1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu hoàn thiện quy trình sản xuất giống cá trê vàng clarias macrocephalus

163 114 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 163
Dung lượng 7,59 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các nội dung nghiên cứu bao gồm: Nghiên cứu nuôi vỗ thành thục sinh dục cá trê vàng; Kích thích sinh sản nhân tạo cá; Theo dõi quá trình phát triển phôi; Xác định các chỉ tiêu sinh lý củ

Trang 1

ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG

TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG

BÁO CÁO NGHIỆM THU ĐỀ TÀI CẤP CƠ SỞ

Tên đề tài:

NGHIÊN CỨU HOÀN THIỆN QUY TRÌNH SẢN XUẤT

GIỐNG CÁ TRÊ VÀNG (Clarias macrocephalus)

Chủ nhiệm đề tài: ThS Phan Phương Loan

An Giang, tháng 01/2013

Trang 2

ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG

TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG

BÁO CÁO NGHIỆM THU ĐỀ TÀI CẤP CƠ SỞ

Tên đề tài:

NGHIÊN CỨU HOÀN THIỆN QUY TRÌNH SẢN XUẤT

GIỐNG CÁ TRÊ VÀNG (Clarias macrocephalus)

Cơ quan chủ trì Chủ nhiệm đề tài

ThS Phan Phương Loan

An Giang, tháng 01/2013

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Xin chân thành cám ơn Ban Giám hiệu trường Đại học An Giang, Sở Khoa học

và Công nghệ An Giang đã tạo điều kiện cho tôi thực hiện nghiên cứu này

Xin cảm ơn Cán bộ quản lý phòng thí nghiệm, quý đồng nghiệp đã giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài

Trang 4

TÓM TẮT

Đề tài “Nghiên cứu hoàn thiện quy trình sản xuất giống cá trê vàng (Clarias

macrocephalus Gunther, 1986)” được thực hiện từ tháng 06 năm 2012 đến tháng

12 năm 2012 tại Ấp Bình Hòa 2, xã Mỹ Khánh, Thành phố Long Xuyên, An Giang Nghiên cứu được chia làm 5 thí nghiệm Đề tài được thực hiện nhằm mục tiêu hoàn thiện quy trình sản xuất giống cá trê vàng, đưa quy trình hoàn chỉnh ra ứng dụng trong điều kiện Việt Nam Các nội dung nghiên cứu bao gồm: Nghiên cứu nuôi vỗ thành thục sinh dục cá trê vàng; Kích thích sinh sản nhân tạo cá; Theo dõi quá trình phát triển phôi; Xác định các chỉ tiêu sinh lý của cá trê vàng giai đoạn từ bột lên giống; Khảo sát khả năng tăng trưởng, tỷ lệ sống khi ương cá

ở các mật độ và loại thức ăn khác nhau

Kết quả nghiên cứu ghi nhận được trong quá trình thực hiện thí nghiệm các chỉ

thích hợp cho sinh trưởng và phát triển của cá Kết quả thí nghiệm nuôi vỗ ghi nhận được không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về hệ số thành thục (HSTT) khi nuôi vỗ bằng thức ăn là 100% cá tạp và 50% cá tạp + 50% thức ăn công nghiệp Sức sinh sản tương đối dao động từ dao động từ 76 - 116 trứng/g cá cái và sức sinh sản tuyệt đối từ 7.498 – 14.080

Cá trê vàng hoàn toàn có khả năng chín và rụng trứng với chất kích thích thích sinh sản là HCG và LHRHa + DOM Thời gian phát triển phôi của cá là 22 giờ

30 phút ở nhiệt độ nước 28 – 300C Sau khi nở, thời gian cá dinh dưỡng noãn hoàng là 73h Ngưỡng nhiệt độ trên và dưới của cá trê vàng dao động từ 40,67 –

thời điểm dao động từ 1,07 – 3,33 mg/l và từ 16,5 đến 19,97‰ Ngưỡng pH trên

và dưới của cá trê vàng qua các giai đoạn dao động từ 9,47 – 12,30 và 2,13 – 3,27 Tốc độ tăng trưởng của cá trê vàng khi ương từ giai đoạn bột lên hương có

sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p< 0,05) giữa các mật độ 1000; 1.500 và 2.000

công nghiệp khi ương cá

Trang 5

MỤC LỤC

Lời cảm ơn i

Tóm tắt iiv

Mục lục iii

Danh mục bảng ivi

Danh mục hình v

Danh sách các từ viết tắt……….vi

Chương 1 Giới thiệu 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 1

1.3 Nội dung nghiên cứu 1

Chương 2 Lược khảo tài liệu 3

2.1 Đặc điểm sinh học cá trê vàng 3

2.2 Phân biệt cái và chọn cá bố mẹ thành thục 6

2.3 Một số nghiên cứu có liên quan 6

Chương 3 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu 11

3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 11

3.2 Vật liệu nghiên cứu 11

3.3 Phương pháp nghiên cứu 21

Chương 4 Kết quả thảo luận 22

4.1 Các chỉ tiêu môi trường trong quá trình thí nghiệm 22

4.2 Ảnh hưởng của thức ăn đến sự thành thục sinh dục cá trê vàng……… 26

4.3 Kết quả kích thích cá trê vàng sinh sản nhân tạo 28

4.4 Khảo sát một số chỉ tiêu sinh lý cá trê vàng giai đoạn cá bột lên cá giống…31 4.5 Ảnh hưởng của mật độ ương lên tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ sống cá trê vàng giai đoạn cá bột lên cá giống 35

4.6 Ảnh hưởng của các loại thức ăn đến tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ sống của cá trê vàng giai đoạn hương lên cá giống……… ……… 40

Chương 5 Kết luận và đề xuất 42

5.1 Kết luận 43

5.2 Đề xuất 43

Trang 6

DANH SÁCH BẢNG

Bảng 1: Các nghiệm thức và thông số liên quan được bố trí trong thí nghiệm 12

Bảng 2: Liều lượng thuốc sử dụng kích thích sinh sản cá trê vàng 14

Bảng 3: Giá trị nhiệt độ của các nghiệm thức 22

Bảng 4: Giá trị pH của các nghiệm thức 23

Bảng 5: Giá trị DO ở các nghiệm thức 24

Bảng 6: Giá trị NH3/NH4+ của nghiệm thức 25

Bảng 7: Giá trị NO2- của các nghiệm thức (ppm) 26

Bảng 8: Thành phần hóa học của các loại thức ăn sử dụng trong thí nghiệm 26

Bảng 9: Biến động giai đoạn thành thục cá trê vàng theo thời gian nuôi vỗ 26

Bảng 10: Sự biến động HSTT của cá trê vàng qua các tháng nuôi vỗ 26

Bảng 11: So sánh sức sinh sản của cá ở hai nghiệm thức thức ăn……… 28

Bảng 12: Ảnh hưởng của não thùy đến sự rụng trứng của cá trê vàng 28

Bảng 13: Ảnh hưởng của HCG đến sự rụng trứng của cá trê vàng………… …29

Bảng 14: Ảnh hưởng của LHRHa + DOM đến sự rụng trứng của cá trê vàng….30 Bảng 15: Quá trình phát triển phôi của cá trê vàng trong điều kiện nhiệt độ 28 – 300C……… 31

Bảng 16: So sánh đường kính trứng giữa các loài cá trê……… 33

Bảng 17: Thời gian và mức độ giảm đường kính noãn hoàng cá trê vàng… 33

Bảng 18: Ngưỡng nhiệt độ gây chết cá trên vàng 33

Bảng 19: Ngưỡng oxy gây chết cá trê vàng 33

Bảng 20: Ngưỡng độ mặn gây chết cá trê vàng 34

Bảng 21: Ngưỡng pH gây chết cá trê vàng 34

Bảng 22: Khối lượng và chiều dài cá bắt đầu bố trí thí nghiệm 35

Bảng 23: Ảnh hưởng của mật độ đến tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ sống cá trê vàng sau 21 ngày thí nghiệm 36

Bảng 24: Khối lượng và chiều dài khối lượng cá bắt đầu bố trí thí nghiệm 37

Bảng 25: Ảnh hưởng của mật độ đến tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ sống cá trê vàng sau 62 ngày ương 39

Bảng 26: Khối lượng và chiều dài cá bắt đầu bố trí thí nghiệm 40

Bảng 27: Ảnh hưởng của mật độ đến tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ sống cá trê vàng sau 40 ngày thí nghiệm 41

