TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG KHOA NÔNG NGHIỆP & TÀI NGUYÊN THIÊN THIÊN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN KHẢO SÁT THÀNH PHẦN LOÀI, MỨC ĐỘ GÂY HẠI VÀ DIỄN BIẾN MẬT SỐ CỦA CÔN TRÙNG GÂY HẠI
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG KHOA NÔNG NGHIỆP & TÀI NGUYÊN THIÊN THIÊN
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN
KHẢO SÁT THÀNH PHẦN LOÀI, MỨC ĐỘ GÂY HẠI VÀ DIỄN BIẾN MẬT SỐ CỦA CÔN TRÙNG GÂY HẠI TRÊN CÂY MÈ TẠI CHÂU PHÚ - AN GIANG
Chủ nhiệm đề tài: KS NGUYỄN HOÀI HẬN
Tháng 07, Năm 2012
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG KHOA NÔNG NGHIỆP & TÀI NGUYÊN THIÊN THIÊN
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN
KHẢO SÁT THÀNH PHẦN LOÀI, MỨC ĐỘ GÂY HẠI VÀ DIỄN BIẾN MẬT SỐ CỦA CÔN TRÙNG GÂY HẠI TRÊN CÂY MÈ TẠI CHÂU PHÚ - AN GIANG
GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI
BAN GIÁM HIỆU LÃNH ĐẠO ĐƠN VỊ THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
Tháng 07, Năm 2012
Trang 3Rất biết ơn chú Nguyễn Văn Đùm đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình khảo sát thực tế ngoài đồng ruộng
Xin thân ái gửi về Trường Đại Học An Giang, về lớp DH9TT những tình cảm tốt đẹp nhất
Gửi lời cảm ơn đến các bạn: Huỳnh Thanh Đệ, Nguyễn Hửu Thọ, Hồ Thị Thúy Khoa, Trần Thị Tuyết Mai, Võ Thị Ngọc Hiếu, Nguyễn Thị Liền đã giúp
đỡ tôi rất nhiều để tôi có thể hoàn thành đề tài
Trang 4ii
TÓM LƯỢC
Để có cái nhìn toàn diện về thành phần loài, mức độ gây hại và diễn biến mật
số của các loài côn trùng gây hại trên cây mè chúng tôi đã tiến hành khảo sát tại xã Bình Thủy, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang
Qua quá trình điều tra với kết quả đạt được diện tích trồng mè của nông dân xã Bình Thủy khá lớn và đồng đều, nông dân ở đây mới bắt đầu trồng mè trong thời gian gần đây, có trình độ tương đối cao nên năng suất ngày càng được cải thiện Tuy nhiên nông dân đã lạm dụng thuốc hóa học để phòng trừ dịch hại nên hiệu quả đạt được chưa cao do sâu ngày càng kháng thuốc và làm tốn nhiều chi phí
Cùng với quá trình khảo sát thực tế ngoài đồng ruộng Phát hiện được 13 loại côn trùng trên ruộng mè trong đó có 9 loài gây hại và 4 loài thiên địch Các
loài côn trùng gây hại đó là: sâu xanh da láng (Spodoptera exigua), sâu keo (Spodoptera litura), sâu sừng (Acherontia lachesis), sâu nhiếu đọt (Antigastra catalaunalis), bọ trĩ (Baliothrips biformis), bọ xít muỗi (Nezara viridula), bọ xít xanh (Cyrtopeltis tenuis), rầy xanh (Amrasca devestans) và ruồi đục lá (Opbiomyza phaseoli) Nhóm thiên địch là: kiến ba khoang, bọ rùa đỏ, bọ rùa
8 chấm và ong ký sinh
Sau khi xác định được thành phần các loài côn trùng gây hại Tiến hành đánh giá mức độ gây hại của các loài côn trùng này và sau đó ghi nhận diễn biến mật số, cuối cùng là ghi nhận cách gây hại của chúng Kết quả khảo sát cho
thấy mức độ gây hại của sâu xanh da láng (Spodoptera exigua) và sâu keo (Spodoptera litura) là cao nhất trêm 50%, kế đến là bọ trĩ (Baliothrips biformis) và bọ xít muỗi (Nezara viridula), nhẹ nhất là sâu sừng (Acherontia lachesis), sâu nhiếu đọt (Antigastra catalaunalis), bọ xít xanh (Cyrtopeltis tenuis), rầy xanh (Amrasca devestans) và ruồi đục lá (Opbiomyza phaseoli)
Đối với diễn biến mật số thì vào giai đoạn đầu 7 ngày sau khi gieo thì không thấy loài côn trùng nào gây hại Tuy nhiên vào đến giai đoạn sinh trưởng tích cực thì các loài côn trùng gây hại tập chung gây hại và gia tăng mật số vào giai đoạn này sau đó giảm vào giai đoạn cây ra hoa
Bên cạnh đó do trên ruộng mè luôn hiện diện các loài thiên địch ở mức cao đặc biệt là kiến ba khoang nên đã quản lý rất tốt các loài côn trùng gây hại làm cho mức độ gây hại của chúng nằm ở mức thấp
Trang 5iii
MỤC LỤC
LỜI CẢM TẠ i
TÓM LƯỢC ii
Mục lục iii
Danh sách bảng vi
Danh sách hình vii
Danh mục các từ viết tắt viii
Chương 1: Giới thiệu 1
1.1 Đặc vấn đề 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 1
Chương 2: Lược khảo tài liệu 2
2.1 Nguồn gốc và sự phân bố 2
2.2 Tình hình sản xuất mè trên thế giới và ở Việt Nam 2
2.2.1 Tình hình sản xuất mè trên thế giới 2
2.2.2 Tình hình sản xuất mè ở Việt Nam 4
2.3 Sơ lược về đặc điểm thực vật của cây Mè 5
2.3.1 Rễ 5
2.3.2 Thân 5
2.3.3 Lá 6
2.3.4 Hoa 6
2.3.5 Quả 7
2.3.6 Hạt 7
2.4 Sơ lược về sự sinh trưởng và phát triển của cây mè 7
2.5 Sơ lược về thành phần các loài sâu gây hại trên cây mè 8
2.6 Sơ lược về đặc điểm hình thái và tập quán sinh hoạt của các loài sâu gây hại trên cây mè 8
2.6.1 Sâu khoang 8
Trang 6iv
2.6.2 Sâu sa 10
2.6.3 Rệp Xanh 11
2.6.4 Rầy mềm: (rệp dưa) 12
2.6.5 Bọ xít xanh 13
2.6.6 Câu cấu xanh lớn 15
Chương 3: Phương tiện và phương pháp 16
3.1 Phương tiện nghiên cứu 16
3.1.1 Thời gian và địa điểm 16
3.1.2 Vật liệu thí nghiệm 16
