1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số giải pháp giáo dục nhận thức cho sinh viên ngành giáo dục mầm non nhằm phòng chống bạo hành trẻ em

53 19 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một số giải pháp giáo dục nhận thức cho sinh viên ngành giáo dục mầm non nhằm phòng chống bạo hành trẻ em
Tác giả Phan Thị Ngọc Nhanh
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Văn Mện, ThS. Đặng Thị Phấn, ThS. Lê Ngọc Phượng, TS. Nguyễn Phương Thảo
Trường học Trường Đại Học An Giang
Chuyên ngành Giáo dục mầm non
Thể loại Báo cáo
Năm xuất bản 2020
Thành phố An Giang
Định dạng
Số trang 53
Dung lượng 863,05 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TÓM TẮT Nghiên cứu này đã khảo sát 68 giáo viên mầm non đang công tác tại Thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang và 204 sinh viên ngành Giáo dục mầm non tại trường Đại học An Giang để tìm h

Trang 1

BÁO CÁO ĐỀ TÀI NCKH CẤP KHOA

MỘT SỐ GIẢI PHÁP GIÁO DỤC NHẬN THỨC CHO SINH VIÊN NGÀNH GIÁO DỤC MẦM NON NHẰM

Trang 2

BÁO CÁO ĐỀ TÀI NCKH CẤP KHOA

MỘT SỐ GIẢI PHÁP GIÁO DỤC NHẬN THỨC CHO SINH VIÊN NGÀNH GIÁO DỤC MẦM NON NHẰM

Trang 4

Đề tài nghiên cứu “Một số giải pháp giáo dục nhận thức cho sinh viên ngành Giáo dục mầm non nhằm phòng chống bạo hành trẻ em”, do tác giả Phan Thị Ngọc Nhanh, công tác tại Khoa Sư phạm thực hiện Đề tài được Hội đồng Khoa học và Đào tạo Khoa Sư phạm và Trường Đại học An Giang thông qua ngày 21 tháng 08 năm

Trang 5

LỜI CẢM TẠ

Tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành đến:

- Trường Đại học An Giang

- Trường mẫu giáo Hoa Sen

- Trường mẫu giáo Hoàng Oanh

- Trường mẫu giáo Hướng Dương

Đã cung cấp thông tin và giúp đỡ cho tác giả trong quá trình khảo sát, điều tra

An Giang, ngày 27 tháng 07 năm 2020

Người thực hiện

Phan Thị Ngọc Nhanh

Trang 6

TÓM TẮT

Nghiên cứu này đã khảo sát 68 giáo viên mầm non đang công tác tại Thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang và 204 sinh viên ngành Giáo dục mầm non tại trường Đại học An Giang để tìm hiểu thực trạng bạo hành và nhận thức của sinh viên về nạn bạo hành; từ đó đề xuất một số giải pháp giáo dục cần thiết cho sinh viên nhằm phòng chống bạo hành trẻ em Kết quả nghiên cứu cho thấy: Bạo hành trẻ xảy ra ở các trường mầm non với tỉ lệ 37,7%, nguyên nhân là do sự vất vả trong công việc và tâm lý chưa chấp nhận những sự khác biệt của trẻ Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng không ít sinh viên

có nhận thức lệch lạc về nguồn gốc áp lực, nguyên nhân và hành động bạo hành; tập trung chủ yếu ở sinh viên năm nhất Trên cơ sở đó, nghiên cứu đã đề xuất các giải pháp giáo dục nhận thức cho sinh viên ngành giáo dục mầm non nhằm góp phần phòng chống bạo hành trẻ em Trong đó, giải pháp thiết thực, chủ yếu là tăng cường các hoạt động trải nghiệm thực tế ở trường mầm non phối hợp giáo dục đạo đức nhà giáo và rèn luyện kỹ năng kiềm chế cảm xúc cho sinh viên

Từ khoá: bạo hành trẻ em, sinh viên ngành Giáo dục mầm non, Giáo viên mầm non, Trường Đại học An Giang

Abstract

This study surveyed 68 preschool teachers working in Long Xuyen City, An Giang province and 204 students of Early Childhood Education at An Giang University to learn about the situation of violence and awareness of students about violence; thereby suggesting necessary educational solutions for students to prevent child violence The study results showed that: Child violence occurred in preschools

at the rate of 37.7%, due to the hard work and psychology that did not accept the differences of children The study also shows that many students have a misconception about the origin of the pressure, the cause and the action of violence; focus mainly on the first students On that basis, the study has proposed cognitive education solutions for students of Early Childhood Education to contribute to the prevention of child violence Enhancing practical experience activities in preschools, educating teachers' ethics and practicing emotional restraint skills for students are considered as the key solutions

Key words: child violence, student of Early Childhood Education, preschool teacher, An Giang University

Trang 7

LỜI CAM KẾT

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu trong công trình nghiên cứu này có xuất xứ rõ ràng Những kết luận mới về khoa học của công trình nghiên cứu này chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác

An Giang, ngày 27 tháng 07 năm 2020

Người thực hiện

Phan Thị Ngọc Nhanh

Trang 8

MỤC LỤC

Trang

Chương 1: GIỚI THIỆU 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.3 Đối tượng nghiên cứu 2

1.4 Nội dung nghiên cứu 2

1.5 Những đóng góp của đề tài 2

Chương 2: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3

2.1 Giới thiệu vấn đề nghiên cứu 3

2.2 Lược khảo vấn đề nghiên cứu 9

Chương 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 12

3.1 Mẫu nghiên cứu 12

3.2 Thiết kế nghiên cứu và công cụ nghiên cứu 13

3.3 Tiến trình nghiên cứu 13

3.4 Phân tích dữ liệu 14

Chương 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 15

4.1 Thực trạng bạo hành trẻ em ở các trường mầm non 15

4.2 Một số đặc điểm của SV ngành GDMN 18

4.3 Nhận thức của SV về bạo hành trẻ em 21

4.4 Một số giải pháp giáo dục nhận thức cho SV ngành GDMN nhằm phòng chống bạo hành trẻ em 27

4.5 Một số giải pháp khác góp phần phòng chống bạo hành trẻ mầm non 30

Chương 5: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 32

5.1 Kết luận 32

5.2 Hạn chế 32

5.3 Khuyến nghị 32

TÀI LIỆU THAM KHẢO 33

PHỤ LỤC 35

Trang 9

DANH SÁNH BẢNG

Bảng 1 Phân bố mẫu khảo sát 12

Bảng 2 Phân bố phiếu điều tra 13

Bảng 3 Đặc điểm GVMN tham gia khảo sát 15

Bảng 4 Các dạng bạo hành và mức độ bạo hành ở trường mầm non 15

Bảng 5 Nguyên nhân khách quan của bạo hành trẻ ở trường mầm non 16

Bảng 6 Nguyên nhân chủ quan của bạo hành trẻ ở trường mầm non 17

Bảng 7 Mức độ cần thiết của các biện pháp phòng chống bạo hành trẻ em 18

Bảng 8 Những cách thức giải toả cơn tức giận của SV 20

Bảng 9 Nhận thức của SV về mức độ gây áp lực từ các hành động của trẻ mầm non 22

Bảng 10 Nhận thức của SV về nguyên nhân gây ra bạo hành trẻ em 23

Bảng 11 Nhận thức của SV về hành động bạo hành tâm lý 26

Trang 10

DANH SÁNH BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 1 Động lực chọn ngành của SV ngành GDMN 19