Trang 7

DANH SÁCH HÌNH

Hình 1: Hình thái của cá trê vàng 3

Hình 2: Bản đồ phân bố cá trê vàng (C macrocephalus) 4

Hình 3: Hình thái xương chẩm cá trê vàng (a), cá trê phi (b) và cá trê lai (c) 5

Hình 4: Cơ quan sinh dục thứ cấp (a) và hình thái cá trê vàng cái (b) 7

Hình 5: Cơ quan sinh dục thứ cấp (c) và hình thái cá trê vàng đực (d) 7

Hình 6: Cơ quan sinh dục cá trê vàng cái thành thục 7

Hình 7: Cơ quan sinh dục cá trê vàng đực thành thục 7

Hình 8: Cá bố trí thí nghiệm sinh sản 11

Hình 9: Cá bột bố trí thí nghiệm 11

Hình 10: Đo cá 12

Hình 11: Cân cá 12

Hình 12: Moina sp 12

Hình 13: Trùn chỉ 12

Hình 14: Sơ đồ bố trí thí nghiệm nuôi vỗ cá trê vàng 13

Hình 15: Cân cá và tiêm kích thích tố cho cá trê vàng 14

Hình 17: Mổ lấy buồng tinh cá đực (e) và buồng tinh của cá (f) 15

Hình 18: Thụ tinh (g) và ấp trứng (h) 15

Hình 19: Sơ đồ bố trí thí nghiệm ương cá trê vàng giai đoạn bột lên hương 19

Hình 20: Sơ đồ bố trí thí nghiệm ương cá trê vàng giai đoạn hương lên giống 19

Hình 21: Cho cá ăn 20

Hình 22: Kiểm tra sàn ăn 19

Hình 23: Bộ dụng cụ tets môi trường 21

Hình 24: Đo NO2 21

Hình 25: Đo pH 21

Hình 26: Đo NH3/NH4+ 21

Hình 27: Đo nhiệt độ 21

Hình 28: Đo cá 22

Hình 29: Cân cá 22

Hình 30: Khối lượng cá ở các thời điểm 7, 14, 21 ngày tuổi 35

Hình 31: Chiều dài cá ở các thời điểm 7, 14, 21 ngày tuổi 36

Hình 32: Khối lượng các nghiệm thức ở các thời điểm 32, 42, 52, 62 ngày 38

Hình 33: Chiều dài các nghiệm thức ở từng thời điểm 32, 42, 52, 62 ngày 38

Hình 34: Khối lượng cá ở các thời điểm 32, 42, 52, 62 ngày tuổi 40

Hình 35: Chiều dài cá ở các thời điểm 32, 42, 52, 62 ngày tuổi 41

Trang 8

DANH SÁCH CÁC TỪ VIẾT TẮT

Trang 9

Chương 1 GIỚI THIỆU 1.1 Đặt vấn đề

Trong nhiều thập kỷ qua nghề nuôi thủy sản của cả nước nói chung và Đồng Bằng Sông Cửu Long nói riêng đang phát triển nhanh chóng Bên cạnh sự gia tăng về sản lượng, vấn đề ô nhiễm môi trường, chính sách quản lý và khai thác nguồn lợi tự nhiên vẫn chưa hợp lý, một số vấn đề tiêu cực như khai thác quá mức, mang tính hủy diệt, sử dụng điện, hóa chất…làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến hệ sinh thái và đa dạng sinh học Nhiều loài cá có giá trị kinh tế và quý hiếm

có nguy cơ tiệt chủng cao

Vì vậy, việc nghiên cứu bảo tồn đa dạng sinh học, thuần dưỡng và phát triển các loài cá có giá trị kinh tế, đặc biệt là các loài cá đồng, trong đó có cá trê vàng là cần thiết

Hiện nay, ở nước ta có 4 loài cá trê: trê đen, trê phi, trê trắng và trê vàng Trong

đó cá trê vàng (Clarias macrocelphalus) là loài có giá trị kinh tế nhất, do cá có

chất lượng thơm ngon và thịt cá có màu vàng nghệ trông rất bắt mắt nên được nhiều người ưa chuộng

Tuy nhiên, cá trê vàng là loài có tốc độ tăng trưởng chậm, nên người nuôi đã có

xu hướng nuôi cá trê lai (cá trê phi đực x cá trê vàng cái) dần dần đã làm suy thoái nguồn gen loài cá trê vàng

Theo Poompuang, S và Na-Nakorn, U (2004) cá trê lai chiếm trên 90% cá da trơn sản xuất tại Thái Lan Việc mở rộng nuôi cá trê lai có thể làm thất thoát ra môi trường từ các trang trại trong mùa lũ lụt, làm tăng mối quan tâm về nguồn gen của cá trê vàng do tác động di truyền lấn át gen khi lai chéo ngoài tự nhiên

Ở Việt Nam, hiện nay hầu hết cá trê được đưa vào nuôi thịt cũng là cá trê lai và việc nuôi này dẫn đến sự thất thoát cá ra ngoài tự nhiên làm mất dần các cá thể trê vàng thuần chủng

Từ những vấn đề trên, để bảo tồn nguồn gen của đối tượng này, đề tài “Nghiên

cứu hoàn thiện quy trình sản xuất giống cá trê vàng (Clarias macrocephalus

Gunther, 1986)” được thực hiện nhằm hoàn thiện quy trình kỹ thuật sản xuất

giống và phát triển nuôi thương phẩm đối tượng này trong tương lai

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Đề tài được thực hiện nhằm hoàn thiện quy trình sản xuất giống cá trê vàng, đưa quy trình hoàn chỉnh ra ứng dụng trong điều kiện Việt Nam, chủ động cung cấp nguồn giống cá trê vàng thuần chủng cho người nuôi, góp phần bảo vệ nguồn lợi

tự nhiên đang ngày cạn kiệt

1.3 Nội dung nghiên cứu

Nghiên cứu nuôi vỗ thành thục sinh dục cá trê vàng

Kích thích sinh sản cá trê vàng rụng trứng bằng một số loại kích thích tố khác nhau: HCG, LHRHa + Dom và não thùy nhóm cá chép

Trang 10

Xác định loại và liều lượng chất kích thích sinh sản phù hợp trong sinh sản nhân tạo cá trê vàng

Theo dõi quá trình phát triển phôi của cá trê vàng

Theo dõi các chỉ tiêu môi trường nước (nhiệt độ, pH, DO) trong quá trình kích thích sinh sản, ấp trứng Chỉ tiêu (nhiệt độ, pH, DO, NH3/NH4+) trong nuôi vỗ, ương cá trê

Xác định các chỉ tiêu sinh sản (thời gian hiệu ứng, tỷ lệ rụng trứng, sức sinh sản thực tế, tỷ lệ thụ tinh, tỷ lệ nở, tỷ lệ sống cá bột 3 ngày tuổi)

Xác định các chỉ tiêu sinh lý của cá trê vàng ở giai đoạn 1, 5, 10, 20, 30, 40, 50 ngày tuổi như: thời gian cá dinh dưỡng bằng noãn hoàng, ngưỡng nhiệt độ, oxy,

pH, độ mặn

Xác định một số chỉ tiêu kỹ thuật (tăng trưởng, tỷ lệ sống, mật độ và loại thức ăn khác nhau) trong ương nuôi cá trê vàng từ bột lên giống

Trang 11

Chương 2 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2.1 Đặc điểm sinh học cá trê vàng

Tên tiếng Anh (FAO): Broadhead catfish (Rainboth, 1996)

Hình 1: Hình thái của cá trê vàng

2.1.2 Phân bố và sinh lý

Cá trê vàng phân bố ở Philippine, Thái Lan, Campuchia và ĐBSCL Việt Nam

(Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương, 1993; Lê Như Xuân và ctv, 1994) Theo Teugels, G.G et al (1999) đã xác định cá trê vàng có nguồn gốc từ Lào,

Thái Lan, Campuchia, Việt Nam, được du nhập qua Trung Quốc, bán đảo Malaysia, Philippines và Guam

Cá trê vàng phân bố ở môi trường nước ngọt từ Thái Lan đến Philippine (Rainboth, 1996)

Ngoài ra chúng còn được tìm thấy trong vùng khí hậu nhiệt đới, khu vực Đông Nam Á và Đông Châu Á về phía tây qua Ấn Độ và Châu Phi

Bevan et al (1987) xác định cá trê vàng có khối lượng từ 7,60 – 20,90g có thể

sống hơn 25 ngày trong môi trường nước với hàm lượng oxy hòa tan 8 mg/l mà

Trang 12

không cần lấy khí trời Tần suất hô hấp của cá tăng khi hàm lượng oxy hòa tan giảm từ 8 mg/l đến 2 mg/l

Cá trê vàng phân bố rộng rãi ở các vùng nước ngọt và lợ, cả tầng mặt và tầng đáy, ở vùng đầm lầy, nơi chật hẹp với oxy thấp Cá sống được ở nhiệt độ từ 10 –

Dương Tấn Lộc, 2004; Riede, 2004)

Theo Frimodt (1995) đã xác định cá trê vàng có khả năng sống trong vùng nước nông cạn và vùi mình trong bùn một thời gian dài nếu các ao hồ cạn vào mùa khô, cá có thể di chuyển ra khỏi nước bằng cách sử dụng vây ngực

Nhóm cá trê có cơ quan hô hấp phụ được gọi là hoa khế, hình thành sau 8 ngày tuổi Nhờ cơ quan hô hấp phụ nên cá trê nuôi được ở mật độ cao và môi trường nhiễm bẩn Cá có khả năng thích hợp với nhiều loại hình nuôi như: ao tù, mương rãnh và có thể nuôi ở nơi có hàm lượng oxy thấp (Ngô Trọng Lư và Lê Đăng Khuyến, 2000; Dương Tấn Lộc, 2004)

