côn trùng thiên địch hiện diện trên các ruộng mè 30
3 Một số đặc điểm hình thái, sinh học của loài Acherontia lachesis khảo sát trong phòng thí nghiệm 31
3.1 Vòng đời của loài Acherontia lachesis 31
3.1.1 Trứng 31
3.1.2 Giai đoạn ấu trùng 32
3.1.3 Giai đoạn nhộng 35
3.1.4 Giai đoạn trước đẻ trứng của thành trùng 36
3.1.5 Chu kỳ sinh trưởng của sâu sừng loài Acherontia lachesis (Fabricius) 36
Trang 73.2 Thành trùng của loài Acherontia lachesis 36
3.3 Thiên địch ký sinh sâu sừng loài Acherontia lachesis (Fabricius) 38
CHƯƠNG III KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 39
I Kết luận 39
II Đề nghị 40
Tài liệu tham khảo 41
Phụ chương 1 42
Trang 8DANH SÁCH BẢNG
1 Diện tích, năng suất và sản lượng Mè trên thế giới 1999 3
2 Diện tích, năng suất và sản lượng Mè trên các vùng sinh thái nông
nghiệp nước ta từ năm 2000-2004 4
3 Kỹ thuật trồng mè của nông hộ vụ Xuân Hè năm 2012, An Giang 18
4 Lượng phân bón hóa học cho cây mè/1000m2/vụ 19
5 Các loại thuốc trừ sâu nông dân thường dùng 21
6 Các loại thuốc trừ bệnh nông dân thường sử dụng 22
7 Các loại thuốc trừ cỏ nông dân thường sử dụng 22
8 Thành phần côn trùng hiện diện trên các ruộng mè tại Chợ Mới,
Châu Phú, Tri Tôn – An Giang, năm 2012 23
9 Kết quả điều tra ngoài đồng tại các địa bàn Chợ Mới, Châu Phú,
10 Biến động mật số sâu sừng trên ruộng mè tại địa bàn khảo sát 26
11 Thành phần thiên địch trên ruộng mè tại Chợ Mới, Châu Phú, Tri
Tôn – An Giang, năm 2012 30
12 Chu kỳ sinh trưởng của sâu sừng Acherontia lachesis trong điều
kiện phòng thí nghiệm (T0: 28 - 320C, H%: 75 – 85 %) 32
Trang 9DANH SÁCH HÌNH
1 Tỉ lệ mật độ gieo trồng của nông hộ 20
2 Tỉ lệ số lần phun thuốc BVTV của nông hộ /vụ 21
3 Thành trùng sâu nhiếu đọt Antigastra catalaunalis Duponche 24
Ấu trùng và triệu chứng gây hại của sâu nhiếu đọt Antigastra
4 Ấu trùng và triệu chứng gây hại của sâu nhiếu đọt Antigastra
5 Sâu khoang (Spodoptera litura) gây hại trên ruộng mè (bên trái:
Sâu tuổi 2; bên phải: Sâu tuổi 5 gần hoá nhộng) 25
6 Nhộng của sâu khoang 25
7 Thành trùng của sâu khoang 25
8 Triệu chứng gây hại của sâu khoang trên cây mè 14NSS 25
9 Triệu chứng gây hại của sâu khoang trên cây mè 28NSS 25
10 Ấu trùng bọ xít (Pentatomidae - Hemiptera) gây hại trên mè 26
11 Ấu trùng bọ xít Eysarcoris ventralis (Pentatomidae-Hemiptera) 26
12 Rầy xanh trưởng thành 26
13 Biểu đồ mật số sâu sừng loài Acherontia lachesis (Fabricius) gây
hại trên cây mè, tại 3 địa bàn khảo sát 28
14 Triệu chứng gây hại của loài Acherontia lachesis (Fabricius) 29
15 Nhộng và thành trùng sâu ăn lá mè Acherontia lachesis 29
16 Ấu trùng và thành trùng Bọ rùa Micraspis discolor 30
17 Ấu trùng và thành trùng Bọ rùa Menochilus sexmaculatus 30
18 Cánh cụt Paederus fuscipes (Staphyliniidae) 31
19 Họ Braconidae (Hymenoptera) 31
20 Trứng Acherontia lachesis 31
21 Ấu trùng T1 của sâu sừng Acherontia lachesis 34
Trang 1022 Ấu trùng T2 và vỏ xác còn lại của ấu trùng T2 34
23 Ấu trùng T3 của sâu sừng Acherontia lachesis 34
24 Ấu trùng T4 của sâu sừng Acherontia lachesis 34
25 Sâu chui vào đất và chuyển màu chuẩn bị làm nhộng 35
26 Nhộng của loài Acherontia lachesis (Fabricius) 35
27 Thành trùng cái và vòi của loài Acherontia lachesis 37
28 Lồng lưới nuôi bướm và hợp nhựa nuôi ấu trùng của loài
Trang 11DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Đồng bằng sông Cửu Long ĐBSCL
Đại học An Giang ĐHAG
Bảo vệ thực vật BVTV
Phát triển nông thôn PTNT
Tấn trên hecta T/ha
Trang 12CHƯƠNG I
MỞ ĐẦU
