Trải qua chặng đường một nghìn năm cùng lịch sử dân tộc, văn học trung đại Việt Nam với bao biến đổi thăng trầm, tồn tại dưới dạng văn bản chủ yếu là chữ Hán và chữ Nôm, chứa đựng nhiều
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG
KHOA SƯ PHẠM
TÀI LIỆU GIẢNG DẠY
VĂN HỌC TRUNG ĐẠI VIỆT NAM
TỪ THẾ KỶ X ĐẾN HẾT THẾ KỶ XVII
TRẦN TÙNG CHINH
AN GIANG, THÁNG 01 NĂM 2018
Trang 2Tài liệu giảng dạy “Văn học trung đại Việt Nam từ thế kỷ X đển hết thế kỷ
XVII”, do tác giả Trần Tùng Chinh, công tác tại Bộ môn Ngữ văn, Khoa Sư phạm thực
hiện Tác giả đã báo cáo nội dung và được Hội đồng Khoa học và Đào tạo Khoa thông qua ngày 04/01/2018, và được Hội đồng Khoa học và Đào tạo Trường Đại học An Giang thông qua ngày………
Tác giả biên soạn
Trang 3i
LỜI CAM KẾT
Tôi xin cam đoan đây là Tài liệu giảng dạy của riêng tôi Nội dung tài liệu giảng dạy
có xuất xứ rõ ràng
An Giang, ngày 9 tháng 01 năm 2018
Người biên soạn
Trần Tùng Chinh
Trang 4ii
MỤC LỤC
LỜI CAM KẾT i
MỤC LỤC ii
LỜI NÓI ĐẦU 1
PHẦN I 3
GIỚI THIỆU CHUNG VỀ TÀI LIỆU GIẢNG DẠY 3
A.GIỚI THIỆU TÀI LIỆU 3
B.MỤC TIÊU CỦA HỌC PHẦN VÀ PHƯƠNG PHÁP HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN 4
1.Mục tiêu của học phần 4
1.1.Kiến thức và lập luận ngành 5
1.2.Kỹ năng, phẩm chất cá nhân và nghề nghiệp, năng lực thực hành nghề nghiệp 5
1.3.Thái độ 6
2.Phương pháp học tập 6
PHẦN II: NỘI DUNG TÀI LIỆU GIẢNG DẠY 8
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VĂN HỌC TRUNG ĐẠI VIỆT NAM 8
(VĂN HỌC VIỆT NAM TỪ THẾ KỶ X ĐẾN HẾT THẾ KỶ XIX) 8
A MỤC TIÊU CẦN ĐẠT VÀ NHIỆM VỤ CỦA SINH VIÊN 8
B NỘI DUNG BÀI HỌC 9
1.1 KHÁI NIỆM VĂN HỌC TRUNG ĐẠI 9
1.1.1 Một số khái niệm 9
1.1.2 Khái niệm “văn học trung đại” 10
1.2 LỊCH SỬ THỜI ĐẠI 11
1.2.1 Chế độ phong kiến Việt Nam 11
1.2.2 Ý thức xã hội 12
1.2.2.1 Tư tưởng truyền thống Việt Nam 12
1.2.2.2 Tiếp biến các hệ tư tưởng từ nước ngoài 13
1.3 PHÂN KỲ VĂN HỌC 16
Trang 5iii
1.3.1 Giai đoạn từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XIV 16
1.3.2 Giai đoạn từ thế kỷ XV đến hết thế kỷ XVII 16
1.3.3 Giai đoạn từ thế kỷ XVIII đến nửa đầu thế kỷ XIX 17
1.3.4 Giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX 17
1.4 CẢM THỨC THẾ GIỚI CỦA CON NGƯỜI TRUNG ĐẠI VÀ CƠ SỞ HÌNH THÀNH QUAN NIỆM THẨM MỸ VIỆT NAM 18
1.4.1 Cảm thức thế giới của con người thời trung đại 18
1.4.1.1 Cảm thức thế giới tự nhiên 18
1.4.1.2 Cảm thức về thời gian 21
1.4.1.3 Cảm thức về không gian - xã hội 23
1.4.2 Cơ sở hình thành quan niệm thẩm mỹ Việt Nam 24
1.4.2.1 Thiên nhiên Việt Nam tươi đẹp hữu tình 24
1.4.2.2 Vị trí địa lý, vị trí văn hóa độc đáo 25
1.4.2.3 Quan hệ giữa con người Việt Nam với cộng đồng làng xã, với đất nước và nhân dân 26
1.5 ĐẶC ĐIỂM VĂN HỌC TRUNG ĐẠI 26
1.5.1 Tính chất cao nhã của văn học trung đại 26
1.5.2 Tính chất vô ngã và hữu ngã trong văn học trung đại 28
1.5.3 Tính chất quy phạm và bất quy phạm trong văn học trung đại 30
1.6 KẾT LUẬN 32
CHƯƠNG 2: VĂN HỌC VIỆT NAM THẾ KỶ X ĐẾN HẾT THẾ KỶ XIV 36
A MỤC TIÊU CẦN ĐẠT VÀ NHIỆM VỤ CỦA SINH VIÊN 36
B NỘI DUNG BÀI HỌC 37
2.1 THỜI ĐẠI 37
2.1.1 Bối cảnh thời đại 37
2.1.2 Con người thời đại 39
2.2 TÌNH HÌNH VĂN HỌC 41
2.2.1 Các xu hướng văn học chủ yếu 41
2.2.1.1 Xu hướng văn học yêu nước 41
Trang 6iv
2.2.1.2 Xu hướng văn học Phật giáo Thiền tông 44
2.2.1.3 Xu hướng văn học thế sự 53
2.2.2 Một số hình thức nghệ thuật nổi bật 55
2.3 KẾT LUẬN 58
CHƯƠNG 3: KHÁI QUÁT VĂN HỌC VIỆT NAM GIAI ĐOẠN TỪ THẾ KỶ XV ĐẾN HẾT THẾ KỶ XVII 60
A MỤC TIÊU CẦN ĐẠT VÀ NHIỆM VỤ CỦA SINH VIÊN 60
3.1 VĂN HỌC THẾ KỶ XV 61
3.1.1 Bối cảnh thời đại 61
3.1.2 Tình hình văn học 63
3.1.2.1 Ca ngợi chiến thắng ngoại xâm vẻ vang, truyền thống anh hùng bất khuất của đất nước và con người Đại Việt với âm điệu anh hùng – âm điệu chủ đạo của thời kỳ lịch sử 65
3.1.2.2 Ca ngợi cảnh tươi đẹp thái bình thịnh trị của đất nước và triều đại nhà Lê 65 3.1.3 Tiểu kết 67
3.2 VĂN HỌC THẾ KỶ XVI ĐẾN HẾT THẾ KỶ XVII 67
3.2.1 Bối cảnh thời đại 67
3.2.2 Tình hình văn học 68
3.2.2.1 Lực lượng sáng tác 68
3.2.2.2 Sáng tác văn học chữ Nôm 69
3.2.2.3 Sáng tác văn học chữ Hán 70
3.2.2.4 Những xu hướng văn học chủ yếu 71
3.2.2.5 Một vài hình thức nghệ thuật tiêu biểu 73
3.3 KẾT LUẬN 74
CHƯƠNG 4: NGUYỄN TRÃI (1380 - 1442) 75
A MỤC TIÊU CẦN ĐẠT VÀ NHIỆM VỤ CỦA SINH VIÊN 75
B NỘI DUNG BÀI HỌC 76
4.1 CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP 74
4.1.1 Cuộc đời 76
4.1.1.1 Bối cảnh thời đại và hoàn cảnh gia đình 76
Trang 7v
4.1.1.2 Cuộc đời Nguyễn Trãi 77
4.1.2 Sự nghiệp 80
4.1.2.1 Văn chính luận .82
4.1.2.2 Thơ ca 86
4.2 QUAN NIỆM VỀ VĂN CHƯƠNG CỦA NGUYỄN TRÃI 91
4.3 NHÀ TƯ TƯỞNG LỚN VỚI TƯ TƯỞNG NHÂN NGHĨA CAO VỜI 94
4.4 NHÀ VĂN NHÀ THƠ LỚN VỚI CHỮ TÀI LUÔN GẮN VỚI CHỮ TÂM 96
4.4.1 Lòng một tấc son còn nhớ chúa – Tóc hai phần bạc bởi thương thu 96
4.4.2 Mắt hòa xanh, đầu dễ bạc – Lưng khôn uốn, lộc nên từ 98
4.4.3 Ngày xem hoa rụng chăng cài cửa – Tối rước chim về mựa lạc ngàn 99
4.4.4 Chữ học ngày xưa quên hết dạng – Chẳng quên có một chữ “cương thường” 101
4.4.5 Những sáng tạo nghệ thuật tài hoa 102
4.4.5.1 Không gian nghệ thuật 102
4.4.5.2 Thời gian nghệ thuật 104
4.4.5.3 Những đóng góp cho thể thơ Nôm Đường luật 105
4.5 KẾT LUẬN 106
CHƯƠNG 5: LÊ THÁNH TÔNG (1442 – 1497) 108
VÀ HỒNG ĐỨC QUỐC ÂM THI TẬP 108
A MỤC TIÊU CẦN ĐẠT VÀ NHIỆM VỤ CỦA SINH VIÊN 108
B NỘI DUNG BÀI HỌC 109
5.1 LÊ THÁNH TÔNG 109
5.1.1 Cuộc đời 109
5.1.2 Sự nghiệp văn học 111
5.1.2.1 Văn xuôi, phú 111
5.1.2.2 Thơ chữ Nôm 112
5.1.2.3 Thơ chữ Hán 113
5.1.3 Những giá trị chủ yếu trong thơ văn Lê Thánh Tông 113
5.1.3.1 Tư tưởng thân dân của một nhà vua lỗi lạc 113
Trang 8vi
5.1.3.2 Tình yêu thiên nhiên của một nhà thơ giàu tình cảm 114
5.1.3.3 Những đóng góp tích cực của một cây bút thơ Nôm 117
5.1.3.4 Tiểu kết 118
5.2 HỒNG ĐỨC QUỐC ÂM THI TẬP 118
5.2.1 Hoàn cảnh ra đời Hồng Đức quốc âm thi tập 118
5.2.2 Tác giả của Hồng Đức quốc âm thi tập 120
5.2.3 Giá trị chủ yếu của Hồng Đức quốc âm thi tập 121
