1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu đặc điểm sinh học sinh sản và thử nghiệm ương lươn đồng monopterus albus bằng các loại thức ăn khác nhau

107 56 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 107
Dung lượng 1,24 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nội dung - Xác định mùa vụ sinh sản, hệ số thành thục - Xác định sức sinh sản tuyệt đối - Xác định giới tính và sự liên quan của giới tính với kích thước và khối lượng - Khảo sát các gi

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN

BỘ MÔN NUÔI TRỒNG THỦY SẢN

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC SINH SẢN VÀ

BẰNG CÁC LOẠI THỨC ĂN KHÁC NHAU

Chủ nhiệm đề tài: Ths PHAN THỊ THANH VÂN

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN

BỘ MÔN KHOA NUÔI TRỒNG THỦY SẢN

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC SINH SẢN VÀ

BẰNG CÁC LOẠI THỨC ĂN KHÁC NHAU

Chủ nhiệm đề tài: Ths PHAN THỊ THANH VÂN Cán bộ phối hợp: K.s PHAN THANH TÂN

Trang 3

Xin gởi lời cảm ơn đến:

PGs.Ts Nguyễn Anh Tuấn và tiến sĩ Đỗ Thị Thanh Hương, Khoa Thủy Sản trường Đại Học Cần Thơ đã hổ trợ các trang thiết bị phục vụ cho việc cắt mô và hóa chất phân tích hàm lượng hormone trong máu

Em Phan Thanh Tân, Nguyễn Thị Bích Thắm cùng cộng tác tích cực trong suốt thời gian thực hiện đề tài

Trang 4

17 β Estradiol

Kết quả nghiên cứu cho thấy đa số lươn có chiều dài cơ thể nhỏ hơn 30 cm là ở phase cái, lớn hơn 50 cm chủ yếu là lươn đực và khoảng giữa thường là lưỡng tính Kết quả quan sát mô học tuyến sinh dục lưỡng tính tồn tại tinh nguyên bào, tinh tử và trứng ở các giai đoạn 1, 2, 3 Như vậy sự chuyển đổi từ cái sang lưỡng tính rồi đực chỉ xảy ra trên cùng một tuyến sinh dục của lươn Lươn cái có hệ số thành thục cao nhất là 14,9%, lươn lưỡng tính là 9,4%, lươn đực là 0,53% Mùa vụ sinh sản chính tập trung vào đầu mùa mưa, kích cỡ thành thục của lươn cái có chiều dài tổng lớn hơn 25 cm, khối lượng thân trên 16 g Sức sinh sản thấp (143- 6813 trứng/ lươn cái), kích thước đường kính trứng tương đối lớn (giai đoạn IV: 0,9-2,01 mm) Hàm lượng T trong huyết tương lươn đực cao nhất là 3,09 ng/ml, và 17 β Estradiol trong huyết thanh lươn cái cao nhất là 0,96 ng/ml Đối với lươn lưỡng tính nồng độ 17 β Estradiol có chiều hướng giảm Kết quả ương lươn ở giai đoạn từ 3- 23 ngày tuổi với 2 loại thức ăn khác nhau (moina

và artemia) là không có sự khác biệt về mặt thống kê (p> 0.05) Khi sử dụng các loại thức ăn khác nhau trong ương lươn từ 20-40 ngày tuổi cho kết quả tăng trưởng tốt nhất

ở nghiệm thức sử dụng trùng chỉ, trùng chỉ kết hợp với thức ăn chế biến và khác biệt có

ý nghĩa thống kê với các nghiệm thức khác (p< 0,05)

Trang 5

The ricefield eel, Monopterus albus, were obtained from Chau phu and Chau thanh

districts every month (30 samples) within a year for studying the reproductive physiology The samples were transferred from the ricefield to the laboratory at the College of Aquaculture and Fisheries, Cantho University for analysis After the morphological characterization were performed, an incision on the ventral body wall was made, the gonad was gentle pulled out and weighed for determination of the gonadosomatic index (GSI), a small portion of the gonadal tissue was fixed in Bouin’s solution for histological examination Blood samples (30)were obtained by puncture of the caudal vasculature for analysis testosterone and 17 β Estradiol

The results show that the body length of female ricefield eels were lower than 30 cm and of the male ricefield eels were higher than 50 cm and of the hermaphrodite ricefield eels were from 40 to 50 cm The gonads of the hermaphrodite ricefield eels contained both secondary spermatocytes and previtellogenic oocytes These observations suggest that the ricefield eel is protogynous hermaphrodite which develops initially as female and then change sex as a functional male The highest of GSI of the female, hermaphrodite and male rice field eels were 14,9%, 9.4% and 0,53% respectively The season of reproduction is beginning of the rainy season The body length and weight of mature female eel are 25 cm and 16 g respectively The productivity of ricefield eel reproduction is low (143- 6813 eggs/ female) The average size of vitellogigenic oocytes is high (0,9 – 2,01 mm) The highest concentration of testosterone in the serum

of male rice field eel is 3,09 ng/ mL and of the 17 β Estradiol in the serum of female rice field eel is 0,96 ng/ mL The concentration of 17 β Estradiol in serum of the

hermaphrodite eel decreased lightly

The results of nursery rice field eels frome 3 to 23 days old with two type feed (moina and artemia) show that survival rate and growth of rice field eels were not significanly difference (p> 0,05) When uesed difference 5 type on nursery ricefield eels frome 20 to

40 days old, the best growth was obtained in the treaments fed with Tubifex sp, combined diet of Tubifex sp and processed food and significantly different to other

treaments (p< 0,05)

Trang 6

MỤC LỤC

Lời cảm tạ i

Tóm tắt ii

Abstract iii

Mục lục iv

Danh sách bảng vii

Danh sách hình viii

CHƯƠNG 1 1

MỞ ĐẦU 1

I MỤC TIÊU VÀ NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 1 Mục tiêu 1

2 Nội dung 1

II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 2

1 Đối tượng 2

2 Phạm vi 2

III CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2

1 Cơ sở lý luận 2

1.1 Đặc điểm sinh học lươn đồng (Monopterus albus) 2

1.1.1 Vị trí phân lọai và hình thái cấu tạo 2

1.1.2 Đặc điểm phân bố 3

1.1.3 Đặc điểm dinh dưỡng và sinh trưởng 4

1.1.4 Đặc điểm sinh sản 5

1.2 Sản xuất giống lươn đồng (Monopterus albus) 7

1.3 Kỹ thuật ương nuôi lươn đồng 8

1.3.1 Một số kết quả về ương lươn đồng 8

1.3.2 Một số kết quả nghiên cứu về nuôi thịt lươn đồng 9

2 Phương tiện và phương pháp nghiên cứu 13

2.2 Phương pháp nghiên cứu 13

2.2.1 Thu mẫu và cố định mẫu nghiên cứu sinh học 13

2.2.2 Các chỉ tiêu nghiên cứu sinh học 14

2.2.3 Thử nghiệm ương lươn đồng bằng các loại thức ăn khác nhau 15

CHƯƠNG II 17

Trang 7

3 Các giai đoạn phát triển của tuyến sinh dục 21

3.1 Các giai đoạn phát triển của noãn sào 22

3.2 Các giai đoạn phát triển tinh sào……… 23

3.3 Các giai đoạn trứng và tinh bào của tuyến sinh dục lưỡng tính 25

3.4 Kích thước trứng qua các giai đoạn phát triển 26

4 Mùa vụ sinh sản 26

5 Sức sinh sản 30

6 Hàm lượng Testosterone (T) và 17 β Estradiol (E2) trong huyết tương lươn đồng theo giới tính 34

II Thử nghiệm ương lươn bằng các loại thức ăn khác nhau 35

1 Môi trường bể thí nghiệm 35

2 Các chỉ tiêu theo dõi 36

2.1 Thí nghiệm 1 36

2.1.1 Tỷ lệ sống của lươn thí nghiệm 36

2.1.2 Sinh trưởng của lươn thí nghiệm 37

2.2 Thí nghiệm 2 38

2.2.1 Tỷ lệ sống của lươn thí nghiệm 38

2.2.2 Sinh trưởng của lươn thí nghiệm 38

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 41

I Kết luận 41

II Đề xuất 41

TÀI LIỆU THAM KHẢO 42

Phụ lục 1: Thống kê giới tính lươn qua các đợt thu mẫu 45

Phụ lục 2A: Chiều dài TB đực, cái, lưỡng tính tính qua các tháng thu mẫu 46

Phụ lục 2B: Khối lượng TB đực, cái, lưỡng tính tính qua các tháng thu mẫu 46

Phụ lục 3: Quan hệ BW, L & sức sinh sản tuyệt đối 48

Phụ lục 4A: Hệ số thành thục của lươn cái qua các tháng 50

Phụ lục 4B: Hệ số thành thục của lươn lưỡng tính qua các tháng 52

Phụ lục 4C: Hệ số thành thục của lươn đực qua các tháng 55

Phụ lục 5A: GSI lươn cái theo tháng 58

Phụ lục 5B: GSI lươn lưỡng tính theo tháng 59

Phụ lục 5C : GSI lươn đực theo tháng 61

Trang 8

Phụ lục 8A: Theo dõi tăng trọng lươn ở thí nghiệm 1 69

Phụ lục 8B: Theo dõi tăng trọng lươn ở thí nghiệm 2 70

Phụ lục 9: Tỷ lệ sống 74

Phụ lục 10: Theo dõi môi trường 75

Phụ lục 10A: Tăng trọng lươn tn1 84

Phụ lục 10B: Tăng trọng lươn tn2 84

Phụ lục 11A: Tỷ lệ sống tn1 86

Phụ lục 11B: Tỷ lệ sống tn2 86

Trang 9

DANH SÁCH BẢNG

Bảng 1: Một số tên khác được sử dụng (Theo fishbase.org) 2

Bảng 2: Tốc độ sinh trưởng của lươn đồng (Monopterus albus) theo một số tác giả 5