Biểu đồ 2 Quan điểm giáo dục và khả năng kiềm chế cảm xúc của SV 19

Biểu đồ 3: Cách SV sẽ xử lý khi trẻ không vâng lời 21

Biểu đồ 4 Nhận thức của SV về nguồn gốc áp lực trong hoạt động sư phạm của GVMN 22

Biểu đồ 5 Nhận thức của SV về nguyên nhân, nguồn gốc của bạo hành 25

Biểu đồ 6 Nhận thức của SV về bạo hành thể chất 25

Biểu đồ 7 Nhận thức của SV về bạo hành tâm lý 26

Trang 12

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

“Trẻ em hôm nay, thế giới ngày mai”, câu châm ngôn này đã cho thấy trẻ em có vai trò rất quan trọng đối với gia đình, xã hội và quốc gia Mọi trẻ em đều có quyền sống trong môi trường lành mạnh, an toàn và được yêu thương Lợi ích của trẻ em cần phải được đặt lên hàng đầu bởi vì trẻ là chủ nhân tương lai của đất nước Vì vậy, Đảng

và Nhà nước ta đã dành nhiều sự quan tâm đặc biệt đến trẻ em, coi đây là trách nhiệm

to lớn của đất nước Dưới sự lãnh đạo của Đảng, công cuộc đổi mới đất nước những năm qua đã thu được nhiều thành tựu đáng kể trên nhiều lĩnh vực, tạo tiền đề và nền tảng thúc đẩy công tác bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em ngày càng đạt hiệu quả cao Tuy nhiên, bên cạnh những mặt đạt được vẫn còn nhiều khó khăn thách thức Từ nhiều năm nay, tình hình bạo hành trẻ em đã trở thành vấn đề đáng lên án làm cho xã hội phải suy ngẫm Theo khảo sát của Tổng cục thống kê thì có gần 80% trẻ em Việt Nam từ 2 – 14 tuổi bị trừng phạt bằng bạo lực Trẻ em có thể bị phạt bằng bạo lực bởi chính cha mẹ, người chăm sóc và cô giáo của trẻ (Trung tâm Tin tức VTV24, 2016) Tuy nhiên nghiêm trọng nhất vẫn là các vụ bạo hành trẻ mầm non tại các cơ sở chăm sóc, giáo dục trẻ

Giáo dục mầm non (GDMN) có một vị trí đặc biệt quan trọng trong việc đặt nền móng cho sự hình thành nhân cách của trẻ em Ở trường mầm non, với phương châm hoạt động “Mỗi ngày đến trường là một ngày vui” và trẻ thực hiện hành động thông qua quan sát hành vi của người xung quanh; vì vậy quan điểm, tư tưởng và cách ứng

xử của giáo viên mầm non (GVMN) sẽ ảnh hưởng rất lớn đến tâm lý và nhân cách của trẻ Trong thời gian qua, hàng loạt vụ bạo hành trẻ em ở các cơ sở GDMN liên tục được phát hiện và công bố trên các phương tiện thông tin; từ các điểm giữ trẻ tự phát, không được cấp phép, không có chuyên môn đến các nhóm lớp có giấy phép hành nghề, đã trải qua quá trình đào tạo cho thấy sự xuống cấp nghiêm trọng trong nhận thức và hành động của một bộ phận giáo viên (GV) và bảo mẫu mầm non Điển hình

là vụ bạo hành trẻ ở cơ sở mầm non tư thục Mầm Xanh – Quận 12 – Thành phố Hồ Chí Minh đã gây xôn xao dư luận trong thời gian qua trên các phương tiện truyền thông (Thanh Hải, 2017) và hàng trăm vụ bạo hành khác Gần đây nhất là bạo hành trẻ mầm non ở nhóm trẻ “Sắc màu tuổi thơ” tại Bình Khánh – Long Xuyên – An Giang (Lục Tùng, 2018) Bạo hành trẻ mầm non không chỉ ảnh hưởng đến sự phát triển thể chất, gây hậu quả nghiêm trọng trong quá trình phát triển tâm lý của trẻ: trẻ có thể trở nên bạo lực, hung hăng hoặc trở nên yếu đuối, sợ sệt; mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín và danh dự của ngành nghề GDMN nói riêng và nghề sư phạm nói chung

Vì vậy, trong Chỉ thị số 2919/CT-BGDĐT ngày 10 tháng 08 năm 2018 về nhiệm vụ chủ yếu năm học 2018 – 2019 của ngành giáo dục, Bộ trưởng Phùng Xuân Nhạ đã đưa

ra phương hướng chỉ đạo chung là kiên quyết chống hành vi bạo hành trẻ em

Trang 13

Trước tình hình đó, việc tìm hiểu nhận thức của sinh viên (SV) và đề xuất giải pháp giáo dục đúng đắn, đặc biệt là SV ngành GDMN – người trực tiếp chăm sóc, giáo dục trẻ trong tương lai là hết sức cấp thiết

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

Tìm hiểu nhận thức, quan điểm của SV về nạn bạo hành trẻ mầm non và các bên liên quan; từ đó đề xuất một số giải pháp giáo dục nhận thức, tư tưởng cần thiết cho

SV ngành GDMN nhằm phòng chống bạo hành trẻ em

1.3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Nạn bạo hành trẻ em mầm non tại các trường mầm non trên địa bàn thành phố Long Xuyên, An Giang

Nhận thức của SV ngành GDMN tại Trường Đại học An Giang về vấn nạn bạo hành trẻ em

1.4 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

Tìm hiểu cơ sở lý thuyết để làm rõ các khái niệm: trẻ em, bạo hành, nghề GVMN, nhân cách và phẩm chất của người GVMN và những vấn đề có liên quan

Xác định thực trạng, nguyên nhân và các dạng bạo hành trẻ em tại một số trường mầm non trên địa bàn Thành phố Long Xuyên, An Giang

Tìm hiểu nhận thức của SV ngành GDMN Trường Đại học An Giang về nguyên nhân, hậu quả bạo hành đối với trẻ em

Đề xuất giải pháp giáo dục nhận thức cho SV ngành GDMN nhằm phòng chống bạo hành trẻ em sau này

1.5 NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI

Đề tài đã hệ thống hoá các lý luận có liên quan đến vấn đề nghiên cứu: luật về quyền trẻ em, các nguyên tắc chăm sóc, giáo dục trẻ mầm non, các dạng bạo hành và hậu quả của bạo hành đối với sự phát triển của trẻ em

Kết quả nghiên cứu đã mô tả thực trạng bạo hành trẻ em ở các trường nhà trẻ, mẫu giáo tại thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang

Đề tài cũng đã làm sáng tỏ tư tưởng, nhận thức của SV ngành GDMN về nghề GVMN, về vấn nạn bạo hành trẻ em Đồng thời, đã đề xuất các giải pháp giúp Bộ môn GDMN – Khoa Sư phạm – Trường Đại học An Giang giáo dục tư tưởng cho SV chuyên ngành nhằm hạn chế, khắc phục nạn bạo hành trẻ em trong tương lai