5.2.3.1 Giá trị nội dung 121
5.2.3.2 Giá trị nghệ thuật 128
5.3 KẾT LUẬN 132
CHƯƠNG 6: NGUYỄN BỈNH KHIÊM (1491 – 1585) 134
A MỤC TIÊU CẦN ĐẠT VÀ NHIỆM VỤ CỦA SINH VIÊN 134
B NỘI DUNG BÀI HỌC 135
6.1 CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP 135
6.1.1 Cuộc đời 135
6.1.1.1 Thời niên thiếu và giai đoạn ẩn chí đợi thời 135
6.1.1.2 Thời ra thi và làm quan với nhà Mạc 136
6.1.1.3 Thời nghỉ hưu tại quê nhà 136
6.1.2 Sự nghiệp 137
6.2 NHỮNG GIÁ TRỊ CHỦ YẾU CỦA THƠ VĂN NGUYỄN BỈNH KHIÊM 138
6.2.1 Giá trị nội dung 133
6.2.1.1 Một nhân cách lớn, một “tấm lòng lo trước thiên hạ đến già chưa thôi” 138
6.2.1.2 Một cuộc sống nhàn tản của con người đại ẩn với tư duy triết học 142
6.2.1.3 Một con người luôn đề cao vấn đề đạo lý, giáo huấn 147
6.2.1.4 Một con người cương trực với cảm hứng và nội dung phê phán trong thơ 150
6.2.1.5 Một lối sống của con người có tâm hồn dân dã yêu thiên nhiên đất nước 154
6.2.2 Giá trị nghệ thuật 157
6.3 KẾT LUẬN 160
Trang 9vii
CHƯƠNG 7: NGUYỄN DỮ VÀ TRUYỀN KỲ MẠN LỤC 162
A MỤC TIÊU CẦN ĐẠT VÀ NHIỆM VỤ CỦA SINH VIÊN 162
B NỘI DUNG BÀI HỌC 162
7.1 CUỘC ĐỜI NGUYỄN DỮ 162
7.2 GIỚI THIỆU TÁC PHẨM TRUYỀN KỲ MẠN LỤC 164
7.3 GIÁ TRỊ TÁC PHẨM TRUYỀN KỲ MẠN LỤC 166
7.3.1 Giá trị nội dung 166
7.3.1.1 Tiếng nói phê phán hiện thực, vạch trần những thực trạng của xã hội phong kiến đương thời 166
7.3.1.2 Đề cao sự lựa chọn quan niệm sống và thái độ “lánh đục về trong” của nho sĩ trí thức qua hình ảnh người ẩn sĩ 169
7.3.1.3 Tiếng nói hướng tới và phản ảnh số phận và khát vọng tình yêu hạnh phúc của con người - cá nhân, đặc biệt là người phụ nữ 171
7.3.1.4 Sự mâu thuẫn trong tư tưởng và nhận thức của tác giả 173
7.3.2 Giá trị nghệ thuật 176
7.3.2.1 Nghệ thuật dựng truyện, xây dựng nhân vật và sử dụng ngôn ngữ 176
7.3.2.2 Bút pháp linh hoạt biến hóa phong phú 178
7.4 KẾT LUẬN 181
Trang 101
LỜI NÓI ĐẦU
Văn học trung đại là một giai đoạn văn học lớn trong lịch sử văn học nhân loại
và dân tộc Văn học trung đại Việt Nam tính từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XIX là giai đoạn hình thành và phát triển rực rỡ của văn học Việt Nam, đồng thời cũng là giai đoạn hình thành các truyền thống lớn về tư tưởng và nghệ thuật
Trải qua chặng đường một nghìn năm cùng lịch sử dân tộc, văn học trung đại Việt Nam với bao biến đổi thăng trầm, tồn tại dưới dạng văn bản chủ yếu là chữ Hán
và chữ Nôm, chứa đựng nhiều giá trị lớn tiềm ẩn và cũng đầy thách thức đối với các nhà nghiên cứu, các nhà giáo dục, những người yêu quý vốn văn chương truyền thống và không thể không nhắc đến các sinh viên chuyên ngành Ngữ văn
Văn học trung đại Việt Nam bao gồm nhiều học phần chuyên ngành tiếp nối học phần Văn học dân gian Việt Nam trong chương trình đào tạo sư phạm Ngữ văn Riêng học phần Văn học Việt Nam trung đại 1 là học phần mở đầu cho chuỗi học phần về Văn học Việt Nam trung đại với những vấn đề khái quát quan trọng 10 thế
kỷ văn học, làm nền tảng cơ bản để sinh viên tiếp tục học tập và nghiên cứu các học phần tiếp theo như văn học Việt Nam trung đại 2, Văn học Việt Nam trung đại 3 và Văn học Việt Nam hiện đại Ngoài việc cung cấp cho sinh viên những kiến thức khái quát và cơ bản về mười thế kỷ văn học viết, học phần còn đi chuyên sâu vào giai đoạn đầu tiên của văn học trung đại, cụ thể là từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XVII, với các xu hướng sáng tác nổi bật, các tác giả tác phẩm tiêu biểu, góp phần làm nên diện mạo của văn học trung đại Việt Nam, song hành và phát triển cùng những bước đi của lịch sử dân tộc nói chung, lịch sử văn học Việt Nam nói riêng
Ngoài việc mang đến cho sinh viên những hiểu biết đầy đủ về các khái niệm, giới thuyết về sự phân kỳ, những yếu tố tư tưởng và nghệ thuật có tác động đến 10 thế kỷ văn học, các đặc điểm riêng của văn học trung đại Việt Nam, học phần còn giới thiệu một cách khá chuyên sâu về các thời kỳ cụ thể của văn học giai đoạn này như văn học từ thế kỷ X đến thế kỷ XIV (còn gọi là văn học Lý Trần), văn học thế kỷ
XV (văn học thời Lê sơ), văn học thế kỷ XVI đến cuối thế kỷ XVII (văn học Nam Bắc triều, Lê Trung hưng…) Theo đó, học phần cũng giới thiệu các xu hướng văn học nổi bật và các tác giả tác phẩm tiêu biểu làm nên diện mạo của từng thời kỳ văn học cụ thể
Tài liệu này được biên soạn, trước hết là để hướng đến nhu cầu học tập và nghiên cứu của sinh viên chuyên ngành Ngữ văn – đặc biệt là trong điều kiện sinh viên tăng cường hình thức tự học để đáp ứng chương trình đào tạo học chế tín chỉ Sinh viên ngoài chuyên ngành có quan tâm đến văn học cũng có thể tìm đọc tài liệu này như là cách để có thể tham khảo và bổ sung kiến thức về văn học trung đại Việt Nam
Trang 112
Tài liệu được phân bổ thành hai phần với bảychương:
- Phần I: Giới thiệu chung về tài liệu giảng dạy
- Phần II: Nội dung tài liệu giảng dạy chia làm 7 chương với các nội dung cụ thể xoay quanh các vấn đề như:
+ Khái quát những vấn đề cơ bản liên quan đến đối tượng nghiên cứu và học tập là văn học trung đại Việt Nam (về khái niệm, về lịch sử thời đại với các vấn đề về tư tưởng, về sự phân kỳ văn học, các đặc điểm của văn học trung đại…)
+ Khái quát các giai đoạn văn học cụ thể như văn học trung đại Việt Nam từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XIV, văn học trung đại Việt Nam thế kỷ XV, văn học trung đại Việt Nam từ thế kỷ XVI đến hết thế kỷ XVII
+ Các tác gia văn học tiêu biểu của từng thời kỳ như Nguyễn Trãi, Lê Thánh
Tông, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Dữ (và tác phẩm Truyền kỳ mạn lục)
Bên cạnh đó, tài liệu có phần hướng dẫn học tập để sinh viên có được một phương pháp học tập hiệu quả hơn; đặc biệt phần thực hành với các câu hỏi củng cố
và mở rộng kiến thức đáp ứng cho nhiều đối tượng học lực của sinh viên
Mặc dù cố gắng tổng hợp từ các tài liệu, giáo trình của các học giả đi trước,
có sự kế thừa tiếp thu các vấn đề học thuật đã được giới nghiên cứu đồng thuận, có