Bảng 3: Ảnh hưởng của 18 lần tiêm (2lần/tuần): sGnRH-A, DOM, sGnRH-A+ DOM hoặc não thùy cá chép lên sự thay đổi giới tính của lươn đồng cái 7

Bảng 4: Sử dụng chất kích thích lươn đồng đẻ 8

Bảng 5: Kết quả nuôi lươn đồng theo một số tác giả 11

Bảng 6: Một số bệnh ở lươn đồng theo một số tác giả 12

Bảng 7: Chiều dài và khối lượng lươn theo giới tính 20

Bảng 8: Trung bình đường kính trứng lươn ở các giai đoạn thành thục(n=30) 26

Bảng 9: Sức sinh sản của lươn qua các đợt thu mẫu 31

Bảng 10: Sức sinh sản của lươn ở các nhóm chiều dài khác nhau 32

Bảng 11: Quan hệ giữa chiều dài, khối lượng cơ thể, khối lượng tuyến sinh dục với giới tính 32

Bảng 12: Kết quả kiểm tra hàm lượng hormone trong huyết tương lươn bằng phương pháp Elisa 34

Bảng 13: Các yếu tố môi trường trong thí nghiệm 1 36

Bảng 14 Các yếu tố môi trường trong thí nghiệm 2 36

Bảng 15: Tỷ lệ sống của lươn thí nghiệm 1 37

Bảng 16: Ảnh hưởng của các loại thức ăn lên sự sinh trưởng của lươn thí nghiệm1 37

Bảng 17: Tỷ lệ sống của lươn thí nghiệm 2 38

Bảng 18: Ảnh hưởng của các loại thức lên sự sinh trưởng của lươn thí nghiệm 2 39

Bảng hình 1: Các giai đoạn phát triển của tuyến sinh dục cái và tế bào trứng lươn 22

Bảng hình 2: Các giai đoạn phát triển của tuyến sinh dục đực và tinh trùng lươn 24

Trang 10

DANH SÁCH HÌNH

Hình 1: Tương quan chiều dài và khối lượng lươn 17

Hình 2: Tỷ lệ cái, lưỡng tính, đực qua các tháng thu mẫu 18

Hình 3: Tỷ lệ cái, lưỡng tính, đực qua các tháng thu mẫu (Khộng kể số không xác định) 18

Hình 4: Tỷ lệ giới tính ở các nhóm chiều dài khác nhau 19

Hình 5: Tỷ lệ cái, lưỡng tính, đực theo các nhóm khối lượng 19

Hình 6: Khối lượng trung bình cái, lưỡng tính, đực qua các tháng thu mẫu 20

Hình 7: Chiều dài trung bình cái, lưỡng tính, đực qua các tháng thu mẫu 21

Hình 8: Hình thái ngoài tuyến sinh dục lươn cái 23

Hình 9: Hình thái ngoài tuyến sinh dục lươn đực 25

Hình10: Các dạng tuyến sinh dục lưỡng tính của lươn qua quan sát mô 25

Hình 11: Hình thái ngoài tuyến sinh dục lươn lưỡng tính 26

Hình 12: Hệ số thành thục của lươn cái qua các tháng 27

Hình 13: Hệ số thành thục của lươn cái ở các nhóm chiều dài khác nhau 27

Hình 14: Hệ số thành thục của lươn lưỡng tính qua các tháng 28

Hình15: Hệ số thành thục của lươn lưỡng tính ở các nhóm chiều dài khác nhau 29

Hình 16: Hệ số thành thục của lươn đực qua các tháng 29

Hình 17: Hệ số thành thục của lươn đực ở các nhóm chiều dài khác nhau 30

Hình 18: Tương quan giữa khối lượng cơ thể với khối lượng tuyến sinh dục ở 3 pha giới tính 33

Hình19: Tương quan giữa chiều dài cơ thể với khối lượng tuyến sinh dục ở 3 pha giới tính 34

Hình 20: Tăng trưởng lươn ương ở thí nghiệm 1 37

Hình 21: Tăng trưởng lươn ương ở thí nghiệm 2 39

Trang 11

CHƯƠNG 1

MỞ ĐẦU

Ở Đồng Bằng Sông Cửu Long hiện nay nghề nuôi cá rất phát triển, góp phần đem lại thu nhập cho người dân và kim ngạch xuất khẩu cho đất nước Trong tập đoàn cá nuôi ở Đồng Bằng Sông Cửu long, ngoài những đối tượng nuôi phổ biến cá tra, cá ba sa, cá mè, cá chép, cá rô phi; hiện nay có nhiều đối tượng đang được chú ý phát triển như cá lóc, cá sặc rằn, cá rô đồng, lươn Đặc biệt lươn đồng là một đối tượng mới được áp dụng nuôi ở một số tỉnh như An Giang, Đồng Tháp

Lươn đồng có tên khoa học là Monopterus albus, tên tiếng Anh là Asian Swamp Eel (Rice

Eel), thuộc họ Synbranchidea

Lươn là loài có kích thước trung bình, sinh trưởng chậm phân bố ở thủy vực nước ngọt như

ao, hồ, ruộng lúa Lươn sống và đẻ trứng trong hang, chịu được hàm lượng oxy thấp, giàu chất hữu cơ nhờ có cơ quan hô hấp phụ là da Thức ăn chủ yếu của lươn là động vật

Ở nước ta trước đây, lươn chủ yếu được khai thác từ tự nhiên, những năm gần đây đã nổi lên phong trào nuôi lươn đồng ở nhiều nơi với quy mô gia đình Con giống chủ yếu được lấy từ tự nhiên với những kích thước khác nhau Lươn được nuôi trong ao đất hoặc bể xi măng với đáy và thành bùn dày để lươn đào hang, làm tổ Việc nuôi lươn đã góp phần tăng thu nhập gia đình và bảo vệ nguồn lươn tự nhiên

Để có thêm những thông tin liên quan đến đối tượng nuôi có giá trị kinh tế này, làm cơ sở cho việc bảo tồn và phát triển nguồn lợi thủy sản nói chung và nguồn lợi lươn đồng nói riêng Đề tài:

“Nghiên cứu đặc điểm sinh học sinh sản và thử nghiệm ương lươn đồng (Monopterus albus) bằng các loại thức ăn khác nhau” là nội dung nghiên cứu quan trọng, nhằm làm nền tảng cho

các nghiên cứu tiếp theo mang tính kỹ thuật như: sinh sản nhân tạo, phát triển thức ăn và nuôi thương phẩm

I MỤC TIÊU VÀ NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

1 Mục tiêu

Nghiên cứu các chỉ tiêu sinh học về sinh sản lươn đồng, nhằm làm cơ sở cho việc phát triển

kỹ thuật sinh sản và kỹ thuật ương lươn đồng

Thử nghiệm ương lươn đồng bằng các loại thức ăn khác nhau nhằm tìm ra loại thức ăn thích hợp, góp phần tăng hiệu quả sản xuất giống của đối tượng này

2 Nội dung

- Xác định mùa vụ sinh sản, hệ số thành thục

- Xác định sức sinh sản tuyệt đối

- Xác định giới tính và sự liên quan của giới tính với kích thước và khối lượng

- Khảo sát các giai đọan phát triển của tuyến sinh dục

- Xác định sự liên quan giữa giới tính và hàm lượng hormone trong huyết tương

Trang 12

- Ương lươn ở 2 giai đoạn 3- 23 ngày tuổi và 20 – 40 ngày tuổi với các loại thức ăn khác

1.1 Đặc điểm sinh học lươn đồng (Monopterus albus)

1.1.1 Vị trí phân lọai và hình thái cấu tạo

Trong đó lươn đồng Monopterus albus là thuộc họ Synbranchidae (Swamp eels)