Mè là loại cây công nghiệp ngắn ngày có giá trị kinh tế và dinh dưỡng cao, được trồng rất lâu đời ở rất nhiều nơi trên thế giới Ở nước ta mè thường được trồng luân canh trên nền đất lúa để tận dụng ẩm độ còn lại trong đất Với đặc tính thích nghi với môi trường và đặc biệt là khả năng chịu hạn nên cây mè
đã phát triển tốt và cho năng suất tương đối cao trong điều kiện vùng Đồng bằng sông Cửu Long Tuy nhiên đa số nông dân chỉ canh tác dựa theo kinh nghiệm bản thân và không được tham gia tập huấn về kỹ thuật trồng cũng như phương pháp phòng trừ dịch hại dẫn tới việc sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật không theo phương pháp bốn đúng, làm bộc phát một số dịch hại gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới năng suất cũng như phẩm chất của mè Đây là lý do để chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Thành phần loài, mức độ gây hại, đặc điểm hình thái, sinh học và thiên địch ký sinh của sâu sừng họ Sphingidae gây hại trên cây mè tại An Giang” Đề tài được thực hiện nhằm xác định được thành phần loài, cách gây hại, tập quán hoạt động, diễn biến mật số của một số loài gây hại quan trọng để có biện pháp phòng trừ hiệu quả
A MỤC TIÊU VÀ NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
I MỤC TIÊU
Xác định được thành phần loài, cách gây hại của mỗi loài, tập quán hoạt động, diễn biến mật số của một số loài gây hại quan trọng để có biện pháp phòng trừ hiệu quả
II NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
1 Điều tra thành phần loài, mức độ gây hại, khảo sát diễn biến mật số và
tỉ lệ gây hại trong điều kiện ngoài đồng của các loài sâu thuộc họ Sphingidae gây hại trên cây mè tại An Giang Điều tra thành phần và mức độ kí sinh ở ngoài đồng trên các loài sâu sừng thuộc họ Sphingidae
Trang 132 Khảo sát một số đặc điểm hình thái và sinh học của các loài sâu thuộc
họ Sphingidae gây hại trên cây mè trong điều kiện phòng thí nghiệm
B ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
I ĐỐI TƯỢNG
Phân loại, định danh và khảo sát đặc điểm hình thái, sinh học và thiên địch ký sinh của sâu sừng họ Sphingidae trên cây mè trong điều kiện phòng thí nghiệm
II PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu thành phần loài, mức độ gây hại của sâu sừng họ Sphingidae trên mè tại An Giang
Bố trí thí nghiệm khảo sát một số đặc điểm hình thái, sinh học và thiên địch ký sinh của sâu sừng họ Sphingidae trên mè tại An Giang
C CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
I CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 Tình hình sản xuất mè trên thế giới và ở Việt Nam
1.1.1 Tình hình sản xuất Mè trên thế giới
Theo Phạm Đức Toàn (2009), trước thế chiến thứ hai, diện tích trồng mè
từ 5 triệu ha vào năm 1939, đạt sản lượng 1,5 tấn trong đó Ấn Độ là quốc gia trồng nhiều nhất với diện tích 2,5 triệu ha, kế đó là Trung Quốc 1,2 triệu ha, Miến Điện 700.000 ha, Soudan 400.000 ha, Mehico 200.000 ha Các quốc gia
có diện tích trồng < 50.000 ha gồm: Pakistan, Thổ Nhĩ Kỳ, Ouganda, Megéria Theo Tạ Quốc Tuấn và ctv (2006), về diện tích, có hai quốc gia có diện tích gieo trồng Mè nhiều là Ấn Độ (1,67 triệu ha, chiếm 27,27% diện tích Mè trên thế giới) và sudan (1,45 triệu ha, chiếm 13,64% diện tích mè thế giới), kế đến là Myanmar (706.000ha), Trung Quốc(676.000 ha), Uganda (186.000 ha), Nigeria (155.000 ha), Tanzania (106.000 ha), các nước còn lại diện tích gieo trồng không nhiều, biến động từ 27.000 ha (ở Ai Cập) đến 80.000ha (ở Bangladesh)
Trang 14Sản lượng hạt Mè hàng năm trên thế giới khoảng 2 triệu tấn, trong đó chủ yếu