sự bổ sung cập nhật các vấn đề mới; nhưng chắc chắn, tài liệu giảng dạy vẫn còn tồn tại những thiếu sót, những hạn chế; những nhận định chủ quan, cảm tính Rất mong nhận được sự nhận xét góp ý chân tình của các học giả, của đồng nghiệp và bạn đọc
Người biên soạn
Trần Tùng Chinh
Trang 123
PHẦN I GIỚI THIỆU CHUNG VỀ TÀI LIỆU GIẢNG DẠY
A GIỚI THIỆU TÀI LIỆU
Văn học trung đại Việt Nam từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX là một di sản văn học to lớn có giá trị làm nền tảng cho tiến trình phát triển của lịch sử văn học Việt Nam Mười thế kỉ văn học – 1000 năm văn học với những thành tựu quý giá về nội dung tư tưởng, về hình thức nghệ thuật đã góp phần hình thành những giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam
Trong các học phần văn học viết Việt Nam, “Văn học Việt Nam trung đại 1” là học phần đầu tiên tổng quan về mười thế kỉ văn học, mở đầu cho các học phần văn học Việt Nam trung đại tiếp theo và văn học Việt Nam hiện đại
Đây là tài liệu giảng dạy mới, lần đầu tiên được biên soạn ở Trường Đại học
An Giang Dựa trên các thành tựu nghiên cứu của các học giả trong các giáo trình liên quan, tác giả biên soạn đã cố gắng chọn lọc, khái quát và tổng hợp từ các nguồn học liệu đã có để xây dựng thành một tài liệu giảng dạy phù hợp với đối tượng sinh viên năm thứ hai của chuyên ngành Ngữ văn, Khoa Sư phạm, Trường Đại học An Giang; giúp sinh viên có một tài liệu tin cậy để học tập thuận lợi và hiệu quả
Việc tìm hiểu, học tập nghiên cứu để nắm vững bộ phận văn học này cực kỳ quan trọng và cần thiết đối với sinh viên chuyên ngành Ngữ văn Tài liệu giảng dạy được thực hiện để hướng đến mục đích thiết thực là cung cấp cho sinh viên những kiến thức cơ bản, giúp sinh viên bước đầu nắm được; và đặc biệt thấy được vị trí, tầm quan trọng cũng như sự ảnh hưởng của văn học trung đại Việt Nam trong tiến trình phát triển chung của văn học dân tộc
Bên cạnh một số kiến thức có tính nền tảng dựa trên những công trình nghiên cứu chuyên sâu được công nhận của những chuyên gia đầu ngành về văn học trung đại Việt Nam, trong tài liệu này, chúng tôi đã có sự thiết kế các chương mục, thay đổi một số nội dung cho phù hợp với tổng số tín chỉ đã được quy định trong chương trình đào tạo Cụ thể là:
- Giới thuyết các khái niệm liên quan đến văn học trung đại
- Cập nhật cách phân kỳ văn học trung đại Việt Nam thành những thời kỳ cụ thể theo sách giáo khoa Ngữ văn 10 hiện hành
- Chú ý giảm tải một số kiến thức chuyên sâu về các tác giả đã được giảm tải trong chương trình Ngữ văn ở trường THCS và THPT để phù hợp hơn với đối tượng sinh viên năm thứ II và số lượng tiết học có giới hạn (45 tiết tương đương 3 tín chỉ)
Trang 134
- Tương tự, để giảm tải bớt khối lượng kiến thức; chúng tôi có chuyển một số nội dung về tác gia Nguyễn Trãi sang chuyên đề tự chọn “Tác gia văn học trung đại Việt Nam” (2 TC) sẽ học vào học kỳ VIII (năm thứ tư)
- Để phục vụ tốt cho chương trình đào tạo theo học chế tín chỉ, vốn đòi hỏi việc
tự học, tự nghiên cứu và thái độ tích cực trong học tập của sinh viên; tài liệu khi biên soạn có chú ý nhấn mạnh phần nhiệm vụ của sinh viên để hướng dẫn sinh viên tự học, các phần trọng tâm cần nghiên cứu sâu và những phần chỉ đọc thêm để tham khảo; đặc biệt là phần câu hỏi ôn tập thực hành với các bài tập củng cố và mở rộng nâng cao kiến thức dành cho sinh viên tự nghiên cứu
Sự thay đổi điều chỉnh trên dựa trên các nguyên nhân sau đây:
- Giáo dục đại học hiện nay đang trong xu thế đổi mới cơ bản toàn diện Trường Đại học An Giang cũng không nằm ngoài xu thế đó Trường đã sớm chuyển đổi chương trình đào tạo từ niên chế sang học chế tín chỉ, và mới đây là việc cho xây dựng chương trình đào tạo mới theo chuẩn CDIO Để góp phần tăng cường khả năng
tự học của sinh viên, nâng cao hiệu quả giờ lên lớp, đáp ứng yêu cầu đào tạo; việc biên soạn tài liệu giảng dạy các học phần chuyên ngành cũng cần thay đổi cho phù hợp
- Quan điểm nhìn nhận, đánh giá tầm ảnh hưởng của văn học cổ thời kỳ trung đại trong tiến trình phát triển văn học Việt Nam của các nhà nghiên cứu, các chuyên gia đầu ngành có nhiều sự đổi mới để hướng tới sự cân đối và công bằng hơn trong việc dạy học văn học từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XIX
Vì thế, chúng tôi thấy việc biên soạn tài liệu giảng dạy văn học Việt Nam trung đại 1 đáp ứng được những yêu cầu phát sinh trong quá trình giảng dạy, nghiên cứu và học tập của giảng viên và sinh viên là vô cùng cần thiết Tài liệu được biên soạn sẽ góp phần định hướng và gợi mở cho công tác nghiên cứu chuyên sâu về văn học trung đại Việt Nam
B MỤC TIÊU CỦA HỌC PHẦN VÀ PHƯƠNG PHÁP HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN
1 Mục tiêu của học phần
Học phần cung cấp kiến thức khái quát về văn học trung đại Việt Nam từ thế
kỷ X đến hết thế kỷ XIX và đi sâu vào các vấn đề cơ bản của giai đoạn từ thế kỷ X đến thế kỷ XVII: Các đặc điểm lịch sử xã hội, tình hình văn học, các tác giả, tác phẩm tiêu biểu; bồi đắp cho sinh viên lòng tự hào về di sản văn học trung đại Việt Nam Học phần cũng giới thiệu hướng tiếp cận và hình thành kỹ năng phân tích các tác phẩm văn học trung đại Việt Nam được chọn lọc giảng dạy trong sách Ngữ văn THCS và THPT
Trang 14- Sự phân kỳ văn học, xác định được vị trí quan trọng của bộ phận văn học trung đại Việt Nam trong tiến trình phát triển của lịch sử văn học Việt Nam;
- Những tác động ảnh hưởng của các yếu tố lịch sử, thời đại, các tư tưởng, học thuyết tôn giáo từ bên ngoài, những yếu tố nội sinh từ tư tưởng thẩm mỹ Việt đến tình hình văn học, các thành tựu nội dung và nghệ thuật chủ yếu của văn học trung đại Việt Nam
- Các đặc điểm, đặc trưng cơ bản của văn học trung đại Việt Nam làm cơ sở nền tảng cho việc tìm hiểu các xu hướng văn học, các tác giả và tác phẩm tiêu biểu của văn học giai đoạn này