Vị trí phân lọai của lươn đồng:

Loài: Monopterus albus (Zwiew, 1793)

Fluta alba ( i.e Smith 1945)

Tên địa phương: Lươn đồng

Tên tiếng Anh: Rice Eel (Asian Swamp Eel)

Bảng 1: Một số tên khác được sử dụng (Theo fishbase.org)

Trang 13

Gymnotus albus Zuiew, 1789

Muraena alba Zuiew, 1793

Fluta alba (Zuiew, 1793)

Monopterus albus (Zuiew, 1793)

Monopterus javanensis Lacepède, 1800

Unibranchapertura laevis Lacepède, 1803

Symbranchus grammicus Cantor, 1842

Pneumabranchus cinereus McClelland, 1844

Ophicardia phayriana McClelland, 1844

Synbranchus xanthognathus Richardson, 1845

Monopterus helvolus Richardson, 1846

Monopterus marmoratus Richardson, 1846

Apterigia immaculata Basilewsky, 1855

Apterigia nigromaculata Basilewsky, 1855

Apterigia saccogularis Basilewsky, 1855

- Hình thái cấu tạo

Lươn đồng (Monopterus albus) có thân tròn dài, cuối đuôi dẹp bên Đầu tròn tương đối lớn,

cao hơn thân Mõm ngắn, miệng bé, rạch miệng hơi cong Mỗi bên có có hai lỗ mũi nằm cách xa nhau Mắt rất bé, nằm ẩn dưới da ở một bên đầu, khe mang hẹp, giới hạn ở mặt bụng (Mai Đình Yên, 1992) Không có vẩy, mõm tròn không sắc, hàm và vòm miệng có những hàng răng nhỏ Môi trên dày chồng lên một phần của môi dưới (Nichols, 1945; Jayaram, 1981) Đường bên

Trang 14

1.1.2 Đặc điểm phân bố

Lươn đồng (Monopterus albus) sống tự nhiên ở Đông và Nam Châu Á, sống ở bùn ao, kênh

rạch, các dòng sông lớn, trong ruộng lúa hay ở đầm lầy (Davidson, 1975) Thường gặp ở ruộng lúa (Rainboth, 1996) Lươn đồng đã tìm thấy ở những con sông từ lớn đến trung bình, ruộng ngập lũ và nơi nước tù đọng bao gồm những kênh nước chảy chậm (Taki, 1978)

Trong tự nhiên chúng phân bố ở Đông Ấn Độ, quấn đảo Indonesia – Malasia và Đông Bắc Châu Á tới Nhật bản và phía tây tới Đông Bắc Ấn Độ (Meghalays, Arunachal Pradesh và Assam) (Rosen và Greenwood, 1976; Jayaram, 1981) Không thấy chúng ở Philippin và New Guinea nhưng lại gặp ở Sulewesi (Rosen và Greenwood, 1976)

Một số tác giả cho là lươn đồng du nhập vào Úc (Lake,1971), nhưng Rosen và Greenwood (1976) lại cho là lòai bản địa Ở vùng sinh thái vịnh Mexico, gần đây có một số báo cáo đã phát hiện lươn ở Florida (Nico, 1999)

Theo fishbase Org lươn đồng (Monopterus albus) đã được tìm thấy ở Úc, Campuchea, Trung

Quốc, Hawaii, Hồng Kông, Ấn Độ, Nhật, Lào, Malaysia, Myanmar, Phillippine, Đài loan, Thái Lan, Mỹ, Việt Nam Trong đó ở Mỹ và Hawaii lươn đồng được đưa vào, còn lại đều có trong tự nhiên

Nó có thể sống trong môi trường thiếu ôxy Con trưởng thành có thể thở ôxy trong không khí (Johnson, 1967; Sterba, 1983; Liem, 1987) Tơ mang ở con trưởng thành giảm hô hấp hầu hết qua màng nhầy ở phần còn lại của cung mang (Liem, 1987)

Trong mùa hạn lươn có thể tự đào hang trong bùn và hầu như không họat động (Smith, 1945; Sterba, 1983; Liem, 1987) Những hang này rất lớn và có thể có nhánh sâu tới 1,5m chiều sâu Lươn hầu như họat động về đêm (Sterba, 1983)

Khả năng chịu độ mặn: Chủ yếu cư trú ở nước ngọt, tuy nhiên cũng thấy hiện diện ở nước lợ

và nước mặn (Nichols, 1943)

Painela J Schofield và Leo G Nico (2002) đã xác định khả năng chịu độ mặn cấp thời của lươn đồng được bắt từ Bắc Miami Lươn được chuyển trực tiếp từ nước ngọt (0,2o/oo) sang một dãy độ mặn khác nhau: 14, 16, 18, 20, 22o/oo Lươn chịu được độ mặn 16o/oo tới 6 ngày mà không chết Độ mặn > 18o/oo lươn không chịu nổi, tất cả lươn đều chết trong 24 giờ ở 22o/oo và

48 giờ ở 20o/oo Lươn nhỏ chết nhanh hơn lươn lớn, lươn thu từ những vùng khác nhau cũng có khả năng chịu được độ mặn khác nhau: Lươn thu từ quận Manatee và bắc Miami chết hơn 90% trong 30 ngày ở độ mặn 18o/oo, hơn 1/2 chết trong 60 ngày ở độ mặn 14-16o/oo, trong khi đó lươn thu từ Homestead không chết con nào trong 45 ngày thử nghiệm Lươn thu từ quận Manatee và bắc Miami giảm ăn đáng kể trong thử nghiệm, trong khi hầu hết lươn ở Homestead ăn tốt trong suốt 40 ngày thử nghiệm

Khả năng chịu nhiệt: Khả năng chịu lạnh tốt, đã thấy chịu được nhiệt độ dưới điểm đông (Nico, 1999)

Kích thước tối đa: Trên 70 cm tương đối hiếm, một số đạt tới 1m chiều dài, hầu hết là ở giữa chiều dài 25 – 40 cm (Smith, 1945)

Trang 15

1.1.3 Đặc điểm dinh dưỡng và sinh trưởng

- Đặc điểm dinh dưỡng và thức ăn:

Lươn đồng (Monopterus albus) là lòai có ruột dày và ngắn so với chiều dài thân, chứng tỏ có

tính ăn thiên về động vật Lươn đồng sống chui rút dưới bùn và làm hang, chúng ăn động vật và xác thối rửa chủ yếu là cá, tép, tôm (Mai Đình Yên, 1992) Lươn đồng được xem là loài săn mồi

về đêm ăn tạp chủ yếu là động vật như: cá, giun, giáp xác, và các động vật thuỷ sinh nhỏ khác (Yamamoto và Tagawa, 2000) Lúc còn nhỏ ăn sinh vật phiêu sinh giai đọan kế tiếp ăn côn trùng, bọ gậy, ấu trùng chuồn chuồn, đôi khi ăn các mảnh hữu cơ vụn nhỏ (rễ lúa, tảo sợi) Lươn lớn ăn giun, ốc, tôm, tép, cá con, nòng nọc và những động vật trên cạn gần mép nước: giun, dế (Ngô Trọng Lư, 2000)

Kết quả khảo sát thức ăn của lươn đồng nuôi trong bể cá cảnh ở Florida cho thấy khoảng 50%

có dạ dày tương đối trống, tất cả các cá thể có lượng thức ăn ít Các loại mồi bao gồm: côn trùng, trứng cá, giun ít tơ, cây cỏ, giáp xác (amphipod) Côn trùng đa số là nhộng odonate- chiếm thành

phần chủ yếu trong thức ăn (Hill et al, 2000)

Khi nuôi trong ao, thức ăn tốt nhất cho lươn là giun đất Ngòai ra có thể cho lươn ăn thịt trai, phế phẩm lò sát sinh, dòi …(Hồ-Lư - thủy sản TQ số 2/2003) Có thể tập cho lươn ăn cám, bã đậu, các lọai rau quả băm vụn Lươn đồng có tính lựa chọn thức ăn rất cao, vì vậy cần phải thuần dưỡng, tập cho lươn quen dần thức ăn ngay từ đầu (Minh Dũng,2005)

Nhìn chung, ở Việt nam chưa có công bố nào nghiên cứu về nhu cầu dinh dưỡng và chế biến thức ăn nuôi lươn đồng

- Đặc điểm sinh trưởng:

Trong ao nuôi cho lươn đồng (Monopterus albus) ăn giun đất với mức 5 – 7% trọng lượng

thân mỗi ngày thì hệ số tiêu tốn thức ăn là 4 –6 Nếu cho lươn ăn thịt trai với 7% trọng lượng thân mỗi ngày thì hệ số tiêu tốn thức ăn: 7,5 – 10 (Hồ Lư - thủy sản TQ số 2/2003)

Lươn đồng (Monopterus albus) năm thứ nhất lớn nhanh về chiều dài, sang năm thứ hai trọng

lượng tăng lên là chủ yếu (Ngô Trọng Lư, 2000)