là châu Á chiếm gần 60%, còn lại là châu Mỹ, châu Phi Các nước trông Mè nhiều là Ấn Độ, Trung Quốc, Sudan, Mexico, sau đó là Myanmar, Thái lan, Nigeria, Colombia… Năng suất Mè trung bình trên thế giới khoảng 0,3-0,4 T/ha, ở Mỹ năng suất Mè vùng Texas tới 2 tấn, Trung Quốc 1 T/ha Ở Trung Quốc, Thái Lan, Mè là cây có giá trị xuất khẩu cao (Nguyễn Mạnh Chinh và ctv., 2007)
Bảng 1: Diện tích, năng suất và sản lượng Mè trên thế giới 1999
Tên nước Diện tích (1000 ha) Sản lượng (1000 tấn) Năng suất (T/ha) Tổng cộng 6.134 2.385 0,39
Nguồn: Tạ Quốc Tuấn và Trần Văn Lợt, 2006
Theo FAO STAT thì trong vòng 10 năm gần đây từ năm 1991 - 2000 sản lượng vừng của thế giới tăng lên 37%, diện tích thu hoạch lại giảm 1%, còn năng suất bình quân của vừng lại tăng lên 38% từ 530 kg lên 732 kg, năng suất trên diện tích hẹp là 2.250 kg/ha (Texas-Mỹ) (Phạm Văn Thiều, 2003)
Trang 151.1.2 Tình hình sản xuất Mè ở Việt Nam
Theo Nguyễn Mạnh Chinh và ctv., (2007), theo Tổng cục thống kê năm
2004, diện tích trồng Mè cả nước khoảng 40.800 ha, trong đó các tỉnh phía Nam 25.600 ha, phía Bắc 15.200 ha, vùng trồng nhiều nhất là Bắc Trung Bộ (13.500 ha) Năng suất trung bình cả nước khoảng 0,5 T/ha, cao nhất là ĐBSCL 0,9 T/ha Tổng sản lượng Mè cả nước gần 21.000 tấn Ở nước ta, nhất là vùng ĐBSCL, tiềm năng sản xuất Mè còn rất lớn, cả về diện tích và năng suất Tuy vậy, suốt trong 2 thập niên qua diện tích Mè hầu như không tăng, biến động trong khoảng 30.000 - 40.000 ha, còn rất thấp so với khả năng Hình thức canh tác chủ yếu vẫn là quảng canh, năng suất thấp Đầu tư cho nghiên cứu và ứng dụng tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất Mè cũng chưa được quan tâm đúng mức
Bảng 2: Diện tích, năng suất và sản lượng Mè trên các vùng sinh thái nông nghiệp nước ta từ năm 2000-2004
Vùng sinh
thái
Năm 2000 Năm 2004 Diện tích
(ha)
Năng suất (T/ha)
Sản lượng (tấn)
Diện tích (ha)
Năng suất (T/ha)
Sản lượng (tấn)
Cả nước 36800 0,46 16800 40800 0,51 20900 Miền Bắc 15200 0,51 7800 15200 0,47 7100 ĐBSH
300
200
100
6500 Miền Nam 21600 0,42 9000 25600 0,54 13800 DHNTB
3600
1000
3000
6200
Nguồn: Niên giám thống kê năm 2000 và 2004
Ở nước ta mè được trồng nhiều ở các tỉnh Đồng Bằng Sông Cửu Long Miền Đông Nam Bộ và Trung Bộ (riêng tỉnh An Giang, diện tích trồng mè hiện nay tăng lên đến 16.000 ha) Tại vùng Châu Phú An Giang, năng suất đạt từ
400 - 600 kg/ha Nếu áp dụng biện pháp canh tác thích hợp, năng suất mè có thể đạt 1 T/ha Ở Việt Nam, mè được trồng lâu đời nhất là ở Miền Bắc, nhưng diện tích không mở rộng được vì điều kiện khí hậu và đất đai không thích hợp cho cây trồng phát triển (Phạm Đức Toàn, 2009)
Trang 161.2 Sơ lược về nguồn gốc và sinh trưởng của cây mè
Cây mè tên khoa học là Sesamum indicum L thuộc họ mè Pedaliaceae,
là loại cây công nghiệp ngắn ngày và được trồng lâu đời nhất Người ta biết đến cây mè ở Ấn Độ, Iran từ 2500 – 1400 năm trước công nguyên, hiện nay mè được trồng phổ biến ở rất nhiều nơi trên thế giới từ các vùng nhiệt đới, cận nhiệt đới đến ôn đới Hiện nay Ấn Độ được coi là một trong những nước có diện tích trồng mè lớn nhất thế giới với 2,5 triệu ha (Phạm Văn Thiều, 2003)
Cây mè có nguồn gốc từ Châu Phi Có nhiều ý kiến cho rằng Êtiopi là nguyên sản của giống mè trồng hiện nay Tuy nhiên cũng có ý kiến cho rằng vùng Afghan – Persian mới là nguyên sản của các giống mè trồng hiện nay Mè
là loại cây có dầu, được trồng lâu đời (khoảng 2000 năm trước công nguyên) Sau đó được đưa vào vùng tiểu Á (Babylon) và được di về phía tây – vào Châu