Trang 14

CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2.1 GIỚI THIỆU VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

2.1.1 Các khái niệm cơ bản

2.1.1.1 Khái niệm trẻ em

Theo định nghĩa của từ điển tiếng Việt, trẻ em thuộc các lứa tuổi thiếu niên, nhi đồng, gọi tắt là thiếu nhi, có độ tuổi từ bốn - năm đến mười bốn - mười lăm (Hoàng Phê, 1992, tr.927) Trong các công ước quốc tế về liên quan việc bảo vệ quyền con người, quyền của phụ nữ và trẻ em thì trẻ em là người dưới 18 tuổi Còn ở Điều 1 - Luật trẻ em ban hành năm 2016 của Quốc hội, trẻ em là người dưới 16 tuổi Về mặt sinh học, trẻ em là những con người ở giữa giai đoạn sơ sinh và tuổi dậy thì

Như vậy, trẻ em là từ nói chung biểu thị cho một đứa trẻ, một người chưa trưởng thành; tâm sinh lý còn non nớt, chưa hoàn thiện, nhận thức xã hội và hành vi chưa chín chắn

2.1.1.2 Khái niệm về quyền trẻ em

Luật trẻ em (2016) quy định: Trẻ em có 36 quyền cơ bản; trong đó trẻ em có quyền được bảo vệ tính mạng, được bảo đảm tốt nhất các điều kiện sống và phát triển;

có quyền được chăm sóc tốt nhất về sức khỏe; có quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng

để phát triển toàn diện; có quyền được giáo dục, học tập để phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng của bản thân và bình đẳng về cơ hội học tập và giáo dục; có quyền vui chơi, giải trí; có quyền được bảo vệ dưới mọi hình thức để không bị bạo lực,

bỏ rơi, bỏ mặc làm tổn hại đến sự phát triển toàn diện của trẻ em; có quyền được ưu tiên bảo vệ khi gặp thiên tai, thảm hoạ; có quyền được bày tỏ ý kiến, nguyện vọng;

2.1.1.3 Khái niệm bạo hành trẻ em

Theo Tổ chức Y tế Thế giới, bạo hành trẻ em là tất cả những hành vi đối xử tệ bạc về thể chất hay tinh thần, xâm hại tình dục, lợi dụng hay bỏ bê, dẫn đến nguy hại hay khả năng nguy hại đối với sức khỏe, nhân phẩm, hay sự phát triển của trẻ (Đoàn Huỳnh Kim, ngày 8 tháng 3 năm 2017 trên cổng thông tin điện tử của White Heather VN)

Bạo hành trẻ em diễn ra chủ yếu ở 2 dạng: bạo hành thể chất và bạo hành tâm

Bạo hành thể chất bao gồm những hành động như: đánh đập (đấm, đá, tát, nắm tóc, dùng roi, …), bóp cổ hoặc lắc trẻ thô bạo, ném hoặc xô đẩy trẻ, làm phỏng và tất

cả các hành vi có khả năng gây thương tích về mặt thể xác khác

Bạo hành tâm lý là những hành vi gây nguy hại đến sự phát triển tinh thần và kỹ năng xã hội của trẻ, để lại chấn thương tâm lý đáng kể cho trẻ Bạo hành tâm lý trẻ em

có thể là những hành động từ chối, bỏ bê trẻ bằng những lời nói hoặc cử chỉ, thái độ

Trang 15

như: Nói với trẻ rằng “Không ai yêu thương trẻ”; không đáp trả tình yêu thương; ngắt lời trẻ trong các cuộc đối thoại; mặc kệ cảm xúc của trẻ, chỉ trích, nhục mạ trẻ; đập phá đồ, la hét vào mặt trẻ; đổ thừa trẻ; đe dọa hoặc phạt trẻ bằng hình thức bỏ rơi, đánh đập; khiến cho trẻ mất đi niềm tin vào chính mình; …

Ngoài 2 dạng bạo hành trên còn có bạo hành tình dục, bỏ bê, lạm dụng Bạo hành tình dục là những hành vi xâm phạm thân thể đứa trẻ, sự mơn trớn hoặc đụng chạm trẻ một cách không phù hợp, bắt ép trẻ đụng chạm bộ phận sinh dục của người lớn hoặc hành động một cách gợi dục trước mặt trẻ Bỏ bê gồm những hành động như không cho trẻ ăn uống hoặc chỉ cho trẻ ăn những thức ăn thiếu dinh dưỡng, dơ bẩn; không cho trẻ ăn mặc đầy đủ; không làm vệ sinh cho trẻ; cô lập trẻ; không thực hiện những biện pháp phòng chống bệnh cho trẻ; không tạo điều kiện cho trẻ đến trường; … Lạm dụng trẻ em là hành vi sử dụng trẻ nhỏ để thu được sức lao động, lợi nhuận, thỏa mãn ham muốn tình dục, hay những lợi ích cá nhân khác

2.1.2 Tác hại của bạo hành đối với trẻ mầm non

Xét về góc độ tâm lý, trẻ bị bạo hành hoặc chứng kiến bạo hành sẽ bị kích động tâm lý, tỏ ra giận dữ, gắt gỏng, buồn chán, sợ bị bỏ rơi và để lại trong trẻ những thù hận, căm giận; khi trẻ đủ sức phản kháng, trẻ sẽ vùng dậy, bản năng phòng vệ của con người dâng cao, lúc đó trẻ sẽ không còn quan tâm đến đạo lí, quy tắc mà có những hành động hư hỏng, dễ giận dỗi, dễ rơi vào stress, ám ảnh Một số khác sẽ có hành động thu mình, nhút nhát, lo sợ, dễ phục tùng vô điều kiện, lẩn tránh người khác, tỏ ra chán đời, kém thông minh, chậm chạp Việc trẻ bị bạo hành trong thời gian dài sẽ để lại những cú sốc tâm lý ảnh hưởng nặng nề về sau, ảnh hưởng đến nhiều mặt như sự phát triển nhân cách, hành vi; khi trưởng thành sẽ có thể lặp lại hành vi bạo hành đối với người khác hoặc những hành vi phạm pháp (Trần Thị Huyền, 2006)

Ở góc độ sinh lý, hành vi bạo hành ảnh hưởng đến sức khoẻ và sự phát triển thể chất của trẻ, làm cản trở sự phát triển thể chất ở trẻ Trẻ bị bạo hành thường bị thương tích về thể chất dễ dàng nhận thấy như: vết thương bầm tím, rách da, chảy máu hoặc một số chấn thương bên trong não, phổi, lá lách, gan,… Những tổn thương này nếu không được phát hiện và cấp cứu kịp thời có thể khiến trẻ bị tử vong Đôi khi, trẻ có thể gặp vấn đề về sức khỏe như bệnh về tâm lý thần kinh, thậm chí là động kinh

2.1.3 Đặc điểm phát triển lý của trẻ mầm non

2.1.3.1 Tâm lý tuổi nhà trẻ

Nguyễn Thị Ánh Tuyết & Nguyễn Thị Như Mai (2008) cho rằng trẻ mầm non cần có sự chăm sóc, thương yêu của người lớn để phát triển toàn diện Trong giai đoạn này trẻ có những đặc điểm tâm lý chủ yếu như sau:

Trí tuệ của trẻ phát triển nhanh thể hiện ở những hành động tri giác và tư duy Trẻ hiểu nguyên nhân và hậu quả của một hành động hay sự việc nào đó; ví dụ: chạm tay vào lửa thì sẽ bị nóng, phỏng và đau Trẻ hiểu sự tồn tại của đồ vật xung quanh mặc dù trẻ không còn thấy đồ vật đó nữa như trong trò chơi ú òa

Trang 16

Ngôn ngữ tích cực được hình thành Trẻ hiểu được lời nói và có thể làm theo mệnh lệnh đơn giản Trẻ biết gọi tên một số đồ vật quen thuộc, vài bộ phận trong cơ thể; đến cuối 3 tuổi trẻ có thể nói những câu phức tạp

Sự phát triển tình cảm của trẻ trong giai đoạn này diễn ra khá mạnh mẽ Trẻ gắn

bó với người chăm sóc, từ đó phát triển cảm giác yêu thương và tin tưởng Khi đến trường, trẻ có cảm giác lo sợ khi phải xa cách mẹ nên thường có những hành động thái quá Vì vậy không nên doạ dẫm trẻ sẽ làm cảm giác lo lắng tăng lên khiến trẻ càng trở nên sợ hãi và mất đi cảm giác an toàn Trong giai đoạn này trẻ cần nhận được tình cảm yêu thương, sự tán thưởng từ những người chăm sóc để xoá bỏ sự lo lắng ngự trị bên trong

Tiền đề của nhân cách cũng được hình thành trong giai đoạn này Trẻ tự ý thức được bản thân, biết nhận thức được tên gọi, các bộ phận cơ thể và giới tính Trẻ trở nên độc lập hơn khi tự xúc cơm ăn, tự rửa tay, tự chơi một mình Nguyện vọng độc lập quá mức đã trở thành hiện tượng “khủng hoảng tuổi lên 3”, trẻ thích làm theo ý mình, có biểu hiện bướng bỉnh và làm trái ý người lớn

2.1.3.2 Tâm lý tuổi mẫu giáo

Về ý thức bản ngã: Ở giai đoạn này trẻ bắt đầu tìm hiểu, khám phá thế giới xung quanh, hoà nhập vào các mối quan hệ bạn bè và biết tự đánh giá bản thân Trẻ có thể

tự đưa ra nhận xét khi xem một bộ phim hay Ngoài ra, trẻ cũng rất chú ý đến những lời nhận xét của người khác dành cho mình Vì vậy, để hỗ trợ cho việc hình thành ý thức cá nhân thì người chăm sóc trẻ nên thường xuyên động viên, tán thưởng những hành động đúng, tránh cổ xúy cho những hành động sai hoặc chưa đúng của trẻ; không chê để làm trẻ tự ti Người lớn nên khen ngợi nhưng nên nói rõ lý do để trẻ hiểu mình

đã làm đúng điều gì và như thế nào

Ở độ tuổi mẫu giáo, các hành động của trẻ đã bắt đầu xuất phát từ động cơ và sự xuất hiện của hệ thống thứ bậc động cơ hành vi là nền tảng cho sự hình thành nhân cách ở trẻ em Đầu tiên ở trẻ xuất hiện những động cơ hành vi có liên quan đến ý thức bản ngã, đến sự hình thành “cái tôi” với tư cách là một thành viên xã hội Dần dần những động cơ này chuyển thành động cơ tự khẳng định, tự ý thức thể hiện ở chỗ muốn làm điều gì người lớn vui lòng, muốn được khen, muốn làm cái gì có ích cho người khác Tuy nhiên, động cơ lớn nhất, thúc đẩy mạnh mẽ hành vi của trẻ là hoạt động vui chơi Vì vậy GV cần biến những nhiệm vụ của trẻ thành trò chơi để thu hút, thúc đẩy và củng cố hành vi, thói quen tốt ở trẻ

Đời sống tình cảm của trẻ mẫu giáo có bước chuyển biến mạnh mẽ Ở giai đoạn này trẻ đã phát triển tất cả các sắc thái xúc cảm, trẻ phản ứng với những người xung quanh, các sự kiện vui, buồn, hờn giận…, đặc biệt trẻ thể hiện xúc cảm qua lời nói, sự vận động và điệu bộ, hành vi của trẻ Tình cảm của trẻ thể hiện ở các mặt: trí tuệ, đạo đức, thẩm mỹ Chính vì sự đa dạng trong tình cảm của trẻ mẫu giáo nên các GVMN cần tạo cho trẻ một môi trường lớp học đẹp mắt và chau chuốt từ cách ăn mặc, dáng

đi, cử chỉ, lời nói để gợi lên xúc cảm thẩm mỹ, đạo đức ở trẻ

Trang 17

Ở trẻ mẫu giáo, ý chí hình thành và phát triển nhanh dựa trên nền tảng của ý thức

“cái tôi” Trẻ biết phục tùng nhiệm vụ, khắc phục khó khăn để đáp ứng với yêu cầu của người khác Một số phẩm chất ý chí được biểu hiện trong hành động với đồ vật, hành vi ứng xử với những người xung quanh như tính mục đích, tính độc lập, tính kiên trì Tuy nhiên, trẻ còn chưa nhận thức rõ ràng, một số hành động bột phát còn xen kẽ, lấn át hành động có ý chí; do đó GVMN cần giáo dục tốt về cách ứng xử, về tình cảm đối với mọi người để hình thành những phẩm chất ý chí tốt đẹp ở trẻ

Tóm lại, trẻ mầm non đang trong độ tuổi phát triển tâm lý để hình thành nhân cách cá nhân; tâm lý, hành động của trẻ hoàn toàn khác biệt với người lớn và luôn biến đổi Vì vậy, muốn hình thành những tính cách tốt đẹp cho trẻ thì trước hết GVMN phải chấp nhận và tìm cách thích nghi với những đặc điểm khác biệt đó để có thể làm bạn cùng trẻ; đồng thời phải có phẩm chất đạo đức tốt để trẻ noi theo

2.1.4 Những nguyên tắc trong hoạt động của GVMN

2.1.4.1 Khái niệm GVMN

GVMN là người làm nhiệm vụ nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em trong nhà trường, nhà trẻ, nhóm trẻ, lớp mẫu giáo độc lập (Bộ Giáo dụcvà Đào tạo, 2015) Qua quá trình đào tạo, GVMN có được kiến thức khoa học về sự phát triển thể chất, tâm sinh lý và phương pháp nuôi dạy trẻ mầm non Ngoài ra, người GVMN cần phải đạt chuẩn đầu ra về kỹ năng và năng lực thực hành nghề nghiệp phục vụ cho hoạt động chăm sóc giáo dục trẻ dưới 6 tuổi, đáp ứng nhu cầu xã hội về phát triển con người toàn diện trong xu thế hội nhập