3.2 Phương pháp thực hiện 16
3.2.1 Phương pháp điều tra nông dân 16
3.2.2 Khảo sát thực tế ngoài đồng ruộng 17
3.2.3 Khảo sát trong phòng thí nghiệm 17
3.3 Xử lý số liệu 18
3.4 Định danh 18
Chương 4: Kết quả thảo luận 19
4.1 Kết quả điều tra nông dân 19
4.1.1 Sơ lược về tình hình nông hộ 19
4.1.2 Một số ghi nhận về thời vụ và kỹ thuật canh tác cây mè 20
4.1.3 Sự hiểu biết của nông dân về sâu, bệnh gây hại trên cây mè và biện pháp phòng trừ 23
4.2 Kết quả khảo sát ngoài đồng 25
4.2.1 Tình hình chung trên các ruộng khảo sát 26
4.2.2 Thành phần loài và mức độ gây hại của các loài sâu trên cây mè 26
4.2.3 Biến động mật số của các loài sâu gây hại trên cây mè 28
4.2.4 Cách gây hại của một số loài sâu gây hại trên cây mè 32
4.2.4.1 Sâu xanh da láng (Spodoptera exigua) 32
4.2.4.2 Sâu keo (Spodoptera litura) 33
Trang 7v
4.2.4.3 Sâu sừng (Acherontia lachesis) 34
4.2.4.4 Sâu nhiếu đọt (Antigastra catalaunalis) 35
4.2.4.5 Bọ trĩ (Baliothrips biformis) 35
4.2.4.6 Bọ xít xanh (Cyrtopeltis tenuis) 36
4.2.4.7 Bọ xít muỗi (Nezara viridula) 36
4.2.4.8 Rầy xanh (Amrasca devestans) 37
4.2.4.9 Ruồi đục lá (Opbiomyza phaseoli) 37
4.2.5 Thành phần một số loài thiên địch được ghi nhận trên ruộng mè 38
Chương 5: Kết luận và kiến nghị 39
5.1 Kết luận 39
5.2 Kiến nghị 40
TÀI LIỆU THAM KHẢO 41
PHỤ CHƯƠNG 42
Phụ chương 1: Tình hình nông hộ 42
Phụ chương 2: Kỹ thuật canh tác 43
Phụ chương 3: Phiếu phỏng vấn nông dân 44
Trang 8Diện tích, năng suất và sản lượng Mè trên thế giới 1999
Diện tích, năng suất và sản lượng Mè trên các vùng sinh thái
nông nghiệp nước ta từ năm 2000-2004
Sơ lược về tình hình nông hộ ở xã Bình Thủy, huyện Châu Phú
Thời vụ và một số kỹ thuật canh tác cây mè tại, xã Bình Thủy,
huyện Châu phú
Kết quả về côn trùng gây hại trên cây mè tại Bình Thủy, Châu
Phú, An Giang
Các loại thuốc BVTV trừ sâu nông dân thường sử dụng
Kết quả về bệnh gây hại trên cây mè tại Bình Thủy, Châu Phú,
An Giang
Các loại thuốc BVTV trừ bệnh nông dân thường sử dụng
Thành phần côn trùng hiện diện trên ruộng mè tại Châu Phú,
An Giang năm 2012
Thành phần và giai đoạn hiện diện của côn trùng gây hại trên
ruộng mè tại Châu Phú, An Giang
Mức độ của các loài sâu gây hại trên cây mè tại Châu Phú, An
Trang 9Sơ đồ thu mẫu
Ruộng mè được chọn làm điểm khảo sát
Biều đồ thể hiện sự biến động mật số của sâu xanh da láng và
sâu keo
Biều đồ thể hiện sự biến động mật số của sâu sừng và bọ trĩ
Biều đồ thể hiện sự biến động mật số của sâu nhiếu đọt, bọ xít
Ấu trùng sâu nhiếu đọt
Triệu chứng gây hại của bọ trĩ trên cây mè
Bọ xít xanh trên ruộng mè
Bọ xít Muỗi
Rầy xanh trưởng thành
Ruồi đục lá trên ruộng mè
Trang 10KNSX: kinh nghiệm sản xuất
NSKG: ngày sau khi gieo
Sâu XDL: sâu xanh da láng
TĐHV: trình độ học vấn
THKN: tập huấn khuyến nông
Trang 111
Chương 1 Giới thiệu
1.1 Đặt vấn đề
Châu Phú là một trong những huyện đầu nguồn của Đồng Bằng Sông Cửu Long, nằm bên bờ Tây sông Hậu Với điều kiện tự nhiên như vậy Châu Phú rất thuận lợi cho việc trồng nhiều loại cây trồng Bên cạnh đó kinh nghiệm trồng Mè trên nền đất nổi của bà con nông dân huyện Châu Phú đã có từ lâu Tuy nhiên do chuyển đổi sang trồng lúa cao sản nên diện tích trồng Mè của huyện bị thu hẹp Trong vài năm gần đây do việc hưởng ứng chủ trương chuyển dịch cơ cấu cây trồng của tỉnh, thì việc chọn cây Mè là đối tượng luân canh được bà con nông dân ưu tiên hàng đầu Châu Phú còn là huyện được trung tâm khuyến nông tỉnh chọn làm nơi triển khai dự án thực hiện nhân giống mè cao sản
Vụ hè thu năm 2011, Mè được trồng luân canh trên nền đất lúa của huyện đã đạt gần 300ha Việc trồng Mè đã góp phần cải thiện đời sống của bà con nông dân Tuy nhiên trong quá trình canh tác thì bà con nông dân ở đây cũng đã gặp không ít khó khăn do các loài côn trùng gây hại trên cây Mè gây nên Các loài côn trùng này đã làm ảnh hưởng rất lớn đến năng suất thu hoạch của cây Mè Tuy nhiên những công trình nghiên cứu về các loài côn trùng gây hại trên Mè
thì rất là hạn chế Vì thế đề tài “Khảo sát thành phần loài, mức độ gây hại
và diễn biến mật số của côn trùng gây hại trên Mè tại huyện Châu Phú –
An Giang.” được thực hiện nhằm khảo sát thành phần loài của các loài côn
trùng gây hại, mức độ gây hại của các loài côn trùng này, cũng như diễn biến mật số của chúng qua các giai đoạn của cây Mè
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Đánh giá tình hình canh tác và cách đối phó của nông dân với dịch hại trên cây
Mè tại huyện Châu Phú
Khảo sát thành phần loài, mức độ gây hại và diễn biến mật số của các loài côn trùng gây hại trên cây Mè
Trang 122
Chương 2 Lược khảo tài liệu
2.1 Nguồn gốc và sự phân bố
Theo Tạ Quốc Tuấn và ctv (2006), cây Mè có tên khoa học là Sesamum indicum L , thuộc bộ Tubiflorae, họ Pedaliacea, có 16 chi và khoảng 60 loài, trong đó có một vài loài có thể được lai với Sesamum indicum và cũng được