Hình 2: Bản đồ phân bố cá trê vàng (C macrocephalus)

Ghi chú: Vị trí phân bố cá trê vàng trên thế giới

Nguồn: Discoverlife.org 2.1.3 Đặc điểm hình thái

Theo Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương (1993) cá trê vàng có đầu rộng dẹp bằng, da đầu ở sọ não mỏng, xương sọ nổi lên rõ ràng Miệng cận dưới không co duỗi được, rạch miệng thẳng, nằm ngang, răng trên hàm nhỏ mịn cứng chắc Có 4 đôi râu khá phát triển: một đôi râu mũi, một đôi râu mép và hai đôi râu hàm dưới, râu mép to và dài hơn các râu khác Mắt nhỏ nằm ở mặt lưng của đầu và gần chót mõm hơn điểm cuối nắp mang Phần trán giữa hai mắt rộng Đầu

có hai lỗ thóp, một lỗ nằm phía sau đường ngang nối hai mắt, còn lỗ kia nằm phía trước gốc mấu xương chẩm Mấu xương chẩm tròn, chiều rộng mấu xương chẩm tương đương 3 – 5 lần chiều cao của nó Lỗ mang hẹp nằm ở mặt bụng của đầu, xương nắp mang kém phát triển Thân dài phần trước tròn phần sau mỏng, dẹp bên Cuống đuôi ngắn Đường bên hoàn toàn chạy từ mép trên của lỗ mang

và chấm dứt ở giữa gốc vi đuôi, phần trước lệch xuống mặt bụng và phần sau

Trang 13

nằm trên trục giữa của thân Vi hậu môn rất dài, phần cuối gần chạm gốc vi đuôi

Cơ gốc vi phát triển, phủ lên gần các ngọn các tia Gai vi ngực cứng nhọn, cả hai đầu đều có răng cưa hướng xuống gốc xương, xương đai vi ngực lộ hẳn ra ngoài

Vi đuôi tròn không chẻ hai Mặt lưng của thân và đầu có màu xám đến nâu đen

và nhạt dần xuống mặt bụng Bụng và mặt dưới của đầu có màu vàng Trên thân mỗi bên có khoảng 10 hàng chấm nhỏ màu trắng nằm vắt ngang thân

Cá trê vàng được phân biệt với các loài cùng giống Clarias ở vùng Đông Nam Á

bằng một xương chẩm rất ngắn tròn và một vây lưng rất cao (Teugels et al,

1999), xương chẩm cong và rộng với chiều dài 3 – 5 lần chiều rộng, khoảng cách

từ xương chẩm đến gốc vi lưng kém 5 – 7 lần khoảng cách từ miệng đến xương chẩm (Kottelat, 2001)

Theo Bạch Thị Quỳnh Mai (1999), hình thái xương chẩm của các loài cá trê có điểm khác biệt rõ rệt Đối với cá trê vàng có dạng hình vòng cung, cá trê vàng lai

(a) (b) (c)

Hình 3: Hình thái xương chẩm cá trê vàng (a), cá trê phi (b) và cá trê lai (c)

2.1.4 Đặc điểm dinh dưỡng của nhóm cá trê

Sau khi tiêu biến hết noãn hoàng, cá ăn thức ăn bên ngoài như: Moina sp, Daphia

sp, Copepoda, trùn chỉ Cá trưởng thành ăn nhiều loại thức ăn khác nhau, nhưng thiên về thức ăn động vật (Dương Tấn Lộc, 2004) Ngoài ra, cá trê vàng lai còn

có khả năng sử dụng thức ăn chế biến (Nguyễn Văn Kiểm, 2004a; Phan Phương Loan, 2007)

Khi cá trê vàng lai hết noãn hoàng, việc cho ăn artemia sp đến ngày thứ 11, tần suất cho ăn một lần/ngày, tỷ lệ sống và tốc độ tăng trưởng sẽ cao hơn so với các loại thức ăn công nghiệp, thức ăn tự chế (Rakpong Petkama and G Eric E Moodie, 2000)

Cá trê là loài ăn tạp thiên về động vật đáy, cá thích ăn xác động vật đang thối rữa Trong tự nhiên cá trê ăn côn trùn, giun, ốc, tôm, cua, cá, Ngoài ra trong điều kiện ao nuôi cá trê còn có thể ăn các phụ phẩm từ trại chăn nuôi, nhà máy chế biến thủy sản, chất thải từ lò mổ (Phạm Công Phin, 2000; Dương Nhật Long, 2003; Trần Văn Vỹ và Huỳnh Thị Dung, 2003; Ngô Trọng Lư và Thái Bá Hồ, 2003; Phạm Văn Trang và Trần Văn Vỹ, 2003)

Trang 14

2.1.5 Đặc điểm sinh trưởng

Cá trê vàng có thể dài 25 – 45 cm nặng 150 – 500 g Cá 1 tuổi dài 20,5 cm, nặng

70 g; 2 tuổi dài 35 cm, nặng 250 g; 3 tuổi dài 45 cm, nặng 500 g (Trần Văn Vỹ

và Huỳnh Thị Dung, 2003) Khi nuôi cá trê vàng lai sau một năm tuổi cá đạt 300 – 400g/con (Phan Phương Loan, 2007)

Theo Ngô Trọng Lư và Lê Đăng khuyến (2000) cá trê vàng có tốc độ tăng trưởng tương đối chậm so với các loài cá khác Ngoài tự nhiên cá có chiều dài tối đa 45

cm và nặng khoảng 495 g

2.1.6 Đặc điểm sinh sản

Ngoài tự nhiên cá có thể sinh sản quanh năm, cá thành thục lần đầu khi được khoảng 8 tháng tuổi Cá có hai mùa vụ sinh sản chính là tháng 3 – 6 và tháng 7 –

8 hàng năm Sức sinh sản tương đối của cá dao động từ 40.000 – 60.000 trứng/kg

cá cái Trứng cá trê thuộc loại trứng dính và cá có tập tính làm tổ đẻ dọc theo các

bờ ao, mương nơi có mực nước khoảng 0,3 – 0,5m Nhiệt độ thích hợp cho sự

Ở Philippines, Cá trê cái sau một năm tuổi có thể tham gia sinh sản nhân tạo

(Tan-Fermin et al, 1997a) và có thể sử dụng kích dục tố kích thích cá đẻ trứng tại bất kỳ thời điểm nào trong chu kỳ sinh sản (Tan-Fermin et al, 1997b)

Quỳnh Mai, 1999; Ngô Trọng Lư và Lê Đăng Khuyến, 2000; Dương Tấn Lộc, 2004) Sau khi nở cá nằm dưới đáy, hoạt động không định hướng và dinh dưỡng bằng noãn hoàng

2.2 Phân biệt đực cái và chọn cá bố mẹ thành thục

Tất cả các loài cá trê hiện có ở nước ta, cơ quan sinh dục của con đực và con cái

có sự khác biệt về hình thái tương đối rõ Phần cuối của ống dẫn niệu sinh dục của cá đực giống như gai nhọn Ở cá cái lỗ sinh dục hình tròn

Những cá trê đực có gai sinh dục dài, hình tam giác, phía đầu gai sinh dục nhọn

và nhỏ, phần nhô ra phía sau rất dài thường có màu trắng hay vàng nhạt, vào mùa sinh sản có màu hồng

Cá trê cái thành thục tốt thường có bụng to, mềm, lỗ sinh dục hình vành khuyên, màu hồng nhạt, phần ngoài lỗ sinh dục hơi cương, có thể tiết ra trứng khi nặn nhẹ

ở vùng bụng gần lỗ sinh dục (Nguyễn Tường Anh, 2004)

Khi cá cái thành thục tốt, sẽ có hệ số thành thục từ 10 – 13%, bụng cá to, buồng trứng nổi rõ ràng Khi trứng đã chín, da bụng mỏng, bụng mềm, có tính đàn hồi

Lỗ sinh dục cá hơi sưng và có màu hồng Tính đàn hồi là một trong những tiêu chuẩn đáng chú ý khi chọn cá đẻ: vào đầu vụ, tính đàn hồi thường lớn, cá thể còn non, tính đàn hồi lớn Khi buồng trứng cá cái chuẩn bị chín, tính đàn hồi cũng kém đi (Đỗ Đoàn Hiệp, 2007)

Trang 15

- Cá cái: chọn cá khỏe mạnh, không bị thương tật, không bị xây xát, màu sắc ánh vàng, phần bụng to, mềm đều, da bụng mỏng, lỗ sinh dục to, tròn và lồi lên, màu hồng nhạt

Hình 6: Cơ quan sinh dục cá trê vàng cái thành thục

- Cá đực: Chọn con đực có thân thon dài, khỏe mạnh, không bị xây xát, dị tật, mặt bụng phẳng, cơ quan sinh dục phụ cương phồng và có màu hồng nhạt

