Và ngày nay, chúng ta chứng kiến một nền nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc ở các nước Phật giáo trên thế giới đạt đến một trình độ cao siêu, rực rỡ, mỗi nước mang một phong cách khác nha
Trang 1ĐẠI (321 TCN ĐẾN 657 SCN)
THS LÊ TRƯƠNG ÁNH NGỌC
AN GIANG, THÁNG 10 NĂM 2019
Trang 2ĐẠI (321 TCN ĐẾN 657 SCN)
THS LÊ TRƯƠNG ÁNH NGỌC
AN GIANG, THÁNG 10 NĂM 2019
Trang 3Đề tài nghiên cứu “Lịch sử nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc Phật giáo Ấn
Độ thời cổ trung đại (từ 321 TCN đến 657 SCN)”, do tác giả Lê Trương Ánh Ngọc, công tác tại Bộ môn Lịch sử, Khoa Sư phạm thực hiện Đề tài được Hội đồng Khoa học và Đào tạo của Khoa Sư phạm và Trường Đại học An Giang thông qua ngày
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành đề tài NCKH này, trước hết tôi xin cảm ơn các đồng nghiệp Khoa Sư phạm – Trường Đại học An Giang, đã giúp đỡ cho tôi hoàn thành nhiệm vụ
Tôi cũng xin gởi lời tri ân đến cán bộ Thư viện Khoa học tổng hợp TPHCM
đã hỗ trợ cho tôi rất nhiều trong việc thu thập tư liệu hoàn thành NCKH này
An Giang, ngày tháng năm 2019
Chủ nhiệm đề tài
Lê Trương Ánh Ngọc
Trang 5TÓM TẮT
“Lịch sử nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc Phật giáo Ấn Độ thời cổ trung đại”
là một chủ đề hấp dẫn và thú vị Khi nghiên cứu chủ đề này, tác giả muốn đạt đƣợc những kết quả chủ yếu Thứ nhất, trình bày những thành tựu nổi bật của nền nghệ thuật Phật giáo Ấn Độ (bao gồm kiến trúc và điêu khắc) – đƣợc xem nhƣ những tác phẩm nghệ thuật nguyên bản trong thời kỳ cổ - trung đại Thứ hai, chỉ ra sự lan tỏa của nền nghệ thuật Phật giáo Ấn Độ sang các quốc gia Đông Á và Đông Nam Á Thứ
ba, cung cấp tài liệu tham khảo bổ trợ kiến thức cho sinh viên các ngành Lịch sử, Văn hóa học và những nhà nghiên cứu quan tâm đến lĩnh vực này Đồng thời, kết quả nghiên cứu còn góp phần hệ thống hóa về mặt tƣ liệu lịch sử kiến trúc và điêu khắc Phật giáo Ấn Độ
Từ khóa: nghệ thuật Phật giáo, Ấn Độ, cổ đại, trung đại, kiến trúc, điêu khắc
Trang 6ABSTRACT
“The history of Indian Buddhist art and sculpture in ancient and medieval age" is an interesting topic Researching this topic, the author want to achieve these major results Firstly, presenting the remarkable achievements of the Indian Buddhist art (including architecture and sculpture) that is considered as the original artworks
in the ancient-midieval period Secondly, it finds out the spread of Indian Buddhist art to East Asian and Southeast Asian countries Thirdly, providing material references to support additional knowledge for the students majoring in historical study, cultural study and researchers, who are interested in this field In Addition, these results of the study also contributed to the systematic and historical documentation of the Buddhist architecture and sculpture of India
Key words: Buddhist art, India, ancient period, medieval period, architecture,
sculpture
Trang 7LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan NCKH này là một nghiên cứu độc lập, những trích dẫn được nêu trong NCKH đều chính xác và trung thực
An Giang, ngày tháng 10 năm 2019
Chủ nhiệm đề tài
Lê Trương Ánh Ngọc
Trang 8MỤC LỤC
CHƯƠNG 1 vii
1.1 Lý do chọn đề tài 1
1.2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1
1.3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2
1.4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài 2
1.5 Phương pháp nghiên cứu đề tài 2
1.6 Đóng góp của đề tài 3
1.7 Bố cục của đề tài 3
CHƯƠNG 2 4
ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI – QUÊ HƯƠNG CỦA ĐỨC PHẬT 4
2.1 Điều kiện lịch sử - xã hội Ấn Độ cổ đại khi đạo Phật xuất hiện 4
2.2 Cuộc đời của Siddhartha Gautama 5
2.3 Các trào lưu tư tưởng cùng thời với đạo Phật 6
2.4 Sự phân phái và hồi sinh của Phật giáo Ấn Độ 7
CHƯƠNG 3 13
LỊCH SỬ NGHỆ THUẬT KIẾN TRÚC VÀ ĐIÊU KHẮC 13
3.1 Những biểu tượng và chủ đề của nghệ thuật Phật giáo 13
3.2 Thời kỳ Maurya từ 321 đến 232 TCN 14
3.3 Thời kỳ Shunga từ năm 176 đến 64 TCN 16
3.5 Thời kỳ Kushan 80 TCN – 250 CN 23
CHƯƠNG 4 29
LỊCH SỬ NGHỆ THUẬT KIẾN TRÚC VÀ ĐIÊU KHẮC 29
PHẬT GIÁO ẤN ĐỘ THỜI TRUNG ĐẠI 29
4.1 Điều kiện lịch sử - xã hội Ấn Độ thời kỳ Gupta 29
4.2 Lịch sử nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc Phật giáo Ấn Độ thời Gupta (kể luôn Harsha) từ năm 320 đến năm 657 SCN 30
4.3 Sự lan tỏa nghệ thuật Phật giáo Ấn Độ ở Afghanistan, Tây Tạng, Sri Lanka, Miến Điện, Indonesia 36
CHƯƠNG 5 41
KẾT LUẬN 41
TÀI LIỆU THAM KHẢO 43
PHỤ LỤC ẢNH 60
Trang 9DANG SÁCH HÌNH ẢNH
Hình 1: 72
Hình 2: 73
Hình 3: 74
Hình 4: 75
Hình 5: 76
Hình 6: 77
Hình 7: 78
Hình 8: 79
Hình 9: 80
Hình 10: 81
Hình 11: 82
Hình 12: 83
Hình 13: 84
Hình 14: 85
Hình 15: 86
Hình 16: 87
Hình 17: 88
Hình 18: 89
Hình 19: 90
Hình 20: 91
Hình 21: 92
Hình 22: 93
Hình 23: 94
Hình 24: 95
Hình 25: 96
Hình 26: 97
Trang 10CHƯƠNG 1
MỞ ĐẦU 1.1 Lý do chọn đề tài
Đạo Phật có một bề dày lịch sử gần ba ngàn năm, nó luôn luôn thích nghi với không gian và hài hòa với cuộc sống của nhân loại Ấn Độ cổ đại là nơi đạo Phật được khai sinh Ngay từ buổi đầu Hình thành và phát triển, Phật giáo đã rất quan tâm đến nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc Vô số những bảo tháp, chùa hang, tượng Phật, cột đá, … được tôn tạo mang một vẻ đẹp trầm hùng, uy nghiêm đã giúp cho tinh thần Phật giáo được bảo tồn và lan tỏa
Từ Ấn Độ, tinh thần Phật giáo đã ảnh hưởng đến các quốc gia lân cận như Afganishtan, Nepal, Tây Tạng, Sri Lanka, Indonesia, và Miến Điện (Myanmar bây giờ) Và ngày nay, chúng ta chứng kiến một nền nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc ở các nước Phật giáo trên thế giới đạt đến một trình độ cao siêu, rực rỡ, mỗi nước mang một phong cách khác nhau, chính điều này tạo nên sự phong phú và đa dạng trong thế giới nghệ thuật Phật giáo nói chung
Tuy nhiên, có bao giờ chúng ta tự hỏi Phật giáo đã ra đời như thế nào trong lòng xã hội Ấn Độ vốn chịu ảnh hưởng tư tưởng Balamon một cách đậm nét Và tinh thần Phật giáo đã được thể hiện trong những ngôi bảo tháp, Hình tượng Đức Phật đã thay đổi như thế nào theo thời gian Có quá nhiều những thắc mắc xoay quanh chủ đề kiến trúc và điêu khắc Phật giáo Ấn Độ
Do vậy, việc tìm hiểu và nghiên cứu “Lịch sử nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc Phật giáo Ấn Độ thời cổ trung đại (từ 322 TCN đến 657 SCN” – được xem là những tác phẩm nghệ thuật nguyên bản – có một ý nghĩa to lớn
1.2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.2.1 Nghiên cứu trong nước
Các công trình kiến trúc nổi tiếng trong lịch sử thế giới cổ trung đại, NXB
Giáo dục (năm 2003) do nhóm tác giả Lê Phụng Hoàng – Hà Bích Liên – Trần Hồng Ngọc biên soạn, từ trang 37 đến trang 44, đã giới thiệu về kiến trúc Sutpa Sanchi và chùa hang Ajanta Đây được xem là những nguyên mẫu lý tưởng của nghệ thuật Phật giáo Stupa – dùng để thờ thánh tích, Hình thức mộ táng nhưng đồng thời cũng là tháp Chùa – nơi thờ Hình tượng Phật và là chỗ ở của nhà tu hành
Lê Phụng Hoàng (chủ biên), Lịch sử văn minh thế giới, NXB Đại học Sư
phạm TPHCM (1998) Từ trang 48 đến trang 68, tác giả đã trình bày một cách chi tiết về về văn minh Ấn Độ thời cổ trung đại, trong đó có đề cập đến những thành tựu của nền nghệ nền thuật Phật giáo với hai công trình tiêu biểu là Stupa Sanchi và chùa Hang Ajanta
Vũ Dương Ninh (chủ biên), Lịch sử văn minh thế giới, NXB Giáo dục VN
(2012) Tác giả cũng đã cung cấp một cách cơ bản nhất những thông tin về các công trình nghệ thuật Phật giáo Ấn Độ là Stupa Sanchi và chùa Hang Ajanta
1.2.2 Nghiên cứu ngoài nước
Những nền mỹ thuật ngoài phương Tây (2007), Michael Kampen O’Riley
chấp bút Từ trang 71 đến trang 88, đã cung cấp những thông tin về loại Hình kiến trúc Phật giáo ở Ấn Độ nhưng chưa thể hiện sự liên hệ giữa lịch sử và nghệ thuật
Phật giáo
Trang 11Sherman E Lee trong tác phẩm Lịch sử mỹ thuật Viễn đông (2005), cũng đề
cập đến nghệ thuật Phật giáo Ấn Độ vốn được xem là một nền nghệ thuật quan trọng
ở Viễn Đông Trong tác phẩm này, tác giả chỉ đơn thuần thể hiện những thành tựu của nền nghệ thuật Phật giáo mà thiếu hẳn yếu tố lịch sử
A.H Longhurts trong The story of Stupa (1979) đã trình bày chi tiết về quá
trình Hình thành và xây dựng những stupa Với tài liệu này, nhà nghiên cứu chỉ nghiên cứu chuyên biệt về Stupa Sanchi được xem là loại Hình kiến trúc đặc trưng của nền nghệ thuật Phật giáo Ấn Độ
Robert E Fisher (1993), Buddhist Art and Architecture, tác giả đã mang đến
những thông tin rất giá trị về nền nghệ thuật kiến trúc Phật giáo Ấn Độ dưới góc độ nghệ thuật và kiến trúc
Nhìn chung, những nghiên cứu vừa nêu đa phần do các học giả nước ngoài nghiên cứu, nhưng chưa đi sâu khai thác tốt yếu lịch sử bên cạnh thành tựu về kiến trúc và điêu khắc Phật giáo Ấn Độ Do vậy, việc nghiên cứu “Lịch sử nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc Phật giáo Ấn Độ thời cổ trung đại (từ 321 TCN đến 657 SCN” vẫn thật sự cần thiết
1.3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Trình bày những thành tựu về nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc Phật giáo Ấn
Độ như một Hình mẫu nguyên bản, từ đó có cơ sở so sánh với các công trình Phật
giáo ở các quốc gia Phật giáo khác
Chỉ ra sự lan tỏa của Phật giáo cũng như nền nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc Phật giáo Ấn Độ ở Afganishtan, Sri Lanka, Indonesia, Miến Điện
1.4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là lịch sử nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc
của Phật giáo Ấn Độ
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nghiên cứu về không gian là đất nước Ấn Độ thời cổ trung đại
- Phạm vi nghiên cứu về thời gian là từ năm 321 TCN đến năm 657 SCN
1.5 Phương pháp nghiên cứu đề tài
Phương pháp lịch sử: được tác giả sử dụng một cách xuyên suốt trong quá
trình nghiên cứu để có thể tìm hiểu các sự kiện, sự việc một cách chi tiết, cụ thể trong
sự ra đời, phát triển và kết thúc, trong hoàn cảnh, không gian, thời gian xác định, làm
cơ sở cho việc lựa chọn, xử lý, sắp xếp tư liệu theo tiến trình thời gian một cách khoa học để nhận định khái quát quá trình lịch sử nền nghệ thuật kiến trúc Phật giáo Ấn
Độ
Tiếp cận, sử dụng tư liệu từ việc quan sát, nghiên cứu các di tích lịch sử - văn hóa có liên quan như bảo tháp (stupa), chùa hang,… qua tranh ảnh, báo chí, phim tư liệu,…
Phương pháp logic: đặt các sự kiện, hiện tượng trong mối liên hệ với nhau
và tổng hợp, so sánh, đối chiếu, phân tích chúng,… để tìm ra ý nghĩa, bản chất của sự kiện lịch sử
Trang 12Phương pháp tiếp cận hệ thống: được sử dụng từ khâu chọn đề tài, xây
dựng đề cương và trong suốt quá trình nghiên cứu đề tài
Đồng thời, tôi cũng sử dụng kết quả nghiên cứu của các ngành khoa học có liên quan: văn hóa học, khảo cổ học, dân tộc học, xã hội học, tôn giáo học, địa lý học,…
1.6 Đóng góp của đề tài
1.6.1 Đóng góp về mặt khoa học
Hệ thống hóa tư liệu về lịch sử kiến trúc và điêu khắc Phật giáo Ấn Độ
Trình bày những thành tựu về nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc Phật giáo Ấn
Độ như một Hình mẫu nguyên bản, từ đó sẽ so sánh với các công trình Phật giáo ở các quốc gia Phật giáo khác
Chỉ ra sự lan tỏa của Phật giáo cũng như nền nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc Phật giáo Ấn Độ ở Afghanistan, Sri Lanka, Indonesia, Miến Điện
1.6.2 Đóng góp công tác đào tạo
Đây là tài liệu tham khảo hữu ích cho sinh viên chuyên ngành Lịch sử và các ngành khoa học xã hội nói chung
1.7 Bố cục của đề tài
Đề tài được bố cục thành 5 chương và phần phụ lục
- Chương 1 Mở đầu
- Chương 2 Ấn Độ cổ đại – quê hương của Đức Phật
- Chương 3 Lịch sử nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc Phật giáo Ấn Độ thời cổ đại
- Chương 4 Lịch sử nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc Phật giáo Ấn Độ thời trung đại
- Chương 5 Kết luận
- Phụ lục
Trang 13CHƯƠNG 2
ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI – QUÊ HƯƠNG CỦA ĐỨC PHẬT
2.1 Điều kiện lịch sử - xã hội Ấn Độ cổ đại khi đạo Phật xuất hiện
Khi đạo Phật ra đời trong thời điểm phát triển rực rỡ phong trào triết học tôn giáo ở Ấn Độ cũng như trên thế giới Trung Quốc xuất hiện trào lưu Bách Gia Chư
Tử dưới thời Xuân Thu (thế kỷ VI đến 221 TCN), đạo Zoroastre[1]do Zoroatres sáng lập ở Ba Tư, ở Hy Lạp phái ngụy biện đang hoạt động với quy mô lớn
Vào khoảng năm 4.500 TCN, tại vùng đồng cỏ Nam nước Nga có một nhóm người tự xưng là Aryan, gồm những bộ tộc nói một loạt tiếng làm nền tảng cho ngôn ngữ Ấn – Âu Các nhà ngôn ngữ học sau này gọi họ là dân Ấn – Âu Vào giữa thiên niên kỷ III, một số bộ tộc Aryan bắt đầu di cư xuống miền Nam, đến những quốc gia sau này là Hy Lạp – Ý Đại Lợi (Italia) – Đức Những người Aryan ở lại dần dần phân tán, chia thành hai nhóm, nói hai thứ ngôn ngữ khác nhau Nhóm thứ nhất dùng thổ ngữ Avestan, nhóm thứ hai sử dụng cổ ngữ Sankrit Hai nhóm này vẫn liên lạc với nhau vì vào thời điểm ấy ngôn ngữ của họ không khác nhau mấy, mãi cho đến năm
1500 TCN (Trần Quang Thuận, 2013, tr.97)
Khoảng 2.000 năm TCN, người Aryan từ Trung Á vượt qua dãy núi Hindu Kush[2]và cao nguyên Pamir[3] tràn vào vùng Punjap, thượng lưu sông Indus Khi những người Aryan đầu tiên đến vùng đất mới, họ thấy di tích thời vàng son của nền văn minh thung lũng Indus rộng lớn hơn Ai Cập hay Mesopotamia, với hai thành cổ nổi tiếng tại Mohenjo Daro ở Sind hiện nay và Harappa, cách 400 km về hướng Đông và những thị trấn rải rác trong vòng 1.200 km dọc theo sông indus, 1.200 km dọc theo vịnh Arab, chuyên xuất cảng vàng, bạc, gỗ, ngà voi, bông gòn sang Mesopotamia và nhập cảng đồng, sắt và các kim loại khác (Trần Quang Thuận, 2013, tr.99)