gieo trồng để lấy hạt
Mè được biết đến như một loài cây hạt có dầu lâu đời nhất được con người sử dụng Cây Mè có nguồn gốc từ Châu Phi, sau đó nó sớm được phát triển ở vùng phía Tây Châu Á, đến Ấn Độ, Trung Quốc và Nhật Bản và chính những nơi này đã trở thành trung tâm phân bố của cây mè Hiện nay Mè đã được gieo trồng rất phổ biến ở vùng nhiệt đới, cận nhiệt đới và thông qua việc chọn tạo giống thì một số giống có thể trồng thích hợp ở một số nước thuộc vùng ôn đới
Cây Mè là một trong những cây hạt có dầu quan trọng, được con người trồng trọt và sử dụng từ lâu đời Cây Mè có nguồn gốc từ châu Phi, hiện được trồng rộng rãi trên thế giới trong phạm vi giữa 25 độ vĩ Nam và 25 độ vĩ Bắc, ở Trung Quốc và Nga trồng tới 40 độ vĩ Bắc (Nguyễn Mạnh Chinh và ctv., 2007)
Theo Phạm Đức Toàn (2009), cây Mè có nguồn gốc từ Châu Phi Sau đó được đưa vào vùng tiểu Á (Babylon) và được di về phía tây - vào châu Âu và phía Nam vào châu Á dần dần được phân bố đến Ấn Độ và một số nước nam Á Trung Quốc Ấn Độ được xem như là trung tâm phân bố của cây mè Ở Nam
Mỹ, mè được du nhập qua từ Châu Phi sau khi người Âu Châu khám phá ra ở Châu Mỹ vào năm 1492 (do Chritophecoloms người Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha) đem mè đi bán
2.2 Tình hình sản xuất Mè trên thế giới và ở Việt Nam
2.2.1 Tình hình sản xuất Mè trên thế giới
Theo Phạm Đức Toàn (2009), trước thế chiến thứ hai, diện tích trồng mè từ 5 triệu ha vào năm 1939, đạt sản lượng 1,5 tấn trong đó Ấn Độ là quốc gia trồng nhiều nhất với diện tích 2,5 triệu ha, kế đó là Trung Quốc 1,2 triệu ha, Miến Điện 700.000 ha, Soudan 400.000 ha, Mehico 200.000 ha Các quốc gia có diện tích trồng < 50.000 ha gồm: Pakistan, Thổ Nhĩ Kỳ, Ouganda, Megéria
Trang 133
Theo Tạ Quốc Tuấn và ctv (2006), về diện tích, có hai quốc gia có diện tích gieo trồng Mè nhiều là Ấn Độ (1,67 triệu ha, chiếm 27,27% diện tích Mè trên thế giới) và sudan (1,45 triệu ha, chiếm 13,64% diện tích mè thế giới), kế đến
là Myanmar (706.000ha), Trung Quốc(676.000 ha), Uganda (186.000 ha), Nigeria (155.000 ha), Tanzania (106.000 ha), các nước còn lại diện tích gieo trồng không nhiều, biến động từ 27.000 ha (ở Ai Cập) đến 80.000ha (ở Bangladesh)
Sản lượng hạt Mè hàng năm trên thế giới khoảng 2 triệu tấn, trong đó chủ yếu
là châu Á chiếm gần 60%, còn lại là châu Mỹ, châu Phi Các nước trông Mè nhiều là Ấn Độ, Trung Quốc, Sudan, Mexico, sau đó là Myanmar, Thái lan, Nigeria, Colombia… Năng suất Mè trung bình trên thế giới khoảng 0,3-0,4 T/ha, ở Mỹ năng suất Mè vùng Texas tới 2 tấn, Trung Quốc 1 T/ha Ở Trung Quốc, Thái Lan, Mè là cây có giá trị xuất khẩu cao (Nguyễn Mạnh Chinh và ctv., 2007)
Bảng 1: Diện tích, năng suất và sản lượng Mè trên thế giới 1999
Tên nước Diện tích (1000 ha) Sản lượng (1000 tấn) Năng suất (T/ha)
0,33 0,81 0,30 0,43 0,62 0,49 0,58 0,45
0,15 0,39 0,31 0,50 0,76 0,40 1,18
Venezuela
Mexico
44 62
28 36
0,65 0,58
Nguồn: Tạ Quốc Tuấn và Trần Văn Lợt, 2006
Trang 144
Theo FAO STAT thì trong vòng 10 năm gần đây từ năm 1991 - 2000 sản lượng vừng của thế giới tăng lên 37%, diện tích thu hoạch lại giảm 1%, còn năng suất bình quân của vừng lại tăng lên 38% từ 530 kg lên 732 kg, năng suất trên diện tích hẹp là 2.250 kg/ha (Texas-Mỹ) (Phạm Văn Thiều, 2003)
2.2.2 Tình hình sản xuất Mè ở Việt Nam
Theo Nguyễn Mạnh Chinh và ctv., (2007), theo Tổng cục thống kê năm 2004, diện tích trồng Mè cả nước khoảng 40.800 ha, trong đó các tỉnh phía Nam 25.600 ha, phía Bắc 15.200 ha, vùng trồng nhiều nhất là Bắc Trung Bộ (13.500 ha) Năng suất trung bình cả nước khoảng 0,5 T/ha, cao nhất là ĐBSCL 0,9 T/ha Tổng sản lượng Mè cả nước gần 21.000 tấn Ở nước ta, nhất
là vùng ĐBSCL, tiềm năng sản xuất Mè còn rất lớn, cả về diện tích và năng suất Tuy vậy, suốt trong 2 thập niên qua diện tích Mè hầu như không tăng, biến động trong khoảng 30.000 - 40.000 ha, còn rất thấp so với khả năng Hình thức canh tác chủ yếu vẫn là quảng canh, năng suất thấp Đầu tư cho nghiên cứu và ứng dụng tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất Mè cũng chưa được quan tâm đúng mức
Bảng 2: Diện tích, năng suất và sản lượng Mè trên các vùng sinh thái nông nghiệp nước ta từ năm 2000-2004
Sản lượng (tấn)
Diện tích (ha)
Năng suất (T/ha)
Sản lượng (tấn)
400
600
300 6500
400
700
600 13500
0,75 0,29 0,17 0,48
300
200
100 6500
3400
2100
2800 700
9000
2300
7400 6900
0,40 0,43 0,43 0,90
3600
1000
3000 6200
Nguồn: Niên giám thống kê năm 2000 và 2004
Ở nước ta mè được trồng nhiều ở các tỉnh Đồng Bằng Sông Cửu Long Miền Đông Nam Bộ và Trung Bộ (riêng tỉnh An Giang, diện tích trồng mè hiện nay tăng lên đến 16.000 ha) Tại vùng Châu Phú An Giang, năng suất đạt từ 400 -