- Cuộc đời, sự nghiệp và những đóng góp về tư tưởng cũng như nghệ thuật của các tác gia văn học nổi bật như Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Dữ… Đi sâu tìm hiểu các tác phẩm cụ thể của những tác gia nêu trên, đặc biệt là những tác phẩm được chọn giảng dạy trong chương trình sách giáo khoa Ngữ văn THCS và THPT hiện hành
Bên cạnh đó, sinh viên cũng cần nắm vững kiến thức của các học phần trước
và học phần song hành như Cơ sở văn hóa Việt Nam, Mỹ học đại cương, Hán Nôm, Văn học Châu Á 1 (Văn học Trung Quốc), Thi pháp học để bổ trợ kiến thức về văn hóa, lịch sử, mỹ học… cho việc lý giải, tìm hiểu các tác phẩm văn học trung đại
1.2 Kỹ năng, phẩm chất cá nhân và nghề nghiệp, năng lực thực hành nghề nghiệp
Sinh viên vận dụng kiến thức đã học để có thể giải thích khái niệm, lý giải một hiện tượng liên quan đến đặc điểm chung của văn học trung đại Việt Nam và đặc điểm riêng cũng như những thành tựu văn học nổi bật của từng thời kỳ văn học cụ thể;
Sinh viên có khả năng phân tích các tác phẩm văn học trung đại theo đặc điểm nội dung và thi pháp của từng thể loại văn học trung đại phục vụ cho công việc giảng dạy Ngữ văn (phần văn học cổ) sau này; từ đó có thể soạn, giảng – trình bày truyền
Trang 156
đạt các vấn đề liên quan đến văn học trung đại nói chung và các tác phẩm văn học trung đại trong chương trình THCS và THPT nói riêng;
Sinh viên có khả năng thuyết trình nhóm về văn học trung đại, thực hiện một
đề tài tiểu luận về văn học trung đại và tham gia các hoạt động ngoại khóa về văn học trung đại Việt Nam do giảng viên phụ trách học phần tổ chức;
Sinh viên có ý thức về vai trò trách nhiệm của một người giáo viên giảng dạy Ngữ văn nói chung và văn học trung đại nói riêng; biết vận dụng và liên hệ thực tế vào việc giảng dạy văn học trung đại; hiểu tầm quan trọng của văn học trung đại trong xã hội hiện đại;
Sinh viên có thể thiết kế và thực hiện kế hoạch dạy học văn học trung đại trong chương trình giảng dạy ở phổ thông; đồng thời biết đánh giá kết quả học tập phần văn học trung đại của học sinh phổ thông
1.3 Thái độ
Sinh viên có tinh thần tự học nghiêm túc, ý thức và động cơ học tập đúng đắn;
có niềm say mê, hứng thú và thái độ tích cực đối với môn học;
Sinh viên có trách nhiệm tham dự đầy đủ các buổi học, nghỉ học phải báo cáo
lý do chính đáng; vắng quá số tiết quy định coi như không hoàn thành khóa học và phải đăng ký học lại vào học kỳ sau;
Học phần được thực hiện trên nguyên tắc tôn trọng người học và người dạy Mọi hành vi làm ảnh hưởng đến quá trình dạy và học đều bị nghiêm cấm Sinh viên phải đi học đúng giờ quy định, đi trễ quá 5 phút sau khi giờ học bắt đầu sẽ không được tham dự buổi học Trong quá trình học, tuyệt đối không làm ồn, gây ảnh hưởng đến người khác, không được ăn uống, nhai kẹo cao su, sử dụng các thiết bị như điện thoại, máy nghe nhạc trong giờ học;
Các vấn đề liên quan đến xin bảo lưu điểm, khiếu nại điểm, chấm phúc tra, kỷ luật trường thì được thực hiện theo quy chế học vụ của Trường Đại học An Giang;
2 Phương pháp học tập
Phương pháp tự học và học nhóm là điều kiện tiên quyết để sinh viên đạt hiệu quả tốt trong học tập Bên cạnh đó, sinh viên cũng cần có mặt trên lớp đầy đủ để nghe hướng dẫn, gợi ý cần thiết của giảng viên hoặc tham gia thảo luận để bàn bạc
trao đổi những vấn đề liên quan đến bài học
Sinh viên cần trang bị tốt kiến thức về lý luận văn học, phương pháp luận nghiên cứu văn học trung đại để làm cơ sở khám phá, thâm nhập tác phẩm hoặc lý giải các hiện tượng liên quan đến đặc điểm của văn học trung đại Việt Nam
Trang 167
Sinh viên cần phải đọc nhiều tác phẩm, sách tham khảo có liên quan đến bộ phận văn học này theo hướng dẫn cuối mỗi chương Đặc biệt, sinh viên phải biết cách tự học, tự trang bị kiến thức để chủ động phát huy tư duy sáng tạo trong giờ thảo luận; phải chuẩn bị tốt bài thuyết trình báo cáo theo yêu cầu; tự nghiên cứu trước các kiến thức liên quan đến bài học để tham gia thảo luận trên lớp; tổ chức học nhóm hiệu quả để thực hiện các yêu cầu chuyên sâu về học phần theo sự phân công của giảng viên
Văn học trung đại Việt Nam có một vị trí vô cùng quan trọng trong nền văn học dân tộc Nghiên cứu văn học trung đại gặp nhiều khó khăn thử thách không chỉ
vì khối lượng tác phẩm cực kỳ đồ sộ phong phú mà còn vì những rào cản ngôn ngữ thời trung đại (chữ Hán, chữ Nôm), hướng tiếp cận mới khi đến với một bộ phận văn học viết ở một thời quá khứ xa xưa cùng với việc khẳng định độc lập chủ quyền của quốc gia phong kiến Việt Nam từ thế kỷ X, trải qua nhiều biến đổi thăng trầm đến khi thực dân Pháp xâm lược, cuối thế kỷ XIX
Vì thế, nếu sinh viên nắm vững được mục tiêu của học phần, có ý thức học tập tốt, có phương pháp tự học hiệu quả, có sự trang bị nghiêm túc và đầy đủ về những kiến thức văn học và những kiến thức liên ngành thì sẽ đạt được kết quả học tập như mong muốn
Trang 178
PHẦN II NỘI DUNG TÀI LIỆU GIẢNG DẠY
CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VĂN HỌC TRUNG ĐẠI VIỆT NAM
(VĂN HỌC VIỆT NAM TỪ THẾ KỶ X ĐẾN HẾT THẾ KỶ XIX)
A MỤC TIÊU CẦN ĐẠT VÀ NHIỆM VỤ CỦA SINH VIÊN
* Mục tiêu cần đạt
- Nắm vững các khái niệm khác nhau về văn học trung đại để xác định đối tượng nghiên cứu; các vấn đề lịch sử thời đại và sự phân kỳ văn học trung đại trong tiến trình phát triển của nó
- Nắm vững nội dung trọng tâm của chương là các đặc điểm cơ bản của văn học trung đại Việt Nam làm cơ sở để tìm hiểu các thời kỳ văn học, các xu hướng văn học
và các tác giả, tác phẩm tiêu biểu của văn học trung đại Việt Nam từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XIX
- Sinh viên có thể tìm hiểu thêm các vấn đề liên quan đến quy luật phát triển lịch
sử văn học Việt Nam, các cơ sở hình thành các đặc điểm của văn học trung đại và thi pháp văn học trung đại
- Sinh viên có kỹ năng tổng hợp khái quát vấn đề, so sánh đối chiếu các đặc điểm, tra cứu các dẫn chứng minh họa và sự say mê nghiên cứu nghiêm túc cùng thái
độ tình cảm sâu sắc dành cho văn học trung đại Việt Nam
