1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá nguồn lực cộng đồng trong quá trình xây dựng nông thôn mới tại huyện thoại sơn tỉnh an giang

128 21 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 128
Dung lượng 2,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hiện tại, quá trình xây dựng nông thôn mới đã huy động được nguồn lực tài chính cùng với ý kiến đóng góp và sự tham gia giám sát của người dân nhưng các nguồn lực này vẫn chưa thật sự đư

Trang 1

i

TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN

VĂN

-oOo -

BÁO CÁO TỔNG KẾT NHIỆM VỤ KHCN CƠ SỞ

ĐÁNH GIÁ NGUỒN LỰC CỘNG ĐỒNG TRONG QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TẠI HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH

AN GIANG

LÊ XUÂN GIỚI

Trang 2

AN GIANG, 10/2018 TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-oOo -

BÁO CÁO TỔNG KẾT NHIỆM VỤ KHCN CƠ SỞ

ĐÁNH GIÁ NGUỒN LỰC CỘNG ĐỒNG TRONG QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TẠI HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH

Lê Xuân Giới

CƠ QUAN QUẢN LÝ

Trang 3

iii

Trang 4

DANH SÁCH THÀNH VIÊN THAM GIA

Chủ nhiệm đề tài: CN LÊ XUÂN GIỚI

Chuyên ngành: Công tác xã hội và Phát triển cộng đồng Cán bộ phối hợp:

1/ Th.S Trần Xuân Long

Chuyên ngành: Biến đổi khí hậu

2/ CN Phan Thanh Tùng

Chuyên ngành: Nông học

Trang 5

v

Đề tài nghiên cứu khoa học “Đánh giá nguồn lực cộng đồng trong quá trình xây dựng nông thôn mới tại huyện Thoại Sơn tỉnh An Giang”

do tác giả Lê Xuân Giới, công tác tại Trung tâm Nghiên cứu Khoa học

xã hội và Nhân văn thực hiện Tác giả đã báo cáo kết quả nghiên cứu và được Hội đồng Khoa học và Đào tạo Trường Đại học An Giang thông qua ngày 15/11/2018

Trang 6

LỜI CẢM TẠ

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Sở Khoa học & Công nghệ tỉnh An Giang, Ban Giám hiệu Trường Đại học An Giang, Ban Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Khoa học Xã hội và Nhân văn đã tạo điều kiện cho tôi thực hiện đề tài này

Xin chân thành cám ơn Ban chỉ đạo chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới tỉnh An Giang, Ban chỉ đạo chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới Huyện Thoại Sơn, Ủy ban nhân dân xã Bình Thành và Ủy ban nhân dân xã Thoại Giang cùng cán

bộ, nhân dân xã Bình Thành và Thoại Giang đã hỗ trợ chúng tôi trong việc khảo sát thực địa và cung cấp những tư liệu hữu ích giúp cho chúng tôi hoàn thành nhiệm vụ Đồng thời, qua đây chúng tôi cũng xin gửi lời cám ơn chân thành tới các đồng nghiệp đã gợi ý giá trị trong suốt quá trình soạn thảo và hoàn chỉnh báo cáo

Chủ nhiệm nhiệm vụ

Lê Xuân Giới

Trang 7

vii

TÓM TẮT

Nghiên cứu thực hiện phân tích mức độ tham gia và xác định nguồn lực cộng đồng trong quá trình XD NTM tại huyện Thoại Sơn Kết quả xử lý số liệu nghiên cứu từ 480 phiếu điều tra; 12 cuộc thảo luận nhóm và 12 phỏng vấn sâu cho thấy chỉ có 50,4% người dân biết về chương trình XD NTM; 3 nội dung có tỷ lệ người dân tham gia nhiều nhất là: (1) tham gia bảo vệ môi trường (36,4%); (2) tham gia quyết định mức độ đóng góp (24,1%) và (3) tham gia thảo luận các mô hình sản xuất (14,4%) Trong đó, người dân chủ yếu được tham gia ở 4 mức độ: được mời họp và thông báo về những gì sắp được thực hiện (18,9% người); đóng góp thông tin, vật chất, nhân công (22,7% người); được tham gia thảo luận, bàn bạc (21,8% người); và được tham gia tổ chức, thực hiện (30,6% người) Riêng về nguồn lực cộng đồng, huyện Thoại Sơn có ưu thế về nguồn lao động (chiếm khoảng 74,2%) và nguồn lực tự nhiên (đất đai màu mỡ, phù sa; có khí hậu nhiệt đới; có tài nguyên nước phong phú; có di tích văn hóa, thắng cảnh, có khoáng sản) Đặc biệt là người dân có niềm tự hào dân tộc, có truyền thống “lá lành đùm lá rách” (93,5% người được hỏi sẵn lòng giúp đỡ những người xung quanh) Tuy nhiên, chỉ có 5,7% người dân tham gia vào các hội đoàn thể, chính trị tại địa phương; cơ sở hạ tầng đang trên đà hoàn thiện, cần nhiều thời gian

và tài chính, trong khi lao động trẻ có xu hướng tìm kiếm việc làm tại các thành phố lớn (17,8%); nguồn thu nhập của các hộ gia đình vẫn chủ yếu từ nông nghiệp, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản (chiếm tỷ lệ 34,9%), còn các hoạt động dịch vụ, du lịch, tiểu thủ công nghiệp (phi nông nghiệp) mới được quan tâm và chuyển dịch (chỉ chiếm15,2%) Hiện tại, quá trình xây dựng nông thôn mới đã huy động được nguồn lực tài chính cùng với ý kiến đóng góp và sự tham gia giám sát của người dân nhưng các nguồn lực này vẫn chưa thật sự được chính người dân trong cộng đồng xác định và khai thác, nhất là nguồn lực xã hội, nguồn lực con người Vì vậy, để khai thác, huy động nguồn lực cộng đồng, tăng cường

sự tham gia và vai trò chủ thể của người dân, nghiên cứu đề xuất hai nhóm giải pháp chính, trong đó trọng tâm là điều chỉnh phương pháp thực hiện (ABCD) và nâng cao ý thức trách nhiệm của cộng đồng, tạo môi trường thuận lợi cho sự tham gia

Từ khóa: nguồn lực, sự tham gia, Thoại Sơn

Trang 8

is mainly from agriculture, animal husbandry, aquaculture (34.9%), service activities, tourism, handicraft (non-agricultural) ) were interested and moved (accounted for only 15.2%) At present, the process of building new rural areas has mobilized financial resources together with comments and participatory monitoring of the people, but community assets has been not assessed precisely and mobilized effectively In order

to exploitation, mobilization of community resources, increase participation and role of the people, the study hads proposed two main solutions groups, in which the focus is to adjust the implementation method of the process of constructing the new rural model (ABCD tools) and raise the responsibility of the community, creating a advantages environment for participation

Keywords: resources, participation, Thoai Son

Trang 9

ix

LỜI CAM KẾT

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu trong công trình nghiên cứu này có xuất xứ rõ ràng Những kết luận mới về khoa học của công trình nghiên cứu này chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác

An Giang, ngày 10 tháng 10 năm 2018

Người thực hiện

Lê Xuân Giới

Trang 10

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

THCS Trung học cơ sở

THPT Trung học phổ thông

XD Xây dựng

NTM Nông thôn mới

ABCD Phát triển cộng đồng dựa vào nguồn lực

(Assets Based for Community Development) PRA Đánh gia nông thôn có sự tham gia

CĐ Cộng đồng

KTXH Kinh tế xã hội

AI Phỏng vấn tích cực

Trang 11

xi

MỤC LỤC

Trang

CHƯƠNG 1 MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.2.1 Mục tiêu chung 2

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2

1.3 Nội dung nghiên cứu 2

1.4 Thời gian thực hiện 3

CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4

2.1 Những khái niệm cơ bản 4

2.1.1 Nguồn lực/ tài sản 4

2.1.2 Cộng đồng 5

2.1.3 Chương trình xây dựng NTM 6

2.2 Phương pháp phát triển cộng đồng dựa vào nguồn lực/tài sản (ABCD) 8

2.2.1 Nguyên tắc phát triển cộng đồng dựa vào nguồn lực 8

2.2.2 Tiến trình và các công cụ phát triển CĐ dựa vào nguồn lực 9

2.2.3 Nội dung và hình thức tham gia trong phát triển cộng đồng dựa vào nguồn lực (ABCD) 9

2.2.4 Lợi ích của việc ứng dụng phương pháp PTCĐ vào xây dựng nông thôn mới 11

2.3 Tổng quan nghiên cứu 12

2.3.1 Tình hình nghiên cứu về đánh giá nguồn lực ở một số quốc gia 12

2.3.2 Tình hình nghiên cứu về đánh giá nguồn lực ở Việt Nam 14

2.3.3 Tình hình triển khai, thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới và nghiên cứu về đánh giá nguồn lực ở Tỉnh An Giang 16

Trang 12

2.4 Luận giải về việc đặt ra mục tiêu và những nội dung cần nghiên

cứu của nhiệm vụ 18

2.5 Khung phân tích 19

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21

3.1 Cách tiếp cận vấn đề nghiên cứu 21

3.1.1 Cách tiếp cận dựa vào nguồn lực/tài sản 21

3.1.2 Cách tiếp cận dựa trên sự tham gia 21

3.2 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 21

3.2.1 Đối tượng nghiên cứu 21

3.2.2 Khách thể nghiên cứu 21

3.3 Địa bàn nghiên cứu 21

3.4 Phương pháp nghiên cứu 22

3.4.1 Phương pháp phân tích tài liệu 22

3.4.2 Phương pháp làm việc nhóm 23

3.4.3 Phương pháp phỏng vấn sâu 23

3.4.4 Phương pháp quan sát 23

3.4.5 Phương pháp điều tra, khảo sát bằng bảng hỏi 24

3.5 Xử lý và phân tích số liệu 25

3.5.1 Xử lý dữ liệu 25

3.5.2 Phân tích dữ liệu 25

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 26

4.1 Sự tham gia của cộng đồng trong thực hiện chương trình nông thôn mới 26

4.1.1 Sự hiểu biết của người dân về chương trình nông thôn mới 26

4.1.2 Mức độ tham gia của cộng đồng trong thực hiện xây dựng NTM 28

4.1.3 Đánh giá của người dân về tác động của chương trình XD NTM 36

Trang 13

xiii

4.2 Thực trạng nguồn lực của cộng đồng 37

4.2.1 Nguồn lực tài nguyên thiên nhiên 37

4.2.2 Nguồn lực con người/ nguồn nhân lực 39

4.2.3 Nguồn lực xã hội 49

4.2.4 Nguồn lực tài chính 56

4.2.5 Nguồn lực cơ sở vật chất 60

4.3 Kết quả huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới tại huyện Thoại Sơn tỉnh An Giang 71

4.3.1 Kết quả huy động nguồn vốn tài chính 72

4.3.2 Kết quả huy động nguồn nhân lực và vốn xã hội 74

4.4 Giải pháp huy động nguồn lực cộng đồng trong xây dựng nông thôn mới 75

4.4.1 Nhóm giải pháp khai thác và huy động nguồn lực trong dân 75

4.4.2 Nhóm giải pháp tăng cường sự tham gia 78

CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 81

1 Kết luận 81

2 Kiến nghị 82

2.1 Đối với Ban chỉ đạo chương trình mục tiêu quốc gia XD NTM 82

2.2 Đối với UBND và các hội đoàn thể xã 83

3 Phương án ứng dụng kết quả 83

TÀI LIỆU THAM KHẢO 83

PHỤ LỤC 85

Phụ lục 1 Phiếu khảo sát hộ

Phụ lục 2 Phỏng vấn sâu cán bộ

Phụ lục 3 Phỏng vấn sâu người dân

Phụ lục 4 Thảo luận nhóm xây dựng bản đồ cộng đồng

Phụ lục 5 Thảo luận nhóm tìm hiểu về nguồn lực xã hội

Trang 14

Phụ lục 6 Thảo luận nhóm tìm hiểu về nguồn lực con người Phụ lục 7 Thảo luận nhóm tìm hiểu nguồn lực tài chính Phụ lục 8 Thảo luận nhóm về việc liên kết và huy động nguồn lực Phụ lục 9 Quyết định về việc ban hành bộ tiêu chí xã nông thôn mới tỉnh

AG giai đoạn 2016 -2020

Trang 15

4 Bảng 4 Sự tham gia của người dân vào các nội dung

xây dựng nông thôn mới 29

5 Bảng 5 Mức độ tham gia của người dân vào các nội

dung xây dựng nông thôn mới 30

6 Bảng 6 Mức độ tham gia của người dân theo từng nội

7 Bảng 7 Tổng hợp nội dung mà người dân được tham

gia trong chương trình xây dựng NTM giữa hai xã

nghiên cứu

35

8 Bảng 8 Mức độ tham gia vào các hoạt động trong

chương trình XD NTM giữa hai xã nghiên cứu 36

9 Bảng 9 Thông tin chung về nhân khẩu 40

10 Bảng 10 Số nhân khẩu trong hộ gia đình 42

11 Bảng 11 Số lao động chính từ 15 – 65 tuổi trong hộ gia

12 Bảng 12: Mức độ kiểm tra sức khỏe định kỳ của người

trả lời và người thân 43

13 Bảng 13 Sự yêu thích công việc 44

14 Bảng 14 Những khả năng của người dân ngoài công

15 Bảng 15 Bảng tổng hợp nguồn tài sản con người tại địa

16 Bảng 16 Mức độ kiểm tra sức khỏe định kỳ của người

trả lời và người thân tại xã Thoại Giang và xã Bình

Thành

44

17 Bảng 17 Việc làm chính của người trả lời tại xã Thoại

Giang và xã Bình Thành 48

Trang 16

18 Bảng 18 Tình trạng việc làm của người dân tại xã

Thoại Giang và xã Bình Thành 48

19 Bảng 19 Tình hình vận dụng kỹ năng, kiến thức trong

xây dựng NTM ở xã Thoại Giang và xã Bình Thành 49

20 Bảng 20 Mức độ nhận được sự hỗ trợ từ các tổ chức,

hội đoàn, nhóm ở địa phương 53

21 Bảng 21 Sự tham gia của người dân vào mạng lưới xã

hội tại xã Thoại Giang và xã Bình Thành 54

26 Bảng 26 Tình trạng cuộc sống và tài sản của hộ 64

27 Bảng 27 Tiện nghi sinh hoạt của hộ 66

28 Bảng 28 Tình trạng cuộc sống và tài sản của hộ tại xã

Thoại Giang và xã Bình Thành 67

29 Bảng 29 Tiện nghi sinh hoạt của hộ ở xã Thoại Giang

và xã Bình Thành 68

30 Bảng 30 Bảng tổng hợp điểm mạnh, điểm yếu của các

nguồn lực tại địa bàn khảo sát 69

31 Bảng 31 Kết quả huy động nguồn lực xây dựng NTM

tỉnh An Giang (2016 -2018) 72

32 Bảng 32 Kết quả huy động nguồn lực xây dựng NTM

huyện Thoại Sơn năm 2017 73

33 Bảng 33 Tình hình vận dụng kỹ năng, kiến thức trong

Trang 17

xvii

DANH SÁCH HÌNH

1 Hình 1 Tỷ lệ người dân biết về chương trình xây dựng

2 Hình 2: Sức khỏe hiện nay của người trả lời 43

3 Hình 3 Việc làm chính của người trả lời 44

4 Hình 4 Tình trạng việc làm trong 1 năm qua 45

5 Hình 5 Mối quan hệ của cộng đồng với các cơ quan,

hội đoàn và tổ chức xã hội trong quá trình xây dựng

6 Hình 6 Sự tham gia của người dân vào các cơ quan, tổ

chức xã hội tại địa phương 51

7 Hình 7: Sơ đồ kinh tế xã Bình Thành 57

8 Hình 8 Sơ đồ kinh tế xã Thoại Giang 57

9 Hình 9 Các nguồn thu nhập của hộ 58

10 Hình 10 Các khoản chi của hộ 59

11 Hình 11 Tài sản cơ sở vật chất xã Bình Thành 62

12 Hình 12 Tài sản cơ sở vật chất xã Thoại Giang 63

Trang 18

CHƯƠNG 1

MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề

An Giang đã đạt được nhiều thành tựu nổi bật sau 7 năm thực hiện (2010 – 2017) chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới Tính đến tháng

11 năm 2017, An Giang có 32/119 xã, chiếm tỷ lệ 26,89% đạt 19/19 tiêu chí và được công nhận xã nông thôn mới, các xã còn lại đạt từ 6 tiêu chí trở lên (Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang, 11/2017) Riêng huyện Thoại Sơn được Ban thường vụ tỉnh ủy An Giang chọn để xây dựng huyện NTM giai đoạn 2016 –

2020 (Nguyễn Rạng, 2017) Tính đến năm 2017, bình quân toàn huyện đạt 16,57 tiêu chí và 45,93 chỉ tiêu, xã đạt thấp nhất là 14 tiêu chí Có 6 xã đạt chuẩn nông thôn mới, gồm: Vĩnh Phú, Vĩnh Trạch, Thoại Giang, Định Thành, Định Mỹ, Vĩnh Khánh Kết quả thực hiện các tiêu chí huyện nông thôn mới, theo quyết định số 558/QĐ-TTg, ngày 05/4/2016 của Thủ tướng Chính phủ, đến nay huyện đạt 05/09 tiêu chí, 7/14 chỉ tiêu Tổng nguồn vốn huy động thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới năm 2017 là hơn 275 tỉ đồng (Kim Cương - Anh Thư, 1/2018). Tính đến hết tháng 9 năm 2018, bình quân toàn huyện Thoại Sơn đạt 18.64 tiêu chí và 48,50 chỉ tiêu, có thêm 5 xã đạt chuẩn, nâng tổng số xã đạt nông thôn mới của huyện lên 11/14 xã Đối với kết quả xây dựng huyện nông thôn mới, huyện đạt 6/9 tiêu chí, 9/14 chỉ tiêu; các tiêu chí chưa đạt gồm: quy hoạch; giao thông; y tế, văn hóa, giáo dục (Thanh Cần, 10/2018)

Tuy nhiên, xét trên mặt bằng chung thì phần lớn các tiêu chí nông thôn mới cần vốn đạt thấp như trường học (chỉ có 21 xã đạt), môi trường (30 xã), y tế (33 xã), cơ sở vật chất văn hóa (48 xã), giao thông (52 xã) Tỷ lệ tham gia đóng góp của người dân và nguồn lực xã hội hóa từ doanh nghiệp thấp Các tiêu chí không cần vốn như thu nhập, hộ nghèo, bảo hiểm xã hội, an ninh trật tự đã đạt nhưng chưa ổn định và bền vững Nguồn nhân lực chuyên trách thực hiện chương trình không có, hầu hết là kiêm nhiệm (Phạm Thái Bình, 1/2018) Điều này đặt ra cho tỉnh An Giang, huyện Thoại Sơn phải có những bước đi và cách tiếp cận phù hợp

Trên thực tế, việc triển khai xây dựng nông thôn mới ở nhiều xã là một thử thách khi nhiều chương trình hiện nay vẫn được thực hiện theo cách tiếp cận từ trên xuống Những hoạt động này đã khiến cho vai trò chủ thể của người dân

Trang 19

chưa được phát huy một cách tích cực Đồng thời, các nguồn lực của cộng đồng được huy động chủ yếu là nguồn vốn đóng góp về mặt tài chính và vật chất, các nguồn lực khác như tài năng, năng lực của cá nhân, và mối quan hệ xã hội của cộng đồng chưa thật sự được phát huy Trong khi đó, nguồn nội lực và mối quan

hệ của cộng đồng là sức mạnh vô cùng quan trọng, ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự thành công của quá trình xây dựng nông thôn mới Xuất phát từ thực tiễn trên, việc nghiên cứu đánh giá nguồn lực của cộng đồng trong quá trình xây dựng nông thôn mới tại huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang là việc làm cần thiết nhằm đóng góp và thúc đẩy quá trình thực hiện xây dựng nông thôn mới trong giai đoạn 2018 – 2020 Đồng thời, kết quả của nghiên cứu còn là cơ sở khoa học để các đơn vị liên quan phát huy sự tham gia của người dân, huy động nguồn lực của cộng đồng

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

1.2.1 Mục tiêu chung

Nghiên cứu nhằm phân tích thực trạng nguồn lực của cộng đồng và sự tham gia của họ trong quá trình xây dựng nông thôn mới Qua đó, làm cơ sở cho những giải pháp huy động nguồn lực của cộng đồng vào quá trình xây dựng nông thôn mới

development: phát triển cộng đồng dựa vào nguồn lực/tài sản)

1.3 Nội dung nghiên cứu

Nội dung 1: Khái quát cơ sở lý luận về chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới; tổng quan tình hình nghiên cứu; khái niệm cộng đồng, khái niệm nguồn lực, phương pháp ABCD và vai trò của phương pháp ABCB Thực hiện viết chuyên đề 1: Cơ sở lý luận về phương pháp ABCB

Nội dung 2: Khảo sát và mô tả mức độ tham gia của người dân vào hoạt động xây dựng nông thôn mới Các mức độ tham gia được xem xét ở 6 mức độ

Trang 20

theo thang bậc tham gia của ABCD Đồng thời nghiên cứu cũng tiến hành tìm hiểu sơ lược các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia của người dân vào xây dựng nông thôn mới

Nội dung 3: Xác định 5 nguồn lực: nguồn lực con người; nguồn lực xã hội; nguồn lực tài chính; nguồn lực tài nguyên thiên nhiên và nguồn lực cơ sở vật chất (cơ sở hạ tầng) tại địa bàn nghiên cứu

Nội dung 4: Đưa ra các giải pháp về huy động nguồn lực của cộng đồng nhằm thúc đẩy quá trình xây dựng nông thôn mới Thực hiện viết chuyên đề: Giải pháp huy động nguồn lực cộng đồng

1.4 Thời gian thực hiện

Nghiên cứu được thực hiện trong khoảng thời gian 15 tháng, từ tháng 8/2017 đến tháng 10/2018 (kể cả thời gian Sở KH&CN tỉnh An Giang đồng ý cho gia hạn)

Trang 21

CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2.1 Những khái niệm cơ bản

2.1.1 Nguồn lực/ tài sản

Nguồn lực có cùng nghĩa với tài sản, theo đó nguồn lực/tài sản là tất cả những gì mà cộng đồng có thể sử dụng được để phát triển cộng đồng của mình, làm cho nó năng suất hơn (Nguyễn Đức Vinh, Đinh Thị Vinh, 2012) Theo quan điểm hệ thống, “Nguồn lực là tất cả những yếu tố và phương tiện mà hệ thống

có quyền chi phối, điều khiển, sử dụng để thực hiện mục tiêu của mình” (dẫn theo Lê Thị Quỳnh Mai, 2015) Nguồn lực còn được coi là tổng thể vị trí địa lý, các nguồn tài nguyên thiên nhiên, hệ thống tài sản quốc gia, nguồn nhân lực, đường lối chính sách, vốn …, có vai trò quan trọng đến sự phát triển kinh tế xã hội của từng khu vực, từng quốc gia, từng địa phương nhất định (Võ Văn Sen & cộng sự, 2014) Và tổng thể các điều kiện tự nhiên, văn hóa, con người, kinh tế,

xã hội, chính sách, thông tin để cộng đồng sinh tồn và hướng tới phát triển ổn định và bền vững cũng được hiểu là sinh kế bền vững (Nguyễn Văn Sửu, 2015) Nguồn lực được chia làm nhiều loại, tùy vào mục đích nghiên cứu có hai cách chia nguồn lực: (1) Nguồn lực vật chất và nguồn lực tinh thần; (2) nguồn lực trong nước và nguồn lực ngoài nước (Ngô Doãn Vĩnh, 2009) Tuy nhiên theo cách tiếp cận phát triển cộng đồng dựa vào nguồn lực (ABCD), nguồn lực được phân loại thành 5 nhóm: các cá nhân, các tổ chức địa phương, cơ quan chính quyền, nguồn lực vật chất và nền kinh tế địa phương (Trần Thị Kim Xuyên, 2010) Hoặc được chia thành 6 loại tài sản: vốn con người, vốn tự nhiên, vốn vật chất, vốn tài chính, vốn xã hội và vốn văn hóa (Nguyễn Đức Vinh, Đinh Thị Vinh, 2012) Trong khung sinh kế bền vững, các nguồn lực chính là thành tố hợp thành sinh kế của con người: vốn vật chất, vốn tài chính, vốn xã hội, vốn con người và vốn tự nhiên (Ngô Thị Phương Lan, 2017)

Như vậy, nguồn lực có chung nghĩa với các thuật ngữ tài sản, nội lực và sinh kế bền vững

Trong nghiên cứu này, nguồn lực được hiểu là tổng thể những tiềm năng, tài sản mà cộng đồng đang sở hữu Nguồn lực bao gồm 5 loại chính: nguồn lực con người, nguồn lực tài nguyên thiên nhiên, nguồn lực xã hội, nguồn lực tài chính/kinh tế và nguồn lực cơ sở vật chất Trong đó:

Trang 22

Nguồn lực con người là những kiến thức, kỹ năng, trình độ, sức khỏe của con người để tạo ra những giá trị Nguồn lực con người chỉ thực sự trở thành vốn nếu như được sử dụng để đầu tư đem lại các lợi ích

Nguồn lực tài nguyên thiên nhiên là tài sản tự nhiên của cộng đồng, địa phương, bao gồm: đất, khí hậu, nguồn nước, kênh rạch, khoáng sản, cảnh quan Nguồn lực xã hội là mối quan hệ xã hội giữa người dân/cộng đồng với tổ chức địa phương, mối quan hệ giữa người dân với nhau và với những tổ chức hỗ trợ họ (tổ chức phi chính thống) Đây là nguồn vốn có vai trò quan trọng trong phát triển cộng đồng

Nguồn lực kinh tế/tài chính là các nguồn thu, chi; tài sản của cá nhân, cộng đồng, doanh nghiệp, cơ sở sản xuất trong cộng đồng

Nguồn lực cơ sở vật chất là những cơ sở vật chất của cộng đồng như các công trình phúc lợi công cộng, thông tin liên lạc

2.1.2 Cộng đồng

Cộng đồng gồm những người có đặc điểm hoặc mối quan tâm, lợi ích chung (Nguyễn Đức Vinh, Đinh Thị Vinh, 2012) Cộng đồng là một nhóm người có cùng những đặc điểm chung hoặc sống cùng nhau trong một khu vực địa lý và sử dụng tài nguyên vốn có để đạt mục đích chung Còn nguồn lực cộng đồng là tất cả các nguồn lực thực tế trong cộng đồng giúp người dân tạo dựng cuộc sống của chính họ, bao gồm: nguồn tài nguyên thiên nhiên, nguồn tài sản vật chất, nguồn tài sản về con người, nguồn tài sản xã hội và nguồn vốn tài chính (dẫn theo Lê Thị Quỳnh Mai, 2015)

Cộng đồng còn được hiểu là “nhóm người sống trong phạm vi thôn, bản, các xã, phường của khu vực nông thôn và thành thị, đặc biệt là các vùng nông thôn vùng sâu, vùng xa Cộng đồng có những điểm giống nhau, có chung các mối quan hệ nhất định và cùng chịu ảnh hưởng bởi một số yếu tố tác động và là đối tượng cần được quan tâm trong sự phát triển kinh tế - xã hội hiện nay” (Ngô Văn An & Lê Tùng Đức, 2016) Cộng đồng được xem là tập hợp người có sức bền cố kết nội tại cao, với những tiêu chí nhận biết và quy tắc hoạt động, ứng xử chung dựa trên sự đồng thuận về ý chí, tình cảm, niềm tin và ý thức cộng đồng, nhờ đó các thành viên của cộng đồng cảm thấy có sự gắn kết họ với cộng đồng

và với các thành viên khác của cộng đồng, cộng đồng được phân chia thành các hình thức cộng đồng khác nhau (Phạm Hồng Tung, 2009)

Với từng mục đích, đối tượng nghiên cứu, cộng đồng được hiểu theo nhiều

Trang 23

sau: đơn vị hành chính, lãnh thổ, sự liên hệ lẫn nhau, chia sẻ nền tảng chung (văn hóa, tôn giáo, chủng tộc…) chia sẻ mối quan tâm chung về những vấn đề

cụ thể (nghèo đói, phát triển, ô nhiễm …) và cùng có nghĩa vụ, trách nhiệm với nhau

Trong nghiên cứu này, cộng đồng được hiểu là những người đang sinh sống trong cùng một xã/huyện và có cùng một mục tiêu chung, đó là xây dựng nông thôn mới Đánh giá nguồn lực cộng đồng là việc sử dụng các công cụ, kỹ thuật để xác định, phân tích nguồn lực của cộng đồng và kết quả huy động nguồn lực vào quá trình xây dựng nông thôn mới tại địa phương Các công cụ,

kỹ thuật được áp dụng để đánh giá nguồn lực là những công cụ, kỹ thuật chủ yếu của phương pháp phát triển cộng đồng dựa vào nguồn lực (ABCD)

2.1.3 Chương trình xây dựng NTM

Chương trình xây dựng nông thôn mới là chương trình mang tính toàn diện và đầy đủ nhất nhằm giải quyết và phát triển bền vững khu vực nông thôn ở Việt Nam Điểm nổi bật nhất trong chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới đó là việc nhấn mạnh đến vai trò chủ thể và sự tham gia của người dân Nông thôn mới là nông thôn có hạ tầng kinh tế - xã hội văn minh hiện đại, sản xuất phát triển bền vững theo hướng kinh tế hàng hóa, dân trí, đời sống vật chất và tinh thần của người dân được nâng cao, an ninh được đảm bảo nhưng vẫn giữ được nét đẹp truyền thống của nông thôn Việt Nam (giá trị văn hóa, môi trường sinh thái) (Nghị quyết số 26 – NQ/TW ngày 5/8/2008 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X)

2.1.3.1 Mục tiêu xây dựng NTM

Theo quyết định số 1600/QĐ – TTg phê duyệt chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016 – 2020 (ban hành ngày 16/8/2016) thì xây dựng nông thôn mới để nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân; có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội phù hợp; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn phát triển nông nghiệp với công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị; xã hội nông thôn dân chủ, bình đẳng, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; quốc phòng và an ninh, trật tự được giữ vững Mục tiêu đến năm 2020 số xã đạt tiêu chuẩn nông thôn mới khoảng 50%, bình quân cả nước đạt 15 tiêu chí/xã, cơ bản hoàn thành các công trình thiết yếu đáp ứng yêu cầu phát triển sản xuất và đời sống của cư dân nông thôn

2.1.3.2 Tiêu chí đánh giá chương trình xây dựng NTM

Trang 24

Tiêu chí đánh giá chương trình xây dựng nông thôn mới được thực hiện theo bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới giai đoạn 2016 – 2020 (Quyết định số 1980/QĐ – TTg ban hành ngày 17/10/2016) Theo đó chương trình xây dựng nông thôn mới được đánh giá theo 5 nhóm tiêu chí (quy hoạch, hạ tầng kinh tế xã hội, kinh tế và tổ chức sản xuất, văn hóa – xã hội – môi trường, hệ thống chính trị) với 19 chỉ tiêu cụ thể

Phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng dân cư địa phương là chính;

Kế thừa và lồng ghép các chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình hỗ trợ có mục tiêu, các chương trình, dự án khác đang triển khai trên địa bàn nông thôn;

Xây dựng NTM phải gắn với kế hoạch phát triển KTXH của địa phương, có quy hoạch và cơ chế đảm bảo thực hiện các quy hoạch xây dựng NTM;

Công khai, minh bạch về quản lý, sử dụng các nguồn lực; tăng cường phân cấp, trao quyền cho cấp xã quản lý và tổ chức thực hiện các công trình, dự án; Xây dựng NTM là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội

2.1.3.4 Những nội dung thể hiện sự tham gia của CĐ trong xây dựng NTM

Trong chương trình xây dựng nông thôn mới, người dân được thể hiện vai trò chủ thể của mình thông qua việc tham gia vào các hoạt động chủ yếu sau: Tham gia ý kiến vào đề án xây dựng và đồ án quy hoạch;

Tham gia và lựa chọn những công việc gì cần làm trước và sau;

Quyết định mức độ đóng góp;

Trực tiếp tổ chức thi công hoặc tham gia thi công xây dựng;

Cử đại diện để tham gia quản lý và giám sát các công trình;

Tổ chức quản lý, vận hành và bảo dưỡng các công trình sau khi hoàn thành Mức độ tham gia của người dân vào các nội dung trên được thể hiện theo

Trang 25

đó người dân sẽ được thông báo về chương trình xây dựng nông thôn mới sắp được triển khai tại địa phương; được góp ý kiến vào đề án xây dựng và đồ án quy hoạch cũng như lập kế hoạch thực hiện chương trình; được tham gia đóng góp tiền, sức lao động, đất, gạo, chủ động tham gia sản xuất, sửa sang cảnh quan; và được tham gia hoặc cử đại diện tham gia quản lý, giám sát, vận hành và bảo dưỡng các công trình

2.2 Phương pháp phát triển cộng đồng dựa vào nguồn lực/tài sản (ABCD)

Phát triển cộng đồng dựa vào nguồn lực là một cách tiếp cận, một hệ thống các phương pháp huy động sức mạnh cộng đồng và như một chiến lược vì sự phát triển bền vững dựa vào cộng đồng Trong ABCD, cộng đồng là một mạng lưới có khả năng tự chủ và tự điều chỉnh Trong đó quyền cá nhân được giải phóng, các tổ chức địa phương đóng vai trò là môi trường thuận lợi để năng lực

cá nhân được định hình và đóng góp vào sự phát triển Và việc thiết lập ý thức, trách nhiệm, tự chủ cho mọi cá nhân trong từng cơ sở là nhiệm vụ mà ABCD hướng đến (Trần Thị Kim Xuyến, 2010) Phương pháp phát triển cộng đồng dựa vào nguồn lực bắt nguồn từ phương pháp đánh giá nhanh nông thôn (RRA), điều tra nông thôn có sự tham gia (PRA), học tập và hành động có sự tham gia (PLA)

và phỏng vấn tích cực (AI)

Theo các tài liệu về phát triển cộng đồng của Nguyễn Thị Oanh (1995); Tô Duy Hợp (2000); Trần Thị Kim Xuyến (2010); Nguyễn Đức Vinh, Đinh Thị Vinh (2012); Lê Văn An và cộng sự (2016) thì ABCD có nguyên tắc, tiến trình, công cụ, mức độ tham gia như sau:

2.2.1 Nguyên tắc phát triển cộng đồng dựa vào nguồn lực

Phát triển cộng đồng dựa vào nguồn lực có 5 nguyên tắc chính:

Thứ nhất là thông qua các phương pháp, ABCD khơi gợi và phát huy nguồn lực vốn có và sự thành công trong lịch sử phát triển để làm điểm khởi đầu cho

Trang 26

Thứ tư là tổ chức lại các nguồn lực để tạo sức mạnh tổng hợp nhằm hiện thực hóa các mong muốn thay đổi cũng như khuyến khích sự cam kết quyền công dân nhằm đảm bảo cho quá trình tiếp cận các dịch vụ, tài sản của cộng đồng và trách nhiệm giải trình của lãnh đạo địa phương

Cuối cùng, ABCD là một chiến lược cho sự điều hành cộng đồng bền vững Điều này có nghĩa là phải liên kết được tất cả các nguồn lực để phục vụ cho sự phát triển Và cộng đồng phải chủ động định hướng được các hoạt động phát triển trước khi tìm kiếm sự hỗ trợ bên ngoài Các tổ chức bên ngoài cộng đồng chỉ đóng vai trò định hướng và phát triển

2.2.2 Tiến trình và các công cụ phát triển CĐ dựa vào nguồn lực

Các nhà nghiên cứu và nhà phát triển cộng đồng thường chia tiến trình thực hiện phát triển cộng đồng dựa vào nguồn lực theo nhiều bước khác nhau Nhìn chung, tiến trình thực hiện phát triển cộng đồng dựa vào nguồn lực phải đảm bảo được những bước chính sau:

1/ Thiết lập hồ sơ cộng đồng và nhận diện, khám phá các nguồn lực của cộng đồng

2/ Tổ chức nhóm nòng cốt để xây dựng chiến lược phát triển, sắp xếp và tổ chức các nguồn lực

3/ Xây dựng mối quan hệ giữa các nguồn vốn (liên kết) và huy động các nguồn lực của cộng đồng vì sự phát triển chung

4/ Xây dựng kế hoạch cộng đồng với sự tham gia của tất cả các nhóm đại diện trong cộng đồng

5/ Duy trì và thúc đẩy các hoạt động sự đầu tư và các nguồn lực từ bên ngoài cộng đồng nhằm tạo điều kiện cho sự phát triển

Các công cụ của ABCD được sử dụng nhằm nhận diện, xác định, tổ chức nguồn lực của cộng đồng gồm: Phỏng vấn tích cực, câu chuyện thành công, tài sản cá nhân, sơ đồ tổ chức, sơ đồ cộng đồng, kinh tế cộng đồng (chiếc xô rò rỉ/thủng)

2.2.3 Nội dung và hình thức tham gia trong phát triển cộng đồng dựa vào nguồn lực (ABCD)

Tham gia là bao gồm sự can dự của người dân trong tiến trình ra quyết định, trong thực hiện chương trình, chia sẻ quyền lợi của các chương trình phát triển cũng như trong đánh giá những chương trình này (Cohen và Uphoff, 1977) Sự

Trang 27

của người dân trong việc nắm giữ toàn bộ quá trình phát triển của cộng đồng mình, điều này có nghĩa là cộng đồng sẽ được trao quyền quyết định nhiều hơn hoặc cộng đồng sẽ được tạo điều kiện thúc đẩy việc tự ra quyết định, các tổ chức

và cơ quan là người khởi xướng mục tiêu phát triển và cổ vũ các hành động tập thể trong cộng đồng (các tổ chức bên ngoài chỉ đóng vai trò cung cấp thông tin

và hỗ trợ các nguồn lực khi được đề nghị) (Nguyễn Đức Vinh, Đinh Thị Vinh, 2012) Tham gia của cộng đồng được xem là một biện pháp để cải thiện việc đáp ứng các dịch vụ cần thiết (Trần Thị Kim Xuyến, 2010, tr 207)

Các hình thức tham gia từ thấp đến cao

Tham gia

thụ động

Người dân tham gia ở hình thức được bảo những gì sắp xảy ra hoặc đã xảy ra Họ là người hưởng lợi và họ chỉ tham gia chừng nào còn được hưởng lợi Việc quản lý dự

án không cần tham vấn ý kiến của người dân và các thông tin liên quan chỉ được chia sẻ trong nội bộ các chuyên gia phát triển cộng đồng mà thôi

do các chuyên gia phát triển cộng đồng thực hiện

họ Tuy nhiên về lâu dài họ cũng sẽ duy trì các họat động này

Trang 28

Nguồn: Nguyễn Đức Vinh, Đinh Thị Vinh, 2012

2.2.4 Lợi ích của việc ứng dụng phương pháp PTCĐ vào xây dựng nông thôn mới

Nguyên tắc xuyên suốt trong chương trình xây dựng nông thôn mới là chú trọng đến vai trò chủ thể và sự tham gia của người dân trong quá trình thực hiện Điều này có nghĩa là cần đảm bảo được sự tham gia tích cực và trực tiếp của người dân trong quá trình xây dựng nông thôn mới Đây cũng chính là một trong những nguyên tắc của phát triển cộng đồng dựa vào nguồn lực (ABCD)

Phát triển nông thôn mới ứng dụng phương pháp phát triển cộng đồng dựa vào nguồn lực sẽ giúp cho cộng đồng tham gia tích cực vào quá trình phát triển nông thôn Với ABCD, khả năng của người dân và các tổ chức tự nguyện của họ

là nguồn lực xây dựng lên một cộng đồng mạnh mẽ Nếu trong quá trình xây dựng nông thôn mới, cộng đồng được gắn kết các sức mạnh nguồn lực theo một khối tổng hòa thì sẽ thúc đẩy cộng đồng phát triển Còn đối với mỗi cá nhân trong cộng đồng, năng lực được khơi gợi và phát huy sẽ khiến cho họ tự vận động và có trách nhiệm đối với sự phát triển chung

Bên cạnh đó, ABCD còn là phương tiện hữu hiệu để huy động nguồn lực tại chính cộng đồng, tổ chức và liên kết các nguồn lực, sự sáng tạo, tiềm năng của người dân vào các hoạt động xây dựng nông thôn mới, góp phần làm tăng hiệu quả của chương trình xây dựng nông thôn mới và sự phát triển bền vững của địa phương

Trang 29

Đặc biệt ABCD làm tăng sức mạnh tổng hợp, phát huy vai trò chủ thể của người dân trong cộng đồng và chú ý tập trung vào sự đóng góp của mỗi thành viên trong quá trình phát triển, góp phần khuyến khích sự bình đẳng, dân chủ trong quá trình xây dựng nông thôn mới

Nhìn chung, việc đánh giá nguồn lực giúp cho quá trình phát triển được thực hiện một cách bền vững hơn

2.3 Tổng quan nghiên cứu

2.3.1 Tình hình nghiên cứu về đánh giá nguồn lực ở một số quốc gia

Đánh giá nguồn lực của cộng đồng luôn được thực hiện và nghiên cứu liên tục ở nhiều nước trên thế giới Nguồn lực được đánh giá thông qua các công cụ chủ yếu của phương pháp tiếp cận cộng đồng như RRA (Điều tra nhanh nông thôn (Rapid Rural Appraisal) ra đời vào đầu thập niên 80); PRA (Điều tra nông thôn có sự tham gia (Participatory Rural Appraisal) ra đời khoảng những năm 1985); PRA/PLA (Điều tra nông thôn có sự tham gia/ Hành động và học tập có

sự tham gia ra đời vào thập niên 90); AI (Phỏng vấn tích cực (Appreciative Inquiry) ra đời cuối những năm 90 và đầu thế kỷ 21) và ABCD (Phát triển cộng đồng dựa vào nguồn lực/tài sản/ nội lực và do người dân làm chủ (Asset-Based Community Development) ra đời vào cuối những năm 90 và đầu thế kỷ 21) Trong đó ABCD được áp dụng rộng rãi ở các châu lục trên thế giới ABCD được lựa chọn bởi vì nó là mô hình thừa nhận sức mạnh, năng khiếu, năng lực

và các nguồn vốn quý của các cá nhân cũng như cộng đồng trong việc tạo ra sự thay đổi hơn chỉ là chú trọng đến nhu cầu và các vấn đề của cộng đồng Đây được xem là một cách tiếp cận, một hệ thống các phương pháp huy động cộng đồng và như là một chiến lược vì sự phát triển bền vững dựa vào cộng đồng Phương pháp này được nghiên cứu, tìm hiểu và công bố bởi John McKnight và Jody Kretzmann (1993) với tên gọi là “Gây dựng cộng đồng theo hướng từ bên trong ra: Một hướng đi để tìm kiếm và huy động các tài sản/nguồn lực của cộng đồng” (ABCD – Assets Based Community Development) Theo tiến trình thời gian, đến nayJohn McKnight và các đồng nghiệp của ông đã bổ sung, hoàn thiện những luận cứ về phương pháp phát triển cộng đồng dựa vào nguồn lực, các công cụ, kỹ thuật khám phá nguồn lực của cộng đồng và kế hoạch thực hiện trên nhiều ấn phẩm Đây là những tài liệu quí và là nền tảng cơ sở cho những nghiên cứu, thực hành về phát triển cộng đồng dựa vào nguồn lực Từ nghiên cứu của John McKnight và Jody Kretzmann (Viện nghiên cứu chính sách của Trường đại học Northwestern, bang Illinois, Hoa Kỳ), nhiều nhà nghiên cứu khác cũng quan

Trang 30

tâm đến phương pháp phát triển cộng đồng dựa vào nguồn lực Điển hình là nghiên cứu của Alison and Gord (2003), Julie (2006) Theo đó, ABCD là cách tiếp cận dựa trên nguyên tắc hiểu rõ giá trị và huy động các nguồn lực cá nhân, cộng đồng để phát triển, là một chiến lược của sự phát triển dựa vào cộng đồng Đồng thời, ABCD còn có khả năng nâng cao năng lực cho người nghèo (Innocent Chirisa, 2009), tăng vốn xã hội và xây dựng những cộng đồng mạnh

mẽ (Richard J Pan et al, 2005) Ở tất cả các cấp độ phát triển, nguồn lực của cộng đồng được đánh giá và tìm hiểu đã đem lại những thành công nhất định cho sự bền vững của các dự án, chương trình phát triển cộng đồng Vì vậy, nhiều lớp tập huấn, mô hình áp dụng, hội thảo về tìm kiếm nguồn lực, huy động nguồn lực được tổ chức ở nhiều quốc gia trên thế giới và được áp dụng rộng rãi ở các

tổ chức phi chính phủ (Quỹ Ford, Tầm nhìn thế giới…) nhằm đúc kết lý luận và thực tiễn

Nguồn lực/ tài sản là bất cứ thứ gì có thể được sử dụng để nâng cao chất lượng cuộc sống của cộng đồng Nguồn lực của cộng đồng không chỉ bao gồm tiềm năng của cá nhân mà còn có mối quan hệ giữa con người với mạng lưới xã hội, mạng lưới quan hệ và liên kết Nguồn lực của cộng đồng bao gồm tất cả những gì mà cộng đồng đang có Vì vậy nhiều công trình nghiên cứu trên thế giới đã thực hiện tìm hiểu nguồn lực của cộng đồng nhằm phát triển cộng đồng bền vững cũng như cải thiện, nâng cao hoặc thực thi một chương trình phát triển trên thực tế Các công trình nghiên cứu về nguồn lực của cộng đồng thường chú trọng mô tả các nguồn vốn cá nhân, vốn xã hội, vốn tài chính, vốn vật chất, vốn văn hoá của một trường hợp cộng đồng nhất định Tài sản cá nhân và tài sản cộng đồng có vai trò quan trọng trong cải thiện sức khỏe và giảm thiểu bất bình đẳng về sức khỏe ở Scoland (Jennifer Mclean and Valerie Mcneice, 2012) Mặt

khác tài sản/nguồn lực cộng đồng cũng được áp dụng để phát triển kinh tế của

cộng đồng địa phương ở Úc và người dân Philippines thông qua một nghiên cứu hành động của Jenny Cameron and Katherine Gibson (2008)…

Như vậy các công trình nghiên cứu về nguồn lực của cộng đồng trên thế giới đã được thực hiện trên nhiều lĩnh vực khác nhau, bao gồm cả y tế, giáo dục đào tạo, phát triển nghề, xây dựng nhà cửa, phát triển nông thôn…, trong đó 6 nguồn lực (vốn) của cộng đồng luôn được tìm hiểu để đưa ra được những phương thức huy động, khơi dậy tiềm năng và năng lực của cộng đồng, tiến tới phát triển bền vững Đặc biệt là đánh giá nguồn lực không chỉ được tìm hiểu, nghiên cứu bởi những nhà học thuật, những tổ chức phi chính phủ mà còn được

áp dụng bởi các cơ quan nhà nước tại địa phương Các công trình nghiên cứu

Trang 31

lực của cộng đồng Đây là những dữ liệu quý báu, hữu ích giúp nghiên cứu hình thành cơ sở lý luận và bộ công cụ nghiên cứu của đề tài Tuy nhiên, các nghiên cứu về đánh giá nguồn lực thường chỉ tập trung nghiên cứu một trường hợp cụ thể với những đặc điểm khác nhau, nên các nguồn vốn của cộng đồng này không thể áp dụng cho cộng đồng khác Do đó, nghiên cứu cần được triển khai cho phù hợp với thực tiễn, đặc điểm văn hóa và dân tộc của Việt Nam

2.3.2 Tình hình nghiên cứu về đánh giá nguồn lực ở Việt Nam

Dựa trên cơ sở lý luận và thực tiễn của John McKnight và Jody Kretzmann (1993) và nhiều nhà nghiên cứu khác trên thế giới, các nhà nghiên cứu Việt Nam

đã biên soạn và hệ thống cơ sở lý luận về phát triển cộng đồng dựa vào nguồn lực để phù hợp với bối cảnh và đặc thù của quốc gia Trong nhiều tác phẩm về phát triển cộng đồng, các tác giả đã làm rõ nội hàm, cách tiếp cận, tiến trình của phương pháp phát triển cộng đồng dựa vào nguồn lực (ABCD) (Trần Thị Kim Xuyến, 2010), các công cụ và kỹ năng cơ bản để thu thập thông tin và xác định nguồn lực của cộng đồng (Lê Văn An và cộng sự, 2016; Nguyễn Thị Oanh, 1995; Tô Duy Hợp, 2000) Đặc biệt là những tài liệu tập huấn phương pháp phát triển cộng đồng dựa vào nguồn lực đã phân tích chi tiết về nguồn lực (tài sản) của cộng đồng (vốn con người, vốn tài nguyên, vốn vật chất, vốn tài chính, vốn

xã hội và vốn văn hóa), sự tham gia, các công cụ để khám phá nguồn lực và huy động – liên kết nguồn lực (Nguyễn Đức Vinh và Đinh Thị Vinh, 2012; Phạm Huỳnh Thanh Vân, 2007) Mặc dù những nhà nghiên cứu khác nhau không cùng

sử dụng chung một thuật ngữ nguồn lực (tài sản, nguồn vốn) nhưng tất cả đều có cùng nhận định rằng đồng tham gia có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong phát triển cộng đồng và nguồn lực của họ là nguồn vốn quí cho sự phát triển bền vững Bởi lẽ khi đánh giá được nguồn lực và huy động được nguồn lực ấy cho phát triển thì cộng đồng sẽ chuyển biến từ “khách hàng” thành “công dân” - những người làm chủ và quyết định tiến trình phát triển (Trần Thị Kim Xuyến, 2010)

Đến nay, phương pháp phát triển cộng đồng dựa vào nguồn lực đã được chú

ý và áp dụng tập huấn cho nhiều cán bộ của các tổ chức phi chính phủ và cơ quan nhà nước Đáng chú ý là phương pháp tiếp cận dựa vào nguồn lực cũng được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thí điểm áp dụng trong chương trình xây dựng nông thôn mới cũng như được giảng dạy tại nhiều trường đại học

và áp dụng rộng rãi trong nhiều dự án, nhiều tổ chức Những kinh nghiệm trong việc áp dụng ABCD đã được chia sẻ trong 16 câu chuyện thành công ở các lĩnh vực phát triển như: phát triển nông thôn, y tế, văn hóa giáo dục, môi trường, tạo

Trang 32

việc làm, công tác xã hội, xây dựng cơ sở hạ tầng, quản lý Điều này cho thấy ABCD đã có ở Việt Nam và có khả năng áp dụng phương pháp này trong phát triển (Nguyễn Đức Vinh và Đinh Thị Vinh, 2012)

Ở lĩnh vực phát triển nông thôn, nhóm nghiên cứu về sự tham gia của người dân và huy động nguồn lực để thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới được thực hiện khá phổ biến Trong các cuộc nghiên cứu, đa số tác giả sử dụng phương pháp thống kê mô tả để phân tích thực trạng tham gia và kết quả huy động nguồn lực Điển hình là nghiên cứu của tác giả Nguyễn Hoài Nam (2012), Bùi Minh Tân (2013) đã chỉ ra rằng sự tham gia, tham gia đóng góp của người dân trong chương trình xây dựng nông thôn mới còn khá hạn chế, chưa tích cực Ngoài ra, một số ít nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích kinh tế và phân tích nhân tố khám phá để tìm hiểu các yếu tố tác động đến sự tham gia của người dân và công tác huy động nguồn lực của cộng đồng Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Văn Tuấn (2012) thì người dân được vận động đóng góp bằng nhiều hình thức Tuy nhiên mức đóng góp thực tế chỉ đạt 49,3% so với kế hoạch

đề ra Nguồn huy động từ doanh nghiệp vẫn ở mức thấp và chủ yếu thông qua

cơ chế kêu gọi đầu tư vào một số công trình rồi quản lý vận hành Đồng thời nghiên cứu cũng cho thấy có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến mức độ tham gia của người dân Tuy nhiên các nghiên cứu này chưa xác định được nguồn lực của các cộng đồng

Các nghiên cứu về đánh giá nguồn lực của cộng đồng còn khá mờ nhạt Thông thường, các đánh giá nguồn lực chỉ nằm trong khuôn khổ thực hiện dự án của các tổ chức phi chính phủ Riêng trong chương trình xây dựng nông thôn mới, tính đến thời điểm hiện tại có 01 cuộc nghiên cứu đã công bố kết quả Cuộc nghiên cứu đã sử dụng phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia của người dân và phương pháp tiếp cận phát triển cộng đồng dựa vào nguồn lực (ABCD) để mô tả mức độ tham gia của người dân theo nhận thức của các nhóm cộng đồng và hiện trạng nguồn lực (cá nhân người dân, tổ chức – cơ quan tại địa phương, các đoàn thể địa phương, cơ sở vật chất và kinh tế địa phương của cộng đồng) nhằm thúc đẩy quá trình xây dựng nông thôn mới Kết quả cho thấy, nguồn lực của cộng đồng là rất lớn, người dân đã nhận ra sức mạnh của mình và địa phương nhưng các nguồn lực chưa được khai thác và huy động vào quá trình xây dựng nông thôn mới một cách có hiệu quả (Nguyễn Duy Cần & cộng sự, 2012) Tuy nhiên, nghiên cứu này chỉ được thực hiện tại một xã của thành phố Cần Thơ và trong giai đoạn đầu của quá trình xây dựng nông thôn mới Đây là

dữ liệu so sánh và kiểm chứng hữu ích cho nghiên cứu về đánh giá nguồn lực

Trang 33

cộng đồng trong quá trình xây dựng nông thôn mới tại huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang

2.3.3 Tình hình triển khai, thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới và nghiên cứu về đánh giá nguồn lực ở Tỉnh An Giang

Ngay sau khi Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016 -2020 (Quyết định số 1600/QĐ-TTg ngày 16/8/2016; Quyết định số 1980/QĐ-TTg ngày 17/10/2016 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới giai đoạn 2016-2020 và các văn bản liên quan, tỉnh An Giang đã ban hành Chương trình hành động số 04-CTr/TU ngày 18/7/2016 của Tỉnh ủy về thực hiện Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016-2020; Quyết định

số 3310/QĐ-UBND ngày 21/11/2016 về việc ban hành Kế hoạch thực hiện Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016 – 2020; Quyết định số 3379/QĐ-UBND, ngày 28 tháng 11 năm 2016 về việc ban hành bộ tiêu chí xã nông thôn mới tỉnh An Giang giai đoạn 2016 – 2020 gồm 19 tiêu chí và

49 chỉ tiêu; Kế hoạch số 27/KH-UBND ngày 19/01/2017 về phát động phong trào thi đua “An Giang chung sức xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016 - 2020”; Quyết định số 948/QĐ-UBND ngày 27/3/2017 ban hành hướng dẫn phương pháp xác định, đánh giá mức độ đạt tiêu chí nông thôn mới giai đoạn 2016-2020; Quyết định số 1668/QĐ-UBND ngày 01/6/2017 kiện toàn Văn phòng Điều phối xây dựng nông thôn mới cấp tỉnh và cấp huyện; Quyết định số 2410/QĐ-UBND ngày 08/8/2017 về việc thành lập Ban Chỉ đạo các Chương trình mục tiêu quốc gia tỉnh An Giang giai đoạn 2016-2020 trên cơ sở sáp nhập

2 Ban Chỉ đạo Chương trình MTQG (Giảm nghèo bền vững và Xây dựng nông thôn mới) Nghị quyết số 25/NQ-HĐND ngày 8/12/2017 quy định về mục tiêu, nhiệm vụ, phương án phân bổ vốn Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016-2020 trên địa bàn tỉnh An Giang Đặc biệt năm

2018, Ủy ban nhân dân tỉnh đã ra Quyết định 1005/QĐ-UBND ngày 08/05/2018

về việc ban hành Bộ tiêu chí xã nông thôn mới nâng cao giai đoạn 2018 – 2020

với 19 tiêu chí, 35 chỉ tiêu Đây chính là cơ sở để các xã đã được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới tiếp tục phấn đấu để đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao Với quan điểm chỉ đạo rõ ràng, và sự vào cuộc của tất cả hệ thống chính trị

ở các cấp cũng như sự tham gia của người dân, tỉnh An Giang nói chung và huyện Thoại Sơn nói riêng đã đạt được nhiều thành tựu nổi bật trong việc xây dựng nông thôn mới Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, quá trình xây dựng nông thôn mới ở tỉnh An Giang và huyện Thoại Sơn cũng còn gặp nhiều

Trang 34

khó khăn Nguyên nhân là do đời sống kinh tế của người dân còn thấp, mật độ dân cư cao (bình quân 609 người/km2 ); đặc thù vùng trũng, kênh rạch chằng chịt, nền hạ tầng không ổn định; kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển; một số cấp ủy, chính quyền địa phương, cán

bộ, đảng viên thiếu chủ động, sáng tạo trong tổ chức thực hiện nhiệm vụ; phân công, đôn đốc triển khai công việc chưa quyết liệt; nhiều sở, ngành, địa phương còn nặng tâm lý dồn sức cho xây dựng cơ sở hạ tầng mà chưa chú trọng đến phát triển sản xuất, thu hút doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn, tạo việc làm, nâng cao thu nhập người dân nông thôn; một bộ phận người dân còn thờ ơ, chưa quan tâm, trông chờ, ỷ lại vào sự đầu tư của Nhà nước; các tiêu chí không cần vốn như thu nhập, hộ nghèo, bảo hiểm xã hội, an ninh trật tự đã đạt nhưng chưa ổn định và bền vững; tỉ lệ tham gia đóng góp của người dân và nguồn lực

xã hội hóa từ doanh nghiệp còn thấp… (Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 7/2018); (Ban chỉ đạo CT XD NTM huyện Thoại Sơn, 10/2018)

Những khó khăn, hạn chế trong quá trình xây dựng nông thôn mới tại tỉnh

An Giang và huyện Thoại Sơn còn được minh chứng trong một số công trình điều tra, nghiên cứu Theo kết quả điều tra xã hội học (1500 phiếu) của Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ tỉnh An Giang vào năm 2014 thì những kết quả thực hiện trong chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới chủ yếu là từ sự đầu tư của nhà nước, chưa có sự tham gia tích cực của người dân, những kết quả đạt được trong những năm qua chưa thực chất, khó có thể ổn định và bền vững Các nghiên cứu của Nguyễn Trường Vũ (2013); Văn Phòng Điều phối chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới tỉnh An Giang (2016); Nguyễn Quý Hân (2016), Diệp Thanh Hồng (2016); Phạm Thị Tâm & Phạm thị Thanh Thủy (2016) cũng cho thấy bên cạnh những thuận lợi, quá trình xây dựng nông thôn mới vẫn còn nhiều hạn chế như người dân chưa hiểu và chưa thật sự là chủ thể trong xây dựng nông thôn mới, người dân tham gia còn hạn chế, tỷ lệ hộ nghèo tuy có giảm nhưng thiếu vững chắc và nguy cơ tái nghèo cao Riêng đối với nguồn lực, nghiên cứu định lượng bằng bảng hỏi soạn sẵn của tác giả Võ Văn Sen & cs (2014) cũng cho thấy ở huyện Thoại Sơn có tài nguyên đất, tài nguyên nước phong phú, tài nguyên khí hậu nhiệt đới với lượng bức xạ lớn thuận lợi cho phát triển nông nghiệp và ngư nghiệp; mối quan hệ gia đình, dòng

họ, cộng đồng, các đoàn thể, doanh nghiệp tạo điều kiện trao đổi thông tin, thúc đẩy sản xuất kinh doanh của hộ gia đình Tuy vậy, ở Thoại Sơn nguồn nhân lực

và vốn tài chính vẫn còn rất hạn chế Sự tham gia của các hộ gia đình vào hoạt động dịch vụ, tiểu thủ công nghiệp và du lịch vẫn còn ở dạng tiềm năng

Trang 35

Những nội dung của chính sách, kết quả thực hiện và hiện trạng sự tham gia của cộng đồng trong xây dựng nông thôn mới tại tỉnh An Giang đã được quan tâm thực hiện Điều này đã cung cấp tư liệu ban đầu về quá trình xây dựng nông thôn mới, những thành tựu đạt được cũng như những khó khăn, thách thức tại tỉnh An Giang nói chung và huyện Thoại Sơn nói riêng Tuy nhiên, tính đến nay trong tỉnh An Giang chưa có công trình nghiên cứu nào thực hiện đánh giá nguồn lực cộng đồng bằng phương pháp phát triển cộng đồng dựa vào nguồn lực

và do người dân làm chủ (ABCD: Asset-Based Community Development) trong quá trình xây dựng nông thôn mới Vì vậy, kết quả của nghiên cứu sẽ là tài liệu tham khảo có ý nghĩa thực tiễn trong việc huy động nguồn lực của cộng đồng để thúc đẩy quá trình xây dựng nông thôn mới trong thời gian tới

2.4 Luận giải về việc đặt ra mục tiêu và những nội dung cần nghiên cứu của nhiệm vụ

Nghiên cứu về nguồn lực cộng đồng đã được hoàn thiện cả về lý luận và thực tiễn áp dụng Những lợi ích của đánh giá nguồn lực và huy động nguồn lực

để phát triển cộng đồng đã được minh chứng qua nhiều dự án phát triển trên thế giới, trong đó có cả Việt Nam Các nghiên cứu về đánh giá nguồn lực thường tiến hành tìm hiểu 5 nguồn lực của cộng đồng: con người, vật chất, tài nguyên, kinh tế và xã hội Bên cạnh đó, cũng có một số nghiên cứu đi tìm hiểu sâu một

số nguồn vốn cụ thể như vốn xã hội, hoặc vốn con người Về phương pháp, các

nghiên cứu thường sử dụng phương pháp định tính thông qua nghiên cứu trường hợp, nghiên cứu hành động và sử dụng các kỹ thuật của phương pháp phát triển cộng đồng dựa vào nguồn lực để thu thập thông tin Kết quả của các nghiên cứu này đã cung cấp những luận cứ khoa học rất quan trọng về chủ đề đánh giá nguồn lực cộng đồng Tuy nhiên, mỗi nghiên cứu được thực hiện để đánh giá nguồn lực ở một chiều cạnh khác nhau với những phương pháp khác nhau Riêng ở các chương trình phát triển của chính phủ, đánh giá nguồn lực của cộng đồng ít được quan tâm thực hiện

Trên cơ sở tiếp thu và kế thừa có chọn lọc những công trình nghiên cứu

trước đó, nghiên cứu này sẽ được triển khai theo hướng sau:

1 Nghiên cứu trường hợp tại hai xã, xã Bình Thành và xã Thoại Giang huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang

2 Thực hiện xác định 5 nguồn lực trong cộng đồng, bao gồm: Nguồn lực con người; nguồn lực tài nguyên thiên nhiên; nguồn lực xã hội; nguồn lực tài chính/kinh tế và nguồn lực cơ sở vật chất

3 Kết hợp phương pháp định tính và định lượng để thu thập thông tin

Trang 36

4 Các nguồn lực của cộng đồng sẽ được đo lường dựa trên hướng dẫn từ các công cụ, kỹ thuật của phương pháp ABCD và dữ liệu định lượng của nghiên cứu

Với hướng nghiên cứu trường hợp, đề tài sẽ cung cấp một mô tả chi tiết 5 nguồn lực với những đặc điểm về xã hội, kinh tế của hai xã Bình Thành và xã Thoại Giang Việc sử dụng các công cụ, kỹ thuật của phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia và phương pháp ABCD với sự kiểm định từ thông tin định lượng không chỉ giúp cho thông tin thu được có độ tin cậy mà còn phù hợp với chủ trương, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta trong chương trình xây dựng nông thôn mới, đó là tăng cường vai trò chủ thể của người dân

2.5 Khung phân tích

Đề tài nghiên cứu được phân tích theo mô hình sau:

Trang 37

Khung phân tích của nghiên cứu

Chương trình xây dựng nông thôn mới:

- Khái niệm xây dựng NTM

- Mục tiêu xây dựng nông thôn mới

- Tiêu chí đánh giá chương trình XD NTM

thương mại, thu nhập…)

- Nguồn lực tài nguyên TN của

- Định nghĩa nguồn lực/tài sản

- Phát triển CĐ dựa vào nguồn lực/tài sản (ABCD)

- Nội dung, hình thức tham gia

Sự tham gia của cộng đồng trong thực hiện chương trình NTM và Kết quả huy động nguồn lực trong xây dựng NTM (biết thông tin, đóng góp ý kiến, họp bàn, đóng góp sức lực, của cải, vật chất, giám sát, theo dõi)

Giải pháp tăng cường tính hiệu quả của sự tham gia và hiệu quả huy động nguồn lực của cộng đồng trong xây dựng NTM

- Khai thác hợp lý và huy động triệt để nguồn lực trong dân

- Truyền thông nâng cao nhận thức

- Bồi dưỡng, đào tạo

- Tăng cường sự tham gia thông qua việc sử dụng công cụ ABCD

Trang 38

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Cách tiếp cận vấn đề nghiên cứu

3.1.1 Cách tiếp cận dựa vào nguồn lực/tài sản

Tiếp cận dựa vào nguồn lực/tài sản: bên cạnh sự tham gia, nguồn lực của cộng đồng cũng được xem là những tiềm năng quan trọng nhằm giúp cộng đồng

tự lực vươn lên phát triển bền vững Với cách tiếp cận này, xây dựng nông thôn mới cần được tập trung bắt đầu từ nguồn lực/tài sản của cộng đồng và sự phát triển từ bên trong của cộng đồng thay vì những tác động từ bên ngoài cộng đồng

3.1.2 Cách tiếp cận dựa trên sự tham gia

Tiếp cận dựa trên sự tham gia: sự tham gia của người dân được xem là nền tảng quan trọng trong việc thu thập và đánh gia thông tin về nguồn lực của cộng đồng Đồng thời sự tham gia của người dân được xem là triết lý quan trọng trong việc đề ra những giải pháp tiếp cận và huy động nguồn lực của cộng đồng trong quá trình xây dựng nông thôn mới

3.2 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

3.2.1 Đối tượng nghiên cứu

Sự tham gia của người dân trong xây dựng nông thôn mới, nguồn lực của cộng đồng trong quá trình xây dựng nông thôn mới

3.2.2 Khách thể nghiên cứu

Người dân trong cộng đồng, đại diện chính quyền địa phương và đại diện Ban chỉ đạo chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới

3.3 Địa bàn nghiên cứu

Tại thời điểm thiết kế thuyết minh (đề cương) nhiệm vụ nghiên cứu (6/2017), huyện Thoại Sơn là huyện điểm thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới của tỉnh An Giang Tính đến hết năm 2016, huyện Thoại Sơn đã có 03

xã hoàn thành tiêu chí xây dựng nông thôn mới (đạt19 tiêu chí); 01 xã đạt 16 tiêu chí; 04 xã đạt 14 tiêu chí; 02 xã đạt 13 tiêu chí; 01 xã đạt 12 tiêu chí; 02 xã đạt 11 tiêu chí và 01 xã đạt 9 tiêu chí (Ban chỉ đạo chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới huyện Thoại Sơn, 2016) Với mục đích hỗ trợ thực

Trang 39

cơ sở mục tiêu, nội dung nghiên cứu và nguồn lực kinh phí đối với nhiệm vụ khoa học cấp cơ sở, chúng tôi chọn nghiên cứu trường hợp tại 02 xã, trong đó 01

xã đã hoàn thành tiêu chí xây dựng nông thôn mới và 01 xã đạt số tiêu chí xây dựng nông thôn mới thấp nhất trong huyện

Dựa trên tiêu chí đã được xác định, nghiên cứu chọn xã Bình Thành (chỉ đạt được 9 tiêu chí với 36 chỉ tiêu) và xã Thoại Giang (hoàn thành 19 tiêu chí) của huyện Thoại Sơn để khảo sát Đây là hai cộng đồng có mức kinh tế khác nhau và hoàn thành các tiêu chí xây dựng nông thôn mới khác nhau Với những nét tương đồng và khác biệt của hai cộng đồng trên các phương diện về nguồn lực sẽ thể hiện những nét chung và nét riêng của từng cộng đồng dân cư trong việc huy động nguồn lực thực hiện quá trình xây dựng nông thôn mới

3.4 Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp cả phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng để thu thập số liệu thứ cấp và sơ cấp Trong đó nghiên cứu định tính được thực hiện sau khi hoàn thành nghiên cứu định lượng Các phương pháp, kỹ thuật được sử dụng bao gồm:

3.4.1 Phương pháp phân tích tài liệu

Nghiên cứu thực hiện tổng quan, phân tích các tài liệu sau:

Các báo cáo khoa học, các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về đánh giá nguồn lực và phương pháp ABCD;

Các báo cáo, số liệu thống kê về đặc điểm tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, tình hình dân số, kinh tế, xã hội, văn hóa, sự phân hóa giàu nghèo của xã Bình Thành và xã Thoại Giang huyện Thoại Sơn;

Các văn bản, tài liệu liên quan đến chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới và chủ trương, phương pháp huy động nguồn lực của cộng đồng huyện Thoại Sơn và xã Bình Thành và xã Thoại Giang

Mục đích tổng quan, phân tích tài liệu nhằm nhận diện thực trạng vấn đề nghiên cứu ở trong nước và ngoài nước cũng như những đặc trưng kinh tế, văn hóa, xã hội, nhân lực, tài nguyên của địa bàn nghiên cứu và thực trạng huy động nguồn lực của cộng đồng trong quá trình xây dựng nông thôn mới tại xã Bình Thành và xã Thoại Giang

Trang 40

3.4.2 Phương pháp làm việc nhóm

Làm việc nhóm được thực hiện với 10 nhóm người dân/10 ấp của 2 xã và 2 nhóm cán bộ, hội, đoàn thể/2 xã (mỗi nhóm gồm 7 người) để thảo luận và xác định 5 loại nguồn lực của cộng đồng Mỗi nhóm người dân (5 nhóm/xã) sẽ thực hiện xác định 1 loại nguồn lực Sau đó nhóm cán bộ, hội, đoàn thể sẽ điều chỉnh và bổ sung Các nguồn lực được đánh giá cụ thể thông qua các công cụ của ABCD là:

Nguồn lực về tài nguyên thiên nhiên và nguồn lực cơ sở vật chất của cộng đồng: kỹ thuật vẽ bản đồ cộng đồng

Nguồn lực xã hội của cộng đồng, những nguồn lực bên trong và bên ngoài

mà cộng đồng có thể tiếp cận được: sơ đồ Venn

Xác định nguồn lực con người (kiến thức, kinh nghiệm, khả năng, kỹ năng, mối quan hệ xã hội, mối quan hệ với các hội đoàn thể): hồ sơ tài sản cá nhân Xác định nguồn lực tài chính của địa phương: kỹ thuật chiếc xô thủng Xác định khả năng kết nối nguồn lực của cộng đồng

Tổng số lượt người tham gia thảo luận nhóm là 84 người/2 xã

Đồng thời, nghiên cứu cũng tiến hành chọn chủ đích 8 người dân/2 xã (4 người tham gia tích cực và 4 người ít tham gia vào quá trình xây dựng nông thôn mới) để tìm hiểu về sự tham gia và sự đóng góp cũng như kiến nghị của họ đối với việc thực hiện xây dựng nông thôn mới tại địa phương

Tổng số người tham gia phỏng vấn sâu: 12 người/2 xã

3.4.4 Phương pháp quan sát

Nghiên cứu thực hiện 2 buổi quan sát cơ sở hạ tầng, tài nguyên thiên nhiên tại địa phương để xác định đúng nguồn lực vốn vật chất, vốn tài nguyên thiên nhiên của cộng đồng xã Bình Thành và xã Thoại Giang huyện Thoại Sơn Bên

Ngày đăng: 15/04/2021, 19:41

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
Uỷ ban nhân dân tỉnh An Giang, 2016. Báo cáo tổng kết 5 năm thực hiện Chương trình Mục tiêu quốc gia Xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2011 – 2015 và phương hướng nhiệm vụ giai đoạn 2016 – 2020. Số 168/BC – UBND, ngày 01/04/2016 Khác
Uỷ ban nhân dân tỉnh An Giang, 2017. Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm, phương hướng nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2017. Số: 337/BC- UBND, ngày 06 tháng 6 năm 2017 Khác
Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang, 11/2017. Báo cáo tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2017, phương hướng nhiệm vụ năm 2018.Số: 705/BC-UBND, ngày 29 tháng 11 năm 2017 Khác
Ủy ban nhân dân xã Bình Thành huyện Thoại Sơn, 2017. Báo cáo Sơ kết Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới xã Bình Thành năm 2017, kế hoạch thực hiện năm 2018. Số 92/BC-UBND, ngày 4/12/2017 Khác
Võ Văn Sen & cộng sự, 2014. Nguồn lực sinh kế của hộ gia đình huyện Thoại Sơn tỉnh An Giang. Tạp chí phát triển KH&CN, tập 17, số X4 – 2014 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1. Tỷ lệ người dân biết về chương trình xây dựng nông thôn mới - Đánh giá nguồn lực cộng đồng trong quá trình xây dựng nông thôn mới tại huyện thoại sơn tỉnh an giang
Hình 1. Tỷ lệ người dân biết về chương trình xây dựng nông thôn mới (Trang 43)
Bảng 2. So sánh kênh truyền thông giữa hai xã nghiên cứu - Đánh giá nguồn lực cộng đồng trong quá trình xây dựng nông thôn mới tại huyện thoại sơn tỉnh an giang
Bảng 2. So sánh kênh truyền thông giữa hai xã nghiên cứu (Trang 44)
Bảng 3. Biết về số lƣợng tiêu chí và nhóm chỉ tiêu trong XD NTM - Đánh giá nguồn lực cộng đồng trong quá trình xây dựng nông thôn mới tại huyện thoại sơn tỉnh an giang
Bảng 3. Biết về số lƣợng tiêu chí và nhóm chỉ tiêu trong XD NTM (Trang 45)
Bảng 5. Mức độ tham gia của người dân vào các nội dung XD NTM - Đánh giá nguồn lực cộng đồng trong quá trình xây dựng nông thôn mới tại huyện thoại sơn tỉnh an giang
Bảng 5. Mức độ tham gia của người dân vào các nội dung XD NTM (Trang 46)
Bảng 6. Mức độ tham gia của người dân theo từng nội dung cụ thể - Đánh giá nguồn lực cộng đồng trong quá trình xây dựng nông thôn mới tại huyện thoại sơn tỉnh an giang
Bảng 6. Mức độ tham gia của người dân theo từng nội dung cụ thể (Trang 48)
Bảng 7. Tổng hợp nội dung mà người dân được tham gia trong chương - Đánh giá nguồn lực cộng đồng trong quá trình xây dựng nông thôn mới tại huyện thoại sơn tỉnh an giang
Bảng 7. Tổng hợp nội dung mà người dân được tham gia trong chương (Trang 51)
Bảng 8. Mức độ tham gia vào các hoạt động trong chương trình XD NTM - Đánh giá nguồn lực cộng đồng trong quá trình xây dựng nông thôn mới tại huyện thoại sơn tỉnh an giang
Bảng 8. Mức độ tham gia vào các hoạt động trong chương trình XD NTM (Trang 52)
Bảng 9. Thông tin chung về nhân khẩu - Đánh giá nguồn lực cộng đồng trong quá trình xây dựng nông thôn mới tại huyện thoại sơn tỉnh an giang
Bảng 9. Thông tin chung về nhân khẩu (Trang 57)
Bảng 10. Số nhân khẩu trong hộ gia đình - Đánh giá nguồn lực cộng đồng trong quá trình xây dựng nông thôn mới tại huyện thoại sơn tỉnh an giang
Bảng 10. Số nhân khẩu trong hộ gia đình (Trang 58)
Hình 2. Sức khỏe hiện nay của người trả lời - Đánh giá nguồn lực cộng đồng trong quá trình xây dựng nông thôn mới tại huyện thoại sơn tỉnh an giang
Hình 2. Sức khỏe hiện nay của người trả lời (Trang 60)
Hình 3. Việc làm chính của người trả lời - Đánh giá nguồn lực cộng đồng trong quá trình xây dựng nông thôn mới tại huyện thoại sơn tỉnh an giang
Hình 3. Việc làm chính của người trả lời (Trang 61)
Bảng 13. Sự yêu thích công việc - Đánh giá nguồn lực cộng đồng trong quá trình xây dựng nông thôn mới tại huyện thoại sơn tỉnh an giang
Bảng 13. Sự yêu thích công việc (Trang 61)
Hình 4. Tình trạng việc làm trong 1 năm qua - Đánh giá nguồn lực cộng đồng trong quá trình xây dựng nông thôn mới tại huyện thoại sơn tỉnh an giang
Hình 4. Tình trạng việc làm trong 1 năm qua (Trang 62)
Bảng 15. Bảng tổng hợp nguồn tài sản con người tại địa bàn khảo sát - Đánh giá nguồn lực cộng đồng trong quá trình xây dựng nông thôn mới tại huyện thoại sơn tỉnh an giang
Bảng 15. Bảng tổng hợp nguồn tài sản con người tại địa bàn khảo sát (Trang 63)
Bảng 16. Mức độ kiểm tra sức khỏe định kỳ của người trả lời và người - Đánh giá nguồn lực cộng đồng trong quá trình xây dựng nông thôn mới tại huyện thoại sơn tỉnh an giang
Bảng 16. Mức độ kiểm tra sức khỏe định kỳ của người trả lời và người (Trang 64)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w