2.1.4.2 Các nhiệm vụ của GVMN

Theo Điều lệ trường mầm non (2015) GVMN có sáu nhiệm vụ cơ bản như sau: 1) Bảo vệ an toàn sức khỏe, tính mạng của trẻ em trong thời gian trẻ em ở trường; 2) Thực hiện công tác nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em theo chương trình GDMN; 3) Trau dồi đạo đức, giữ gìn phẩm chất, danh dự, uy tín của nhà giáo; gương mẫu, thương yêu trẻ em, đối xử công bằng và tôn trọng nhân cách của trẻ em; bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của trẻ em; đoàn kết, giúp đỡ đồng nghiệp; 4) Tuyên truyền phổ biến kiến thức khoa học nuôi dạy trẻ em cho cha mẹ trẻ; 5) Rèn luyện sức khỏe; học tập văn hóa; bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ để nâng cao chất lượng nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em; 6) Thực hiện các nghĩa vụ công dân, các quy định của pháp luật và của ngành, các quy định của nhà trường, quyết định của Hiệu trưởng Như vậy, một trong những nhiệm vụ của GVMN là gương mẫu trong cách hành

xử để trẻ em noi theo, phải biết yêu thương, chăm sóc và giáo dục trẻ em phát triển toàn diện về thể chất, trí tuệ, tình cảm, thẩm mỹ và mối quan hệ xã hội Hơn thế nữa, GVMN cần phải bảo vệ trẻ em an toàn cả về sức khoẻ lẫn tính mạng Điều lệ trường mầm non cũng nghiêm cấm GVMN xúc phạm danh dự, nhân phẩm, xâm phạm thân thể trẻ em; đối xử bất công với trẻ em

Trang 18

2.1.4.3 Đặc thù trong hoạt động của GVMN

Trẻ em là những cơ thể đang lớn và đang trưởng thành, do vậy hoạt động giáo dục trẻ mầm non có những đặc thù riêng so với hoạt động sư phạm ở các bậc học khác

về mọi mặt thì GVMN cần phải có đạo đức, trí tuệ, trình độ nghiệp vụ, nghệ thuật sư phạm và năng lực giao tiếp nhất định

Sản phẩm lao động của GVMN cũng rất đặc thù, đó là những thế hệ trẻ em phát triển toàn diện về 5 mặt: thể chất, nhận thức, ngôn ngữ, tình cảm – xã hội và thẩm mĩ Sau khi hoàn thành cấp học mầm non, trẻ em sẽ có một cơ thể khoẻ mạnh, cân đối và

có được một số kỹ năng, thói quen tốt về giữ gìn sức khoẻ, vệ sinh cá nhân; có hiểu biết ban đầu về bản thân, môi trường tự nhiên – xã hội, ham học hỏi và có khả năng quan sát, so sánh, phán đoán; có thể diễn đạt rõ ràng ý muốn, xúc cảm của bản thân bằng lời nói; có thể thực hiện một số quy định đơn giản, biết quan tâm chia sẻ, chăm sóc người thân và thiên nhiên; biết yêu cái đẹp và có hứng thú với các hoạt động nghệ thuật

“Mỗi ngày đến trường là một niềm vui”, “Học bằng chơi, chơi mà học” là phương châm hoạt động cơ bản của ngành mầm non Vì vậy, hoạt động sư phạm của GVMN cũng có nét riêng, các GV phải xây dựng một môi trường học tập tích cực, tổ chức các hoạt động học dưới dạng vui chơi, biến các tri thức thành trò chơi Theo các nhà tâm lý giáo dục, các dạng thức học của trẻ mầm non bao gồm học cảm giác, học vận động, học thực hành Trẻ dưới 6 tuổi “học không chủ định” với tính chất tự nhiên, kết hợp, thực hành, thường xuyên Điều này đòi hỏi GVMN phải linh hoạt trong việc kết hợp các dạng thức trên trong từng hoạt động học

Nét rất riêng trong hoạt động sư phạm của GVMN là thời gian lao động Lao động của GVMN cũng giống như những GV khác, thời gian lao động gắn liền với nhiệm vụ chăm sóc, giáo dục trẻ ở trường mầm non và các hoạt động ngoài giờ như soạn giáo án, làm đồ dùng đồ chơi, trang trí lớp học, Tuy nhiên, do đặc thù hoạt động học của trẻ là học bằng chơi nên công tác làm đồ dùng đồ chơi chiếm khá nhiều thời gian của GVMN Ngoài ra, thời gian lên lớp của GVMN không chỉ 8 tiếng/ ngày

mà có thể kéo dài đến 11 – 12 tiếng Các GV hay nói với nhau rằng: nghề GVMN là

Trang 19

nghề không đội nón, đi làm lúc mặt trời chưa ló dạng đến lúc trời đã tắt nắng mới về đến nhà (từ 5 giờ 30 phút sáng đến 17 giờ 30 phút mỗi ngày)

Một trong những nét đặc thù cơ bản của nghề GVMN mà chúng ta khó có thể tìm thấy ở các ngành nghề khác đó là tính chất lao động GV không chỉ là người thầy

mà còn là người mẹ của trẻ, ở trường GV không chỉ là dạy mà còn phải dỗ dành, chăm sóc dinh dưỡng và sức khoẻ cho trẻ; có thể nói đó là kết hợp của 3 loại nghề: nhà giáo, bác sĩ và nghệ sĩ Do đó, GVMN phải có đầy đủ các phẩm chất đạo đức, có kiến thức,

kỹ năng về phương pháp tổ chức hoạt động chăm sóc, giáo dục trẻ, phải có hiểu biết

về tâm sinh lý, biết phát hiện và sơ cứu cho trẻ khi bị bệnh, tai nạn; đồng thời phải có những năng lực chuyên biệt như múa, hát, kể chuyện, đóng kịch, …(Hồ Lam Hồng, 2011)

2.1.4.4 Phẩm chất của GVMN

GV nói chung cần phải có chuẩn mực đạo đức, có phẩm chất và tư tưởng tốt Tuy nhiên, ngoài nhiệm vụ làm Thầy thì GVMN còn kiêm luôn chức năng của một người mẹ Do đó, để làm tròn nhiệm vụ của mình thì một GVMN phải rèn luyện cho mình các phẩm chất sau:

Yêu quý và tôn trọng trẻ em: Trẻ em là một thực thể đang phát triển và rất nhạy cảm, cần được yêu thương để lớn lên khoẻ mạnh về thể chất và tinh thần Khi nhắc đến GVMN người ta thường nhắc đến hai khái niệm mẫu dưỡng và mẫu giáo, có nghĩa

là chăm sóc: bồng bế, cho ăn cho uống, tắm rửa, ru ngủ, … như mẹ chăm con và dạy trẻ những thói quen, kỹ năng như một người mẹ Do vậy, điều cần thiết nhất ở một GVMN là tình thương yêu, cảm thông, chia sẻ, quý trọng và đối xử công bằng đối với mọi trẻ em để trẻ cảm nhận được sự ấm áp, thương yêu và an toàn khi đến lớp như trong chính ngôi nhà của trẻ

Yêu nghề cũng là một phẩm chất quan trọng để người GVMN có thể gắn bó với nghề lâu dài Yêu nghề thể hiện qua việc giữ gìn phẩm chất, danh dự, uy tín của mình

và nhiệt tình thực hiện các công việc, các yêu cầu của ngành nghề Phẩm chất yêu nghề còn được thể hiện thông qua sự tận tuỵ với công việc chăm sóc, giáo dục trẻ em Chăm sóc một đứa con đã khó, chăm sóc một đàn con càng khó hơn; đòi hỏi GVMN phải hết sức tận tâm với nghề nghiệp mới có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ cao cả này Lòng yêu nghề sẽ chính là động lực giúp GV vượt qua khó khăn, vất vả để gắn bó và chăm sóc chu đáo cho trẻ