Dân di cư Aryan không có ý định tái thiết các đô thị cổ đại Họ luôn luôn di động, khoảng 1.000 đến 600 năm TCN, người Aryan lại từ sông Indus di chuyển về hướng Đông đến vùng đồng bằng sông Ganges, sông Yamuna Lưu vực sông Gangas
từ đây trở thành trung tâm kinh tế - chính trị và hoạt động xã hội Ấn Độ Lúc này sức sản xuất của vùng Tây Bắc Ấn Độ và Trung Ấn Độ đã tương đối được nâng cao, công cụ sắt được sử dụng khá phổ biến, nông nghiệp chiếm địa vị chủ đạo, thủ công nghiệp đã tách ra từ nông nghiệp, sự phân công lao động ngày càng cao Dựa vào ghi
chép của “Bản Kinh Sinh”, thương nghiệp cũng có sự phát triển mạnh mẽ với những
đội buôn vận chuyển bằng đường bộ và đường thủy tương đối quy mô Quá trình lưu thông hàng hóa đã sử dụng phổ biến tiền bằng kim loại Những loại tiền này do thương nhân phát hành và ghi dấu trên đó Hoạt động thương mại ở Đông Bắc Ấn Độ vượt qua Miến Điện, ở Tây Bắc vượt qua các nước Ba Tư, Arab (Hoàng Tâm Xuyên,
1999, tr 286)
Do sự phát triển của nền kinh tế, hàng loạt các thành phố, thị trấn mọc lên, nhà nước theo chế độ nô lệ thống nhất đầu tiên được thành lập, lấy thành phố thị trấn làm trung tâm Theo ghi chép của kinh điển Phật giáo và đạo Jaina, vào thế kỷ VI TCN từ lưu vực sông Cabune đến bờ sông Godavari đã tồn tại 16 quốc gia, trong đó
có bốn nước có nền chính trị - văn hóa tương đối phát triển là Magadha, Kauzala (Câu Tát La), Avanti (A Bàn đề), Vajji (Bạt Kỳ)
Trang 14Trong xã hội Ấn Độ cổ đại, chế độ đẳng cấp Varna đã được xác lập trước khi
đạo Phật xuất hiện, có bốn loại Balamon, tức tư tế, là người chỉ đạo đời sống tinh thần, có đặc quyền xã hội và chính trị, được tôn là “Thần của nhân gian” Sattria (Sát
đế lợi), là võ sĩ – quý tộc – người chấp hành quyền lực thế tục, được coi là người bảo
hộ của nhân dân Vaisia (Vệ xá) bao gồm nông dân – thợ thủ công – thương nhân, là
những người sản xuất và lưu thông của xã hội, nhưng phải gánh vác nghĩa vụ nộp
thuế Sudra (Thủ đà la), tức là nô lệ, không phải tộc người Aryan, là người phục vụ
cho ba đẳng cấp trên
Varna trong các phương diện như địa vị xã hội, quyền lợi, nghĩa vụ và phương thức sống đều có những quy phạm khác nhau Balamon không chỉ là một tập đoàn quý tộc đơn thuần, một bộ phận trong số họ đã không chỉ dựa vào cái gọi là “bố
thí” mà là dựa vào bóc lột nô lệ để duy trì cuộc sống Sattria là kẻ thống trị của nhà
nước chuyên chế, trong việc xây dựng và quản lý nhà nước, họ đã cố gắng tăng cường quyền lực của mình và mở rộng đối tượng bóc lột; do đó mâu thuẫn quyền lợi
về kinh tế và chính trị với Balamon Họ không thừa nhận sự thống trị tối cao của Balamon nữa, nhưng cả hai đều thuộc giai cấp thống trị, lợi ích của họ cũng có những mặt cơ bản nhất trí, đặc biệt là trong cuộc đấu tranh với đông đảo quần chúng
bị bóc lột Sattria không thể không xây dựng một liên minh tinh thần với Balamon Vaisia là bộ phận bị phân hóa vô cùng sâu sắc, trong đó có một bộ phận nhỏ đã trở thành Xá địa (Phú thương) hoặc Già cá phạc đế (nông dân tự do) giàu có, vươn lên hàng ngũ giai cấp thống trị Phật điển trong trong thời kỳ đầu thường nói tới những thương nhân giàu có trong thành phố, họ nắm giữ các hàng hội, quản lý mậu dịch, có tài sản cực kỳ lớn, và được Sattria và quốc vương tôn kính Nhưng đại đa số người trong đẳng cấp này là nông dân, tá điền, thợ thủ công nghèo khổ ở thành thị Sudra là đẳng cấp bị bóc lột và áp bức, bị tước đoạt tất thảy những quyền lợi trong đời sống
xã hội và tôn giáo, hai đẳng cấp trên cùng có thể tùy ý áp bức bóc lột và nô dịch họ Ngoài ra, ở ngoài các đẳng cấp trên còn tồn tại những tiện dân, đại bộ phận họ là những thổ dân bị người Aryan chinh phục, chủ yếu lấy việc săn bắn để sống, văn hóa tương đối lạc hậu (Hoàng Tâm Xuyên, 1999, tr 289)
Như vậy, xét về hoàn cảnh lịch sử vừa trình bày, xã hội Ấn Độ thời kỳ chịu
sự chi phối bởi tư tưởng Balamon và tất cả công dân trong xã hội phải tuân thủ các nguyên tắc của chế độ chủng tính Varna Cơ sở của chế độ chủng tính Varna dựa trên
“màu sắc làn da”, dường như muốn nhấn đến sự phân biệt chủ yếu giữa cộng đồng Arya và ngoài cộng đồng Hơn thế nữa, Veda – kinh điển của Balamon giáo, còn cho biết số phận con người ở hiện tại là cái kết quả hay nghiệp – Karma của kiếp trước
Và con người cần phải chấp nhận số phận và cái nghiệp đó là do Đạo Pháp – Dharma, quy tắc căn bản do Thần thánh đặt ra Sự phân biệt này tạo nên sự mâu thuẫn trong tất cả các tầng lớp nhân dân, tạo nên sự bất bình đẳng trong xã hội giữa người giàu và nghèo, giữa đẳng cấp trên và đẳng cấp dưới Do vậy, cần có một tôn giáo mới, một tư tưởng tinh thần mới thay thế cho tư tưởng Balomon để cứu cánh cho những con người yếu thế trong xã hội Ấn Độ lúc bấy giờ Như thế, đạo Phật xuất hiện được xem là một sự kiện hoàn toàn toàn phù hợp với những đòi hỏi của lịch sử
và con người
2.2 Cuộc đời của Siddhartha Gautama
Về cuộc đời của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni là một vấn đề mà giới học thuật luôn quan tâm và tranh luận với những ý kiến khác nhau Nhưng dựa trên những ghi chép trong Kinh Phật thời kỳ đầu và dựa vào những di tích văn vật khai quật được ở Nepal, chúng ta tin rằng Người là một nhân vật lịch sử Siddhartha Gautama (Thích
Trang 15Ca Mâu Ni) – người sáng lập đạo Phật, tên tục là Siddhartha, mẹ là Maja Gautama (Cù Đàm) tộc người Thích Ca, cha là Suddedana (Tịnh Phạn vương) là vua xứ Kapilavastu
Đối với năm tháng sinh và mất của Phật, cũng có những giải thích rất không đồng nhất Tuy nhiên, căn cứ vào “Miến Điện Phật truyền” của các quốc gia theo Phật giáo ở Đông Nam Á, thì cho rằng Đức Phật đản sinh vào năm 624 TCN và mất
544 TCN thọ 80 tuổi Dựa vào truyền thuyết đạo Phật thì Phật ra đời được bảy ngày thì mẹ mất, Người được người dì ruột là Mahaprajapati nuôi dưỡng và chăm sóc, lúc nhỏ chịu ảnh hưởng tư tưởng của Balamon Năm 16 tuổi, Người kết hôn với Yaśodharā (Da Du Đà La), có một con trai tên là Rahula (La Hầu La) Năm 29 tuổi, Ngài xuất gia tu hành
Về nguyên nhân xuất gia của Ngài, nhìn chung là do cảm thấy nỗi thống khổ của con người về sinh – lão – bệnh – tử, mong muốn tìm một sự giải thoát về tinh thần Nhưng dựa trên những sử liệu lại cho rằng việc xuất gia này có liên quan đến hoàn cảnh đất nước của Ngài đang gặp phải Trong thời điểm đó, tộc Thích Ca đang chịu sự uy hiếp của Kauzala, nguy cơ bị thôn tính và tiêu diệt là rất lớn Vì thế, Người ý thức được việc này và quyết định ra đi
Sau thời gian tu tập thiền định cùng phái Sam Khya (Số Luận – Khổ Hạnh) nhưng không thỏa mãn được yêu cầu tinh thần của Phật, vì thế Người đến khu rừng Cado bên cạnh sông Nilienthien theo đuổi việc tu tập khổ hạnh, khoảng chừng sáu năm Sau đó, Người đến Buddhagaya – Bồ Đề đạo tràng để thiền định và suy ngẫm
về chân đế của nhân sinh Theo truyền thuyết kể lại, sau đó Người đắc đạo và được gọi là Buddha – Phật – Bậc Giác Ngộ, lúc đó Người 35 tuổi
Sau ngày thành đạo, Phật đã bắt đầu truyền bá tư tưởng Phật giáo, phạm vi truyền đạo chủ yếu ở lưu vực sông Gangas, Đông tới Cachajara, Nam tới Nam dãy Sodopura của Buddhagaya, và các khu vực phía Nam sông Godavari, Tây Bắc tới Kamasadamu của nước Câu Lô, Bắc tới chân núi Hymalaya Năm cuối đời, Phật an trú ở gần thành Vương Xá, vì ăn nhằm phải thực phẩm có độc và viên tịch ở thành Cusinara
Trong quá trình truyền đạo, Phật đã dần xây dựng được tổ chức Tăng đoàn Phật giáo – Tăng già Trong Tăng già, Phật đề xướng nguyên tắc bình đẳng, do đó trong Tăng Già có đủ các thành phần như thương nhân, thợ thủ công, nông dân, Balamon, vương công, thợ cắt tóc, tiện dân, kỹ nữ,… nhưng thành phần đông đảo nhất vẫn là thương nhân trong hương trấn và cư dân trong thành thị Về sau, để làm sạch nội bộ Tăng già, tránh mâu thuẫn với những thế lực thống trị, đạo Phật quy định người nô lệ, người thiếu nợ, kẻ phạm tội giết người, người chưa đầy 20 tuổi đều không được gia nhập Tăng đoàn
2.3 Các trào lưu tư tưởng cùng thời với đạo Phật
Theo Hoàng Tâm Xuyên trong “Mười tôn giáo lớn trên thế giới” khi đạo Phật
xuất hiện và hưng khởi thì Balamon giáo bị suy yếu, trào lưu tư tưởng Samon nổi lên thay thế Trào lưu tư tưởng Samon là tên gọi chung của các quan điểm của các nhà tư tưởng tự do đương thời ở Ấn Độ cùng tồn tại với đạo Phật, bao gồm: Lokayata, Jaina, Ajivika, Bất khả tri luận
Lokayata là trường phái duy vật cổ đại Ấn Độ có nguồn gốc rất sớm do Akita
Sikarinvara sáng lập Lokayata cho rằng, cơ sở của thế giới là vật chất, các nguyên tố cấu thành là địa – thủy – phong – hỏa Tất cả mọi sinh vật có tình cảm, ý thức đều do
“tứ đại” hòa hợp mà sinh ra Các nguyên tố vật chất không ngừng vân động, có sức
Trang 16mạnh nội tại, từ đó phủ định thần và các yếu tố siêu Hình khác Về phương diện luân
lý xã hội, Lokayata chủ trương bình đẳng, phản đối luân hồi nghiệp báo, chỉ rõ hạnh phúc không ở thiên đường mà cũng không ở kiếp sau mà ở ngay hiện tại Trường phái này tồn tại từ cổ đại đến trung kỳ thế kỷ vẫn lưu hành trong đông đảo nhân dân
Đạo Jaina do Vardhamana, hiệu xưng là Đại Hùng cùng thời với Đức Phật
Vardhamana đã xây dựng một loạt lý luận và thực tiễn, một mặt phản đối Balamon, mặt khác cũng giữ một khoảng cách nhất định với đạo Phật
Ajivika (nghĩa là người quy định gìn giữ lối sống nghiêm ngặt), bản dịch Kinh Phật bằng Hán tự là Tà Mệnh Ngoại Đạo Phái này sinh hoạt tổ chức thành những tăng đoàn độc lập ở thành Vương Xá, Bolasa,… ở lưu vực sông Gangas, có đền miếu riêng, có cuộc sống giới luật cực kỳ nghiêm khắc Ajivika tuyên bố, vũ trụ
và hết thảy các loài sinh vật có sinh mệnh đều do 12 nguyên tố cấu thành, đó là linh hồn, đất, nước, gió, lửa, hư không, được, mất, khổ, sướng, sống, chết cấu thành, sự kết hợp của các loại nguyên tố là sự kết hợp tự nhiên, máy móc, không có quan hệ
với nhau Về mặt đạo đức đã đề xuất ra một loại học thuyết Túc mệnh luận [4], cho rằng mọi sự vật thế giới đều chịu sự chi phối của số mệnh, ở trong vòng của số mệnh, ý chí của bất kỳ người nào đều không thể tạo được sức lực gì, luân lý đạo đức cũng chẳng có ý nghĩa gì với nhau Trong thời vương triều Maurya, tư tưởng này rất thịnh hành, về sau ở Nam Ấn lại kết hợp với tín ngưỡng dân gian Án Độ, với đạo Jaina mãi đến thế kỷ XV mới lắng xuống
Bất khả tri luận, đại diện là Sagoya Phitli cùng thời với Phật Sagoya đã
truyền bá một loại hoài nghi luận hoặc bất khả tri luận, cho rằng tất cả sự vật và chân
lý của nó trên thế giới đều không thể bỗng nhiên đoán định được Loại lý luận này được các môn đồ gọi là “Học thuyết cá lươn rất khó bắt”[5]
Bất khả tri luận là một phái sau khi đạo Phật hưng khởi thì tan biến, nhưng tư tưởng của nó vẫn còn ảnh hưởng đến ngày sau
Nhìn chung, trào lưu tư tưởng Samon tuy mỗi phái đều có biểu hiện riêng, nhưng có điểm chung là phản đối quyền uy của Veda và sự thống trị tinh thần của Balamon Và sự ra đời của Phật giáo là dấu hiệu cho thấy sự suy yếu của Balomon giáo, điều này càng khẳng định vai trò và tầm quan trọng của đạo Phật trong bối cảnh
mà nó xuất hiện
2.4 Sự phân phái và hồi sinh của Phật giáo Ấn Độ
Sau ngày đức Phật viên tịch, Phật giáo đã phân chia thành nhiều bộ phái khác nhau Theo PGS.TS Doãn Chính & TS Vũ Văn Giàu, bài viết “Về quá trình phát triển và phân phái của Phật giáo Ấn Độ, đăng trên Tạp chí Triết học số 3 (154), tháng 03/2004, nguyên nhân của sự phân phái là do những nguyên nhân nội bộ nảy sinh và những nguyên nhân tác động bên ngoài bao gồm:
Thứ nhất, sự bất đồng về quan điểm giáo pháp và giới luật giữa các Tăng
đoàn Phật giáo Đại đa số tăng sĩ theo phái bảo thủ mà đại diện là tôn giả Ma Ha Ca Diếp lại muốn duy trì nguyên vẹn lời giảng dạy của đức Phật lúc còn tại thế; ngược lại, những người theo quan điểm cách tân mà đại diện là A Nan tôn giả lại cho rằng tùy theo hoàn cảnh cụ thể, có thể thêm hoặc bớt vào những lời giảng – giới luật của Phật cho phù hợp với tình Hình thực tế
Thứ hai, sự khác nhau về triết học và giáo lý trong nội bộ Phật giáo, đây là
nguyên nhân có sự ảnh hưởng rất lớn trong quá trình phân chia của Phật giáo Phạm
vi triết học vấn đề bản thể luận “hữu luận” và “không luận” được mang ra tranh cãi Theo quan điểm “hữu luận” chủ trương thế giới vật chất tồn tại chân thật và hiện hữu
Trang 17tương đối; khi đó quan điểm “không luận” lại cho rằng, thế giới vạn vật hiện hữu đấy, nhưng lại không có thật, cái gốc của nó vẫn là không Về phạm vi giáo lý, các tăng sỹ - phật tử cũng theo mục đích tôn chỉ phấn đấu cho sự giải thoát cuối cùng là hướng tới Niết bàn nhưng họ có quan điểm khác nhau về con đường giải thoát Một
số chủ trương mỗi cá nhân tự tu luyện để đạt Niết bàn, không ai có thể làm thay hoặc trợ giúp, đó là sự giải thoát mang tính cá nhân - tự giác Nhưng phần lớn quan niệm rằng để giải thoát con người không chỉ dựa vào bản thân, mà còn cần đến sự giúp đỡ
từ bên ngoài – tha lực
Thứ ba, sự tác động của các trường phái triết học khác đối với Phật giáo Khi
Balamon giáo bắt đầu phục hồi, Hồi giáo tràn vào Ấn Độ, cùng với những sự phê phán, công kích của các trường phái triết học tôn giáo truyền thống hoặc ngoại lai, kết hợp với những điểm yếu cần khắc phục trong quan điểm triết học - phạm vi giáo
lý - nghi thức - giới luật, dẫn đến sự phân chia trong nội bộ Phật giáo là điều không thể tránh khỏi
Thứ tư, sự thay đổi của đời sống xã hội Ấn Độ đương thời Đây là nguyên
nhân cơ bản, sâu xa nhất dẫn đến sự phân phái của Phật giáo Tư tưởng luôn là tấm gương phản ánh hiện thực và dẫn dắt xã hội Khi thực tiễn xã hội thay đổi, tất yếu tư tưởng cũng thay đổi cho phù hợp với hoàn cảnh cụ thể Đó là quy luật khách quan Cuộc sống xã hội Ấn Độ thay đổi, muốn tồn tại, Phật giáo cũng phải thay đổi để thích nghi với hoàn cảnh trong từng giai đoạn cụ thể Sự thay đổi thích nghi ấy, một mặt, tạo ra sự phát triển và mặt khác, đã dẫn đến sự phân phái