Âu và phía nam vào Châu Á, dần dần được phân bố đến Ấn Độ và một số nước Nam Á, Trung Quốc Ấn Độ được xem như là trung tâm phân bố của cây mè Ở Nam Mỹ, mè được du nhập qua từ Châu Phi sau khi người Âu Châu khám phá
ra Châu Mỹ vào năm 1492 (do Chritophe coloms người Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha) đem mè đi bán (Trần Thị Ba, 1999)
Ở nước ta cây mè đã xuất hiện từ rất lâu, do tính thích nghi rộng Cây
mè yêu cầu nhiệt độ trung bình từ 25 – 270C, thời gian chiếu sáng trong ngày từ
10 – 12 giờ, lượng mưa trung bình từ 500 – 1000 mm, pH từ 5,5 – 8,0 (Phạm Văn Thiều, 2003)
Theo Trần Thị Ba (1999) để đạt năng suất mè cao phải bón phân Lượng phân bón mè lấy đi từ đất khá lớn Theo kết quả nghiên cứu (ở Venezuela), để đạt năng suất mè 500 kg/ha, mè lấy đi từ đất 25 kg N; 3 kg P và 25kg K Thời
kỳ hấp thu dinh dưỡng lớn nhất là khoảng 30 – 70 NSKG, tương ứng với thời gian ra nụ thành lập quả và tạo hạt (đối với giống có thời gian sinh trưởng là 90 ngày) Qua thí nghiệm cho thấy, áp dụng công thức phân 60 - 60 - 30 và 90 - 60
- 30, giữa hai công thức này không có sự khác biệt Do đó có thể áp dụng công thức phân 60 - 60 - 30 Riêng ở vùng thâm canh mè như Châu Phú (An Giang), người ta thường sử dụng công thức phân 90 – 60 – 30
Trang 17Thời vụ gieo: Thường vào mùa khô (sau khi thu hoạch lúa, hoa màu), vì
mè là loại cây chịu úng kém Khi trồng vào mùa mưa, nên chọn những chân ruộng có khả năng thoát nước tốt và xẻ rãnh thoát nước
+ Vụ xuân hè nên gieo trong tháng 3 và thu hoạch vào tháng 6
+ Vụ hè thu gieo vào tháng 5, 6 thu hoạch tháng 8, 9
Một số giống mè trồng phổ biến hiện nay:
+ Mè đen: Vỏ hạt có màu đen, dễ trồng, cây sinh trưởng khoẻ, quả sai Thời gian sinh trưởng từ 3,5 – 4 tháng
+ Mè trắng: Vỏ hạt có màu vàng hoặc trắng Loại này cũng sai quả, nhiều hạt nhưng chín sớm hơn mè đen Thời gian sinh trưởng từ 2,5 – 3 tháng
+ Ngoài ra còn có một số giống mè thường gặp trong sản xuất như: Mè vàng ở Diễn Châu, mè V6 (Nghệ An); mè cối xay; mè vàng ở Châu Phú (An Giang); mè đen Nghệ An; mè đen Đồng Nai; mè nâu Nhật Bản; mè trắng Ấn
Độ, Nhật Bản, Myanma,… đa số giống mè được phân loại dựa vào một số đặc điểm sau: thời gian sinh trưởng, mùa vụ gieo trồng, số quả/nách lá, kiểu sinh trưởng là đơn thân hoặc phân cành, màu sắc và kích thước của thân cây, số vách ngăn trong quả, hàm lượng dầu, màu sắc của vỏ hạt,…(Phạm Văn Thiều, 2003)
1.3 Phân bố và diện tích trồng mè
Theo FAO STAT thì trong vòng 10 năm gần đây từ 1999 – 2000 sản lượng mè của thế giới tăng lên 37%, diện tích thu hoạch lại giảm 1%, còn năng suất bình quân của mè lại tăng lên 38% từ 530 kg lên 730 kg, năng suất trên diện tích hẹp là 2250 kg/ha (TEXAS – MỸ)
Trước thế chiến thứ hai, diện tích trồng mè từ 5 triệu ha vào năm 1939, đạt sản lượng 1,5 tấn trong đó Ấn Độ là quốc gia trồng nhiều nhất với 2,5 triệu
ha, kế đó là Trung Quốc 1,2 triệu ha, Miến Điện 700.000 ha, Soudan 400.000
ha, Mehico 200.000 ha Các quốc gia có diện tích trồng <50.000 ha gồm: Pakistan, Thỗ Nhĩ Kỳ, Ouganda, Megeria Sản luợng mè hàng năm khoảng 2
Trang 18triệu tấn, trong đó: Châu Á sản xuất 55 – 60% sản lượng trên thế giới, Châu Mỹ sản lượng đạt 18 – 20%, Châu Phi đạt 18 – 20% Ngoài ra Châu Âu và Châu Đại Dương cũng trồng rải rác nhưng không đáng kể
Tại Việt Nam mè đã được trồng từ lâu và thực tế nó đã trở thành tập quán lâu đời của người nông dân, được trồng theo phương thức luân canh cây trồng hợp lý Nhưng diện tích trồng còn quá nhỏ bé, chủ yếu sản xuất theo phương thức hộ gia đình