Bảng 2: Tốc độ sinh trưởng của lươn đồng (Monopterus albus) theo một số tác giả

1 năm

1 năm

2 năm

27 20-27

30-48 35-50

60

18-60

<200 100-150 40-100 200-300 200-300

<1000

Ngô Trọng Lư Việt Chương Dương Nhựt Long Ngô Trọng Lư Việt Chương Dương Nhựt Long Việt Chương

Trang 16

- Giới tính

Lưỡng tính cái trước là phổ biến nhất ở ngành cá xương và đã được báo cáo có ở Synbranchidae, Serranidae, Sparidae, Maenidae, Labridae và Scaridae (Reinboth, 1970 được trích dẫn bởi Tang Fai, 1974)

Ở lươn đồng mầm sinh dục đực và mầm sinh tinh tìm thấy ở rìa khoang sinh dục trong cả 2 phiến sinh dục và vì vậy, tế bào mầm đực tồn tại trước trong giai đoạn con cái (Chan và Phillip, 1967a được trích dẫn bởi Tang Fai, 1974)

Theo Tang et al.,1974 - được trích dẫn bởi Nguyễn Tường Anh, 1999 lươn đồng (Monopterus

albus) là động vật lưỡng tính cái trước, đời sống sinh sản của nó thường trải qua 3 phase: Cái

chức phận – trung giới - đực chức phận Việc dùng các hormon steroid sinh dục đổi giới tính của lươn ở tất cả các phase đều không thành công

Lươn đồng có kích thước dưới 26cm đều là lươn cái, từ 26 – 54cm có thể là đực, cái và lưỡng tính, trên 54cm đều là lươn đực (Phạm Trang và Phạm Báu, 2000) Theo Đức Hiệp (1999), lươn

3 tuổi thân dài 35-50cm, tính cái chiếm 60%, 40% tính đực Lươn 4 tuổi thân dài 47-59cm, tính cái giảm xuống 30% Lươn 5 tuổi thân dài 66-75cm tính đực 100%

Lươn đồng khi còn nhỏ tất cả đều là con cái Khi trưởng thành một số con cái chuyển thành con đực Con đực có thể chuyển ngược trở lại thành con cái nếu mật độ con cái ít Thời gian chuyển giới tính có thể là cả năm (http:// el.erde.usace.army.mil/ansrp/monopterus- albys.htm) Liu (1973) đã nghiên cứu 659 mẫu từ 5,3 tới 57,6cm và tìm ra mối tương quan rõ rệt giữa chiều dài thân với giới tính Những cá thể có kích thước nhỏ và trung bình thường là con cái, trong khi những con lớn hơn thường là con đực (được trích dẫn bởi Tang Fai, 1974)

Liem (1973) khẳng định với xét nghiệm mô học tuyến sinh dục của mẫu lươn thu ở tự nhiên

và mẫu nuôi trong phòng thí nghiệm, ông kết luận rằng mọi cá thể đầu tiên có chức năng con cái

và ở khoảng 30 tháng tuổi bắt đầu chuyển thành con đực qua một giai đoạn lưỡng tính Ông ta cũng cho rằng con đực có phần trăm cao hơn khi đàn lươn bị đói (được trích dẫn bởi Tang Fai, 1974)

Chan (1973) báo cáo có sự tăng đáng kể sự sản xuất androgen và giảm sản xuất oestrogen khi chuyển đổi giới tính(được trích dẫn bởi Tang Fai, 1974)

Trang 17

Sự khác nhau theo mùa trong hoạt động sinh tinh và sự phát triển của tế bào kẽ phù hợp với báo cáo của Chan (1973) Tuy nhiên, theo Tang Fai (1974) tế bào kẽ đạt đến sự phát triển tối đa sớm hơn 1 tháng-tháng 4 thay vì tháng 5- và hoạt động sinh tinh kéo dài từ tháng 1 đến tháng 4 thay vì từ tháng 3 đến tháng 5 Sự khác biệt này, có lẽ là do có vài sự khác biệt hàng năm của các yếu tố thời tiết

Cũng theo tác giả Tang Fai, 1974 những hormon đực khác nhau (testosteron, methyltestosteron, 11- keto- testosteron) ở những liều khác nhau không đem lại sự chuyển đổi giới tính sớm ở lươn cái Methyltestosteron cũng thất bại khi kích thích sự phát triển ống tinh ở con lưỡng tính Dùng cyanoketon, một chất ngăn cản sinh steroid, đã xác định rằng hormone cái ngoại sinh không cản được hoạt động của hormone đực trên tế bào mầm của con đực Mặt khác tiêm hormone cái vào lươn đực và lưỡng tính làm suy giảm sự sinh tinh và cấu trúc ống tinh hoàn nhưng không làm lươn chuyển thành con cái được

Tuy nhiên theo Tao et al (1993) thì việc sử dụng các hormone sinh dục đực có thể làm thay đổi giới tính của lươn đồng (Monopterus albus) Kết quả nghiên cứu này được trình bày qua

bảng 3:

Trang 18

Bảng 3: Ảnh hưởng của 18 lần tiêm (2lần/tuần): sGnRH-A, DOM, sGnRH-A+ DOM hoặc não thùy cá chép lên sự thay đổi giới tính của lươn đồng cái

Lươn đồng (Monopterus albus) là loài đẻ nhiều lần trong năm, trứng được đẻ vào những tổ bọt

ở những vùng nước cạn Những tổ này trôi nổi trong nước, trứng và con non được trông nom bởi

bố hoặc mẹ (Smith, 1945; Sterba, 1983.)

Ở Việt nam, miền bắc lươn đồng sinh sản từ tháng 3 – 4 ; miền nam lươn sinh sản từ tháng 5 –

6, mùa phụ 8 – 9 (Ngô Trọng Lư, 2000)

Theo Đức Hiệp (1999) mùa sinh sản của lươn kéo dài từ tháng 5 đến tháng 9, tập trung vào tháng 6- tháng 7

Nhìn chung các nghiên cứu để xác định mùa vụ sinh sản của lươn đồng chưa chặt chẽ

- Sức sinh sản:

Lươn đồng (Monopterus albus) đẻ trứng, trứng có màu da cam hay vàng nhạt, có tỷ trọng lớn

hơn nước, màng trứng trong suốt bao bọc trứng có hình cầu, đường kính trứng từ 3,5-4mm (Đức Hiệp, 1999)

Lươn đồng có sức sinh sản thấp, khoảng 100 – 700 trứng/lần đẻ (Hill et al., 2000)

Theo Việt Chương và Nguyễn Việt Thái (2005), lươn đồng đẻ lứa đầu chỉ trên dưới 100 trứng Khi lươn cái càng lớn tuổi, trọng lượng càng lớn thì số trứng mỗi lứa đẻ mới tăng dần lên, có thể đạt 700 – 1.000 trứng

Khi thân dài 20cm, lươn có khoảng 200-400 trứng Thân dài 30cm, có khoảng 300-500 trứng; thân dài 40cm, có khoảng 400-800 trứng (Đức Hiệp, 1999)

So với một số loài cá đồng, lươn đẻ ít hơn nhiều

Trang 19

1.2 Sản xuất giống lươn đồng (Monopterus albus)

Ở Việt Nam việc nghiên cứu sản xuất giống lươn đồng đã được xác định bởi một số tác giả như Ngô trọng Lư, Lê Đăng Khuyến, Việt Chương, Nguyễn Việt Thái Theo các tác giả này nên chọn lươn nặng 100-200gr để nuôi vỗ và cho đẻ tự nhiên Thời gian nuôi vỗ là mùa đông và cho

đẻ vào mùa xuân khi nhiệt độ nước ao trên 150C

Tuy nhiên theo Xu Pao Min (2001) đã có kết quả sử dụng chất kích thích sinh sản cho lươn đồng như: HCG (Human Chorionic Gonadotropin), LRHa (Luteinizing Releasing Hormon analog), PG (Prostaglandin) Kết quả sử dụng chất kích thích sinh sản được trình bày qua bảng 4:

Bảng 4: Sử dụng chất kích thích lươn đồng đẻ

HCG LRHa PG

Trọng lượng (g)

Liều lượng (IU)

Trọng lượng (mcg)

Liều lượng (mg)

Trọng lượng (g)

Liều lượng (mg)

Lư và Lê Đăng Khuyến, 2004)

Tác động của một số nhân tố sinh thái (nhiệt độ, pH, phương pháp nở, nồng độ amoniac) trên

sự phát triển phôi của lươn đồng Kết quả chỉ ra rằng nhiệt độ ấp tối ưu của lươn đồng trong khoảng 25-28oC Không có sự khác biệt đáng kể về tác động của pH trong khoảng 5,5-9,5 trên tỷ

lệ nở của trứng thụ tinh Ấp trứng có nước nhỏ giọt có tỷ lệ nở của trứng thụ tinh cao hơn ấp

nước tĩnh Tỷ lệ nở của trứng thụ tinh giảm với sự tăng nồng độ amoniac.(Yin S et al., 2004)

