TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG KHOA NÔNG NGHIỆP & TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN KHẢO SÁT HIỆU LỰC CỦA 5 LOẠI THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT SINH HỌC TRỪ RẦY XANH Empoasca flavescens TRÊN ĐẬU BẮP NHẬT TRONG
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG KHOA NÔNG NGHIỆP & TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
KHẢO SÁT HIỆU LỰC CỦA 5 LOẠI THUỐC
BẢO VỆ THỰC VẬT SINH HỌC TRỪ
RẦY XANH (Empoasca flavescens)
TRÊN ĐẬU BẮP NHẬT TRONG
ĐIỀU KIỆN NHÀ LƯỚI
LÂM QUỐC PHƯƠNG
AN GIANG, THÁNG 11 NĂM 2014
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG KHOA NÔNG NGHIỆP & TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
KHẢO SÁT HIỆU LỰC CỦA 5 LOẠI THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT SINH HỌC TRỪ
RẦY XANH (Empoasca flavescens)
TRÊN ĐẬU BẮP NHẬT TRONG
ĐIỀU KIỆN NHÀ LƯỚI
LÂM QUỐC PHƯƠNG
MÃ SỐ SV: DBT113113
TRẦN VĂN KHẢI
AN GIANG, THÁNG 11 NĂM 2014
Trang 3i
CHẤP NHẬN CỦA HỘI ĐỒNG
Đề tài nghiên cứu khoa học “Khảo sát hiệu lực của 5 loại thuốc bảo vệ thực vật sinh
học trừ rầy xanh (Empoasca flavescens) trên đậu bắp Nhật trong điều kiện nhà lưới.”,
do sinh viên Lâm Quốc Phương thực hiện dưới sự hướng dẫn của Th.s Trần Văn Khải Tác giả đã báo cáo kết quả nghiên cứu và được Hội đồng Khoa học và Đào tạo Trường Đại học An Giang thông qua ngày tháng năm 201
Trang 4ii
LỜI CẢM TẠ
Tôi xin chân thành cảm ơn đến Trường Đại học An Giang, đặc biệt là thầy cô Bộ môn khoa học cây trồng đã tận tình giúp đỡ, dạy dỗ những kiến thức chuyên môn, kinh nghiệm bổ ích giúp tôi trong quá trình học tập và trong công việc sau này
Tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn đến thầy Trần Văn Khải đã tận tình hướng dẫn, giúp
đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Tôi xin gởi lời cảm ơn đến thầy Nguyễn Hoàng Huân (cán bộ nhà lưới) đã tạo điều kiện cho tôi thực hiện đề tài
Tôi muốn gởi lời cảm ơn đến thầy Lê Hữu Phước và cô Nguyễn Thị Thái Sơn giảng viên phản biện của đề tài này Những ý kiến đóng góp của thầy và cô là vô cùng hữu ích, nó giúp tôi nhận ra các khuyết điểm của đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn các bạn: Lê Văn Dương, Nguyễn Minh Tiến, Huỳnh Thị Tuyết Hồng, Nguyễn Văn Tuyền và tất cả các bạn lớp DH12BT1 đã ủng hộ, động viên
và giúp tôi hoàn thành thí nghiệm
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn tất cả mọi người đã tận tình giúp đỡ và tạo điều kiện tốt nhất để tôi có thể hoàn thành được đề tài này
Xin chân thành cảm ơn!