Hình 7: Cơ quan sinh dục cá trê vàng đực thành thục

Lổ sinh dục cá cái

Gai sinh dục cá đực

Trang 16

2.3 Một số nghiên cứu có liên quan

Nguyễn Văn Kiểm và Huỳnh Kim Hường (2006) đã xác định HCG, não thùy, LHRHa đều có thể gây chín và rụng trứng trên cá trê trắng sau khi tiêm liều sơ

bộ 0,6 mg não thùy cá cho 1 kg cá cái Liều kích thích tố đơn độc có hiệu quả đối với sự sinh sản của cá trê trắng trong liều quyết định là: 2000 UI/kg đối với

HCG, 5 mg/kg cá cái đối với não thùy và LHRHa: 50 µg/kg Theo Sahoo, S.K et

al (2005) khi nghiên cứu kích thích cá trê trắng sinh sản bằng ovarim với các

mức nồng độ nhận thấy: Liều 20 mg SGnRH-a kết hợp 10 mg Domperidone cho

1 kg cá cái cho tỷ lệ rụng trứng tốt nhất với thời gian hiệu ứng là 23 giờ, thời gian hiệu ứng thuốc từ 14 – 17 giờ với 30mg SGnRHa + 15 mg Domperidone cho 1 kg cá cái Khi dùng HCG cho cá trê trắng sinh sản ở nồng độ 3000 – 5000 UI/kg cá cái thì thời gian hiệu ứng là 14 – 17 giờ, tỷ lệ thụ tinh đạt 75 – 89% và

tỷ lệ nở từ 66 – 78% (Sahoo, S.K et al, 2006)

Ở cá trê vàng lai, có thể sử dụng não thùy kích thích cá sinh sản với liều 10 – 12 mg/kg cá cái, cá đực bằng 1/3 liều cho cá cái Đối với HCG, dùng liều 5000 -

8000 UI/kg cá cái, 2000 – 3000 UI/kg cá đực Ngoài ra, có thể kết hợp giữa HCG

và não thùy với liều sơ bộ bằng 1/3 tổng liều, cách nhau 5 - 6 giờ, thời gian hiệu ứng 8 – 9 giờ Có thể gây rụng trứng cá trê vàng lai bằng LHRHa với liều 30 - 50 µg/kg cá cái + 3 - 5 mg Domperidone, thời gian hiệu ứng là 10 giờ Trứng nở sau

Nguyễn Tường Anh và Trương Minh Hữu Hạnh (2003) đã nghiên cứu hiệu quả gây chín, rụng trứng trên cá trê vàng bằng 17,20P (17α, 20β-dihydroxyprogesteron); 17P (17α-hydoxyprogesteron) kết hợp với não thùy cá trôi và HCG trong một lần tiêm duy nhất Liều tổ hợp gồm 2,5 mg 17,20P + 2,0

mg 17P và 8,5 mg não thùy cá trôi cho 1 kg cá trê đã cho tỷ lệ chín và rụng trứng 93,3%, tỷ lệ nở tương ứng là 89,1% Liều tổ hợp gồm 2,5 mg 17,20P + 2,0 mg 17P và 1000 – 1500 UI HCG đã cho tỷ lệ chín và rụng trứng là 66,7 – 75%, tỷ lệ

nở tương ứng là 82,5 – 83,9% Cá trê được kích thích sinh sản bằng LHRHa hoặc HCG chỉ một lần tiêm với liều lượng 50 – 70 µg LHRHa và 10 mg Domperidone hoặc HCG liều lượng 2.500 UI cho 1kg cá cái; 20 – 30 µg LHRHa hoặc 500 UI HCG cho 1kg cá đực Sau khoảng thời gian 14 – 16 giờ thì cá rụng trứng (Phạm Minh Thành và Nguyễn Văn Kiểm, 2009)

Võ Thị Thùy Trang (2009) đã xác định ngưỡng nhiệt độ trên và dưới giai đoạn

pH, kết quả nghiên cứu cho biết, ngưỡng pH trên và dưới giai đoạn phôi cá trê vàng lần lượt là 9,2 và 3,8 Ở giai đoạn cá bột là 9,2 và 3,8 Hàm lượng tiêu hao oxy của phôi cá trê vàng trung bình là 1,66 và ngưỡng oxy của cá trê vàng giai đoạn cá bột trung bình là 1,04

Theo Roshada Hashim et al., (1993) đã xác định hàm lượng protein tối ưu cho cá

trê vàng giai đoạn bột 30 – 40% Sau khi hết noãn hoàng, cá được cho ăn

nauphilus Artemia trong 4 ngày tiếp theo sẽ cho tốc độ tăng trưởng từ 11,7 - 20,8

%/ngày và tỷ lệ sống cao dao động từ 64 – 73% (Fermin et al., 1996)

Trang 17

Trong nghiên cứu thức ăn ương cá trê trắng từ bột đến 65 ngày tuổi thì Moina sp

là loại thức ăn cho kết quả cao nhất so với 3 loại thức ăn khác là cám gạo, cá rô phi và nội tạng cá thu Tốc độ tăng trưởng trung bình 0,823 g/ngày Tỷ lệ sống đạt 71 – 92 % (Samran, D and Prasit, K, 1981)

Theo Bạch Thị Quỳnh Mai (1999) xác định thức ăn cho cá trê vàng lai là Moina

sp trong 2 – 3 ngày đầu sau khi hết noãn hoàng Lượng cho ăn khoảng 1 – 1,15

lon Moina sp cho 20.000 cá bột trong một ngày, sau đó cho ăn 2 lon trùn chỉ cho

20.000 cá bột/ngày Lượng trùn cho ăn sẽ điều chỉnh tăng dần trong quá trình nuôi Trong quá trình ương giống cá trê vàng lai thường sử dụng khoảng 100 –

Khi cá trê vàng hết noãn hoàng cho ăn Artemia sp đến ngày thứ 11, tần suất cho

ăn một lần/ngày, tỷ lệ sống và tốc độ tăng trưởng sẽ cao hơn so với các loại thức

ăn công nghiệp và thức ăn tự chế (Rakpong Petkama và ctv, 2000)

Theo Ngô Trọng Lư và Lê Đăng Khuyến (2000) khi nghiên cứu sinh sản các loài

cá trê đã xác định Khi ương cá trê lai nên chia làm hai giai đoạn từ bột lên hương (15- 20 ngày), từ hương lên giống (30 ngày) với mật độ:

Giai đoạn bột lên hương ương trong bể: 5.000 – 10.000 con/m Thời gian ương

15 – 20 ngày Kích cỡ đạt 2-3 cm Tỷ lệ sống đạt 50 – 90% Giai đoạn hương lên giống: 200 – 500 con/m Thời gian ương 20 – 30 ngày kích cỡ đạt 5 – 10 cm Tỷ

Có nhiều nghiên cứu về ảnh hưởng của chất kích thích đến khả năng rụng và chín trứng trên cá trê vàng lai, trê trắng, tuy nhiên nghiên cứu trên trê vàng có khá ít Theo Bạch Thị Quỳnh Mai (1999) có nghiên cứu trên cá trê vàng lai nhưng với liều kích thích tố khá cao Nguyễn Tường Anh và Trương Minh Hữu Hạnh (2003) cũng có nghiên cứu kích thích sinh sản cá trê vàng bằng 17,20 P; 17 P kết hợp với não thùy và HCG cho tỷ lệ rụng trứng khá cao tuy nhiên các loại kích thích tố này ít phổ biến rộng rãi, khó khả năng áp dụng đại trà Về nghiên cứu sinh lý cá trê vàng, Võ Thị Thùy Trang (2009) có thử nghiệm nhưng chỉ dừng ở giai đoạn phôi và giai đoạn bột, chưa đánh giá hết đến giai đoạn giống Việc nghiên cứu đến giai đoạn này giúp phục vụ tốt cho công tác thuần dưỡng, vận chuyển một cách hiệu quả hơn Về dinh dưỡng cá trê vàng, cũng có một vài nghiên cứu như Roshada Hashim et al (1993) và Rakpong Petkama và và ctv (2000) sử dụng artemia ương cá; khuyết điểm là kéo giá thành sản xuất lên cao

và các tác giả này chỉ dừng lại ở giai đoạn 11 ngày chưa đánh giá hết tốc độ tăng trưởng và hiệu quả đến giai đoạn giống Mật độ ương có nhiều nghiên cứu về cá trê lai, tuy nhiên trên cá trê vàng thì chưa có nghiên cứu nào đánh giá

Trang 18

Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này, sẽ đánh giá tổng quan về ảnh hưởng của các loại kích thích tố đang được sử dụng phổ biến hiện nay lên khả năng chín

và rụng trứng cá trê vàng Xác định ảnh hưởng của các loại thức ăn đến quá trình thành thục của cá nhằm đưa ra loại thức ăn phù hợp trong quá trình nuôi vỗ thành thục cá Nghiên cứu khả năng dinh dưỡng noãn hoàng, việc xác định thời gian dinh dưỡng noãn hoàng rất quan trọng nhằm biết được thời gian cá tiêu thụ hết noãn hoàng để bổ sung thức ăn cho cá giúp tăng tỷ lệ sống trong quá trình ương

cá Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng đánh giá các chỉ tiêu sinh lý, mật độ, các loại thức ăn của cá đến giai đoạn giống giúp quy trình sản xuất giống hoàn thiện hơn