1.3 Kỹ thuật ương nuôi lươn đồng

1.3.1 Một số kết quả về ương lươn đồng

Lươn con được ấp từ các tổ bọt vớt được hoặc vớt trực tiếp từ tự nhiên cho vào ao hoặc bể ương Thức ăn dùng để nuôi là lòng đỏ trứng gà luộc chín, tảo, giun ít tơ, dòi, ốc băm nhỏ (Ngô Trọng Lư, Lê Đăng Khuyến, 2004)

Mùa vớt lươn bột là mùa xuân khi nhiệt độ nước lên trên 150 C (Minh Dũng)

Trang 20

Trước khi ương phải dọn sạch và sát trùng ao, bể ương Khi mực nước còn 10cm, cứ 10m2dùng 2-2,5kg vôi sống để khử trùng Sau 10 ngày có thể thả lươn giống Mật độ ương từ 2-4 kg/m2 (40con/kg) hoặc 80-160 con/m2 Cần tắm nước muối 5% độ 5 phút để khử trùng lươn con trước khi thả vào ao, bể ương (Hồ Lư- Thủy sản TQ số 2/ 2003)

Như vậy việc ương lươn đồng phụ thuộc vào con giống vớt được từ tự nhiên chứ không được cung cấp từ sản xuất giống nhân tạo

1.3.2 Một số kết quả nghiên cứu về nuôi thịt lươn đồng

Lươn có thể nuôi dễ dàng vì vốn đầu tư nhỏ, có thể tận dụng nguồn thức ăn sẳn có và rẻ tiền ỏ địa phương như cá tạp, ốc, tôm tép nhỏ…

Trên thế giới đã có nhiều nơi nuôi lươn với những kỹ thuật khác nhau và đã đạt được những kết quả nhất định

Ở Trung Quốc, nuôi lươn đồng (Monopterus albus) bắt đầu từ năm 1970 Ao nuôi lươn đồng

có kích thước 3x2x1,5 m, được xây nửa nổi nửa chìm, đáy và thành bể được láng xi-măng nhẵn Đáy lót bùn và phân chuồng, tỷ lệ 8 phần bùn, 1 phần phân trộn đều Lớp bùn và phân dày 50

cm Nguồn giống chủ yếu đánh bắt từ tự nhiên Cỡ lươn giống 30-40 con/ kg, tốt nhất là 50g/ con Mật độ thả là 3-5 kg/m2 (Ngô Trọng Lư và Lê Đăng Khuyến, 2004)

Kỹ thuật mô tả sau đây dựa trên thực tế của những trại nuôi thành công nhiều năm ở Indonesia, cũng như một số thử nghiệm ở trường và trại ở Philippin và Trung Quốc (www.iirr.org)

Lươn đồng (Monopterus albus) được nuôi trong bể xi-măng, có kích thước: 1x2x1m, với tổng

diện tích bề mặt là 4 m2

Bể nuôi được bố trí như sau:

Xếp lớp 1/2 bể theo chiều cao như sau:

Lớp đầu tiên (dưới đáy): là bùn dày 10 cm

rô phi hoặc cá chép vào để kiểm tra bể: nếu trong 3 ngày cá không chết thì đã thích hợp

Nguồn nước đưa vào: từ sông, hồ, ao, suối Nước máy cũng sử dụng được nhưng phải xử lý cho hết chlorin

Đưa lươn bố mẹ vào với số lượng 195-200 con/ bể (tỷ 140 con cái, 60 con đực)

Trang 21

Con giống thả nuôi được thu từ những người chuyên nuôi hoặc từ bể nuôi lươn bố mẹ Thức

ăn cho lươn là cá nhỏ, giun đất, ốc, côn trùng thủy sinh, nhộng tằm, phế phẩm lò mổ Ở giai đoạn giống nên cho lươn ăn nhiều côn trùng thủy sinh Để làm giảm chi phí nuôi nên sử dụng cá nhỏ hoặc cá rẻ tiền, đồng thời thu gom ốc bươu vàng từ ruộng lúa cho lươn ăn

Có thể trộn thêm bột, premix, vitamin vào thức ăn của lươn

Mức cho ăn : 3-5% trọng lượng thân/ ngày

Trong quá trình nuôi xem xét các yếu tố sau:

Kiểm tra tăng trọng của lươn (đo chiều dài, cân trọng lượng)

Theo dõi điều kiện khí hậu, nhiệt độ không khí để điều chỉnh thức ăn cho phù hợp Nhiệt độ lý tưởng cho lươn ăn là 20-350 C

Thu hoạch theo nhu cầu thị trường và mức tăng trưởng của lươn, có thể thu hoạch từng phần hoặc toàn bộ Dùng lưới đặt dưới vùng cho ăn để thu lươn, tránh làm tổn thương lươn khi thu hoạch Bỏ đói lươn trong thùng chứa trước khi vận chuyển lươn đến nơi tiêu thụ Tốt nhất là bắt đầu nuôi lươn với kích cỡ 12-15cm, trọng lượng khoảng 10g, bắt từ tự nhiên Thu hoạch sau 8-9 tháng nuôi, 70% lươn đạt trọng lượng 250g/ con

Theo thông tin từ trang web http://gsh.taiwanschoolnet.org/gsh2004/3175/f kỹ thuật nuôi lươn ở Đài Loan được mô tả như sau:

Ở Đài Loan, bể nuôi lươn đã thay đổi từ dạng hình bát giác sang hình vuông hoăc chữ nhật cho phù hợp với điều kiện địa lý của vùng nuôi Tuy nhiên người ta dùng bánh xe để sục khí và luân chuyển nước tới các góc Măt khác, người ta dùng bể đất nhiều hơn bể ximăng vì cho rằng cây cỏ thủy sinh có thể hấp thụ một số thức ăn thừa và cặn bã bài tiết trong bể, giữ cho nước bể lâu hư

Lươn giống được đưa vào 1 bể nuôi với mật độ cao, sau một thời gian, lươn sẽ được phân loại bằng tay, thường là khoảng 10 ngày sau khi thả, hoặc dùng lưới kéo khi cho lươn ăn Lươn có kích thước lớn ở trên lưới sẽ được chuyễn sang bể khác để nuôi Trọng lượng lươn giống khi thả

từ 1-10 g

Có 2 dạng bệnh chính trên lươn giống: nấm, ký sinh trùng Người ta kiểm tra sức khỏe lươn băng cách đánh lưới một số con trong bể rồi quan sát, đánh giá qua vẻ ngoài chúng theo kinh nghiệm Cần chú ý những kẻ địch trong tự nhiên của lươn như chim, mèo chuột, rùa Đôi khi người ta nuôi ghép với loài cá khác, chủ yếu để theo dõi chất lượng nước và để cá ăn thức ăn thừa làm giảm ô nhiễm

Trong quá trình nuôi người ta thường phân loại để bố trí lưon vào các bể cùng cỡ Việc phân loại được tiến hành theo cảm nhận cá nhân, khi thấy kích cỡ lươn trong bể khác nhau nhiều và chất lương nước xấu Điều này thể hiện qua: lươn đột ngột bỏ ăn không lý do, màu nước trở nên khác Nếu quá trình nuôi không được suôn sẻ, phải thực hiện phân loại lươn và làm sạch bể Từ lúc thả con giống tới lúc thu họach có thể phân loại từ 3-5 lần

Lươn là loài ăn thịt nên thức ăn phải phù hợp với tập tính tự nhiên của chúng, thường 60-70

% thức ăn là bột cá và 22-23% là bột bắp để khắc phục sự thiếu tính hồ trong bột cá Trong giai

Trang 22

đoạn đầu người ta trộn thức ăn này với cá tươi Sau đó người ta ít dùng do khó giữ cá tươi và vấn đề ô nhiễm

Có hai dạng thức ăn cơ bản, thức ăn bột và thức ăn viên nổi Thức ăn bột phải được làm thành bánh, còn thức ăn viên được thêm vào dầu cá, vitamin, enzym hòa tan Thức ăn viên có nhiều cơ hội hơn cho mỗi con nhận được một viên thức ăn Theo một số người nuôi 20 kg thức ăn viên có thể cho 17 kg trọng lượng lươn, còn đối với thức ăn bột thì được 12-13kg lươn

Ở Việt Nam một số kết quả nuôi lươn đồng được tổng kết qua bảng 5

Một số bệnh ở lươn đồng được tổng hợp ở bảng 6 (fishbase org)