Quá trình phân phái của Phật giáo gắn liền với bốn cuộc kết tập kinh điển
Cuộc kết tập kinh điển lần thứ nhất: Hội nghị kết tập lần này diễn ra ở thành
Vương Xá, kinh đô nước Ma Kiệt Đà, kéo dài bảy tháng Thành phần hội nghị gồm
500 vị đã chứng quả A La Hán, do Ca Diếp chủ toạ Vì thế, hội nghị này được gọi là
cuộc “Kết tập năm trăm” hay “Vương Xá kết tập” Cuộc kết tập lần này có ý nghĩa
quan trọng hàng đầu trong lịch sử Phật giáo Bước đầu nó đã Hình thành nên cơ cấu
tổ chức giáo hội, Luật và Pháp được phân chia rõ ràng Tuy nhiên, cũng trong cuộc kết tập này, sự phân chia bộ phái đã bắt đầu nhen nhóm với hai quan điểm bảo thủ và cách tân Nếu Ca Diếp lặp đi lặp lại ba lần: Không ai được thêm bớt chút nào trong các luật lệ mà Đức Thế Tôn ban hành, thì A Nan bày tỏ giữa hội nghị có thể bớt đi những điều luật lặt vặt và nhỏ nhặt, ý tưởng của A Nan cũng được một số vị đồng tình ủng hộ (Đoàn Trung Còn, 2001, tr 36)
Cuộc kết tập kinh điển lần thứ hai: 100 năm sau kỳ kết tập lần thứ nhất, có
12.000 tăng sĩ thành Tỳ Xá Lỵ không sống theo tất cả giới luật quy định Hội nghị quy tụ 700 vị trưởng lão tại thành Phệ Xá Lỵ kéo dài khoảng tám tháng, nên cũng
được gọi là “Đại hội các vị trưởng lão” hay “Kỳ kết tập bảy trăm” Sau nhiều lần thảo luận với nhiều ý kiến khác nhau, cuối cùng hội nghị tuyên bố cần giữ lại Mười điều giới luật[6]
nếu không sẽ phạm giới Đa số các vị Đông bộ không phục tùng quyết định này, họ cùng nhau hội họp ở nơi khác để kết tập kinh điển, gọi là Đại chúng kết tập Nội dung của Đại chúng kết tập là Kinh tạng, Luật tạng, Đại Pháp tạng, Tập tạng và Bồ Tát tạng Gọi là Ngũ tạng (Thích Thanh Kiểm, 1989, tr.81 – 82) Từ đấy, giáo đoàn Phật giáo chia thành hai bộ phái khác nhau Thượng toạ bộ theo khuynh hướng bảo thủ, Đại chúng bộ theo khuynh hướng cách tân Sau này trong quá trình phát triển, Thượng toạ bộ và Đại chúng bộ tiếp tục phân liệt thành 20
bộ phái khác nhau
Cuộc kết tập kinh điển lần thứ ba: Vào khoảng thế kỷ III TCN, dưới thời vua
Ashoka – một người sùng đạo, nhằm xác định, thống nhất lại giáo pháp, và chuẩn bị
Trang 18truyền bá tư tưởng Phật gióa ra ngoài Ấn Độ Cuộc kết tập lần thứ ba diễn ra ở thành Hoa Thị vào năm thứ 18 dưới triều vua Ashoka (136 năm sau kỳ kết tập lần thứ hai)
Có 1000 tăng sĩ thuộc nhiều bộ phái khác nhau tham dự, dưới sự chủ toạ của đại đức Tích Ha (Tisya), kéo dài chín tháng Thành công nhất trong kỳ kết tập này là việc truyền đạo ra nước ngoài Sau kỳ đại hội, có mười nhà truyền giáo đi đến chín nước khác nhau Do vậy, số tín đồ Phật giáo ở nước ngoài gia tăng nhanh chóng, nhưng các bộ phái vẫn tiếp tục phân liệt
Cuộc kết tập kinh điển lần thứ tư: Đầu thế kỷ II, lúc này Phật giáo đã phân
chia thành nhiều bộ phái khác nhau, vua Kaniska (Ca Nhi Sắc Ca) là người sùng mộ đạo Phật, mỗi ngày thỉnh một vị tăng để nghe thuyết pháp và đọc lại các tạng Kinh - Luận Vua thấy giáo nghĩa không thống nhất, nên quyết định mở đại hội kết tập nhằm thống nhất giáo nghĩa các bộ phái
Trong quá trình phân chia của Phật giáo đã dẫn đến sự Hình thành những phái bộ, kể từ sau cuộc kết tập kinh điển lần thứ tư, tức vào khoảng thế kỷ II, lịch sử Phật giáo Ấn Độ xoay quanh sự xung đột giữa hai phái Tiểu thừa và Đại thừa
Tiểu thừa – Thượng Tọa bộ – Theravada – Cỗ xe nhỏ, chủ trương “Ngã
không pháp hữu” con người phải tự tu luyện để đạt chứng quả, không ai có thể làm thay hoặc trợ giúp được – tự lợi lợi tha Tiểu thừa muốn bảo tồn giữ gìn giáo lý, giới pháp nguyên thủy; và quan niệm cứu cánh của giải thoát là đạt đến bậc A La Hán, chỉ thờ một đức Phật Thích Ca duy nhất Tiểu thừa phân chia thành tông phái nhỏ hơn là Tỳ Bà Sa Luận Sư và Tăng Ca Lan Da Bộ
Tỳ Bà Sa Luận Sư cho rằng, chỉ có những sự vật hiện tượng nào mà con
người nhận thức được bằng giác quan và lý trí mới thực sự tồn tại Theo họ, sự vật hiện tượng bao gồm hai loại: vĩnh viễn và không vĩnh viễn Do lấy lý luận làm tôn chỉ, nên phái này coi trọng Luận tạng hơn Kinh tạng Đối với những người theo phái này, Đức Phật cũng chỉ là một người bình thường như bao người khác, dù theo họ, Đức Phật hơn người ở chỗ là đã giác ngộ thành Phật và tự mình khám phá chân lý
mà không phải học ai
Phái Tăng Ca Lan Đa Bộ, cũng được gọi là “Kinh bộ”, quan niệm sự vật hiện
tượng chỉ là Hình ảnh, và con người có thể nhận biết chúng bằng lý trí Họ phân chia vật thành hai loại Loại thứ nhất được cấu thành do nhiều pháp, ví dụ như ngũ uẩn gồm sắc, thọ, tưởng, hành, thức; loại thứ hai chỉ có một pháp, ví dụ như “lý tưởng” Trái với phái Tỳ Bà Sa Luận Sư, phái này đề cao Kinh tạng, không nhận Luận tạng Bởi theo họ, Đức Phật là bậc thánh nhân, là đấng đại từ, đại bi
Đại thừa – Đại Chúng bộ - Mahayana – Cỗ xe lớn, cho rằng mỗi người giác
ngộ cho mình và cho tất cả những người khác “giác giả giác tha” – lợi tha Đại thừa quan niệm cứu cánh là thành Phật, ngoài đức Phật Thích Ca Mâu Ni, còn thờ các vị
Bồ Tát, La Hán, các vị thần thánh khác Đại thừa theo khuynh hướng tiến bộ, cách tân cho phù hợp với thời đại nhằm mở rộng Phật giáo Trong quá trình phát triển, Đại thừa cũng phân chia thành hai phái chính là Trung Luận và Du Già (Yoga)
Phái Trung luận do Long Thọ Bồ Tát[7] sáng lập vào khoảng thế kỷ II (có quan niệm cho rằng vào đầu thế kỷ III) Nội dung chủ đạo cũng là điểm đáng chú ý nhất của phái này là tư tưởng “Trung đạo”, được thể hiện trong hai tác phẩm nổi
tiếng, là “Thập nhị môn luận” và đặc biệt là tác phẩm “Trung quán luận” Theo Long
Thọ, bản chất của thế giới là “Không” đối lập với “Có”, nhưng “Không” không phải
là “Hư vô” mà là cái tên vượt ra ngoài vòng “Có và Không”, gọi là “Trung đạo” Cho
nên thế giới: Không sinh cũng không diệt; Không thường cũng không đoạn; Không
Trang 19một cũng không khác; Không lại cũng không đi (Long Thọ bồ tát, 2003, tr.12) Đưa
ra quan điểm “bát bất” trên, một mặt, Long Thọ muốn chống lại quan niệm thông thường cho rằng thế giới có sinh có diệt, có một có khác, có thường có đoạn, có lại
có đi; mặt khác, để thuyết minh cho ý nghĩa “Trung đạo” của mình Đây cũng là quan niệm đánh dấu bước phát triển của triết học Phật giáo về bản thể luận Phái Trung luận phát triển đến thế kỷ VI thì phân thành hai phái: Ứng thành và Tự tục
Phái Du già (Yoga), do anh em Vô Trước và Thế Thân Bồ Tát[8] sáng lập vào khoảng thế kỷ V Nội dung tư tưởng chính yếu của phái này được thể hiện trong tác
phẩm “Duy thức luận” của Thế Thân Theo Thế Thân, chỉ có cái thức – cái tư tưởng
là thật Nó bao hàm vạn vật trong đó Các sự vật hiện tượng đều do thức mà ra: “Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức” Có thức là có sự phân biệt giữa chủ thể và khách thể, có sự sai biệt giữa các hiện tượng trong thế giới Bản chất thực sự của con người
là cái tâm thường tịnh, vắng lặng và vô trụ Cái tâm này hoàn toàn đồng nhất với bản
thể tuyệt đối Trong cái tâm tĩnh lặng hàm chứa mầm mống của tám loại thức: nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý, mạt na thức [9]
và alaya thức [10] Chính alaya thức chứa đựng vạn pháp và hàm chứa những tác động (duyên khởi) chuyển từ khả năng thành hiện thực Đồng nhất “bản thể tuyệt đối” với “tâm thức” của con người, theo Thế Thân, muốn đạt tới tâm thức tuyệt đối, nghĩa là muốn được giải thoát, con người phải vượt lên trên nhận thức thông thường, tạo thành sự đồng nhất hoàn toàn giữa chủ thể và khách thể, trở về với cái tâm thường tịnh, vắng lặng, vô thức… đó là Niết bàn Quá trình này phải được thực hiện bằng toàn bộ cuộc sống con người thông qua các phép
tu luyện cụ thể, đạt đến trình độ cảm nhận tâm linh trực giác Với quan điểm này, Thế Thân đã đánh dấu bước phát triển mới trong triết học Phật giáo, hoàn chỉnh hệ thống triết học về mặt nhận thức luận Thế kỷ VIII, khi Mật tông giáo hưng thịnh, phái Trung luận và Du già có sự dung hợp với nhau tạo thành phái Du già - Trung quán hay Trung quán - Du già đại (Doãn Chính & Vũ Văn Giàu, 2004)
Mật tông là sự kết hợp giữa Phật giáo Đại thừa, Ấn Độ giáo và tín ngưỡng dân gian, mang tính chất huyền bí, bùa chú… trong phép tu luyện giải thoát
Phật giáo mất đi sự ảnh hưởng lên đời sống tinh thần của nhân đan ở Ấn Độ khoảng thế kỷ IX - X Nhưng lúc này, Phật giáo đã lan rộng ra nước ngoài, đặc biệt
là các nước châu Á, trở thành tôn giáo lớn của thế giới, mang tính quốc tế Căn cứ vào phương diện địa lý và văn tự dùng để ghi chép kinh sách Phật giáo được chia thành Nam phương và Bắc phương Phật giáo Kinh điển được ghi chép trong kỳ kết tập thứ ba và thứ tư bằng hai loại chữ: chữ Pali và chữ Phạn Vì vậy, những nơi dân chúng nói tiếng Pali thì kinh điển bằng Pali được truyền bá, còn những nơi dân chúng nói tiếng Phạn thì kinh điển bằng Phạn văn được truyền bá Nếu lấy Trung Ấn
Ðộ là trung tâm, thì những nơi phía Nam Ấn Ðộ lan ra đến Miến Điện, Thái lan, Lào, Campuchia, đều theo kinh điển Pali, nên Phật giáo nơi đó gọi là Nam phương Phật Giáo Còn những nơi thuộc Trung Ấn Ðộ, Bắc Ấn Ðộ và lan ra đến Nepal, Tây Tạng, Trung Quốc, Việt Nam, Triều Tiên, Nhật Bản, thì lại căn cứ theo kinh điển chữ Phạn, nên Phật giáo nơi đó được gọi là Bắc phương Phật Giáo
Như vậy, có thể nói, quá trình phân phái của Phật giáo cũng chính là quá trình phát triển của Phật giáo, nhưng chính trong sự phát triển đó lại chứa đựng những hạn chế nhất định Một trong những hạn chế đó là, với quan niệm “Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức”, triết học Phật giáo từ một học thuyết tư tưởng duy vật vô thần nguyên thuỷ chuyển sang thành hệ thống triết học mang màu sắc duy tâm chủ quan – duy ngã Mặt khác, với khuynh hướng tôn thờ Phật tổ, Bồ Tát, các vị thánh thần… của các bộ phái, phần nào làm lu mờ đi vẻ trong sáng, tính nhân văn, nhân bản của hệ
Trang 20thống triết học Phật giáo vốn là học thuyết đạo đức nhân sinh, xuất phát từ con người
và hướng đến phục vụ con người, dù đó là con người mang tính chất tự nhiên nói chung (Doãn Chính & Vũ Văn Giàu, 2004)
* Chú thích
[1] Bái hỏa giáo là tôn giáo do nhà tiên tri Zoroaster (Zarathushtra) sáng lập vào khoảng cuối thế kỷ VII TCN tại miền Đông Đế quốc Ba Tư cổ đại Đây là một trong những tôn giáo lâu đời nhất của nhân loại, với bộ kinh chính thức là kinh Avesta (Cổ kinh Ba Tư) tôn vinh thần trí tuệ Ahura Mazda là thần thế lực cao nhất
[2] Dãy núi nằm giữa Afghanistan và Pakistan
[3] Cao nguyên Thanh Tạng hay cao nguyên Tây Tạng (25~40 độ vĩ bắc, 74-104 độ kinh đông) là một vùng đất rộng lớn và cao nhất Trung Á cũng như thế giới, với độ cao trung bình trên 4.500 mét so với mực nước biển, bao phủ phần lớn khu tự trị Tây Tạng và tỉnh Thanh Hải của Trung Quốc cũng như Ladakh tại Kashmir của Ấn Độ [4] Một loại lý luận theo chủ nghĩa duy tâm, cho rằng sự biến hóa và phát triển của
sự vật, sự sống chết và giàu nghèo của con người đều do mệnh vận hoặc số trời quyết định từ trước, con người sẽ là vô năng, bất lực trước số mệnh
[5] Huyền Trang dịch là “Bất tử kiểu loạn luận”
[6] Mười điều giới luật: để dành muối trong một cái sừng để dùng trong những ngày sau; ăn khi mặt trời đã xế, bóng dài quá hai ngón tay; đã ăn rồi lại ăn nữa khi sắp đi xa; hành lễ Bồ Tát tập trung; tự quyền hành lễ; tự tiện bắt chước các bậc tôn sư làm việc; ăn bơ sữa sau khi đã ăn bữa chính; được uống rượu pha loãng với nước; được dùng tấm thảm trải giường không viền
[7] Long Thọ Bồ Tát – Nagarjuna, Ngài cũng có tên là Long Thắng,dòng Phạm Chí ở miền Tây Ấn Độ Tương truyền Ngài sanh dưới cây A Châu Đà Na, cây này có năm trăm vị Long thần ở, lại nhờ Long Vương Bồ Tát mà thành đạo, nên lấy hiệu là Long Thọ Thưở nhỏ, Ngài bẩm tánh thông minh, vừa nghe Phạm Chí tụng bốn kinh Phệ
Đà là Ngài thuộc lòng văn nghĩa Đến 20 tuổi, Ngài đi châu du khắp các nước tìm học các môn thiên văn, địa lý, toán số, sấm ký và các học thuật của ngoại đạo Môn nào Ngài học đến đều xuất sắc hơn mọi người Nhân một cơ duyên lành, Ngài nhận thực được các pháp là vô thường đau khổ nên vào núi ở ẩn Số người tìm đến cầu học với Ngài rất đông Sau khi gặp Tổ Ca Tỳ Ma La cảm hóa, Ngài xin xuất gia được Tổ
độ cho và truyền cả tâm ấn Từ đó, Ngài vân du thuyết pháp khắp nơi,lần lượt đến miền Nam Ấn
Những tác phẩm của Thánh Long Thọ chủ yếu nhằm rực sáng nghĩa lý tính không trong kinh Bát Nhã, giáo pháp siêu tuyệt hiển thuyết theo thứ tự không tính qua Trung Quán Lý Tụ Lục Luận (sáu bộ Trung Quán: Căn Bản Trung Quán Luận, Hồi Tránh Luận, Thất Thập Không Tính Luận, Lục Thập Chánh Lý Hai Luận, Tế Nghiên
Ma Luận (Quảng Phá Nhập Vi Luận), Bảo Hành Vương Chính Luận (Vòng Châu Báu Lời Khuyên Quốc Vương), Xưng Tán Pháp Giới Luận giải thích Như Lai Tạng, Phật Tính và nhiều tán tụng thi kệ tập luận,…[Phật học từ điển – Buddhism Dictionary Việt Anh, Volume one A – H]
[8] Bồ tát Thế Thân sanh tại Bá Lộ Sa (Purusapura) còn gọi là Phú Lâu Sa Bổ La, nay là thành phố Peshawar thuộc vương quốc Kiền Đà La (Gandhara) ở Bắc Ấn vào khoảng năm 316 SCN tức 860 năm sau khi đức Phật diệt độ Ngài là người con thứ hai của một gia đình Bà La Môn, cha là Kiều Thi Ca (Kausika), mẹ là Tỷ Lân Trì (Virinci) Khi ngài mới ra đời thì anh ngài là Vô Trước (Asanga) đã là tu sĩ theo Phật
Trang 21Giáo Đại Thừa Ngài có người em là Tỷ Lân Trì Tử (Virincivatsa), theo Phật Giáo Tiểu Thừa Riêng ngài thì thuở ban đầu theo Phật Giáo Tiểu Thừa, về sau được ngài
Vô Trước điểm hóa nên chuyển theo Đại Thừa Tên tiếng Phạn của ngài là Vasubandhu, dịch âm là Bà Tu Bàn Đầu, có nghĩa là vị thân thuộc của trời nên dịch theo nghĩa là Thế Thân hoặc Thiên Thân Còn tên của anh ngài có nghĩa là không chấp chước tức không bị dính mắc vào đâu cả Tên của em ngài thì lấy theo tên mẹ,
Tỷ Lân Trì (Virinci) là tên mẹ, Tử (vatsa) là con Vô Trước tu theo Đại thừa, vì muốn giác ngộ lý rốt ráo của các kinh điển nên ngài bỏ vào rừng tu thiền định trong suốt 12 năm Theo truyền thuyết thì ngài đã nhập định lên cõi trời Đâu Xuất và được