Trang 19

Chương 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Thời gian nghiên cứu: từ tháng 6 năm 2012 đến tháng 12 năm 2012

Địa điểm nghiên cứu:

- Bố trí thí nghiệm: được bố trí tại Ấp Bình Hòa 2, xã Mỹ Khánh, Thành phố Long Xuyên, An Giang

- Khảo sát các chỉ tiêu sinh lý: Phòng thí nghiệm Khoa Nông nghiệp & TNTN, Trường Đại học An Giang

3.2 Vật liệu nghiên cứu

3.2.1 Đối tượng nghiên cứu

Cá trê vàng (Clarias macrocephalus)

3.2.2 Vật liệu nghiên cứu

Cá trê vàng bố mẹ (65 kg) được thu gom từ nguồn đánh bắt ngoài tự nhiên của các ngư dân (cá chủ yếu được thu gom từ các thủy vực thuộc huyện Tri Tôn, An Giang), cá có xương chẩm rất ngắn tròn (vòng cung) và một vây lưng rất cao

Cá trê vàng bột là sản phẩm của thí nghiệm sinh sản nhân tạo

Test kiểm tra: pH, DO, NO2-, NH3/NH4+

Thức ăn: Moina sp, trùn chỉ, cá tạp, thức ăn công nghiệp

Thuốc kích thích: Não thùy nhóm cá chép, HCG, LHRHa (Sản phẩm của Trung Quốc) + Dom (Motidium do xí nghiệp dược Hậu Giang sản xuất)

Các loại dụng cụ khác: nhiệt kế, thước, đĩa Petri, cân điện tử, thau, vợt, khung lưới, kính hiển vi, cối nghiền thuốc, bơm tiêm, bình tam giác, thùng xốp, cốc thủy tinh, máy đo pH, khúc xạ kế, nước muối sinh lí (NaCl 0,9 %),

Một số hóa chất: Iotdine, Hadaclean, Vitamine C, Vitamine E,

Trang 20

Hình 10: Đo cá Hình 11: Cân cá

3.3 Phương pháp nghiên cứu

3.3.1 Thí nghiệm 1: Nghiên cứu ảnh hưởng của thức ăn đến sự thành thục sinh dục cá trê vàng

Bảng 1 Các nghiệm thức và thông số liên quan được bố trí trong thí nghiệm

Chỉ tiêu kỹ thuật

Thức ăn nuôi vỗ

Cá tạp (NT1)

50% Cá tạp + 50% TACN 40%P (NT2)

loại thức ăn bao gồm cho ăn 100% cá tạp (NT1) và 50% cá tạp + 50% TACN

Trang 21

40%P (NT2), mỗi nghiệm thức được bố trí với 3 lần lặp lại Thức ăn nuôi vỗ cá

bố mẹ được phân tích thành phần dinh dưỡng, các chỉ tiêu khảo sát bao gồm: Protein, lipid, tro, ẩm độ

* Protein: Xác định bằng phương pháp phân tích Kjeldah

* Lipid: Xác định bằng phương pháp Soxhlet

C

* Ẩm độ: Xác định theo phương pháp tính sự chênh lệch về khối lượng của mẫu

C trong 4-5h

Cá bố mẹ được kiểm tra định kỳ 15 ngày/1lần, mỗi nghiệm thức bắt ba cá thể để đánh giá mức độ thành thục Việc đánh giá mức độ thành thục của cá được thực hiện bằng quan sát trực tiếp kết hợp với giải phẫu Các chỉ tiêu khảo sát bao gồm

hệ số thành thục, sức sinh sản tuyệt đối và sức sinh sản tương đối

- Sự biến đổi về hệ số thành thục (HSTT) của cá, được tính theo công thức: HSTT (%) = 100 x (Wtsd/Wcá)

- Sức sinh sản tuyệt đối (F) được xác định theo công thức:

Hình 14: Sơ đồ bố trí thí nghiệm nuôi vỗ cá trê vàng

Trang 22

3.3.2 Thí nghiệm 2: Kích thích cá trê vàng rụng trứng

Nghiên cứu tác dụng của não thùy họ cá Chép, HCG, LHRHa + DOM lên khả chín và rụng trứng của cá trê vàng được bố trí theo kiểu khối hoàn toàn ngẫu nhiên, gồm 3 nghiệm thức (mỗi nghiệm thức thực hiện trên 3 mức nồng độ chất kích thích) và 3 lần gặp lại Mỗi mức nồng độ chất kích thích được tiêm ít nhất cho 3 cá cái

Sử dụng phép tiêm 2 lần: lần 1 sử dụng não thùy ở tất cả các nghiệm thức với liều lượng 1mg não/1kg cá cái Liều quyết định được tiêm sau liều sơ bộ 6 - 8h Cá đực được tiêm 1 liều bằng ¼ liều quyết định so với cá cái

Bảng 2: Liều lƣợng thuốc sử dụng kích thích sinh sản cá trê vàng

Nghiệm thức Loại thuốc Liều sử dụng cho 1kg cá cái

Hình 15: Cân cá và tiêm kích thích tố cho cá trê vàng

Khoảng 10 giờ sau khi tiêm kích thích tố, tiến hành kiểm tra sự rụng trứng

Hình 16: Kiểm tra sự rụng trứng của cá

Trang 23

Song song với thời điểm cá rụng trứng, bắt cá đực lau khô sạch phần bụng, dùng kéo bén đã sát trùng cắt bụng cá đực lấy buồng tinh

(e) (f)

Hình 17: Mổ lấy buồng tinh cá đực (e) và buồng tinh của cá (f)

Sau đó dùng kéo cắt nhuyễn tinh sào và dùng vải the vắt tinh, sau đó cho tinh vào trứng Dùng lông gà khuấy đều khoảng 5 phút rồi đem trứng vào vỹ ấp

Trứng được ấp bằng vỹ lưới, được giữ nổi lơ lửng với mật độ ấp là 20.000 – 30.000 trứng/m Sau khi thụ tinh, lấy trứng cho vào đĩa petri để theo dõi quá trình phát triển phôi

(g) (h)

Hình 18: Thụ tinh (g) và ấp trứng (h)

Các chỉ tiêu khảo sát trong kích thích sinh sản bao gồm:

Đường kính trứng trước khi đẻ: đo 30 tế bào trứng trên kính hiển vi có thước đo Đường kính trứng sau khi đẻ (trứng đã trương nước): đo 30 tế bào trứng trên kính hiển vi có thước đo

Thời gian hiệu ứng: là khoảng thời gian sau khi tiêm liều quyết định cho cá đến khi cá bắt đầu rụng trứng

- Thời gian trứng nở: là khoảng thời gian tính từ lúc thụ tinh đến khi trứng nở

Trang 24

Số cá rụng trứng

Tỷ lệ cá rụng trứng (%) = x 100

Tổng số cá cho đẻ

Số lượng trứng đẻ ra (trứng) SSS thực tế (trứng/gam cá cái) =

Khối lượng cá cái tham gia sinh sản (g)

Theo dõi các chỉ tiêu môi trường: DO, nhiệt độ, pH bể chứa cá đẻ, bể ấp trứng

Các chỉ tiêu này được xác định 2 lần mỗi ngày vào lúc: 6h và 14h

3.3.4 Thí nghiệm 3: Khảo sát một số chỉ tiêu sinh lý cá trê vàng giai đoạn cá

bột lên cá giống

3.3.4.1 Xác định thời gian cá dinh dƣỡng bằng noãn hoàng

 Bố trí thí nghiệm

Lấy 20 cá mới nở bố trí trong thau nhựa 5l, có sục khí nhẹ và đo nhiệt độ nước

trong thau định kỳ 3h/lần Trong suốt quá trình thí nghiệm không cho cá ăn Sự

tiêu biến noãn hoàng được xác định bằng cách quan sát những cá thể trên đĩa

petri đặt dưới kính hiển vi và chụp hình Lập lại 3 lần để khẳng định kết quả

 Ghi nhận kết quả

Ghi nhận kết quả theo dõi quá trình tiêu biến noãn hoàng tại các thời điểm: cá

mới nở và định kỳ các lần tiếp theo cho đến khi có 50% số cá quan sát tiêu biến

hết noãn hoàng Cơ sở các mốc xác định thời gian cá dinh dưỡng bằng noãn

hoàng được thiết kế dựa trên cơ sở xác định các mốc thời gian khi nghiên cứu các

chỉ số về sinh học cá của Pravdin (1973)

Mức độ tiêu biến noãn hoàng được đánh giá qua mức độ giảm đường kính mặt

cắt ngang của khối noãn hoàng (tính bằng %) Đường kính mặt cắt ngang của

khối noãn hoàng được xác định trên cùng một mặt cắt ngang Mức độ giảm

đường kính mặt cắt ngang của khối noãn hoàng (%) được tính theo công thức:

Trang 25

Dụng cụ chứa cá được đặt trong các thau nước Điều chính nhiệt độ môi trường gián tiếp qua các thau nước bằng nước nóng (Xác định ngưỡng nhiệt độ trên) hoặc nước lạnh (Xác định ngưỡng nhiệt độ dưới) theo nguyên tắc trong 1h nhiệt