Trang 25

TÓM LẠI

Những nghiên cứu về lươn đồng (Monopterus albus) cho đến hiện nay còn rất ít, đặc biệt là

vấn đề sinh sản nhân tạo hầu như chưa có tài liệu được nào công bố Về kỹ thuật nuôi cũng chưa được thí nghiệm và công bố về quy trình kỹ thuật nuôi mang tính khoa học

Nghề nuôi lươn đồng ở Đồng Bằng Sông Cửu Long chỉ mới phát triển trong những năm gần đây, đa phần là do tự phát, người nuôi chưa nắm vững kỹ thuật và chưa được sự giúp đỡ về vốn

để phục vụ sản xuất Hơn nữa, thị trường tiêu thụ lươn đồng chỉ mới dừng lại ở thị trường nội địa, chưa có thị trường xuất khẩu, vì thế rất cần có những chính sách hoạch định thật cụ thể để giúp cho nghề nuôi lươn đồng phát triển bền vững trong tương lai

2 Phương tiện và phương pháp nghiên cứu

2.1 Phương tiện nghiên cứu

- Máy xử lý mẫu STP 102 (Micro)

- Máy nhuộm HMS 70 (Micro)

- Máy đúc khối EC 350 (Micro)

- Thức ăn cho lươn

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Thu mẫu và cố định mẫu nghiên cứu sinh học

Thu mẫu

Mẫu lươn được thu ngẫu nhiên với các kích thước khác nhau từ ngư dân đánh bắt bằng lờ, lợp, dớn, chất ụ rơm (lục bình) trong ao, kênh, ruộng lúa với số lượng 30 con/đợt để phân tích các chỉ tiêu sinh học sinh sản

Cố định mẫu

Đối với đặc điểm hình thái bên ngoài: Mẫu lươn được giải phẩu để cân đo các chỉ tiêu tại hiện

trường, sau đó cố định mẫu những phần cần phân tích khác để đưa về phân tích tại phòng thí nghiệm khoa Thuỷ Sản – Đại Học Cần Thơ

Trang 26

Đối với mẫu nghiên cứu tuyến sinh dục: lươn vừa mới bắt lên, mổ bụng lấy nội quan và tách

lấy tuyến sinh dục cố định bằng dung dịch Bouin trung tính và sau đó đưa về phòng thí nghiệm Khoa Thuỷ Sản để phân tích

Đối với mẫu phân tích hàm lượng hormone trong máu: chọn lươn ngoài tự nhiên với những cỡ

chiều dài và khối lượng khác nhau (29,5 – 73 cm), số lượng là 30 con Tiến hành lấy máu ở động mạch đuôi làm lạnh chống đông rồi đem ly tâm bằng máy ly tâm lạnh với vận tốc 6000 vòng/phút trong 6 phút Sau đó tiến hành phân tích hàm lượng hormone trong máu bằng phương pháp Elisa

2.2.2 Các chỉ tiêu nghiên cứu sinh học

- Tương quan giữa chiều dài và khối lượng

Kết hợp mẫu phân tích tuyến sinh dục hàng tháng để đo chiều dài và cân trọng lượng từng cá thể Mối quan hệ giữa chiều dài tổng (LT) và khối lượng cơ thể (BW) được xác định bằng phương pháp hồi qui

- Xác định các chỉ tiêu sinh học sinh sản

Kích thước thành thục: đo chiều dài tổng (LT) và khối lượng (BW) của lươn có tuyến sinh dục

phát triển, để xác định kích cỡ thành thục

Xác định các giai đoạn phát triển của tuyến sinh dục:

Quan sát đặc điểm của tuyến sinh dục: bằng mắt thường kết hợp với tiêu bản mô học để xác

định các giai đoạn phát triển của tuyến sinh dục dựa theo 6 bậc thang thành thục của Nikolsky (1963) Từ đó dự đoán mùa vụ sinh sản theo sự phát triển của buồng trứng

Tiêu bản mô học buồng trứng: được thực hiện dựa theo phương pháp của Drury và Wallington

(1967), Kiernan (1990) Tuyến sinh dục của lươn được cố định bằng dung dịch Bouin, thời gian

cố định là 24 giờ; sau đó mẫu phôi được giữ trong dung dịch cồn 70% Sau khi cố định, mẫu phôi được cắt thành từng phần nhỏ Trước khi tiến hành đúc khối mẫu được khử nước lần lượt qua các dung dịch 70%, 80%, 95%, 100% ethyl alcohol và xylen Mẫu được cắt ra thành từng băng dài, cho vào nước ở nhiệt độ 45-500C lám cho parafin căng ra Dùng kim mũi giáo tách riêng từng đoạn và dán lên lam Tiêu bản được nhuộm theo phương pháp nhuộm màu Harris‘ Haematociline-Eosin, quan sát và chụp ảnh dưới kính hiển vi quang học

Quan sát tiêu bản mô học: quan sát và mô tả các giai đoạn phát triển của tuyến sinh dục theo

kết quả phân tích tiêu bản mô

Xác định hệ số thành thục (GSI): Hệ số thành thục (GSI) được xác định cho từng đợt thu mẫu

và là một trong những chỉ số phản ánh mùa vụ sinh sản của lươn dựa theo công thức:

GSI (%)= 100x (Khối lượng tuyến sinh dục)/ (tổng khối lượng lươn không nội tạng)

Xác định sức sinh sản tuyệt đối:

Sức sinh sản tuyệt đối (F) là số lượng trứng trong buồng trứng của lươn cái, được xác định theo Banegal (1967)

Trang 27

g

G x n

F =

Trong đó:

G: là trọng lượng buồng trứng

g: trọng lượng mẫu trứng được lấy ra để đếm

n: số lượng trứng có trong mẫu trên (mẫu trứng được lấy để đếm ở 3 vị trí: đầu, giữa và cuối của buồng trứng)

Xác định đường kính trứng: đường kính trứng được xác định bằng thước đo trên kính hiển vi,

trứng được lấy để đếm ở 3 vị trí: đầu, giữa và cuối của buồng trứng với số lượng trứng là 30 tế bào trên 1 mẫu

Xác định mùa vụ sinh sản: dựa vào kết quả quan sát tuyến sinh dục và hệ số thành thục của

các mẫu thu theo định kỳ

Xác định giới tính: dựa vào kết quả mổ quan sát tuyến sinh dục và mô học các mẫu lươn thu

từ tự nhiên theo tháng

Xác định sự liên quan giữa giới tính với kích thước và trọng lượng

Xác định sự liên quan giữa hàm lượng hormone trong máu với giới tính

Các số liệu thống kê được tính toán dựa trên phần mềm SPSS

2.2.3 Thử nghiệm ương lươn đồng bằng các loại thức ăn khác nhau

™ Thí nghiệm 1: Ương lươn đồng từ 3 ngày tuổi đến 20 ngày tuổi

- Hệ thống thí nghiệm: Thí nghiệm được bố trí trên 6 khay nhựa (30x25x10cm)

- Lươn thí nghiệm: Lươn bột 3-5 ngày tuổi

™ Thí nghiệm 2: Ương lươn đồng từ 20 ngày tuổi đến 40 ngày tuổi

- Hệ thống thí nghiệm: Thí nghiệm được bố trí trên 15 khay nhựa (30x25x10cm)

- Lươn thí nghiệm: Lươn 20 ngày tuổi

- Phương pháp bố trí thí nghiệm:

Trang 28

Thí nghiệm được bố trí với 5 nghiệm thức thức ăn Mỗi nghiệm thức được lập lại 3 lần

- Chăm sóc: Theo dõi thức ăn hằng ngày để điều chỉnh cho phù hợp

- Thay nước theo định kỳ 2 ngày 1 lần

- Các chỉ tiêu theo dõi:

• Tăng trưởng: 7 ngày bắt ngẫu nhiên 15 con cân khối lượng từng con

• Môi trường: theo dõi các yếu tố như nhiệt độ, pH

• Ghi nhận tỷ lệ chết

*Phương pháp thu mẫu:

Các yếu tố nhiệt độ, pH đuợc đo tại bể nuôi bằng máy (MP 120 pH Meter) mỗi ngày

*Phương pháp phân tích mẫu và tính toán:

• Chiều dài của lươn được đo bằng cách đo từ chót mõm đến cuối đuôi, khối lượng được xác định bằng cách cân từng cá thể bằng cân điện tử có độ chính xác 0,01%

• Tốc độ tăng trưởng cuả lươn được tính gồm

• Tốc độ tăng trưởng đặc biệt (Specific growth rate- SGR) (%/ ngày) được tính bằng: SGR(%/ ngày)= 100* (LnWc- LnWđ)/t

• Tốc độ tăng trưởng tương đối (Daily weight gain- DWG) (g/ ngày) được tính bằng công thức: DWG (g/ ngày)= (Wc- Wđ)/t

Trong đó: Wc: Khối lượng cuối (g)

Trang 29

Wđ: Khối lượng đầu (g)

t: Thời gian nuôi (ngày)