bồ tát Di Lặc đọc cho năm bộ luận để truyền lại cho hậu thế Năm bộ luận đó là: Du Già Sư Địa Luận, Đại Thừa Trang Nghiêm Kinh Luận, Thập Địa Kinh Luận, Trung Biên Phân Biệt Luận, Kim Cang Bát Nhã Luận [Phật học từ điển – Buddhism Dictionary Việt Anh, Volume one A – H]
[9] A Mạt Na Thức (A Ma La Thức) – Amala Vijinãna: Còn gọi là Vô cấu thức, Bạch tịnh thức Đó là khi A Lại Da Thức không còn tạp nhiễm nữa mà trở nên trong sạch hoàn toàn (Vô cấu = thanh tịnh, không dấu vết tạp nhiễm) [Phật học từ điển – Buddhism Dictionary Việt Anh, Volume one A – H]
[10] A Lại Da Thức – Ãlaya Vijinãna: Còn gọi là Tàng thức Thức này có chức năng duy trì và hàm chứa, huân tập (Huân = ướp, xông; Tập = tập nhiễm, nhuốm quen) Tất cả những hạt giống tâm thức = chủng tử, mọi xu hướng, tập quán tốt xấu để hiện hành (Hiện = phát hiện; Hành = lưu hành, hành động) thành các hoạt động, làm phát sinh ra vạn pháp Sau khi biểu hiện lại được huân thành chủng tử A Lai Da Thức có
ba chức năng
Năng tàng: Chủ thể cất giữ và bảo trì Năng lực chứa đựng và duy trì các hạt giống, ấp ủ các hạt giống ấy và làm cho chúng chín muồi (vipaka = thành thục) để chúng trở nên sinh động hiện hành
Sở tàng: Là đối tượng được dung chứa Kho tàng, nơi chứa đựng tất cả những chủng tử thiện ác, thanh tịnh hay nhiễm ô
Ngã ái chấp tàng: Thức này bị thức thứ bảy là Mạt Na chấp làm ngã tính – cái tôi – cái của tôi – tự ngã của tôi Chấp làm ngã thể, một bản ngã thực hữu, và cũng từ
đó giả lập nên chủ thể - ngã và đối tượng – pháp [Phật học từ điển – Buddhism Dictionary Việt Anh, Volume one A – H]
Trang 22CHƯƠNG 3 LỊCH SỬ NGHỆ THUẬT KIẾN TRÚC VÀ ĐIÊU KHẮC
PHẬT GIÁO ẤN ĐỘ THỜI CỔ ĐẠI
Một trong những yếu tố quan trọng giúp cho Phật giáo dễ dàng thích nghi và phát triển với những nền văn hóa khác nhau, vùng đất khác nhau và đức tin khác nhau; đó chính là sự hòa nhập của Phật giáo vào những huynh hướng tôn giáo bản địa, những vị thần bản địa được xem là những hóa thân của Đức Phật Bên cạnh đó, nghệ thuật Phật giáo đã giúp cho việc nhắc nhở, hỗ trợ và củng cố những chân lý bất diệt của tôn giáo, cùng sự phát triển và phong cách của nó đã duy trì toàn bộ lịch sử tôn giáo Mục đích tối thượng của Phật giáo là hướng đến một thế giới siêu việt –
Nirvana, cho nên Phật giáo đòi hỏi một nền nghệ thuật với những Hình tượng đầy lý
tưởng, hết sức cao cả, cao quý hơn bất cứ những Hình tượng nào mà người ta có thể nhìn thấy được trong kiếp sống tầm thường của một đời người
3.1 Những biểu tượng và chủ đề của nghệ thuật Phật giáo
Chủ đề truyền thống trong nền nghệ thuật Phật giáo cổ xưa là đề cao cây cối, nhất là cây bồ đề, hoa sen, ngoài ra Hình ảnh ngai vàng để trống và bánh xe pháp cũng là một chủ đề quen thuộc Bánh xe là biểu tượng cho buổi thành đạo của đức Phật và bài pháp đầu tiên, tượng trưng cho hành động vận chuyển bánh xe giáo pháp Hoa sen – Chintaman – Bảo vật đáp ứng những ước muốn, biểu tượng về sự chiến thắng những ảo tưởng để đạt quả Niết Bàn của Người Những Hình ảnh mãng xà vương hay voi, sư tử đã trở nên nổi bật rất sớm trong nghệ thuật Phật giáo Hình tượng sư tử đã có một sự liên hệ lâu dài với Phật giáo, tên tộc của đức Phật – Sư tử của dòng họ Shakyas và mối liên hệ này đã được củng cố thêm vô số những chiếc ngai vàng Hình sư tử, trong đó nổi tiếng nhất là chiếc ngai ở Sarnath
Trong nghệ thuật điêu khắc Phật giáo nguyên sơ, các Yaksha – nam và Yakshi – nữ, được xem là những chúng sinh nổi tiếng với những Hình ảnh quen thuộc và hấp dẫn được chạm khắc trên những tường rào xung quanh bảo tháp
Sau ngày đức Phật nhập diệt, nội dung nghệ thuật Phật giáo đã có sự thay đổi
cơ bản Đó là sự khác nhau cơ bản giữa nghệ thuật Phật giáo nguyên thủy - Tiểu thừa – Theravada và Đại thừa – Hymayana, là ở nội dung với các vị Phật siêu phàm và những vị Bồ tát nổi bật trong nghệ thuật Đại thừa Những Hình thức miêu tả chân dung của đức Phật cũng là chủ đề chính của nghệ thuật Phật giáo
Đối với các tông phái Nguyên thủy, những Hình ảnh về lịch sử cuộc đời của
đức Phật Thích Ca Mâu Ni, và những tiền kiếp của Ngài được mô tả trong “Túc Sanh truyện – Jakata” là quan trọng nhất, bởi vì họ quan niệm Ngài là một con người
gương mẫu, nói đến những giai đoạn sẽ minh họa được phẩm hạnh đạo đức, hành thiền và giáo pháp cho thấy sức mạnh nội tâm cần thiết để chiến thắng những điều xấu xa và ảo tưởng Nghệ thuật được phát huy chung quanh một tôn giáo bắt đầu với những sự kiện khiêm tốn như vậy với một con người đơn độc đi tìm kiếm ý nghĩa lớn lao của cuộc sống; do vậy, trong nền nghệ thuật của các tông phái Nguyên thủy chủ yếu đề cao những hành động đơn giản của Ngài nhưng lại toát lên một sự thu hút cực
kỳ khác thường về khía cạnh tâm linh (Fisher, 2000, p.18)
Trong khi đó Đại thừa cho rằng, Phật Thích Ca đóng một vai trò có tính cách trừu tượng hơn nhiều với tất cả các sự kiện và chúng sanh, họ quan niệm Ngài như là
sự tạo ra của một nguồn năng lực siêu phàm Những Hình ảnh siêu việt trong nghệ thuật Đại thừa tạo ra một vị Phật cao xa hơn thoát khỏi thế gian và gần gũi với cảnh
Trang 23trời, nguồn gốc tối cao của tất cả ý nghĩa Những sự khác biệt này đã được nhấn mạnh bởi những Hình thức bày trí, với những nét đặc biệt công phu của Đại thừa, thường ở những cõi trời xa hoa với vô số người hầu và thiên thần, phát ra một bầu không khí của cảnh trời huy hoàng rực rỡ Trái lại, phái Nguyên thủy lại đề cao những Hình tượng đơn độc, nhấn mạnh đến những phẩm thiền và khổ hạnh kết hợp với truyền thống sẵn có
Ngoài ra, Hình ảnh đức Phật còn có những ưu việt hơn nữa do bởi những biểu tượng đặc biệt của Ngài Chẳng hạn như chùm tóc trước trán, những ngón tay có màng dính nhau, tóc xoắn đặc biệt, hoa sen và những dấu bánh xe ở lòng bàn chân
Sự nhấn mạnh những thành quả về tinh thần cao hơn đạt được sự vắng lặng và kiểm soát thân, dẫn đến những Hình tượng đức Phật với tư thế an nhiên tự tại Những Hình ảnh của đức Phật Thích Ca Mâu Ni được trình bày ở một số dáng điệu điển Hình như
Dharmachakramudra – giáo pháp - ở tư thế này hai tay ở giữa ngực, các ngón tay đan nhau; Dhyanamudra – hành thiền – tay này đặt trong lòng tay kia; Abhayamudra – giải hòa – hai bàn tay hướng về phía trước; Bhumisparslamudra – sự giác ngộ -
đây là một tư thế rất phổ biến với tay phải chỉ xuống đất
Trong thế giới Phật giáo thần bí Mật tông hay còn được gọi là Kim cương thừa – Vajrayana, nghệ thuật Mật thừa được biểu hiện qua các phương tiện tượng trưng cho Thân – Ngữ - Ý giác ngộ Thân biểu hiện qua các Hình ảnh và tượng Phật, Bản tôn[1], Ngữ qua Giáo lý, Thi ca, Tán tụng, Âm nhạc và Chân ngôn; Ý qua thiền định hỷ lạc và tính không bất khả phân Đây chính là sự thưc hành Tam mật tương ưng được thể hiện qua các phương pháp thực hành khác nhau Chẳng hạn như trong
vũ điệu Kim cương thừa, hành giả Mật thừa tự thân hợp nhất với Bản tôn thiền định, tâm trụ trong tâm của Bản tôn, khẩu ứng với châm ngôn của Bản tôn Với Tâm hài hòa thanh tịnh trí tuệ, nghệ sĩ kết nối với suối nguồn của trí tuệ Bát Nhã nên nghệ thuật được họ thể hiện một cách tự nhiên trong đời sống để phụng sự chúng sinh Những Hình tượng kỳ bí hấp dẫn là những Hình tượng điêu khắc và những bức họa Hình người ôm nhau làm tình Mặc dù mô tả sinh động của chúng, nhưng ý niệm sâu
xa tiềm ẩn là một yếu tố hợp lý, tinh tế, đó là hai phẩm chất cần thiết, lòng bi mẫn của nam và trí tuệ của nữ để đạt được mục đích cuối cùng Đó là sự đoạn diệt vô minh, đòi hỏi sự phối hơp khéo léo của lòng bi mẫn và trí tuệ để vượt qua thế gian tầm thường cũng như những ảo tưởng để đi đến chân lý tối cao của đạo Phật
Về mặt kiến trúc trong Phật giáo có hai Hình thức phổ biến Thứ nhất, là tu viện, đây là phương tiện cơ bản cần thiết để duy trì sự sống, thể hiện sự tôn kính đối với các vị sư Thứ hai, là cấu trúc chính và là biểu tượng để thờ cúng, đó là các bảo tháp hoặc đền chùa
3.2 Thời kỳ Maurya từ 321 đến 232 TCN
3.2.1 Những nét khái quát về lịch sử
Sau khi vương triều Nanda suy sụp, một vương triều mới cầm quyền ở Magadha là Maurya do Chandragupta lãnh đạo (321 – 297 TCN) Ông đã dựa vào sự giúp đỡ của Kautalya – một tăng lữ Balamon trong việc tổ chức cai trị quốc gia, mặt khác tiến hành chinh chiến mở rộng quyền lực Ông đã thu tóm toàn bộ thung lung sông Indus, chiếm một phần rộng lớn ở phía Đông Iran, nay là Afghanistan vào năm
303 TCN
Kế vị ông là Bindusara đã gần như hoàn thành việc chinh phục toàn bộ bán đảo Hindustan, ngoại trừ một phần mỏm cực Nam và Kalinga ở vùng Đông Bắc – nay là Orissa
Trang 24Ashoka là con kế ngôi Bindusara, đã đưa vương triều Maurya phát triển cực thịnh (272 – 232 TCN) Năm 260 TCN, ông tiến đánh Kalinga và toàn bộ bán đảo thuộc quyền cai quản của vương triều Maurya
Về ngoại giao, nhà vua cử sứ thần đến các nước Syria, Ai Cập, Macedonia, Iran Trong thời gian trị vị của Ashoka, ông đã thực hiện một chính sách hỗ trợ Phật giáo do vậy Phật giáo phát triển rất mạnh và trở thành quốc giáo vào thế kỷ III TCN Năm 250 TCN, đại hội Phật giáo lần thứ ba họp ở Pataliputra (kinh đô vương quốc) nhằm ngăn chặn sự phân chia giáo phái trong nội bộ Phật giáo Trong thời kỳ này, nhiều phái bộ được cử đi các nơi để truyền bá Phật giáo ở Sri Lanka, Miến Điện, Thái Lan, Mã Lai và Indonesia Nhiều nơi trong nước, nhà vua cho xây cột kỉ niệm – gọi là cột Ashoka – mô phỏng cột Persepolis, để ghi nhớ hoạt động của mình, khắc chữ Brahmi, hoặc chữ Kharosthi và đôi khi bằng chữ Aramaic
3.2.2 Nghệ thuật Phật giáo Ấn Độ thời kỳ Maurya
Những sáng tác nghệ thuật Phật giáo xa xưa nhất còn tồn tại trong thời kỳ Maurya chủ yếu là những tác phẩm được thực hiện dưới sự trị vì của hoàng đế Ashoka[2] Ashoka là một vị vua cải đạo và chấp nhận điều luật về lòng mộ đạo của Phật giáo như là luật của Vương quốc Để ghi nhớ về sự cải đạo của mình và để mở rộng giáo lý Phật giáo, Ashoka đã ra lệnh dựng lên nhiều cột đá tưởng niệm ở những nơi liên quan đến các sự kiện quan trong trong cuộc đời của đức Phật
Đó là, những cột đá nguyên khối mang phong cách mượt mà quý phái, có một
ít ảnh hưởng đến nền mỹ thuật Ấn Độ sau này và kể cả vùng Persia Cột được làm từ
đá sa thạch màu kem xinh đẹp và cao 15 m, trên thân cột được chạm khắc các sắc lệnh của vua Ashoka, gần chân cột là chiếc vương miện Hình một hay nhiều con thú trên một đầu cột Hình chuông khiến người ta nhớ đến những chiếc cột đá của đế chế Achaemeid[3] ở Darius và Xeres ở Persia
Những đầu cột được chạm trổ tinh vi bởi một tiến trình đòi hỏi một kỹ năng khéo léo tinh xảo, và được biết đến với tên gọi “phong cách Maurya tao nhã” Kỹ thuật hoàn hảo nhất của những chiếc cột tuyệt đẹp này là chiếc cột được khai quật ở Sarnarth hiện nay được lưu giữ trong bảo tàng ở nơi đó Đầu cột Sarnarth nằm phía trên là một trụ ngạch với 4 con thú và 4 bánh xe khắc chạm nối tiếp nhau, trên đó là 4 con sư tử đang đứng đâu lưng vào nhau Phong cách đúng kiểu của khuôn mặt, đặc biệt mũi và bộ ria ở hàm trên khá hòa hợp với chiếc bờm, sự phô diễn những đôi chân trước dài với những bắp thịt lồi ra khuyết vào trông thật mạnh mẽ, đặc biệt với
bộ hàm phong cách quen thuộc, tách rời nhau bằng những khe hở sâu, và dáng điệu hơi uốn cong thân Hình của các con thú – tất cả những yếu tố này được người ta phát hiện trong phong cách miêu tả con sư tử ở Perpseppolis[4] Sự thể hiện trên trụ ngạch lại càng đặc biệt hơn Ngựa là con vật điển hình của phong cách khắc chạm nổi, có tính tự nhiên gần gũi Mặc dù với phong cách thuần túy ở cái bờm của nó, nhưng sự
xử lý ở thân hình cho thấy có rất ít chủ đích trang trí hơn so với cách xử lý các con sư
tử ở trên Bốn con thú ở đây được kết hợp với 4 hướng, có thể xem là vật tượng trưng cho các vị thần Hindu giáo lúc bấy giờ Ngựa là con vật cưỡi của thần Surya, bò được xem là một vị thần trong Hindu giáo được khắc họa phía trên bên phải của trụ ngạch, được kết hợp với thần Shiva, voi là bánh xe của vua trời Đế Thích – Indra, sư
tử của thần Durga [Phụ lục hình 1]
Ngoài ra, đối với những đầu cột có hình chuông quen thuộc, cột đá ở vùng Rampurva có trụ ngạch mang hình bông hoa cây cỏ, những motif này trở nên cực kỳ quan trọng trong nền mỹ thuật Phật giáo sau này Nằm trên trụ ngạch là một con bò thần, thân hình được chạm trổ rõ ràng, những cặp chân lồi ra khỏi tảng đá với ngụ ý
Trang 25những đôi chân đứng rời ra không thể chống đỡ nổi sức nặng của thân bò Sự xử lý này thật sự rất kỳ lạ, gợi cho người ta nhớ đến lối diễn tả về con bò thần của Hittite[5]
và Persia, xử lý khu vực dưới cái bụng là một khối đá, ở chỗ này người ta cho thấy
bộ phận sinh dục khắc chạm nổi Nhưng chính phong cách thú vật này không có phẩm chất của tác phẩm từ khu vực Cận Đông cổ; hơn thế nó mang tính cách đơn giản nào đó và đặc tính nhẹ nhàng của phong cách thể hiện thú vật sau này Với phong cách đơn giản và nhẹ nhàng trong phong cách thể hiện hình ảnh thú vật, về sau nó đã trở thành một xu hướng có sức ảnh hưởng trong nền nghệ thuật Ân Độ nói chung [Phụ lục hình 2]
Bên cạnh đó, những tác phẩm được chế tác dưới sự bảo trợ của hoàng gia theo phong cách trang trọng với những dấu vết ảnh hưởng từ Persia Chúng dường
như là những sự tượng trưng của các vị thần thiên nhiên, dạ xoa nam – Yakshas hoặc
dạ xoa nữ - Yakshis [Phụ lục hình 3 – 4] Niên đại của dạ xoa Parkham vẫn còn là
một chủ đề gây bàn luận Có một khuynh hướng hiện nay của một số học giả cho rằng nó ra đời một niên đại sau hơn niên đại đã được công nhận trước đó trong thời
kỳ Maurya Theo ý kiến của Walter Spink, đó là một tác phẩm của thời kỳ Shunga Ông đưa ra những chi tiết như chuỗi hạt nặng nề mang nét đặc trưng của những hình dạng thời kỳ Shunga (Lee E Sherman, 2007, tr.96)