* Nhiệm vụ của sinh viên
Sinh viên đọc kỹ giáo trình và các tài liệu tham khảo cần thiết để tìm hiểu các vấn đề cơ bản của bài học Cụ thể là:
- Tìm hiểu khái niệm của văn học trung đại nói chung và văn học trung đại Việt Nam nói riêng – dựa trên sự khảo sát tìm hiểu các khái niệm, các thuật ngữ đã được
sử dụng
- Tìm hiểu các vấn đề lịch sử xã hội Việt Nam từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XIX, đặc biệt là các vấn đề ý thức xã hội, tư tưởng (từ cơ sở tư tưởng Việt đến việc tiếp thu các hệ tư tưởng nước ngoài như Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo)
- So sánh các cách phân kỳ khác nhau về văn học trung đại Việt Nam Dựa vào Sách giáo khoa Ngữ văn 10, tham khảo cách phân kỳ được đưa vào nội dung giảng dạy THPT, lý giải tiêu chí phân kỳ và chỉ ra những ưu nhược điểm của cách phân kỳ
đó
Trang 189
- Trong phần “Đặc điểm văn học trung đại”, sinh viên sẽ hệ thống bài học theo
các trình tự như: Đặc điểm đó là gì? Đặc điểm đó được hình thành như thế nào? Các tính chất và biểu hiện của đặc điểm đó trong văn học trung đại Việt Nam, minh họa bằng các dẫn chứng Sinh viên cần tham khảo tìm hiểu thêm các cơ sở hình thành nên những đặc điểm cơ bản của văn học trung đại, làm nên nét khác biệt giữa văn học trung đại so với văn học dân gian và văn học hiện đại Đây là nội dung quan trọng nhất của chương mà sinh viên cần nắm vững
B NỘI DUNG BÀI HỌC
1.1 KHÁI NIỆM VĂN HỌC TRUNG ĐẠI
những yếu tố chuẩn mực, đạt trình độ cao, nhất là về hình thức nghệ thuật Điều này thể hiện khá rõ nét ở giai đoạn văn học Việt Nam từ giữa thế kỷ XVIII đến nửa đầu
thế kỷ XIX Vì thế, dùng khái niệm cổ điển để khái quát văn học Việt Nam từ thế kỷ
X đến hết thế kỷ XIX là chưa hợp lý
Văn học Việt Nam từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XIX còn được gọi bởi nhiều khái
niệm khác như văn học phong kiến (để gắn với thời kỳ quốc gia phong kiến độc lập đến 1858) trong các giáo trình “Lịch sử văn học Việt Nam” của Đại học Sư phạm Hà
Nội Để phân biệt với văn học truyền miệng dân gian, nhiều nhà nghiên cứu còn gọi
là văn học viết (hoặc văn học thành văn); hoặc gọi là văn học bác học (để phân biệt với văn học bình dân) Có người dựa vào hình thức ngôn ngữ chữ Hán, chữ Nôm của văn học giai đoạn này để gọi là văn học Hán Nôm Hoặc có nhà nghiên cứu như
Dương Quảng Hàm, Phạm Thế Ngũ…đứng ở góc độ phân kỳ lịch sử để gọi theo các
thời kỳ như văn học Lý Trần, văn học Hậu Lê, văn học Lê Trung hưng, văn học triều Nguyễn…
Mỗi một cách gọi đều có những góc nhìn và quan điểm riêng nhưng đưa đến sự thiếu thống nhất khi đi sâu nghiên cứu nền văn học giai đoạn từ thế kỷ X đến hết thế
kỷ XIX, một nền văn học với nhiều đặc trưng riêng không lẫn lộn với các bộ phận văn học khác
Trang 1910
1.1.2 Khái niệm “văn học trung đại”
Giới thuyết khái niệm “thời trung đại”
Theo Trần Đình Sử (Mấy vấn đề thi pháp văn học trung đại Việt Nam Nxb
Giáo dục 1999), thời trung đại là khái niệm mà các nhà Nhân đạo chủ nghĩa châu
Âu thế kỉ XV dùng để chỉ thực tại lịch sử ở giữa thời cổ đại (tính từ khi chế độ đế quốc La mã sụp đổ vào thế kỉ V) cho đến thời đại Phục Hưng thế kỉ XV Các học giả
phương Tây gọi thời kỳ này là “đêm trường trung cổ” với sự ngự trị tuyệt đối của thần quyền và quân quyền Ban đầu thuật ngữ trung đại được dùng với ý khinh miệt
để chỉ một thời tăm tối, không có ánh sáng của lý tính và khoa học, đó là một thời đầy chết chóc, hận thù và định kiến để sau đó, thời Phục Hưng sẽ làm sống lại các giá trị nhân văn thời cổ đại, giải phóng cá tính, phát triển tự do và sáng tạo của con
người Sau đó, với ý nghĩa khoa học đích thực, khái niệm trung đại gắn với những
nội dung lịch sử, văn hóa, văn học mang nội dung nhân văn
Về mặt thời đại, trung đại là thời kì sau khi tan rã chế độ chiếm hữu nô lệ cổ
đại cùng với các đế chế hùng mạnh cổ đại, các đế quốc bị chia nhỏ và bị phong kiến
hóa Thời trung đại là thời đại của chế độ phong kiến mà rồi sẽ bị thay thế
Về mặt văn hóa, đó là thời đại văn hóa lớn trong lịch sử nhân loại, thời đại ra đời của những quốc gia châu Âu, những nhà nước hiện đại hình thành, những ngôn ngữ dân tộc đa dạng cũng có dịp phát triển Đó là thời đại hình thành các giá trị văn hóa truyền thống có ảnh hưởng đến hôm nay Theo các nhà nghiên cứu, ở nước ta,
thời trung đại là thời hình thành toàn bộ di sản văn hóa thành văn của Việt Nam
Giới thuyết khái niệm “văn học trung đại”
Theo Lê Trí Viễn (Đặc trưng văn học trung đại Việt Nam, NXB KHXH H
1996 tr.19), người gọi thuật ngữ văn học trung đại trước tiên là Niculin1 Ông đề cập
đến những thuật ngữ trung đại, cận đại, hiện đại, những thuật ngữ có tính hội nhập quốc tế khi nói về văn học Việt Nam Theo ông, văn học trung đại nằm trong văn
hoá trung đại với những phạm trù văn hoá chi phối cảm thức con người thời đại và ảnh hưởng đến văn học nghệ thuật Cách gọi này xuất phát trước tiên từ bản chất văn học, sau đó mới đến lịch sử, chính trị, xã hội ngụ trong khái niệm trung đại Trong
công trình Đặc điểm có tính quy luật của lịch sử văn học Việt Nam 2 , Lê Trí Viễn đề xuất khái niệm văn học trung đại để gọi giai đoạn văn học từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XIX (Tính từ Lời tuyên bố của Ngô Quyền bắt đầu cho nền văn học viết của nước nhà đến Chu Mạnh Trinh, Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương là những người viết văn
Trang 2011
thơ bằng chữ Nôm cuối cùng của thời kỳ này) Cách gọi này đã đi vào sách giáo khoa và cho đến nay, hầu như đã trở thành phổ biến trong các giáo trình chuyên ngành, các công trình nghiên cứu Cho đến khi chưa có một khái niệm khác tối ưu
hơn, tài liệu này cũng sẽ dùng khái niệm Văn học trung đại Việt Nam để gọi tên giai
đoạn văn học từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XIX ở Việt Nam
1.2 LỊCH SỬ THỜI ĐẠI
1.2.1 Chế độ phong kiến Việt Nam
Chế độ phong kiến Việt Nam từ thế kỷ X đến cuối thế kỷ XV ngày càng có