600 kg/ha Nếu áp dụng biện pháp canh tác thích hợp, năng suất mè có thể đạt
1 T/ha Ở Việt Nam, mè được trồng lâu đời nhất là ở Miền Bắc, nhưng diện
Trang 15Rễ mè có hai dạng hình cơ bản được dùng để phân chia hệ thống rễ, đó là dạng hình có thới gian sinh trưởng dài thường được xem như cây lâu năm, có hệ thống rễ phát triển rất mạnh, và dạng hình có thời gian sinh trưởng ngắn có hệ thống rễ phân bố nông hơn và hẹp hơn Bên cạnh đó, sự phát triển của hệ thống rễ còn phụ thuộc vào điều kiện khí hậu, đất đai và chế độ canh tác (Tạ Quốc Tuấn và ctv., 2006)
Rễ mè thuộc họ rễ cọc, có hệ thống rễ chùm phát triển kiểu sinh trưởng của
bộ rễ có mối quan hệ với điều kiện sinh thái, cho nên bộ rễ sinh trưởng ở vùng
có khí hậu khô và nóng có khí hậu ẩm có khác nhau, ở vùng khí hậu khô thì hệ thống rễ phát triển nhanh, mạnh nhất đối với kiểu cây có nhiều cành, còn kiểu cây ít cành đơn thân thì yếu hơn (Phạm Văn Thiều, 2003)
Rễ Mè thuộc loại rễ cọc, rễ chính ăn sâu Đồng thời hệ rễ bên của mè cũng rất phát triển về bề ngang Rễ mè phân bố chủ yếu ở lớp đất từ 0 - 25 cm Nếu mè
ở vùng đất cát, vùng khô hạn, rễ cái có thể ăn sâu từ 1m đến 1,2 m để tìm nguồn nước ngầm Nhiều thí nghiệm cho thấy tốc độ ra rễ của mè rất chậm, kém hơn đậu phộng, bắp Đây là vấn đề cần lưu ý khi trồng xen mè với các cây trồng này (Phạm Đức Toàn, 2009)
2.3.2 Thân
Theo Phạm Văn Thiều (2003), cây Mè thuộc loại thân thảo, thẳng, mặt ngoài thường có nhiều lông Mặt cắt của thân có hình vuông và có bốn rãnh sâu Các rãnh này thay đổi tùy điều kiện ngày dài và mật độ quần thể của cây Nếu quan sát kỹ mặt ngoài của thân thì sẽ thấy nó có ba loại khác nhau là loại thân nhẫn, loại cây có lông nhưng thưa và loại có nhiều lông Mật độ thưa, dày của lông trên thân có liên quan mật thiết đến tính chịu hạn của cây
Màu sắc của thân cũng thay đổi từ xanh nhạt đến gần tía, nhưng phổ biến nhất
là thân có màu xanh đậm (Tạ Quốc Tuấn và ctv., 2006)
Trang 166
Chiều cao từ 60-120 cm, nhẵn hoặc có lông, chia thành nhiều lóng và có phân cành, một số giống thời gian sinh trưởng ngắn thường không phân cành (Nguyễn Mạnh Chinh và ctv., 2007)
Theo Phạm Đức Toàn (2009), số lượng cành trên cây phụ thuộc chủ yếu vào giống, thường có khoảng 2-6 cành Cành mọc từ các nách lá gần gốc
Mức độ phân cành thực sự là tốc độ sinh trưởng chung của cây, trực tiếp bị ảnh hưởng của môi trường mật độ, lượng mưa, độ dài ngày
Các dạng thân ngắn đâm cành ít thường chín sớm, cây cao thường chín trễ và
có khuynh hướng chịu hạn khá hơn Các giống dài ngày thường phát triển chậm ở giai đoạn cây con, nhưng tăng trưởng nhanh ở giai đoạn sau
2.3.3 Lá
Lá mè là loại lá đơn, màu xanh nhạt, trên bề mặt có nhiều lông Hình dạng và kích thước lá thay đổi rất lớn giữa các giống và ngay cả trên cùng một cây Những là ở vị trí thấp thường lớn hơn, đôi khi chia thùy, mép lá có răng cưa Càng lên phía trên lá càng nhỏ, hẹp và có hình lưỡi mác rõ Chiều dài lá thay đổi từ 3,0-17,5 cm, chiều rộng từ 1,0-1,5 cm Trên thân, lá mọc đối hoặc xen
kẽ, lá mọc đối thuận lợi cho việc ra hoa hơn mọc xen kẽ (Nguyễn Mạnh Chinh
Trên nách của mỗi lá có thể ra 6-8 hoa Hoa đơn là đặc điểm trội có cuống hoa ngắn, lá bắc cũng ngắn và mọc đối Đài hoa có 5 thùy nông, hình sợi và có lông mềm Tràng chia ra 5 thùy hình ống, hoa có hình chuông, dài khoảng 3cm với 2 hoa môi yếu ớt, 3 tràng ở phía dưới liên kết thành môi dưới
Trang 172.3.5 Quả
Quả Mè là loại quả nang, có nhiều vách ngăn tạo thành những khía sâu, hình bầu dục , dài 2,5-8,0 cm, rộng 0,5-2,0 cm, phía đỉnh quả có mỏ ngắn Bề mặt quả có lông mềm và ngắn Số vách ngắn trên quả thay đổi từ 4-12 Quả khi chín sẽ nứt dọc theo các vách ngăn từ đỉnh xuống cuống Trong quả chưa nhiều hạt (Nguyễn Mạnh Chinh và ctv., 2007)
Theo Phạm Đức Toàn (2009), mức độ mở trái là đặc tính quan trọng khi chọn giống để trồng cho phù hợp với điều kiện thu hoạch
Chất lượng quả cũng khác nhau tùy vị trí đóng quả Thường quả ở vị trí thấp
có hạt lớn hơn ở vị trí cao
2.3.6 Hạt
Hạt mè nhỏ, hình bầu dục hơi dẹt, bề mặt hạt nhẵn hoặc có rãnh Khối lượng 1.000 hạt từ 2-4 g Hạt có màu vàng, đen, trắng, xanh xám hoặc nâu tùy theo giống Nói chung giống có hạt màu sáng thường cho năng suất và chất lượng dầu tốt hơn so với dạng hạt màu tối Cá biệt có dạng hình hạt màu đen lại có hàm lượng dầu cao hơn hạt màu sáng Thời gian sinh trưởng của các giống Mè hiện nay thay đổi từ 75-90 ngày (Nguyễn Mạnh Chinh và ctv., 2007)
Theo Phạm Đức Toàn (2009), hạt mè là hạt song tử diệp Cấu tạo hạt có nội phôi nhủ
Hạt mè tương đối mảnh và chứa rất nhiều dầu, do đó, dễ mất sức nảy mầm sau khi thu hoạch Một số giống mè có tính miên trạng kéo dài đến 6 tháng sau khi thu hoạch Giống có trái nhiều khía thì hạt nhỏ hơn giống có trái ít khía
2.4 Sơ lược về sự sinh trưởng và phát triển của cây Mè