Những hình tượng này được đặt ở những địa điểm của Phật giáo và có liên hệ với nghi lễ Phật giáo hay không hiện nay không thể xác định được Hai tượng Yaksha Parkham ở bảo tàng Mathura và Yakshi Besnagar ở bảo tàng Calcutta là những tượng tiêu biểu Đây là những phong cách kiến trúc đồ sộ, hài hòa cân xứng, với một ý tưởng kỳ lạ, nó được hình thành từ trong một tảng đá lớn Nam dạ xoa Parkham và nữ dạ xoa Besnagar có thể được người ta cải biến từ truyền thống điêu khắc gỗ chạm trổ trên những thân cây to lớn sang những tảng đá đồ sộ Sự thả lỏng đầu gối bên trái của yaksha khiến cho chúng ta ao ước có một tác phẩm nào đó trước thời kỳ này để so sánh, do bởi khủy chân cong một cách tự nhiên gợi nhớ lại sự lỏng đầu gối được nhìn thấy ở phong cách điêu khắc Hy Lạp vào giai đoạn chấm dứt thời
kỳ cổ đại Đó là một động tác ướm thử đầu tiên hướng đến một phong cách xử lý linh động và mộc mạc về những hình nhân Phần bụng của yaksha là một nét quen thuộc
về sự mô tả yaksha bằng hình tượng, đặc biệt ở Kubera, một vị thần giàu sang và là người đứng đầu của tất cả loài yaksha
Về hình tượng yakshi Besnagar với tầm vóc một bức tượng đồ sộ, sự phát triển to lớn và bộ ngực, cái eo tương đối nhỏ, cái hông rộng cho thấy một trong những khuôn mẫu thể hiện cơ bản đặc trưng của nghệ thuật Ấn Độ Hình dáng của cơ thể gợi cho ta thấy chức năng của nó về sự truyền lại nòi giống, truyền sức sống cho
sự sống và yêu thương Về niên đại của pho tương này cũng gây tranh cãi lớn Bức tượng có những chi tiết như cái khăn choàng đầu , chuỗi hạt đeo cổ, sự xử lý cái thắt lưng và chiếc váy – đây là đặc điểm của những tác phẩm về yakshi thuộc thế kỷ I ở Sanchi Tượng nữ yakshi khuôn mặt và chiếc khăn choàng đầu được xử lý tinh xảo, góp phần tạo một tâm trạng thoải mái, vui tươi Bà ta mang tính chất nhẹ nhàng và một đặc tính dễ uốn nắn, một cái gì đó mềm mại của đất sét, đó là một điều thú vị tuyệt vời
3.3 Thời kỳ Shunga từ năm 176 đến 64 TCN
3.3.1 Những nét khái quát về lịch sử
Sau khi vua Ashoka qua đời vào năm 232 TCN, triều Maurya bị suy sụp hẳn
và đế quốc rộng lớn đã phân chia thành những tiểu quốc tự trị Con cháu của Ashoka còn cai trị ở vùng Magadha cho đến năm 176 TCN thì bị vương triều Shunga (176 –
Trang 2664 TCN), rồi vương triều Kalva (64 – 19 TCN) thay thế Những ông vua của các vương triều này theo đạo Balamon nên đạo Balamon lại được khôi phục, còn Phật giáo thì bị lu mờ
Pushyamitra Shunga (185 – 149 TCN) là người sáng lập vương triều Shunga; ông vốn à một tướng lĩnh của đế chế Maurya Dựa vào những ghi chép trong bản kinh Dhanadeva Ayodhya và Divyavadana, đề cập nhà vua đã phái một đội quân để khủng bố các nhà sư Phật giáo đến tận Sakala (nay là Sialkot) ở vùng Punjab
3.3.2 Nghệ thuật Phật giáo Ấn Độ thời kỳ Shunga – phong cách miền Bắc Ấn
Triều đại Shunga nối tiếp theo triều đại Maurya, một dòng tộc thống trị vùng Bắc Ấn từ năm 176 đến 64 TCN
Địa điểm quan trọng đầu tiên của thời kỳ Shunga là gian giữa của một điện
thờ và một vihara (những cốc nhỏ) tại Bhaja, gần Pune, ở Dekkan [Phụ lục hình 5]
Bhaja là đài tưởng niệm của Phật giáo nhưng phong cách kiến trúc trình bày các vị thần tín ngưỡng của trước thời kỳ Ấn giáo Chúng ta có thể nhìn thấy một sơ đồ tổng quát của gian giữa cả một điện thờ là lý do tại sao đầu thế kỷ IX nó được gọi là nhà thờ lớn của Phật giáo Có một gian giữa hay chánh điện, hai gian bên, một hành lang trong tu viện ở phía sau, và một trần nhà cao hình vòm Mặc dù hình thức thiết kế này có thể nhìn bằng mắt, nhưng với chất liệu và chức năng thì nó khiến ta bị lạc hướng Chánh điện này và nhiều cái khác được đục ra từ đá tảng, những mẫu đầu tiên
là những công trình xây dựng bằng gỗ mà những mái vòm của chúng được hình thành một đường cong, được buộc vào những đòn tay và lợp lại Trọng tâm của gian giữa là một đài tưởng niệm, tháp bảo, cấu trúc này giống mộ hình bán cầu điển hình của người Ấn Độ Tháp bảo để tưởng niệm lần nhập Đại Niết bàn của đức Phật Đó
là biểu tượng của đức Phật và giáo lý của Người, và đây là trọng tâm của chánh điện
còn tồn tại Mặt tiền của chánh điện chaitya Bhaja cũng được chạm trổ với những hình ảnh kiến trúc bắt chước gỗ, nhìn như thể là chánh điện chaitya được bao quanh
bởi một thành phố trời của những thủy đình hình vòm, những hàng rào chấn song dài, và những cửa sổ có lưới sắt Người ta có thể hiểu được ý nghĩa ở một bên của cái đầu, đôi bông tai, đôi vú, eo, hông của một nữ dạ xoa yakshi to lớn Có 2 yakshi như thế ở Bhaja, những khuôn mẫu của việc sử dụng đầu tiên các vị thần sinh sản để tôn vinh đức Phật Những khuôn mẫu này nhanh chóng được hấp thu vào nền nghệ thuật Phật giáo hiện hành, và chúng ta nhận ra những công trình điêu khắc đầy khiêu gợi trong những đền tưởng niệm của Phật giáo lẫn Balamon Có một truyền thống trí thức cao lẫn thấp, và cái này không thể sống thiếu cái kia Một trong những sự thể hiện tuyệt vời của điều này là ở trong cách mô tả bằng hình tượng của nền mỹ thuật Phật giáo ban đầu
Đài tưởng niệm thứ hai của thời kỳ này là bảo tháp ở Bharhut, Madhya Pradesh, ngày nay đã bị tàn phá rất nhiều, được xây dựng vào cuối thế kỷ II hoặc đầu thế kỷ I TCN [Phụ lục hình 6] Những công trình điêu khắc ở Bharhut được phát hiện trong những cánh đồng và ngày nay được lưu giữ ở bảo tàng Ấn Độ, Calcutta và bảo tàng Allahabad Tất cả di tích còn lại của bảo tháp là một phần hàng rào chấn song
tuyệt vời, một trong những chiếc cổng torana và những mảnh vỡ khác Bharhut là
một mẫu điển hình tốt đẹp của công trình kiến trúc bằng đá bắt chước gỗ, và khi đó một chiếc cổng tháp thuộc loại này với một vài chiếc đà lanh tô thích hợp với kiến trúc bằng gỗ hơn đá Lợi thế của đá là tính bền vững hơn gỗ Những chiếc cổng của các thành phố và các cung điện đều rất giống chiếc cổng này, ngoại trừ việc chúng được làm bằng gỗ Bharhut là khuôn mẫu cổ điển đầu tiên về cách sử dụng các biểu
Trang 27tượng hình người và động vật, nó được gọi như vậy do bởi sự trình bày các tượng, những biểu tượng, về một ý nghĩa nào đó, gợi lên sự hiện diện của đức Phật Bharhut cũng chính là ví dụ điển hình sự hợp nhất các vị thần sinh sản nam và nữ
Hình dáng của bảo tháp rất đơn giản, một ngôi mộ gò chung quanh có hàng rào chấn song rất cao Hàng chấn song được phân ra hàng dọc và ngang, và ở giữa mỗi mối nối của chấn song được phân ra hàng dọc và ngang có một bánh xe hình hoa sen hoặc một huy chương chạm nổi trình bày những tượng bán thân Đầu tường ở phía trên có motif hoa sen, trong lúc đó những chiếc cột của cổng ra vào lặp lại motif cột đầu chuông Maurya, với những con sư tử chống đỡ đầu cột của cổng ra vào và hàng rào chấn song của bảo tháp, nằm phía trên nó là biểu tượng bánh xe pháp của đức Phật Một chi tiết nữa của phong cách điêu khắc trên bảo tháp cho thấy những nét đặc trưng mà chúng ta có thể kết hợp tốt với nghệ thuật chạm gỗ Đó là sự trình bày giấc mơ của hoàng hậu Maya – mẹ của đức Phật, nằm mơ thấy một con voi trắng – biểu tượng của Phật giáo, báo hiệu sự xuất hiện của đức Phật trong lòng bà Cảnh tượng với phối cảnh nghiêng và người hầu đang ngồi được thể hiện trong vẻ cứng ngắc và đơn giản hóa không giống như đá khắc chạm mà giống gỗ khắc chạm Những hình ảnh khác trình bày về tiền thân của đức Phật, và những cảnh về các biểu
tượng nước – cỏ cây, như là makara nửa cá – nửa cá sấu Một motif đặc trưng của
Bharhut là huy chương hình hoa sen bao quanh bức tượng bán thân nam khắc chạm
nổi Ở góc cột của mỗi torana tại Bharhut là những phong cách khắc chạm nổi các vị
thần linh nam và nữ, nam dạ xoa và nữ dạ xoa Một số các yakshi được hợp nhất
thành motif người phụ nữ và cây cối shalabhanjika – người đàn bà cây Shalabhanjika Chulakoka Devata một tay cầm một nhánh cây xoài trổ bông, một
cánh tay và chân khác ôm chặt thân cây xoài [Phụ lục hình 7] Chủ đề minh họa một niềm tin về tín ngưỡng phồn thực của người Ấn cho rằng bàn chân của một phụ nữ xinh đẹp khi chạm vào thân cây sẽ khiến cho nó trổ bông, một nghi lễ vẫn còn tin tưởng ở vùng Nam Ấn Độ Những yakshi của vùng Bharhut, đặc biệt với đôi mắt mở
to và tự tin, dáng điệu của chúng thoải mái không chút che giấu, là hình tượng đầu tiên của một loạt những nhân vật nữ được thể hiện đẹp nhất trong phong cách điêu khắc của Ấn Độ
3.4 Thời kỳ Andhra thế kỷ I CN đến thế kỷ III
3.4.1 Những nét khái quát về lịch sử
Khoảng tiếp giáp Công nguyên, miền Trung Ấn và Nam Ấn có sự phát triển chậm hơn và đang trong giai đoạn cuối thời kỳ tiền sử Các bộ lạc ở phía Đông cao nguyên Dekkan, trên lưu vực sông Godava đã tập hợp lại lập nên nhà nước vào khoảng giữa thế kỷ I CN Satakarni là vị vua đầu tiên sáng lập vương triều Satavahanas Sau thời gian mở rộng thế lực, Satakarni đã thôn tính Kalinga ở phía Bắc, kiểm soát một vùng rộng lớn từ sông Narmada đến tận Sanchi, thu phục các bộ lạc phía Nam ở vùng sông Krisna; từ đó quốc gia của họ có tên là Andhra
Các đời vua kế vị, Nahapana và Pulumavi, ở ngôi vào khoảng năm 100 – 150, tiếp tục mở rộng lãnh thổ về phía Bắc Vương triều Satavahanas theo đạo Balomon
Đến thế kỷ III, vương triều này suy yếu và nước Andhra chia thành nhiều xứ nhỏ, tiếp tục tồn tại độc lập với nhau
3.4.2 Nghệ thuật Phật giáo Ấn Độ thời kỳ Andhra – phong cách miền Trung Ấn và Nam Ấn
Trang 28Triều đại Satavahana (220 TCN – 236 SCN), thống trị toàn bộ khu vực Andhra thuộc Trung và Nam Ấn Độ, vì thế nền nghệ thuật và cả những đài tưởng niệm đều có phong cách khác nhau
Công trình ở vùng Trung Ấn thời kỳ Andhra là Sanchi ở Madhya Pradesh, được xem là những công trình điêu khắc khá quan trọng của thế kỷ II và I TCN và là địa điểm điển hình cho đầu thời kỳ Andhra
Theo truyền thuyết trước khi đức Phật nhập Nirvana, Tôn giả Ananda đã hỏi làm như thế nào để giữ thánh tích; khi đó đức Phật không trả lời mà chỉ lấy áo cà sa gấp lại trải trên đất rồi lấy bát khuất thực úp lên áo và đặt cây gậy chống lên trên Dựa vào câu chuyện thú vị này, người đời lúc bấy giờ đã xây bảo tháp – nơi thờ thánh tích của Phật trong vũ trụ, đặt trên một nền cao, trên đỉnh có đài hình vuông
Những bảo tháp đầu tiên được xây dựng dưới triều vua Ashoka, tương truyền
có 84.000 tháp Phật ra đời Có thể coi đây là những công trình kiến trúc thuần túy tôn giáo đầu tiên của Ấn Độ còn đến ngày nay, những tháp này tập trung nhiều ở vùng Sanchi bên bờ sông Nacmada (thuộc Trung Ấn, nay là bang Madya Prades)
Trải rộng trên một cao nguyên, Sanchi hiện lên uy nghi và trầm mặcgiữa những đỉnh tháp, nhà tù, miếu mạo, chùa chiền,… Đó là một công trình kiến trúc độc đáo kết hợp nhuần nhuyễn với nghệ thuật điêu khắc Lúc đầu bảo tháp được xây bằng gạch, sau đó đến thế kỷ II, tháp được ốp thêm bằng đá cho to rộng hơn Tháp có chiều cao 15 m, đường kính 35 m, bao gồm 3 bộ phận chính: một bán cầu, trên có một vọng lâu và một hàng rào xung quanh [Phụ lục hình 8]
Trên một nền kiến trúc vuông vức (áo cà sa gấp bốn của đức Phật) là một bán cầu khối đặc khổng lồ bằng gạch và đá, hình một cái bát úp sấp, chỏm hơi dẹt phía trên có xây một vọng lâu hình vuông được cho là nơi để xá lị Phật Phần trên cùng nóc là một có gắn 3 phiến đá lớn hình dĩa, tạo thành một chiếc dù nhiều tầng biểu trưng cho sự tôn nghiêm Xung quanh bán cầu có một hàng rào đá bao bọc, gồm 12 thanh cột chống, mở ra 4 hướng Đông – Tây – Nam – Bắc Ứng với bốn hướng là bốn cổng – torana làm bằng đá
Từ mỗi cột, ở cửa sổ trên cùng nhất, là một triratna - biểu tượng có ba mũi
chĩa tượng trưng Phật – Pháp – Tăng Triratna được chống đỡ bởi những bánh xe pháp, hoa sen và ba cửa sổ được chạm trổ công phu minh họa những câu chuyện về tiền thân của đức Phật Sự minh họa này mang lại một bức tranh hấp dẫn của văn hóa núi rừng và truyền thuyết dân gian Những đầu cột nằm trên trụ cột, ngay phía dưới tầng của những cửa sổ giống như những đầu cột ở Karle, gồm có 4 con voi và những quản tượng xếp theo chiều kim đồng hồ quanh chiếc cột Các câu chuyện được điêu khắc trên các khung cửa sổ bị giới hạn trong khoảng không giữa những phần mở rộng thêm của các chiếc cột chính, trong lúc những phần nằm ở phía ngoài những phần này chỉ trình bày duy nhất những cảnh tượng về cuộc đời của đức Phật hoặc tiền kiếp của Ngài, hoặc những biểu tượng được kết hơp với Phật giáo Những phần dưới thấp của các cột chính trình bày những hình ảnh về cuộc đời của Phật ở ba mặt,
và những mặt phía trong nội thất có chạm trổ những hình ảnh to lớn của các yaksha, yakshi và shalabhanjika Một điều cần lưu ý quan trọng ở Bharhut là, đức Phật không được thợ điêu khắc tượng trưng bằng hình người Biểu tượng vẫn là hình thức vật linh, và đức Phật được tượng trưng bằng một bánh xe, những dấu chân hoặc một số biểu tượng nào đó
Những shalabhanjika – rầm chìa, có niên đại khoảng từ năm 10 – 30 SCN
[Phụ lục hình 9] Nữ thần sinh sản được trình bày hơi giống Chulakoka Devata của
Trang 29Bharhut, một tay nắm một cành cây và một tay khác cuốn chặt vào giữa hai cành cây Gót chân trái của bà tựa vào gốc cây, trình bày nghi lễ thể theo nghi lễ hôn nhân truyền thống của người trinh nữ và cây, một motif quen thuộc Sanchi Shalabhanjika
có một sự tiến bộ đáng kể về bố cục và kỹ thuật xây dựng Đây không chỉ là một bức tranh chạm khắc đơn thuần trên bề mặt một chiếc cột đứng, mà thân của những cột trụ của Sanchi Shalabhanjika vươn lên trong khoảng không, mặc dù bức tượng vẫn còn mang phong cách hơi cổ xưa phần lớn bị bó hẹp trong mặt phẳng phía trước Tư thế thể hiện một sự phức tạp, tương phản với góc cạnh thăng bằng của cánh tay là những cử động uốn éo và khêu gợi của thân hình Người ta trông thấy việc sử dụng nhiều hơn về khoảng không mở rộng Nhà điêu khắc đã cắt bỏ đá để cái bóng bức tượng nổi bật lên với khoảng không mở rộng Theo chức năng, bức tượng không chống đỡ cho bất cứ vật gì, nhưng là một sự mô phỏng theo sự xây dựng bằng gỗ, cùng thời điểm với nền kiến trúc trang trí và một chiếc rầm chìa giả Hình dáng nặng