đặt nhiệt kế Nghiệm thức đối chứng trong thí nghiệm này là nhiệt độ nước tự nhiên thuận lợi cho cá sống

và không cho oxy xâm nhập vào

 Thu mẫu và tính toán kết quả

Tiến hành thu mẫu nước trong bình hai vòi khi 50% số cá trong bình chết Cố định và phân tích mẫu nước bằng phương pháp Winkler

Trang 26

3.4.3.4 Xác định ngưỡng pH gây chết

 Bố trí thí nghiệm

loãng (pH=2,5 để làm giảm pH) hoặc NaOH loãng (pH=12 để tăng pH) Sử dụng máy đo pH để xác định các giá trị pH thí nghiệm

Xác định ngưỡng pH trên và dưới ở cá trê vàng được thực hiện ở cá 1, 5, 10, 20,

30, 40 và 50 ngày tuổi Dùng đồng thời 3 cốc thủy tinh 2L chứa 9 cá có cùng pH ban đầu là 7, sử dụng dung dịch H3PO4 loãng hoặc NaOH loãng để làm giảm hoặc tăng pH trong thời gian 60 phút ở mỗi mức pH Mỗi lần tăng hay giảm pH

là 0,5 đơn vị

 Thu mẫu và tính toán kết quả

Theo dõi hoạt động của cá trong các cốc trong thời gian 24h Ghi nhận giá trị pH thấp nhất và cao nhất có 50% cá chết Đó chính là ngưỡng pH dưới và trên của

Thí nghiệm được thực hiện ở cá 1, 5, 10, 20, 30, 40 và 50 ngày tuổi Cá được bố trí trong 3 cốc thủy tinh 2L, mỗi cốc chứa 3 cá thể theo trình tự tăng dần độ mặn

từ 5 - 15‰ trong thời gian 60 phút ở mỗi mức độ mặn

 Thu mẫu và tính toán kết quả

Theo dõi hoạt động của cá trong các cốc trong thời gian 24h Ghi nhận giá trị độ mặn thấp nhất có 50% cá chết Đó chính là ngưỡng độ mặn gấy chết của cá

3.3.5 Thí nghiệm 4: Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ ương lên tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ sống cá trê vàng giai đoạn từ cá bột lên cá giống

Thí nghiệm này được thực hiện trong hai giai đoạn

Giai đoạn 1: Ương từ cá bột lên cá hương (21 ngày tuổi)

nghiệm là 21 ngày Thí nghiệm được bố trí theo kiểu khối hoàn toàn ngẫu nhiên với 3 mật độ khác nhau tương ứng với 3 nghiệm thức, mỗi nghiệm thức được lặp

chuẩn bị trước Cá được cho ăn tối đa theo nhu cầu với 100% Moina sp trong tuần đầu, trùn chỉ kết hợp với Moina sp (tỷ lệ 1/1) ở tuần thứ hai và sau đó là

100% trùn chỉ

Trang 27

Cá được cho ăn mỗi ngày 3 lần Định kỳ 7 ngày 1 lần bắt 30 cá thể trong các nghiệm thức để kiểm tra về chiều dài và khối lượng Trước khi cân, đo ngưng cho cá ăn 1 buổi Quá trình bắt mồi của cá và thức ăn thừa được theo dõi, xi phông và cấp thêm nước hàng ngày Bể được sục khí liên tục Kết thúc 21 ngày thu hoạch cá và tính tỷ lệ sống

Định kỳ 7 ngày thay nước 1 lần, mỗi lần thay 30% lượng nước

Hình 19: Sơ đồ bố trí thí nghiệm ương cá trê vàng giai đoạn bột lên hương

Giai đoạn 2: Ương từ cá hương lên cá giống

Thí nghiệm được bố trí trong vèo (kích thước 1 x 1 x 2 m), vèo được đặt trong ao

theo kiểu khối hoàn toàn ngẫu nhiên với 3 mật độ khác nhau tương ứng với 3 nghiệm thức, mỗi nghiệm thức được lặp lại 3 lần với mật độ lần lượt là 200

sản phẩm của thí nghiệm 1, cá được cho ăn tối đa theo nhu cầu với 100% cá tạp

Cá cho ăn 2 lần/ngày Định kỳ 10 ngày 1 lần bắt 30 cá thể trong các nghiệm thức

để kiểm tra về chiều dài và khối lượng Trước khi cân, đo ngưng cho cá ăn 1 buổi

Hình 20: Sơ đồ bố trí thí nghiệm ương cá trê vàng giai đoạn hương lên giống

Trang 28

3.3.6 Thí nghiệm 5: Ảnh hưởng của các loại thức ăn đến tốc độ tăng trưởng

và tỷ lệ sống của cá trê vàng giai đoạn hương lên cá giống

Sau khi thí nghiệm 4 kết thúc, có được mật độ phù cho sinh trưởng và phát triển của cá, tiến hành thực hiện thí nghiệm 5 TN5 được thực hiện trong vèo với 3 loại thức ăn tương ứng với 3 nghiệm thức, mỗi nghiệm thức được lặp lại 3 lần Với nghiệm thức I (NT1) được sử dụng thức ăn là cá tạp, nghiệm thức II (NT2) là thức ăn công nghiệp dạng thức ăn chìm 35%P, nghiệm thức III (NT3) là 50% cá tạp + 50% thức ăn công nghiệp 35%P Thí nghiệm được bố trí trong vèo (1x1x 2m) Cá cho ăn theo nhu cầu với tần suất 2 lần/ngày Định kỳ 10 ngày 1 lần bắt

30 cá thể trong các nghiệm thức để kiểm tra về chiều dài và khối lượng Trước khi cân, đo ngưng cho cá ăn 1 buổi

Hình 21: Cho cá ăn Hình 22: Kiểm tra sàn ăn

3.3.7 Phương pháp thu thập số liệu

Các chỉ tiêu chất lượng nước trong thí nghiệm 4 và 5 như nhiệt độ được đo trực tiếp bằng nhiệt kế hàng ngày; chỉ tiêu pH, DO, NO2-, NH3/NH4+ đo bằng test nhanh và định kỳ đo 3 ngày/lần, thời gian đo sáng 6-7h, chiều 14-15h

Theo dõi tăng trưởng của cá:

- Khối lượng được đo bằng cách cân từng cá thể bằng cân điện tử

- Chiều dài: được xác định bằng cách đo từng cá thể bằng giấy kẻ ô li

- Tăng trưởng về khối lượng được tính theo công thức:

Tốc độ tăng trưởng đặc biệt (Specific growth rate)

SGR (%/ngày) = 100 * (LnW2 – LnW1)/(t2 – t1)

Tốc độ tăng trưởng khối lượng theo ngày (Daily weight gain)

DWG (g/ngày) = ( W2 – W1)/(t2 – t1)

Trong đó: W1, L1: Khối lượng và chiều dài tại thời điểm t1

Wt2, L2: Khối lượng và chiều dài tại thời điểm t2

(t2-t1) khoảng thời gian khảo sát

Xác định tỷ lệ sống theo công thức: SR(%) = (Số cá thu hoạch/số cá thả) x 100

Trang 30

Chương 4 KẾT QUẢ THẢO LUẬN 4.1 Các chỉ tiêu môi trường trong quá trình thí nghiệm

4.1.1 Nhiệt độ

Lê Văn Cát và ctv (2006) xác định nhiệt độ ảnh hưởng một cách trực tiếp hay

gián tiếp đến năng suất hệ sinh thái ao, cùng với các thông số khác đặc trưng cho chất lượng nước

Kết quả nhiệt độ trong quá trình thí nghiệm được hiện ở bảng 3 sau:

Bảng 3: Giá trị nhiệt độ của các nghiệm thức

NT Nhiệt độ sáng ( 0 C) Nhiệt độ chiều ( 0 C) Thí nghiệm 1 Nuôi vỗ cá trê vàng

Trương Quốc Phú và Vũ Ngọc Út (2006) đã xác định nhiệt độ thích hợp cho sự

nghiên cứu của Võ Thị Thùy Trang (2009) trong quá trình phát triển phôi của cá

nhiệt độ trên là 41,50C Nhiệt độ trung bình ở các nghiệm thức trong quá trình

(thí nghiệm 2); 28,47 – 30,430C (thí nghiệm 4a); 28,94 – 31,150C (thí nghiệm

sinh sản và phát triển của cá trê vàng

Trang 31

4.1.2 pH

pH là một trong những nhân tố môi trường có ảnh hưởng rất lớn trực tiếp và gián tiếp đối với đời sống thủy sinh vật như: sinh trưởng, tỷ lệ sống, sinh sản và dinh dưỡng Khoảng pH tối ưu cho tôm cá nước ngọt phát triển và sinh sản là 6,5 – 9

pH có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của phôi, quá trình sinh trưởng, dinh dưỡng và sinh sản của cá Cá sống trong môi trường có pH thấp sẽ chậm phát dục, nếu quá thấp sẽ không đẻ hay ít đẻ (Trương Quốc Phú và Vũ Ngọc Út, 2006;