Một số tài liệu được ghi nhận từ giai đoạn 1989 - 1991, diện tích trồng
mè có 43.000 ha sang giai đoạn từ 1991 – 1993 lại giảm xuống chỉ còn 31.000 - 33.000 ha và tiếp tục giảm và đến năm 1998 chỉ còn 25.000 ha Năng suất mè rất thấp chỉ từ 300 – 500 kg/ha, cho nên sản lượng không nhiều, chủ yếu sản phẩm mè được tiêu dùng trong nước như: ép lấy dầu, ăn trực tiếp, làm bánh kẹo , (Phạm Văn Thiều, 2003)
Theo Trần Thị Ba (1999), ở nước ta mè được trồng nhiều ở các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long Miền Đông Nam Bộ và Trung Bộ (riêng ở An Giang, diện tích trồng mè hiện nay tăng 16.000 ha) Tại Châu Phú - An Giang, năng suất đạt từ 400 – 600 kg/ha Nếu áp dụng biện pháp canh tác thích hợp, năng suất mè có thể đạt 1 T/ha Ở Việt Nam, mè được trồng lâu đời nhất là ở Miền Bắc, nhưng diện tích không mở rộng được vì điều kiện khí hậu và đất đai không thích hợp cho cây trồng phát triển Hiện nay diện tích mè không tăng lên được là do tình hình xuất khẩu không ổn định và giá cả thị trường biến động so với các loại cây trồng khác
Nhìn chung năng suất mè của nước ta thấp là do nhiều nguyên nhân, trong đó yếu tố giống và kỹ thuật canh tác có thể coi là quyết định đến năng suất:
Giống: Hiện tại người dân đang sử dụng đa phần là giống địa phương, giống thương phẩm, chưa được tuyển chọn, phục tráng và có ít giống mới để thay thế Nếu được trồng bằng giống mới với kỹ thuật canh tác hợp lý thì sẽ đưa năng suất lên rất nhanh
Trang 19Trình độ sản xuất còn rất thấp, chủ yếu dựa vào điều kiện tự nhiên, chưa được quan tâm đúng mức về kỹ thuật canh tác cũng như về dịch hại, vẫn sản xuất theo phương thức truyền thống
Giống đã xấu, đầu tư quá ít và về phía cơ quan chức năng cũng chưa có những tiến bộ kỹ thuật về cây mè, mà trước hết là các giống mè có năng xuất,
có chất lượng tốt Vì vậy muốn đẩy năng suất mè lên cần giải quyết khâu giống mới, năng xuất cao và tổ chức tập huấn cho nông dân tiếp cận các biện pháp kỹ thuật phù hợp để đạt năng suất cao, chất lượng tốt (Phạm Văn Thiều, 2003) 1.4 Một số đặc điểm của sâu, bệnh gây hại trên mè
Cây mè tuy có ít sâu bệnh hơn so với một số loại cây trồng khác, tuy nhiên trong quá trình sinh trưởng, cũng như trong thực tế nghiên cứu nó vẫn bị một số loại sâu bệnh hại khác nhau phá hoại:
+ Tuyến trùng: Theo Đường Thị Tài (1987) đã tìm thấy một số loại tuyến trùng trong đất trồng mè như: Meloidogyre, Tylenchorhynchus, Hirschmanniella, Tylenchus
+ Bệnh hại: Trong quá trình sinh trưởng và phát triển của cây mè cũng
bị một số loại bệnh hại do nấm, vi khuẩn hoặc virus gây ra phá hại rễ, thân, lá
và quả,…Cũng theo tài liệu của Trung Tâm Khuyến Nông, Khuyến Lâm Nghệ
An thì có hai loại bệnh thường gây hại nhiều cho mè là bệnh héo xanh vi khuẩn
+ Đốm lá: Do vi khuẩn Pseudomonas sesami tấn công, làm cho lá có những đốm trắng viền vàng, sau đó bị thủng, lá bị rụng có thể dùng Copper- B
để trị
Trang 20+ Đốm phấn: Do nấm Odium sp gây nên, bệnh lan truyền rất nhanh, có thể phòng trị bằng Afugan 30 EC
+ Bệnh khảm: Đây là bệnh quan trọng khi trồng mè, do rầy xanh truyền các virus gây ra hiện tượng xoắn lá Bệnh khó trị, do đó phải diệt tác nhân rầy + Sâu hại: Sâu hại thường xuất hiện trên cây mè như sâu xám, sâu róm, sâu khoang, sâu xanh, sâu cuốn lá, sâu đục quả, rầy xanh, rệp, bọ xít xanh, bọ trĩ, … gây hại ở từng thời kỳ với các mức độ khác nhau Chúng ta chưa có kết quả điều tra cụ thể về sâu hại mè ở từng vùng, từng vụ và biện pháp phòng trừ chúng (Phạm Văn Thiều, 2003)