An Giang, ngày tháng năm 201
Người thực hiện
Lâm Quốc Phương
Trang 5Thí nghiệm được bố trí theo kiểu khối hoàn toàn ngẫu nhiên với 6 nghiệm thức và 5 lần lặp lại Mỗi lần lặp lại 1 chậu với 30 con rầy xanh, 1 chậu trồng 2 cây và thuốc được pha theo nồng độ khuyến cáo ghi trên bao bì
Các loại thuốc được sử dụng trong thí nghiệm để trừ rầy xanh gồm Acplant 20WG, Apolo 25WP, Muskardin, Reasgant 3.6EC, VBT và đối chứng
Các bước tiến hành gồm: trồng đậu bắp ngoài nhà lưới để thu nguồn rầy xanh ổn định, nuôi tạo nguồn rầy sạch trong nhà lưới, thu bắt rầy xanh vào các nghiệm thức và tiến hành phun thuốc
Thí nghiệm tiến hành xử lí thuốc một lần vào giai đoạn cây đậu bắp lúc 25 ngày sau khi gieo, xử lý thuốc vào buổi chiều và ghi nhận chỉ tiêu sau 1, 3, 5, 7 và 14 ngày sau khi phun Nhìn chung 5 loại thuốc đều có hiệu lực đối với việc phòng trừ rầy xanh Tuy nhiên, nghiệm thức phun Reasgant 3.6EC có hiệu quả cao nhất sau 3 NSKP, tiếp đến là Apolo 25WP sau 5 NSKP có hiệu lực 100% và sau 14 NSKP nghiệm thức phun thuốc Acplant 20WG có hiệu lực 99,28% Trong đó, hai nghiệm thức phun VBT (89,29%) và Muskardin (87,86%) có hiệu quả chậm qua các lần ghi nhận chỉ tiêu, tuy nhiên đến sau 14 NSKP thì cả hai cũng gần đạt 90% hiệu lực
Trang 6iv
ABSTRACT
The thesis "Survey the effect of the 5 types of plant protection products (pesticide)
against Empoasca flavescens on Japanese okra in a net house conditions" is carried out
in An Giang University As the name of this thesis, this research focus on the effect of the 5 types of plant protection pesticides control of green leafhopper on the Japanese okra in order to add effective management measures green leafhopper on okra
The experiment was arranged in a randomized complete block design with six treatments and five replications Each replication, on 1 pot with 30 of green leafhoppers, 1 pot planting 2 trees and drug will be mixed according to recommended concentration on the package
The pesticides were used in the experiment to include Acplant 20WG, Apolo 25WP, Muskardin, Reasgant 3.6EC, VBT and control
These steps include: planting okra out of the net house to obtain a stable source of green leafhoppers, feeding its to generate pure leafhopper in the net house, collecting green leafhoppers on the treatments and spraying
In this experiment, pesticide treatment was realized in the phase of okra plants at 25 days after sowing, spraying pesticides in the afternoon and noted the following index
1, 3, 5, 7 and 14 days after spraying Overall 5 pesticides biological have a good effect
in preventing green leafhoppers However, injection treatments Reasgant 3.6EC effective after 3 NSKP highest, followed by Apolo 25WP after 5 NSKP effective 100% After 14 NSKP 20WG, treatments Acplant has 99.28% effective In there, two spray treatments VBT (89.29%) and Muskardin (87.86%) effective time delay through the recognition criteria, however, until after 14 NSKP, both also attained approximately to 90%
Trang 8vi
MỤC LỤC
CHẤP NHẬN CỦA HỘI ĐỒNG i
LỜI CẢM TẠ ii
TÓM TẮT iii
LỜI CAM KẾT v
MỤC LỤC vi
DANH SÁCH BẢNG viii
DANH SÁCH HÌNH ix
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT x
CHƯƠNG 1 1
GIỚI THIỆU 1
1.1 TÍNH CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1
1.3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 2
1.4 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 2