Lê Văn Cát và ctv, 2006) Nếu môi trường ấp trứng cá bột có pH 4,5 – 5 thì trứng

cá bột chết toàn bộ (Vương Học Vinh, 2008) Theo Võ Thị Thùy Trang (2009) đã xác định ngưỡng pH dưới, pH trên trong phát triển phôi cá trê vàng lần lượt là 3,8 và 9,2

Theo Aliokin (1970, trích từ Đặng Ngọc Thanh, 1974) cho rằng pH dao động từ 6,5 – 8,5 là rất thích hợp cho sự phát triển của tất cả các loài cá

Trong quá trình thí nghiệm, pH được ghi nhận dao động trong khoảng 7,61 – 8,12 (thí nghiệm 1); 7,13 – 7,33 (thí nghiệm 2); 7,72 – 7,90 (thí nghiệm 4a); 7,84 – 8,09 (thí nghiệm 4b); 7,42 – 8,04 (thí nghiệm 5) Giá trị pH thích hợp cho sự phát triển của của các loài thủy sản là 6,5 – 9,0 (Trương Quốc Phú và Vũ Ngọc

Út, 2006; Swingle, 1969 trích từ Nguyễn Đình Trung, 2000) Như vậy, giá trị pH

ở các thí nghiệm thể hiện trong bảng 4 nằm trong khoảng thích hợp cho hoạt động sinh lý bình thường của cá trê vàng

Bảng 4: Giá trị pH của các nghiệm thức

Trang 32

4.1.3 DO

Oxy là chất khí quan trọng nhất trong số các chất khí hòa tan trong môi trường nước Nó rất cần đối với đời sống sinh vật đặc biệt là thuỷ sinh vật, vì hệ số khuếch tán oxy trong nước nhỏ hơn rất nhiều so với trong không khí (Trương Quốc Phú và Vũ Ngọc Út, 2006)

Theo Swingle (1969, trích từ Nguyễn Đình Trung, 2000), hàm lượng oxy hòa tan ảnh hưởng trực tiếp lên sức khỏe của cá Nếu hàm lượng oxy hòa tan từ 0 - 0,3 mg/l cá còn có thể sống được nếu nhiệt độ thấp, từ 0,3 - 1 mg/l cá chết ngạt nếu nhiệt độ cao, từ 1 – 5 mg/l cá có thể sống nhưng phát triển chậm, từ 5 mg/l trở lên sẽ thích hợp cho sự sinh trưởng và phát triển của cá

Khi nồng độ oxy hòa tan dưới 5 mg/l thì cá sẽ có phản ứng tự điều chỉnh một số quá trình thay đổi sinh lý nhằm giảm thiểu lượng oxy tiêu thụ hoặc tăng cường

hoạt động của mang để trao đổi khí được nhiều hơn (Lê Văn Cát và ctv, 2006)

Theo Phạm Minh Thành và Nguyễn Văn Kiểm (2009) thì hàm lượng oxy hòa tan thấp hơn 2 mg/l thì phôi sẽ chết ngạt dẫn đến giảm tỉ lệ nở, phôi phát triển bình thường khi hàm lượng oxy từ 3 trở lên Nhu cầu oxy của trứng tăng dần theo giai đoạn phát triển, sẽ tăng đột ngột từ giai đoạn xuất hiện mầm đuôi nhất là giai đoạn trước và sau khi nở

Kết quả DO trong quá trình ương được ghi nhận và thể hiện ở bảng 5 sau:

Trang 33

Oxy hòa tan trong quá trình thí nghiệm dao động từ 4,43 – 4,47 ppm (thí nghiệm 1); 4,00 – 4,44 (thí nghiệm 2); 4,83 – 5,23 (thí nghiệm 4a); 4,75 – 5,00 (thí

nghiệm 4b); 4,62 – 5,03 (thí nghiệm 5) Theo Lê Văn Cát và ctv (2006) thì hàm

lượng oxy hòa tan thích hợp cho cá nuôi là 3,0 – 5,0 ppm Với khoảng oxy dao động trên hoàn toàn thích hợp cho sự phát triển của cá trê vàng

4.1.4 NH 3 /NH 4 +

0,6 – 1,0 ppm

Nồng độ gây chết (48 -96h) LC50 của amoniac đối với cá tôm nằm trong khoảng 0,2 – 3,0 ppm tùy thuộc vào loài, độ tuổi và trạng thái hoạt động (Lê Văn Cát và

ctv, 2006)

chết nó làm tăng nhu cầu oxy của tôm, cá và làm cho tôm cá tăng trưởng chậm (Nguyễn Đình Trung, 2000)

Ghi chú : Các giá trị thể hiện là giá trị trung bình và độ lệch chuẩn của nghiệm thức

hiện trong bảng 6 đều nằm trong giới hạn an toàn và thích hợp cho quá trình sinh trưởng và phát triển của cá

Trang 34

4.1.5 NO 2 -

NO2- có trong thủy vực là sản phẩm của quá trình Nitrate hóa hay phản ứng Nitrate hóa Là dạng đạm ảnh hưởng gây độc đối với thủy sinh vật Ảnh hưởng độc của nó đối với cá là chúng kết hợp với hemoglobine của máu hình thành methemoglobine ngăn cản việc oxy kết hợp với hemoglobine làm cá chết ngạt (Nguyễn Văn Thường, 2006; Nguyễn Văn Tư, 2005)

Theo Colt và Armstrong (1979, trích từ Trương Quốc Phú và Vũ Ngọc Út, 2006)

2,00 ppm

Ghi chú : Các giá trị thể hiện là giá trị trung bình và độ lệch chuẩn của nghiệm thức

Hàm lượng NO2- cho phép trong ao nuôi cá là 0,01 - 1 mg/l (Nguyễn Văn Bé,

nằm ở giới hạn an toàn cho sự sinh trưởng và phát triển của cá

4.2 Ảnh hưởng của thức ăn đến sự thành thục sinh dục cá trê vàng

4.2.1 Thành phần dinh dưỡng của các loại thức ăn

Bảng 8: Thành phần hóa học của các loại thức ăn sử dụng trong thí nghiệm

Protein Lipid Tro Ẩm độ

Trang 35

Kết quả phân tích thành phần hóa học của thức ăn dùng nuôi vỗ cá bố mẹ (bảng

8) cho thấy hàm lượng protein ở nghiệm thức 2 (29,2%) cao hơn so với nghiệm

thức 1 (24,4%)

4.2.2 Biến động giai đoạn thành thục của cá trê vàng theo thời gian nuôi vỗ

sau 30 ngày nuôi vỗ, cá ở hai nghiệm thức chưa có sự khác nhau về tỉ lệ các giai

đoạn thành thục sinh dục (Bảng 9) Sau 60 ngày tỉ lệ cá có tuyến sinh dục giai

Ghi chú: GĐTTSD: giai đoạn thành thục sinh dục, thời gian nuôi vỗ tính theo ngày

4.2.3 Sự biến động về HSTT của cá trê vàng theo thời gian nuôi vỗ

Sự biến động hệ số thành thục của cá trê vàng được thể hiện ở bảng 10:

Bảng 10: Sự biến động HSTT của cá trê vàng qua các tháng nuôi vỗ

Ghi chú: Giá trị số trong cùng cột có cùng ký tự thì khác biệt không có ý nghĩa (p>0,05)

Hệ số thành thục của cá tăng dần theo thời gian nuôi vỗ Không có sự khác biệt

có ý nghĩa thống kê (p> 0,05) về hệ số thành thục của cá khi sử dụng 2 loại thức

ăn trên Điều này có thể kết luận rằng có thể dùng hoàn toàn thức ăn là cá tạp

hoặc cá tạp kết hợp thức ăn công nghiệp để nuôi vỗ thành thục cá trê vàng

Trang 36

4.2.4 Sức sinh sản tuyệt đối (F) và sức sinh sản tương đối (SSSTĐ) của cá

Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng sức sinh sản của cá tăng theo khối lượng cá Sức sinh sản tuyệt đối và tương đối của cá được trình bày ở Bảng 11:

Bảng 11: So sánh sức sinh sản của cá ở hai nghiệm thức thức ăn

Ghi chú: Các giá trị thể hiện là giá trị trung bình và độ lệch chuẩn của nghiệm thức

Sức sinh sản tương đối của cá trê vàng trong nghiên cứu này (76 – 110 trứng/g ở nghiệm thức 1 và 101 – 116 trứng/g ở nghiệm thức 2) cao hơn so với kết quả khảo sát của Nguyễn Văn Kiểm (2006) trên cá trê vàng là 40 - 50 trứng/g Điều này có thể nhận định rằng sức sinh sản của cá không chỉ phụ thuộc vào khối lượng mà còn phụ thuộc vào chế độ dinh dưỡng, điều kiện sống

4.3 Kết quả kích thích cá trê vàng sinh sản nhân tạo

4.3.1 Kết quả kích thích sinh sản cá trê vàng bằng não thùy cá Chép

Bảng 12: Ảnh hưởng của não thùy đến sự rụng trứng của cá trê vàng

Sss thực tế

TL thụ tinh

Ghi chú: Mỗi nghiệm thức được lặp lại 3 lần (n=9)