tính chất tập trung mạnh mẽ Giai đoạn này, quyền lợi của giai cấp phong kiến gắn chặt với quyền lợi của dân tộc, nói cách khác, giai cấp phong kiến đang là đại diện tiêu biểu cho dân tộc, có được vai trò lịch sử Cụ thể như các đời Lý, đời Trần giai cấp phong kiến đã đoàn kết được nhân dân để xây dựng và bảo vệ đất nước một cách
vẻ vang, tạo nên nhiều kỳ tích, xác lập vị thế của một quốc gia phong kiến
Cuối thế kỷ XIV, nhân họ Hồ chính sự phiền hà, đất nước có một thời gian suy yếu nên quân cuồng Minh thừa cơ gây họa xâm lược Đất nước chìm đắm trong nạn
ngoại xâm và sự cai trị tàn độc bạo ngược của giặc Minh Nhưng sau khi đánh đuổi được quân Minh, nhà Lê - nhất là đời Lê Thánh Tông - đã đưa nước ta vào một giai đoạn phát triển rất cao về mọi mặt Nhà nước phong kiến đã đạt đến đỉnh cao của sự huy hoàng Tuy nhiên sự thịnh vượng ấy cũng ấp ủ mầm mống của sự khủng hoảng
Từ thế kỷ XVI đến cuối thế kỷ XIX, chế độ phong kiến ngày càng xuống dốc
và suy thoái Chiến tranh phong kiến xảy ra liên miên với những xung đột không hồi kết của: Mạc - Lê, Nam - Bắc triều rồi Trịnh – Nguyễn phân tranh Đất nước bị chia cắt thành Đàng Ngoài, Đàng Trong Các tập đoàn phong kiến cũng chia năm xẻ bảy Những cuộc khởi nghĩa nông dân bùng lên ở khắp nơi, cao trào là từ giữa thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XIX, phong trào Tây Sơn như một cơn bão lớn cuốn phăng và làm sụp đổ cả chính quyền Đàng Ngoài lẫn Đàng Trong Nhưng bước sang thế kỷ XIX, nhà Nguyễn giành lại được chính quyền và tồn tại đến khi xảy ra cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp Tiếp theo là bao biến cố đến khi vị vua cuối cùng của triều đại phong kiến thoái vị chấm dứt hoàn toàn thời kỳ phong kiến Việt Nam kéo dài hàng nghìn năm
Nhìn chung, kinh tế dưới chế độ phong kiến chủ yếu là nền kinh tế nông nghiệp ít nhiều lạc hậu Xã hội phong kiến vẫn tồn tại những cộng đồng nông thôn với những đặc điểm riêng Sau khi nền độc lập được củng cố từ các triều đại như Ngô, Đinh, Tiền Lê; thời đại Lý Trần đã phục hưng dân tộc, khôi phục các truyền thống văn hóa để đưa đất nước phát triển Khi chế độ phong kiến suy tàn, đất nước
Trang 21và phát triển một nền tảng ý thức xã hội vừa là nguyên bản cơ sở tư tưởng Việt, vừa
là các hệ tư tưởng nước ngoài chuyển hóa thành những nét độc đáo riêng của văn hóa Việt Nam
1.2.2.1 Tư tưởng truyền thống Việt Nam
Nói đến cơ sở tư tưởng Việt, Việt Nam có những tín ngưỡng nguyên thủy làm điểm tựa tinh thần cho quần chúng nhân dân Tín ngưỡng vật linh và ý thức thờ cúng
tổ tiên, thờ cúng các vua Hùng cùng các bậc anh hùng có công xây dựng và bảo vệ gìn giữ đất nước cũng tồn tại từ rất xa xưa cùng sự hình thành và lớn lên của đất nước Bên cạnh đó, Việt Nam cũng có những cơ sở tư tưởng sớm xuất hiện từ thời dựng nước, đó là yêu nước và thương người hay còn gọi là tư tưởng yêu nước và tư tưởng nhân văn, nhân đạo Hai tư tưởng ấy có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Yêu nước là dựng nước và giữ nước Để làm được điều đó phải có dân, vai trò của dân có tính quyết định Yêu nước phải thương dân, có dân giữ được nước, không dân thì mất nước Nhưng dân cũng là con người Trong mối quan hệ với nước, họ là dân, công dân; nhưng trong mối quan hệ với xã hội loài người nói chung, họ là con người Vậy nên, thương dân cũng là thương người Đời sống Việt Nam với nội dung cơ bản của
nó đã quy định thực tế tư tưởng ấy từ xưa
Những cơ sở tư tưởng ấy phát triển dần lên, được bồi đắp bổ sung trong lịch sử mười thế kỷ, tồn tại cùng với đời sống tinh thần của nhân dân trong khuôn khổ cộng đồng nông thôn gắn với đặc điểm của một đất nước lấy kinh tế nông nghiệp làm chủ yếu Tất cả được gìn giữ, lưu truyền thành truyền thống dân tộc tạo thành một bản sắc riêng, có sức mạnh và vẻ đẹp riêng để từ đó có thể tiếp thu và biến hóa các yếu tố văn hóa ngoại lai để chuyển hóa và phát triển Bên cạnh đó, một tư tưởng khác có vai trò rất lớn trong văn học nghệ thuật đó là quan niệm thẩm mỹ Việt Nam Nhiều yếu
tố làm cơ sở để ý thức thẩm mỹ Việt hình thành và phát triển như hoàn cảnh thiên nhiên núi rừng sông biển hữu tình, vị trí địa lý độc đáo và đắc địa, vị trí văn hóa của
sự hội tụ, giao lưu và tiếp biến… Lại thêm sinh hoạt đặc trưng của cộng đồng làng
xã, nơi nuôi dưỡng lưu truyền những truyền thống tốt đẹp làm nên vận mệnh dân tộc Tất cả làm nên nét đẹp riêng độc đáo của văn hóa Việt Nam
Trang 2213
1.2.2.2 Tiếp biến các hệ tư tưởng từ nước ngoài
Như trên đã nói, văn hóa Việt Nam tiếp biến các yếu tố văn hóa ngoại lai, chủ yếu là các hệ tư tưởng nước ngoài để làm nên bản sắc văn hóa Việt Nam rất riêng biệt và độc đáo, từ đó ảnh hưởng đến văn học nghệ thuật
Trước hết là sự ảnh hưởng của Nho giáo là hệ tư tưởng chính thống của giai
cấp thống trị phong kiến ở Trung Quốc Nho giáo có từ đời Tây Chu và đại biểu là Chu Công Đến thời Xuân Thu rối ren loạn lạc, Khổng tử hệ thống lại Nho giáo để vãn hồi trật tự xã hội Sang thời Chiến Quốc, Mạnh Tử tích cực đấu tranh với các hệ
tư tưởng khác để bảo vệ Nho giáo – lúc bấy giờ còn được gọi là Khổng giáo hay học thuyết Khổng Mạnh Sang đời Hán, Đổng Trọng Thư thần bí hóa Nho giáo nhằm phục vụ triệt để cho chính quyền chuyên chế của nhà Hán Đến đời Tống, các nhà Nho (Chu Đôn Di và Chu Hy) bồi đắp Nho giáo trở thành một học thuyết bề thế, chặt chẽ hơn Tuy nhiên, cũng bộc lộ nhiều nội dung tiêu cực hơn nhằm đáp ứng yêu cầu thống nhất thêm một bước nữa của chính quyền nhà Tống
Nội dung chủ yếu của Nho giáo xoay quanh mệnh trời, đức trị và chính danh Mệnh trời theo quan niệm trời có ý chí và nhân cách có thể tác động và chi phối mọi thứ Đức trị là dùng đức để trị người và người có đức thì được trị người và trị được người Còn chính danh là những quy định nghiêm ngặt hướng đến sự tôn trọng trật tự
phong kiến, rằng mỗi người phải luôn giữ cương vị xã hội của mình để giữ gìn đạo
đức Theo đó, xã hội được sắp xếp trong ngũ luân và ngũ thường Ngũ luân đề cập
đến năm mối quan hệ trong xã hội phong kiến là vua – tôi, cha – con, vợ chồng, bạn
bè, lớn – nhỏ nhưng chủ yếu là tam cương với ba mối quan hệ đầu Còn ngũ thường xoay quanh năm điều nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, chủ yếu là nhân, nghĩa Chính vì
hướng đến trật tự xã hội phong kiến nên Nho giáo không phải là học thuyết tôn giáo
mà chỉ là một học thuyết chính trị và đạo đức nhằm phục vụ giai cấp thống trị
Vào Việt Nam, được tư tưởng yêu nước và tư tưởng nhân văn, nhân đạo có từ lâu đời tiếp nhận và chuyển hóa, Nho giáo Trung Quốc đã biến đổi để trở nên phù hợp với con người Việt nhằm phục vụ yêu cầu của đời sống Việt Chẳng hạn ở Việt
Nam, ái quốc có trước trung quân Khi nước nhà giành lại độc lập chủ quyền, xây dựng chế độ phong kiến tập trung thì bên cạnh ái quốc có thêm trung quân Như vậy
tư tưởng trung quân của Nho giáo đã có biến đổi cho phù hợp Nói rõ hơn, ngay từ thời Hùng Vương, nước đã gắn chặt với dân Về sau, khi có vua thì vua không lấn át, che lấp hay thay thế cho dân, cho nước được Vua cũng từ dân và có quan hệ mật thiết với dân, là những người có tài có đức, cứu nước giúp dân Vua phải biết yêu nước, thương dân, đặt nước và dân lên trên hết Trung với vua cũng có nghĩa là trung với dân, với nước Có thể nói, chữ trung của Nho giáo vào nước ta đã được tiếp thu
Trang 2314
trên cơ sở yêu nước Việt Nam Vốn dân tộc không mất, chỉ chuyển biến và phong phú hơn Yếu tố ngoại lai, ở đây là Nho giáo, đã được tiếp thu đầy sáng tạo
Kế đến sự thâm nhập và lan truyền sâu rộng của Phật giáo từ Ấn Độ Trước
khi Phật giáo ra đời, xã hội Ấn Độ phân chia giai cấp thành những sự ngăn cách hết sức gay gắt (trước hết là bà la môn, rồi đến võ sĩ, lao động, cuối cùng là hạ tiện) Thái tử Xít-đạt-ta nhận thức được sự tách biệt khốc liệt ấy trong xã hội nên tìm hướng giải thoát cho con người và lập ra Phật giáo Đạo Phật quan niệm vạn vật không do một thượng đế nào làm ra mà do sự vận động của bản thân nó Quy luật vận động ấy là quy luật nhân quả Hội đủ nhân duyên thì quả là một vật sinh ra Các nhân duyên ấy tan ra thì vật ấy mất đi Mọi vật đều có thủy có chung, sinh rồi diệt trong cõi vô thường, còn xét cả vũ trụ thì thường trụ Đạo Phật nhằm giải thoát con người khỏi vòng vô thường mà trở về với thường trụ bất sinh bất diệt Chỉ khi giác ngộ được cái vô thường thì mới đạt cõi hằng thường, niết bàn hay chân như, bất sinh bất diệt Đạo Phật quan niệm cuộc đời là bể khổ, con người trầm luân trong đó, dứt được cái khổ là giải thoát nhưng lại tìm nguyên nhân cái khổ ở bản thân con người,
do duyên nghiệp, luân hồi và ai cũng có thể giải thoát thành Phật bằng cách tu tâm Đạo Phật chủ trương bình đẳng và tự giác, đồng thời chủ trương cứu nạn, vị tha, từ
bi, bác ái
Vào nước ta trực tiếp từ Ấn Độ và gián tiếp qua Trung Quốc, Phật giáo gặp tư tưởng yêu nước và thương người Việt Nam Người Việt chúng ta, trước khi tiếp thu Phật giáo, đã có tư tưởng thương người, nhân đạo, xuất phát từ chính cuộc sống của người Việt Nam, thương người và thương dân không tách rời nhau Đạo Phật cũng bao dung mọi người trong một tình thương bao la, hiền dịu Tình thương ấy còn vươn tới những hành động hy sinh thân mình, dũng cảm cứu vớt người hoạn nạn, mở rộng đến mọi sinh vật trong trời đất Khi tư tưởng từ bi của đạo Phật vào nước ta thì tình thương người vốn có của ta được mở rộng thêm “thương người như thể thương thân”, “lá lành đùm lá rách” Trong ba tông phái của đạo Phật du nhập vào nước ta, bên cạnh Tịnh độ tông và Mật tông thì Thiền tông có mặt từ rất sớm (thế kỷ thứ VI bởi Thiền sư Tiniđalưuchi) và nhiều ảnh hưởng tích cực ý nghĩa nhất Thiền Tông giản dị trong tu hành, lại không khép kín trong chùa mà chủ trương “nhập thế” đi vào đời, gánh vác làm việc cho đời, ra sức cống hiến hết mình cho đời theo tinh thần đại
từ đại bi, theo phương châm chân không diệu hữu nghĩa là coi mình thật sự là không nhưng lại tỏ ra mình có ở đời bằng cách cống hiến kỳ diệu
Sau cùng là sự du nhập của Đạo giáo Người sáng lập ra Đạo giáo là Lão Tử
(tác giả của tác phẩm Đạo đức kinh) Theo đó, vạn vật trong vũ trụ do một nguyên lý
chung là Đạo mà ra Với Lão Tử, Đạo không phải là thế lực thiêng liêng Đạo như quy luật tự nhiên Tiếp theo Lão Tử có Trang Tử Nếu học thuyết Lão Tử có tính
Trang 2415
chất duy vật và biện chứng thô sơ, chủ trương vô vi nghĩa là thuận theo lẽ tự nhiên
mà sống, đơn giản hóa chính trị, nới lỏng pháp luật thì Trang Tử lại thần bí hóa Đạo
và biến vô vi thành quan niệm xuất thế ưu du, phóng nhiệm, coi việc đời là không gì quan trọng, ưa thích thiên nhiên và nhàn tản Lão Trang được gọi là Đạo gia và những tư tưởng vừa nêu là tư tưởng Đạo gia Về sau, có sự phân hóa thành Đạo giáo pháp thuật và Đạo giáo thần tiên
Đạo giáo cũng vào nước ta từ rất sớm, có lúc thành làn sóng Dân gian tiếp thu đạo giáo sáng tạo ra “ông Tiên”, hay thoát khỏi sự lệ thuộc của thần điện Đạo giáo phương Bắc với nhân vật Chử Đồng Tử Tiếp thu Đạo giáo còn là một tinh thần phóng khoáng lý tưởng trong cuộc sống và trong tình cảm, đặc biệt là tình cảm thiên nhiên đằm thắm an nhiên tự tại, phù hợp với tinh thần nhân đạo tốt đẹp của Việt Nam
Ba hệ tư tưởng trên đây đều nhập vào nước ta thời kỳ phong kiến phương Bắc thống trị Phật giáo từ Ấn Độ truyền sang trước rồi sau đó Phật giáo từ Trung Quốc tiếp tục du nhập vào Phật giáo và Đạo giáo đi vào nhân dân ta thuận lợi hơn vì kết hợp được với các tín ngưỡng của dân gian Riêng Nho giáo phần lớn đến với các tầng lớp trên của xã hội Buổi đầu từ thế kỷ X đến thế kỷ XIV, ba hệ tư tưởng đều được
coi trọng theo chủ trương tam giáo đồng nguyên Nhưng về sau, từ thế kỷ XV, Nho
giáo dần thắng thế và chiếm địa vị độc tôn chi phối mọi mặt trong đời sống và nhận thức xã hội
Nhìn chung, sự tiếp biến ba hệ tư tưởng ấy đều có tư tưởng Việt Nam làm nền tảng nhằm phục vụ yêu cầu của đời sống dân tộc ta Nhân nghĩa Nho giáo, ban đầu chỉ có trong tầng lớp thống trị và chỉ là quan hệ người và người Nhưng nhân nghĩa