nề của cây được làm thành vuông góc ở phía trên ngọn và phát triển thành một góc phải, và thân hình vươn ra dường như để chống đỡ cái khung cửa nằm ở phía trên Ở những công trình kiến trúc đồ sộ của Phật giáo, chức năng của các yaksha và yakshi
là chủ yếu mang tính chất tôn giáo, chứ không về đặc trưng kiến trúc
Sir John Marshall đã trình bày một cách sinh động về phong cách kiến trúc ở Sanchi với những chi tiết phong phú ở trên panel với nhiều câu chuyện kể trong Túc sanh chuyện, cách xử lý đề tài mô tả giai đoạn người ta đạt đến bằng nghệ thuật kể chuyện vào đầu thời kỳ Andhra Một panel độc đáo được đóng khung phía bên dưới bằng một hàng rào chấn song và ở những cạnh của nó bằng những dây leo cuộn tròn tạo nên một sự chuyển động đến những phần viền, thể hiện sức mạnh của cỏ cây trong cuộc sống Những phần này bao quanh bề mặt bức tranh có nhiều hình ảnh các nhân vật, thật ra là một bản đồ có vòng rào bao quanh một nhóm người Một dòng sông chảy kéo dài từ phía trên cùng xuống tận cùng phía bên phải, và như thế nó giống như một bản đồ phong cảnh mà chúng ta nhìn thấy quang cảnh Cây cỏ của cảnh vật cho thấy hình dáng hết sức đặc trưng của chúng, cái bóng; những ngọn đồi
và núi đá được thể hiện bằng nét nghiêng Những hình người và cho thấy ít nhiều ở phía trước mặt nhưng ở trên một đường nền, như thể chúng là một bố cục riêng rẽ nằm trong phong cảnh Các hình ảnh miêu tả thật đặc biệt và tinh tế - các nhân vật thật thanh thản, hình ảnh những con khỉ với điệu bộ của chúng mang tính thuyết phục cao, ngay cả một nhóm hình ảnh các nhân vật đều được những người thưởng thức có cùng quan điểm là sự miêu tả có thể tin tưởng được Toàn bộ cơ cấu của những phần này thể hiện còn sót lại một sự tiếp cận cổ xưa
Một công trình quan trọng và đồ sộ khác vào thời kỳ Andhra là Đại Chánh điện (Chaitya) ở Karle, Maharashtra, có niên đại rất sớm từ khoảng giữa năm 100 và
120, do đó là một thành quả vào giữa thời kỳ Andhra, hoặc chính xác hơn của một tiểu vương quốc liên hệ với Andhra [Phụ lục hình 10]
Ý tưởng về hang động được khai quật ở trong núi đặc biệt lộ nét đặc trưng của Ấn Độ, và chịu ảnh hưởng của quốc gia này ở khu vực phía Đông lục địa châu
Á Ở Ấn Độ, những chánh điện chaitya và vihara thường được đẽo sâu trong đá Ở Trung Á chúng ta nhận thấy những công trình kiến trúc đẽo sâu vào những mõm đá đất sét; ở Trung Quốc có rất nhiều chùa hang; nhưng ở Nhật Bản lại không có phong cách này Một số vấn đề mang tính tâm lý học và thẩm mỹ rất thú vị phát sinh từ sự
đa dạng của hang động Có thể suy luận đặc tính thiên tài của người Ấn Độ cơ bản là điêu khắc, và phẩm chất điêu khắc cũng mở rộng đến khuynh hướng kiến trúc Và, người Ấn không quan niệm kiến trúc như là một hàng rào bao bọc không gian Họ
Trang 30nghĩ nó như một khối được người ta làm mô hình, tạo hình, để nhìn và cảm nhận như
là một công trình điêu khắc
Đại chánh điện chaitya ở Karle được đẽo sâu vào trong núi đá, phục vụ cho chúng ta như những khuôn mẫu của những chánh điện chaitya vĩ đại đứng riêng biệt, những chánh điện trước đó được xây dựng bằng gỗ và sau đó bằng gạch và đá, nhưng ngày nay chúng hoàn toàn biến mất hoặc bị tàn phá Những công trình kiến trúc ngoại lệ này dự định làm nơi tập họp và để cho những tín đồ có thể thực hiện nghi lễ
đi vòng quanh bảo tháp ở phần gần cuối nội thất chánh điện Nhìn vào sơ đồ của Karle chúng ta có thể hiểu về cách bố trí của nó Đầu tiên là lưu ý chiếc cổng vòm,
một cổng vòm – narthex phía trong và một cổng vào chia làm ba lối vào – một dẫn
vào hai gian bên, và một cổng chính dẫn vào chánh điện Chánh điện là một khoảng không dài và đơn giản được xác định bằng những chiếc cột, mở rộng vòng quanh phía xa của bảo tháp tạo nên một nơi dùng để đi lại Không có những nhà nguyện được xây dựng ở hai bên hông như người ta thấy ở những giáo đường phương Tây thời Trung cổ Độ cao thể hiện một phong cách cột phát triển, với đế đỡ chân cột Hình cái chậu và đầu cột Hình chuông Với ánh sáng từ mái vòm hình móng ngựa của mặt tiền, chúng ta có thể nhìn thấy hình dáng của bảo tháp ở cuối gian giữa của giáo đường, và mái vòm ở phía bên trên Gian giữa ở Karle là phần ấn tượng nhất với một độ cao 13.5m Những bệ chân cột hình chậu có thể xuất xứ từ công trình kiến trúc bằng gỗ trước đó, những chiếc cột đòi hỏi phải đặt trong các chậu sành để tránh côn trùng phá hoại Những đầu cột ở Karle chắc chắn xuất phát từ những chiếc cột của thời Ashoka, ở phía trên đầu có những con voi và những người quản tượng giống như ở Sanchi Nhưng ở đây chỉ có hai người cưỡi trên mỗi con vật, quay mặt ra ngoài, cho nên chúng chỉ hướng về phần giữa của giáo đường Đại chánh điện ở Karle là được làm bằng đá granit màu xanh xám đậm, toàn bộ tạo ấn tượng thật oai nghiêm Ở Karle, chúng ta nhận ra những hình dáng tinh xảo hơn nhiều, và được chạm khắc hết sức phong phú Không gian nội thất ở Karle dường như linh hoạt hơn, mượt mà hơn so với khoảng không bất động chúng ta cảm nhận ở Bhaja
Cổng vòm narthex ở Karle được chạm khắc ở phía mặt ngoài với những panel
có các hình nhân nam và nữ được gọi là người cúng dường Có nhiều panel khác với những hình ảnh quen thuộc của đạo Phật từ thế IV đến thế kỷ VI hoặc VII; nhưng công trình kiến trúc duy nhất chúng ta quan tâm lại thuộc thế kỷ I – những người cúng dường Chúng có một phong cách cao quý, dù chúng ta biết chúng thật sự
không phải là những người cúng dường hay những cặp tình nhân yêu đương – mithuna Ít khi trong lịch sử mỹ thuật có những hình dáng của người nam và nữ
được thể hiện thật to lớn và nhiều như thế trên một phạm vi, với sự lành mạnh về thể
chất dường như tràn ngập trong đó một dòng sinh khí bất tận Phẩm chất của Prana – hơi thở, được thỉnh thoảng đề cập đến trong mối quan hệ với nền điêu khắc Ấn Độ,
được thể hiển rõ ràng trong những hình ảnh các nhân vật này Có lẽ, đây là lần đầu tiên chúng ta cảm thấy sự lấy hơi thở vào người vũ công đạt đến đỉnh cao nghệ thuật trình diễn của anh ta, khi anh ta đi đến tư thế đúng vào nốt nhạc cuối cùng, một tư thế được chuẩn bị bằng một sự hít vào đột ngột làm uốn cong bộ ngực và đạt đến một sự hoàn hảo với sự giãn nở toàn bộ thân hình Hơi thở và điệu múa, là hai yếu tố rất quan trọng trong việc quyết định cái nhìn của phong cách điêu khắc Ấn Độ, thế đứng
và sự thể hiện thân hình
Hình ảnh của những người cúng dường ở Karle to lớn hơn kích cỡ người thật, đang ở thời kỳ đẹp nhất của tuổi thanh xuân, và y phục của họ trang trọng lỗng lẫy Người đàn ông quấn một chiếc khăn xếp và một đai thắt lưng vòng quanh hông, người phụ nữ đôi đeo bông tai nặng nề và một chiếc thắt lưng bằng ngọc trai và phía
Trang 31dưới eo quấn một mảnh vải thật mỏng Người xem hoàn toàn bị choáng ngợp bởi sự nhận biết rõ ràng vẻ đàn ông của người nam – đôi vai rộng và ngực nở, đôi hông hẹp
và thế đứng rắn rỏi – và so với tính cách nữ nhi của người phụ nữ, với đôi ngực và hông rộng và chiếc eo thon Có lẽ lần đầu tiên ở Karle, chúng ta có được một sự diễn đạt hoàn hảo về hình ảnh lý tưởng này của người Ấn Độ và sự mô tả một cách điêu luyện về những hình ảnh nam nữ hầu như liên tục không ngừng nghỉ cho đến thế kỷ
X – XI
Ngược về phương Nam, có một loạt những bảo tháp với chất lượng cao và có phong cách chịu ảnh hưởng của phong cách vùng Nam Ấn Độ thuộc những thời kỳ hậu Phật giáo, khi Hindu bắt đầu lấn át Sự phát triển của khu vực này bắt đầu vào thế kỷ V, vùng Nam Ấn kể luôn khu vực quanh sông Krishna (ngày xưa là Kistna), sâu trọng nội địa cách biển khoảng ba đến bốn dặm Bảo tháp Amaravati ở Andhra Pradesh là địa điểm điển hình của khu vực này, có hai bảo tháp nổi tiếng khác là Nagarjunakonda và Jaggayyapeta Cả ba đều được xây dựng dưới triều đại Satavahana, triều đại này cũng thống trị vùng Bắc Ấn và xây dựng bảo tháp Sanchi Satavahana ở miền Nam kéo dài hơn miền Bắc, vì vậy đã để lại những di tích có niên đại từ thế kỷ I TCN đến thể kỷ III
Nhìn chung, phong cách Amaravati có thể mang nét đặc trưng về cơ cấu và dịu dàng hơn bất cứ những gì chúng ta đã trông thấy trước đó Tương phản với nét đặc trưng mang tính cách nào đó với tác phẩm đương thời Kusana ở miền Bắc, một tính cách dịu dàng hơn và mượt mà hơn dường như đã được thăng hoa ở miền Nam Chắc chắn không có sự trùng hợp tính cách mượt mà hơn là nét đặc trưng bản xứ của triều đại Andhra, trong khi đó mang nhiều tính hình học hơn là nét điển hình của Kusana từ nước ngoài xâm nhập vào
Ba bảo tháp ở vùng Kistna phần lớn bị tàn phá, nhưng chúng ta có thể tái thiết
vẻ bề ngoài của bảo tháp Amaravati bằng cách dựa trên thiết kế của bảo tháp Nagarjunakonda và Jaggayyapeta Những sự thể hiện hay hình ảnh được bảo quản hoàn hảo nhất của bảo tháp Amaravati là ở trên một tảng đá đẹp từ một trong những hàng rào chấn song sau này, có lẽ thuộc thế kỷ III, cho chúng ta thấy một cái gò to lớn mà bề mặt được trát gạch hoặc đá và cuối cùng là vữa stuco [Phụ lục hình 11] Với những hình ảnh ở mặt trước trên phiến đá, chúng ta có thể suy luận một loạt các bức tranh khắc chạm nổi ở chung quanh đế của cái trống và hàng rào chấn song lan can phía trên cao, được ngắt quãng bởi một cái tháp 5 cột kỳ lạ ở mỗi cổng ra vào
Các phần này có liên hệ với torana ở Sanchi nhưng có hình dáng hoàn toàn khác
biệt Cuối cùng là một hàng rào chấn song rất cao, mặt ngoài với vô số vòng hoa hồng, hoa sen và những tranh khắc chạm nổi các yaksha mang Vòng hoa sen của Cuộc Sống xung quanh ở cửa lò trên cùng Những cổng vào được củng cố bằng những con sư tử trên đầu các chiếc cột, với một khung cửa sổ đi trở lại cổng, như thế tạo nên một loại cổng mái vòm hoặc hàng rào bao quanh dẫn đến bảo tháp Ở trung tâm của những cổng ra vào có những phiến đá đẹp, điêu khắc hình ảnh của đức Phật mang hình dáng thú vật lẫn người Trên nóc của bảo tháp là một hàng rào chấn song quanh một cây ở đây được tượng trưng bằng hai chiếc đà ở hai bên của một cột trụ nằm ở giữa Ở đây, chúng ta có thể thấy một chút quen thuộc với phong cách Kushan của phương Bắc Những thiên thần ở hai bên sườn bảo tháp ở trên, với những đôi chân và đôi cánh tay uốn cong, được xử lý khá linh động Ở phía bên hông của một phiến đá xinh đẹp khác chúng ta có thể thấy hình tượng thú vật được sử dụng lại, trong một cách mô tả về cuộc tấn công của Ma Vương, vị chúa tể của sự mê đắm trần tục, chống lại đức Phật đang tham thiền, với nỗ lực ngăn chặn sự giác ngộ của Ngài
Trang 32Ở những trụ ngạch, đức Phật được thể hiện một cách thực tế, sáng tạo mới mẻ hợp nhất với truyền thống vật linh cổ xưa
Phiến đá nổi tiếng ở Jaggayyapeta ở bảo tàng tại Madras, có niên đại từ đầu thời kỳ Andra, khoảng thế kỷ I TCN Nó trình bày một chủ đề thường được kết hợp
với đạo Phật – chakravartin – Vua vũ tru Một nhân vật cao lớn dang một cánh tay
của mình đến những đám mây trút xuống một trận mưa những đồng tiền vàng Bảy bảo vật bao bọc xung quanh Ngài gồm, bánh xe – chakra – tượng trưng cho sự thống trị vũ trụ của Ngài, ngựa, voi, châu báu, vợ, người giữ kho báu và những người hầu cận
Phong cách sau ở Amaravati là sự đi vòng quanh thuộc những khuynh hướng của trường phái Andhra và có lẽ được thể hiện trong vòng tròn nổi tiếng ở hàng rào chấn song, trình bày hình ảnh đức Phật đang thuần phục voi điên Những hình ảnh kể
về câu chuyện của con thú bằng phương pháp kể chuyện liên tục, đầu tiên cho thấy
nó đang chà đạp nhiều người cho đến chết, sau đó đang quỳ xuống dập đầu trước đức Phật Ở trong nhiều tính cách nào đó, đây là một tác phẩm điêu khắc tiến bộ nhất cho đến ngày nay về cách xử lý không gian và việc trình bày hình ảnh các nhân vật Mặc
dù là hình vẽ với lối kể chuyện liên tục nhưng quang cảnh có tính đồng nhất về cách nhìn Một sự nỗ lực khá thành công trong việc trình bày một sân khấu bó hẹp hoặc sự
bố trí dành cho loạt biến cố, với những chi tiết kiến trúc của cổng thành ở bên trái và những tòa nhà ở phía sau, nơi có nhiều người vươn mình ra khỏi những khung cửa sổ
ở trên hàng lan can Tỷ lệ được xử lý đầy tinh xảo, đó là hình ảnh con voi thật to và con người thật nhỏ; hình ảnh những người ở xa được thể hiện nhỏ hơn những người
ở gần Sự hòa hợp tâm lý mở rộng từ toàn bộ cảnh tượng cho đến từng phần của nó, như ở trong một nhóm nhỏ, nơi ấy một phụ nữ né tránh con voi và được một người phía sau bà ta làm cho bình tĩnh lại Có lẽ toàn bộ bố cục chịu ảnh hưởng của nền hội họa đương thời Những tác phẩm như thế này được trình bày ở những bức tranh tường đầu tiên ở Ajanta, Maharashtra Chủ nghĩa tự nhiên tuyệt vời chứa đựng cảm xúc cao độ, sự tích cực dữ dội, và yên ả, thật vô cùng lạ thường Ngoài khía cạnh kiến trúc và một hoặc hai chiếc dây cương của con voi, hầu như không có một đường thẳng trong bố cục; khắp nơi có những đường cong hơi xoắn hoặc gợn sóng và những Hình dáng thật tròn Không có những mặt phẳng bẹt, mọi vật đều được xử lý một cách có trật tự và khêu gợi Nó là một phong cách sẽ gây một ảnh hưởng lớn lao, nơi sự phát triển của phong cách điêu khắc Hindu thuộc miền Nam Ấn vào thời kỳ Pallava, khoảng 500 – 750 SCN
3.5 Thời kỳ Kushan 80 TCN – 250 CN
3.5.1 Những nét khái quát về lịch sử
Năm 128 TCN, người Sakat (một bộ phận của người Đại Nhục Chi, gồm 5 bộ lạc) từ vùng giáp giữa Trung Á và Trung Quốc đã di chuyển về vùng Đông Iran, tràn vào lãnh thổ Bactria Lúc này họ sống trong tình trạng bộ lạc và mới định cư từng bộ phận Năm 80 TCN, Moja trở thành vua đầu tiên của người Sakat, lên ngôi ở Taxila, vùng Gandara Con ông là Azes, đã lật đổ vua cuối cùng của người Hi Lạp là Hippostratos, giành lấy quyền lực cho vương triều Sakat trên toàn bộ lãnh thổ cũ của Bactria, tức bao gồm toàn bộ vùng Tây Bắc Ấn Độ, kể cả vùng thượng lưu sông Hằng
