1 PHẦN MỞ ĐẦU Chính sách đối ngoại của một quốc gia là tập hợp các chiến lược mà quốc gia đó sử dụng trong quá trình tương tác với các quốc gia khác và các tổ chức quốc tế, trên các lĩn
Trang 2Tài liệu giảng dạy “Chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ từ sau Chiến tranh thế giới 2 đến nay”, do tác giả Dương Thế Hiền, công tác tại Bộ môn Lịch sử, Khoa Sư phạm thực hiện Tác giả đã báo cáo nội dung và được Hội đồng Khoa học và Đào tạo của Khoa Sư phạm thông qua ngày 15 tháng 2 năm 2017, và được Hội đồng Khoa học và Đào tạo của Trường ĐH An Giang thông qua ngày tháng năm 2017
Tác giả biên soạn
Trang 3i
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu Trường Đại học An Giang, Ban lãnh đạo Khoa Sư phạm, quý thầy cô Bộ môn Lịch sử cùng tất cả các anh chị em giảng viên đã nhiệt tình giúp đỡ tôi hoàn thành tài liệu này
Tôi cũng xin tỏ lòng tri ân sâu sắc đến Thư viện Trường ĐHAG, Thư viện tỉnh An Giang, Thư viện Trường ĐHSP TP Hồ Chí Minh đã tận tình giúp đỡ tôi về nguồn tư liệu
Tuy chỉ được biên soạn trong thời gian ngắn, nhưng với sự giúp đỡ tận tình của quý lãnh đạo, sự hỗ trợ của bạn bè, đồng nghiệp, gia đình, sự cố gắng hết sức mình, tôi đã có điều kiện tiếp thu được kiến thức và phương pháp nghiên cứu vô cùng quý báu để hoàn thành tại liệu này
Một lần nữa xin chân thành cảm ơn!
An Giang, ngày 10 tháng 2 năm 2017
Tác giả biên soạn
ThS.Dương Thế Hiền
Trang 4ii
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam kết đây là tài liệu do chính tôi thực hiện Nội dung trong tài liệu giảng dạy này có xuất xứ rõ ràng
Tôi xin chịu trách nhiệm về tài liệu giảng dạy của mình
An Giang, ngày 10 tháng 2 năm 2017
Tác giả biên soạn
ThS.Dương Thế Hiền
Trang 5iii
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1: CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA HOA KỲ GIAI ĐOẠN 1945 - 1960 4 1.1 SỰ HÌNH THÀNH CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA HOA KỲ SAU CHIẾN TRANH THẾ GIỚI 2 4 1.2 CHÍNH SÁCH NGOẠI GIAO TOÀN CẦU CỦA HOA KỲ GIAI ĐOẠN 1947 -
1960 7 1.2.1 Sự hình thành liên minh với Tây Âu và thiết lập các khối quân sự chiến lược trên thế giới 7 1.2.2 Đối đầu Đông - Tây trong sự băng giá quan hệ Hoa Kỳ - Liên Xô giai đoạn
1947 - 1960 12 CHƯƠNG 2: CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA HOA KỲ GIAI ĐOẠN 1961-1975 23 2.1 CHIẾN LƯỢC TOÀN CẦU CỦA HOA KỲ THỜI KỲ KENNEDY - JOHNSON (1961 - 1969) 23 2.1.1 Tổng thống J.Kennedy với “chiến lược hòa bình” – một hướng đi mới của nền ngoại giao Hoa Kỳ 23 2.1.2 Sự thất bại của “Chiến lược hòa bình” trong cuộc chiến tranh Việt Nam (1961 - 1969) 24 2.1.3 Chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ đối với Cuba: từ sự kiện “vịnh Con Lợn” đến
vụ “phong tỏa biển Caribbean” 26 2.1.4 Kế sách “diễn biến hòa bình” của Hoa Kỳ và sự kiện Tiệp Khắc năm 1968 28 2.1.5 Sự thất bại của “Chiến lược hòa bình” của Hoa Kỳ trên bình diện thế giới 29 2.2 CHIẾN LƯỢC TOÀN CẦU CỦA HOA KỲ THỜI KÌ NIXON – FORD (1969 - 1975) 30 2.2.1 Sự thay đổi chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ dưới thời Tổng thống R.Nixon 30 2.2.2 Những thay đổi trong chiến lược của Hoa Kỳ trong cuộc chiến tranh Việt Nam 31 2.2.3 Sách lược ngoại giao thân thiện với Trung Quốc và sự thắng lợi trong nỗ lực chia rẽ khối XHCN ở Châu Á 34 2.2.4 Sự giằng co giữa Hoa Kỳ và Liên Xô trong vấn đề nước Đức và hạn chế vũ khí chiến lược giữa hai nước 36 CHƯƠNG 3: CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA HOA KỲ GIAI ĐOẠN 1975-2000 46 3.1 TỪ TỔNG THỐNG JIMMY CATER ĐẾN TỔNG THỐNG RONALD REAGAN - QUÁ TRÌNH THAY ĐỔI TƯ DUY ĐỐI NGOẠI CỦA HOA KỲ 46
Trang 6iv
3.2 NHỮNG THẮNG LỢI QUAN TRỌNG CỦA HOA KỲ TRONG CUỘC CHIẾN LÀM SUY YẾU VÀ SỤP ĐỔ LIÊN XÔ 51 3.2.1 Cuộc chiến Afghanistan (1979 - 1989) 52 3.2.2 Hoa Kỳ củng cố và phát triển quyền kiểm soát khu vực Trung Đông 53 3.2.3 Sự sụp đổ của Liên Xô – thắng lợi quyết định của Hoa Kỳ trong “Chiến tranh lạnh” 56 3.3 CỤC DIỆN NGOẠI GIAO “ĐƠN CỰC” VÀ SỰ THỂ HIỆN VAI TRÒ LÃNH ĐẠO THẾ GIỚI CỦA HOA KỲ TRONG CUỘC CHIẾN VÙNG VỊNH (1990-
1991) 63 3.4 TỔNG THỐNG BILL CLINTON VÀ CHÍNH SÁCH NGOẠI GIAO TOÀN
CẤU MỚI CỦA HOA KỲ CUỐI THẾ KỈ XX 66 3.4.1 Phát triển kinh tế và vấn đề đối ngoại là ưu tiên hàng đầu của Hoa Kỳ 68 3.4.2 Hoa Kỳ tiến hành mở rộng và áp đặt giá trị Mỹ lên phần còn lại của thế giới 72 3.4.3 Hoa Kỳ thực hiện chính sách vũ lực răn đe nhằm xúc tiến chiến lược toàn cầu trong thế mạnh để tìm kiếm sự quy phục 73 CHƯƠNG 4: CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA HOA KỲ TRONG HƠN MƯỜI NĂM ĐẦU THẾ KỈ XXI (2001 - 2013) 83 4.1 CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA HOA KỲ DƯỚI THỜI TỔNG THỐNG
G.BUSH (2001-2008) 83 4.1.1 Sự kiện 11/9/2001 và sự hình thành chính sách ngoại giao toàn cầu mới của
Hoa Kỳ thời G.Bush (2001-2008) 83 4.1.2 Chiến lược toàn cầu mới của Hoa Kỳ - “Học thuyết Bush” 86 4.2 CUỘC CHIẾN CHỐNG KHỦNG BỐ CỦ HOA KỲ QUA CUỘC CHIẾN AFGHANISTAN (2001) VÀ CUỘC CHIẾN IRAQ (2003) 89 4.2.1 Hoa Kỳ tiến hành cuộc chiến chống khủng bố ở Afghanistan (2001) 89 4.2.2 Hoa Kỳ tiến hành cuộc chiến chống nhà nước Iraq (2003) 92 4.3 CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA HOA KỲ TRƯỚC NHỮNG THÁCH THỨC CỦA THỜI ĐẠI 95 4.3.1 Quan hệ Hoa Kỳ - Liên bang Nga xung quanh các vấn đề chiến lược 95 4.3.2 Quan hệ Hoa Kỳ - Trung Quốc trong thế đối trọng chiến lược ở Châu Á - Thái Bình Dương 98 4.3.3 Hoa Kỳ trước những thách thức toàn diện từ xu hướng “đa cực” 99 4.4 CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA HOA KỲ TRONG NHIỆM KỲ ĐẦU CỦA TỔNG THỐNG BARACK OBAMA (2009 - 2013) 102
Trang 7v
4.4.1 Sự định hình chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ dưới thời Tổng thống B.Obama 103 4.4.2 Những hoạt động đối ngoại chiến lược chủ yếu trong nhiệm kỳ đầu của Tổng thống B.Obama (2019 - 2013) 106 TÀI LIỆU THAM KHẢO 125
Trang 8- NATO: North Atlantic Treaty Organization
- CENTO: Central Treaty Organizaton
- SEATO: South East Asia Treaty Organizaton
- ANZUS: Australia, New Zealand, United States Security Treaty
- OPEC: Organization of Petroleum Exporting Countries
- APEC: Asia-Pacific Economic Cooperation
- ITO: International Trade Organization
- GATT: General Agreement on Tariffs and Trade
- WTO: World Trade Organization
- NAFTA: North America Free Trade Agreement
- CIA: Central Intelligence Agency
- ABM: Anti Ballistic Missile
- NMD: National Missile Defense
- WMD: Weapon of Mass Destruction
- OECD: Organization for Economic Co-operation and Development
- TPP: Trans-Pacific Partnership Agreement
- EAS: The East Asia Summit
- ASEAN: Association of Southeast Asian Nations
Trang 91
PHẦN MỞ ĐẦU
Chính sách đối ngoại của một quốc gia là tập hợp các chiến lược mà quốc gia
đó sử dụng trong quá trình tương tác với các quốc gia khác và các tổ chức quốc tế, trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, quân sự, văn hóa - xã hội, nhằm đạt được những mục tiêu khác nhau phù hợp với lợi ích của quốc gia đó
Chính sách đối ngoại thường được coi là cánh tay nối dài của chính sách đối nội, góp phần bảo vệ an ninh quốc gia, đạt được sự thịnh vượng về kinh tế, hay bảo
vệ và tối đa hóa lợi ích quốc gia nói chung, thông qua các con đường như hợp tác, cạnh tranh, xung đột, hoặc thậm chí chiến tranh
Vai trò của chính sách đối ngoại ngày càng trở nên quan trọng, đặc biệt trong thời đại toàn cầu hóa ngày nay, không quốc gia nào có thể tồn tại biệt lập và sự giao lưu, hợp tác ngày càng được chú trọng
Chính sách đối ngoại của một quốc gia thường được hoạch định bởi bộ máy chính phủ cao nhất của quốc gia Mỗi quốc gia khác nhau, mỗi thể chế chính trị khác nhau lại có cách cấu tạo bộ máy hoạch định chính sách đối ngoại khác nhau
Nhìn chung, các nhân tố cơ bản quyết định chính sách đối ngoại của một quốc gia bao gồm:
+ Thế và lực của quốc gia trên trường quốc tế;
+ Tình hình chính trị và an ninh thế giới;
+ Mục tiêu quốc gia mong muốn đạt được;
+ Ảnh hưởng của bộ máy hoạch định chính sách đối ngoại;
+ Các nhân tố chính trị nội bộ (các nhóm lợi ích, giới truyền thông, công luận,…) (Đào Minh Hồng, 2013)
Chính sách đối ngoại của các nước lớn trên thế giới, hoặc của các cường quốc trong khu vực luôn được các quốc gia khác trong khu vực đó và trên thế giới quan tâm nghiên cứu, bởi chính sách của các nước này không chỉ liên quan đến lợi ích của các quốc gia riêng lẻ, mà còn có khả năng tác động rất lớn đến tình hình hòa bình, ổn định và phát triển của cả khu vực hoặc toàn thế giới
Ngày nay, trong thời đại toàn cầu hóa, nhiều vấn đề đối nội đang có tác động lan tỏa ra ngoài biên giới quốc gia, các chính sách đối nội vì vậy cũng có ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động đối ngoại và quan hệ ngoại giao của quốc gia này đối với các quốc gia khác, chẳng hạn như các chính sách về kinh tế, đầu tư, nhập cư,… Đồng thời, việc hoạch định chính sách đối ngoại ngày nay ở các quốc gia cũng đang chịu tác động ngày càng lớn của các yếu tố chính trị nội bộ như dư luận công chúng, hoạt động vận động hành lang của các nhóm lợi ích, hay ảnh hưởng của giới truyền thông
Hoa Kỳ là một trong những cường quốc trong thế giới đương đại cũng như có
sự tác động lớn nhiều mặt đến đời sống chính trị, ngoại giao thế giới Sau Chiến
Trang 102
tranh thế giới 2 (1939 - 1945), Hoa Kỳ thật sự trở thành một trong hai quốc gia hùng mạnh bật nhất địa cầu Kể từ đó đến nay, Hoa Kỳ liên tục đưa ra những chiến lược ngoại giao mang tính toàn cầu qua các đời Tổng thống từ H.Truman đến đương kim Tổng thống B.Obama Những chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ bao hàm phạm vi không chỉ ở một hay hai khu vực mà nó mang tính toàn cầu và thể hiện sức mạnh cũng như ý đồ vươn lên vị trí bá chủ thế giới Do đó, việc nghiên cứu chính sách ngoại giao toàn cầu của Hoa Kỳ đã thu hút sự quan tâm không chỉ của các chính khách, các nhà ngoại giao mà của cả các sử gia cũng như nhiều nhà nghiên cứu từ sau năm 1945 đến nay
Học lịch sử không chỉ là học quá khứ mà đó là cả một quá trình suy ngẫm quá khứ để ứng xử ở hiện tại và hoạch định tương lai Một quốc gia trong thế kỉ XXI, không thể tự đứng vững một mình mà cần có những đối sách để hòa hợp với thế giới, nhất là phải có những chính sách chung sống hòa hợp với các quốc gia lớn, đặc biệt
là Hoa Kỳ Vì thế, việc nghiên cứu chính sách ngoại giao toàn cầu của Hoa Kỳ để phục vụ cho mục tiêu trên không chỉ là công việc nghiêm túc mà nó còn rất cần thiết cho sự phát triển và an ninh của các nước, trong đó có Việt Nam
Nghiên cứu chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ không chỉ đơn thuần là xem xét, phân tích, nhìn nhận nó một cách phiến diện mà phải đặt nó song hành với chính sách ngoại giao của các nước khác nhất là những cường quốc đối với Hoa Kỳ để thấy được những tiến bộ cũng như hạn chế của nó nhằm rút kinh nghiệm Đồng thời, qua chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ để tiếp cận được những sự thật khách quan về chính sách ngoại giao của các quốc gia khác trong đó có Liên Xô, Trung Quốc,… Có thể nói, nghiên cứu chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ không chỉ đem đến cho chúng
ta cách nhìn toàn diện về tình hình chính trị quốc tế mà còn nhìn thấy những biến động lớn lao của những giai đoạn lịch sử nhân loại từ sau năm 1945 đến nay
Qua việc nghiên cứu học phần Chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ (1945 - 2013), chúng tôi mong muốn người học đạt được những mục tiêu cơ bản sau:
- Người học biết phân tích, nhận định và đánh giá được các mối quan hệ phức tạp trong quan hệ quốc tế từ sau Chiến tranh thế giới 2 đến nay
*Về kỹ năng:
- Người học rèn luyện thêm kỹ năng thuyết trình, báo cáo và thảo luận nhóm
Trang 113
- Người học phát triển thêm các kỹ năng phân tích, tổng hợp, so sánh, đánh
giá các vấn đề quan hệ quốc tế
CÂU HỎI ÔN TẬP Câu hỏi 1: Anh (Chị) hãy trình bày ngắn gọn khái niệm chính sách ngoại
giao của một quốc gia và những đặc điểm cơ bản của nó
Câu hỏi 2: Anh (Chị) hãy trình bày những nhân tố cơ bản quyết định chính
sách đối ngoại của một quốc gia
Câu hỏi 3: Anh (Chị) hãy trình bày mối quan hệ hỗ tương giữa chính sách
đối nội và chính sách đối ngoại của một quốc gia
Câu hỏi 4: Anh (Chị) đánh giá như thế nào về sự ảnh hưởng của chính sách
đối ngoại của Hoa Kỳ với đời sống chính trị thế giới?
Câu hỏi 5: Anh (Chị) hãy trình bày những nhận thức của bản thân về vai trò
của việc nghiên cứu chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ trong việc nghiên cứu tình hình chính trị quốc tế những giai đoạn lịch sử đã qua cũng như giai đoạn hiện nay
Trang 124
CHƯƠNG 1 CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA HOA KỲ
GIAI ĐOẠN 1945 - 1960
*Mục tiêu:
Sau khi học xong chương 1, sinh viên cần đạt được mục tiêu sau:
1 Khái quát được sự ra đời của chiến lược ngoại giao toàn cầu của Hoa Kỳ sau Chiến tranh thế giới 2
2 Phân tích, tổng hợp, đánh giá được mối quan hệ đối đầu giữa Hoa Kỳ và Liên Xô trong Chiến tranh lạnh (1947 - 1960) biểu hiện qua cuộc chạy đua vũ trang, thành lập các khối quân sự; sự tranh giành ảnh hưởng ở Đức, Triều Tiên, Việt Nam, Cuba, Trung Đông và Đông Âu
1.1 SỰ HÌNH THÀNH CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA HOA KỲ SAU CHIẾN TRANH THẾ GIỚI 2
Thế kỉ XX, loài người đã trải qua hai lần Đại chiến thế giới vô cùng ác liệt Hai lần chiến tranh ấy đi qua người ta lại thấy sự vươn lên mạnh mẽ của Hoa Kỳ với tham vọng bá chủ thế giới Hoa Kỳ tham chiến trong Chiến tranh thế giới 1 từ tháng 4/1917 nhưng đã đóng vai trò quan trọng trong chiến thắng của phe Hiệp ước và đã trở thành trọng tài trong các cuộc đàm phán dẫn tới hội nghị Versilles (1919) cũng như khẳng định vị thế trong Washington (1921 - 1922) Sau chiến tranh Hoa Kỳ trở thành chủ nợ nóng nhất, lớn nhất đối với các cường quốc châu Âu (châu Âu nợ Hoa
Kỳ 10 tỷ USD) Trong khi đó, hàng hóa của Hoa Kỳ xuất sang châu Âu năm 1919 lên tới gần 8 tỷ USD, điều này đã tạo ra “cú hích” cho công nghiệp Hoa Kỳ cất cánh Vốn đầu tư ra nước ngoài của Hoa Kỳ lên tới 6,4 tỷ USD Dự trữ vàng của Hoa Kỳ chiếm tới 1/3 dự trữ vàng của thế giới Sự phát triển của kinh tế Hoa Kỳ trong và sau Chiến tranh thế giới 1 làm cho Hoa Kỳ trở thành nước giàu mạnh nhất thế giới - trung tâm công nghiệp, thương mại, tài chính quốc tế Từ đây đánh dấu giai đoạn cố gắng vươn lên lãnh đạo thế giới của Hoa Kỳ
Hoa Kỳ đã biết chọn thời cơ đúng lúc trong việc tự làm mạnh mình khi các đối thủ bị đuối sức Trong Chiến tranh thế giới 2, Hoa Kỳ nhảy vào cuộc chiến ở giai đoạn cuối sau khi đã tính toán kỹ các lợi ích sẽ thu được để đề ra cách có lợi cho mình nhất, khi các đối thủ của họ là Đức, Italia, Nhật Bản bị thiệt hại nặng nề Bằng
sự thao lược trong việc sử dụng trí - dũng - mưu của mình một cách đúng lúc đã đưa đến cho Hoa Kỳ những lợi ích to lớn sau Chiến tranh thế giới 2 đó là:
+ Hoa Kỳ trong giai đoạn đầu bán vũ khí cho các bên tham chiến và thu về gần 114 tỷ USD Trong khi Liên Xô bị mất đến 26,5/56 triệu người thì Hoa Kỳ chỉ thiệt hại 30 vạn người Trong khi Hoa Kỳ không bị tàn phá trong chiến tranh thì châu
Âu lại bị thiệt hại có giá trị lên tới 260 tỷ USD, còn Liên Xô thiệt hại 49,3% về tất cả các mặt
Trang 135
+ Về quân sự: Lục quân Hoa Kỳ từ vị trí thứ 17 thế giới đã vươn lên hàng đầu, hải quân và không quân cũng vươn lên vị trí số một thế giới bỏ xa các nước khác Từ thời gian 1945 đến trước 1949, Hoa Kỳ nắm độc quyền về bom nguyên tử, độc quyền về phương tiện đưa vũ khí nguyên tử tới đích xa, tức là máy bay chiến lược hoạt động tầm xa và hải quân có nhiều hàng không, mẫu hạm Hoa Kỳ thiết lập một hệ thống căn cứ quân sự dày đặc với trên 3.000 căn cứ trên khắp thế giới
+ Về tài chính: Hoa Kỳ có khối lượng vàng dự trữ lớn nhất thế giới với giá trị lên gần 2,5 tỷ USD (1949), gần bằng ¾ khối lượng vàng của thế giới tư bản Sau chiến tranh thế giới 2, Hoa Kỳ là chủ nợ duy nhất trên thế giới, ngay cả Anh và Pháp trước đây là chủ nợ nay cũng “xòe tay vay nợ” của Hoa Kỳ
+ Về kinh tế: Hoa Kỳ có ưu thế lớn trong những năm đầu sau chiến tranh nhờ
có một nền công nghiệp và nông nghiệp phát triển cao Sản lượng công nghiệp của Hoa Kỳ chiếm 56,4% tổng sản lượng công nghiệp thế giới tư bản (1948) Sản lượng nông nghiệp gấp hai lần tổng sản lượng của các nước Anh, Pháp, Đức, Ý, Nhật Bản (1949) Kinh tế Hoa Kỳ phát triển vô cùng mạnh mẽ (Nguyễn Anh Thái, 1996)
Về thực lực, Hoa Kỳ đã vươn lên vị trí của một siêu cường số một trong thế giới tư bản và Hoa Kỳ tự thấy rằng mình hoàn toàn đủ sức lãnh đạo thế giới chứ không còn bó hẹp ở khu vực Tây bán cầu nữa Nước Mỹ khao khát được lớn hơn tất
cả, mạnh hơn tất cả Sau Chiến tranh thế giới 2, chỉ có Liên Xô là nước duy nhất làm cho Hoa Kỳ e ngại vì Liên Xô là một quốc gia XHCN có tham vọng lớn Liên Xô và Hoa Kỳ đã gặt hái được rất nhiều lợi ích sau chiến tranh Trong khi, Hoa Kỳ sinh lợi
từ Tây Âu thì Liên Xô lại sinh lợi từ Đông Âu Thật sự Liên Xô dưới sự lãnh đạo của Stalin đã ôm ấp nhiều tham vọng lớn như làm cho CNXH trở thành hệ thống duy nhất trên thế giới, tiêu diệt hoàn toàn CNTB và tất nhiên bao gồm cả việc tiêu diệt Hoa Kỳ
để họ là một siêu cường duy nhất Biểu hiện rõ ràng nhất là vào đầu năm 1947, Liên
Xô đã xây dựng một hệ thống các nước XHCN thân tín ở Đông Âu bao gồm Bulgaria, Rumani, Hungary, Nam Tư, Ba Lan, Tiệp khắc và Đông Đức Trong phạm
vi ảnh hưởng này, ở Thổ Nhĩ Kì, Hy Lạp phong trào đấu tranh vũ trang dưới sự lãnh đạo của các Đảng Cộng sản dâng cao mạnh mẽ, ở Pháp, Ý, Bỉ các thành viên của Đảng Cộng sản đã tham gia các chính phủ Trong khi đó, ở châu Á, năm 1949, dưới
sự ảnh hưởng, giúp đỡ của Liên Xô, quân dân Trung Quốc dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc đã giáng cho quân đội của Tưởng Giới Thạch (Quốc Dân Đảng) dưới sự giúp đỡ của Hoa Kỳ một đòn chí mạng phải chạy ra tận đảo Đài Loan
Như vậy, Hoa Kỳ bằng sự phát triển tuyệt diệu bên trong đã tạo ra cho họ một sức mạnh to lớn về mọi mặt, từ đó càng thúc đẩy tư tưởng về một “đại đế quốc” và làm nảy sinh ra trong bản thân người dân Mỹ một sự kiêu hãnh về sức mạnh, đó là sức mạnh nước Mỹ, quyền lực nước Mỹ Nhưng bên ngoài biên cương nước Mỹ, Liên Xô đang mở rộng phạm vi ảnh hưởng ra châu Âu và thế giới Giới chức Hoa Kỳ
tỏ rõ một sự lo lắng lớn về nguy cơ Liên Xô, họ cho rằng: “Liên Xô không cần tấn công Hoa Kỳ để làm bá chủ thế giới mà Liên Xô chỉ cần cô lập Hoa Kỳ và nuốt dần các đồng minh của Hoa Kỳ” Tất cả đã buộc Hoa Kỳ phải đưa ra tiếng nói và hành
Trang 14- Làm suy yếu, ngăn chặn sự phát triển và lan rộng ảnh hưởng của Liên Xô và Chủ nghĩa Xã hội
- Xoá bỏ hoàn toàn trật tự thế giới cũ của các đế quốc Tây Âu, đưa toàn bộ thế giới tư bản chủ nghĩa vào một trật tự chính trị và kinh tế mới do Hoa Kỳ khống chế
- Đàn áp phong trào giải phóng dân tộc, phong trào dân chủ trên thế giới
- Nô dịch các nước tư bản, đồng minh, tập trung họ lại dưới sự lãnh đạo của Hoa Kỳ (Nguyễn Anh Thái, 1996)
Để đạt được các mục tiêu trên Hoa Kỳ đã đưa ra chính sách đối ngoại, chính sách thực lực, âm mưu dựa vào “thế mạnh” để khuất phục các dân tộc khác Trong thời kỳ Chiến tranh lạnh, Hoa Kỳ chọn mục tiêu thứ nhất làm chủ đạo là thực hiện chính sách “ngăn chặn cộng sản”
Học thuyết quân sự của Hoa Kỳ trong thời kỳ này nhằm tìm cách giành ưu thế quân sự trên phạm vi toàn cầu; bao vây cô lập Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa; xây dựng các khối quân sự để vừa kiểm soát các đồng minh, vừa tạo cơ
sở cho hoạt động quân sự khi cần thiết
Học thuyết toàn cầu với những tham vọng lớn lao của nó đã đặt thế giới vào một tình trạng vô cùng bất an, sự căng thẳng trên thế giới đã thật sự hiện hữu trở lại ngay khi vết thương chiến tranh thế giới vẫn còn đang rỉ máu Với sự ra đời của chiến lược toàn cầu đã làm tan vỡ mối quan hệ ngoại giao hữu nghị giữa Hoa Kỳ và Liên Xô trong Chiến tranh thế giới 2 Chính Hoa Kỳ là kẻ đã phát động cuộc “Chiến tranh lạnh” (1)
chống lại Liên Xô và Chủ nghĩa Cộng sản “Học thuyết Truman” hay
“Chiến lược toàn cầu” là một trong những tác nhân gây ra sự đau thương cho hàng
Trang 157
triệu con người trên thế giới Sự tương tác quyền lực giữa Hoa Kỳ và Liên Xô đã đẩy thế giới vào những thái cực bất ổn nhất của cuộc Chiến tranh lạnh và chạy đua vũ trang có quy mô toàn cầu, sức ảnh hưởng của nó tác động đến nhiều quốc gia và khu vực trên thế giới, đẩy cả nhân loại đứng trước nguy cơ bị hủy diệt
1.2 CHÍNH SÁCH NGOẠI GIAO TOÀN CẦU CỦA HOA KỲ GIAI ĐOẠN
để răn đe khi một ai đó không tuân lệnh, nhưng nước Mỹ đã qua rồi cái thời “không cần nói nhiều, chỉ cần một cây gậy lớn là anh có thể đi bất cứ đâu” (trích câu nói của Tổng thống Hoa Kỳ Thoedore Rooservelt) (William A Degregorio, 2006) mà thế giới này sau Chiến tranh thế giới 2 đã bắt đầu thời kì chia bè kết phái dữ dội nhất, Liên Xô đang ráo riết tìm kiếm đồng minh và Hoa Kỳ phải có động thái đáp trả, đó là chủ trương của Nhà Trắng và Lầu Năm Góc Hướng ưu tiên tìm kiếm và lôi kéo là Tây Âu nơi khai sinh ra chủ nghĩa tư bản, kẻ thù không đội chung trời với Chủ nghĩa Cộng sản và Liên Xô, đồng thời cũng đang là đối tượng lôi kéo của Liên Xô
Đông Âu đang chịu sự ảnh hưởng mạnh mẽ của Chủ nghĩa Cộng sản với trung tâm là Liên Xô Trong khi đó, Tây Âu cũng đang đứng trước nguy cơ tương tự, Hoa Kỳ và thế giới tự do đứng trước nguy cơ mất dần quyền lực nếu cứ để cho Liên
Xô phát huy ảnh hưởng bao trùm cả Tây Âu
Trước thực tế đó, Washington phải hành động để giành lấy lại, cũng như không để mất thêm nữa Ngày 5 tháng 6 năm 1947, Bộ trưởng ngoại giao Hoa Kỳ là Goerge Marshall đã đưa ra “Chương trình phục hưng châu Âu” hay còn gọi là “Kế hoạch Marshall” nhằm tái thiết lại châu Âu từ đống tro tàn sau Thế chiến thứ hai nhưng thực chất là để lôi kéo và khống chế các nước châu Âu Hoa Kỳ đã tuyên bố chỉ cần một bộ phận hay toàn bộ các nước châu Âu cùng nhau xây dựng kế hoạch
“phục hưng” thì Hoa Kỳ viện trợ đến châu Âu ngay lập tức Hoa Kỳ cũng có ý viện trợ luôn cho cả Liên Xô và các nước Đông Âu để cùng một lúc có thể khống chế toàn
bộ châu Âu (kể cả Liên Xô) Nhưng Hoa Kỳ nhận về hai hiệu ứng trái ngược nhau Liên Xô và các nước Đông Âu đã không chấp nhận kế hoạch này của Washington Trái lại, các nước Tây Âu đã chấp thuận một cách nhanh chóng Ngày 12 tháng 7
Trang 16ý của Hoa Kỳ Ngoài ra, đạo luật này còn dùng những lời lẽ kín đáo buộc các nước nhận viện trợ phải thủ tiêu việc buôn bán với các nước XHCN, hủy bỏ kế hoạch quốc hữu hóa và nhất là gạt bỏ những người cộng sản và thân cộng sản ra khỏi chính phủ (Đảng Cộng sản Pháp và Đảng Cộng sản Italia bị gạt ra khỏi chính phủ vào thời kì này) Kế hoạch Marshall được thực hiện từ ngày 9 tháng 4 năm 1948 đến ngày 31 tháng 12 năm 1951 thì kết thúc, Hoa Kỳ đã bỏ ra 12.5 tỷ USD cho kế hoạch này (Nguyễn Anh Thái, 1996) Kết quả là nền kinh tế của các nước nhận viện trợ được phục hồi nhanh chóng Như vậy, với những ý đồ từ trước của mình Hoa Kỳ đã ràng buộc được các nước Tây Âu cả về kinh tế lẫn chính trị Về cơ bản Hoa Kỳ đã tìm được đồng minh cho mình
Về phía Liên Xô, để chống lại “Học thuyết Truman” và “Kế hoạch Marshall”, ngăn chặn có hiệu quả chiến lược toàn cầu của Hoa Kỳ và cũng tự cứu lấy mình, tháng 9 năm 1947, Liên Xô đã triệu tập hội nghị các nước XHCN ở Warsaw (Ba Lan) bao gồm các nước Liên Xô, Bulgaria, Hungary, Rumani, Tiệp Khắc, Nam Tư,
Ba Lan và các Đảng Cộng sản Pháp, Đảng Cộng sản Italia Hội nghị đã thông qua bản tuyên bố, trong đó phân tích rõ tình hình thế giới lúc này phân chia làm 2 phe: Phe “đế quốc” và tư bản do Hoa Kỳ cầm đầu và phe “chống đế quốc”, chống tư bản
do Liên Xô lãnh đạo Hội nghị đã quyết định thành lập cơ quan “Cục thông tin quốc tế” (gọi tắc là KOMINFORM) với nhiệm vụ tổ chức việc thông tin, trao đổi kinh nghiệm và phối hợp hành động đấu tranh cách mạng giữa các Đảng Cộng sản một cách tự nguyện Để trao đổi thông tin và liên lạc, Hội nghị đã quyết định xuất bản tạp chí “Vì một nền hòa bình, vững chắc, vì nền dân chủ nhân dân” (Nguyễn Anh Thái, 1996)
Tiếp sau đó, ngày 18 tháng 1 năm 1949, Liên Xô cùng các nước Albania, Ba Lan, Bulgaria, Hungary, Rumani, Tiệp Khắc đã thành lập tổ chức kinh tế của các nước XHCN là “Hội đồng tương trợ kinh tế” (gọi tắc là SEV) Để tạo ra một hệ thống kinh tế thứ hai trên thế giới tồn tại độc lập và đối trọng với hệ thống kinh tế của các nước tư bản chủ nghĩa do Hoa Kỳ cầm đầu Như vậy, thế giới bị chia đôi, nhân loại bị chia hai bởi Chủ nghĩa Tư bản (CNTB) hay Chủ nghĩa Xã hội (CNXH)
Giữa lúc, Liên Xô ngày càng lớn mạnh, CNCS đang được xác lập từ Đông
Âu sang Bắc Á và lan rộng dần xuống vùng Nam Á và Đông Nam Á, các phong trào
Trang 179
giải phóng dân tộc đang lên cao trên khắp các lục địa Á, Phi, Mỹ Latinh Do đó, Hoa
Kỳ đã xúc tiến ngay việc thành lập các khối, căn cứ quân sự xâm lược và lôi kéo đồng minh trên khắp địa cầu, đặt chúng dưới sự chỉ huy của Hoa Kỳ để bao vây Liên
Xô, các nước xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở Đông Âu, Viễn Đông và các nước có cao trào giải phóng dân tộc trên khắp hành tinh
Ngày 4/4/1949, tại Washington, Hoa Kỳ cùng với 10 nước đồng minh là Anh, Pháp, Canada, Hà Lan, Na Uy, Đan Mạch, Bỉ, Luxembourg, Bồ Đào Nha, Iceland kí “Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương” có hiệu lực ngày 4/8/1949, trong thời hạn
20 năm có thể gia hạn thêm Tháng 9/1949, cũng tại Washington, khóa họp đầu tiên của Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương đã được tiến hành, lập ra ủy ban phòng thủ và ủy ban quân sự tức là thành lập ra tổ chức “Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương” gọi tắc là NATO (North Atlantic Treaty Organization) với tinh thần “Một cuộc tấn công vũ trang vào một hay một số nước tham gia Hiệp ước ở châu Âu và Bắc Mỹ được coi như một cuộc tấn công chống lại tất cả” (Vũ Dương Ninh, 2002) NATO(2)
được đặt dưới sự bảo trợ của Hoa Kỳ chứ không phải là Anh hay Pháp
Sau “Học thuyết Truman” và “Kế hoạch Marshall” việc thành lập ra khối NATO là một bước tiến dài trên con đường ngoại giao toàn cầu từng bước chinh phục thế giới của Hoa Kỳ Có thể nói, ý đồ này của Hoa Kỳ đã được che đậy hết sức tinh vi và kín kẽ dưới các mỹ từ “bảo vệ hòa bình an ninh chung”, “bảo vệ tự do”,
“bảo vệ di sản và an ninh cho các dân tộc”… Thật sự, Hoa Kỳ đã tập hợp được các nước đồng minh của mình lại trong NATO do chính Hoa Kỳ tùy nghi sử dụng, sai khiến Hoa Kỳ đã khống chế các nước đồng minh phương Tây từ quân sự, chính trị đến kinh tế, biến các nước này thành nguồn cung ứng nhân lực, vật lực, tài lực cho mình NATO trở thành công cụ chính cho sự bành trướng của Hoa Kỳ trên phạm vi toàn cầu ở giai đoạn này và các giai đoạn sau
Trong khi đó, Hoa Kỳ cũng bắt đầu thương lượng với Nhật Bản Sau Thế chiến thứ hai, Nhật Bản là nước bại trận còn phe Đồng minh gồm Mỹ, Anh, Pháp và Liên Xô là các nước thắng trận Ngày 14/8/1945, Nhật Hoàng tuyên bố đầu hàng quân đội Đồng minh vô điều kiện, Nhật Bản chịu sự chiếm đóng của lực lượng quân Đồng minh với Tướng Douglas Mac Arthur được chỉ định giữ chức Tổng chỉ huy tối cao các lực lượng Đồng minh Mục tiêu chủ yếu của lực lượng Đồng minh chiếm đóng ở Nhật Bản là thủ tiêu chủ nghĩa quân phiệt và thiết lập dân chủ hóa nước Nhật Song lực lượng Đồng minh chiếm đóng ở Nhật Bản lúc này chủ yếu là người Mỹ nên các chính sách thực thi của họ không nằm ngoài mục tiêu đảm bảo Nhật Bản không thể trở thành mối đe doạ đối với Mỹ
Tuy nhiên, sự chiếm đóng của Mỹ ở Nhật diễn ra đồng thời với việc Mỹ giúp đỡ Nhật Bản phục hồi kinh tế và phát triển văn hoá Cùng với kế hoạch Marshall ở châu Âu, Mỹ viện trợ kinh tế và khoa học kĩ thuật cho Nhật Phong cách
Mỹ và lối sống Mỹ cũng bắt đầu xâm nhập vào xã hội Nhật Bản
Trang 1810
Năm 1949, khi cách mạng Trung Quốc thành công với sự ra đời của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Mỹ đã thực hiện “đường lối đảo ngược”, đẩy mạnh quan hệ với Nhật Bản nhằm ngăn chặn làn sóng cộng sản ở châu Á Tóm lại, Nhật Bản bại trận trong Chiến tranh thế giới 2 đã mở ra một thời kỳ mới trong quan
hệ Mỹ - Nhật Kết thúc chiến tranh cũng có ý nghĩa là mở đầu thời kỳ chiếm đóng của Mỹ ở Nhật Bản Điều này phản ánh đúng thực trạng của hai nước sau chiến tranh, một bên thắng trận và một bên bại trận Kẻ bại trận bị nhiều điều khoản ràng buộc mang tính quốc tế và bị kiệt quệ về kinh tế Quan hệ Mỹ - Nhật vốn là cựu thù trong chiến tranh nay đã trở thành đồng minh chiến lược
Ngày 8/9/1951, tại San Francisco, Hoa Kỳ đã kí với Nhật Bản hòa ước với những điều khoản mà trước đây Hoa Kỳ không hề mơ tới Cũng ngày 8/9/1951,
“Hiệp định An ninh Hoa Kỳ - Nhật Bản” được kí kết, Hiệp định có giá trị 10 năm (đến năm 1960 tăng lên thêm 10 năm nữa và đến năm 1970 thì hai bên thỏa thuận kéo dài vĩnh viễn) Theo Hiệp định này Nhật Bản cho phép Hoa Kỳ thiết lập các căn
cứ quân sự trên đất Nhật 300 căn cứ quân sự (hiện nay còn 179 căn cứ với 61.000 quân) (Nguyễn Anh Thái, 1996)
Nhật Bản trở thành vị trí then chốt có tính chất quyết định trong vành đai chiến lược tiền tiêu của Hoa Kỳ kéo dài từ Đông Bắc Á xuống tận Đông Nam Á Khối quân sự Đông Bắc Á đã hình thành
Giữa Mỹ và Nhật Bản, quan hệ đặc biệt đã được xác lập suốt trong giai đoạn Chiến tranh lạnh, đó là mối quan hệ giữa người bảo trợ và người được bảo trợ Sau thất bại trong Chiến tranh thế giới 2, Nhật Bản đã chọn con đường phát triển kinh tế bằng toàn bộ sức lực của mình, phó thác việc phòng vệ Nhật Bản vào tay Mỹ, nước thắng Nhật trong chiến tranh Mối quan hệ này đã tồn tại trong một thời gian dài vì
nó phục vụ cho lợi ích của cả Mỹ và Nhật Bản
Chính sách của Mỹ đối với Nhật Bản thời kỳ sau Chiến tranh thế giới 2 phản ánh chiến lược toàn cầu của Mỹ nhằm thực hiện cuộc chiến tranh lạnh mà nội dung chính của nó là cô lập và tiến tới xoá bỏ hệ thống XHCN theo mô hình Xô Viết Việc chiếm đóng Nhật Bản sau chiến tranh và giúp Nhật khôi phục và phát triển kinh tế nằm trong những tính toán chiến lược của nước này Một mặt Mỹ muốn chứng tỏ với công luận của Nhật Bản và thế gới rằng cuộc chiến tranh đã qua,
sự giúp đỡ đối với Nhật Bản là cần thiết và qua đó nhằm xoá đi hình ảnh chẳng đẹp
đẽ gì của đội quân chiếm đóng Mặt khác, dùng Nhật như một căn cứ tiền tiêu để răn đe hai siêu cường cộng sản là Liên Xô và Trung Quốc Bên cạnh đó, Hiệp ước an ninh Mỹ - Nhật còn nhằm biến Nhật Bản thành một bàn đạp cho các lực lượng của
Mỹ ở Viễn Đông, lôi kéo Nhật vào liên minh chống Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa, gây chiến tranh xâm lược ở Triều Tiên (1950 - 1953), chống hai nước Trung Quốc và Triều Tiên, đàn áp phong trào dân chủ đang phát triển mạnh mẽ ở Nhật Bản
Hơn nữa, việc liên minh với Nhật Bản, đặc biệt là sau sự ra đời của Hiệp ước phòng thủ giữa hai nước còn tạo cơ sở pháp lý cho việc có mặt dài hạn của các
Trang 1911
căn cứ quân sự Mỹ ở Nhật, đồng thời Mỹ cũng muốn kiểm soát trực tiếp và kiềm chế khả năng quân sự của Nhật Bản Một liên minh quân sự với Nhật Bản cũng là một sự đảm bảo chắc chắn cho sự có mặt của Mỹ trong khu vực và sự an tâm của Nhật trước các thách thức lớn như Liên Xô, Trung Quốc hay Triều Tiên
Hoa Kỳ đã tiếp tục thành lập các khối quân sự, liên minh quân sự ở các khu vực khác trên thế giới nhằm hỗ trợ cho khối NATO và bao vây Liên Xô, các nước XHCN, đàn áp phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc trên thế giới Ngoài khối Tây bán cầu (tên tiếng Anh: Inter - American Treaty of Reciprocal Assistance - Hiệp ước
Hỗ tương Liên Mỹ châu) ra đời năm 1947, khối Đông Bắc Á tức Liên minh quân sự Hoa Kỳ - Nhật Bản (9/1951); còn có các khối ANZUS (viết tắt của: Australia, New Zealand, United States Security Treaty - Khối hiệp ước An ninh quân sự Australia - New Zealand – Hoa Kỳ) ra đời ngày 1/9/1951, khối SEATO (viết tắt của: South East Asia Treaty Organizaton - Liên minh Đông Nam Á) ra đời ngày 8/9/1954, khối CENTO (viết tắt của: Central Treaty Organizaton, tên cũ: Middle East Treaty Organization - Liên minh Trung Đông) ra đời năm 1955 Hoa Kỳ đã thành lập trên 2.000 căn cứ quân sự, đưa hàng chục vạn quân Hoa Kỳ đóng rải rác khắp mọi nơi (năm 1968 - 1969, Hoa Kỳ có 1,5 triệu quân đóng ở nước ngoài trong tổng số 3,477 triệu quân thường trực của Hoa Kỳ, trong đó có 60.000 ở Đông Dương, 32.000 quân đóng ở châu Âu, 28.000 quân đóng ở Nhật Bản và ở một số đảo chiến lược như Samoa, Guam….) (Vũ Dương Ninh, 2002)
Lợi ích chiến lược của Mỹ ở châu Á được xác định vào khoảng thời gian 1949-1950 Tháng 1/1950, Ngoại trưởng Mỹ Dean Acheson đã tuyên bố: “Phạm
vi phòng thủ của Mỹ trải từ Alaska đến Nhật Bản và tiếp tục đến tận quần đảo kyu và Phillipines” (David Halberstam, 2007)
Ryu-Tất cả những sự kiện trên đều nhằm tổ chức những mặt trận, những con đê ngăn chặn sự xâm nhập của cộng sản bằng cách phòng thủ tập thể của Hoa Kỳ và đồng minh
Cùng thời gian đó, Hoa Kỳ ra sức vũ trang cho quân đội của mình và các nước đồng minh H.Truman cho xúc tiến việc nghiên cứu chế tạo bom khinh khí (bom H), đồng thời ra sức nghiên cứu tên lửa tầm xa dưới sự trợ giúp đắc lực từ đội ngũ các nhà khoa học gốc Đức Đến tháng 10/1952, Hoa Kỳ đã chế tạo thành công bom H Trong khi đó, Liên Xô cũng tiến thêm một bước trong việc cải tiến tên lửa tầm xa và cũng xúc tiến chế tạo bom H Cuộc chạy đua vũ trang của hai siêu cường
đã tiến thêm một bước mới, với mức độ ngày càng quyết liệt hơn (Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, 2005)
Từ khi Hoa Kỳ và đồng minh phương Tây thành lập khối NATO (1949), Liên
Xô đứng trước nguy cơ bị tấn công thật sự từ phía Tây nên nước này đã quyết định
tìm giải pháp từ các nước đồng minh Đông Âu
Từ ngày 11 đến 14/5/1955, tại Warsaw (thủ đô Ba Lan) Liên Xô cùng bảy nước Bulgaria, Rumani, Tiệp Khắc, Cộng hòa Dân chủ Đức, Hungary, Albania và Ba
Trang 2012
Lan đã kí “Hiệp ước hợp tác và tương trợ Warsaw” Hiệp ước này có giá trị trong thời gian 20 năm nhằm giữ gìn hòa bình, an ninh của các nước hội viên và duy trì thế cân bằng chiến lược ở châu Âu, đoàn kết các nước XHCN dưới sự lãnh đạo Liên Xô, theo tinh thần “Trong trường hợp một hay nhiều nước tham gia hiệp ước bị một hay nhiều nước khác tấn công thì các nước tham gia hiệp ước có nhiệm vụ giúp đỡ nước
bị tấn công bằng mọi thứ phương tiện có thể, kể cả lực lượng vũ trang” (Vũ Dương Ninh, 2002)
Theo đó, Liên Xô đưa hàng chục vạn quân ra đóng ở các nước Đông Âu, Mông Cổ và biên giới Xô - Trung
BẢNG SO SÁNH LỰC LƯỢNG QUÂN SỰ GIỮA HAI KHỐI WARSAW và NATO (vào những năm 70)(3)
Kỳ muốn giành lại và giành lấy những ưu thế so với Liên Xô
1.2.2.1 Xuất phát điểm từ Tây Đức
Trang 2113
Tham vọng giới tuyến bá quyền của Hoa Kỳ xuất phát điểm tại Tây Đức Hoa
Kỳ đã ra sức tiến hành âm mưu chia cắt nước Đức, phục hồi chủ nghĩa quân phiệt Đức, biến Tây Đức thành tiền đồn ngăn chặn nguy cơ thắng lợi của Chủ nghĩa Cộng sản mà theo họ là đang trực tiếp đe dọa các nước châu Âu Do đó, Hoa Kỳ đã cố tình phá hoại các cuộc họp của Hội nghị Ngoại trưởng ở Moscow vào tháng 4 năm 1947
và ở Luân Đôn vào tháng 12 năm 1947, bằng cách bác bỏ các đề nghị của Liên Xô trong việc giải quyết vấn đề kí Hòa ước với Đức, vấn đề thành lập một chính phủ chung cho toàn nước Đức theo nghị quyết Postdam và vấn đề tiêu diệt tận gốc Chủ nghĩa phát xít và quân phiệt Đức Sau đó, tại Luân Đôn, Hoa Kỳ, Anh, Pháp, Bỉ, Hà Lan và Luxembourg để bàn về việc chia cắt nước Đức Ngay lập tức phía Liên Xô liền có động thái đáp trả bằng cách Liên Xô cùng một số nước khác là Tiệp Khắc, Ba Lan, Nam Tư đã tiến hành họp tại Praha (Tiệp Khắc) Sau đó, Liên Xô ra yêu cầu phải cho 3 Bộ trưởng (Tiệp Khắc, Ba Lan, Nam Tư) hội nghị ở Luân Đôn Hội nghị Luân Đôn dưới sự đạo diễn của Hoa Kỳ đã đưa ra các vấn đề sau: “Tổ chức chính trị
ở Tây Đức, quy chế khai thác vùng Ruhr, chế độ chiếm đóng mới ở Tây Đức cải cách tiền tệ ở Đức Hội nghị đã xem xét việc thành lập một quốc gia Tây Đức có ý nghĩa đặc biệt, thỏa thuận với nhau về cải cách tiền tệ ở Tây Đức và khu Tây Berlin cùng việc thi hành quy chế đóng quân”, để che đậy việc duy trì chế độ đóng quân
Về quân sự Hoa Kỳ, Anh, Pháp đã công nhận hủy bỏ bộ máy kiểm soát tay tư
ở Đức để thành lập ra cục “quân sự về an ninh” gồm các tổng tư lệnh Hoa Kỳ, Anh, Pháp Về quy chế vùng Ruhr, Hoa Kỳ, Anh, Pháp chấp nhận để các công ty độc quyền Đức quản trị
Để thi hành những nghị quyết của hội nghị Luân Đôn, Hoa Kỳ, Anh, Pháp và những người cầm đầu Tây Đức tiến hành hội nghị Frankfurt (7/1948) Hội nghị quyết định triệu tập một Quốc hội lập hiến vào tháng 9 năm 1948 gọi là Tây Đức Tiếp theo, vào ngày 8 tháng 4 năm 1949, tại Washington, Hoa Kỳ, Anh, Pháp đã thông qua “quy chế đóng quân” và nhiều văn bản quan trọng khác về Tây Đức Nội dung các văn bản này trao trả quyền quản trị nước Đức cho quốc gia Tây Đức sẽ được thành lập sau đó, bước đầu công nhận Tây Đức có quyền tự trị phù hợp với chế độ đóng quân ở vùng này Nhưng Hoa Kỳ, Anh, Pháp sẽ nắm lấy quyền lực tối cao, có quyền sửa đổi lại mọi quy định về lập pháp và hành chính của nhà cầm quyền Tây Đức, kiểm soát nền công nghiệp vùng Ruhr, kiểm soát ngoại thương và hoạt động ngoại giao của Tây Đức Các lực luợng vũ trang đóng ở Tây Đức được tự do đi lại nhưng bất kì lúc nào các tư lệnh quân đội tối cao của các nước Hoa Kỳ, Anh, Pháp cũng có thể tước bỏ quyền lực của các cơ quan Tây Đức và xác lập quyền kiểm soát Tây Đức (Vũ Dương Ninh, 2002)
Trước sự ra đời của Tây Đức, Liên Xô đã xây dựng ở phía đông nước Đức một quốc gia cũng lệ thuộc rất nhiều vào Liên Xô là nước Cộng Hòa Dân Chủ Đức (Đông Đức) Sự mâu thuẫn giữa Hoa Kỳ và Liên Xô ở nước Đức được đẩy lên cao
độ khi Stalin (lãnh đạo của phía Liên Xô) ra quyết định đóng chặt các ngõ ra vào của Tây Berlin bao gồm cả đường sắt, đường sông và đường bộ, hầu ngăn chặn sự viện
Trang 22tế cho hơn 2,5 triệu dân Đức Trong suốt cuộc phong tỏa, Không lực Hoàng gia Anh
và Không lực Hoa Kỳ đã thực hiện hơn 277.264 chuyến bay trong vòng một năm để chuyên chở 2.250.000 tấn nhu yếu phẩm hằng ngày như nhiên liệu và thực phẩm cho
cư dân Berlin Nhận thấy kế hoạch phong tỏa Tây Đức không có kết quả và lại thêm sức ép từ Hoa Kỳ, ngày 9/5/1949, Stalin đã ra quyết định cho phép phục hồi lại các tuyến giao thông đường sông, đường sắt và đường bộ nối liền với Tây Đức ra bên ngoài
Toàn cảnh nước Đức đã phơi bày một sự thật khi có hai dòng chảy quyền lực đối lập nhau đang chia rẽ nước Đức Trong sự đối đầu của Hoa Kỳ và Liên Xô, nước Đức và dân tộc Đức bị chia vì sự hình thành hai quốc gia đối đầu nhau: Tây Đức và Đông Đức Tranh chấp quyền lực giữa Hoa Kỳ và Liên Xô đã tạo ra các giới tuyến
vô cùng nguy hiểm báo hiệu xuất hiện nhiều hơn nữa những bức tường ngăn chặn nhau trong cơn say quyền lực bởi cả Hoa Kỳ và Liên Xô đều có những chiến lược toàn cầu riêng của mình
Hoa Kỳ đã biến Tây Đức thành quân bài tiên phong để chống lại Liên Xô và Chủ nghĩa Cộng sản, là con đê đầu tiên ngăn chặn sự ảnh hưởng của Liên Xô và cũng là chốt chặn cuối cùng của Hoa Kỳ để phản công lại Chủ nghĩa Cộng sản Còn Liên Xô biến Đông Đức thành lực lượng tiên phong trong chiến lược công phá sự bao vây, ngăn chặn của Hoa Kỳ và đồng minh ở mặt trận phía Tây
1.2.2.2 Căng thẳng ở Đông Á trong cuộc chiến Triều Tiên (1950 - 1953)
Vấn đề Triều Tiên đã được Hoa Kỳ và Liên Xô thỏa ước ngay trong Chiến tranh thế giới 2 Cả hai đồng ý lấy vĩ tuyến 380
làm đường phân giới tạm thời giữa hai vùng chiếm đóng trên bán đảo Triều Tiên và giải giáp quân Nhật Theo đó, Liên
Xô giải giới quân Nhật ở phần phía bắc của Triều Tiên và Hoa Kỳ ở phần phía nam
Tháng 12 năm 1945, Hoa Kỳ và Liên Xô thỏa thuận quản lý Triều Tiên dưới một Ủy ban Hỗn hợp Hoa Kỳ - Liên Xô Thỏa thuận cũng nói rằng Triều Tiên sẽ được độc lập sau bốn năm quốc tế giám sát Tuy nhiên, cả Hoa Kỳ và Liên Xô đã cho phép phần họ quản lý có một chính phủ do người Triều Tiên lãnh đạo Các sự dàn xếp này bị đa số người dân Triều Tiên bác bỏ và biến thành các cuộc nổi loạn dữ dội ở miền bắc và biểu tình ở miền nam
Trước tình hình đó, Hoa Kỳ kêu gọi một cuộc bầu cử toàn quốc Vì dân số của miền Nam đông gấp đôi so với dân số miền Bắc, nên Liên Xô biết rằng Kim Nhật Thành sẽ bị thất cử nên miền Bắc không tham gia tổng tuyển cử thống nhất hai miền Các cuộc bầu cử tự do mà Hoa Kỳ và Liên hiệp quốc giúp đỡ tổ chức được
Trang 2315
tiến hành chỉ ở miền Nam Kết quả Lee - Sung - Man (Lý Thừa Vãn) người có tư tưởng chống cộng, đắc cử tổng thống Về phần Liên Xô, họ chấp thuận và gia tăng
nỗ lực giúp chính quyền Kim - Il - Sung (Kim Nhật Thành) ở miền Bắc Năm 1949,
cả hai lực lượng của Liên Xô và Hoa Kỳ rút khỏi Triều Tiên
Tổng thống Nam Triều Tiên Lý Thừa Vãn và Lãnh đạo Bắc Triều Tiên Kim Nhật Thành đều có ý định thống nhất bán đảo dưới hệ thống chính trị của mình nên
đã tiến hành các cuộc tấn công quân sự dọc theo ranh giới suốt năm 1949 đến đầu năm 1950
Vào năm 1950, quân đội Bắc Triều Tiên được trang bị với những vũ khí Xô Viết tuy đã lỗi thời nhưng nó vẫn có lợi thế vượt trội hơn nhiều so với lực lượng Nam Triều Tiên về mọi mặt Ngày 30 tháng 1 năm 1950, Stalin đã điện báo cho Kim Nhật Thành hay rằng Liên Xô sẵn lòng giúp Kim Nhật Thành trong kế hoạch thống nhất Triều Tiên Trong những cuộc thảo luận theo sau đó với Kim Nhật Thành, Stalin đề nghị: ông muốn lãnh đạo cuộc chiến và nói rằng một năm tối thiểu 25 ngàn tấn hàng viện trợ có lẽ sẽ giúp ích cho Bắc Triều Tiên chiến thắng Sau những lần viếng thăm Moscow của Kim Nhật Thành trong tháng 3 và tháng 4 năm 1950, Liên
Xô ra quyết định chấp thuận một cuộc tấn công từ Bắc Triều Tiên xuống Nam Triều Tiên Ngày 25/6/1950, Bắc Triều Tiên đưa quân tấn công mở màn cuộc chiến tranh.(4)
Về phần Hoa Kỳ, một sai lầm về chiến lược trong năm 1949 của Hoa Kỳ là khi họ không đặt Nam Triều Tiên trong vành đai phòng thủ của mình khi tướng M’Arthur rút quân khỏi vùng này Ngày 12/1/1950, Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ Dean Acheson đã nói rằng chu vi phòng thủ Thái Bình Dương được hình thành gồm
có Quần đảo Aleutian, Nhật Bản, và Philippineses, điều đó ám chỉ rằng quân đội Hoa
Kỳ có thể không chiến đấu vì Triều Tiên Ngoại trưởng Acheson nói sự phòng thủ Triều Tiên sẽ là trách nhiệm của Liên hiệp quốc Do vậy, khi cuộc chiến tranh giữa Nam - Bắc Triều Tiên đã diễn ra, sau gần 3 tháng đến ngày 13/9/1950, quân đội Bắc Triều đã vượt qua vĩ tuyến 380
chiếm 95% lãnh thổ và 97% dân số Nam Triều Hoa
Kỳ lúc bấy giờ mới nhận ra là không thể để mất thêm Nam Triều Tiên nữa nên đã buộc Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc ra lệnh trừng phạt Bắc Triều Tiên và phong cho quân đội Hoa Kỳ tham chiến ở Triều Tiên là “quân đội Liên Hiệp Quốc”, “mang
cờ Liên Hiệp Quốc”
Tướng M’Arthur được cử chỉ huy cuộc chiến này Dựa vào các nghị quyết của Liên Hiệp Quốc Hoa Kỳ đã lôi kéo được 15 nước đồng minh tham gia vào cuộc chiến tranh Triều Tiên Ngày 15/9/1950, dưới danh nghĩa là quân Liên Hiệp Quốc, Hoa Kỳ và đồng minh đã tập hợp toàn bộ binh lực ở vùng Viễn Đông đổ bộ vào cảng Nhân Xuyên Sau đó, Hoa Kỳ tiến quân đánh ra Bắc Triều đến tận sông Áp Lục giáp ranh giới Trung Quốc Liên Xô hậu thuẫn cho Trung Quốc mang quân sang “kháng
Mỹ, viện Triều”, vào ngày 25/10/1950 Quân đội Triều - Trung đã đẩy lùi “quân đội Liên Hiệp Quốc” khỏi Bắc vĩ tuyến 380, sau đó chiến sự diễn ra ở khu vực vĩ tuyến
380 Sau 3 năm chiến tranh (1950 - 1953), cả hai phía đều tổn thất nặng nề, ngày
Trang 2416
27/7/1953, tại hội nghị Panmunjeom (Bàn Môn Điếm) hai bên Trung Quốc, Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên với Hoa Kỳ và Hàn Quốc đã kí hiệp định đình chiến, lấy vĩ tuyến 380
làm giới tuyến quân sự giữa hai miền Nam - Bắc Qua cuộc chiến tranh Triều Tiên (1950 - 1953), Hoa Kỳ đã giành lại được quyền ảnh hưởng ở Nam Triều Tiên (Hàn Quốc) (Vũ Dương Ninh, 2002)
Một khu vực được xem là quan trọng bật nhất trên thế giới là Trung Đông (Middle East) Nó không chỉ có ý nghĩa chiến lược về mặt quân sự mà còn cả về kinh
tế Khu vực Trung Đông có kênh đào Suez nối liền Địa Trung Hải và Ấn Độ Dương, với những eo biển Dardanelles và Bosphorus đi vào Hắc Hải tiếp giáp với Liên Xô, Bulgaria, Rumani, là một huyết mạch giao thông nối liền ba châu lục: châu Á, châu
Âu, châu Phi Trung Đông với nguồn dầu mỏ dồi dào chiếm đến ¾ tổng số trữ lượng dầu mỏ của thế giới tư bản nên nơi đây là nơi nhòm ngó, tranh giành gay gắt giữa các nước đế quốc với nhau Trước Thế chiến thứ hai, nhìn chung vùng Trung Đông chủ yếu vẫn thuộc phạm vi thống trị của Đế quốc Anh và phần nào của Pháp Còn Hoa
Kỳ chưa có nhiều ảnh hưởng Quyền khai thác dầu mỏ nằm trong tay tư bản độc quyền Anh (năm 1937 tư bản độc quyền Anh khai thác gần 70% còn tư bản Hoa Kỳ mới chiếm khoảng 14%) Sau Thế chiến thứ hai, lợi dụng lực lượng của Anh bị suy yếu, Hoa Kỳ tìm cách hất cẳng Anh để độc chiếm các nguồn dầu mỏ ở Trung Đông Năm 1946, Hoa Kỳ buộc Anh phải hủy bỏ “Hiệp định năm 1926” vì hiệp định này chỉ cho phép các công ty độc quyền của Hoa Kỳ được quyền khai thác dầu mỏ với các công ty độc quyền của Anh, tức nhiên các công ty này của Hoa Kỳ bị Anh kiểm soát Cuộc tranh giành dầu lửa giữa Anh và Hoa Kỳ diễn ra gay gắt, phức tạp ở khắp các nước Trung Đông (Vũ Dương Ninh, 2002) Kết quả, các công ty độc quyền của Hoa Kỳ dần dần đã đánh bại các công ty độc quyền của Anh và nắm quyền khai thác dầu mỏ ở khu vực này (trước năm 1970, việc khai thác dầu mỏ ở Trung Đông gần như hoàn toàn nằm trong tay các công ty dầu lửa của nước ngoài, chủ yếu là Cactel dầu lửa quốc tế gồm 7 công ty độc quyền, trong đó có 5 công ty của Hoa Kỳ và là những công ty lớn nhất: Gulf Oil, Mobil Oil, Standard Oil of California, Standard Oil
of New Jersey, Texaco, 2 công ty: British Petroleum của Anh và Royal Shell của Anh và Hà Lan) (Nguyễn Thị Thư, Nguyễn Hồng Bích, 2004)
Trong khi Anh chỉ cố lôi kéo các đồng minh để làm chổ dựa cho mình chống lại sự chèn ép của Hoa Kỳ, thì Hoa Kỳ lại khôn ngoan dùng chính sách hai mặt Tính chất hai mặt này thể hiện ở việc Hoa Kỳ ủng hộ người Do Thái thành lập quốc gia Israel (15/5/1948) để dùng Israel làm tình hình ở Trung Đông căng thẳng mà qua đó Hoa Kỳ dễ dàng lợi dụng tình hình để nhảy vào hưởng lợi Mặt khác, Hoa Kỳ lại dung dưỡng một số chính phủ thân cận để kiểm soát như: các nước Saudi Arabia, Kuwait, Từ đó mà loại dần các đối thủ Anh, Pháp ra khỏi bàn cờ Trung Đông Nhưng cũng dự báo một thế lực khác sẽ xâm nhập mạnh mẽ vào Trung Đông là Liên
Xô vì Liên Xô không thể để cho đối thủ của mình lớn mạnh hơn nữa, tự tung tự tác hơn nữa ở khu vực rất quan trọng này
Trang 2517
Cuộc tranh chấp quyền lực giữa Hoa Kỳ và Liên Xô ở khu vực Trung Đông đầu tiên phải kể đến là vụ quốc hữu hóa kênh đào Suez và cuộc chiến tranh xâm lược
Ai Cập của Israel, Anh, Pháp
Vụ việc bắt đầu từ ngày 27/7/1956, khi chính phủ Ai Cập tuyên bố quyết định quốc hữu hóa kênh đào Suez Tháng 8/1956, ở Luân Đôn, Anh, Pháp, Hoa Kỳ triệu tập hội nghị bàn về vấn đề kênh đào Suez và đòi Ai Cập chấp nhận yêu cầu của họ Liên Xô và Trung Quốc ngay lập tức lên tiếng ủng hộ Ai Cập Anh, Pháp đã kéo Israel vào cuộc chiến tranh xâm lược Ai Cập để chiếm kênh đào Suez Trong khi đó, Hoa Kỳ lại có thái độ hai mặt, ngoài miệng thì lên tiếng ủng hộ việc giải quyết vấn
đề kênh đào Suez bằng phương pháp hòa bình, nhưng thực tế Hoa Kỳ lại thúc giục Anh, Pháp tiến hành chiến tranh chống lại Ai Cập Với mưu đồ đó, Hoa Kỳ đã thực hiện bước đi ngoại giao rất khôn ngoan Bởi lẽ, khi Ai Cập một quốc gia Hồi giáo nếu bị tấn công thì sẽ được sự đồng tình ủng hộ của nhân dân Trung Đông, của thế giới Hồi giáo, điều này tạo ra sự kháng cự mãnh liệt nơi những người Arab Cũng vì thế mà làm cho Anh, Pháp bị mất uy tín trong nhân dân Arab, qua đó Hoa Kỳ sẽ củng cố được địa vị của mình ở Trung Đông
Ngày 20/10/1956, Israel tấn công kênh Suez Ngày 30/10/1956, Anh, Pháp đòi Ai Cập cho họ chiếm đóng ở kênh Suez, Port Said, Ismailia để bảo vệ việc tự do
đi lại của tàu bè họ Ngày 31/10/1956, Không quân và Hải quân Anh, Pháp tiến hành oanh tạc lãnh thổ Ai Cập mở đầu cho cuộc chiến tranh xâm lược Ai Cập của Anh, Pháp, Israel Liên Hiệp Quốc lên tiếng phản đối, đòi Anh, Pháp, Israel rút quân Tháng 12/1956, Anh, Pháp, Israel buộc phải rút khỏi Ai Cập Cuộc chiến tranh xâm lược Ai Cập của Anh, Pháp, Israel bị thất bại hoàn toàn nhưng Hoa Kỳ lại đạt được mục đích làm mất uy tín Anh, Pháp ở Trung Đông
Trước những diễn biến trên, ngày 5/1/1957, trong cảnh báo đặc biệt gửi Quốc hội Hoa Kỳ, Tổng thống thứ 34 của Hoa Kỳ - Dwight D Eisenhower (1890 - 1969)
đã đưa ra và được Quốc hội thông qua chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ ở Trung Đông, nó được gọi là “Chủ nghĩa Eisenhower” Nội dung chủ yếu của “Chủ nghĩa Eisenhower” gồm những điểm :
+ Tiến hành “hợp tác kinh tế” và cung cấp “viện trợ” cho các nước Trung Đông để “phát triển” kinh tế của các nước này
+ Thi hành “những kế hoạch viện trợ quân sự cho các nước hy vọng được viện trợ quân sự ở khu vực này”
+ Cho Tổng thống quyền được sử dụng vũ lực khi nào thấy cần thiết để “bảo hộ” nền độc lập chính trị và sự toàn vẹn lãnh thổ của bất cứ quốc gia nào trong việc chống lại cái gọi là “sự xâm lược của cộng sản quốc tế” (Vũ Dương Ninh, 2002)
Tổng thống Dwight D Eisenhower đã thấy ở khu vực Trung Đông có những
“chỗ trống” và Hoa Kỳ phải có nhiệm vụ “lấp những chỗ trống” ở khu vực này Trung Đông là khu vực không những có ý nghĩa chiến lược về mặt địa lí mà còn cả
Trang 2618
về mặt kinh tế Vì thế, Hoa Kỳ muốn hất cẳng Anh, Pháp và các nước khác để độc chiếm những quyền lợi dầu mỏ ở khu vực này và biến Trung Đông thành căn cứ chiến lược đầu cầu thống trị thế giới “Chủ nghĩa Eisenhower” đã được che đậy dưới chiêu bài chống cộng, bảo vệ đồng minh, dùng các thủ đoạn đe dọa vũ lực, viện trợ kinh tế, khống chế chính trị,… để thực hiện cho kì được chủ nghĩa thực dân kiểu mới của Hoa Kỳ lên khu vực này Mặc dù, được ngụy trang khá tinh vi trong chiếc áo chống cộng, nhưng “Chủ nghĩa Eisenhower” đã không thể lừa dối được nhân dân các nước Trung Đông và bị nhân dân các nước này phản đối kịch liệt
Như vậy, sau sự kiện quốc hữu hóa kênh đào Suez của Ai Cập hầu như toàn
bộ ảnh hưởng của Anh, Pháp đã bị gạt bỏ khỏi khu vực Trung Đông Từ đó, Hoa Kỳ
và Liên Xô trở thành hai đối thủ tranh giành nhau quyền ảnh hưởng ở khu vực này Trong khi, Hoa Kỳ sử dụng Israel và các nước thuộc khối quân sự Bagdad gồm Anh, Iran, Iraq, Pakistan, Thổ Nhĩ Kì (thành lập năm 1955 tại Bagdad (Iraq)) thì Liên Xô lại sử dụng Syria, Ai Cập và cung cấp vũ khí cho họ chống lại đồng minh của Hoa
vị trí mặt tiền của Đông Dương, nơi phong trào giải phóng dân tộc ảnh hưởng của Liên Xô, Trung Quốc mạnh mẽ nhất Sau Hiệp định Geneva (21/7/1954) ở Thụy Sĩ được kí kết, Việt Nam tạm thời bị chia cắt thành hai miền Nam - Bắc lấy vĩ tuyến 170làm giới tuyến quân sự tạm thời để tập kết lực lượng cách mạng Việt Nam và Pháp, chờ ngày hiệp thương tổng tuyển cử tự do thống nhất đất nước Hoa Kỳ không thể để điều đó xảy ra, nhất thiết họ phải làm mọi cách để đạt được mục đích trong chiến lược của họ Hoa Kỳ trước đó đã ép Pháp đưa Ngô Đình Diệm lên thay Nguyễn Phúc Bửu Lộc (1914-1990) nắm chính phủ ở miền Nam Việt Nam, khởi đầu cho “công trình kiến trúc lại chiến lược đã bị đảo lộn ở Đông Nam Á” của Hoa Kỳ Trong âm mưu biến Hiệp định Geneva thành văn bản vô nghĩa, Hoa Kỳ đã từng bước phá hoại Hiệp định, thiết lập bộ máy tay sai ở miền Nam Việt Nam do Ngô Đình Diệm (1901
- 1963) cầm đầu và âm mưu chia cắt lâu dài đất nước Việt Nam giống như họ làm ở Triều Tiên Trong giai đoạn 1954 - 1961, Eisenhower đã tiến hành chiến lược “Chiến tranh một phía” ở miền Nam Việt Nam Tổng thống Eisenhower cử tướng J Lawton Collins (1896 - 1987) - quyền Tổng tham mưu trưởng lục quân Hoa Kỳ và đại diện
Trang 27+ Lập Quốc hội miền Nam Việt Nam để hợp pháp hóa chế độ Diệm
+ Thi hành cải cách điền địa và thực hiện định cư cho số người miền Bắc di
cư vào Nam
+ Thay đổi các thứ thuế, ưu tiên cho hàng hóa và tư bản Hoa Kỳ vào miền Nam Việt Nam
+ Đào tạo cán bộ hành chính cho Diệm (Trần Bá Đệ, 1999)
Kế hoạch Collin là kế hoạch đầu tiên Hoa Kỳ viện trợ cho chính quyền Ngô Đình Diệm, hất cẳng Pháp độc chiếm Đông Dương và thực hiện chiến lược ngăn chặn Chủ nghĩa Cộng sản ở Đông Nam Á Hoa Kỳ đã lợi dụng các lực lượng tay sai
để bóp nghẹt Chủ nghĩa Cộng sản đang lên cao ở Đông Dương mà mạnh mẽ nhất là
ở Việt Nam nhưng nó ngay lập tức đã phải chịu sự thất bại ở phong trào Đồng khởi của nhân dân miền Nam Việt Nam (1959 - 1960) Báo hiệu sự thất bại hơn nữa cho chính sách ngoại giao toàn cầu của Hoa Kỳ trên đất nước Việt Nam Liên Xô cũng đang có tiếng nói mạnh mẽ ở khu vực này và Hoa Kỳ không thể giữ nguyên tình thế
đó
1.2.2.5 Hoa Kỳ trong nỗ lực làm suy giảm sự ảnh hưởng của Liên
Xô ở một số nước Đông Âu
Tại Ba Lan, sau khi Stalin (1879 - 1953) mất, lợi dụng làn sóng chống Stalin
và tệ sùng bái cá nhân ở Liên Xô, năm 1956, Hoa Kỳ và các nước phương Tây đã hậu thuẫn cho các lực lượng chống đối XHCN chủ yếu là giới trí thức, nhân sĩ, phe
tự do đã tiến hành nổi dậy, gây ra cuộc bạo loạn nghiêm trọng ở Poznan Ngày 28/6/1956, quân đội chính phủ đã phải dùng đến vũ lực, xe tăng để đàn áp cuộc bạo loạn và dập tắt những phong trào chống đối Cuộc đụng độ Đông - Tây ở Ba Lan, tuy phe XHCN đã ổn định được tình hình song sự kiện này lại có tác động rất lớn đến nội tình của các nước XHCN, gây ra nhiều cuộc bạo loạn tương tự
Tại Hungary, ngày 23/10/1956, sau khi nghe tin Ba Lan có bạo loạn, sinh viên và một lượng không nhỏ quần chúng nhân dân đã xuống đường biểu tình bày tỏ tình cảm với Ba Lan Ngày 24/10/1956, cuộc biểu tình tạo thành cuộc bạo động vũ trang Lực lượng chống đối chế độ XHCN do Imre Nagy đứng đầu đã tuyên bố giải tán Đảng Lao Động Hungary, thành lập Đảng công nhân XHCN Hungary, dùng mọi cách làm tê liệt, tan rã các đơn vị quân đội và cảnh sát, tuyên bố Hungary rút khỏi Hiệp ước Warsaw và tiến hành những hoạt động chia rẽ, khiêu khích đối với chính
Trang 2820
phủ Liên Xô và quân đội Liên Xô đóng ở Hungary Ngày 4/11/1956, Liên Xô đã huy
động một lực lượng quân đội lớn kéo vào Hungary đàn áp cuộc bạo động này Sau
đó, Liên Xô hậu thuẫn cho Kadar đứng ra thành lập chính phủ thân Liên Xô ở
Hungary, ổn định lại tình hình và giữ vững chế độ CNXH ở Hungary trước sự tấn
công của Hoa Kỳ và phương Tây (Vũ Dương Ninh, 2002)
*Chú thích:
(1)
Việc sử dụng lần đầu tiên thuật ngữ Chiến tranh lạnh miêu tả những căng thẳng
địa chính trị thời hậu Thế chiến thứ hai giữa Liên bang Xô viết và các Đồng minh
Tây Âu của họ được gán cho Bernard Baruch, một nhà tài chính và là cố vấn của
Tổng thống Hoa Kỳ Tại Nam Carolina, ngày 16 tháng 4 năm 1947, ông đã có bài
phát biểu (theo nhà báo Herbert Bayard Swope) nói rằng, “Hãy để chúng ta không bị
lừa gạt: chúng ta hiện ở giữa một cuộc Chiến tranh lạnh” Nhà báo Walter Lippmann
đã làm cho thuật ngữ được biết đến rộng rãi, với cuốn sách Cold War (1947) Trước
đó, trong cuộc chiến, George Orwell đã sử dụng thuật ngữ Chiến tranh Lạnh trong
tiểu luận “You and the Atomic Bomb” (Bạn và quả bom nguyên tử) được xuất bản
ngày 19 tháng 10 năm 1945, trên tờ Tribune của Anh Suy ngẫm về một thế giới sống
dưới bóng của một mối đe doạ chiến tranh hạt nhân, ông đã cảnh báo về một "nền
hoà bình không có hoà bình", mà ông gọi là một cuộc “Chiến tranh lạnh” thường
trực, Orwell đã trực tiếp đề cập tới cuộc chiến tranh đó như là một sự đối đầu ý thức
hệ giữa Liên bang Xô viết và các cường quốc phương Tây Hơn nữa, trong tờ The
Observer xuất bản ngày 10 tháng 3 năm 1946, Orwell đã viết rằng “ sau hội nghị
Moscow vào tháng 12 vừa rồi, Nga đã bắt đầu thực hiện một cuộc “Chiến tranh lạnh”
với Anh và Đế chế Anh”
(2)
Ban đầu, khối NATO đặt trụ sở chính ở Paris (Pháp) nhưng đến năm 1966, Pháp
có những bất đồng với Hoa Kỳ và xin rút khỏi NATO đồng thời trụ sở của NATO
phải dời sang Brussells (Bỉ) Mãi đến năm 2009, Pháp mới xin gia nhâp lại NATO
dưới thời Tổng thống Pháp Nicolas Sarkozy Trải qua những năm tháng phát triển
của khối, NATO đã nhiều lần dẫn quân tấn công một số quốc gia Đến năm 2009,
NATO có 28 thành viên và trở thành tổ chức quân sự lớn nhất, hùng mạnh nhất địa
CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG 1:
Câu hỏi 6: Anh (Chị) hãy trình bày ngắn gọn những thuận lợi của Hoa Kỳ sau Chiến
tranh thế giới 1
Trang 2921
Câu hỏi 7: Anh (Chị) hãy trình bày ngắn gọn những tiền đề về tài chính dẫn đến sự
ra đời học thuyết toàn cầu của Hoa Kỳ sau Chiến tranh thế giới 2
Câu hỏi 8: Anh (Chị) hãy trình bày ngắn gọn những tiền đề về quân sự dẫn đến sự ra
đời “học thuyết toàn cầu” của Hoa Kỳ sau Chiến tranh thế giới 2
Câu hỏi 9: Anh (Chị) hãy trình bày ngắn gọn những tiền đề về kinh tế dẫn đến sự ra
đời học thuyết toàn cầu của Hoa Kỳ sau Chiến tranh thế giới 2
Câu hỏi 10: Anh (Chị) hãy trình bày ngắn gọn về sự ảnh hưởng của Liên Xô lên một
số quốc gia châu Âu và Trung Quốc sau Chiến tranh thế giới 2
Câu hỏi 11: Anh (Chị) hãy trình bày ngắn gọn sự ra đời của “Học thuyết Truman”
năm 1947
Câu hỏi 12: Anh (Chị) hãy trình bày nội dung chính của “Học thuyết Truman” năm
1947
Câu hỏi 13: Anh (Chị) hãy đưa ra những nhận xét, đánh giá về “Học thuyết
Truman” năm 1947 của Hoa Kỳ
Câu hỏi 14: Anh (Chị) hãy trình bày ngắn gọn sự ra đời của “Kế hoạch Marshall”
của Hoa Kỳ năm 1947
Câu hỏi 15: Anh (Chị) hãy trình bày nội dung cơ bản của “Kế hoạch Marshall” của
Hoa Kỳ tiến hành ở châu Âu từ 1948 - 1951
Câu hỏi 16: Anh (Chị) hãy trình bày những ràng buộc của “Đạo luật viện trợ nước
ngoài” (tháng 4/1948) trong khuôn khổ “Kế hoạch Marshall” của Hoa Kỳ đối với các
nước châu Âu nhận viện trợ
Câu hỏi 17: Nhằm đối phó lại với việc Hoa Kỳ đưa ra “Học thuyết Truman” và “Kế
hoạch Marshall”, từ năm 1947 đến 1949, Liên Xô và các nước đồng minh đã có
những động thái gì?
Câu hỏi 18: Anh (Chị) hãy trình bày sự ra đời của tổ chức “Hiệp ước Bắc Đại Tây
Dương” gọi tắc là NATO năm 1949
Câu hỏi 19: Anh (Chị) hãy trình khái quát quá trình hình thành và phát triển của
Câu hỏi 23: Để bảo vệ đất nước và đồng minh, đồng thời chống lại Liên Xô và khối
XHCN, Hoa Kỳ đã cho thiết lập rất nhiều căn cứ quân sự trên khắp năm châu, Anh (Chị) hãy cho biết đó là những khối quân sự nào? Thành lập khi nào? Thuộc khu vực
nào (hoặc bao gồm những quốc gia nào)?
Câu hỏi 24: Anh (Chị) hãy trình bày sự ra đời của khối quân sự Warsaw (1955) Câu hỏi 25: Anh (Chị) hãy cho biết chính sách của Hoa Kỳ đối với vấn đề nước Đức
trong hội nghị Luân Đôn (1947) như thế nào?
Trang 3022
Câu hỏi 26: Anh (Chị) hãy trình bày chính sách của Hoa Kỳ đối với nước Đức trong
hội nghị Frankfurt (Đức) vào tháng 7/1948 và Washington (Hoa Kỳ) vào tháng
4/1949
Câu hỏi 27: Anh (Chị) hãy trình bày sự kiện “Cầu hàng không Berlin” (từ 24/6/1948
đến 9/5/1949) của Hoa Kỳ và đồng minh ở Đức
Câu hỏi 28: Anh (Chị) có nhận xét gì về chính sách đối đầu của Hoa Kỳ và Liên Xô
ở nước Đức sau Chiến tranh thế giới 2?
Câu hỏi 29: Anh (Chị) hãy trình bày những chính sách của Hoa Kỳ trên bán đảo
Triều Tiên từ sau CTTG 2 đến 1950
Câu hỏi 30: Anh (Chị) hãy trình bày chính sách đối đầu giữa Hoa Kỳ và Liên Xô
trong cuộc chiến tranh Triều Tiên (1950 - 1953)
Câu hỏi 31: Anh (Chị) hãy phân tích vai trò và ý nghĩa chiến lược của khu vực
Trung Đông trong chiến lược toàn cầu của Hoa Kỳ trong “Chiến tranh lạnh”
Câu hỏi 32: Anh (Chị) hãy trình bày sự hậu thuẫn về ngoại giao của Hoa Kỳ nhằm
từng bước giúp cho các công ty của họ nắm độc quyền dầu mở ở khu vực Trung
Đông sau Thế chiến thứ hai
Câu hỏi 33: Anh (Chị) hãy phân tích những âm mưu của Hoa Kỳ nhằm khống chế
tình hình chính trị ở khu vực Trung Đông sau Thế chiến thứ hai
Câu hỏi 34: Anh (Chị) hãy phân tích những âm mưu của Hoa Kỳ trong cuộc chiến
Trung Đông giữa Israel - Ai Cập (1956) nhằm làm suy giảm sự ảnh hưởng của Anh, Pháp ở khu vực Trung Đông
Câu hỏi 35: Anh (Chị) hãy trình bày nội dung cơ bản của chính sách đối ngoại của
Hoa Kỳ ở Trung Đông dưới tên gọi “Chủ nghĩa Eisenhower” năm 1957
Câu hỏi 36: Anh (Chị) hãy trình bày những nhận định của bản thân về “Chủ nghĩa
Eisenhower” của Hoa Kỳ ở Trung Đông
Câu hỏi 37: Anh (Chị) hãy trình bày nội dung cơ bản của “Học thuyết Domino” của
Tổng thống D Eisenhower của Hoa Kỳ
Câu hỏi 38: Anh (Chị) hãy phân tích tầm quan trọng của Đông Nam Á và Việt Nam
trong thế đối đầu Mỹ - Xô sau CTTG 2
Câu hỏi 39: Anh (Chị) hãy phân tích vai trò của Việt Nam trong chiến lược toàn cầu
của Hoa Kỳ ở Đông Nam Á sau CTTG 2
Câu hỏi 40: Anh (Chị) hãy trình bày những âm mưu của Hoa Kỳ ở Việt Nam sau khi
Hiệp định Geneva (21/7/1954) ở Thụy Sĩ được kí kết
Câu hỏi 41: Anh (Chị) hãy trình bày nội dung kế hoạch 6 điểm của tướng Mỹ J
Lawton Collins thực hiện ở miền Nam Việt Nam năm 1954
Câu hỏi 42: Anh (Chị) có nhận xét gì về những chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ ở
miền Nam Việt Nam sau Hiệp định Geneva (21/7/1954)
Câu hỏi 43: Anh (Chị) hãy trình bày ngắn gọn tình hình chính trị ở Ba Lan năm
1956 đã diễn ra như thế nào dưới sự tác động của Hoa Kỳ và đồng minh?
Câu hỏi 44: Anh (Chị) hãy trình bày tình hình chính trị ở Hungary năm 1956 đã diễn
ra như thế nào dưới sự thao túng của Hoa Kỳ và đồng minh?
Trang 3123
CHƯƠNG 2 CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA HOA KỲ
GIAI ĐOẠN 1961-1975
*Mục tiêu:
Sau khi học xong chương 2, sinh viên cần đạt được mục tiêu sau:
1 Khái quát được chính sách đối ngoại toàn cầu của Hoa Kỳ dưới thời Tổng thống John Kennedy - Lyndon Johnson với các bước đi ngoại giao trong mối quan hệ đối đầu với Liên Xô biểu hiện ở Việt Nam, Cuba, Tiệp Khắc
2 Phân tích, đánh giá những thay đổi trong chính sách ngoại giao Hoa Kỳ dưới thời Tổng thống Richard Nixon - Gerald Ford trong nỗ lực chia rẽ khối CNXH, thoát ra khỏi cuộc chiến tranh Việt Nam và thỏa thuận với Liên Xô trong vấn đề nước Đức và cắt giảm vũ khí chiến lược
2.1 CHIẾN LƯỢC TOÀN CẦU CỦA HOA KỲ THỜI KỲ KENNEDY - JOHNSON (1961 - 1969)
2.1.1 Tổng thống J.Kennedy với “chiến lược hòa bình” - một hướng đi mới của nền ngoại giao Hoa Kỳ
Nhằm thích ứng với những thay đổi to lớn trên thế giới khi phong trào giải phóng dân tộc đang lên cao ở Á, Phi, Mỹ Latinh; Liên Xô đã đạt được nhiều thành công mới trong lĩnh vực hạt nhân và vũ trụ làm cho tiếng nói của Liên Xô ngày càng
có trọng lượng trên chính trường quốc tế Hơn nữa, Hoa Kỳ không thể trực tiếp đương đầu với Liên Xô vì nếu xảy ra thì cả thế giới sẽ chìm trong cơn bão hạt nhân đồng nghĩa với sự hủy diệt
Trong nỗ lực tiềm kiếm một phương án chiến lược mới cho Hoa Kỳ, ngày 30/1/1961, trong báo cáo đầu tiên gửi Quốc hội Hoa Kỳ, Tổng thống thứ 35 của Hoa
Kỳ - John F.Kennedy (1917 - 1963) đã đưa ra một cách hoàn chỉnh “Chiến lược hòa bình” của mình Kennedy nói: “Trên huy chương của Tổng thống chim ưng của nước
Mỹ vuốt bên trái quặp cành ôliu, vuốt bên phải quặp mũi tên Chúng tôi dự định sẽ làm như thế” (William A Degregorio, 2006) Kennedy muốn thực hiện một chiến lược hai tay, nghĩa là một tay hòa bình và một tay chiến tranh, sẽ thay nhau sử dụng, hoặc có lúc đồng thời sử dụng để phục vụ chiến lược toàn cầu Kennedy đưa ra hàng loạt những mỹ từ “hòa bình”, “hợp tác”, tuyên bố thành lập “Đội hòa bình”, “liên minh vì tiến bộ”,…
Điểm khác biệt giữa “Chiến lược hòa bình “của Kennedy so với “Học thuyết Truman” chỉ ở một số thủ đoạn và biện pháp tiến hành, còn mục đích và bản chất của
nó không hề thay đổi “Chiến lược hòa bình” của Kennedy được ngụy trang bằng
“chiếc áo hòa bình”, Kennedy nói “không chỉ hòa bình cho nước Mỹ mà dành cho tất
cả các dân tộc”, “không chỉ hòa bình cho thời đại của chúng ta mà hòa bình cho tất
Trang 32Về mặt quân sự, chiến lược “trả đũa hàng loạt” của thời kỳ H.Truman, Eisenhower trước đây đặt trên cơ sở của một cuộc chiến tranh tổng lực trong đó Hoa
Kỳ nắm độc quyền về ưu thế vũ khí hạt nhân giờ đây được Kennedy thay thế bằng chiến lược “phản ứng linh hoạt” với 3 loại hình chiến tranh: chiến tranh đặc biệt, chiến tranh cục bộ, chiến tranh tổng lực Tất cả chúng đều là các loại hình chiến tranh xâm lược thực dân kiểu mới của Hoa Kỳ, dựa trên cơ sở vũ khí hiện đại, lực lượng mạnh, thậm chí là sử dụng đến vũ khí hạt nhân (Vũ Dương Ninh, 2002)
“Chiến lược hòa bình” của Kennedy mang những âm mưu và thủ đoạn rất thâm độc, xảo quyệt và bịp bợm Sự lừa dối dư luận thế giới đã được phơi bày bằng những hành động chiến tranh được Hoa Kỳ, đồng minh và lực lượng tay sai tiến hành
ở nhiều nơi trên thế giới Với những chiến lược chiến tranh đưa ra nó dự báo trước một cuộc đổ quân của quân lực Hoa Kỳ trên khắp các chiến trường, nơi mà các giới chức của Nhà Trắng và Lầu Năm Góc sẽ phiêu lưu với những cuộc chiến để giành lấy các lợi ích kinh tế thiết thân hơn là giành lấy chủ nghĩa
2.1.2 Sự thất bại của “Chiến lược hòa bình” trong cuộc chiến tranh Việt Nam (1961 – 1969)
Tình hình chiến sự ở Việt Nam ngày càng trở nên quyết liệt, mức độ cuộc chiến ngày càng được đẩy lên cao Năm 1961, sau phong trào Đồng khởi (1959 - 1960) của nhân dân miền Nam Việt Nam, chiến lược “Chiến tranh đơn phương” của Hoa Kỳ xem như đã thất bại thảm hại Để cứu vãn tình thế, các quan chức Nhà Trắng
và Lầu Năm Góc đã đưa ra chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” là một trong ba loại hình chiến tranh trong chiến lược toàn cầu phản ứng linh hoạt của Kennedy
Thực chất chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” là loại hình chiến tranh xâm lược thực dân kiểu mới của Hoa Kỳ được tiến hành bằng lực lượng quân đội Sài Gòn do Hoa Kỳ tổ chức, trang bị và đặt dưới sự chỉ huy của các nhân viên CIA Với chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”, Hoa Kỳ hy vọng sẽ răn đe và đẩy lùi phạm vi ảnh hưởng của hệ thống XHCN và ngăn chặn phong trào cách mạng giải phóng dân tộc ở Đông Nam Á Kennedy và Johnson đều chọn Việt Nam để tiến hành chiến lược ngoại giao toàn cầu với tính toán rằng: “Việt Nam là một nước XHCN nhỏ lại nằm trong trọng điểm của cao trào cách mạng ở Đông Nam Á mà Hoa Kỳ cần thiết phải khống chế Nếu Hoa Kỳ lôi kéo được một liên minh cùng với họ giành thắng lợi ở nơi này, Hoa
Kỳ sẽ tiếp tục triển khai một cuộc phản kích nhằm đẩy lùi phong trào cách mạng thế giới và giành lại những vị trí mà Hoa Kỳ đã mất trong thời gian qua ở châu Á, châu
Trang 3325
Phi, châu Mỹ Latinh” Đại tướng Maxwell Davenport Taylor - nhà hoạch định chiến lược của Hoa Kỳ đánh giá thành bại của Hoa Kỳ ở Việt Nam là cái “hàn thử biểu chính xác đo thành bại” của Hoa Kỳ ở Đông Nam Á, còn phó Tổng thống Hoa Kỳ Johnson (1908 - 1973) khẳng định nếu để mất Việt Nam thì “điều không thể tránh khỏi là Hoa Kỳ phải từ bỏ Thái Bình Dương và dựng phòng tuyến ngay trên bờ nước Mỹ” (Vũ Dương Ninh, 2002) Với tầm quan trọng của Việt Nam và quyết tâm của người Mỹ nhưng họ không dám chắc là nó sẽ thành công như Kennedy phát biểu:
“Ngày hôm nay, chúng ta đứng đây trên cùng một giới tuyến mới - giới tuyến của những hy vọng, cơ hội và rủi ro chưa lường trước được - giới tuyến những hy vọng
và nguy cơ chưa xảy ra” (William A Degregorio, 2006) Một lần nữa trên những giới tuyến quyền lực của thế giới các đại diện của quyền lực Đông - Tây lại gặp nhau, đó là “cuộc đụng độ lịch sử” giữa hai thế lực cách mạng và phản cách mạng tiêu biểu nhất của thế giới, là trung tâm của cuộc chiến tranh chống đế quốc và chủ nghĩa thực dân mới trong những năm 60 và 70 của thế kỉ XX Sự thành bại của nó cực kì quan trọng đối với sự phát triển toàn cục của phong trào cách mạng thế giới hoặc sự phát triển của chủ nghĩa thực dân mới, tất cả hai viễn cảnh đối lập đó đều có thể xảy ra theo “hiệu ứng Domino”
“Chiến tranh đặc biệt” đã vấp phải sự thất bại chua chát qua các biểu hiện: Ngày 2/1/1963, quân và dân miền Nam Việt Nam đã giành thắng lợi vang dội ở Ấp Bắc (Mỹ Tho) Thấy được sự mất lòng dân và thất bại của “gia đình trị họ Ngô” các nhân viên CIA của Hoa Kỳ đã hậu thuẫn cho Dương Văn Minh (Minh Lớn) (1916 - 2001) làm cuộc đảo chính Ngô Đình Diệm vào ngày 1/11/1963 để Hoa Kỳ tìm một người khác lên thay thế Sau khi Kennedy bị ám sát, phó Tổng thống Johnson lên thay thế và đưa Robert Strange McNamara làm Bộ trưởng Quốc phòng Johnson và McNamara đã đẩy chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” lên mức độ cao hơn nhưng nội
bộ chính quyền Sài Gòn sau đảo chính trở nên quá hỗn độn, tranh chấp quyền lực diễn ra liên tục, lực lượng quân Sài Gòn bị suy yếu từ bên trong Ngày 2/12/1964, quân giải phóng miền Nam Việt Nam giành thắng lợi ở ấp Bình Giã (Bà Rịa - Vũng Tàu) Chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” đi vào ngõ cụt, thay đổi chiến lược là điều không thể tránh khỏi (Trần Bá Đệ, 1999)
Trước tình hình đó, Tổng thống Jonhson đã đưa ra một chiến lược “Chiến tranh cục bộ”, đưa quân Hoa Kỳ và quân chư hầu (Guam, Philippines, Thái Lan, Hàn Quốc…) vào trực tiếp tham gia cuộc chiến tranh Việt Nam Tháng 3/1965, đơn vị quân thủy đánh bộ Hoa Kỳ đổ bộ vào cửa biển Đà Nẵng, mở đầu cho thời kì “Chiến tranh cục bộ” với hàng chục vạn quân Hoa Kỳ và chư hầu cùng hàng ngàn máy bay,
xe tăng, đại bác hiện đại trực tiếp tham chiến tại Việt Nam Ở miền Bắc Việt Nam, sau sự kiện Vịnh Bắc Bộ(1)
(4/8/1964) Jonhson hạ lệnh cho không quân và hải quân bắn phá miền Bắc, gây ra cuộc Chiến tranh phá hoại lần I (5/8/1964 đến 1/11/1968) trên toàn miền Bắc Việt Nam
Cuộc “Chiến tranh cục bộ” đã đẩy Hoa Kỳ lên “nấc thang chiến tranh” ngày càng quyết liệt, trong tính toán của mình người Mỹ nghĩ rằng với lực lượng quân sự
Trang 3426
khổng lồ 180.000 quân Hoa Kỳ và chư hầu (1965) tăng lên 220.000 quân (1966) và đạt mốc 440.000 quân năm 1968 cùng với gần 1 triệu quân Sài Gòn, với các loại vũ khí chiến tranh hiện đại như máy bay B52, F111, bom Napan có sức công phá lớn, với kĩ thuật tiên tiến nhất và tiềm lực kinh tế dồi dào, Hoa Kỳ tin là sẽ đè bẹp các lực lượng cách mạng Việt Nam trong thời gian ngắn Mặc dù hết sức cố gắng nhưng Hoa
Kỳ vẫn không giành được những thắng lợi quyết định nào để thay đổi cục diện chiến tranh, trái lại còn chịu những tổn thất nặng nề Tháng 5/1965, quân Mỹ thất bại đầu tiên ở Núi Thành Tháng 8/1965, quân Mỹ lại thất bại tiếp ở Vạn Tường (Quảng Ngãi), ở hai cuộc phản công mùa khô 1965 - 1966 và 1966 - 1967, nhưng đau đớn hơn cả là bị đòn đánh chí tử của quân dân miền Nam Việt Nam vào Tết Mậu Thân năm 1968 với cuộc tập kích đồng loạt của các lực lượng cách mạng vào 43 thành phố, thị xã ở miền Nam (Trần Bá Đệ, 1999) Trong đó, hai thành phố Sài Gòn và Huế là bị thiệt hại nặng nhất Tuy nhiên, qua năm 1968, quân cách mạng cũng bị thiệt hại không ít
Ở miền Bắc Việt Nam, trong những năm 1965 - 1968, quân dân Việt Nam đã bắn rơi đến 3.234 máy bay của Không quân Hoa Kỳ(2), bắn cháy 143 tàu chiến và bắt hàng ngàn phi công Mỹ Đây là một trong những thất bại nặng nề nhất của Hoa Kỳ,
và cuộc chiến tranh Việt Nam lúc này đã trở thành “một gánh nặng không thể chịu nỗi” và “một đường hầm không có lối thoát” của Hoa Kỳ
Do những thất bại liên tiếp, nhất là trong Tết Mậu Thân 1968 nên Hoa Kỳ đã phải đặt ra vấn đề thương lượng ngoại giao với Việt Nam để cố giữ các quyền lợi của
họ Hội nghị bốn bên (Việt Nam Cộng Hòa, Hoa Kỳ - Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam) đã được tiến hành tại Paris để bàn về cuộc chiến tranh Việt Nam Đi đôi với hội nghị Paris, Hoa Kỳ buộc phải ngừng ném bom ở miền Bắc Việt Nam từ vĩ tuyến 200
trở ra
Chiến lược “Chiến tranh cục bộ” đi đến hồi kết bởi quá nhiều thất bại của quân lực Hoa Kỳ, chư hầu lẫn quân Sài Gòn ở chiến trường Việt Nam Hoa Kỳ đã thật sự sa lầy tại Việt Nam và họ đang cố tìm một lối thoát trong danh dự và bảo toàn lợi ích Với Mỹ “Chiến tranh cục bộ” sau năm 1968 đã khép lại
2.1.3 Chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ đối với Cuba: từ sự kiện “vịnh Con Lợn” đến vụ “phong tỏa biển Caribbean”
Ngày 1/1/1959, cách mạng Cuba dưới sự lãnh đạo của Fidel Castro (1927 - 2016) đã lật đổ chế độ độc tài của Fulgencio Batista (1901 - 1973) thân Mỹ để giành độc lập, dân chủ cho Cuba Từ năm 1959 trở đi, dưới sự lãnh đạo của Fidel, Cuba đã chuyển động dần theo quỹ đạo XHCN dưới “bàn tay bảo trợ ngầm” của Liên Xô Trong khi đó, Hoa Kỳ lại bị mất hết các quyền lợi kết xù ở đây; nhưng khó chịu hơn
cả là ở sát sườn nước Mỹ có sự hiện hữu của một quốc gia XHCN, một đồng minh đắc lực của Liên Xô đã biến Cuba thành cái gai trong mắt của Hoa Kỳ Vì thế, từ khi cách mạng Cuba thành công (1959), Hoa Kỳ luôn tìm mọi cách bóp nghẹt nước Cuba ngay từ đầu
Trang 3527
Tháng 5/1959, Hoa Kỳ hậu thuẫn cho lực lượng do Dialam, nguyên Tham mưu trưởng không quân Cuba cầm đầu tiến hành cuộc phiến loạn chống lại Fidel Castro Tháng 7/1959, Hoa Kỳ tiếp tục giật dây cho phe của Uratia (Tổng thống Cuba lúc bấy giờ) chống lại việc cải cách ruộng đất nhằm lật đổ chính phủ cách mạng, họ đã tiến hành đảo chính nhưng thất bại Sau thất bại đó, tháng 7/1960, Quốc hội Hoa Kỳ thông qua đạo luật cấm nhập khẩu đường của Cuba nhằm bóp nghẹt nền kinh tế nước này Ngày 3/2/1961, Hoa Kỳ tuyên bố cắt đứt mọi quan hệ ngoại giao với Cuba, dự báo cuộc xung đột trên mặt trận chính trị và quân sự có thể xảy ra giữa Hoa Kỳ và Cuba (Vũ Dương Ninh, 2002) Ngày 17/4/1961, khoảng 1.500 người Cuba được CIA của Hoa Kỳ đào tạo và cấp vũ khí đã đột nhập vào lãnh thổ Cuba ở Coshinos Bay (Vịnh con Lợn), nhiệm vụ của họ là đổ bộ vào đất liền nhen nhóm một cuộc nổi dậy của dân chúng với mục đích cuối cùng là đánh đổ chính quyền Fidel Castro Đội quân đổ bộ này tin rằng lực lượng của Hoa Kỳ sẽ giúp đỡ họ nếu họ vấp phải sự kháng cự mạnh mẽ của Cuba Nhưng thực tế đã không có sự giúp đỡ nào từ phía Hoa Kỳ Xe tăng Liên Xô được quân đội của Fidel sử dụng đánh đuổi họ ra tới
bờ biển Hoa Kỳ đã phải chi trả 3 triệu USD dưới hình thức viện trợ lương thực và thuốc men để đổi lấy những người này vào năm 1962 Kế hoạch này đã được Eisenhower sắp đặt từ trước nhưng Kennedy đã thực hiện một cách thất bại hoàn toàn (William A Degregorio, 2006)
Sau sự kiện “Vịnh con lợn” Fidel Castro mới chính thức tuyên bố đưa Cuba
đi lên CNXH và trở thành đồng minh, trợ thủ đắc lực của Liên Xô ở châu Mỹ Liên
Xô đã không ngừng cung cấp, viện trợ để nuôi sống một “mầm phôi cộng sản ngay trong lòng châu Mỹ và học thuyết Monroe(3)” Sự bảo trợ của Liên Xô về mọi mặt cho Cuba đi đến cao điểm khi tháng 12/1962, CIA của Hoa Kỳ cho biết Liên Xô đã xây dựng căn cứ tên lửa hạt nhân chiến đấu ở Cuba có khả năng bắn phá 2/3 phía Đông nước Mỹ và châu Mỹ Latinh Mặc dù, phía Liên Xô tuyên bố chỉ muốn duy trì
vũ khí ở mức tự vệ nhưng những tấm ảnh chụp trên không của Hoa Kỳ đã chứng minh điều ngược lại Nền an ninh của Hoa Kỳ bị xâm phạm nghiêm trọng, chưa bao giờ nước Mỹ lại đứng trước nguy cơ tấn công hơn lúc này Nước Mỹ phải hành động Ngày 22/10/1962, Tổng thống Kennedy trong bài diễn văn đọc trước toàn thể nước
Mỹ đã lên án Liên Xô nói dối về bản chất của việc xây dựng căn cứ vũ khí hạt nhân
ở Cuba và yêu cầu Liên Xô phải cách li Cuba Ông nói “Bất cứ một tàu nào, bất cứ một nước nào hay một hải cảng nào có ý định tiến vào Cuba mà chở vũ khí sẽ không quay trở lại được” Sau đó, Kennedy tuyên bố hết sức cứng rắn với Moscow “chính sách của Hoa Kỳ là bất cứ một tên lửa nào của Cuba bắn vào các nước phía Tây bán cầu sẽ được coi là sự tấn công của Liên Xô vào Hoa Kỳ và do vậy Hoa Kỳ sẽ trả thù Liên Xô” Ông kêu gọi việc “Liên Xô rút lui và tháo gỡ các vũ khí tấn công ở Cuba” (Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, 2005) Hoa Kỳ tiến hành “Phong tỏa biển Caribbean” với lực lượng 183 tàu chiến (trong đó có 8 tàu sân bay), 5 sư đoàn bộ binh và 1 sư đoàn thủy quân lục chiến, 1.600 máy bay (gồm cả máy bay chiến lược mang bom nguyên tử) Hoa Kỳ tiến hành bao vây Cuba, định tiêu diệt cách mạng Cuba bằng cuộc tấn công quân sự chớp nhoáng, phối hợp với sự nổi dậy của các lực lượng chống Fidel
Trang 362.1.4 Kế sách “diễn biến hòa bình” của Hoa Kỳ và sự kiện Tiệp Khắc năm
1968
“Diễn biến hòa bình” là phương cách chủ yếu của Hoa Kỳ hòng làm suy yếu Liên Xô và các nước XHCN để tiến đến cuộc bạo loạn lật đổ đem lại thành công cuối cùng cho Hoa Kỳ
Ở Đông Âu, Hoa Kỳ đã mở rộng quan hệ kinh tế và văn hóa, qua đó tìm cách xâm nhập gây dựng những cơ sở chống đối cách mạng các nước Đông Âu Những đoàn du khách Hoa Kỳ và các nước Tây Âu, sách báo, phim ảnh, các hình thức nghệ thuật, lối sống Mỹ và phương Tây được nhập khẩu mạnh mẽ vào các nước Đông Âu, chúng gây ra không ít khó khăn và hậu quả tai hại đối với chính thể các nước Đông
Âu mà tiêu biểu nhất là ở Tiệp Khắc vào những năm 60 và Ba Lan sau này
Qua chính sách “diễn biến hòa bình” lực lượng gián điệp của Hoa Kỳ và phương Tây đã tổ chức được nhiều cơ sở chống cách mạng ở Tiệp Khắc như nhóm
“K.231”, “câu lạc bộ những người không đảng phái”, “Hội nhân quyền”, Do những thiếu xót trong quản lí của Đảng Cộng sản Tiệp Khắc, phe cơ hội hữu khuynh và xét lại đã dần dần nắm giữ các vị trí then chốt trong cơ quan lãnh đạo của Đảng và nhà nước Tiệp Khắc Tại Đại hội lần thứ IV của Hội nhà văn Tiệp Khắc (6/1967) đã đòi xét lại tất cả những chính sách đối ngoại của Tiệp Khắc, công khai khước từ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Tiệp Khắc Tháng 4/1968, Alexander Dubcek (1921 - 1992) (Bí thư thứ nhất của Đảng Cộng sản Tiệp Khắc) đã đưa ra “Cương lĩnh hành động” bao gồm những quan điểm phi mác-xít về vai trò của Đảng Cộng sản, Nhà nước và chế độ XHCN, về tính tự trị của văn hóa, khoa học và quản lí kinh tế quốc dân Trong Đảng hình thành một khối chính trị chống CNXH do Alexander Dubcek đứng đầu Họ tổ chức các cuộc biểu tình chống cách mạng, kích động những tình cảm dân tộc và gieo rắc chủ nghĩa chống Liên Xô Họ đòi “dân chủ hóa Đảng Cộng sản Tiệp Khắc”, xây dựng một CNXH theo mô hình dân chủ “CNXH với bộ mặt nhân đạo” Alexander Dubcek lãnh đạo Đảng và Trecnhich với tư cách là Thủ tướng trên thực tế đã làm tan rã Đảng Cộng sản Tiệp Khắc, giải tán các lực lượng vũ trang của Đảng Cộng sản, âm mưu đưa Tiệp Khắc ra khỏi khối Warsaw (Vũ Dương Ninh, 2002)
Trang 3729
Các hoạt động này của các lực lượng chống “cộng sản” và Liên Xô ở Tiệp Khắc bấy giờ được sự giúp đỡ, cổ vũ mạnh mẽ từ Hoa Kỳ và phương Tây Các đài phát thanh của Hoa Kỳ, đài châu Âu tự do, đài BBC,… suốt ngày đêm không ngừng gieo rắc, kích động cho các âm mưu bạo loạn ở Tiệp Khắc Tất cả các lực lượng lưu
vong chống cách mạng ở nước ngoài đều được trang bị đầy đủ vũ khí và tề tựu sẵn
sàng ở biên giới nhằm “ngoại công nội kích” làm cuộc đảo chính phản cách mạng Hoa Kỳ và phương Tây tin tưởng sẽ đảo ngược được tình thế ở Tiệp Khắc trong cuộc tấn công không trực diện với Liên Xô
Trong khi đó, Liên Xô thấy không thể để mất Tiệp Khắc về tay Hoa Kỳ và phương Tây Ngày 21/8/1968, Liên Xô huy động lực lượng quân đội khối Warsaw tiến vào Tiệp Khắc dùng vũ lực để bình ổn khủng hoảng, phá vỡ âm mưu “diễn biến hòa bình” của Hoa Kỳ
2.1.5 Sự thất bại của “Chiến lược hòa bình” của Hoa Kỳ trên bình diện thế giới
Mục tiêu số một của “Chiến lược hòa bình” của F.Kennedy là làm suy yếu Liên Xô, các nước XHCN tiến đến tiêu diệt các nước này, ngăn chặn CNCS và đàn
áp phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới Thế nhưng, sự phát triển của lịch sử diễn ra theo một chu kì ngược với ý đồ của Hoa Kỳ Trong khi, nước Mỹ đang khó khăn vì bãi lầy chiến tranh Việt Nam thì Liên Xô và các nước XHCN không ngừng vươn lên về mọi mặt (Vũ Dương Ninh, 2002)
Thập niên 60, Liên Xô thật sự ở điểm đỉnh của sự phát triển của họ Liên Xô
đã đuổi kịp Hoa Kỳ về sản lượng thép và nhiều ngành công nghiệp quan trọng khác
Về khoa học - kĩ thuật, Liên Xô cũng đuổi kịp trình độ của Hoa Kỳ và vượt lên ở một
số ngành mũi nhọn Trong khi, ngày 12/4/961, Liên Xô phóng thành công con tàu vũ trụ phương Đông 1 do Y.Gagarin lái lần đầu tiên bay vào vũ trụ thì đến tháng 5/1961, Hoa Kỳ mới làm được điều tương tự Trong so sánh tương quan lực lượng chiến lược trên thế giới, Hoa Kỳ luôn đặt Liên Xô lên hàng đầu Trước đây, Hoa Kỳ cho rằng về phương diện sức mạnh quân sự họ đã vượt xa Liên Xô Nhưng đến thập
kỉ 60, các nhà chiến lược Hoa Kỳ buộc phải thừa nhận rằng cả về hai lĩnh vực vũ khí hạt nhân và vũ khí thông thường Hoa Kỳ không thể vượt qua Liên Xô Trong khi đó, nhiều đồng minh của Hoa Kỳ lần lượt quay lưng với họ: năm 1966, Pháp tuyên bố rút khỏi khối NATO, Cuba và các nước thân Mỹ trở thành lực lượng chống Mỹ ở châu Mỹ Latinh… Còn Liên Xô thì ngày càng mở rộng bờ cõi của CNCS nhờ vào quá trình “xuất khẩu cách mạng” ồ ạt qua các nước thuộc vành đai của phong trào giải phóng dân tộc đặc biệt là kết giao được với hai quốc gia rộng lớn là Trung Quốc
và Ấn Độ Những âm mưu phản cách mạng của Hoa Kỳ ở Cuba, Việt Nam, Tiệp Khắc… bị phá sản hàng loạt Tất cả đã đưa “Chiến lược hòa bình” của Hoa Kỳ đến
sự thất bại Có thể nói, điểm nhấn trong chuỗi thất bại của “Chiến lược hòa bình” của Hoa Kỳ là cuộc chiến tranh Việt Nam Thắng lợi bước đầu của cách mạng Việt Nam
đã làm lu mờ huyền thoại về sức mạnh vô địch của Hoa Kỳ trên các nẻo đường chinh phục thế giới
Trang 3830
Một mục tiêu quan trọng khác nữa trong chiến lược của Kennedy là nhằm giữ
vững thế thượng phong, địa vị khống chế, nô dịch đối với các nước đồng minh và
phần còn lại của thế giới Thế nhưng, Hoa Kỳ lại bị suy yếu, sa sút về nhiều mặt Trong khi đó, kinh tế Nhật Bản và các nước Tây Âu lại phất lên nhanh chóng hơn bao giờ hết Sự thay đổi trong so sánh lực lượng này dẫn đến trong thế giới TBCN xuất hiện ba trung tâm kinh tế - tài chính lớn: Hoa Kỳ, Nhật Bản và Tây Âu (trước đây chỉ có duy nhất trung tâm kinh tế - tài chính là Hoa Kỳ) Giữa Hoa Kỳ, Tây Âu, Nhật Bản đã diễn ra những mâu thuẫn và tranh chấp hết sức gay gắt, quyết liệt về kinh tế, tài chính Nó biểu hiện thành “Chiến tranh vàng”, “Chiến tranh tiền tệ”,
“Chiến tranh kinh tế, thương mại”, Trong nội bộ khối quân sự NATO cũng diễn ra những cuộc đấu tranh kịch liệt giữa Anh, Pháp, Tây Đức với Hoa Kỳ về việc chia sẻ quyền lực lãnh đạo và về lực lượng vũ khí hạt nhân… Dẫn đến, năm 1966, Pháp tuyên bố rút khỏi bộ chỉ huy NATO Bộ chỉ huy tối cao NATO phải rút khỏi Paris chuyển sang đất Bỉ Đồng thời, ngày 30/3/1967, Hoa Kỳ phải rút hết khỏi đất Pháp tất cả các cơ quan của khối NATO, 30.000 quân Hoa Kỳ cùng gia đình, rời bỏ 14 căn
cứ không quân và 40 doanh trại trên đất nước này(4)
Vị thế quốc tế của Hoa Kỳ ngày càng suy giảm, điều đó đặt ra cho giới cầm quyền Hoa Kỳ những nhiệm vụ mới
2.2 CHIẾN LƯỢC TOÀN CẦU CỦA HOA KỲ THỜI KÌ NIXON – FORD (1969 - 1975)
2.2.1 Sự thay đổi chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ dưới thời Tổng thống R.Nixon
Năm 1969, Tổng thống thứ 37 của Hoa Kỳ R.Nixon bước vào Nhà Trắng trong hoàn cảnh quốc tế có nhiều sự thay đổi lớn So sánh lực lượng giữa các nước
đã căn bản khác trước Trong nội bộ phe đế quốc, lực lượng cũng thay đổi ngày càng bất lợi cho Hoa Kỳ Người Mỹ liên tiếp thất bại ở Việt Nam và nhiều nơi khác đã
“đẩy nước Mỹ vào một cuộc khủng hoảng toàn diện cả trong và ngoài nước, không thể lường hết được” Điều này làm cho lực lượng và địa vị của Hoa Kỳ suy giảm nghiêm trọng Do đó, tân Tổng thống R.Nixon cần phải vạch ra con đường mới cho nước Mỹ gượng dậy và nó là “Học thuyết Nixon” “Học thuyết Nixon” nhằm điều chỉnh lại “Chiến lược toàn cầu” để đưa Hoa Kỳ tiếp tục phiêu lưu với mưu đồ bá chủ thế giới và giữ vững vị trí, quyền lợi của Hoa Kỳ trên trường quốc tế
Nội dung của “Học thuyết Nixon” được xây dựng trên ba nguyên tắc căn bản sau:
1 Tăng cường sức mạnh của Hoa Kỳ để làm cơ sở cho chính sách uy hiếp, mua chuộc hoặc gây chiến, xâm lược các nước khác Nixon nói: “Chúng ta sẽ không làm giảm khả năng phòng thủ của chúng ta xuống dưới mức mà tôi cho là cần thiết đối với nền an ninh dân tộc chúng ta Một nước Mỹ mạnh là một điều tối cần thiết.”
2 Buộc các nước đồng minh và chư hầu phải “chia sẻ trách nhiệm với Hoa Kỳ”, lập ra những liên minh phản cách mạng ở từng khu vực thay mặt Hoa Kỳ chống lại phong trào cách mạng Vì quyền lợi của Hoa Kỳ, Nixon đã giải thích nguyên tắc như
Trang 3931
sau: “Sự chia sẻ trách nhiệm này không phải ít đòi hỏi một hình thức lãnh đạo của Hoa Kỳ hơn so với trước kia nhưng mà nó đòi hỏi một hình thức lãnh đạo mới, tế nhị hơn,… Trong thế giới hiện đại, sự lãnh đạo không thể là tự một mình làm được Con đường lãnh đạo là đưa ra sự giúp đỡ, sự thúc đẩy và sự cổ vũ để cùng nhau làm được”
3 Hoa Kỳ “sẵn sàng thương lượng” nếu có lợi cho Hoa Kỳ và nhằm chia rẽ, khiêu khích các nước XHCN và các lực lượng cách mạng trên thế giới Nixon nói:
“Hoa Kỳ sẽ thương lượng và cần phải thương lượng trên thế mạnh” Về quân sự: Nixon thay thế “chiến lược phản ứng linh hoạt” bằng “chiến lược răn đe thực tế” (Vũ Dương Ninh, 2002)
Nhìn chung, mặc dù âm mưu và thủ đoạn rất tinh vi, khéo léo, dễ mê hoặc kẻ thù, song sự ra đời của “Học thuyết Nixon” là một bước lùi trong chiến lược toàn cầu của Hoa Kỳ nó biểu hiện sự bị động so với “Học thuyết Truman” và “Chiến lược Kennedy” Con đường mới - “Học thuyết Nixon” không thể là con đường hoa lệ, đưa nước Mỹ đến bến bờ vinh quang mà nó dự báo một “khoảng trời lặng” phía trước một nước Mỹ đang sôi lên vì các cuộc viễn chinh của quân lực Hoa Kỳ bên ngoài cương giới Nhưng nó cũng là sự khởi đầu cho một hướng ngoại giao mới của Hoa
Kỳ sau những thất bại trong những cuộc động binh với những cuộc đàm phán ở mức
độ cao để đạt được mục tiêu qua sự thỏa hiệp của đối thủ
2.2.2 Những thay đổi trong chiến lược của Hoa Kỳ trong cuộc chiến tranh Việt Nam
Vấn đề Việt Nam đã gây ra cho nước Mỹ một cơn sốt kinh niên Nhiều phong
trào phản chiến (Hippy) nổi lên ở nhiều nơi trên nước Mỹ Người dân Mỹ đã khóc cho con em họ đang hy sinh bên kia bờ Thái Bình Dương Sau khi lên cầm quyền, Tổng thống Nixon buộc phải đối phó ngay với vấn đề trung tâm của nước Mỹ lúc này là rút dần quân về nước để giảm bớt những chi phí khổng lồ mà ngân sách Hoa
Kỳ không thể chịu đựng R.Nixon đề ra chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” để thay thế cho chiến lược “Chiến tranh cục bộ” (1965 - 1968) về cơ bản đã thất bại hoàn toàn Điều này có nghĩa là Hoa Kỳ tìm cách “thay đổi màu da trên xác chết” để tiếp tục cuộc chiến tranh thực dân mới phục vụ quyền lợi của tư bản Hoa Kỳ ở Việt Nam và trên toàn cõi Đông Dương Bên cạnh đó, Hoa Kỳ tiếp tục thương lượng với Việt Nam nhưng trên thế mạnh và với điều kiện có lợi cho Hoa Kỳ Hoa Kỳ đã đẩy mạnh và mở rộng chiến tranh ra cả vùng Đông Dương nhằm “Đông Dương hóa chiến tranh” Ngày 18/3/1970, các thế lực thân Hoa Kỳ đứng đầu là Lonnon được Hoa Kỳ hậu thuẫn làm cuộc đảo chính Norodom Sihanouk nhằm đưa Cambodia vào cuộc chiến tranh Đông Dương, để Hoa Kỳ thực hiện chiến lược “Khmer hóa chiến tranh” Trong khi đó, ở Lào thì Hoa Kỳ cũng thực hiện chiến lược “Chiến tranh đặc biệt tăng cường” (Trần Bá Đệ, 1999)
Với chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” chính quyền Nixon vừa từng bước rút quân Mỹ về nước vừa ra sức củng cố và tăng cường ngụy quân, ngụy quyền
Trang 4032
vừa xuống thang chiến tranh vừa phản công và tiến công quyết liệt để chống lại cách mạng Việt Nam Hoa Kỳ hầu như tập trung toàn bộ lực lượng của họ cùng quân đội Sài Gòn để bình định nông thôn bằng “quốc sách bình định” Hoa Kỳ đã dùng mọi thủ đoạn về quân sự, chính trị, ngoại giao, thực hiện kết hợp “Chiến tranh hủy diệt” với “Chiến tranh giành dân”, “Chiến tranh bóp nghẹt” để làm suy yếu lực lượng kháng chiến của nhân dân hai miền Nam - Bắc Việt Nam
Khi giải thích chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” nguyên Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ Ledo đã diễn đạt “Việt Nam hóa chiến tranh” là “Học thuyết Nixon trong hành động”, là “sự áp dụng lớn đầu tiên học thuyết Nixon”, là “trường hợp thí nghiệm và là bước quyết định đầu tiên trong việc thực hiện học thuyết Nixon,
là “quan điểm vạch kế hoạch ở châu Á” Ở khía cạnh khác, “Việt Nam hóa chiến tranh” được Nixon nói trong báo cáo về đường lối ngoại giao trước Quốc hội Hoa Kỳ ngày 18/2/1970, Nixon đã nhấn mạnh hai điểm: tăng cường lực lượng quân Sài Gòn
về số lượng, trang bị, khả năng chỉ huy, nghệ thuật tác chiến và năng lực toàn diện;
mở rộng “chương trình bình định” Nixon và Ledo đã vạch kế hoạch thực hiện “Việt Nam hóa chiến tranh” trong ba giai đoạn, bắt đầu từ năm 1970, kết thúc vào cuối năm 1975 và chủ trương sẽ sử dụng hải quân và không quân làm chiếc “lá chắn đảm bảo” lâu dài cho quân lực Sài Gòn
Nhưng tất cả mọi âm mưu, thủ đoạn của “Học thuyết Nixon” đều vấp phải sự giáng trả quyết liệt và có hiệu quả của nhân dân Việt Nam, Lào, Cambodia Việc bị đánh bại trong chiến dịch Lam Sơn 719 ở đường 9 Nam Lào và cuộc hành quân
“Toàn thắng 1-71” ở vùng Đông Bắc Cambodia (2/1971), trong đó quân đội Sài Gòn đóng vai trò “tay sai địa phương” thay thế quân đội Hoa Kỳ với vai trò chia sẻ trách nhiệm trong chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, “Khmer hóa chiến tranh” và
“Chiến tranh đặc biệt tăng cường” của “Học thuyết Nixon” tại chiến trường Đông Dương Từ tháng 3/1972, quân dân miền Nam Việt Nam đã mở cuộc tấn công với quy mô lớn ở Quảng Trị, Kom Tum, Bình Long rồi mở rộng thêm nhiều vùng giải phóng, bị thất bại nặng nề trong “Mùa hè đỏ lửa năm 1972”, Hoa Kỳ và Sài Gòn rơi vào quá trình rệu rã dự báo một thất bại không thể tránh khỏi Để cứu lấy tình hình, Nixon cho “Mỹ hóa” lại một phần cuộc chiến tranh Việt Nam, đồng thời gây trở lại cuộc chiến tranh không quân và hải quân phá hoại miền Bắc từ ngày 6/4/1972
Mọi cố gắng của Nixon bị tiêu tan bởi sự thắng lợi của cuộc tiến công chiến lược năm 1972 của quân cách mạng Việt Nam (Mùa hè đỏ lửa) Điều này đã tạo ra bước ngoặt của cuộc chiến tranh chống Mỹ của nhân dân Việt Nam Trong khi đó, ngày 14/12/1972, Nixon phê chuẩn kế hoạch mở cuộc tập kích chiến lược bằng không quân vào Hà Nội, Hải Phòng suốt 24/24 giờ bằng máy bay chiến lược B52 từ ngày 18/12 đến 29/12/1972 với 100 chiếc B52, 700 chiếc máy bay chiến thuật (trong
đó có 30 chiếc F111) hơn 60 tàu chiến của Hạm đội 7 Nhưng suốt 12 ngày đêm
oanh kích Hà Nội, Hải Phòng và một số nơi khác với 10 vạn tấn bom có sức công
phá tương đương 5 quả bom nguyên tử mà Hoa Kỳ đã ném xuống Nhật Bản năm