Trần Thị Ba (1999) thì trên mè còn xuất hiện các loại côn trùng gây hại như:
Sâu ăn trái: Đục vào trái làm cho trái bị hư, sau đó các loại nấm tấn công làm hư hạt
Sâu ăn tạp: Ăn phần mô diệp lục trên lá, làm giảm quá trình quang hợp
Bọ xít xanh: Chích hút trên lá, nó có thể xuất hiện với mật độ cao và gây hại nặng vào giai đoạn sinh trưởng cuối từ khi mè hình thành quả non trở đi
Cào cào: Xuất hiện rải rác ăn lá
Đường Thị Tài (1987) đã khảo sát sâu nhiếu đọt Antigastra catalaunalis
Duponche là một trong các loài gây hại quan trọng nhất, sâu xuất hiện khá sớm khi cây mè được 15 - 20 ngày sau khi sạ và hiện diện cho đến khi thu hoạch Sâu mới nở sống tập trung ăn nhu mô lá, sau đó phân tán tới các ngọn mè khác, gây hại bằng cách cuốn ngọn mè lại cắn phá bên trong, làm cho ngọn mè khô
và chết, ảnh hưởng nghiêm trọng đến quá trình sinh trưởng và năng suất mè Khi cây cho trái, sâu tấn công bằng cách đục và chui vào trong trái ăn hạt non, tạo điều kiện cho các loại nấm tấn công làm ảnh hưởng đến phẩm chất hạt
Nhện trắng Polyphagotarsonemus latus Blanks:
Tên khoa học: Hemitarsonemus latus Banks, Tarsonemus translucens
Green, Hemitarsonemus translucens
Trang 21Theo Nguyễn Thị Thu Cúc (2000) đây là loài đa ký chủ, được ghi nhận trên 60 loại thực vật khác nhau như: Cam, quýt, chanh, ớt, cà, đu đủ, dưa leo, bông vải, cà phê, bơ, xoài, nho, trà, khoai tây trắng, thầu dầu, họ thập tự và nhiều loại thực vật khác
Nhện trắng gây hại cả trên lá lẫn trên trái và đặc biệt gây hại nặng nhất trên lá non, làm cho lá nhỏ hẹp, vặn vẹo, bìa là uốn ngược vào phía trong Nhện gây hại nặng ở những trái và là bên trong tán cây Lá bị hại mặt dưới thường phủ một lớp vảy màu nâu sáng hay màu trắng bạc hay màu xám giống như chì Trên trái khi bị nhện tấn công sẽ hình thành những chấm nhỏ, màu nâu bẩn, khi trái bị gây hại nhiều thì sẽ đổi màu thành xám, không chín, bị ít thì vỏ dày, nhỏ, nhẹ cân và ít thịt (Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen 2003)
1.5 Đặc điểm sâu thuộc họ Sphingidae
Sphingidae (họ Ngài Nhộng Vòi) là một họ côn trùng thuộc bộ Lepidoptera (Cánh Vảy) Sphingidae là một họ bướm đêm gồm khoảng 1.200 loài (Grimaldi & Engel, 2005), phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới (Scoble, 1995) Chúng có kích thước trung bình đến lớn và được phân biệt với các loài bướm đêm khác bởi khả năng bay ổn định và nhanh của chúng (Scoble, 1995) Cánh hẹp và bụng thẳng làm cho chúng bay nhanh Kích thước từ trung bình đến lớn, mình thô, 2 đầu hơi nhọn tựa hình thoi, một vài loài khi căng cánh, chiều ngang cơ thể đạt đến 160 mm Râu đầu thường hơi phình to ở phía giữa hay phía cuối râu Cánh trước hẹp dài, cánh sau nhỏ Giữa mạch dọc Sc + R1 và R5 của cánh sau có một mạch ngang Vòi của nhiều loài rất phát triển, nhiều khi dài bằng chiều dài của cơ thể, khả năng bay rất lớn và bay nhanh, một số loài hoạt động ban ngày, nhưng phần lớn hoạt động vào lúc hoàng hôn
Sâu non có kích thước lớn, mỗi đốt bụng chia thành 6-8 vòng hẹp, phía lưng đốt bụng thứ 8 có một gai lớn nên còn được gọi là "sâu sừng" Sâu non có
cơ thể lớn, cắn phá lá cây rất mạnh, đặc biệt là trên khoai tây, cà chua, thuốc lá Sâu này gây hại trên cây mè hầu như chưa có một nghiên cứu nào
Trang 22Các loài gây hại phổ biến trên cây trồng:
Agrius convolvuli Linnaeus