Đến thời kỳ cầm quyền của Kujula thì người Sakat đã chấm dứt tình trạng bộ lạc du mục của mình (cuối thế kỷ I), thống nhất cả 5 bộ lạc trong một quốc gia gọi là Kushan, làm chủ miền Bắc Ấn Độ đến lưu vực sông Hằng, đặt kinh đô ở Purusapura (nay là Pashawar)
Trang 33Các vua Kushan học người Hi Lạp và vương triều Akemini, tự xưng là “Đại vương”, “Vua của các vua”, chia vương quốc thành trấn do tổng trấn cai trị cả về hành chính và quân sự Họ còn học người Roma đúc tiền vàng kiểu Denarius, tiêu dùng khắp Trung Á và Ấn Độ
Đến đời vua Kanishka (khoảng 78 – 114) của vương quốc đã tiếp thu Phật giáo Đại thừa và nhận Phật giáo Đại thừa làm quốc giáo Ông đã triệu tập Đại hội Phật giáo lần thứ tư ở Kashmir để thảo luận việc thống nhất hai giáo phái Đại thừa và Tiểu thừa, nhưng không có kết quả Nhà vua đã có công lớn trong việc truyền bá Phật giáo Đại thừa vào Pamir và từ đó lan sang Tây Tạng và Trung Quốc
Sau Kanishka, con cháu của ông còn giữ ngôi khoảng 150 năm nữa nhưng suy yếu dần Năm 226, vương triều Sassanid – Ba Tư được thành lập ở Trung Á, khoảng năm 250, họ chiếm kinh đô Peshawar của Kusana Vương triều Kusana chỉ còn lại một phần lãnh thổ ở thượng lưu sông Hằng và phải chịu thần phục vương triều Sassanid
Có thể thấy, sau hai giai đoạn bị thoái lui dưới thời kỳ Shunga và Andhra, đến thời kỳ Kusana Phật giáo có bước phục hồi Trong giai đoạn này, nền nghệ thuật Phật giáo có sự vay mượn một số chi tiết của nền nghệ thuật điêu khắc Hy Lạp – La Mã
3.5.2 Nghệ thuật Phật giáo Ấn Độ thời kỳ Kushan – phong cách miền Bắc Ấn
Những hình ảnh về Phật giáo được phát hiện ở miền Bắc Ấn Độ thuộc một triều đại mà vị vua đứng đầu không phải người Ấn, mà là người Iran phía Đông thuộc nguồn gốc Trung Á Chúng ta có thể thấy một điều gì đó về sự tác động của những triều vua Kushan với nền điêu khắc Ấn Độ ở chính hai hình nhân rất quan trọng, đó là của vua Kaniska[7] (khoảng 120 – 162) [Phụ lục hình 12] và vua Vima Kadphises[8] (khoảng năm 95 – 127) [Phụ lục hình 13]
Cả hai hình nhân được bảo quản tại bảo tàng khảo cổ Mathura Dáng vẻ không phải của người Ấn Độ ở những hình nhân này là một điều gây bất ngờ, bởi vì chúng được tạo ra sau thời kỳ Sanchi và hình ảnh những người cúng dường Karle
Nó bao gồm những yếu tố trừu tượng, trần trụi và tính hình học, vì lẽ đó có thể quy cho phong cách Scythian, y phục của nhà quyền quý Kushan Họ mang giày cao, cổ độn da và chiếc áo choàng nặng nề phủ toàn thân Đường nét chiếc áo choàng được kéo ra như thể được bố trí với một cạnh thẳng sắc nét, và những khuôn mẫu lặp lại của chiếc quyền trượng dài và mép ở vạt áo của chiếc áo choàng được đặt biệt nhấn mạnh Bức tượng Vima Kadphises không được bảo quản tốt, nhưng vẫn còn cho thấy những yếu tố hình học liên hệ với những pho tượng Kanishka I
Ở Mathura tại Uttar Pradesh hoặc Gandhara ở Pakistan, dưới triều đại Kushan, Hình ảnh đức Phật được thể hiện theo một phong cách mang đậm phong cách Kushan Hầu như những tác phẩm điêu khắc được sáng tạo ở thời Kushan đều tuân theo sự phát triển có tổ chức mà chúng ta thấy từ Bharhut đến Sanchi Đều đang lưu ý là những tác phẩm này có một sự khác biệt với những tác phẩm truyền thống bản địa
Theo bằng chứng tìm thấy, sự phát triển truyền thống điêu khắc có hệ thống của Ấn Độ tiếp tục không bị cản trở bất chấp sự có mặt của phong cách Kushan Ba trong những pho tượng bằng sa thạch đỏ ở Mathura, Bhuteshar [Phụ lục hình 14], thể hiện một vẻ lõa thể thậm chí bộc trực và không xấu hổ so với các Hình tượng ở Karle Chúng được khắc chạm nổi cao hơn với sự nhấn mạnh tuyệt vời về nét đặc trưng cơ bản và mượt mà về thân Hình người nữ Tuy nhiên, có một sự biến đổi khi
Trang 34chúng ta nhìn vào các vật trang sức và những đường nét của quần áo được thể hiện cứng nhắc; nhưng nhìn chung, những hình ảnh này là sự tiếp nối những phong cách điêu khắc vô cùng khiêu gợi ở Karle Ba hình tượng này đều được đứng trên những
dạ xoa nam – yaksha giống như người lùn tượng trưng cho sức mạnh trần tục Ở những nơi khác, những yaksha to béo này được trình bày với những motif ngậm hoa
lá bò lan ra từ miệng của họ, tạo nên một khuôn mẫu cuộn tròn Chúng là sức mạnh của cỏ cây, những chúa tể của cuộc sống, nhưng ở đây bị khuất phục bởi những vị thần sinh sản Nền nghệ thuật Kushan của Mathura cho thấy một khuynh hướng đang phát triển, các nhân vật được nổi bật lên trên một khung nền đơn giản và đạt được một phong cách lộng lẫy và không ồn ào Trong hình ảnh những nhân vật ở Bhuteshar, khuôn mặt được làm đúng kiểu với một sự xử lý hình học, có lẽ chịu ảnh hưởng từ phong cách chân dung sang trọng Kushan
Các tác phẩm điêu khắc vùng Trung Bắc Ấn thời kỳ Kushan được tạo nên từ
đá sa thạch Mathura hay Fatehpur Sikri, rất quen thuộc ở vùng phía Nam của Dehli, nơi nổi tiếng với những mỏ đá tuyệt vời Đây là loại đá sa thạch đỏ hạt mịn có một vài chỗ không hoàn hảo về hình dáng với những đốm trắng mờ đục hoặc những sọc màu Những bức tượng này rõ ràng được làm ở vùng Mathura và mang sang nơi khác như Sarnath cho đến cuối thời kỳ Gupta, khi mà sa thạch màu kem trở nên phổ biến
Trên các hàng rào chấn song, ngoài hình ảnh các yakshi quen thuộc, chúng ta còn bắt gặp motif trang trí Vòng hoa sen của Cuộc sống – một chủ đề có phạm vi hạn hẹp hơn còn tồn tại và được tìm thấy ở những đền thờ trước đó Về sự mô tả tượng trưng, những hình ảnh của đức Phật trong Jakata bị loại bỏ, và được thay thế bằng hình ảnh con người độc đáo, yakshi, yaksha, các vị Bồ tát
Dựa trên những bằng chứng của Alfred Foucher và Ananda K.Coomaraswamy đã chứng minh, hình tượng đức Phật được phát triển vào thời kỳ Kusana có cả yếu tố người Ấn và cổ điển Sự phát triển này bị tác động bởi các nguyên nhân sau: sự phát triển của đạo Phật; sự cạnh tranh với một nền nghệ thuật
Ấn giáo đề cao vô số hình tượng các vị thần linh; sự ảnh hưởng của La Mã Chính vì thế, các hình tượng đức Phật có chiều cao và hình dáng như con người trở nên phổ biến trên khắp đế chế Kusana rộng lớn, từ Afghanistan đến Madhya Pradesh Hình tượng Bồ tát Friar Bala và các hình tượng đức Phật khác cũng như hình tượng vua Kanishk I và Vima Kadphises, đều giống nhau ở tính hình học mạnh mẽ trên đôi vai vuông vức hơn những bức tượng ở Karle; trong khuôn mẫu y phục, đường nét xếp nếp rất thẳng hàng, những đường nét cứng ngắc của vải, đôi chân nhìn nghiêng; và khuôn mặt được xử lý sắc sảo ở đôi mắt và cái miệng Con sư tử ở chân tượng Bồ tát
ám chỉ nguồn gốc vua chúa của người Phía sau tác phẩm điêu khắc này, lúc ban đầu
là một chiếc cột cao hình lăng trụ nằm trên đầu cột một cái dù bằng đá đầy ấn tượng, một biểu tượng khác của hoàng gia, đường kính khoảng 3,05m được khắc chạm những dấu hiệu của cung hoàng đạo và những biểu tượng của những lâu đài trên cõi trời Như vậy, mặt bên dưới của chiếc dù là sự tượng trưng về hỉnh ảnh của vũ trụ Mối quan hệ nghệ thuật giữa nó với những yaksha ở Bharhut và Sanchi đủ để chứng minh rằng nó không phải là một sự sáng tạo từ bên ngoài, nhưng ở đây chúng ta có thể trông thấy một điều gì khác lạ, nó trừu tượng hơn, phổ biến hơn Mặt phía trước cứng ngắc của của pho tượng vượt hơn hẳn pho tượng yaksha Parkham khoảng ba thế kỷ trước đó Không co thân hình hơi cong, không có chiếc đầu gối cong xuống, nhưng nhiều sự phát triển như thế đã xuất hiện
Tượng Phật đứng không phải là phong cách chủ yếu, mà tượng Phật ngồi lại
là tiêu chuẩn, thể hiện trong tư thế tham thiền hoặc thuyết giảng bài Pháp thứ nhất Ở
Trang 35bảo tàng nghệ thuật Kimbell có một pho tượng Phật lạ thường được bảo quản tốt trong hình dáng một cái bia, một tượng điêu khắc được bọc sau bởi một khối đá [Phụ lục hình 15] Bức tượng mặt quần áo của một nhà sư khổ hạnh và ngồi tham thiền theo tư thế truyền thống của một yogi, một vòng hào quang bao quanh, tượng trưng mặt trời, được khắc chạm vào tảng đá phía sau đầu Ngài Đức Phật với những biểu
tượng xung quanh, urna hay túm lông giữa đôi mắt, đóa hoa sen nằm trong lòng bàn
chân, trái tai được kéo dài vĩnh cửu do sức nặng của đôi bông tai Ngài mang khi còn
là thái tử Hai bên hông là hai người hầu cầm những cây phất trần chauri Trên cái bệ
của chiếc ghế Người ngồi là hình ảnh hai con sư tử có cánh, hai người hầu và quang cảnh ở viền bánh xe, tượng trưng cho chuyển pháp luân hay vận chuyển bánh xe pháp Chúng ta lại bắt gặp kỹ thuật xử lý mang tính hình học về quần áo xếp nếp, những hình vòng cung nhẵn trơn ở phần kết thúc của quần áo xếp trên đôi chân, sự nhấn mạnh về đường nét của quần áo xếp nếp ở phía dưới cơ thể, những cặp lông mày Hình vòng cung mạnh mẽ, và bộ tóc đơn giản hình cầu Hình tượng có vẻ khác đôi chút so với kỹ thuật điêu khắc Ấn truyền thống Bàn tay của đức Phật tạo thành
những mudra – những điệu bộ của bàn tay với những ý nghĩa đặc biệt hết sức thú vị
Các thủ ấn của những mudra là cực kỳ quan trọng trong ngôn ngữ của điệu múa và những hình ảnh, vạch rõ các khía cạnh đặc biệt về sự trình bày các vị thần
Phong cách nổi bật khác của thời kỳ Kusana thuộc vùng Gandhara, nay là Afghansitan – Pakistan – Kashmir Theo dòng lịch sử, khu vực này có sự tiếp xúc trực tiếp với thời kỳ hậu Alexandria, những quốc gia phương Tây và khu vực Địa Trung Hải Vì thế, nền nghệ thuật Gandhara đã được phương Tây vô cùng ưa thích Đối với những người có sự yêu mến đối với truyền thống cổ điển, thì nó chính là nền nghệ thuật làm cho người thưởng thức cảm thấy khoan khoái mà Ấn Độ sáng tạo nên Nó được gọi tên là nền nghệ thuật Hy Lạp – Phật giáo; nhưng ngày nay, với những nghiên cứu và phát hiện của những chuyên gia – Benjamin Rowland và Hugo Buchthal, người ta đã gọi tên nó chính xác hơn là nền nghệ thuật Phật giáo – Roma Các ảnh hưởng không xuất phát từ Hy Lạp, mà từ Rome và những phong cách La Mã cuối thế kỷ I và II
Hai hủ đựng cốt của hai vị vua triều đại Kushan, là những minh chứng quan trọng mở đầu cho hàng loạt các sáng tác chịu ảnh hưởng phương Tây trong phương thức chế tác và sáng tạo Hủ cốt của Kanishka và hủ đựng cốt của Bimaran [Phụ lục hình 16 – 17] Để xác định niên đại và đặc điểm sự ảnh hưởng phương Tây, các nhà nghiên cứu đã lấy theo niên lịch phương Tây – niên đại thuộc năm đầu tiên thuộc triều vua Kanishka Nhưng vì có ít nhất ba bộ lịch pháp khác nhau được cư dân Ấn
Độ sử dụng vào thời điểm này, nên việc xác định chính xác niên đại của các hủ cốt thật khó khăn Hiện nay, người ta tin rằng nó được ra đời vào khoảng năm 120 SCN, nhưng Foucher – một nhà nghiên cứu khác lại cho rằng nó xuất hiện vào năm 78 SCN Với Hình ảnh của đức Phật và phong cách tạo ra nó, lại một lần nữa chúng ta khẳng định nó ra đời vào thế kỷ II Hủ đựng cốt của vua Kanishka và hủ đựng cốt bằng vàng của vua Bimaran, đã cung cấp thêm những bằng chứng xác thực sự ảnh hưởng của người La Mã hơn là Hy Lạp Đây là motif được những học giả của nền nghệ thuật Cơ Đốc giáo gọi là “Nhà vòng cung”, một sự sao chép những hình tượng trong hốc tường, hình vòng cung dùng để đặt những pho tượng đặc biệt được phát hiện ở những chiếc quách đầu tiên của người Cơ Đốc giáo thuộc khu vực Tiểu Á, hầu hết chủ yếu ở những chiếc quách nổi tiếng với những hình ảnh chúa Jesu và những môn đồ của Ngài ở bảo tàng khảo cổ ở Istanbul Do vì “Nhà vòng cung” là một motif
ở vào cuối thế kỷ I và II, vì thế niên đại và nguồn gốc của hai hủ cốt đã được xác định
Trang 36Nét nghệ thuật đặc trưng của Gandhara được thể hiện bằng hai chất liệu cơ bản chính là đá phiến màu xanh lam hoặc xám và vữa stuco Hầu hết các tác phẩm được chạm khắc trên đá, có niên đại thế kỷ I, II và III Bức tranh điêu khắc nổi trên
đá phiến kể lại sự đản sinh của đức Phật [Phụ lục hình 18], các nhân vật được thể hiện theo hình dáng của con người Nội dung câu chuyện thể hiện trên đá cho thấy, đức Phật được sinh ra từ bên hông của một người phụ nữ La Mã một cách kỳ diệu đang nắm cành cây thiêng, hai tay kéo cành cây xuống và gót chân tựa vào thân cây thật uyển chuyển và duyên dáng
Cũng tại vùng Gandhara, thuộc thời kỳ Kusana có một pho tượng Tam Vị Phật [Phụ lục hình 19], thể hiện nhân vật trung tâm là đức Thích Ca Mâu Ni đang thuyết giảng, ngồi bên trái là Bồ tát Di Lạc – Maitreya – vị Phật tương lai, và bên phải là Bồ tát Quán Âm – Avalokiteshavara Ở phía sau là các vị thần Hindu: Brahma – Đại Phạm Thiên, Indra – Vua Trời Đế Thích Đây không chỉ là một tác phẩm điêu khắc hoàn hảo xinh đẹp, nó còn mang những dòng chữ viết quan trọng với niên đại gần như có thể tương đương với năm 182 Cái đầu của đức Phật giống với đầu của vị thần Apollo, đôi mắt nửa nhắm nửa nhắm nửa mở đang nhìn xuống Phía sau Người là một cây to đang nở hoa được tạc đẽo với một kỹ thuật rất cao Hai bên hông là các vị bồ tát được chạm khắc theo phong cách tượng đứng cổ điển, ngoại trừ
bộ ria mép, khuôn mặt của họ có nét tương đồng với khuôn mặt của những vị thần hay những vị anh hùng của vùng Đia Trung Hải, họ đeo những trang sức to lớn kết cấu rõ nét và khoác lên mình những bộ áo xếp nếp mang tính hình học Nhưng càng
về sau, yếu tố vay mượn từ nét điêu khắc của La Mã giảm dần, những nhà điêu khắc
Ấn Độ ở vùng Tây Bắc lại càng thể hiện tài hoa của mình hơn trong việc điêu khắc vị
Bồ tát đứng bằng đá cao 109.2cm, có niên đại thế kỷ II và hiện đang được bảo tồn tại bảo tàng Mỹ thuật, Boston
Một phong cách khác của Gandhara được phát hiện ở các pho tượng bằng vữa stuco dẻo và sự duyên dáng cũng như kỹ thuật chế tác cao của các pho tượng đã chinh phục người xem Những nghệ nhân thiên tài bản địa đã chứng tỏ bản lĩnh cá nhân bằng cách chế tạo những tác phẩm với sự kết hợp những đường nét quen thuộc trong các tác phẩm điêu khắc đá ảnh hưởng của Gupta từ Kashmir và vữa stuco dẻo