1.5 NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI 2
CHƯƠNG 2 3
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
2.1 LƯỢC KHẢO VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
2.1.1 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước: 3
2.1.2 Kỹ thuật trồng đậu bắp Nhật 7
2.1.3 Đặc điểm một số loại thuốc sử dụng trong thí nghiệm 7
2.2 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU HOẶC GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU 10
CHƯƠNG 3 11
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 11
3.1 MẪU NGHIÊN CỨU 11
3.2 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 11
Hình 4: Các ô thí nghiệm trong nhà lưới 12
3.3 CÔNG CỤ NGHIÊN CỨU 12
3.4 TIẾN TRÌNH NGHIÊN CỨU 12
3.4.1 Nuôi tạo nguồn rầy 12
3.4.2 Trồng đậu bắp trong nhà lưới 14
Hình 7: Trồng đậu bắp Nhật trong chậu 14
3.4.3 Thử thuốc 14
3.5 PHÂN TÍCH DỮ LIỆU 15
Trang 9vii
3.6 XỬ LÝ SỐ LIỆU 15
CHƯƠNG 4 16
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 16
4.1 Ghi nhận chung quá trình thí nghiệm 16
4.2 Hiệu quả của thuốc trong điều kiện nhà lưới 16
CHƯƠNG 5 20
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 20
5.1 KẾT LUẬN 20
5.2 KHUYẾN NGHỊ 21
TÀI LIỆU THAM KHẢO 22
PHỤ CHƯƠNG A 24
PHỤ CHƯƠNG B 26
MỘT SỐ HÌNH ẢNH 26
Trang 10viii
DANH SÁCH BẢNG
Bảng 1: Nghiệm thức và các liều lượng phun trong thí nghiệm 11 Bảng 2: Mật số rầy ở các nghiệm thức sau 1, 3, 5, 7 và 14 NSKP 16 Bảng 3: Độ hữu hiệu thuốc ở điều kiện nhà lưới 17
Trang 11ix
DANH SÁCH HÌNH
Hình 1: Ấu trùng rầy xanh 5
Hình 2: Thành trùng rầy xanh 5
Hình 3: Sơ đồ bố trí thí nghiệm nhà lưới 11
Hình 4: Các ô thí nghiệm trong nhà lưới 12
Hình 5: Đậu băp trồng ngoài nhà lưới 13
Hình 6: Nuôi tạo nguồn trong nhà lưới 13
Hình 7: Trồng đậu bắp Nhật trong chậu 14
Hình 8: Xử lý thuốc 14
Hình 9: Bệnh chết cây con trên đậu bắp (5-7 NSKT) 16
Hình 10: Rầy tuổi 2 chết sau 3 NSKP 18
Hình 11: Nguồn đậu bắp ngoài nhà lưới 26
Hình 12: Chuẩn bị lồng lưới lớn 26
Hình 13: Nuôi tạo nguồn 26
Hình 14: Gieo hạt đậu bắp Nhật 27
Hình 15: Chăm sóc đậu bắp 27
Hình 16: Các ô thí nghiệm 27
Hình 17: Rầy xanh tuổi 2, 3 27
Hình 18: Bắt rầy bên ngoài 27
Hình 19: Thả rầy vào từng chậu 27
Hình 20: Pha thuốc 28
Hình 21: Xử lý thuốc 28
Hình 22: Đếm rầy sau khi phun 28
Hình 23: Rầy tuổi 2 chết sau khi phun thuốc 3 NSKP 28
Trang 131
CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1.1 TÍNH CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Đậu bắp hay mướp tây (Abelmoschus esculentus L.) thuộc họ bông vải (Malvaceae)
có nguồn gốc ở Ấn Độ, hiện được trồng ở nhiều nước nhiệt đới châu Á và ở nước ta (Nguyễn Mạnh Chinh và Phạm Anh Cường, 2007)
Đậu bắp được trồng ở nhiều nơi trong nước ta, nhất là ở các tỉnh phía Nam để lấy quả xanh ăn như các loại đậu, dùng quả xào, luộc, làm nước chấm, nấu canh chua với cá, lươn, làm dậy mùi thịt, cá Cũng có thể nướng chín trong tro nóng hoặc ăn sống như dưa chuột Quả non phơi khô, bảo quản để ăn dần Quả chứa chất nhầy khi tan ra làm cho thức ăn đặc và có vị chua mát Lá non cũng dùng luộc hay xào ăn Tất cả các bộ phận của cây đều dùng làm thuốc giảm đau và làm dịu trong các loại bệnh như lậu, bí tiểu tiện và bạch đới Còn dùng làm thuốc nhuận tràng Rễ và lá thái mỏng phơi khô dùng làm thuốc chữa ho, viêm họng Hạt khô chín nghiền ra dùng để uống thay cà phê hoắc nấu lên làm hồ giấy, làm chất dính trong kỹ thuật làm giấy (Võ Văn Chi, 2005)
Do những tiện ích cơ bản trên nên diện tích trồng trọt không ngừng tăng lên Nhiều nơi ở Đồng Bằng Sông Cửu Long như Trà Vinh, Vĩnh Long, Đồng Tháp, … đã xuất hiện nhiều hợp tác xã (HTX) trồng đậu bắp để đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu Trong đó, HTX Thành Lợi, Vĩnh Long đã mở rộng đất trồng đậu bắp xuất khẩu trên 10 ha, từ ngày thứ 45 bắt đầu thu hoạch và kết thúc trong 90 ngày/vụ Hiện nay, HTX đang xuất khẩu đậu bắp 3 - 4 tấn/ngày, mang lại nhiều thu nhập cho nông dân Song song đó tình hình sâu hại diễn ra rất phức tạp, trong đó rầy xanh là đối tượng gây hại phổ biến và gây hại nặng ở hầu hết các giai đoạn phát triển của cây, rầy xanh là loài đa thực, sống tập trung mặt dưới lá, chích hút nhựa làm lá xoăn lại, tạo thành các đốm biến màu, sau chuyển màu vàng, lá xoăn nhỏ và khô, sinh trưởng kém, hoa rụng, quả ít và nhỏ, giảm năng suất Nên nông dân đã sử dụng nhiều loại thuốc hóa học để phòng trừ Nhưng do thuốc hóa học để lại nhiều dư lượng trong trái, gây ảnh hưởng đến sức khỏe con người và đồng thời làm tăng tính kháng thuốc của rầy xanh và làm ảnh hưởng đến chất lượng đậu bắp xuất khẩu, nên phải đẩy mạnh việc nghiên cứu thuốc trừ sâu sinh học để giảm thiểu dư lượng thuốc hóa học, an toàn cho sức khỏe con người, hạn chế tính kháng thuốc của rầy xanh và giúp cây đạt tiêu chuẩn để đẩy
mạnh xuất khẩu cải thiện đời sống cho nông dân Chính vì thế, đề tài: “Khảo sát hiệu
lực của 5 loại thuốc bảo vệ thực vật sinh học trừ rầy xanh (Empoasca flavescens)
trên đậu bắp Nhật trong điều kiện nhà lưới” được thực hiện
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Khảo sát hiệu quả của 5 loại thuốc bảo vệ thực vật sinh học đối với việc phòng trừ rầy xanh trên giống đậu bắp Nhật
Trang 141.4 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Đánh giá hiệu quả của 5 loại thuốc bảo vệ thực vật sinh học trừ rầy xanh Empoasca flavescens gây hại trên đậu bắp nhật trong điều kiện nhà lưới
Trang 153
CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2.1 LƯỢC KHẢO VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1.1 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước:
2.1.1.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước:
Qua kết quả điều tra và nghiên cứu về rầy xanh, Muraleedharan (1992) cho biết sự phân bố của rầy xanh là rất rộng, chúng có mặt ở Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bản, Bangladesh và cả Việt Nam Có hai loài rầy phổ biến ở Nhật Bản và Đài Loan đó là
Empoasca onukii và Empoasca formosana, trong đó loài E onukii thấy chủ yếu ở Nhật Bản còn loài E formosana chủ yếu ở Đài Loan Ở Ấn Độ phổ biến là loài Empoasca flavescens Fabr Năm 1991 Muraleedharan khi nghiên cứu về rầy xanh tác giả đã mô
tả rầy trưởng thành loài Empoasca flavescens Fabr có màu xanh hơi vàng, cơ thể dài
khoảng 2,5-3 mm, con cái có ống đẻ trứng ở đốt bụng cuối cùng và đẻ trứng rải rác từng quả trong lá Vòng đời của rầy xanh trải qua 3 pha phát dục: pha trứng – sâu non – pha trưởng thành, rầy non có 6 tuổi, thời gian phát dục dài hay ngắn phụ thuộc vào nhiệt độ, ở nhiệt độ cao, trứng phát dục từ 6-7 ngày, rầy non phát dục 7-9 ngày, ở nhiệt
độ mùa đông giai đoạn rầy non có thể lên tới 15 ngày
Theo CABI (2005) ấu trùng có hình dạng và màu sắc tương tự con trưởng thành nhưng
dễ nhận thấy ở màu vàng rõ rệt Ấu trùng trải qua 5 giai đoạn Ấu trùng có khả năng