Kiên trì và kiềm chế cảm xúc cũng là một phẩm chất không thể thiếu của người GVMN Trẻ em là một cá thể hồn nhiên, vô tư trong suy nghĩ, hành động theo bản năng, chưa kiểm soát được hành vi và tư duy của trẻ mầm non chủ yếu là tư duy trực quan hành động và tư duy trực quan hình tượng, chưa phát triển mạnh kiểu tư duy trừu tượng nên trẻ thường gặp khó khăn khi phải nghe và thực hiện một chuỗi các hành động; chưa biết cách bày tỏ mong muốn của mình bằng ngôn ngữ một cách mạch lạc

và rõ ràng Chính điều này đòi hỏi người GV phải biết chờ đợi, lắng nghe để thấu hiểu;

từ đó uốn nắn và định hướng những suy nghĩ của trẻ theo hướng đúng đắn

Trang 20

Ngoài ra, GVMN cũng cần phải linh hoạt mềm dẻo để thích ứng với sự đa dạng của tất cả trẻ trong lớp, nhạy cảm để nhận biết những khó khăn của trẻ, hài hước để giảm bớt căng thẳng và áp lực trong công việc; từ đó yêu nghề và gắn bó hơn với nghề Nhìn chung, GVMN cần phải hiểu rõ đặc điểm tâm sinh lý của trẻ, chấp nhận rằng trẻ có những đặc điểm phát triển riêng biệt và phải rèn luyện cho mình phẩm chất đạo đức tốt để thích ứng với đặc thù nghề nghiệp

2.2 LƯỢC KHẢO VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Bạo hành trẻ em là một vấn nạn mang tầm quốc tế, xảy ra từng ngày từng giờ, ở mọi quy mô lớn nhỏ

2.2.1 Các nghiên cứu trong nước

Theo báo cáo tình trạng trẻ em của Unicef năm 2009, có khoảng 500 triệu trẻ em

bị ảnh hưởng của bạo lực (chiếm khoảng ¼ tổng số trẻ em trên thế giới) Ở nước ta, tình trạng bạo lực trẻ em trong những năm gần đây diễn biến phức tạp và có xu hướng gia tăng Trong hai năm 2008 – 2009, cả nước đã xảy ra 5.956 vụ bạo hành trẻ em được phát hiện và xử lý; chủ yếu xảy ra ở gia đình, trường học mà kẻ bạo hành chính

là cha mẹ, người thân, thầy cô giáo của trẻ (Bộ Lao động – thương binh và xã hội, 2010)

Nhóm tác giả Hồ Thị Luấn và Mai Thị Quế (2009) đã tiến hành nghiên cứu “Bạo hành trẻ em trong nhà trường, nguyên nhân và một số giải pháp phòng ngừa” trên đối tượng học sinh đã cho thấy có 73,7% GV có dùng các hành động bạo hành đối với học sinh do nhận thức và quan niệm giáo dục truyền thống của GV

Phân tích xã hội học của Nguyễn Thị Minh Sao (2015) về “Tình trạng bạo lực của GV đối với học sinh” đã chỉ rõ bạo lực xảy ra ở hai mặt là thể chất và tinh thần Bạo lực thể chất biểu hiện bằng các hành động như khẽ tay, cốc đầu, nhéo tai, tát vào mặt, phơi nắng,… gây hậu quả nghiêm trọng đến sức khỏe và tính mạng của học sinh Bạo lực tinh thần biểu hiện trong cách ứng xử giữa GV và học sinh, cụ thể như mắng chửi, dọa nạt, dùng lời thô tục khi giao tiếp trên các trang mạng xã hội,… Tác giả cũng nêu ra ba nguyên nhân chủ yếu gây ra bạo lực học đường: 1) Quan điểm sai lệch trong dạy học “Thương cho roi cho vọt” và hiệu quả của đòn roi đến sự ngoan hiền của học sinh; 2) Sự kém tuân thủ các quy định của nhà trường và ít qua tâm đến những quy định của Luật giáo dục; 3) GV thiếu quan tâm đến tâm lý tình cảm của học sinh Trong nghiên cứu “Nhận thức của SV ngành học mầm non về vấn đề bạo hành trẻ trong các trường mầm non” (2016), Lê Thị Thanh Huyền đã cho thấy SV bước đầu

có hiểu biết đúng về các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi bạo hành của GVMN đối với trẻ, tuy nhiên SV chưa hiểu biết đầy đủ về các hình thức bạo hành trẻ trong các trường mầm non

Năm 2017, Trịnh Viết Then & Trần Tuấn Lộ đã tiến hành nghiên cứu về nguyên nhân bạo hành trẻ em trong trường mầm non tại Thành phố Hồ Chí Minh Trong nghiên cứu của mình, các tác giả đã nêu ra 4 nhóm nguyên nhân dẫn đến bạo hành là từ trẻ,

Trang 21

áp lực công việc, mâu thuẫn với phụ huynh và suy giảm sức khỏe của GV; trong đó áp lực công việc và suy giảm sức khỏe của GV là hai nguyên nhân thỉnh thoảng tác động đến hành vi bạo hành, các nguyên nhân còn lại thì hiếm khi ảnh hưởng đến GV Ngày 28 tháng 12 năm 2017, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Chương trình hành động phòng chống bạo lực học đường trong các cơ sở GDMN, giáo dục phổ thông, giáo dục thường xuyên giai đoạn 2017 – 2021 với mục tiêu chung là bảo đảm môi trường giáo dục an toàn, lành mạnh, thân thiện; chủ động phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn và kịp thời xử lý các hành vi vi phạm nhằm giảm thiểu bạo lực học đường Trong quyết định ban hành cũng đã nêu ra nhiều giải pháp: từ tuyên truyền, giáo dục tích hợp các nội dung phòng chống bạo lực đến xây dựng trường học an toàn, nâng cao đạo đức nghề nghiệp cho nhà giáo, đồng thời hoàn thiện văn bản quy phạm phát luật để xử lý nghiêm những hành vi bạo lực

Năm 2019, Nguyễn Thị Phú Quý & Bùi Thế Bảo đã nghiên cứu “Nguyên nhân bạo hành trẻ mầm non tư thục tại khu công nghiệp và vùng phụ cận Thành phố Hồ Chí Minh” đã chỉ ra các nguyên nhân chủ quan của nạn bạo hành là do GV dễ bị căng thẳng, thiếu kỹ năng xử lý các tình huống, cũng như chưa chấp nhận sự khác biệt của trẻ và nguyên nhân khách quan là do họ chịu các áp lực từ phụ huynh về thể trạng trẻ,

từ sự đánh giá của xã hội và sự quá tải trong công việc Cùng thời gian này, trong nghiên cứu “Giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho SV ngành GDMN trường Cao đẳng

Sư phạm Điện Biên”, tác giả Nguyễn Thị Sen đã cho thấy đặc thù trong nghề nghiệp của GVMN là vất vả, áp lực đòi hỏi GV phải yêu trẻ, yêu nghề nhưng thực trạng bạo hành trẻ đang báo động về đạo đức nghề nghiệp của GVMN hiện nay; tác giả cũng đề cập đến một số giải pháp giáo dục đạo đức nghề nghiệp nhằm tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao, góp phần phòng chống bạo hành