Thí nghiệm sử dụng não thùy được lặp lại 3 lần ở các liều lượng 8 mg/kg, 9

sau khi tiêm não, theo dõi đến 36 giờ thấy toàn bộ cá cái không có biểu hiện rụng trứng Kết quả này cho thấy não thùy ở 3 liều 8, 9, 10 mg/kg kém hiệu quả trong việc kích thích cá trê vàng sinh sản

Theo Nguyễn Tường Anh (1999) thì việc sử dụng não thùy tiêm cho các loài cá

bố mẹ phụ thuộc nhiều vào các yếu tố như: hoạt tính của não thùy, tình trạng thành thục và sức khỏe cá bố mẹ, nhiệt độ nước và các điều kiện môi trường khác,… đối với cá có hệ số thành thục cao người ta thường dùng não thùy để kích thích cá sinh sản với liều càng cao

Trang 37

Ngoài ra, theo nghiên cứu của Quazizahangir Hossain et al (2006) khi sử dụng

não thùy trong việc đánh giá hiệu quả sinh sản của cá trê trắng tự nhiên và cá trê trắng được nuôi vỗ Tác giả sử dụng ở nồng độ rất cao với liều sơ bộ từ 5 – 20 mg/kg cá cái và liều quyết định 30 – 60 mg/kg cá cái, cá đực với liều 15 m/kg Kết quả cho thấy cả ở hai điều kiên tự nhiên và nuôi vỗ cá rụng trứng tốt khi tiêm liều sơ bộ 10 mg/kg và liều quyết định 45 mg/kg cho tỉ lệ rụng trứng từ 86 - 90,33 %; tỷ lệ thụ tinh 88,33 - 94 % và tỉ lệ nở đạt 84,33 - 89,67%

Việc cá trê vàng không rụng trứng trong thí nghiệm này có thể do chất lượng não thùy chưa ổn định kết hợp với việc nồng độ não sử dụng còn thấp nên chưa gây nên sự chín và rụng trứng ở cá

4.3.2 Kết quả sinh sản nhân tạo cá trê vàng bằng kích dục tố HCG

Bảng 13: Ảnh hưởng của HCG đến sự rụng trứng của cá trê vàng

Sss thực tế

Ghi chú: Mỗi nghiệm thức được lặp lại 3 lần (n=9) Giá trị trong cùng một cột có cùng

ký tự thì khác biệt không có ý nghĩa thống kê (P>0,05)

Khi sử dụng kích HCG kích thích cá đẻ ở các mức nồng độ 2000, 2500, 3000

quả của Hồ Châu Phương Quang (2009) (tỷ lệ rụng trứng đạt 52,5%, 61,3% và 94,4% khi sử dụng HCG ở liều 2000, 2500 và 3000 UI/kg cá cái) Nguyên nhân của sự khác biệt này có thể do chất lượng thành thục của cá khi nuôi vỗ Cá thành thục tốt thì chỉ cần một lượng nhỏ hormone đã gây sự rụng trứng ở cá (Nguyễn Tường Anh, 2004)

Sức sinh sản thực tế dao động 76 - 86 trứng/g cá cái, tỷ lệ thụ tinh từ 72,33 - 90,95%, tỷ lệ nở 72,60 - 83,11%, tỷ lệ sống cá bột 3 ngày tuổi 73,50 - 84,40% Tuy nhiên, ở liều 2000 UI/kg cá cái đã cho kết quả cao nhất với tỷ lệ thụ tinh 90,95%, tỷ lệ sống cá bột 3 ngày tuổi 84,40% khác có ý nghĩa thống kê so với các nghiệm thức còn lại (P< 0,05) Kết quả này khả quan hơn nghiên cứu của Hồ Châu Phương Quang (2009) khi thử nghiệm sinh sản nhân tạo cá trê vàng lai (cá trê phi đực và cá trê vàng cái) với liều 2000, 2500 và 3000 UI/kg với tỷ lệ thụ tinh; tỷ lệ nở tương ứng lần lượt là 63,7 – 75,6%; 80,1 – 82,4%

Như vậy trong phạm vi nghiên cứu này thì liều lượng HCG sử dụng kích thích cá sinh sản được khuyến cáo sử dụng là 2000 UI/kg cá cái

Trang 38

4.3.3 Kết quả sinh sản cá trê vàng bằng kích thích tố LHRHa + Dom

Bảng 14: Ảnh hưởng của LHRHa + DOM đến sự rụng trứng của cá trê vàng

Sss thực

tế

TL thụ tinh

Ghi chú: Mỗi nghiệm thức được lặp lại 3 lần (n=9) Giá trị trong cùng một cột có cùng

ký tự thì khác biệt không có ý nghĩa thống kê (P>0,05%)

cái lần lượt là 21 giờ 50’, 18 giờ 21’, 15h 38’ Kết quả này phù hợp với kết quả nhận định của Nguyễn Tường Anh (1999) khi sử dụng kích dục tố sinh sản nhân tạo các loài cá thì việc tăng liều lượng kích dục tố hay nhiệt độ nước tăng trong khoảng giới hạn thì thời gian hiệu ứng ở cá được rút ngắn

Ở các liều lượng 50, 60, 70 µg/kg cá cái đều cho tỉ lệ rụng trứng 100% và tỉ lệ thụ tinh ở các nghiệm thức lần lượt là 77,99%, 80,64% và 78,69%, không có sự khác biệt về mặt thống kê giữa các mức nồng độ trên (P > 0,05), sức sinh sản dao động 70 - 85 trứng/g cá cái Tỷ lệ nở cao nhất thuộc về liều 70 µg/kg cá cái (83,1%) Kết quả này cao hơn nghiên cứu của Nguyễn Văn Kiểm và Huỳnh Kim

Hường (2006) khi thử nghiệm kích thích sinh sản nhân tạo cá trê trắng bằng

LHRHa+DOM ở liều 40, 50, 60 µg/kg cá cái với tỷ lệ rụng trứng 85,41%, tỷ lệ thụ tinh 76,27% và tỷ lệ nở 41,21%

Như vậy có thể kết luận rằng có thể sử dụng LHRHa + Dom để với liều lượng từ

50 – 70 µg/kg cá cái để kích thích rụng trứng cá trê vàng, trong đó liều bằng 70 µg/kg được khuyến cáo sử dụng

4.3.4 Sự phát triển phôi của cá trê vàng

Thời gian phát triển của phôi được tính từ khi trứng đựợc thụ tinh đến khi cá nở Trong thời kỳ phát triển phôi, trứng của tất cả các loài cá nói chung đều rất nhạy cảm với các yếu tố môi trường như: nhiệt độ, oxy hoà tan, pH Nếu các yếu tố môi trường biến động trong khoảng thích hợp, phôi phát triển bình thường, thế hệ

con sinh ra khoẻ mạnh (Chung Lân và ctv, 1963) Trong điều kiện nhiệt độ dao

phát triển phôi trong vỏ trứng là 22 giờ 30 phút Sau khi nở cá nằm đáy, dinh dưỡng bằng noãn hoàng, lúc này chiều dài cá được 3,78 ± 0,2 mm Sau 3 ngày tuổi cá đạt 7,21 ± 0,3 mm

Như vậy thời gian phát triển phôi của cá trê vàng tương tự như, trê phi (22 – 23h), trê vàng lai (22 – 26h), cá trê trắng (22 – 23h) (Bạch Thị Quỳnh Mai, 1999; Lâm Ngọc Huệ, 2005)

Trang 39

Bảng 15: Quá trình phát triển phôi của cá trê vàng trong điều kiện nhiệt độ

28 – 30 0 C

Stt Thời Gian Giai đoạn phát triển Kích thước

(mm) Giờ Phút

4.3.5 Kết quả đường kính trứng và sức sinh sản ở cá trê vàng

Trứng cá trê vàng thuộc loại trứng dính, màu nâu nhạt, đường kính dao động 1,1

- 1,3 mm, đường kính trứng sau khi trương nước dao động 1,9 - 2,1 mm và sức

Trang 40

Bảng 16: So sánh đường kính trứng giữa các loài cá trê

Loài cá r (mm) SSS tương đối Ghi chú

từ Lâm Ngọc Huệ, 2005) Trê đen

Trê phi

1,78-1,82 1,20-1,40

Ngô Trọng Lư và Lê Đăng Khuyến, 2000 Kết quả thí

Thời gian và mức độ giảm đường kính noãn hoàng được thể hiện ở bảng sau:

Bảng 17: Thời gian và mức độ giảm đường kính noãn hoàng cá trê vàng

Thời gian sau khi nở

(giờ)

Đường kính noãn hoàng

(mm)

Mức độ giảm đường kính noãn hoàng (%)

chấm (Hemibargus guttalus) là 10 ngày (Thái Bá Hồ và Nguyễn Thị An, 2007)

và dài hơn so với cá chẽm (Lates calcarifer) là 24h (Walford and Lam, 1993); cá kết (Micronema bleekeri) là 72h (Nguyễn Văn Triều et al., 2008)

Ngày đăng: 15/04/2021, 19:47

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm