1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ảnh hưởng của một số loại thuốc trừ rầy nâu đến một số thiên địch trên ruộng lúa vụ đông xuân 2014 2015 tại xã hòa bình thạnh châu thành an giang

53 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ảnh hưởng của một số loại thuốc trừ rầy nâu đến một số thiên địch trên ruộng lúa vụ đông xuân 2014 - 2015 tại xã hòa bình thạnh, châu thành, an giang
Tác giả Lê Văn Dương
Người hướng dẫn ThS. Lê Minh Tuấn
Trường học Trường Đại Học An Giang
Thể loại Đề tài nghiên cứu khoa học
Năm xuất bản 2015
Thành phố An Giang
Định dạng
Số trang 53
Dung lượng 1,59 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG KHOA NÔNG NGHIỆP & TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ LOẠI THUỐC RẦY NÂU ĐẾN MỘT SỐ LOÀI THIÊN ĐỊCH TRÊN RUỘNG LÚA VỤ ĐÔNG XUÂN 2014 - 2015 TẠI XÃ HÒA BÌ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG KHOA NÔNG NGHIỆP & TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN

ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ LOẠI THUỐC RẦY NÂU ĐẾN MỘT SỐ LOÀI THIÊN ĐỊCH TRÊN RUỘNG LÚA VỤ ĐÔNG XUÂN 2014 - 2015 TẠI XÃ HÒA BÌNH THẠNH, CHÂU THÀNH, AN GIANG

LÊ VĂN DƯƠNG

AN GIANG, THÁNG 07 NĂM 2015

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG KHOA NÔNG NGHIỆP & TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN

ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ LOẠI THUỐC RẦY NÂU ĐẾN MỘT SỐ LOÀI THIÊN ĐỊCH TRÊN RUỘNG LÚA VỤ ĐÔNG XUÂN 2014 - 2015 TẠI XÃ HÒA BÌNH THẠNH, CHÂU THÀNH, AN GIANG

LÊ VĂN DƯƠNG

MÃ SỐ SV: DBT113031

GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN Ths LÊ MINH TUẤN

AN GIANG, THÁNG 07 NĂM 2015

Trang 3

CHẤP NHẬN CỦA HỘI ĐỒNG

Đề tài nghiên cứu khoa học “Ảnh hưởng của một số loại thuốc trừ rầy nâu đến một

số thiên địch trên ruộng lúa vụ Đông Xuân 2014 - 2015 tại xã Hòa Bình Thạnh, Châu Thành, An Giang”, do sinh viên Lê Văn Dương thực hiện dưới sự hướng dẫn của Th.S Lê Minh Tuấn Tác giả đã báo cáo kết quả nghiên cứu và được Hội đồng Khoa học và Đào tạo Trường Đại học An Giang thông qua ngày tháng năm 201

Trang 4

LỜI CẢM TẠ

Tôi xin chân thành cảm ơn Trường Đại học An Giang, đặc biệt là thầy cô Bộ môn Khoa học Cây trồng đã tận tình giúp đỡ, dạy dỗ những kiến thức chuyên môn, kinh nghiệm bổ ích giúp tôi trong quá trình học tập và trong công việc sau này

Tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn đến thầy Lê Minh Tuấn đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Tôi xin chân thành cảm ơn bác Nguyễn Văn Buool là người đã cho phép tôi thực hiện đề tài trên ruộng của bác, và bác cũng đã giúp đỡ tôi rất nhiều trong quá trình thực hiện đề tài

Tôi xin gởi lời cảm ơn đến thầy Nguyễn Phú Dũng và thầy Văn Viễn Lương giảng viên phản biện của đề tài này Những ý kiến đóng góp của các thầy là vô cùng hữu ích Qua đó, giúp tôi nhận ra các khuyết điểm của đề tài

Tôi xin chân thành cảm ơn các bạn: Kiều Thị Oanh, Lâm Quốc Phương, Nguyễn Minh Tiến, Huỳnh Thị Tuyết Hồng, Nguyễn Thị Bích Ngọc và tất cả các bạn lớp DH12BT1 đã ủng hộ, động viên và giúp tôi hoàn thành thí nghiệm

Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn tất cả mọi người đã tận tình giúp đỡ và tạo điều kiện tốt nhất để tôi có thể hoàn thành được đề tài này

Xin chân thành cảm ơn!

An Giang, ngày tháng năm 201

Người thực hiện

Lê Văn Dương

Trang 5

TÓM TẮT

Đề tài “Ảnh hưởng của một số loại thuốc trừ rầy nâu đến một số thiên địch trên ruộng lúa vụ Đông Xuân 2014 - 2015 tại xã Hòa Bình Thạnh, Châu Thành, An Giang” tập trung nghiên cứu hiệu lực của 4 loại thuốc bảo vệ thực vật trong phòng trừ rầy nâu và nghiên cứu mức độ ảnh hưởng của 4 loại thuốc trên đến một số loại thiên địch trên ruộng lúa nhằm góp phần bổ sung biện pháp quản lý rầy nâu trên lúa một cách hiệu quả hơn

Thí nghiệm được bố trí theo kiểu khối hoàn toàn ngẫu nhiên với 5 nghiệm thức và 3 lần lặp lại Mỗi lần lặp lại một ô thí nghiệm 5x6 m và thuốc thí nghiệm được pha theo nồng độ khuyến cáo ghi trên bao bì

Các loại thuốc được sử dụng trong thí nghiệm để trừ rầy nâu gồm Oshin 20WP, Chess 50WG, Dantotsu 16WSG, Bassa 50EC

Các bước tiến hành gồm: trồng lúa trên ruộng của nông dân, điều tra mật độ rầy nâu, khi mật dộ rầy nâu trên ruộng đến ngưỡng phun thuốc thì tiến hành phun thuốc thí nghiệm, điều tra mật độ của rầy nâu và thiên địch sau phun thuốc

Thí nghiệm tiến hành xử lí thuốc một lần vào giai đoạn cây lúa được 49 ngày sau khi gieo, xử lý thuốc vào buổi chiều và ghi nhận chỉ tiêu sau 1, 3, 7 và 14 ngày sau khi phun Nhìn chung 4 loại thuốc đều có hiệu lực đối với việc phòng trừ rầy nâu trên ruộng lúa Trong đó, nghiệm thức sử dụng thuốc Chess 50WG khác biệt có ý nghĩa

về mặt thống kê so với Oshin 20WP, Dantotsu 16WSG và Bassa 50EC, nghĩa là thuốc Chess 50WG có hiệu quả trừ rầy nâu cao nhất Nghiệm thức sử dụng thuốc Oshin 20WP và Dantotsu 16WSG không khác biệt có ý nghĩa về mặt thống kê với nhau, nghĩa là chúng có hiệu quả trừ rầy nâu ngang nhau Đối với Bassa 50EC là loại thuốc có khả năng trừ rầy nâu nhanh, nhưng hiệu lực không kéo dài, thuốc giảm nhanh hiệu lực và khác biệt có ý nghĩa thống kê so với các loại thuốc còn lại ở thời điểm 14 NSP

Phân tích mức độ ảnh hưởng của các loại thuốc dùng trong thí nghiệm đến mật số của các loài thiên địch địch trên ruộng lúa như bọ xít mù xanh, bọ rùa đỏ, kiến ba khoang, bọ rùa 8 chấm Nhìn chung, tất cả các công thức sử dụng thuốc điều có ảnh hưởng đến mật số các loài thiên địch và khác biệt có ý về mặt thống kê so với công thức đối chứng Trong đó, nghiệm thức sử dụng thuốc Chess 50WG khác biệt có ý nghĩa về mặt thống kê so với các nghiệm thức còn lại, nghĩa là Chess 50WG có mức

độ ảnh hưởng đến mật số các loài thiên địch ít nhất Bassa 50EC, Oshin 20WP và Dantotsu 16WSG không khác biệt có ý nghĩa về mặt thống kê ở mức 5% với nhau, nghĩa là chúng có mức độ ảnh hưởng đến mật số các loài thiên địch trên ruộng lúa là như nhau

Trang 6

ABSTRACT

The topic "effects of some drugs except Brown planthopper to some hostile bias on the winter-spring rice in Hoa Binh Thanh 2014-2015, Châu Thành, An Giang" focuses on the effect of 4 plant protection drugs in the room except the Brown planthopper and the degree of research of influence of four types of drugs on to some kind of natural enemy on the paddy fields to contribute additional measuresmanagement of Brown planthopper on rice in a more efficient way

The experiment was arranged completely random blocks with 5 tests and repeat 3 times Each time a repeat 5 x 6 m laboratory cell experiments and follow the recommended concentration indicated on the packaging

The drugs are used in experiments to except the Brown planthopper including Chess 50WG, Oshin 20WP, Dantotsu 16WSG, Bassa 50EC

Steps include: rice cultivation on paddy fields of farmers, investigate the density of Brown planthopper, when spread on the Brown planthopper to rice security threshold spray then spray experiments, conducted the investigation of Brown planthopper and the density of the enemy after the spraying

Conducted experiments dealing with the drug once on stage the crop is 49 days after sowing, handling the drug in the afternoon and recorded the following criteria 1, 3, 7 and 14 days after spraying Overall 4 drugs effective against the room except the Brown planthopper on rice In particular, tests use medication Chess meaningful difference 50WG statistically compared to Oshin 20WP, Dantotsu 16WSG and Bassa 50EC, meaning that the drug effectively 50WG Chess except Brown planthopper The conscious experience of using drugs and not 16WSG Dantotsu 20WP Oshin difference statistically significance with each other, meaning they effectively except Brown planthopper abreast For Bassa 50EC is likely drug except Brown planthopper fast, but the effect doesn't last long, fast effective relievers and statistically significant differences compared to the remaining drugs in 14 point NSP Analysis of the extent of the influence of the drugs used in experiments to natural enemy species of bile's Championship on the rice fields as the Ladybug, green blindness Nazism beetle red, Nairobi, 8 Ladybug dot In General, all the formulas to use medications that can affect your natural enemy species and differences statistically compared to the formula for the certificate In particular, tests use medication Chess meaningful difference 50WG statistically compared with the rest

of the knowledge test, i.e Chess 50WG level affect your natural enemy species at least Bassa 50EC, Oshin 20WP and Dantotsu 16WSG not differ statistically significance at the 5% level with each other, meaning they have the level of impact

to natural enemy species security on paddy fields is the same

Trang 7

LỜI CAM KẾT

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu trong công trình nghiên cứu này có xuất xứ rõ ràng Những kết luận mới về khoa học của công

trình nghiên cứu này chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác

An Giang, ngày tháng năm 201

Người thực hiện

Lê Văn Dương

Trang 8

MỤC LỤC

CHẤP NHẬN CỦA HỘI ĐỒNG i

LỜI CẢM TẠ i

TÓM TẮT ii

LỜI CAM KẾT v

MỤC LỤC vi

DANH SÁCH BẢNG, BIỂU ĐỒ viii

DANH SÁCH HÌNH ix

DANH SÁCH TỪ VIẾT TẮT x

CHƯƠNG 1 1

GIỚI THIỆU 1

1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1

1.2 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI 1

1.3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 2

1.4 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 2

1.5 NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI 2

CHƯƠNG 2 3

TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3

2.1 LƯỢC KHẢO VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3

2.1.1 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 3

2.1.1 Đặc điểm hình thái, sinh học và khả năng gây hại của rầy nâu 5

2.1.3 Một số kết quả nghiên cứu về thiên địch của rầy nâu 8

2.1.4 Một số kết quả nghiên cứu về thuốc bvtv trừ rầy nâu 9

2.1.5 Khái quát về điều kiện tự nhiên của huyện Châu Thành 11

CHƯƠNG 3 14

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 14

3.1 MẪU NGHIÊN CỨU 14

3.2 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 14

3.3 CÔNG CỤ NGHIÊN CỨU 15

3.4 TIẾN TRÌNH NGHIÊN CỨU 15

3.4.1 Trồng lúa để tạo nguồn rầy tự nhiên 15

3.4.2 Điều tra theo dõi diễn biến mật độ rầy nâu và thiên địch trên ruộng thí nghiệm 16

3.4.3 Xử lí thuốc 16

Trang 9

3.4.4 Chỉ tiêu theo dõi 16

3.7 PHÂN TÍCH DỮ LIỆU 17

3.8 XỬ LÍ SỐ LIỆU 18

CHƯƠNG 4 19

KẾT QUẢ THẢO LUẬN 19

4.1 GHI NHẬN CHUNG QUÁ TRÌNH THÍ NGHIỆM 19

4.2 ĐÁNH GIÁ HIỆU LỰC CỦA MỘT SỐ LOẠI THUỐC TRỪ SÂU ĐỐI VỚI RẦY NÂU Ở HUYỆN CHÂU THÀNH, AN GIANG 19

4.3 ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ LOẠI THUỐC BVTV ĐẾN CÁC LOÀI THIÊN ĐỊCH 22

CHƯƠNG 5 29

KẾT LUẬN KIẾN NGHỊ 29

5.1 KẾT LUẬN 29

5.2 KIẾN NGHỊ 29

TÀI LIỆU THAM KHẢO 30

PHỤ CHƯƠNG A 32

PHỤ CHƯƠNG B 40

Trang 10

DANH SÁCH BẢNG, BIỂU ĐỒ

Bảng 2.1: Tình hình sản xuất nông nghiệp năm 2006 13

Bảng 4.1: Mật độ rầy nâu trong thời gian thí nghiệm 20

Bảng 4.2: Hiệu lực của một số loại thuốc BVTV đối với rầy nâu ở huyện Châu Thành, An Giang 20

Bảng 4.3: Ảnh hưởng của các loại thuốc BVTV đến bọ xít mù xanh 21

Bảng 4.4: Ảnh hưởng của các loại thuốc BVTV đến bọ rùa đỏ 22

Bảng 4.4: Ảnh hưởng của các loại thuốc BVTV đến bọ rùa 8 chấm 23

Bảng 4.4: Ảnh hưởng của các loại thuốc BVTV đến kiến ba khoang 23

Biểu đồ 4.1: Hiệu lực trừ rầy nâu của các loại thuốc tham gia thí nghiệm 21

Biểu đồ 4.2: Mật độ bọ xít mù xanh trước và sau khi phun thốc 23

Biểu đò 4.3: Mật độ bọ rùa đỏ trước và sau khi phun thuốc 25

Biểu đồ 4.4: Mật độ kiến ba khoang trước và sau khi phun thuốc 26

Biểu đồ 4.5: Mật độ bọ rùa 8 chấm trước và sau khi phun thuốc 28

Trang 11

DANH SÁCH HÌNH

Hình 1: Bố trí thí nghiệm 15

Hình 2: Rầy nâu ở nghiệm thức Chess 50WG trước khi xử lí thuốc 22

Hình 3: Rầy nâu ở nghiệm thức Chess 50WG 3 NSP 22

Hình 4: Bọ xít mù xanh đang tấn công rầy nâu 23

Hình 5: Bọ rùa đỏ tấn công rầy cám 25

Hình 6: Kiến ba khoang tấn công rầy trưởng thành 27

Hình 7: Pha thuốc Chess 50WG 38

Hình 8: Pha thuốc Bassa 50EC 38

Hình 9: Phun thuốc thí nghiệm 39

Hình 10: Rầy nâu ở nghiệm thức đối chứng 14 NSP 40

Hình11: Bọ rùa đỏ tập trung sống ở ngọn lúa 41

Hình 12: Kiến ba khoang sống ở gốc lúa 41

Trang 12

DANH SÁCH TỪ VIẾT TẮT

IRRI: International Rice Research Institute

Trang 13

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU

1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Trong vài năm gần đây, nhất là vụ Đông Xuân năm 1999-2000 rầy nâu (Nilaparvata lugens) luôn là một trong những loài côn trùng gây hại quan trọng trên lúa Rầy nâu

không chỉ gây nên hiện tượng cháy rầy, mà nguy hiểm hơn là làm lây truyền virus gây bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá cho cây lúa Những thiệt hại do rầy nâu gây ra thường rất lớn Năm 2005, đồng bằng sông Cửu Long thất thu khoảng 700.000 tấn lúa do rầy nâu gây ra (Kinh tế Việt Nam và Thế giới, 2008)

Theo báo cáo tình hình nhiễm bệnh vàng lùn và lùn xoắn lá ở ĐBSCL ngày 18 tháng

7 năm 2008 của Nguyễn Hữu Huân, thì có khoảng 7.896,8 ha nhiễm bệnh, trong đó 4.297,9 ha nhiễm bệnh nặng và tỉ lệ rầy nâu mang virus từ 20-60% Riêng ở An Giang, trong vụ Đông Xuân 2007-2008 thì tổng diện tích nhiễm bệnh vàng lùn là 3.262 ha với nhiễm trung bình là 58 ha và nhiễm nặng là 147 ha (Chi Cục Bảo Vệ Thực Vật An Giang, 2008) Mặc dù đã áp dụng nhiều biện pháp phòng trừ dịch hại tổng hợp, nhưng tác hại của rầy nâu trong những năm gần đây không giảm mà có xu hướng tăng Nguyên nhân chủ yếu là do rầy nâu có tính kháng cao trên nhiều giống lúa phổ biến và nhiều loại thuốc trừ rầy thông thường, nguyên nhân thứ hai là do mất cân bằng hệ sinh thái đồng ruộng, mật độ các loài thiên địch của rầy nâu giảm mạnh,không thể khống chế mật độ rầy nâu dưới ngưỡng gây hại (Nguyễn Văn Đĩnh, 2005)

Rầy nâu có sức sinh sản mạnh, do đó dễ phát sinh thành dịch trong thời gian ngắn khi điều kiện khí hậu, thức ăn thích hợp nhất (Nguyễn Viết Tùng, 2006) Trong điều kiện thâm canh và chuyên canh sản xuất nông nghiệp hiện nay, việc bảo vệ duy trì, phát triển quần thể thiên địch tự nhiên được coi là hướng chính của biện pháp sinh học chống dịch hại Để bảo vệ, duy trì và phát triển quần thể thiên địch có sẵn trong

tự nhiên thì điều cấp thiết là phải giảm thiểu ảnh hưởng của các loại thuốc bảo vệ thực vật đến quần thể thiên địch, nhằm bảo vệ các mối quan hệ qua lại giữa các loài sâu hại và thiên địch trong hệ sinh thái nông nghiệp nói chung và sinh thái quần xã ruộng lúa nói riêng Mục đích là làm tăng tỷ lệ chết tự nhiên do thiên địch gây ra cho các loài sâu hại (Lương Minh Châu, 1989)

Nhằm góp phần giải quyết vấn đề cấp thiết trên, đề tài nghiên cứu khoa học “Ảnh hưởng của một số loại thuốc trừ rầy nâu đến một số thiên địch trên ruộng lúa vụ

Đông Xuân 2014 - 2015 tại xã Hòa Bình Thạnh, Châu Thành, An Giang” được thực

hiện

1.2 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI

- So sánh hiệu quả trừ rầy nâu của 4 loại thuốc bảo vệ thực vật

- Xác định loại thuốc ít ảnh hưởng đến quần thể thiên địch nhất

Trang 14

- Tìm ra những loại thuốc vừa có hiệu quả trừ rầy nâu vừa ít ảnh hưởng đến thiên địch

1.3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

- Rầy nâu hại lúa tuổi 2-3

- 4 loại thuốc trừ rầy nâu Chess 50WG, Oshin 20WG, Dantotsu 16WSG, Bassa 50EC

- Quần thể thiên địch của rầy nâu gồm có: bọ xít mù xanh, bọ rùa 8 chấm, kiến ba khoang, và bọ rùa đỏ trên ruộng lúa

1.4 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

- Đánh giá hiệu quả trừu rầy nâu của 4 loại thuốc BVTV Chess 50WG, Oshin 20WP, Dantotsu 16WSG, Bassa 50SC

- Nghiên cứu ảnh hưởng của các 4 loại thuốc trên đối với bọ xít mù xanh, bọ rùa đỏ, kiến ba khoang, bọ rùa 8 chấm

1.5 NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI

- Kết quả khảo nghiệm của đề tài bổ sung các dữ liệu khoa học quan trọng về hiệu lực của một số loại thuốc trừ rầy nâu trên ruộng lúa

- Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở khoa học quan trọng cho công tác bảo vệ

thiên địch có ích và quản lí tốt sâu hại trên ruộng lúa

- Kết quả của đề tài góp phần cho công tác lựa chọn các loại thuốc vừa có hiệu quả trừ rầy nâu cao vừa bảo vệ nguồn thiên địch trên đồng ruộng

- Góp phần phòng trừ dịch theo hướng sinh học, xây dựng nền nông nghiệp ngày càng bền vững

Trang 15

CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

2.1 LƯỢC KHẢO VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

2.1.1 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

2.1.1.1 Tình hình nghiên cứu trong nước

Những nghiên cứu về thành phần thiên địch của rầy nâu (Nilaparvata lugens) gây hại

lúa đã được tiến hành ở nhiều nước trồng lúa trên thế giới từ đầu thế kỷ XX (do Nguyễn Văn Đĩnh và ctv, 2007 trích dẫn), đã có những công bố về thiên địch của các loài sâu đục thân lúa và rầy hại lúa ở Nhật Bản, vùng lãnh thổ Đài Loan, Thái Lan, Philippine Tại Philippine, đến năm 1978 đã ghi nhận được 76 loài thiên địch trên đồng lúa Trên đồng lúa ở Thái Lan đến năm 1981 đã phát hiện được hơn 100 loài thiên địch Thiên địch trên đồng lúa ở Trung Quốc được nghiên cứu khá kỹ Từng tỉnh trồng lúa của Trung Quốc đều có những nghiên cứu về thành phần thiên địch của sâu hại lúa Tất cả vùng trồng lúa của Trung Quốc đã phát hiện được 1303 loài thiên địch (JICA, 1981; Tổng trạm BVTV Trung Quốc, 1991: do Phạm Văn Lầm, 2007 trích dẫn)

Thiên địch của sâu hại lúa gồm các ký sinh, bắt mồi và sinh vật gây bệnh Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Malaysia và Philippine đã phát hiện (tương ứng) được 419,

117, 136, 113 và 77 loài côn trùng ký sinh của sâu hại lúa Số loài côn trùng bắt mồi

đã phát hiện được trên lúa ở Trung Quốc, Nhật Bản, Malaysia tương ứng là 460, 81

và 54 loài

Số loài thiên địch đã phát hiện được của rầy nâu, rầy lưng trắng, rầy xám nhỏ ở Trung Quốc là 133 loài, cho cả vùng Châu Á – Thái Bình Dương là 170 loài Riêng rầy nâu, đến năm 1979 đã có 79 loài thiên địch ghi nhận được ở các nước trồng lúa thuộc Châu Á (Phạm Văn Lầm, 2003) Thành phần thiên địch của rầy nâu hại lúa rất

phong phú Các loài phổ biến bao gồm: Cyrtorhinus lividipennis, Pardosa pseudoannulata, Microvelia douglasi, Synharmoni octomaculata,Paederus fuscipes, Tetragnatha spp., Oxyopes spp., Oligosita yasusmatsui, Anagrus spp., Gonatocerus spp., Pseudogonatopus spp., Haplogonatopus apicalis, Tomosvaryaella spp

(Napompeth, 1990) Nhiều kết quả khẳng định các loài bắt mồi có tác động mạnh hơn tới mật độ quần thể các loài rầy hại lúa khi so với tác động của các ký sinh Do

vậy, các loài bắt mồi có vai trò rất quan trọng trong hạn chế số lượng rầy nâu hại lúa

Bọ xít mù xanh (Cyrtorhinus lividipennis) là loài bắt mồi phổ biến trên đồng lúa

Trong phòng thí nghiệm, sau 24 giờ, một trưởng thành cái và một trưởng thành đực loài bọ xít mù xanh (tương ứng) có thể ăn 20 và 10 trứng rầy nâu

Bọ rùa cũng được ghi nhận là thiên địch quan trọng trên đồng ruộng, đóng vai trò đáng kể trong đấu tranh sinh học Có 33 loài được ghi nhận nhưng chỉ có 7 loài là

thiên địch của rầy nâu Coccinella arcuate được biết như là loài bọ rùa săn mồi phổ

Trang 16

biến và quan trọng nhất của rầy nâu Ở Ấn Độ, sự gia tăng mật số của rầy nâu dẫn tới

sự gia tăng nhanh chóng mật số C.arcuata từ giữa tháng 8 đến tháng 9 Sau đó, mật

số rầy giảm dần đến cuối tháng 10

Những chuyên gia của IRRI nuôi bọ rùa bằng rầy nâu với tỉ lệ 1:4 ở ô ruộng thí

nghiệm trong nhà lưới tỉ lệ rầy nâu chết do Harmonia sp trưởng thành là 77% ấu trùng và 91% trưởng thành, và do Vrania sp trưởng thành là 52% với ấu trùng 93%

với trưởng thành

Những côn trùng săn mồi khác trên đồng ruộng được tìm thấy thuộc họ Carabidae

Staphylinidae Những con thuộc họ Staphylinidae, đặc biệt là Paederus fucipes Curt

được xác định có ý nghĩa trong kiểm soát sâu hại lúa Chúng thường di chuyển đến những cây lúa non trong thời gian ngắn ngay sau khi gieo sạ

Những kết quả nghiên cứu về ảnh hưởng của việc sử dụng thuốc BVTV trong phòng trừ sâu hại trên đồng ruộng đến quần thể thiên địch

Với những nghiên cứu trong phòng thí nghiêm về tính độc tiếp xúc của thuốc trừ sâu

hiện nay được khuyến cáo sử dụng trên ruộng lúa C.lividipennis thường mẫn cảm hơn với thuốc trừ sâu hơn so với Oedothorax insecticeps Quá trình kiểm nghiệm cho

thấy, thuốc có gốc carbamate độc bằng hoặc hơn thuốc có gốc lân hữu cơ Trong tất

cả các loại thuốc trừ sâu được kiểm nghiệm, Hokbal EC, Bufencad và Carbofuran có tính độc tiếp xúc cao nhất đối với thiên địch Những hợp chất có tính độc thấp là acephate, monocrotophot Tất cả những loại thuốc trừ sâu được kiểm nghiệm, trừ

acephate và methomyl, có tính độc cao với C lividipennis

Những quan niệm sớm về kiểm soát dịch hại tổng hợp đã nhấn mạnh sự hữu ích của thuốc BVTV có tác dụng diệt sâu hại nhưng ít ảnh hưởng đến thiên địch của chúng như thuốc trừ sâu lưu dẫn và đã có nhiều thí nghiệm chứng minh tính chọn lọc của những loại thuốc này Tuy nhiên, ngoài tác động trực tiếp, những loài săn mồi còn bị ảnh hưởng gián tiếp từ quá trình tiêu hoá con mồi đã bị thấm thuốc trừ sâu (Kiritani) Mặc dù những loài săn mồi có thể chết do ăn phải con mồi nhiễm thuốc hoá học nhưng có rất ít những nghiên cứu về tính độc thứ cấp này đến thiên địch săn mồi

2.1.1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước

Phạm Văn Lầm (2002), đã thu thập và xác định được 82 loài thiên địch của rầy nâu khi tiến hành điều tra ở nhiều tỉnh trong cả nước Chúng thuộc 11 bộ của lớp côn trùng, lớp hình nhện, nấm bất toàn và tuyến trùng Các loài thiên địch của rầy nâu đã phát hiện tập trung nhiều nhất ở bộ cánh cứng (Coleoptera) với 28 loài (chiếm 34,1% tổng số loài) Nhiều thứ hai về số lượng loài là bộ nhện lớn bắt mồi (Araneae) với 18 loài (chiếm 23,1% tổng số loài) Bộ cánh nửa (Hemiptera) và bộ cánh màng (Hymenoptera) tương ứng đã phát hiện được 13 và 12 loài (hay 15,9 và 14,6% tổng

số loài) Các bộ khác mỗi bộ chỉ mới phát hiện được từ 1 đến 3 loài

Những loài thiên địch phát hiện được gồm 14 loài kí sinh (6 loài kí sinh trứng, 7 loài

kí sinh ấu trùng và trưởng thành và 1 loài kí sinh bậc 2); 64 loài ăn thịt bắt mồi và 4

Trang 17

loài gây bệnh cho rầy nâu Rầy nâu bị một tập hợp khá lớn các loài bắt mồi ăn thịt tấn công Cho đến nay, cả nước đã phát hiện được 72 loài bắt mồi ăn thịt rầy nâu Tuy nhiên, trong số chúng chỉ có 25-27 loài là thường xuyên bắt gặp trong quần thể

rầy nâu Trong đó phổ biến hơn cả là loài bọ xít mù xanh (Citorhimus lividiennis), nhện sói vân đinh ba (Padosa speudoannulata), nhện sói bọc trứng trắng (Pirata subpiraticus), nhện lớn hàm to bụng tròn (Dychiriognatha tenera), nhện lớn lưng trắng có hai hang chấm (Atipena adelinae), và nhện lớn ngực xẻ (Ummeliata insecticeps), bọ xít nước (Microvelia douglasi atrolineata, M douglasi douglasi), bọ cánh cứng ba khoang (Ophionae indica, O ishii), bọ cánh cứng ngắn (Paederus fuscipes, T tamulus), bọ rùa đỏ (Micraspis discolor) Riêng ở các tỉnh đồng bằng

Sông Cửu Long khi thấy rầy nâu phát sinh mạnh thường thấy bọ rùa 8 chấm

(Hamonia octomaculata) xuất hiện khá nhiều trên lúa

Kết quả thí nghiệm trong phòng cho thấy khả năng tiêu diệt rầy nâu của các loài bắt mồi ăn thịt không giống nhau, phụ thuộc vào từng loài, giai đoạn phát dục của chúng

và cả giai đoạn phát dục của rầy nâu Trong điều kiện phòng thí nghiệm, mỗi ngày bọ

xít mù xanh trưởng thành C lividipennis có thể ăn trung bình được 12,9 – 22,7 trứng

rầy nâu Mỗi bọ xít tuổi cuối mỗi ngày chỉ tiêu diệt được 6,7-14,4 trứng rầy nâu (Phạm Văn Lầm, 2002)

Bọ cánh cứng ngắn Paederus fuscipes tuy có kích thước nhỏ, song một cá thể loài

này trong 1 ngày có thể ăn được 1,4 – 2,5 rầy non tuổi 3 – 4 hoặc 5,6 – 6 rầy non tuổi

1-2 Một cá thể bọ cánh cứng ba khoang Ophionea indica trong một ngày có thể ăn

trung bình 3,5-3,9 rầy non tuổi 1 – 2 hoặc 2,4 – 2,8 rầy non tuổi 3 – 4 Một các thể

trưởng thành bọ rùa đỏ Micraspis discolor trong 1 ngày có thể ăn được trung bình

1,9 – 2,7 rầy non tuổi 1 – 3 của rầy nâu

2.1.1 Đặc điểm hình thái, sinh học và khả năng gây hại của rầy nâu

2.1.2.1 Vị trí phân loại, phân bố và kí chủ

Rầy nâu hay còn gọi là “muội nâu” có tên khoa học là Nilaparvata lugens Stal, họ rầy Delphacidae, bộ cánh đều Homoptera Nilaparvata lugens được Stal đặt tên lần đầu tiên vào năm 1854, từ đó còn có những tên khác nhau: Delphax lugens Stal (1854), Delphax parisatis Kirkaldy (1907), Nilaparvata oryzae Esaki và Mashimoti

(1932),… (Nguyễn Xuân Hiền và ctv., 1979)

Rầy nâu xuất hiện ở tất cả các nước trồng lúa, nhất là các nước ở vùng nhiệt đới Á Châu như Trung Quốc, Ấn Độ, Đài Loan, Nhật Bản, Philippins, Indonesia, Malaysia, Việt Nam,… (Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen, 2004)

Ở Việt Nam, rầy nâu có mặt ở khắp các vùng trồng lúa nhất là các vùng lúa thâm canh Chúng có mặt ở các vùng đồng bằng, ven biển, trung du cho đến các vùng núi cao như Điện Biên (Nguyễn Công Thuật, 1996)

Kết quả điều tra tương đối toàn diện trong hai năm 1967 - 1968 ở miền Bắc khẳng

định loài Nilaparvata có hai loài là Nilaparvata baberi không hại lúa và loài

Trang 18

Nilaparvata lugens hại lúa, ngô và cỏ dại tại các tỉnh Hà Giang, Hà Tây, Thái Bình,

Kết quả bước đầu của đợt điều tra sâu hại ở miền Nam bắt đầu từ tháng 3 năm 1977 cho thấy đã gặp rầy nâu ở các tỉnh Đồng Nai, Tiền Giang, Hậu Giang trên các cây lúa

và ngô (Nguyễn Xuân Hiền và ctv., 1979)

Ngoài ký chủ chính là cây lúa, rầy nâu còn có các loại ký chủ tạm thời như lúa mì và nhiều loại cỏ dại như cỏ gấu, cỏ lồng vực (Hà Huy Niên và Nguyễn Thị Cát, 2004)

2.1.2.2 Đặc điểm hình thái và sinh học

Trứng rầy nâu được đẻ thành từng hàng vào bên trong bẹ cây lúa, mỗi hàng có từ tám đến 30 cái Trứng rầy giống hình hạt gạo, dài từ 0,3 – 0,4 mm, mới đẻ màu trắng trong, sắp nở màu vàng, thời gian ủ trứng từ 5 – 14 ngày Ấu trùng rầy nâu hay còn gọi là rầy cám, khi mới nở rất nhỏ, màu trắng sữa, càng lớn rầy càng chuyển thành màu nâu nhạt Ấu trùng rầy nâu có 5 tuổi, phát triển trong thời gian từ 14 – 20 ngày Rầy trưởng thành có cơ thể dài từ 3,6 – 4 mm, màu nâu vàng, đỉnh đầu nhô ra phía trước, cánh trong suốt, giữa cạnh sau của mỗi cánh trước có một đốm đen (Nguyễn Xuân Hiền và ctv., 1979)

Thành trùng rầy nâu có hai dạng cánh:

- Cánh dài che phủ cả thân và chủ yếu dùng để bay đi tìm thức ăn

- Cánh ngắn phủ đến đốt thứ sáu của thân mình, dạng cánh này chỉ phát sinh khi thức ăn đầy đủ, thời tiết thích hợp và khả năng đẻ trứng rất cao (Nguyễn Văn Huỳnh

và Lê Thị Sen, 2004)

Sự xuất hiện và tỉ lệ hai loại rầy cánh dài và cánh ngắn có liên quan nhiều đến điều kiện môi trường, chủ yếu là thức ăn Ở lúa đẻ nhánh và làm đòng tỉ lệ rầy cái nhiều hơn so với rầy đực và rầy cánh ngắn cũng nhiều hơn so với rầy cánh dài, ngược lại ở lúa chín, tỉ lệ rầy đực và rầy cánh dài lại nhiều hơn (Nguyễn Xuân Hiền và ctv., 1979)

Đời sống trung bình của thành trùng rầy nâu từ 10 – 20 ngày Rầy cái cánh dài có thể

đẻ khoảng 100 trứng và rầy cái cánh ngắn có thể đẻ từ 300 – 400 trứng (Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen, 2004)

Vòng đời rầy nâu từ 25 – 28 ngày, trong điều kiện nhiệt độ 25 0

Trang 19

nước Rầy trưởng thành cánh dài thích ánh sáng đèn (Nguyễn Xuân Hiền và ctv., 1979)

2.1.2.3 Tập quán sinh sống và cách gây hại

Rầy trưởng thành tập trung thành từng đám ở trên thân lúa phía khóm lúa để hút nhựa, khi bị khua động thì lẫn trốn bằng cách bò hoặc nhảy sang cây khác, nhảy xuống nước, hoặc bay xa đến chỗ khác Ban ngày rầy nâu ít hoạt động trên lá lúa Chiều tối bò lên phía trên thân lúa hoặc lá lúa (Nguyễn Đức Khiêm, 2005)

Sau khi vũ hóa từ 3 – 5 ngày thành trùng cái bắt đầu đẻ trứng bằng cách rạch bẹ lá hoặc gân chính của phiến lá, gần cổ lá Rầy cái tập trung đẻ trứng ở gốc cây lúa, cách mặt nước 10 – 15 cm Cả thành trùng và ấu trùng rầy nâu đều thích sống dưới gốc cây lúa, chúng chích hút cây lúa bằng cách cho vòi chích hút vào mạch libe của mô hút nhựa Trong khi chích hút rầy tiết nước bọt phá hủy mô cây, cản trở sự di chuyển nhựa nguyên và nước lên phần trên của cây lúa làm cây lúa bị héo khô, gây ra hiện tượng cháy rầy (Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen, 2004)

Rầy nâu thích tấn công cây lúa còn nhỏ, nhưng nếu mật số cao có thể gây hại mọi giai đoạn tăng trưởng của cây lúa:

- Lúa đẻ nhánh: rầy chích hút nơi bẹ tạo thành những sọc màu nâu đậm dọc theo thân do nấm và vi khuẩn tấn công tiếp theo

- Lúa từ làm đòng đến trổ: rầy thường tập trung chích hút ở cuống đòng non Ngoài ảnh hưởng gây hại trực tiếp như trên, rầy nâu còn gây hại gián tiếp cho cây lúa như:

Mô cây tại các vết chích hút và đẻ trứng của rầy trên thân cây lúa bị hư do sự xâm nhập của một số loài nấm, vi khuẩn

Phân rầy tiết ra có chất đường thu hút nấm đen tới đóng quanh gốc lúa, cản trở quang hợp, ảnh hưởng đến sự phát triển của cây lúa

Rầy nâu thường truyền các bệnh vàng lùn và lùn xoắn lá cho cây lúa, làm lúa bị thất thu hoặc giảm năng suất

2.1.2.4 Các yếu ảnh hưởng đến mật số rầy nâu

Theo W.H Reissig và ctv (1985), thì những trận dịch rầy nâu thường kết hợp với sự phát triển hệ thống thủy lợi để đáp ứng cho việc canh tác lúa quanh năm (vì vậy rầy nâu liên tục phát triển), việc sử dụng phân bón thái quá đưa đến hậu quả là lượng rầy nâu tăng cao hơn và việc sử dụng các loại nông dược giết chết các loại thiên địch có ích

 Thức ăn

Đây là yếu tố quan trọng, đóng vai trò quyết định đối với việc tăng hoặc giảm mật số rầy nâu trên đồng ruộng Các giống lúa ngắn ngày, đáp ứng với phân đạm nhiều, lá xanh, thân mềm, năng suất cao nhưng không kháng rầy, được trồng nhiều là nguồn thức ăn ưa thích của rầy Lúa cao sản được trồng liên tục 2 – 3 vụ trong năm nên trên

Trang 20

đồng ruộng luôn có thức ăn thích hợp cho rầy nâu Việc bón nhiều phân, nhất là phân đạm, làm cho cây lúa xanh tốt, nhiều dưỡng chất, thân mềm dễ thu hút rầy đến sinh sống và phát triển mật số Hệ thống thủy lợi càng phát triển và hoàn chỉnh giúp cây lúa phát triển tốt, đây cũng là điều kiện thuận lợi cho rầy tới sinh sống và phát triển mật số (Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen, 2004)

 Thời tiết

Nhiệt độ thích hợp cho rầy nâu phát triển là từ 25 – 30 0C Mưa lớn liên tục trong nhiều ngày sẽ làm rầy trưởng thành bị suy yếu, rầy cám bị rửa trôi, đồng thời rầy cũng dễ bị nấm bệnh tấn công, trong khi mưa nhỏ hoặc mưa nắng xen kẽ, trời âm u rất thích hợp cho rầy phát triển mật số Ẩm độ thích hợp đối với rầy nâu là từ 80 - 86% Rầy nâu có khả năng di chuyển xa và nếu có gió rầy bốc lên theo gió và bị cuốn đi đến những nơi rất xa Các báo cáo ở Nhật và Phillippines cho thấy rầy nâu di chuyển rất xa, có thể đến hàng chục ngàn cây số (Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen, 2004)

2.1.3 Một số kết quả nghiên cứu về thiên địch của rầy nâu

2.1.3.1 Bọ xít mù xanh

Bọ xít mù xanh có tên khoa học là Cyrtorhinus lividipennis thuộc họ Miridae, bộ

Hemiptera Kích thước cơ thể nhỏ hoặc trung bình (dài khoảng 3 – 4 mm), màu xanh

và đen, râu đầu có bốn đốt, không có mắt đơn Phần màng có 1 – 2 buồng cánh, còn mạch cánh khác điều tiêu biến Cùng một loài thường có dạng cánh lớn, cánh ngắn

và không có cánh Bàn chân có ba đốt (Nguyễn Viết Tùng, 2006) Đây là một loài bắt mồi rất quan trọng của rầy nâu, rầy lưng trắng và các loài rầy xanh hại lúa Bọ xít

mù xanh chiếm ưu thế khá lớn trong tập hợp các loài bắt mồi ăn thịt của rầy nâu Trưởng thành và sâu non có thể xuất hiện nhiều trên ruộng có rầy phá hại, cả trên ruộng nước lẫn ruộng khô Trưởng thành cái đẻ trứng vào mô cây, sau 2 – 3 tuần sẽ trở thành trưởng thành và có thể sinh sản 10 - 20 con non Mỗi thiên địch một ngày

ăn hết 7 – 10 trứng hoặc 1 – 5 bọ rầy Trên đồng ruộng, quần thể của bọ xít mù xanh tăng dần từ đầu vụ lúa đến cuối vụ lúa Mật độ quần thể của nó tăng theo sự gia tăng mật độ quần thể của rầy nâu Như vậy, bọ xít mù xanh có phản ứng số lượng thuận đối với sự thay đổi mật độ quần thể của rầy nâu Những thiên địch có phản ứng số lượng thuận đối với sự thay đổi mật độ quần thể của con mồi/vật chủ thì thường là những thiên địch rất quan trọng trong kìm hãm số lượng vật chủ/con mồi (Phạm Văn Lầm, 2002)

2.1.3.2 Kiến ba khoang

Kiến ba khoang có tên khoa học là Paederus fuscipes, họ Staphilinidae, thuộc bộ

Coleoptera Chúng có thân hình thon, dài như hạt thóc (dài khoảng 1 – 1,2 cm, ngang 2-3 mm), có hai màu, đỏ và đen, nhìn giống con kiến, do đó người ta hay gọi

là kiến ba khoang hay kiến kim, kiến lát, kiến cong,…Kiến ba khoang là một loài ăn thịt côn trùng khác, chuyên ăn rầy nâu trên đồng ruộng Kiến có màu nâu đỏ, giữa

Trang 21

lưng có một vạch lớn màu đen chạy ngang qua tạo thành một khoang đen Chúng thường trú ẩn trong bờ cỏ, các đống rơm rạ mục ngoài ruộng Chúng làm tổ dưới đất

và đẻ trứng Khi ruộng lúa xuất hiện sâu cuốn lá hay rầy nâu, chúng tìm đến, chui vào những tổ sâu, ăn thịt từng con Trung bình mỗi con kiến ba khoang có thể ăn từ 3 – 5 con sâu non/ngày ( Phạm Văn Lầm, 2002)

2.1.3.3 Bọ rùa đỏ

Bọ rùa đỏ có tên khoa học là Micrapis discolor, họ Coccinellidae, thuộc bộ

Coleoptera Chúng là một loài bọ rùa điển hình, chúng có hình ô van, màu đỏ chối đậm hoặc nhạt, con cái thường lớn hơn con đực Bọ rùa thường hoạt động vào ban ngày trên ngọn cây lúa ở vùng đất ẩm, cũng như đất ướt Cả con trưởng thành và con

ấu trùng điều ăn rầy nâu trưởng thành, rầy cám và trứng rầy (Nguyễn Văn Huỳnh và

Lê Thị Sen, 2004) Hầu hết các loài bọ rùa thuộc nhóm có lợi, tấn công các loại rầy mềm, nhện gây hại, rầy phấn trắng, rệp sáp và các loại côn trùng có kích thước nhỏ

và trứng của một số loài côn trùng khác Cả thành trùng và ấu trùng điều ăn mồi thành trùng ăn cùng loại thức ăn với ấu trùng, chỉ một thời gian sau khi vũ hóa, thành trùng đã có khả năng bắt cặp, số lượng trứng đẻ tùy thuộc vào lượng thức ăn tiêu thụ (Kalsoven, 1981) Có sự khác biệt giữa số lượng mồi được tiêu thụ giữa các giai đoạn phát triển và giữa thành trùng đực và thành trùng cái Thành trùng cái có khả năng ăn mồi cao nhất, kế đó là ấu trùng tuổi 4 và thấp nhất là ấu trùng tuổi 3 Trong một ngày, thành trùng cái có thể ăn trung bình 30,4 con, trong khi thành trùng đực chỉ tiêu thụ được trung bình 19,6 con Khảo sát này còn ghi nhận, ấu trùng tuổi 4 có khả năng ăn mồi cao hơn cả thành trùng đực trung bình 25,2 con (Nguyễn Thị Thái Sơn, 2010)

2.1.3.4 Bọ rùa 8 chấm

Bọ rùa 8 chấm có tên khoa học là Hamonola octomacullata thuộc họ Coccinnellidae,

bộ Coleoptera thường có màu vàng, trên lưng có 8 chấm đen, chúng rất thích ăn các loài rầy rệp, cả ấu trùng và thành trùng điều có khẳ năng ăn rầy nâu Bọ rùa 8 chấm

có vai trò rất quan trọng trong hạn chế số lượng rầy nâu trên ruộng lúa Riêng ở các tỉnh Đồng Bằng Sông Cửu Long khi thấy rầy nâu phát sinh mạnh thường thấy bọ rùa

8 chấm (Hamonia octomaculata) xuất hiện khá nhiều trên lúa (Phạm Văn Lầm,

2002)

2.1.4 Một số kết quả nghiên cứu về thuốc bvtv trừ rầy nâu

Theo Viện BVTV (2008), trong số 39 loại thuốc đuợc khuyến cáo trừ rầy nâu – môi giới truyền bệnh VL và LXL, đã cho kết quả với rầy nâu tuổi 1 – 3 ở điều kiện trong phòng và ngoài đồng Kết quả cho thấy các thuốc có hiệu lực cao đạt trên 90% sau 3 – 5 ngày phun (3 ngày với điều kiện trong phòng và 5 ngày với điều kiện ngoài đồng) là Penalty 40WP, Oshin 20WP, Chess 50WG, Butyl 10WP, Dantotsu 16WSG, Bassa 50EC

Đặc tính một số nhóm thuốc dùng trong thí nghiệm

Trang 22

- Thuốc có tác động tiếp xúc, vị độc, có tính lưu dẫn (hướng ngọn)

- Thuốc diệt rầy non và rầy trưởng thành

 Hoạt chất Clothianidin

- Nhóm Neonicotinoid

- Nhóm độc IV (WHO)

- Thuốc có tác động tiếp xúc, vị độc, có tính lưu dẫn (hướng ngọn)

- Thuốc diệt rầy non và rầy trưởng thành

 Hoạt chất Fenobucarb

- Nhóm Carbamate

- Nhóm độc II (WHO)

- Thuốc có tác động tiếp xúc, vị độc, không lưu dẫn

- Thuốc diệt rầy non và rầy trưởng thành, không diệt trứng

Đặc điểm của một số loại thuốc bảo vệ thực vật được dùng trong thí nghiệm

 Chess 50WG

- Hoạt chất Pymetrozine

- Nhóm thuốc Pyridine azomethine

- Nhóm độc III (WHO)

- Thuốc có tác dụng nội hấp, làm ngưng hoạt động của hệ tiêu hoá

- Lượng dùng: Thuốc dạng 50WG dùng 300 g/ha Lượng nước phun là 480 lít/ha

Phun thuốc khi rầy non mới nở, tuổi còn nhỏ

 Oshin 20WP

- Hoạt chất: Dinotefuran

- Nhóm thuốc Neonicotinoid

- Nhóm độc III (WHO)

- Thuốc có tác dụng tiếp xúc và nội hấp

- Thuốc có hiệu quả cao khi phòng trừ rầy non và rầy trưởng thành và có thể bảo vệ cây lúa non 5 ngày sau khi phun thuốc Hiệu lực của thuốc thể hiện rõ ngày sau vài giờ phun thuốc

Trang 23

- Lượng dùng: Thuốc dạng 20WP dùng 50 – 100 g/ha Lượng nước phun là 400 lít/ha Phun thuốc khi rầy non mới nở, tuổi còn nhỏ (Nguyễn Mạnh Chinh, 2009).

- Thuốc có tác động tiếp xúc, vị độc, không lưu dẫn

- Thuốc diệt rầy non và rầy trưởng thành, không diệt trứng

- Liều lượng sử dụng: 1,5 – 2,0 lít /ha, pha trong 400 lít nước Phun thuốc khi rầy

non mới nở, tuổi còn nhỏ

2.1.5 Khái quát về điều kiện tự nhiên của huyện Châu Thành

2.1.5.1 Vị trí – giới hạn

Huyện Châu Thành nằm tiếp giáp Thành phố Long Xuyên, với tổng diện tích tự nhiên 34.682 ha, diện tích đất sản xuất nông nghiệp 29.252 ha, dân số 171.480 người với 34.018 hộ, huyện Châu Thành có 13 xã và thị trấn với 63 ấp, tiếp giáp với 4 huyện và thành phố, đó là huyện Tịnh Biên, Châu Phú, Chợ Mới, Thoại Sơn và Thành phố Long Xuyên (Phòng Nông nghiệp và PTNT huyện Châu Thành, 2005)

Vị trí giới hạn:

- Phía Bắc Giáp huyện Châu Phú

- Phía Đông – Đông Bắc giáp huyện Chợ Mới

- Phía Đông – Đông Nam giáp TP Long Xuyên

- Phía Nam giáp huyện Thoại Sơn

- Phía Tây giáp huyện Tri Tôn

- Phía Tây Bắc giáp huyện Tịnh Biên

Trang 24

- Nhóm đất xám: đất tơi xốp, độ phì nhiêu thấp, tập trung ở các xã Tân Phú, Vĩnh

Nhiệt độ trung bình năm rất điều hòa, chênh lệch nhiệt độ trung bình giữa các tháng nóng nhất và lạnh nhất không lớn lắm (3 – 6 0C) Nhiệt độ trung bình năm 26 0

- Độ ẩm trung bình mùa khô khoảng 79%

- Độ ẩm trung bình mùa mưa khoảng 83%

Gió huyện Châu Thành mang tính chất chung của đồng bằng sông Cửu Long, hằng năm có hai hướng gió chính:

- Từ tháng 05 dl đến tháng 10 dl chịu ảnh hưởng của gió Tây Nam

- Từ tháng 11 dl đến tháng 04 dl chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc

- Mưa: Chế độ mưa phân bố theo hai mùa rõ rệt

- Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 dl đến tháng 11 dl Lượng mưa chiếm 90% – 93% tổng lượng mưa hàng năm

- Mùa khô từ tháng 12 dl đến tháng 04 dl năm sau Lượng mưa chiếm từ 7% – 10% tổng lượng mưa toàn năm Chế độ mưa ít biến động qua các năm

Trang 25

2.1.5.4 Thủy văn

Huyện Châu Thành sử dụng nguồn nước ngọt từ sông Hậu Nguồn nước dồi dào, chất lượng nước khá tốt, ít bị nhiễm bẩn do chất thải công nghiệp và sinh hoạt, ít nhiễm phèn, không nhiễm mặn và hàm lượng phù sa khá cao vào mùa lũ

- Mùa kiệt: chế độ bán nhật triều của Biển Đông ảnh hưởng mạnh trên sông và truyền vào mạng lưới hệ thống kênh rạch nội đồng

- Biên độ triều trên sông đạt từ 1 – 1,2 m

- Mùa mưa, ảnh hưởng của triều Biển Đông yếu dần, đến tháng 9 dl, tháng 10 dl thì phụ thuộc hoàn toàn vào chế độ thủy văn sông Mê Kông

- Mùa lũ: sông ngòi, kênh rạch trong vùng chịu ảnh hưởng chủ yếu của lũ thượng nguồn, mực nước dâng cao hơn mực nước bình quân mùa kiệt từ 3 – 4 m

2.1.5.5 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp

Diện tích đất nông nghiệp toàn huyện là 30.863 ha Tổng diện tích gieo trồng 57.293

ha, riêng diện tích lúa gieo trồng cả năm là 55.490 ha, diện tích màu lương thực là 415,3 ha, màu thực phẩm là 1.077 ha, cây công nghiệp ngắn ngày là 254,5 ha Một

số cây trồng có sản phẩm phụ làm thức ăn cho bò như bắp, lúa, đậu nành, đậu xanh…(Niên giám thống kê huyện Châu Thành năm 2006)

2.1.5.6 Hiện trạng sản xuất nông nghiệp

Đa số diện tích sản xuất nông nghiệp trong khu vực chủ yếu là sản xuất hai vụ lúa/năm, diện tích và sản lượng các năm tương đối ổn định Theo thống kê năm 2006 tình hình sản xuất nông nghiệp các khu vực trong vùng như sau:

- Lúa: tổng diện tích gieo trồng là 55.490 ha, năng suất đạt 62,9 tấn.ha-1, sản lượng 349.134 tấn

- Màu lương thực: tổng diện tích gieo trồng là 415,3 ha, năng suất đạt 349,3 tấn.ha-1

, sản lượng 1.664,9 tấn

- Màu thực phẩm: tổng diện tích gieo trồng là 1.076,6 ha, năng suất đạt 288,6 tấn.ha

Trang 26

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 MẪU NGHIÊN CỨU

Ruộng lúa tại xã Hòa Bình Thạnh, Châu Thành, An Giang

3.2 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU

Thí nghiệm được bố trí theo kiểu khối hoàn toàn ngẫu nhiên (RCB) với 3 lần lặp lại, kích thước mỗi ô thí nghiệm là 5m x 6m/lần lặp lại, với 5 nghiệm thức

Bố trí thí nghiệm

Hình 3.1: Cách bố trí các nghiệm thức thí nghiệm trên đồng ruộng

Ghi chú: NT I: Chess 50WG; NT II: Oshin 20WP; NT III: Dantotsu 16WSG; NT

IV Bassa 50EC; NT V: Đối chứng (phun nước)

Bảng 3.1: Liều lượng một số loại thuốc BVTV trong thí nghiệm

Nghiệm

thức Loại thuốc Hoạt chất Liều lượng (lít/ha)

III Dantotsu 16WSG Clothianidin 70 g/ ha

Ghi chú: Thuốc được phun khi có rầy (tuổi 2-3) xuất hiện với mật số 2 - 5 con/dảnh

Ngày đăng: 15/04/2021, 19:37

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 3.1: Cách bố trí các nghiệm thức thí nghiệm trên đồng ruộng - Ảnh hưởng của một số loại thuốc trừ rầy nâu đến một số thiên địch trên ruộng lúa vụ đông xuân 2014 2015 tại xã hòa bình thạnh châu thành an giang
Hình 3.1 Cách bố trí các nghiệm thức thí nghiệm trên đồng ruộng (Trang 26)
Bảng 3.1: Liều lƣợng một số loại thuốc BVTV trong thí nghiệm - Ảnh hưởng của một số loại thuốc trừ rầy nâu đến một số thiên địch trên ruộng lúa vụ đông xuân 2014 2015 tại xã hòa bình thạnh châu thành an giang
Bảng 3.1 Liều lƣợng một số loại thuốc BVTV trong thí nghiệm (Trang 26)
Hình 1: Bố trí thí nghiệm - Ảnh hưởng của một số loại thuốc trừ rầy nâu đến một số thiên địch trên ruộng lúa vụ đông xuân 2014 2015 tại xã hòa bình thạnh châu thành an giang
Hình 1 Bố trí thí nghiệm (Trang 27)
Hình 3.2: Sơ đồ điều tra lấy mẫu - Ảnh hưởng của một số loại thuốc trừ rầy nâu đến một số thiên địch trên ruộng lúa vụ đông xuân 2014 2015 tại xã hòa bình thạnh châu thành an giang
Hình 3.2 Sơ đồ điều tra lấy mẫu (Trang 29)
Bảng 4.2: Hiệu lực của một số loại thuốc trừ sâu đối với rầy nâu ở huyện Châu  Thành, An Giang - Ảnh hưởng của một số loại thuốc trừ rầy nâu đến một số thiên địch trên ruộng lúa vụ đông xuân 2014 2015 tại xã hòa bình thạnh châu thành an giang
Bảng 4.2 Hiệu lực của một số loại thuốc trừ sâu đối với rầy nâu ở huyện Châu Thành, An Giang (Trang 32)
Bảng 4.1: Mật độ rầy nâu trong thời gian thí nghiệm - Ảnh hưởng của một số loại thuốc trừ rầy nâu đến một số thiên địch trên ruộng lúa vụ đông xuân 2014 2015 tại xã hòa bình thạnh châu thành an giang
Bảng 4.1 Mật độ rầy nâu trong thời gian thí nghiệm (Trang 32)
Hình 2: Rầy nâu ở nghiệm thức - Ảnh hưởng của một số loại thuốc trừ rầy nâu đến một số thiên địch trên ruộng lúa vụ đông xuân 2014 2015 tại xã hòa bình thạnh châu thành an giang
Hình 2 Rầy nâu ở nghiệm thức (Trang 34)
Hình 4: Bọ xít mù xanh đang tấn công rầy nâu - Ảnh hưởng của một số loại thuốc trừ rầy nâu đến một số thiên địch trên ruộng lúa vụ đông xuân 2014 2015 tại xã hòa bình thạnh châu thành an giang
Hình 4 Bọ xít mù xanh đang tấn công rầy nâu (Trang 35)
Bảng 4.4: Ảnh hưởng của các loại thuốc BVTV đến bọ rùa đỏ - Ảnh hưởng của một số loại thuốc trừ rầy nâu đến một số thiên địch trên ruộng lúa vụ đông xuân 2014 2015 tại xã hòa bình thạnh châu thành an giang
Bảng 4.4 Ảnh hưởng của các loại thuốc BVTV đến bọ rùa đỏ (Trang 36)
Hình 5: Bọ rùa đỏ tấn công rầy cám - Ảnh hưởng của một số loại thuốc trừ rầy nâu đến một số thiên địch trên ruộng lúa vụ đông xuân 2014 2015 tại xã hòa bình thạnh châu thành an giang
Hình 5 Bọ rùa đỏ tấn công rầy cám (Trang 37)
Hình 6: Kiến ba khoang tấn công rầy trưởng thành - Ảnh hưởng của một số loại thuốc trừ rầy nâu đến một số thiên địch trên ruộng lúa vụ đông xuân 2014 2015 tại xã hòa bình thạnh châu thành an giang
Hình 6 Kiến ba khoang tấn công rầy trưởng thành (Trang 39)
Bảng 4.6: Ảnh hưởng của các loại thuốc BVTV đến bọ rùa 8 chấm - Ảnh hưởng của một số loại thuốc trừ rầy nâu đến một số thiên địch trên ruộng lúa vụ đông xuân 2014 2015 tại xã hòa bình thạnh châu thành an giang
Bảng 4.6 Ảnh hưởng của các loại thuốc BVTV đến bọ rùa 8 chấm (Trang 39)
Hình 7: Pha thuốc Chess 50WG - Ảnh hưởng của một số loại thuốc trừ rầy nâu đến một số thiên địch trên ruộng lúa vụ đông xuân 2014 2015 tại xã hòa bình thạnh châu thành an giang
Hình 7 Pha thuốc Chess 50WG (Trang 52)
Hình 8: Pha thuốc Bassa 50EC - Ảnh hưởng của một số loại thuốc trừ rầy nâu đến một số thiên địch trên ruộng lúa vụ đông xuân 2014 2015 tại xã hòa bình thạnh châu thành an giang
Hình 8 Pha thuốc Bassa 50EC (Trang 52)
Hình 9: Bọ rùa đỏ tập trung sống ở ngọn lúa - Ảnh hưởng của một số loại thuốc trừ rầy nâu đến một số thiên địch trên ruộng lúa vụ đông xuân 2014 2015 tại xã hòa bình thạnh châu thành an giang
Hình 9 Bọ rùa đỏ tập trung sống ở ngọn lúa (Trang 53)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w