Thành trùng có bụng rất to, nhiều lông, mỗi đốt có một hàng lông màu xám đen xen hồng Cuối bụng nhọn Chiều ngang cả hai cánh đều rất hẹp so với chiều dài thân mình Cánh trước căng dài từ 8 - 11cm, màu xám, trên có nhiều vân và sọc màu đậm Khi lớn đủ sức dài từ 8 – 12cm
Nhộng màu nâu đỏ, đầu nhộng có một vòi cong xuống phía đuôi như nấp viết nên còn có tên gọi là "Ngài nhộng vòi" Nhộng được hình thành dưới đất
và phát triển từ 10 - 12 ngày
Acherontia lachesis Fabricius
Bướm có thân chủ yếu màu nâu, ngực màu xám đậm có một hình giống như sọ người Cánh sau màu vàng với những băng màu vàng ngang dọc
Trứng màu xanh lá cây, được đẻ rải rác thành từng cái, sau chuyển thành màu vàng cam Thời gian ủ trứng khoảng 5 ngày
Ấu trùng màu xanh lá cây với những sọc xiên màu vàng dọc hai bên thân Đốt cuối của bụng cũng có một gai thịt nhô cao như cái đuôi nhưng cong chớ không thẳng như ở Herse (Agrius) Ấu trùng phát triển khoảng 3 tuần và lớn đủ sức có thể dài từ 10-12 cm
Nhộng hình thành trong đất và kéo dài khoảng 18 ngày
Theo Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen (2003), thì sâu sừng có tên khoa học là Acherontia lachesis Fabricius thuộc họ Ngài Nhộng Vòi (Sphingidae), bộ Cánh Vảy (Lepidoptera)
Đặc điểm hình thái và sinh học: Bướm có thân chủ yếu màu nâu, ngực màu xám đậm có một hình giống như sọ người Cánh sau màu vàng với những băng màu vàng ngang dọc
Trứng màu xanh lá cây, được đẻ rải rác thành từng cái, sau chuyển thành màu vàng cam Thời gian ủ trứng khoảng 5 ngày Ấu trùng màu xanh lá cây với những sọc xiên màu vàng dọc hai bên thân Đốt cuối của bụng cũng có một gai
Trang 23thịt nhô cao như cái đuôi nhưng cong chớ không thẳng như ở Herse (Agrius)
Ấu trùng phát triển khoảng 3 tuần và lớn đủ sức có thể dài từ 10-12 cm
Nhộng hình thành trong đất và kéo dài khoảng 18 ngày
Tập quán sinh sống và cách gây hại: vì cơ thể lớn nên 2 loài sâu trên ăn phá rất nhiều, sâu ăn trụi cả lá, làm cây xơ xác
Theo Tạ Quốc Tuấn và ctv., (2006), thì dạng trưởng thành của sâu sừng
là loài bướm tương đối lớn, thân dài 40-50 mm, màu nâu có nhiều vân đen, cánh trước dài và nhọn Trứng hình cầu, đường kính khoảng 1 mm, màu trắng ngà, láng bóng, đẻ riêng lẻ từng quả trên lá cây Sâu non cơ thể to mập có nhiều ngấn ngang và có một gai nhọn như cái sừng phía sau Màu sắc thay đổi từ màu xanh lá cây sang màu nâu, đẫy sức dài 7-8 cm Khi đẩy sức sâu non hóa nhộng
ở dưới đất, nhộng to, màu nâu đỏ có màu uốn cong ra phía trước Bướm lớn thân dài 40-50 mm màu nâu và nhiều vân đen (Phạm Đức Toàn, 2008).
Tập quán sinh hoạt: Trưởng thành hoạt động mạnh mẽ vào ban đêm, thích vị chua ngọt Sâu non thích ăn phiến lá nhất là lá non và sức ăn rất mạnh tạo thành những khuyết lá, khi thành dịch sâu non có thể ăn trụi thành đám hoặc trụi cả đám ruộng trong một thời gian ngắn Thời gian sâu non tồn tại trên ruộng trong khoảng từ 25-30 ngày Sâu non ăn phiến lá thành những lỗ thủng hoặc những khuyết lá Sức ăn rất mạnh, khi mật độ sâu cao có thể ăn trụi cả ruộng trong vài đêm Hóa nhộng trong đất Vòng đời từ 45 – 50 ngày, thời gian sâu non 25- 30 ngày (Nguyễn Mạnh Chinh và Nguyễn Đăng Nghĩa, 2007)
- Cách phòng trừ:
Dùng bẫy đèn để thu hút bướm Có thể sử dụng các loại thuốc trừ sâu thông dụng để trị, nhưng nên phát hiện sớm để dùng thuốc khi sâu còn nhỏ, cơ thể còn yếu, dễ giết sâu hơn (Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen, 2003)
Bắt giết sâu non bằng tay hay kẹp tre Khi sâu phát sinh nhiều phun các thuốc Alphatap, Alpha, Alpha cypermetrin, Decis, Regent 2 lúa xanh…(Tạ Quốc Tuấn và Trần Văn Lợt, 2006)
Trang 241.6 Thu hoạch và bảo quản
1.6.1 Thu hoạch
Khi quan sát thấy lá mè đã chuyển từ màu xanh sang màu vàng, các lá phía dưới gốc đã rụng hết, hạt chuyển sang màu của hạt lúc gieo là thu hoạch được Do đặc điểm của mè là hoa ra rãi rác nên quả cũng không chín đồng loạt được, vì thế nếu thu hoạch sớm quá sẽ mất năng suất và thu hoạch muộn quá cũng sẽ giảm năng suất và tỷ lệ dầu cũng sẽ bị giảm (Phạm Văn Thiều, 2003)
Khi thu hoạch chọn ngày nắng ráo và thu hoạch vào buổi sáng hoặc về chiều Dùng liềm cắt ngang gốc và bó lại thành từng bó nhỏ ớ phía gốc Đem về
ủ 1 – 2 ngày hoặc phơi ngay ra nắng Khi phơi thì chú ý dựng ngược bó mè cho ngọn xuống dưới và gốc quay lên trên (Phạm Văn Thiều, 2003)
1.6.2 Bảo quản
Ở nước ta hiện nay việc bảo quản chủ yếu là ở hộ gia đình với những phương pháp truyền thống Tuy vậy nếu được bảo quản cẩn thận thì chất lượng cũng không bị giảm đáng kể trong nhiều tháng Hiện nay cách bảo quản đơn giản mà nhiều nơi đang áp dụng là khi hạt đã phơi khô để nguội đem trộn hạt với tro rơm rồi cho vào dụng cụ bảo quản, trên cùng phủ lên một lớp tro dày khoảng 2 – 3cm rồi đậy thật kín để nơi khô ráo thoáng mát thì có thể tránh được
sự phá hoại của côn trùng mà tỷ lệ nảy mầm lại khá cao từ 90 – 95% (Phạm Văn Thiều, 2003)
Tuyệt đối không nên bảo quản kín trong túi nilông vì khi thời tiết thay đổi rất dễ bị ngưng tụ hơi nước làm hỏng hạt Định kỳ hàng tháng nên xem lại
và hong ra chỗ thoáng rồi lại tiếp tục bảo quản như thế cho đến vụ sau Hết sức lưu ý về vấn đề sâu mọt Cần sàn sảy thật sạch không để tạp chất như mảnh lá, mảnh cành lẫn vào (Nguyễn Vy, 2003)
Trang 25II PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Phương tiện thí nghiệm
2.1.1 Thời gian và địa điểm
- Thời gian thực hiện từ tháng 11/2011 đến tháng 10/2012 Thời gian thu mẫu từ tháng 12 năm 2011 đến tháng 4 năm 2012
- Địa bàn điều tra: Chợ Mới, Châu Phú, Tri Tôn – An Giang
2.1.2 Vật liệu thí nghiệm
+ Hộp nhựa để nuôi các loại sâu
+ Thức ăn: Lá mè được thu từ ruộng không phun thuốc và từ mè trồng trong chậu có khung lưới chụp lại tại Khoa Nông Nghiệp - TNTN - ĐHAG
+ Giấy thấm giữ ẩm
+ Bông gòn
+ Kim ghim, cọ, kéo, kẹp, bút lông
+ Kính Loup, thước đo: Để quan sát và đo kích thước của từng giai đoạn sâu, nhộng và thành trùng
2.2.1 Điều tra thực tế ngoài đồng ruộng
2.2.1.1 Điều tra về thành phần của các loài sâu sừng trên cây mè
- Địa bàn điều tra: xã Mỹ Luông - Chợ Mới, xã Bình Thủy - Châu Phú,
xã Núi Tô - Tri Tôn, tỉnh An Giang
Trang 26- Điều tra mỗi địa bàn 2 ruộng tại Chợ Mới, Châu Phú, Tri Tôn – An Giang, định kỳ thu mẫu mỗi tuần một lần
+ Trong quá trình điều tra, chúng tôi tiến hành thu mẫu sâu (Ấu trùng, thành trùng và nhộng), thu lá và đọt, trái bị hại có sự hiện diện của sâu đem về nuôi, quan sát trong phòng thí nghiệm cho đến khi vũ hóa Để định danh loài, giết thành trùng bằng CCl4 trong 5-10 phút tùy theo loài và căng cánh đúng qui định Sau đó cánh thành trùng được tẩy trắng bằng cách ngâm vào cồn tuyệt đối
có pha thêm 3-4 giọt javen 30-60 phút và tiến hành phân họ, loài
+ Ghi nhận thành phần loài các loài sâu sừng trên cây mè
2.2.1.2 Diễn biến mật số và tỉ lệ gây hại trong điều kiện ngoài đồng
Khảo sát diễn biến mật số sâu hại trong điều kiện ngoài đồng:
Tiến hành điều tra 2 ruộng mè trên mỗi địa bàn (Chợ Mới, Châu Phú, Tri Tôn – An Giang)
Phương pháp thu mẫu: định kỳ thu mẫu mỗi tuần một lần, đếm mật số sâu trên 1m2 tại 5 điểm chéo góc
Mật số sâu (con/cây) =
Tổng số sâu sống Tổng số cây điều tra Mật số bướm (con/m2) = Tổng số bướm sống/m2
(Viện Bảo Vệ Thực Vật, 1999)