Theo Phạm Đức Toàn (2009), thời gian sinh trưởng của mè biến động từ 75-
120 ngày Thời kỳ sinh trưởng dinh dưỡng của mè kéo dài 40-60 ngày tùy thuộc vào giống và điều kiện ngoại cảnh Điều kiện ngoại cảnh ảnh hưởng lớn đến thời gian của thời kỳ này là nhiệt độ và độ dài ngày
Trang 188
Trong thời kỳ sinh trưởng dinh dưỡng, quá trình sinh lý quan trọng nhất của
mè là sự sinh trưởng của các bộ phận dinh dưỡng và sự phân hóa mầm hoa Thời kỳ sinh trưởng phát triển đặc trưng là sự ra hoa, kết quả, hình thành hạt
và chín
Mè ra hoa trong khoảng thời gian 15-20 ngày
Tốc độ tăng trưởng của quả rất nhanh, quả phát triển tối đa trong khoảng 9 ngày sau khi nở hoa mặc dù quả còn tiếp tục phát triển trong 24 ngày, trong thời kỳ chín trọng lượng khô của quả đạt tối đa vào khoảng ngày thứ 27 sau khi hoa nở Quả chín hoàn toàn vào khoảng 35-40 ngày
2.5 Sơ lược về thành phần các loài sâu gây hại trên cây Mè
Theo Tạ Quốc Tuấn và ctv (2006), có rất nhiều loài sâu hại khác nhau ở những vùng trồng Mè phổ biến trên thế giới Tuy nhiên, mức độ thiệt hại lại rất khác nhau tùy thuộc vào điều kiện cụ thể của mỗi vùng, có những vùng sâu hại chỉ tấn công nụ hoa và quả non, trong khi những vùng khác sâu lại hại mạnh trên lá
Những loài sâu ăn lá thường gặp ở những vùng trồng Mè như sâu sa
(Acherontia Lachesis), sâu khoang (Spodoptera litura), rệp xanh (Mysuz persicae), rệp bông (Aphis gossippi)…
Ngoài ra, trên Mè còn có nhiều loài sâu hại khác như các loài châu chấu
(Hyppomeces squamosus, xanthochelus sp.), các loại bọ xít (Nezara viridula),
tuy nhiên mức độ gây hại không đáng kể
Các loài sâu gây hại trên cây Mè như sâu khoang, sâu cuốn lá, bọ xít xanh, rầy xanh (Phạm Văn Thiều, 2003)
Thành phần các loài sâu gây hại trên Mè gồm: sâu sa, sâu khoang, rệp muội,
bọ xít xanh, câu cấu xanh lớn (Nguyễn Mạnh Chinh và ctv., 2007)
2.6 Sơ lược về đặc điểm hình thái và tập quán sinh hoạt của các loài sâu gây hại trên cây Mè
2.6.1 Sâu khoang
Theo Tạ Quốc Tuấn và ctv (2006), thì sâu khoang còn gọi là sâu ăn tạp có tên
khoa học là Spodoptera litura, Họ Bướm Đêm (Noctuidae) Bộ Cánh Vảy
(Lepidoptera)
Đặc điểm hình thái: Bướm có kích thước trung bình khoảng 18-20 cm, sải cánh rộng 40–45 mm, toàn thân có màu nâu vàng trên cánh trước có nhiều
Trang 199
đường vân màu sẫm, xung quanh viền vàng, mép ngoài có đường chấm màu nâu đen, cánh sau có màu xám trắng, cuối bụng con cái thường có túm lông Trứng đẻ thành ổ dưới mặt lá, mỗi ổ có hàng trăm trứng, bên ngoài phủ một lớp lông tơ màu nâu vàng Sâu non màu xám tro, vạch lưng màu vàng, trên đốt bụng thứ nhất có một chấm đen lớn, khi sâu còn nhỏ khoang đen này dính với nhau tạo thành một khoang đen nên người ta gọi là sâu khoang Nhộng màu nâu đỏ, cuối bụng có một đuôi gai lớn
Tập tính sinh hoạt: sâu có thể phá hại trên 300 loại cây trồng thuộc nhiều loài khác nhau và cơ thể phát sinh phát triển quanh năm Sâu non mới nở sống thành từng bầy gặm lớp vỏ trứng và sau đó gặm lớp biểu bì của lá Ở tuổi 2 sâu bắt đầu phân tán và phá rất mạnh, hàng ngày vào buổi sáng hoặc chiều tối sâu bò trên mặt lá ăn từng mảng lớn, khi trời nắng nóng sâu chiu xuống đất, ẩn vào khe đất và các lớp lá mục rất khó phát hiện, khi sâu thành dịch không đủ thức ăn thì có thể ăn thịt lẫn nhau Sâu non khi lớn bò xuống đất thả nước miếng tạo thành một lớp vỏ bọc và hóa nhộng dưới đất Vòng đời trung bình
từ 35-40 ngày, trong đó giai đoạn sâu non 20-25 ngày, trứng 5-7 ngày, nhộng 7-10 ngày và trưởng thành 1-2 ngày
Theo Nguyễn Mạnh Chinh và ctv (2007), thành trùng sâu khoang hoạt động
và ban đêm, thích chất chua ngọt Sâu non sau khi nở sống tập trung quanh ổ trứng, gặm lấm tấm chất xanh của lá Sâu lớn tuổi phân tán ăn khuyết lá, đôi khi ăn cả hoa và quả non Sâu phá hại vào ban đêm, ban ngày ẩn trong đám lá,
kẽ đất
Theo Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen (2004), thì đặc điểm hình thái của sâu khoang: Bướm có chiều dài thân từ 20-25 mm, sải cánh rộng từ 35-45 mm Cánh trước màu nâu vàng Phần giữa từ cạnh trước cánh tới cạnh sau cánh có một vân ngang rộng, màu trắng Trong đường vân trắng này có hai đường vân màu nâu Cánh sau màu trắng óng ánh Bướm có đời sống trung bình từ 1-2 tuần tùy điều kiện thức ăn Trung bình một bướm cái có thể đẻ 300 trứng, nhưng nếu điều kiện thích hợp bướm có thể đẻ từ 900-2000 trứng Thời gian
đẻ trứng trung bình của bướm kéo dài từ 5-7 ngày, đôi khi đến 10 hoặc 12 ngày
Trứng hình bán cầu, đường kính từ 0,4-0,5 mm Bề mặt trứng có những đường khía dọc từ đỉnh trứng xuống đến đáy và bị cắt ngang bởi những đường khía ngang tạo thành những ô nhỏ Trứng mới đẻ có màu trắng vàng, sau chuyển
Trang 20xa đến vài chục mét và cao đến 6-7 m Sau khi vũ hóa vài giờ bướm có thể bắt cặp và một ngày sau đẻ trứng