để tạo ra sản phẩm cổ điển, nguyên thủy [Phu lục hình 20] Có nhiều đường nét mang đậm phong cách Kushan về mặt Hình học trong điêu khắc Đầu của một tu sĩ khổ hạnh cao 11,1cm có niên đại thế kỷ V – VI, được lưu giữ ở bảo tàng Hadda – Afghanistan Trên khuôn mặt của ông nổi bật với đôi lông mày hình vòng cung, nét sắc bén của vành mắt, đôi má cao, khiến cho người xem gợi nhớ lại một trong những tác phẩm chịu ảnh hưởng bởi phái Skopas Nhưng chi tiết ở cái miệng mềm mại của đôi môi lại cho chúng ta cảm giác tác phẩm này không giống như những tác phẩm làm bằng đá
Tác phẩm tiêu biểu khác cũng được làm bằng vữa stuco nổi tiếng, là sự thể hiện một con quỷ - được cho là đồ đệ của Ma vương – với nỗ lực làm cho đức Phật
bị xao lãng trong lúc tham thiền Hiện nay, tác phẩm được trưng bày ở bảo tàng Guimet – Paris Thân thể uốn cong của hắn chứng tỏ tay nghề của người thợ biết sử dụng và xử lý đất sét Các Hình dáng không còn tồn tại nữa ngay cả tính chất hình học, và kết cấu của nghệ thuật xếp nếp, được tạo nên bằng cách làm xước bề mặt của đất sét, là nét phác họa, và mau phai nhạt trong phong cách
Ở những địa điểm khai quật của Gandhara, đá vữa stuco xuất hiện bắt đầu từ thế kỷ IV cho đến cuối thế kỷ VIII và IX Việc sử dụng chất lỏng kết hợp với vữa stuco lan rộng khắp vùng Tây Bắc, nó là sự đóng góp lớn lao của phong cách
Trang 37Gandhara cho lịch sử điêu khắc Ấn Độ, và các tác phẩm từ đá cũng có một sức lôi cuốn kỳ lạ
* Chú thích
[1] Các hóa thân của Phật
[2] Ashoka – A Dục là một trong những vị hoàng đế kiệt xuất của Ấn Độ, cai trị đế quốc Maurya từ 273 đến 232 TCN Ông đã làm chủ một vùng đất rộng lớn vùng Nam Á, từ Afghanistan cho đến Bengal hiện nay, và sau đó đi sâu đến miền Nam tận Mysore Ashoka được biết đến là một ông vua sùng đạo Phật và có công rất lớn trong việc truyền bá Phật giáo sang các quốc gia khác, trong đó có Đông Nam Á
[3] Đế quốc Achaemenes (690 TCN – 328 TCN), hay Đế quốc Ba Tư thứ nhất, là triều đại đầu tiên của người Ba Tư (nay là Iran) được biết đến trong lịch sử Vương triều này còn được biết với cái tên là Nhà Achaemenid Là một thiên tài quân sự kiệt xuất, Hoàng đế Cyrus Đại Đế đã lật đổ "thiên tử" của Đế quốc Media và sáng lập ra
Đế quốc Ba Tư.Với những cuộc chinh phạt thắng lợi và chính sách khoan dung của mình, ông đã thiết lập một "đế quốc thế giới" bao gồm nhiều dân tộc có truyền thống khác nhau Đế quốc Ba Tư của nhà Achaemenes còn được gọi là Đế quốc Media-Ba
Tư
[4] Thủ đô của đế quốc Achaemenid
[5] Người Hittite là người Anatolian cổ đại đã thành lập một đế chế tập trung vào Hattusa ở Anatolia Bắc Trung Đông khoảng năm 1600 TCN Đế chế này đạt đến đỉnh cao vào giữa thế kỷ 14 trước Công nguyên theo Suppiluliuma I, khi nó bao trùm một khu vực bao gồm hầu hết Anatolia cũng như các phần của vùng phía bắc Levant
[8] Vima Kadphises (khoảng năm 95 – 127), là một hoàng đế Quý Sương vào khoảng năm 90-100 CN, ông là con trai của Sadashkana và cháu trai của Kujula Kadphises, và cha của Kanishka I, theo ghi chép từ văn bia Rabatak Vima Kadphises đã mở rộng thêm lãnh thổ Kushan bằng những cuộc chinh phục của mình
ở Afghanistan và tây bắc Pakistan Ông cũng đã ban hành rộng rãi một loạt tiền xu và chữ khắc Ông là người đầu tiên phát hành tiền đúc bằng vàng ở Ấn Độ, ngoài tiền đồng hiện có và tiền đúc bằng bạc
Trang 38CHƯƠNG 4 LỊCH SỬ NGHỆ THUẬT KIẾN TRÚC VÀ ĐIÊU KHẮC
PHẬT GIÁO ẤN ĐỘ THỜI TRUNG ĐẠI
4.1 Điều kiện lịch sử - xã hội Ấn Độ thời kỳ Gupta
Sau khi vua Ashoka mất, đế quốc Maurya bị phân chia thành nhiều tiểu quốc
tự trị Con cháu của vua Ashoka còn cai trị ở vùng Magadha cho đến năm 176 TCN thì bị các vương triều Shunga (176 – 64 TCN), vương triều Kalva (64 – 19 TCN) thay thế Vua của các vương triều này theo Balamon nên tôn giáo này được khôi phục lại Nhưng cả hai vương triều này chỉ cai trị được ở vùng Đông Bắc Ấn Độ, vùng Tây Bắc thì bị các quốc gia ngoại tộc như vương quốc Bactrian (Hy Lạp – Bactrian), Kusana cướp bóc và chiếm đóng Vương quốc Bactrian do người Hy Lạp thành lập, đã mang nhiều yếu tố văn hóa Hy Lạp vào văn hóa Ấn Độ và Phật giáo; do vậy, thời kỳ này còn được gọi là thời kỳ văn hóa Ấn – Hy hay văn hóa Hy Lạp – Phật giáo
Vương quốc Kusana thuộc tộc Sakat (hay Scythia – một chi nhánh của bộ tộc Turks) đã chiếm đóng toàn bộ cao nguyên Iran và miền Nam Tây Bắc Ấn Độ Vua Kaniska (khoảng 78 – 114) của vương quốc Kusana đã tiếp thu Phật giáo Đại thừa và nhận Phật giáo Đại thừa làm quốc giáo Ông cũng đã triệu tập Đại hội Phật giáo lần thứ tư ở Kasmir để thảo luận việc thống nhất hai giáo phái Đại thừa và Tiểu thừa nhưng không đạt kết quả Ông cũng là người có công rất lớn trong việc truyền bá Phật giáo Đại thừa và Pamir và từ đó sang Tây Tạng và Trung Quốc
Vào đầu thế kỷ IV, một tiểu vương ở Pataliputra (kinh đô của vương quốc Magadha cũ) là Chandragupta đã phất cao lá cờ “chiến tranh tôn giáo” – cuộc chiến giữa người Aryan theo Hindu giáo với người ngoại tộc theo Phật giáo, đã liên kết được các vương công Ấn Độ thuộc đẳng cấp quý tộc võ sĩ Kshatriya để đánh đuổi người ngoại tộc ra khỏi Aryavarta – đất đai của người Aryan Sau 12 năm chiến đấu, cuối cùng Chandragupta đã thống nhất phần lớn lưu vực sông Gangas (miền Đông Bắc Ấn Độ) Ông lên ngôi và trị vì vương quốc Magadha, hiệu là Chandragupta I (trị
vì 320 – 325)
Kế vị Chandragupta I là Samudragupta (trị vì 335 – 380) cũng là một nhà vua
có nhiều thành tích trong việc thống nhất Ấn Độ Đặc biệt, Chandragupta II (trị vì
380 - 414) – tức cháu nội của Chandragupta I, thật sự một trong những ông vua kiệt xuất nhất của lịch sử Ấn Độ Ông lấy biệt hiệu là Vikramaditya – Mặt trời dũng cảm Ông vừa là một nhà quân sự, vừa là người bảo hộ văn hóa, trong triều đình của ông
có nuôi nhiều văn nghệ sĩ, trong đó có chín văn hào được gọi là “chín viên ngọc quý của nhà vua”, mà nổi bật nhất là nhà thơ vĩ đại Kaladasa Thời trị vì của ông được gọi là “thời đại hoàng kim” của lịch sử trung đại Ấn Độ, thời kỳ phát triển phồn thịnh
cả về kinh tế và văn hóa
Trong thời kỳ cai trị của vương triều Gupta, miền Bắc Ấn Độ đã có một nền kinh tế - văn hóa hết sức phồn thịnh
Về kinh tế, nông nghiệp được chú trọng đặc biệt và phát triển mạnh, nông dân dùng trâu bò kéo cày, giống cây trồng đa dạng (lúa mì, lúa mạch, lúa tẻ, mía, vừng, nghệ), công tác thủy nông được chú trọng và canh tác nhiều vụ trong năm Chăn nuôi cũng phát triển với những bãi chăn được dùng để nuôi bò có bướu, bò thường, bò sữa, bê, ngựa, lừa, dê, lạc đà Việc khai khuẩn và mở rộng diện tích dất canh tác
Trang 39được đẩy mạnh Với mục đích tăng cường thu nhập tài chính, chính phủ đã quan tâm nhiều đến sự phát triển và bảo vệ hệ thống nước tưới Các công trình thủy lợi như đào mương, đắp đập và hệ thống dẫn nước khác được tiến hành rộng rãi nhất thời kỳ này
Thủ công nghiệp cũng có nhiều tiến bộ Các nghề thủ công tập trung trong các phường hội ở thành thị và nhiều làng nghề Các ngành luyện kim, làm đồ trang sức, vũ khí, dệt, đóng thuyền, đã đạt đến trình độ kỹ thuật tiên tiến trên thế giới lúc bấy giờ Đặc biệt, người thợ thủ công Ấn Độ đã tạo được những tác phẩm mang tính thẩm mĩ và trình độ kỹ thuật cao, sẽ được trình bày chi tiết ở nội dung tiếp theo
Thương mại trong nước đã phát triển một cách vượt bậc Sự trao đổi hàng hóa giữa các đô thị và các vùng càng phát triển hơn nữa Sông Gangas cùng với các chi của nó trở thành những mạch máu giao thông thuận lợi ở miền Bắc Việc giao thương trên bộ phổ biến với những đoàn súc vật tải hàng hóa đi lại Giao thông bằng thuyền bè dọc bờ biển cũng đóng một vai trò quan trọng Tiền tệ được lưu thông một cách rộng rãi Dưới thời Samudragupta chỉ phát hành tiền vàng Chandragupta II đã cải cách tiền tệ, lưu hành cả tiền vàng – bạc – đồng Hoạt động ngoại thương diễn ra sôi nổi với các đối tác nhất là Iran và các nước Đông Nam Á Trong thời kỳ này, đế quốc La Mã đã suy sụp và Trung Quốc đang trong giai đoạn chia rẽ Nam Bắc triều, nên ít có quan hệ với Ấn Độ Hải cảng chủ yếu của đế quốc Gupta là Barygaza ở bờ biển Malabar (Tây Nam cao nguyên Decan)
Về mặt xã hội, quan hệ phong kiến đã giành được địa vị thống trị ở Ấn Độ vào thời kỳ này Các vua Gupta tự xưng là “Đại vương” – Maharaja – nắm lấy quyền
sở hữu tối cao trong toàn vương quốc Chế độ đẳng cấp varna vẫn được duy trì và gây ra tình trạng mâu thuẫn và chia rẽ trong xã hội
Về mặt tôn giáo, thời kỳ Gupta có sự chuyển biến từ đạo Balamon sang đạo Hindu, đạo Phật phân hóa thành hai giáo phái Phật giáo Tiểu thừa và Phật giáo Đại thừa, đạo Jaina chia thành phái Bạch y và Lõa thể
Do sự thịnh trị của thời kỳ Gupta, được gọi là “thời đại hoàng kim” của lịch
sử trung đại Ấn Độ; nhà sư Pháp Hiển[1] đã thực hành một chuyến du hành lịch sử sang Ấn Độ vào thời kỳ này Ông đã lưu lại nơi đây sáu năm và ghi chép du ký “Phật quốc ký” Trong hồi ký, nhà sư đã có nhiều nhận xét, ca tụng vẻ tráng lệ của các thành phố, các lâu đài của kinh đô, ca ngợi đời sống sung túc và thuần hậu của nhân dân, sự khoan dung của pháp luật Nhà vua quan tâm đến đời sống nhân dân, cho thành lập các bệnh viện, nhà an dưỡng Số trí thức, tăng ni đông đúc, Điều này đã cho thấy sự phát triển mạnh của Phật giáo dưới sự bảo trợ của chính quyền phong kiến đương thời
4.2 Lịch sử nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc Phật giáo Ấn Độ thời Gupta (kể luôn Harsha) từ năm 320 đến năm 657 SCN
Sau khi đế chế Kushan tan rã vào năm 320, vùng Bắc Ấn bị phân chia thành một số tiểu quốc, khi đó Chandra Gupta I (khoảng 320 – 335 SCN) và nhất là dưới thời Samudra Gupta (khoảng 335 – 376 SCN) với những cuộc chinh phạt và chinh phục, đã giúp vùng đất này tái thống nhất dưới triều đại Gupta
Mặc dù những triều vua Gupta theo Ấn giáo, nhưng họ cũng góp phần hỗ trợ cho Phật giáo lẫn Jainism, và những tài liệu ghi chép lại rằng một trong những người trị vì vĩ đại cuối cùng, vua Kumara Gupta I (khoảng 415 – 455) đã xây dựng một tu viện ở trung tâm Phật giáo ở Nalanda nổi tiếng ở Bihar
Trang 40Ngay vào thời điểm mở rộng nền văn hóa, đã cho thấy ảnh hưởng của nền nghệ thuật và tư tưởng Ấn Độ mở rộng đến khu vực Trung Á, Trung Hoa, Đông Nam
Á và Indonesia Bồ Đề Đạt Ma, một nhà sư nổi tiếng đã đến Trung Hoa Nhà thơ Kalidasa có sự gắn bó với triều đại vua Chandra Gupta II ( khoảng 376 – 415) Vở
kịch xuất sắc Cỗ xe ngựa đất sét bé nhỏ được soạn vào thời kỳ này, trình bày một
Hình ảnh sống động của đời sống ở thành phố Ujjain ở phía Tây bang Madhya Pardesh, nơi mà người ta cho rằng các triều đại Gupta sau này thường thiết triều Điều này chứng tỏ một nền nghệ thuật đặc sắc, đặc biệt về điêu khắc và hội họa, phản ánh một bầu không khí bình an và nhàn rỗi Nó đích thực là một thời kỳ vàng son cổ điển Tuy nhiên, đây là những ngày tháng tuyệt vời cuối cùng của nền nghệ thuật Phật giáo Ấn Độ, trước sự lấn át của nghệ thuật Hindu; tương lai và đức tin của
nó – đạo Phật sẽ vượt khỏi lục địa Ấn Độ và có một sự ảnh hưởng mãnh mẽ ở những vùng đất mới
Nghệ thuật kiến trúc Gupta đã thiết lập một phong cách tiêu chuẩn của hình ảnh đức Phật Phong cách này được truyền bá theo hai hướng chính – khu vực Đông Nam Á và Indonesia, và qua vùng Trung Á đến Đông Á Có hai phong cách khu vực chính ở nền kiến trúc Gupta; một là, phong cách Mathura – tượng trưng bằng sự tiếp nối sinh động và dịu dàng hơn của phong cách Kushan thô cứng; hai là, phong cách mang tính cách của vùng Sarnath – nơi đức Phật thuyết giảng bài Pháp thứ nhất của Ngài Những tác phẩm điêu khắc ở vùng Mathura thực hiện bằng một loại sa thạch
đỏ mịn, có thể được khai thác ở một chi tiết nào đó nhưng không đạt đến một sự tinh xảo hoàn hảo Tác phẩm điêu khắc của vùng Sarnath bằng sa thạch màu kem, cùng một loại sa thạch đươc người Maurya dùng cho những chiếc cột và đầu cột, có khả năng được khai thác đến một mức độ chi tiết cao và hoàn thiện
Trong bảo tàng Quốc gia ở Delhi có một pho tượng Phật đứng làm bằng sa thạch đỏ, xuất xứ từ Mathura vào khoảng thế kỷ V, mang cả những yếu tố của phong cách Kushan: tính cách hình học ở các nét xếp nếp và những chân cột, đôi vai rộng
và cái ngực căng phồng, mí mắt, lông mày, miệng và đường cổ áo không phải là những đường cong tự do mà là những đường vòng cung mang tính hình học được kiểm soát cẩn thận và dường như chúng được bố trí bằng la bàn [Phụ lục hình 21] Nhưng Hình tròn và sự mượt mà về khuôn mẫu của khuôn mặt và chiếc cổ hoàn toàn khác biệt với khuôn mặt và chiếc cổ với khuôn mẫu mang tính mạnh mẽ và linh hoạt của Kushan Phẩm chất toàn bộ của sự diễn đạt mới mẻ và đặc thù của đức Phật là một sự thanh thản và bi uẩn Phẩm chất này hoàn toàn khác biệt với những hình tượng trước đó và có thể được cho là một sự kết hợp phi thường của những nét đặc thù riêng biệt của những nền nghệ thuật điêu khắc trước Đôi mắt nhìn xuống, thật quan trọng đối với khái niệm của hình ảnh, nó có thể xuất phát từ nền nghệ thuật Gandhara, tính linh hoạt và mềm mại của cơ thể chắc chắn vay mượn nhiều với truyền thống bản địa Sự pha trộn hoàn hảo của tất cả những đường nét này với khái niệm được phát triển trọn vẹn về Phật tính là nguyên nhân cho sự thành công vượt bậc và ảnh hưởng rộng lớn của nó hơn một thiên niên kỷ
Vào đầu thế kỷ V, những hình tượng của trường phái Mathura bắt đầu mất đi
sự mến mộ, hầu hết những hình tượng của niên đại sau này được sử dụng ở chất liệu khác thay vì sa thạch đỏ Tuy vậy, nhiều tác phẩm điêu khắc bằng sa thạch kem ở Sarnath được phủ một chất màu đỏ trông giống như sa thạch đỏ ở Mathura
Tượng Phật bằng sa thạch Chunar vào thế kỷ V ở bảo tàng cổ ở Sarnarth được xem là pho tượng nổi tiếng nhất của thời kỳ Tác phẩm trình bày hình ảnh đức Phật đang vận chuyển Bánh xe pháp trong Bài pháp thứ nhất tại Vườn Nai ở Sarnarth