di chuyển ngang hoặc lùi lại nhanh chóng Cả trưởng thành và ấu trùng đều có khả năng chích hút bằng miệng Ấu trùng có màu xanh nhạt vì thế giai đoạn đầu dễ nhận thấy bằng mắt thường
Theo Lu-WeMing (1991) bằng phương pháp thống kê đã dự báo ngày xuất hiện cao
điểm đầu tiên của rầy xanh Empoasca pirisug, đồng thời các tác giả còn cho biết ở
Trung Quốc, rầy xanh thường có 2 cao điểm về số lượng trong năm
Theo Muraleedharan (1991) đã khuyến báo kết hợp biện pháp hái (làm giảm số lượng trứng và rầy non) và phun các loại thuốc như: Endosulfan và Phosalone trừ loài sâu này có hiệu quả rất tốt
Qua kết quả khảo sát một số loại thuốc trừ sâu đối với rầy xanh, Haas (1987) cho biết một số thuốc có hiệu lực trừ rầy: Dimethoat, Acephate, Phosphalon và hỗn hợp Trichlofon + Femitronthion Còn ở Quảng Châu, tác giả Lai (1993) cho thấy thuốc Buprofezin có hiệu lực trừ rầy xanh cao và kéo dài tới 30 ngày, hiệu lực trừ rầy đạt
91,2-96,9% sau 14 ngày
Cây đậu bắp (okra) thuộc họ bông vải (Malvaceae), là loại cây chịu được khí hậu ôn hòa và nhiệt đới Với nguồn gốc từ Ethiopia hoặc Eritrea, đậu bắp được tìm thấy hầu hết ở Brazil, Ấn Độ, Tây Châu Phi và Châu Mỹ Đậu bắp có tính chống chịu cả ở khí hậu nóng, khô, ẩm ướt, với nhiều loại đất, tạo nên cây trồng tốt ở những vùng nhiệt đới (Martin, 1978)
Trang 164
Đậu bắp đôi khi được gọi theo tên khoa học cũ là Hibiscus esculentus L Đậu bắp được
trồng tự nhiên ở Châu Á, mọc hoang dại quanh sông Nile cũng như ở Ethiopia (Kochhar, 1986) và người Ai cập gieo trồng đầu tiên ở lưu vực sông Nile (vào thế kỉ
12 trước công nguyên) Đậu bắp được phổ biến từ phía Bắc châu Phi đến Địa Trung Hải, Balkans và Ấn Độ Vào năm 1658, phát triển đến châu Mĩ, năm 1781 phát triển
ở Tây Phi Châu và New Orleans, sau đó kéo dài đến nước Mĩ và phát triển ở Philadelphia (Jaakko Rahola, 2006)
Theo GreenBro (2007), đậu bắp được trồng ở khắp mọi nơi trên thế giới có khí hậu nhiệt đới và ấm Ở Iran, Ai Cập, Liban, Israel, Jordan, Iraq, Hy Lạp, Thở Nhĩ Kỳ và một phần phía Đông Địa Trung Hải thì đậu bắp được dùng rộng rãi Là loại rau trở nên phổ biến trong cách nấu nướng của người Nhật vào khoảng cuối thế kỷ thứ 20
Có ý kiến cho rằng đậu bắp có nguồn gốc ở giữa phía Đông và được phát triển đến Bắc Phi, Trung Đông trước khi đến Mỹ vào trước thế kỷ thứ 17 Tên “okra” xuất phát
từ Twi (bờ biển vàng của châu Phi) Ở những nơi khác trên thế giới, loại rau này được biết đến từ châu Phi với tên “gumbo” và với những tên khác ứng với những vùng khác nhau Không rõ là những người nô lệ ở Tây châu Phi hay thực dân Pháp ở Louisiana mang loại cây này đến nước Mỹ, nhưng có đề nghị rằng nước Mỹ là nơi đầu tiên giới thiệu loại cây này Các bang Texas, Georgia, Florida, Alabama và California là những bang dẫn đầu về sản xuất đậu bắp ở Mỹ (Food encyclopedia, 2008)
Theo CABI (2005), đậu bắp là cây thân thảo, cao > 4 m Lá sắp xếp theo hình xoắn ốc, đường kình lá > 50 cm, chia nhiều hoặc ít hơn 3, 5 hoặc 7 thùy Cuống lá dài hơn 50
cm, lá kèm thuộc dạng sợi, dài hơn 20 mm Hoa mọc riêng rẽ ở nách lá, màu vàng, tự thụ phấn, cuống hoa dài hơn 3 cm và cuống trái dài hơn 7 cm Vỏ bọc môi dưới đài hoa dài 2-6 cm, hoa mọc dính và rụng cùng với tràng hoa, tràng hoa với 5 cánh hình trứng ngược Trái có dạng hình trụ có vỏ bọc với chiều dài 5-35 cm, đường kính 1 – 5
cm Số lượng hạt rất nhiều, có dạng hình cầu, đường kính 3 – 6 mm, màu hơi nâu
Đậu bắp (Abelmoschus esculentus L Moench) là cây trồng chính trên thế giới thuộc
loại rau màu, rất giàu chất khoáng và vitamin (Ariyo Omolayo Johnson, 2008) Trái
có hàm lượng protein cao Có nguồn gốc tốt về vitamin A và C Hàm lượng calo thấp
và không có chất béo Có giá trị về y học và công nghiệp (Kirtiker and Basu, 1984)
2.1.1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Theo kết quả điều tra của Phạm Văn Biên, Bùi Cách Tuyến và Nguyễn Mạnh Chinh (2003), thành phần côn trùng gây hại trên đậu bắp Trong đó các loài quan trọng là rầy
xanh lá mạ - Empoasca flavescens (Cicadellidae – Homoptera)
Theo Nguyễn Mạnh Chinh và Phạm Anh Cường (2007), một số loài gây hại quan trọng
trên đậu bắp là: rầy xanh lá mạ - Empoasca flavescens (Cicadellidae – Homoptera)
Trang 175
Rầy xanh lá mạ có tên khoa học Empoasca flavescens, bộ cánh đều: Homoptera, họ bộ
rầy Cicadellidae Rầy trưởng thành dài 2-3 mm màu xanh lá cây, hình thoi, đuôi nhọn, chân sau nở nang, cánh trong mờ, màu xanh nhạt dài quá bụng Đầu hình tam giác, chính giữa đầu cánh có một vệt trắng mờ và 2 chấm đen nhỏ hai bên
Trứng nhỏ, dài và cong như quả chuối, mới đẻ màu trắng đục, sắp nở màu nâu sẫm (Nguyễn Mạnh Chinh, 2004)
Rầy non hình dạng giống trưởng thành, không có cánh, màu xanh nhạt hoặc xanh vàng Rầy trưởng thành ban ngày ẩn dưới tán lá hoặc phía bên kia ánh sáng mặt trời, khi bị động chạm rầy bò ngang hay lẩn trốn nhanh Rầy trưởng thành đẻ trứng ở phần non gần ngọn, cuống và gân lá non, trứng cắm vào mô cây thành cụm 2-10 trứng xếp liền nhau thành 1-2 hàng Một rầy cái đẻ trung bình 50-100 trứng
Rầy xanh lá mạ là loài đa thực, sống tập trung mặt dưới lá, chích hút nhựa làm lá xoăn lại, tạo thành các đốm biến màu, sau chuyển màu vàng, lá xoăn nhỏ và khô, sinh trưởng kém, hoa rụng, quả ít và nhỏ, giảm năng suất Rầy phát triển mạnh trong điều kiện khô
và nóng (Nguyễn Mạnh Chinh, 2004)
Theo Đường Hồng Dật (2004) và Nguyễn Văn Hùng (2006) cho biết vòng đời của rầy xanh trải qua 3 pha phát dục: pha trứng – pha ấu trùng và pha trưởng thành Rầy trưởng thành có màu xanh lá mạ, cơ thể dài khoảng 2,5-3,0 mm, có 8 đốt bụng, rầy non có hình dạng giống rầy trưởng thành nhưng nhỏ hơn và chỉ có mầm cánh, chưa có cánh Rầy non có 5 tuổi: rầy tuổi 1 có màu trắng, sau đó chuyển thành hơi vàng, cơ thể dài khoảng 0,8-1,2 mm Rầy tuổi 2 có màu vàng xanh, cơ thể dài khoảng 1,5-1,6 mm Rầy tuổi 3 có màu xanh vàng, cơ thể dài khoảng 1,9-2,1 mm Rầy tuổi 4 có màu xanh vàng,
cơ thể dài khoảng 2,1-2,3 mm Rầy tuổi 5 có màu xanh vàng, cơ thể dài 2,3-2,6 mm Trứng rầy có hình ống, hai đầu hơi thon, cong như quả chuối tiêu dài khoảng 0,4-0,6
mm Thời gian phát dục của rầy xanh chịu ảnh hưởng nhiều vào điều kiện nhiệt độ: ở nhiệt độ 21,2 0C, trứng phát dục 6-7 ngày, ấu trùng phát dục 10,5 ngày, còn ở nhiệt độ 27,7 0C, trứng phát dục 5,1 ngày, ấu trùng phát dục 7-9 ngày
Hình 1: Ấu trùng rầy xanh Hình 2: Thành trùng rầy xanh Hình 1: Ấu trùng rầy xanh
Trang 186
Theo Nguyễn Mạnh Chinh (2004) vòng đời trung bình 15-20 ngày, trong đó thời gian trứng 5-7 ngày, rầy non 7-10 ngày, rầy trưởng thành đẻ trứng 2-3 ngày và có thể sống 10-20 ngày Rầy xanh lá mạ phá hại nhiều loại cây như lúa, đậu bắp, đậu tương, cà chua, chè,… rầy xanh có nhiều thiên địch ký sinh, ăn thịt và gây bệnh
Theo Nguyễn Khắc Tiến (1986) và Nguyễn Văn Thiệp (2000) cho biết loài rầy xanh
Empoasca flavescens Fabr phát sinh phát triển trong điều kiện nhiệt độ 18-25 0C, ẩm
độ trên 80% và có mưa nhỏ, rầy có xu tính với ánh sáng yếu Rầy xanh có hai cao điểm
về số lượng trong một năm, trong đó có cao điểm đầu thường xuất hiện vào tháng 4, tháng 5 vào điểm này gây hại rất lớn, còn cao điểm hai xuất hiện vào tháng 9 đến tháng
11, cao điểm này cũng gây thiệt hại đáng kể nhưng ít hơn so với cao điểm thứ nhất Theo Nguyễn Xuân Thành (1996) rầy xanh phá hại trên cây bông vải, chúng phá hại nặng khi gặp điều kiện thời tiết khô hanh Ở vùng trồng cây bông vải miền Nam chúng xuất hiện cả 2 vụ: vụ khô phát sinh giữa tháng 1, phát triển mạnh cuối tháng 4, đầu tháng 5 Vụ mưa xuất hiện vào giữa tháng 8, rộ nhất vào tháng 9 và tháng 11
Theo Trần Khắc Thi và Trần Ngọc Hùng (2005), Nguyễn Mạnh Chinh và Phạm Anh
Cường (2007), đậu bắp hay mướp tây (Abelmoschus esculentus L.) thuộc họ bông vải
(Malvaceae) có nguồn gốc ở Ấn Độ, hiện được trồng ở nhiều nước nhiệt đới châu Á
và ở nước ta
Theo Mai Văn Quyền (1995), cho rằng cây đậu bắp có nguồn gốc Á Châu Vào thế kỷ thứ 12, nó đã xuất hiện ở Ai Cập Hiện nay, loại cây này được trồng ở các nước như Nhật Bản, Trung Quốc, Triều Tiên, Philippin
Cây thân thảo mọc đứng cao tới 2,5 m, có nhiều lông Lá hình tim hay hình chân vịt, mép có răng lớn, ráp, có lông dài Hoa mọc ở nách lá, màu đỏ, trông giống hoa bông Quả nang dài hay dựng đứng cỡ 3,5 cm, có màu lục sáng, có mặt cắt hình thoi Đậu bắp có nguồn gốc từ Bắc Phi, được trồng ở nhiều nơi trong nước ta, nhất là ở các tỉnh phía Nam để lấy quả xanh ăn như các loại đậu, dùng quả xào, luộc, làm nước chấm, nấu canh chua với cá, lươn, làm dậy mùi thịt, cá Cũng có thể nướng chín trong tro nóng hoặc ăn sống như dưa chuột Quả non phơi khô, bảo quản để ăn dần Có tác giả cho biết 62 g đậu bắp trong đó chứa 1,3 g protein và 4,8 g glucid sẽ cung cấp cho
cơ thể 25 calo
Người ta đã biết trong quả chứa 4-16% hydrat carbon gồm chủ yếu là tinh bột và đường, palmitin và stearin Hạt chứa 15-26% chất dầu lỏng màu vàng xanh có mùi dễ chịu, dùng ăn được, có tính hoạt nhuận
Quả chứa chất nhầy khi tan ra làm cho thức ăn đặc và có vị chua mát Lá non cũng dùng luộc hay xào ăn
Tất cả các bộ phận của cây đều dùng làm thuốc giảm đau và làm dịu trong các loại bệnh như lậu, bí tiểu tiện và bạch đới Còn dùng làm thuốc nhuận tràng Rễ và lá thái mỏng phơi khô dùng làm thuốc chữa ho, viêm họng Ngày dùng 12-16 g hằm hoặc sắc uống, còn dùng súc miệng
Trang 19Cây đậu bắp xanh của Nhật có thời gian sinh trưởng như đậu bắp cao sản của địa phương (từ 70-80 ngày), thời gian thu hoạch rộ từ 50 – 60 ngày, năng suất gấp 2 lần đậu bắp trắng thuần của địa phương Năng suất đậu bắp xanh của Nhật từ 15 – 18 tấn/ha, trong khi đậu bắp trắng chỉ đạt tối đa 10 tấn/ha (Huỳnh Thị Mị, 2010)
2.1.2 Kỹ thuật trồng đậu bắp Nhật
Lên liếp xới đất thật kỹ, tỉa cành, hàng cách hàng 1 mét, cây cách cây 0,4 mét, mật độ
3 hạt/lỗ, từ 10.000 đến 10.500 cây cho 1.000 m2; lượng phân bón gồm: 100 kg vôi bột/1.000 m2, phân hữu cơ vi sinh Sài Gòn 100 kg, urê 5 kg, DAP 4 kg, NPK 8 kg chia thành 3 đợt bón, riêng vôi bột và phân hữu cơ vi sinh được bón lót trước khi gieo hạt Cũng với phương thức canh tác là làm đất kỹ, bón lót, xử lý cỏ trước khi gieo sạ thì cây đậu bắp xanh tiết kiệm được 80% thuốc bảo vệ thực vật, nhất là thời kỳ bước vào thu hoạch thì cắt ngày không sử dụng một loại thuốc trừ sâu nào cả (Huỳnh Thị Mị, 2010)
2.1.3 Đặc điểm một số loại thuốc sử dụng trong thí nghiệm
2.1.3.1 Acplant 20WG của Cty TNHH hóa sinh Á Châu
Tên thương mại: Acplant 20WG
Hoạt chất: Emamectin benzoate
Đặc điểm: Emamectin benzoate là hỗn hợp của 2 hoạt chất Avermectin B1a (90%)
B1b (10%) Như vậy là về thành phần hoạt chất giống như Abamectin, điểm khác nhau
là ở Emamectin benzoate tỉ lệ Avermectin B1a cao hơn (chiếm 90%) còn ở Abamectin thấp hơn (chỉ 80%), còn tỉ lệ Avermectin thì thấp hơn (chiếm 10%) còn ở Abamectin thì cao hơn (chiếm 20%) Thuốc được sản xuất từ dịch phân lập qua lên men nấm
Streptomyces avermitilis Nguyên chất dạng bột rắn, màu vàng nhạt, điểm nóng chảy
150 – 155 0C, tan ít trong nước (0,01 mg/l), tan nhiều trong dung môi hữu cơ
Nhóm độc II, LD50 qua miệng 300 mg/kg, LD50 qua da > 1800 mg/kg, dễ kích thích da
và mắt, tương đối với cá, ít độc với ong Mau phân huỷ trong môi trường TGCL 5 –
7 ngày
Công dụng: Thuốc trừ sâu và nhện tiếp xúc, vị độc Phổ tác dụng tương đối rộng Tuy
vậy ở dạng B1a có gốc C2H5, hiệu lực trừ sâu mạnh hơn so với dạng B1b có gốc CH3 Emamectin benzoate do có hàm lượng dạng B1a cao hơn Abamectin nên hiệu lực trừ sâu mạnh hơn, lượng hoạt chất sử dụng ít hơn
Trang 208
Hướng dẫn sử dụng: Liều lượng: 100g/l/1000m2 Phòng trừ nhiều loại sâu miệng nhai
ăn lá, đục quả, sâu chích hút và nhện cho nhiều loại cây trồng như lúa, rau, dưa, đậu, cây ăn quả, cây công nghiệp và cây hoa cảnh (Nguyễn Mạnh Chinh, 2010)
2.1.3.2 Apolo 25WP của Cty TNHH thương mại Thái Nông
Tên thương mại: Apolo 25WP
Hoạt chất: Buprofezin thuộc nhóm điều tiết sinh trưởng côn trùng
Đặc điểm: Thuốc nguyên chất ở dạng tinh thể, điểm nóng chảy 104,50C áp suất hơi 9,4 x 10-6 mmHg (250C) Rất ít tan trong nước (0,9 mg/l ở 250C), tan trong nhiều dung môi hữu cơ như acetone (240 g/l), benzene (370 g/l), toluene (320 g/l), ethanol (80 g/l) Tương đối bền trong acid và kiềm Không cháy.
Nhóm độc IV, LD50 qua miệng 2198 – 2355 mg/kg, LD50 qua da>5000 mg/kg TGCL 7 ngày Ít độc với cá, ong và các loài thiên địch
Công dụng: Tác động tiếp xúc Phổ tác dụng tương đối hẹp, chủ yếu với côn trùng bộ
cánh đều và nửa cánh, ít tác động với các côn trùng bộ khác
Là thuốc ĐTSTCT, chủ yếu ức chế sự tạo thành chất kitin ở da côn trùng, làm ấu trùng không lột xác được mà chết Thuốc không diệt được côn trùng trưởng thành nhưng làm hạn chế sự hình thành trứng và trứng đẻ ra không nở được
Hiệu lực của thuốc thể hiện chậm (sau 2 – 3 ngày khi ấu trùng lột xác mới chết) nhưng thời gian hiệu lực có thể kéo đai trên 20 ngày
Hướng dẫn sử dụng: Applaud 10WP trừ rầy nâu, rầy xanh cho lúa dùng 0,7 – 1,0 kg/ha
pha với 400 – 600 lít nước (nồng độ 0,15 – 0,25%) Dùng cho chè, cây ăn quả, pha nước với nồng độ 0,2% phun ướt đều lên tán lá
Nên phun thuốc khi sâu non mới nở, còn nhỏ
Khả năng hỗn hợp: để hiệu lực trừ sâu rầy nhanh hơn, thường hỗn hợp với Isoprocarb
(Applaud Mipe) hoặc Fenobucarb (Applaud Bas) Có thể pha chung với nhiều loại thuốc trừ sâu khác (Nguyễn Mạnh Chinh, 2010)
2.1.3.3 Muskardin của C.ty Cổ phần TST Cần Thơ
Tên thương mại: Muskardin
Hoạt chất: có chứa vi sinh vật Beauveria basiana (Balsamo)
Đặc điểm: Là một loại nấm ký sinh trên sâu hại B basiana được phân lập đầu tiên từ sâu đục thân ngô (Ostrina nubilalis) bị nhiễm nấm Hiện nay đã sản xuất qua công
nghệ sinh học, gồm có các chủng Bb 147, ATCC 74040, GHA Chất hữu hiệu của chế phẩm là bào tử nấm với mật độ tối thiểu 5 x 108 bào tử/gam (Nguyễn Mạnh Chinh, 2010)