Trứng được đẻ thành từng ổ có phủ lông màu vàng
Sâu vừa nở ăn gặm vỏ trứng và sống tập trung, nếu bị khua động nhẹ chúng có thể bò phân tán ra chung quanh hoặc nhả tơ buông mình xuống đất, ở giai đoạn này sâu chỉ gặm mặt dưới lá, chừa biểu bì trên và gân Sang tuổi 2 sâu bắt đầu phân tán và ăn gặm lá nhiều hơn Từ tuổi 4 sâu có phản ứng rõ rệt đối với ánh sáng, nghĩa là sâu thường trốn ánh sáng nên ban ngày sâu ẩn những nơi tối hoặc chui xuống kẻ đất nứt, ban đêm sâu chui lên cây, trong những ngày trời râm mát hoặc mưa nhẹ thì ban ngày sâu có thể bò hoạt động trên cây
Ở tuổi lớn sâu có tập quán ăn thịt lẫn nhau và không những ăn phá lá cây mà còn ăn trụi cả thân, cành và trái non Khi sắp làm nhộng sâu chui xuống đất làm thành một khoang và nằm yên trong đó hóa nhộng
2.6.2 Sâu sa
Theo Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen (2004), thì sâu sa có tên khoa học là
Acherontia lachesis (Fabricius) thuộc họ Ngài Nhộng Vòi (Sphingidae), bộ
Cánh Vảy (Lepidoptera)
Trang 2111
Đặc điểm hình thái và sinh học: Bướm có thân chủ yếu màu nâu, ngực màu xám đậm có một hình giống như sọ người Cánh sau màu vàng với những băng màu vàng ngang dọc
Trứng màu xanh lá cây, được đẻ rải rác thành từng cái, sau chuyển thành màu vàng cam Thời gian ủ trứng khoảng 5 ngày Ấu trùng màu xanh lá cây với những sọc xiên màu vàng dọc hai bên thân Đốt cuối của bụng cũng có một gai
thịt nhô cao như cái đuôi nhưng cong chớ không thẳng như ở Herse (Agrius)
Ấu trùng phát triển khoảng 3 tuần và lớn đủ sức có thể dài từ 10-12 cm
Nhộng hình thành trong đất và kéo dài khoảng 18 ngày
Tập quán sinh sống và cách gây hại: vì cơ thể lớn nên 2 loài sâu trên ăn phá rất nhiều, sâu ăn trụi cả lá, làm cây xơ xác
Theo Tạ Quốc Tuấn và ctv., (2006), thì dạng trưởng thành của sâu sa là loài bướm tương đối lớn, thân dài 40-50 mm, màu nâu có nhiều vân đen, cánh trước dài và nhọn Trứng hình cầu, đường kính khoảng 1 mm, màu trắng ngà, láng bóng, đẻ riêng lẻ từng quả trên lá cây Sâu non cơ thể to mập có nhiều ngấn ngang và có một gai nhọn như cái sừng phía sau Màu sắc thay đổi từ màu xanh lá cây sang màu nâu, đẫy sức dài 7-8 cm Khi đẩy sức sâu non hóa nhộng ở dưới đất, nhộng to, màu nâu đỏ có màu uốn cong ra phía trước
Tập quán sinh hoạt: Trưởng thành hoạt động mạnh mẽ vào ban đêm, thích vị chua ngọt Sâu non thích ăn phiến lá nhất là lá non và sức ăn rất mạnh tạo thành những khuyết lá, khi thành dịch sâu non có thể ăn trụi thành đám hoặc trụi cả đám ruộng trong một thời gian ngắn Thời gian sâu non tồn tại trên ruộng trong khoảng từ 25-30 ngày
2.6.3 Rệp xanh
Theo Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen (2004), thì rệp xanh có tên khoa học
là Myzus persicae Sulzer thuộc họ Rầy Mềm (Aphididae), bộ Cánh Đều
(Homoptera)
Đặc điểm hình thái và sinh học: Loại hình không cánh có cơ thể dạng hình trứng, màu xanh hoặc đỏ hoặc vàng nhạt, dài từ 1,3-1,9 mm Vòi chích hút màu đen, kéo dài tới đốt chậu chân sau Râu đầu 6 đốt, màu đen Ống bụng màu đen, trên lưng, khoảng giữa 2 ống bụng có một mảnh màu đen hơi nổi to Loại hình có cánh có chiều dài thân từ 1,6-2 mm Đầu và ngực màu nâu đen, bụng màu vàng hoặc xanh, đôi khi đỏ; giữa mặt lưng của bụng có một đốm to màu nâu đen Râu đầu 6 đốt màu đen Vòi chích hút kéo dài đến đốt chậu chân
Trang 2212
giữa Ống bụng màu đen Ấu trùng lớn đủ sức dài từ 10-20 mm, thân màu trắng hoặc vàng nhạt, ngực tương đối lớn, đầu màu nâu Mảnh lưng ngực trước và chân ngực màu đen
Tập quán sinh sống và gây hại: Cả thành trùng và ấu trùng các loài rầy mềm đều thích tập trung chích hút trên phần non của cây làm cây bị quăn queo, chậm tăng trưởng Trong quá trình phát triển rầy mềm có đặc điểm là khi điều kiện thức ăn kém như lượng nước trong cây giảm hay nhiệt độ thấp hoặc trời khô hạn, sẽ hình thành dạng thành trùng có cánh
Khi cây còn nhỏ, khoảng 15 ngày sau khi đặt cây con, nếu bị rầy chích hút với
số lượng nhiều, cây sẽ còi cọc, không lớn, lá rũ dần rồi chết Khi cây lớn thì rầy bám trên nhiều bộ phận của cây, tập trung trên các búp non, lá non, nụ hoa, đài hoa, trái non và phần ngọn non của cây Lá bị hại có màu vàng nhạt, mặt lá lồi lên hoặc quăn queo, biến dạng Các lá thuốc có rầy khi sấy không có màu vàng mà có màu đen, vị lạt
Một số kết quả nghiên cứu cho thấy có nhiều loài ký sinh rầy mềm trên đồng ruộng, trong đó các loài thuộc họ Syrphidae có khả năng ký sinh khá cao Theo Tạ Quốc Tuấn và ctv (2006), thì rệp xanh là loài gây hại phổ biến nhất trên cây Mè và gây thiệt hại lớn nhất so với các loài rệp khác