Tác giả Trần Thị Minh Thi tiến hành nghiên cứu thực trạng và nguyên nhận bạo lực đối với trẻ em từ tiếp cận khung sinh thái xã hội vào năm 2019 đã chỉ ra bạo lực đối với trẻ em đang diễn ra rất phức tạp với nhiều nguyên nhân khác nhau; trong đó việc chứng kiến hoặc trải nghiệm bạo lực thời thơ ấu có thể dẫn đến việc hình thành hành vi bạo lực

Trong báo cáo hội thảo của Viện Nghiên cứu Phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, tiến sĩ Nguyễn Hữu Nguyên (k.n) đã cho rằng nạn bạo hành trẻ em hiện nay có rất nhiều nguyên nhân từ kinh tế, xã hội, văn hóa, thói quen, đồng thời biểu hiện sự thiếu vắng của việc thực thi luật pháp Tác giả cũng cho thấy mối quan hệ khắng khít giữa quan niệm dạy con của thời xưa với bạo hành ngày nay

Như vậy đã có nhiều nghiên cứu về bạo hành trẻ em trong gia đình và nhà trường, các nghiên cứu có quy mô khác nhau từ cấp độ bài tập nhóm của SV, tiểu luận đến báo cáo khoa học Các nghiên cứu tập trung vào tìm hiểu nguyên nhân bạo hành từ phía GVMN và các giải pháp khắc phục Tuy nhiên, ở mức bộ báo cáo khoa học thì chưa

có nhiều nghiên cứu về nhận thức của SV đối với vấn nạn bạo hành trẻ em cũng như

Trang 22

giải pháp để giáo dục lòng yêu nghề mến trẻ và tư tưởng đúng đắn cho SV ngành GDMN nhằm ngăn ngừa bạo hành sau này

2.2.2 Các nghiên cứu ngoài nước

Trong Báo cáo về phòng chống tai nạn thương tích ở trẻ em của Tổ chức Y tế Thế giới có đề cập đến nghiên cứu của Tổng thư kí Liên Hợp Quốc vào năm 2006 về bạo lực đối với trẻ em Kết quả nghiên cứu đã khẳng định rằng: Bạo lực diễn ra ở khắp mọi nơi trên thế giới, kẻ bạo hành có thể là mọi thành viên trong xã hội mà hậu quả của nó là vô cùng nặng nề: có thể bị chết, thương tật về thể xác và tinh thần, … Không

có bạo lực nào đối với trẻ em là chính đáng và tất cả các hình thức bạo lực là có thể ngăn ngừa được Báo cáo cũng nêu ra một số giải pháp ngăn chặn bạo lực trẻ em trong trường học như: áp dụng và thực hiện nguyên tắc ứng xử cho toàn thể nhân viên và học sinh, GV và lãnh đạo trường không có hành vi bạo lực, xây dựng chương trình rèn luyện kỹ năng mềm cho người học

Trong luận án tiến sĩ “Đánh giá khả năng phục hồi ở trẻ em mầm non tiếp xúc với bạo lực từ người thân thuộc: Sử dụng nhiều thông tin và đánh giá tác động của Can thiệp cho trẻ em ở trường mầm non” năm 2011, Howell ở Trường Đại học Michigan

đã thử nghiệm can thiệp trong 6 tháng đối với những trẻ đã từng chứng kiến bạo lực Kết quả cho thấy sự can thiệp là không hiệu quả đối với cảm xúc và kỹ năng xã hội của trẻ chứng kiến bạo lực từ người thân thuộc Điều này nói lên rằng: một khi trẻ em lứa tuổi mầm non đã chứng kiến những hành vi bạo lực từ những người thân thuộc sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến cảm xúc, hành vi, kỹ năng xã hội của trẻ và không thể phục hồi được

Tác giả Pingley với nghiên cứu “Tác động của việc chứng kiến bạo lực gia đình đối với trẻ em: Đánh giá có hệ thống” vào năm 2017 cũng đã chỉ ra hệ quả của việc tiếp xúc hoặc chứng kiến hành vi bạo lực có thể dẫn đến những vấn đề về sức khỏe thể chất, sức khỏe tinh thần, cản trở việc phát triển các kỹ năng xã hội và những thay đổi trong quá trình xử lý nhận thức

Mặc dù còn ít ỏi nhưng các nghiên cứu này đã chỉ ra hậu quả nghiêm trọng của việc bạo hành đối với trẻ em và kịch liệt lên án những hành vi bạo hành đối với trẻ mầm non

Trang 23

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 MẪU NGHIÊN CỨU

11 để đảm bảo phân bố mẫu như bảng 1

Bảng 1 Phân bố mẫu khảo sát

Trang 24

Mẫu được lựa chọn theo kiểu thuận tiện, có chủ đích, đảm bảo các yêu cầu sau:

- Trường đạt chuẩn quốc gia

- Có từ 3 năm kinh nghiệm trở lên trong công tác hướng dẫn kiến tập – thực tập cho SV ngành GDMN của trường Đại học An Giang

3.2 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU VÀ CÔNG CỤ NGHIÊN CỨU

3.2.1 Thiết kế nghiên cứu

Điều tra cắt ngang mô tả đối với các nội dung tìm hiểu nhận thức của SV ngành GDMN về bạo hành trẻ em và thực trạng bạo hành ở các trường nhà trẻ, mẫu giáo

3.2.2 Công cụ nghiên cứu

Phiếu khảo sát SV: phiếu được thiết kế gồm 17 câu hỏi với 2 nội dung chính: phần 1 tìm hiểu về tính cách, quan điểm cá nhân; phần 2 tìm hiểu nhận thức của SV

về nguyên nhân, hình thức, hậu quả,… của nạn bạo hành trẻ em

Phiếu khảo sát GV: phiếu khảo sát gồm 11 câu hỏi tìm hiểu 3 vấn đề chính: phần

1 tìm hiểu tính cách, quan điểm cá nhân về giáo dục trẻ em; phần 2 tìm hiểu thực trạng bạo hành; phần 3 về các giải pháp hạn chế nạn bạo hành ở trường mầm non Bên cạnh

đó, phiếu khảo sát cũng tìm hiểu một số thông tin cá nhân của GV

3.3 TIẾN TRÌNH NGHIÊN CỨU

Phiếu khảo sát được phát cho các đối tượng thuộc nhóm mẫu điều tra, sau đó thu

về và loại bỏ những phiếu không hợp lệ Phiếu không hợp lệ là những phiếu trả lời không đủ câu hỏi, bỏ trống, sót ý

Khảo sát bằng phiếu đối với SV được tiến hành tập trung 2 buổi vào giữa cuối tháng 4/2019 Mỗi SV thuộc nhóm mẫu khảo sát được nhận 1 phiếu khảo sát, nghe hướng dẫn và thực hiện không giới hạn thời gian Tổng số phiếu phát ra là 204 phiếu

Tỉ lệ phiếu thu về đạt 100%; trong đó số phiếu hợp lệ là 193 phiếu Phân bố phiếu điều tra như bảng 2:

Bảng 2 Phân bố phiếu điều tra

Lớp SV Số phiếu phát ra Số phiếu thu về Số phiếu hợp lệ

Trang 25

Đối với GV ở trường nhà trẻ, mẫu giáo, phiếu khảo sát được chuyển đến tay từng

GV và thu về thông qua Ban giám hiệu trong khoảng thời gian từ ngày 23 – 25/4/2019 Tổng số phiếu phát ra là 68 phiếu, số phiếu thu về là 60 phiếu, số phiếu hợp lệ là 58 phiếu

3.4 PHÂN TÍCH DỮ LIỆU

Số liệu khảo sát thu về được phân tích định lượng bằng phần mềm Microsoft Excel Các số liệu được phân tích bao gồm: tỉ lệ phần trăm, giá trị trung bình, độ lệch chuẩn, kiểm định T.Test

Đối với câu hỏi sử dụng thang đo 5 điểm Mỗi điểm trong thang đo sẽ tương ứng với các mức đánh giá: 1 = Rất không đồng ý/Rất không cần thiết, 2 = Không đồng ý/Không cần thiết, 3 = Phân vân, 4 = Đồng ý/Cần thiết, 5 = Rất đồng ý/Rất cần thiết Giá trị trung bình đối với thang đo được tính theo giá trị khoảng cách (Maximum - minimum)/n = (5 - 1)/5 = 0,8 giữa các mức đánh giá Với thang đo 5 mức độ có thể cho biết các mức đánh giá như sau: 1,00 - 1,80: Rất không đồng ý/Rất không cần thiết/Tác động rất ít; 1,81 - 2,60: Không đồng ý/Không cần thiết/Tác động ít; 2,61 - 3,40: Phân vân/Trung bình; 3,41 - 4,20: Đồng ý/Cần thiết/Tác động lớn; 4,21 - 5,00: Rất đồng ý/Rất cần thiết/ Tác động rất lớn

Trang 26

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 4.1 THỰC TRẠNG BẠO HÀNH TRẺ EM Ở CÁC TRƯỜNG MẦM NON 4.1.1 Một số nét khái quát về đối tượng khảo sát

Bảng 3 Đặc điểm GVMN tham gia khảo sát

58 GVMN đang công tác tại các trường nhà trẻ, mẫu giáo ở Long Xuyên, An Giang Tuổi đời bình quân 31,6 tuổi

Quan điểm giáo dục Không đòn roi

Khả năng kiềm chế 49/58 có khả năng kiểm soát được cảm xúc của bản

thân Nhận thức về các dạng bạo

Nhìn tổng thể, các GVMN với tuổi đời còn trẻ, quan điểm giáo dục đúng đắn,

có tình yêu thương đối với trẻ nhỏ, có kỹ năng kiềm chế tốt và cách ứng xử nhẹ nhàng với trẻ

4.1.2 Các dạng bạo hành ở trường mầm non

Bảng 4 Các dạng bạo hành và mức độ bạo hành ở trường mầm non

Thường xuyên

Ngày đăng: 15/04/2021, 19:45

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. Phân bố mẫu khảo sát - Một số giải pháp giáo dục nhận thức cho sinh viên ngành giáo dục mầm non nhằm phòng chống bạo hành trẻ em
Bảng 1. Phân bố mẫu khảo sát (Trang 23)
Bảng 2. Phân bố phiếu điều tra - Một số giải pháp giáo dục nhận thức cho sinh viên ngành giáo dục mầm non nhằm phòng chống bạo hành trẻ em
Bảng 2. Phân bố phiếu điều tra (Trang 24)
Bảng 4. Các dạng bạo hành và mức độ bạo hành ở trường mầm non - Một số giải pháp giáo dục nhận thức cho sinh viên ngành giáo dục mầm non nhằm phòng chống bạo hành trẻ em
Bảng 4. Các dạng bạo hành và mức độ bạo hành ở trường mầm non (Trang 26)
Bảng 3. Đặc điểm GVMN tham gia khảo sát - Một số giải pháp giáo dục nhận thức cho sinh viên ngành giáo dục mầm non nhằm phòng chống bạo hành trẻ em
Bảng 3. Đặc điểm GVMN tham gia khảo sát (Trang 26)
Bảng 5. Nguyên nhân khách quan của bạo hành trẻ ở trường mầm non - Một số giải pháp giáo dục nhận thức cho sinh viên ngành giáo dục mầm non nhằm phòng chống bạo hành trẻ em
Bảng 5. Nguyên nhân khách quan của bạo hành trẻ ở trường mầm non (Trang 27)
Bảng 5 cho thấy, tất cả các nguyên nhân khách quan được khảo sát đều tác động  khá lớn  đến hành vi bạo hành trẻ, trong đó các nguyên nhân khác: trẻ đông, GV ít được  quan tâm về tinh thần có mức độ tác động lớn nhất đến GV - Một số giải pháp giáo dục nhận thức cho sinh viên ngành giáo dục mầm non nhằm phòng chống bạo hành trẻ em
Bảng 5 cho thấy, tất cả các nguyên nhân khách quan được khảo sát đều tác động khá lớn đến hành vi bạo hành trẻ, trong đó các nguyên nhân khác: trẻ đông, GV ít được quan tâm về tinh thần có mức độ tác động lớn nhất đến GV (Trang 27)
Bảng 6. Nguyên nhân chủ quan của bạo hành trẻ ở trường mầm non - Một số giải pháp giáo dục nhận thức cho sinh viên ngành giáo dục mầm non nhằm phòng chống bạo hành trẻ em
Bảng 6. Nguyên nhân chủ quan của bạo hành trẻ ở trường mầm non (Trang 28)
Bảng 7. Mức độ cần thiết của các biện pháp phòng chống bạo hành trẻ em - Một số giải pháp giáo dục nhận thức cho sinh viên ngành giáo dục mầm non nhằm phòng chống bạo hành trẻ em
Bảng 7. Mức độ cần thiết của các biện pháp phòng chống bạo hành trẻ em (Trang 29)
Bảng 8. Những cách thức giải toả cơn tức giận của SV - Một số giải pháp giáo dục nhận thức cho sinh viên ngành giáo dục mầm non nhằm phòng chống bạo hành trẻ em
Bảng 8. Những cách thức giải toả cơn tức giận của SV (Trang 31)
Bảng 9. Nhận thức của SV về mức độ gây áp lực từ các hành động của trẻ mầm  non - Một số giải pháp giáo dục nhận thức cho sinh viên ngành giáo dục mầm non nhằm phòng chống bạo hành trẻ em
Bảng 9. Nhận thức của SV về mức độ gây áp lực từ các hành động của trẻ mầm non (Trang 33)
Bảng 10. Nhận thức của SV về nguyên nhân gây ra bạo hành trẻ em - Một số giải pháp giáo dục nhận thức cho sinh viên ngành giáo dục mầm non nhằm phòng chống bạo hành trẻ em
Bảng 10. Nhận thức của SV về nguyên nhân gây ra bạo hành trẻ em (Trang 34)
Bảng 11. Nhận thức của SV về hành động bạo hành tâm lý - Một số giải pháp giáo dục nhận thức cho sinh viên ngành giáo dục mầm non nhằm phòng chống bạo hành trẻ em
Bảng 11. Nhận thức của SV về hành động bạo hành tâm lý (Trang 37)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w