• Tỉ lệ sống cuối cùng của lươn (%)= Số lươn thu được / số lươn thả*100

Trang 30

CHƯƠNG II KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

I Nghiên cứu đặc điểm sinh học sinh sản lươn đồng

1 Mối tương quan giữa chiều dài và khối lượng

Sinh trưởng là quá trình gia tăng về kích thước và tích luỹ thêm về khối lượng cơ thể Quá trình này đặc trưng cho loài cá và thể hiện qua mối tương quan giữa chiều dài và khối lượng (Nicolski, 1963) Ở lươn đồng có sự liên quan giữa chiều dài với giới tính khá rõ Theo Phạm Trang và Phạm Báu, 2000 lươn đồng có kích thước dưới 26cm đều là lươn cái, từ 26 – 54cm có thể là đực, cái và lưỡng tính, trên 54cm đều là lươn đực Dựa vào số liệu thu thập chỉ tiêu hình thái lươn đồng (Monopterus albus), mối tương quan giữa chiều dài và khối lượng thể hiện qua

phương trình hồi qui W= 0,0008L3,0467 với hệ số tương quan R2=0,9515 (Hình1), cho thấy có sự tương quan chặt chẽ giữa chiều dài và khối lượng lươn với mẫu có chiều dài cơ thể từ 9,1 cm đến 77 cm Như vậy giới tính của lươn đồng không chỉ có liên quan đến chiều dài mà còn liên quan đến khối lượng, trong đó giới tính thay đổi từ cái, lưỡng tính sang đực theo sự tăng của chiều dài và khối lượng

Trang 31

08- 05

09- 05

10- 05

11- 05

12- 06

01- 06

02- 06

03- 06

04- 06

05- 06

06- 06

07- 06

Nguyễn Tường Anh (1999) lươn đồng là động vật lưỡng tính cái trước, đời sống sinh sản của nó thường trãi qua 3 phase: cái chức phận-trung giới-đực chức phận

Hình 2: Tỷ lệ cái, lưỡng tính, đực qua các tháng thu mẫu

Tỷ lệ lươn không xác định được giới tính chiếm cao trong các mẫu thu phân tích theo định kỳ hàng tháng do không lấy được tuyến sinh dục hoặc tuyến sinh dục quá nhỏ không cắt mô được

Để có thể thấy tỷ lệ cái, lưỡng tính, đực theo tháng rõ hơn, Hình 3 sẽ phản ánh tỷ lệ giới tính trong số được cắt mô tuyến sinh dục không kể số không xác định

Trang 32

Hình 3: Tỷ lệ cái, lưỡng tính, đực qua các tháng thu mẫu

(không kể số không xác định)

Đa số ở các tháng đều có xuất hiện lươn ở cả 3 phase giới tính: cái, lưỡng tính và đực Tháng 10,12,6 không thấy xuất hiện lươn cái trong mẫu thu, còn tháng 3 thì không có lươn đực, đặc biệt tháng 11 không thấy tuyến sinh dục của lươn khi giải phẩu Trong các tháng có đủ 3 phase giới tính thì lươn lưỡng tính có tỷ lệ cao, tháng 3 lươn cái chiếm tỷ lệ cao, còn lươn đực có tỷ lệ cao ở tháng 7

Theo Phạm Trang và Phạm Báu (2000) lươn đồng có kích thước dưới 26cm đều là lươn cái, từ 26-54cm có thể là đực, cái, và lưỡng tính, trên 54cm đều là lươn đực Trong nghiên cứu này tỷ lệ giới tính ở các nhóm chiều dài khác nhau đã được xác định ở Hình 4

Hình 4: Tỷ lệ giới tính ở các nhóm chiều dài khác nhau

08- 05

09- 05

10- 05

11- 05

12- 06

01- 06

02- 06

03- 06

04- 06

05- 06

06- 06

07- 06

Trang 33

0 10 20 30 40 50 60

Như vậy ở giai đoạn nhỏ hơn 30 cm lươn cái có tỷ lệ cao và không có lươn đực, ở nhóm chiều dài từ 30 cm trở lên đều có lươn đực Tuy nhiên ở nhóm chiều dài lớn hơn 50 cm vẫn còn lươn cái và lưỡng tính với tỷ lệ thấp Điều này chưa phù hợp với báo cáo của Phạm Trang và Phạm Báu.(2000)

Tỷ lệ đực, lưỡng tính, cái theo các nhóm khối lương cơ thể được thể hiện ở Hình 5, nhưng sự thay đổi giới tính theo khối lượng không được thể hiện rõ như chiều dài Tuy nhiên cũng thấy được sự khác nhau về tỷ lệ đực cái ở nhóm khối lượng nhỏ hơn 50 g và lớn hơn100g: ở nhóm có khối lượng cơ thể nhỏ hơn 50 g tỷ lệ cái cao hơn đực, ngược lại nhóm khối lượng trên 100 g tỷ

lệ đực cao hơn cái

Hình 5: Tỷ lệ cái, lưỡng tính, đực theo các nhóm khối lượng

Sự khác nhau về chiều dài và khối lượng ở các phase cái, lưỡng tính, đực được tổng kết ở Bảng 7

Bảng 7: Chiều dài và khối lượng lươn theo giới tính

Lươ

n cái

có chiều dài trung bình trong quần đàn là 41,5 cm, khối lượng trung bình trong quần đàn là 89,1 g; chiều dài nhỏ nhất ở cá thể

là 25 cm, khối lượng cá thể nhỏ nhất là 16,2 g Ở lươn đực chiều dài và khối lượng trung bình trong quần đàn lần lượt là 46,9 cm, 125 g, nhỏ nhất ở cá thể là 34 cm chiều dài và 47 g khối lượng Qua đó cũng cho thấy lươn có kích cỡ thành thục nhỏ nhất có chiều dài tổng 25 cm, khối lượng thân 16,2 g

Lưỡng tính 43,7±1,22(27-61) 111±8,73(18,5-310)

Trang 34

0.00 50.00 100.00 150.00 200.00 250.00 300.00

05

08- 05

09- 05

10- 05

11- 05

12- 06

01- 06

02- 06

03- 06

04- 06

05- 06

06- 06

07- 06

Khối lượng và chiều dài trung bình cái, lưỡng tính, đực qua các tháng ở Hình 6 và 7 cũng cho thấy phần lớn lươn cái trong tự nhiên có kích cỡ nhỏ hơn lươn lưỡng tính và lươn đực

Hình 6: Khối lượng trung bình cái, lưỡng tính, đực qua các tháng thu mẫu

Trang 35

Hình 7: Chiều dài trung bình cái, lưỡng tính, đực qua

các tháng thu mẫu

3 Các giai đoạn phát triển của tuyến sinh dục

Sự sinh sản của cá nói chung mang tính chu kỳ, các thông tin về chu kỳ thành thục và thoái hoá của tuyến sinh dục có ý nghĩa trong việc chủ động trong sản xuất cũng như đánh giá sự thay đổi và phát triển của một quần thể trong tự nhiên Chu kỳ sinh sản thường được xác định bằng việc khảo sát về hình thái và tổ chức mô của tuyến sinh dục Đối với lươn việc xác định giới tính dựa vào hình thái không thể thực hiện được, vì vậy chỉ dựa vào tổ chức mô của tuyến sinh dục Các kết quả giải phẩu tuyến sinh dục và quan sát mô học của lươn trong thời gian tiến hành được

mô tả và trình bày lần lượt qua bảng hình 1 và hình 8

Trang 36

3.1 Các giai đoạn phát triển của noãn sào

Bảng hình 1: Các giai đoạn phát triển của tuyến sinh dục cái và tế bào trứng lươn

Các giai đoạn phát triển của tuyến sinh dục cái

( giai đoạn từ I-V)

Các giai đoạn phát triển của tế bào trứng qua quan sát mô học

( giai đoạn từ 1-5)

Giai đoạn I: tuyến sinh dục dài khoảng 1/3 chiều dài xoang bụng

Noãn sào là một dãy màu hồng nhạt, khó nhận thấy bằng mắt thường

Giai đoạn II: tuyến sinh dục chiếm khoảng ½ chiều dài xoang

trứng bằng kính lúp

Giai đoạn III: tuyến sinh dục chiếm khoảng 2/3 xoang

bụng.Trứng to và dễ nhìn thấy bằng mắt thường Noãn sào có màu

hồng nhạt đến hồng

Giai đoạn IV: tuyến sinh dục chiếm hầu hết thể tích xoang bụng

Noãn sào căng phồng với trứng to và trong mờ

Trang 37

Giai đoạn V: giai đoạn đẻ trứng, các sản phẩm sinh dục chảy ra khi ấn nhẹ vào bụng

Các giai đoạn phát triển của tế bào trứng được mô tả như sau:

- Giai đoạn 1: tế bào sinh dục là các nguyên bào và các noãn bào Noãn bào có nhiều gốc cạnh, kích thước rất nhỏ, tế bào chất ưa kiềm nên bắt màu tím của hematoxylin mạnh, nhân ưa kiềm yếu nên bắt màu nhạt, số tiểu hạch ít

- Giai đoạn 2: Noãn bào có kích thước khá lớn, có thể thấy bằng mắt thường Màng noãn bào mỏng, tổ chức liên kết nhiều, tế bào chất của noãn bào ưa kiểm yếu nên bắt màu tím nhạt hơn giai đoạn 1 tế bào chất không xuất hiện noãn hoàng Nhân tròn rõ, ưa kiềm và bắt màu nhạt, có tiểu hạch, các tiểu hạch di chuyển dần ra phía ngoài màng nhân

- Giai đoạn 3: tế bào trứng chuyển sang giai đoạn tích luỹ chất dinh dưỡng, noãn bào xuất hiện nhiều không bào (không bắt màu), nhân lớn bắt màu tím nhạt Tế bào chất vẫn còn ưa kiềm

Hình 8: Hình thái ngoài tuyến sinh dục lươn cái

Tuyến sinh dục lươn cái ở giai đoạn 5

Trang 38

nhưng rất yếu, noãn hoàng xuất hiện nhiều bắt màu hồng của eosin rất rõ, các hạt noãn hoàng to nằm phía ngoài các hạt nhỏ nằm phía trong sát nhân

- Giai đoạn 4: kích thước của noãn bào gia tăng rõ, số tiểu hạch trong nhân giảm và từ từ tan biến vào dịch nhân, noãn bào đạt cực đại

- Giai đoạn 5: Noãn hoàng kết thành khối, các tiểu hạch hoàn toàn biến mất

3.2 Các giai đoạn phát triển tinh sào

Trang 39

Bảng hình 2: Các giai đoạn phát triển của tuyến sinh dục đực và tinh trùng lươn

Các giai đoạn phát triển tuyến sinh dục đực Các giai đoạn phát triển

của tinh trùng qua quan sát mô học

Giai đoạn I: tinh sào là dãy mỏng màu trắng đục, có kết cấu săn

chắc

Giai đoạn II: Tinh sào vẫn là dãy mỏng, màu trắng đục, chiều dài

khoảng ½ xoang bụng

bố nhiều hơn ở giai đoạn II

Giai đoạn IV: Hình dạng tương tự như tinh sào giai đoạn III, nhưng màu nâu sậm hơn, mạch máu không tăng nhiều

Trang 40

- Giai đoạn 4: Giai đoạn chín: tất cả các tinh tử và tinh trùng không có gì khác với giai đoạn 3, tuy nhiên ở giai đoạn này chỉ cần vuốt nhẹ thì thấy có tinh dịch chảy ra

3.3 Các giai đoạn trứng và tinh bào của tuyến sinh dục lưỡng tính

Ở phase lưỡng tính lươn có cả trứng và tinh cùng tồn tại trong một tuyến sinh dục, qua quan sát mô học được thể hiện ở Hình 10

Hình 9 Hình thái ngoài tuyến sinh dục lươn đực

Tinh và trứng ở giai

đoạn1, 2 Tinh và trứng ở giai đoạn 3 Tinh và trứng ở giai đoạn 1,3 Tinh và trứng ở giai đoạn 1,2,3

Ngày đăng: 15/04/2021, 19:47

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2: Tốc độ sinh trưởng của lươn đồng (Monopterus albus) theo một số tác giả - Nghiên cứu đặc điểm sinh học sinh sản và thử nghiệm ương lươn đồng monopterus albus bằng các loại thức ăn khác nhau
Bảng 2 Tốc độ sinh trưởng của lươn đồng (Monopterus albus) theo một số tác giả (Trang 15)
Bảng 3: Ảnh hưởng của 18 lần tiêm (2lần/tuần): sGnRH-A, DOM, sGnRH-A+ DOM hoặc  não thùy cá chép lên sự thay đổi giới tính của lươn đồng cái - Nghiên cứu đặc điểm sinh học sinh sản và thử nghiệm ương lươn đồng monopterus albus bằng các loại thức ăn khác nhau
Bảng 3 Ảnh hưởng của 18 lần tiêm (2lần/tuần): sGnRH-A, DOM, sGnRH-A+ DOM hoặc não thùy cá chép lên sự thay đổi giới tính của lươn đồng cái (Trang 18)
Bảng 4: Sử dụng chất kích thích lươn đồng đẻ - Nghiên cứu đặc điểm sinh học sinh sản và thử nghiệm ương lươn đồng monopterus albus bằng các loại thức ăn khác nhau
Bảng 4 Sử dụng chất kích thích lươn đồng đẻ (Trang 19)
Hình 1: Tương quan chiều dài và khối lượng lươn - Nghiên cứu đặc điểm sinh học sinh sản và thử nghiệm ương lươn đồng monopterus albus bằng các loại thức ăn khác nhau
Hình 1 Tương quan chiều dài và khối lượng lươn (Trang 30)
Hình 2: Tỷ lệ cái, lưỡng tính, đực qua các tháng thu mẫu - Nghiên cứu đặc điểm sinh học sinh sản và thử nghiệm ương lươn đồng monopterus albus bằng các loại thức ăn khác nhau
Hình 2 Tỷ lệ cái, lưỡng tính, đực qua các tháng thu mẫu (Trang 31)
Hình 3: Tỷ lệ cái, lưỡng tính, đực qua các tháng thu mẫu - Nghiên cứu đặc điểm sinh học sinh sản và thử nghiệm ương lươn đồng monopterus albus bằng các loại thức ăn khác nhau
Hình 3 Tỷ lệ cái, lưỡng tính, đực qua các tháng thu mẫu (Trang 32)
Hình 4: Tỷ lệ giới tính ở các nhóm chiều dài khác nhau - Nghiên cứu đặc điểm sinh học sinh sản và thử nghiệm ương lươn đồng monopterus albus bằng các loại thức ăn khác nhau
Hình 4 Tỷ lệ giới tính ở các nhóm chiều dài khác nhau (Trang 32)
Hình 5: Tỷ lệ cái,  lưỡng tính, đực theo các nhóm khối lượng - Nghiên cứu đặc điểm sinh học sinh sản và thử nghiệm ương lươn đồng monopterus albus bằng các loại thức ăn khác nhau
Hình 5 Tỷ lệ cái, lưỡng tính, đực theo các nhóm khối lượng (Trang 33)
Bảng 7: Chiều dài và khối lượng lươn theo giới tính - Nghiên cứu đặc điểm sinh học sinh sản và thử nghiệm ương lươn đồng monopterus albus bằng các loại thức ăn khác nhau
Bảng 7 Chiều dài và khối lượng lươn theo giới tính (Trang 33)
Hình 6: Khối lượng trung bình cái, lưỡng tính, đực qua các tháng thu mẫu - Nghiên cứu đặc điểm sinh học sinh sản và thử nghiệm ương lươn đồng monopterus albus bằng các loại thức ăn khác nhau
Hình 6 Khối lượng trung bình cái, lưỡng tính, đực qua các tháng thu mẫu (Trang 34)
Hình 7: Chiều dài trung bình cái, lưỡng tính, đực qua - Nghiên cứu đặc điểm sinh học sinh sản và thử nghiệm ương lươn đồng monopterus albus bằng các loại thức ăn khác nhau
Hình 7 Chiều dài trung bình cái, lưỡng tính, đực qua (Trang 35)
Hình 8: Hình thái ngoài tuyến sinh dục lươn cái - Nghiên cứu đặc điểm sinh học sinh sản và thử nghiệm ương lươn đồng monopterus albus bằng các loại thức ăn khác nhau
Hình 8 Hình thái ngoài tuyến sinh dục lươn cái (Trang 37)
Bảng hình 2: Các giai đoạn phát triển của tuyến sinh dục đực và tinh trùng lươn - Nghiên cứu đặc điểm sinh học sinh sản và thử nghiệm ương lươn đồng monopterus albus bằng các loại thức ăn khác nhau
Bảng h ình 2: Các giai đoạn phát triển của tuyến sinh dục đực và tinh trùng lươn (Trang 39)
Hình 9 Hình thái ngoài tuyến sinh dục lươn đực - Nghiên cứu đặc điểm sinh học sinh sản và thử nghiệm ương lươn đồng monopterus albus bằng các loại thức ăn khác nhau
Hình 9 Hình thái ngoài tuyến sinh dục lươn đực (Trang 40)
Hình 10: Các dạng tuyến sinh dục lưỡng tính của lươn qua quan sát mô - Nghiên cứu đặc điểm sinh học sinh sản và thử nghiệm ương lươn đồng monopterus albus bằng các loại thức ăn khác nhau
Hình 10 Các dạng tuyến sinh dục lưỡng tính của lươn qua quan sát mô (Trang 41)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w