Rệp xanh thân có hình bầu dục mùa xanh nhạt hoặc vàng nhạt với các sọc màu tối không rõ ràng ở phần bụng, một số trường hợp rệp có thể dài tới 2 mm, có các xúc tu dài bằng cơ thể Rệp hút chất dinh dưỡng và là tác nhân trung gian truyền bệnh virut nên người ta có thể phát hiện dễ dàng triệu chứng có rệp trên đồng ruộng như các lá mè khỏe bị nhăn nheo và bị cuốn xuống phía dưới, chồi non bị biến dạng Cây Mè bị hại ở thời kỳ đầu cây con, cây có thể bị suy yếu, còi cọc và có thể chết làm giảm mật độ nghiêm trọng, dẫn đến làm giảm năng suất
2.6.4 Rầy mềm: (rệp dưa)
Theo Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen (2004), thì rệp dưa có tên khoa học là
Aphis gossypii Glover, Họ: Rầy Mềm (Aphididae), Bộ: Cánh Đều
(Homoptera)
Đặc điểm hình thái và sinh học: Thành trùng có hai dạng: dạng không cánh: cơ thể dài từ 1,5-1,9 mm và rộng từ 0,6-0,8 mm Toàn thân màu xanh đen, xanh thẩm và có phủ sáp; một ít cá thể có dạng màu vàng xanh Dạng có cánh: cơ thể dài từ 1,2-1,8 mm, rộng từ 0,4-0,7 mm Đầu và ngực màu nâu đen, bụng
Trang 23Trên cây dưa , rầy gây hại trầm trọng nếu tấn công các dây chèo hay đỉnh sinh trưởng Rầy mềm thường tập trung với số lượng lớn ở đọt non làm lá bị quăn queo và phân tiết ra thu hút nhiều nấm đen bao quanh làm ảnh hưởng đến sự phát triển của trái
Đối với bầu bí trong giai đoạn có hoa nếu bị loài này tấn công với mật số cao thì hoa dễ bị rụng, nhất là vào thời kỳ cho trái non, gây hiện tượng rụng trái hay trái bị méo mó
Trên cây bông vải, những dịch mật do rầy tiết ra rơi vào quả nang và lá đang
mở ra sẽ là môi trường cho nấm mốc phát triển và gây khó khăn cho việc thu hoạch bông vải
Ngoài ra, rầy còn là tác nhân truyền bệnh virus cho cây Sau cùng làm cây bị mất sức, lùn và chết
2.6.5 Bọ xít xanh
Theo Phạm Văn Thiều (năm 2003), thì bọ xít xanh cũng xuất hiện trong cả thời kỳ sinh trưởng của cây vừng, nó có thể xuất hiện với mật độ cao và gây hại nặng vào giai đoạn sinh trưởng cuối từ khi vừng hình thành quả non trở đi Theo Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen (2004), thì bọ xít xanh có tên khoa
học là Nezara viridula, Họ Bọ Xít Năm Cạnh (Pentatomidae), Bộ Cánh Nửa
Cứng (Hemiptera)
Thành trùng có cơ thể màu xanh sáng, dài từ 12-18 mm, rộng từ 7-9 mm tùy giống cái hay đực Hai bên góc vai có hai chấm đen nhỏ Mắt kép lồi, màu nâu sậm, ở mỗi bên mắt kép có một một đen nhỏ, giữa trán có 2 sọc dọc về phía sau, chấm dứt ở gần hai mắt đơn Vòi chích hút màu đỏ hồng, dài khoảng 6
mm Râu đầu 5 đốt, 2 đốt cuối màu đỏ nâu và to hơn các đốt chân râu Trên phiến mai hình tam giác có 3 chấm vàng nhạt xếp thành hàng một ở đường giáp với ngực trước và một chấm đen nhỏ ở mỗi gốc cánh Cánh dài khoảng
12 mm Phiến mai phát triển dài khoảng 5 mm Phần rìa bụng mỗi đốt đều có chấm nhỏ màu xám đen nổi rõ trên nền xanh lá cây của toàn thân Bàn chân có
3 đốt, phủ nhiều lông tơ Bọ xít đực và cái phân biệt dễ dàng nhờ bộ phận sinh
Trang 2414
dục ở cuối bụng Bộ phận sinh dục đực có hai mấu dài phủ nhiều lông tơ; bộ phận sinh dục cái có hai mấu rất ngắn và đốt cuối cùng của bụng có lỗ sinh dục Thời gian sống của bọ xít đực khi nuôi trong điều kiện phòng thí nghiệm
từ 40 đến 56 ngày, của bọ xít cái là 18-52 ngày
Sau khi vũ hóa từ 6-38 ngày thành trùng bắt đầu bắt cặp Bọ xít bắt cặp từ 1 đến 3 đợt, mỗi đợt bắt cặp kéo dài từ 9-67 giờ suốt ngày đêm Sau khi bắt cặp
từ 11 đến 27 ngày, thành trùng cái đẻ trứng Mỗi thành trùng cái chỉ đẻ 1 ổ trứng trong suốt thời gian sống, mỗi ổ từ 60-120 trứng
Trứng hình trụ tròn, màu vàng sáng, mặt trên trứng có nấp đậy hình tròn, chung quanh nấp có từ 27-38 móc Khi sắp nở trứng màu đỏ hồng toàn bộ và
có một vệt đỏ đậm hình chữ V giữa nấp trứng Thời gian ủ trứng từ 5-7 ngày Trứng thường được đẻ ở mặt dưới lá cây ký chủ thành từng ổ 5-8 hàng và ổ trứng có hình lục giác Tỉ lệ trứng nở trung bình khoảng 62%
Ấu trùng có 5 tuổi, phát triển từ 18-34 ngày với kích thước và màu săc trong từng tuổi như sau:
- Tuổi 1 có thân bầu tròn màu đỏ nâu, đầu và ngực màu đen, giữa lưng có 3 vệt đen to Cơ thể dài từ 1-1,5 mm, ngang 0,9-1,2 mm Mắt đỏ nâu Rìa bụng mỗi bên có 5 vệt đen to, râu và chân màu đỏ nâu Ấu trùng bọ xít ở tuổi 1 thay
da rất đồng loạt, trong vòng 3 ngày
- Ở tuổi 2, ấu trùng có màu đỏ nâu, bụng bầu tròn, đầu, ngực đen, bụng có 3 đốm đen, quanh rìa bụng mỗi bên có 7 đốm trắng Cơ thể dài từ 1,8-4 mm, ngang từ 1,2-2,4 mm và phát triển trong thời gian từ 5-10 ngày
- Sang tuổi 3, ấu trùng có màu sắc khác hẳn tuổi 2, từ màu đỏ nâu lúc mới lột xác, chuyển dần sang màu xanh lá cây Thân bầu dục, ngang cổ có một vệt đen Ngực có 13 chấm đen nhỏ Quanh rìa bụng, mỗi bên có 6 vệt hồng Giữa lưng có 3 đốm hồng lớn, chung quanh 3 đốm hồng này có 6 đốm trắng Ấu trùng tuổi 3 có chiều dài từ 3-7,5 mm, ngang từ 2-5,4 mm và phát triển từ 3-7 ngày
- Tuổi 4, thân ấu trùng màu xanh lá cây hơi ngả vàng Râu đầu nâu xám, các đốt cuối bắt đầu nở to hơn các đốt chân râu Có 2 vệt đen chạy từ đầu xuống tới ngực Ngực có 7 chấm đen đường kính 0,13 mm Bụng có 2 đốm hồng to Phần bụng có phiến mai dài từ 1,2-2,2 mm Mầm cánh vừa nhú ở cuối tuổi này Ở tuổi này Bọ Xít có chiều dài cơ thể từ 6-6,7 mm, rộng từ 3-4,7 mm và phát triển từ 3 đến 6 ngày
Trang 2515
- Ở tuổi 5, toàn thân ấu trùng màu xanh lá cây, các đặc điểm khác giống như tuổi 4 Phiến mai dài 2,26-3,33 mm Giữa lưng có 3 vết hồng to, 2 bên 3 vết hồng này có 6 đốm trắng Mỗi bên rìa bụng có 6 chấm hồng rất tươi Cánh mọc dài từ 3,5 đến 4,5 mm Kích thước cơ thể dài từ 9-11,5 mm, ngang từ 6-8
mm, phát triển trong thời gian từ 6-8 ngày
Ở điều kiện nhiệt độ từ 25-31 oC và ẩm độ bảo hòa, tỉ lệ phát triển thành thành trùng đực khoảng 70% và thành trùng cái chỉ 30%
Vòng đời bọ xít xanh từ 41-78 ngày
2.6.6 Câu cấu xanh lớn
Theo Nguyễn Mạnh Chinh và ctv (2007), sâu trưởng thành là loài cánh cứng, hình bầu dục, dài 7-10 mm Cánh và toàn thân màu xanh vàng có ánh kim nhũ, đầu kéo dài như một cái vòi, phía ngọn ống dầu là miệng nhai, hai bên đính đôi râu đầu hình gấp khúc Sâu non màu trắng sữa, mình hơi cong, không có chân, đẫy sức dài 12-15 mm
Câu cấu trưởng thành hoạt động ban đêm và lúc trời mát, ít bay, bò chậm chạp, gặp động chạm thì giả chết rơi xuống đất Sâu non sống trong đất ăn chất hữu cơ mục nát và rễ cây, hóa nhộng trong đất Tác hại chủ yếu là bọ trưởng thành ăn khuyết lá, ăn ngọn cây và nụ hoa Vòng đời 50-60 ngày, bọ trưởng thành có thể sống hàng tháng
Theo Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen (2004), câu cấu xanh lớn có tên khoa
học là Hypomeces squamosus Fabricius, Họ Vòi Voi (Curculionidae), Bộ
Cánh Cứng (Coleoptera)
Đặc điểm hình thái và sinh học: Thành trùng là loài cánh cứng, cánh phủ một lớp màu xanh vàng óng ánh, dài từ 10-15 mm, mỏ nhọn, quặp xuống
Thành trùng cái đẻ trứng nhỏ màu trắng, rời rạc dưới đất
Ấu trùng còn gọi là sùng màu vàng nhạt, lớn đủ sức dài từ 15 - 20 mm
Nhộng được hình thành trong đất
Tập quán sinh sống và gây hại: Cả ấu trùng và thành trùng loài này đều gây hại Ấu trùng sinh sống ở dưới đất bằng cách đục phá rễ và gốc cây Thành trùng cắn gặm lá, đôi khi ăn trụi cả lá nếu lá non và mật số cao Sự gây hại của thành trùng làm giảm sức mạnh của cây rất nhiều
Trang 2616
Chương 3 Phương pháp nghiên cứu
3.1 Phương tiện nghiên cứu
3.1.1 Thời gian và địa điểm
Địa điểm khảo sát được tiến hành tại huyện Châu Phú – tỉnh An Giang
Thời gian thực hiện từ: 10/2011 đến 06/2012
3.1.2 Vật liệu thí nghiệm
- Vợt có cán dài 100 cm, đường kính miệng vợt 50 cm, độ sâu vợt 70 cm để tiện cho việc thu thành trùng của rầy phấn trắng Hoặc bắt bằng tay để thu
trứng và ấu trùng
- Tuýp nhựa để đựng mẫu, dán nhãn ghi ngày và địa điểm thu mẫu
- Hộp nhựa nuôi sâu
- Thức ăn: lá Mè được hái từ khu thí nghiệm
- Giấy thấm giữ ẩm
- Bông gòn
- Kim ghim, cọ, kéo bút lông, ẩm độ trong phòng thí nghiệm
- Kính phóng đại, thước đo để quan sát và đo kích thước của từng giai đoạn sâu
CCl4 để giết thành trùng
- Dung dịch glucose 5% làm thức ăn cho thành trùng
- Cồn 70o: bảo quản mẫu, tẩy trắng cánh và sát trùng dụng cụ
- Nước cất cung cấp ẩm độ cho lá Mè
- Nguồn sâu: trứng và ấu trùng của các loài sâu được thu định kỳ ngoài đồng
3.2 Phương pháp thực hiện
3.2.1 Phương pháp điều tra nông dân
- Nhằm tìm hiều tình hình và kỹ thuật canh tác của nông dân trên ruộng Mè cũng như sự hiểu biết của nông dân về thành phần các loài sâu hại cây Mè như giai đoạn xuất hiện, mức độ gây hại và cách phòng trừ Chúng tôi tiến hành
Trang 27- Nội dung điều tra:
+ Đặc điểm canh tác cây Mè
+ Tình hình dịch hại trên cây Mè
+ Mức độ thiệt hại do các loài sâu hại gây ra
+ Kinh nghiệm phòng trừ các loài sâu hại
3.2.2 Khảo sát thực tế ngoài đồng ruộng
Xác định thành phần loài, mức độ gây hại và diễn biến mật số của các loài sâu trên ruộng Mè bằng phương pháp:
- Chúng tôi tiến hành khảo sát tại: Huyện Châu Phú
- Chọn ruộng có diện tích trên 300 m2 để thu mẫu Chọn 3 ruộng Mè tại huyện Châu Phú Thu mẫu định kỳ 7 ngày/lần cần theo dõi thường xuyên giai đoạn gây hại nhiều
-Thu mẫu bằng cách lấy 5 điểm trên đường chéo góc với diện tích mỗi điểm 1
m2
- Chúng tôi thu mẫu sâu gồm các giai đoạn: ấu trùng và nhộng Thu sâu trên mỗi điểm đó bằng cách ngắt lá có chứa sâu cho vào hộp nhựa không đậy nắp, chỉ bịt bằng miếng vải mùng cho thoáng khí
- Đếm số sâu trên 1 m2 tại 5 điểm đường chéo góc, định kì 7 ngày/lần
- Đếm số cây bị hại/tổng số cây trên 1m2, định kì 7 ngày/ lần
Hình 1: Sơ đồ thu mẫu
Trang 2818
3.2.3 Khảo sát trong phòng thí nghiệm
Các giai đoạn phát triển của các loài sâu được thu thập ngoài đồng, đem về
định danh trong phòng thí nghiệm và quan sát cách gây hại của ấu trùng 3.2.4 Xử lý số liệu
Số liệu được xử lý bằng chương trình Excel
3.2.5 Định danh
Sử dụng khóa phân loại của Borror Donald và ctv (1976)