Việt Nam là tư tưởng thương dân, yêu nước, vì dân trừ bạo Hay từ bi bác ái của Phật làm cho lòng thương dân thương người phong phú tốt đẹp hơn; Thiền Tông lại chủ trương tham gia việc đời, làm việc hết mình Còn vô vi của Lão Trang kết hợp
với yêu nước nhân văn, nhân đạo là coi trọng quy luật tự nhiên làm cho chính trị đơn giản, hợp lý, không phiền nhiễu nhân dân Hòa với Phật giáo, các đạo sĩ theo Đạo giáo pháp thuật thực hiện việc cầu cúng, phù phép, trừ tà chữa bệnh Đạo giáo cũng tôn những vị anh hùng cứu nước vào hàng các vị tiên khách của mình Cũng như ông Bụt, ông Tiên cũng hóa phép cứu người, giúp kẻ hoạn nạn Hay trí thức phong kiến Việt Nam đa phần có tình yêu thiên nhiên đằm thắm Trong những hoàn cảnh riêng chung, họ lánh đời lui về ẩn dật, sống nhàn tản kiểu Đạo gia Các đạo sĩ, thiền sư đều theo tư tưởng yêu nước Việt Nam, tham gia việc nước ở các triều đại phong kiến thịnh trị; trước nạn xâm lăng, đạo sĩ, thiền sư, nho sĩ đều ra sức hộ quốc cứu dân Không chỉ hòa vào tư tưởng Việt, ba học thuyết tư tưởng tôn giáo nêu trên cũng hòa
Trang 2516
vào nhau, phát huy những mặt tích cực để làm phong phú hiện thực cuộc sống, trở thành mảnh đất lý tưởng để văn học trung đại Việt Nam đơm hoa kết trái
Mặc dù chưa có nhiều ảnh hưởng đến văn học nhưng tư tưởng Thiên Chúa giáo
du nhập vào Việt Nam cũng ít nhiều tác động đến sự phát triển của văn học trung đại, đặc biệt là sự dọn đường đặt nền tảng cho sự xuất hiện của văn học chữ Quốc ngữ sau này để đưa văn học Việt Nam đi vào con đường hiện đại hóa
1.3 PHÂN KỲ VĂN HỌC
Với những tiêu chí khác nhau, sự phân chia văn học Việt Nam thành các giai đoạn chỉ mang tính chất tương đối bởi văn học là một quá trình phát triển liên tục Trong tài liệu này, cập nhật cách phân chia của các nhà nghiên cứu công bố trong sách giáo khoa Ngữ văn THPT, chúng tôi chia văn học trung đại Việt Nam thành bốn giai đoạn
1.3.1 Giai đoạn từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XIV
Sau cả ngàn năm Bắc thuộc, dân tộc ta đã giành được quyền độc lập tự chủ Đất nước liên tục đối đầu với những cuộc xâm lấn bá quyền từ các triều đại phương Bắc để rồi sau những cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc là công cuộc xây dựng đất nước trong hòa bình Văn học giai đoạn này phát triển trong một hoàn cảnh lịch sử đặc biệt như vậy Văn học viết chính thức ra đời từ thế kỷ X với những sáng tác bằng chữ Hán và văn học chữ Nôm xuất hiện ở thế kỷ XIII Về nội dung, văn học giai đoạn này chủ yếu mang nội dung yêu nước với âm hưởng hào hùng Về nghệ thuật, văn học chữ Hán có những thành tựu lớn về thể loại tiếp thu từ văn học Trung Quốc; bên cạnh đó, văn học chữ Nôm đã đặt những nền tảng đầu tiên cho bước phát triển của ngôn ngữ dân tộc ở giai đoạn sau
1.3.2 Giai đoạn từ thế kỷ XV đến hết thế kỷ XVII
Từ cuộc khởi nghĩa Lam Sơn gian khổ nếm mật nằm gai đến chiến thắng vẻ vang giặc Minh xâm lược, chế độ phong kiến Việt Nam đã lập nên nhiều kỳ tích và tiếp tục đạt đến đỉnh cao cực thịnh ở nửa cuối thế kỷ XV Tuy nhiên, bước sang thế
kỷ XVI, ngay từ bên trong chế độ phong kiến bắt đầu có những biểu hiện khủng hoảng; cụ thể là những xung đột không hồi kết giữa các tập đoàn phong kiến dẫn đến các cuộc nội chiến triền miên với bao cảnh loạn ly núi xương sông máu và sự chia cắt đất nước đầy đau thương bi thảm Trong tình hình đó, văn học có những bước phát triển mới, đặc biệt là văn học chữ Nôm chính thức khẳng định vị thế của mình bên cạnh văn học chữ Hán Hiện tượng văn sử triết bất phân cùng các chức năng hành chức của văn học giai đoạn trước nhạt dần từ thế kỷ XV và những tác phẩm văn chương hình tượng thuần nghệ thuật xuất hiện ngày càng nhiều Về nội dung, bên cạnh nội dung yêu nước mang âm hưởng ngợi ca quen thuộc của giai đoạn trước, văn
Trang 2617
học đã có thêm nội dung phản ảnh, phê phán hiện thực xã hội phong kiến Về nghệ thuật, văn học chữ Hán tiếp tục phát triển với nhiều thể loại phong phú như văn chính luận, văn xuôi tự sự; và văn học chữ Nôm ghi dấu ấn với xu hướng Việt hóa các thể loại tiếp thu từ Trung Quốc và sáng tạo các thể loại văn học mang nét riêng của dân tộc
1.3.3 Giai đoạn từ thế kỷ XVIII đến nửa đầu thế kỷ XIX
Giai đoạn này, chế độ phong kiến đi từ khủng hoảng đến suy thoái, đất nước tiếp tục chìm sâu trong các cuộc nội chiến xung đột giữa các tập đoàn phong kiến Những phong trào khởi nghĩa nông dân bùng nổ và lây lan khắp mọi nơi mà cuộc khởi nghĩa Tây Sơn như một cơn bão lớn Dưới sự lãnh đạo của Quang Trung Nguyễn Huệ, cuộc nổi dậy lịch sử này đã lật đổ các tập đoàn phong kiến trước đó, đánh tan các cuộc xâm lược của giặc Xiêm và giặc nhà Thanh, Trung Quốc Tuy nhiên, triều đại Tây Sơn nhanh chóng suy yếu, nhà Nguyễn khôi phục lại chế độ phong kiến chuyên chế Đất nước bước sang một bước ngoặt lớn khi đối đầu trước hiểm họa xâm lăng từ thực dân Phương Tây Trong hoàn cảnh bi kịch, văn học giai đoạn này phát triển vượt bậc với nhiều thành tựu rực rỡ, được mệnh danh là giai đoạn văn học cổ điển Việt Nam Về nội dung, trào lưu nhân đạo chủ nghĩa phát triển rực rỡ với tiếng nói đấu tranh đòi quyền sống, quyền hạnh phúc và giải phóng con người cá nhân nói chung và người phụ nữ nói riêng Về nghệ thuật, văn xuôi và văn vần đều phát triển mạnh, nổi bật là văn học chữ Nôm với thơ ca, ngâm khúc, truyện thơ và văn học chữ Hán với văn xuôi tự sự như ký, tiểu thuyết chương hồi
1.3.4 Giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX
Thực dân Pháp nổ súng xâm lược đất nước Không phải lúc nào cũng có sự đồng lòng từ chính triều đình nhà Nguyễn, nhân dân đã kiên cường bất khuất đứng lên trong những cuộc đấu tranh tự phát chống lại dã tâm xâm lược của kẻ thù nhưng rồi cuối cùng cũng thất thủ Đất nước đã rơi vào tay giặc Xã hội Việt Nam chuyển từ phong kiến sang thực dân nửa phong kiến và văn hóa phương Tây bắt đầu có những ảnh hưởng tới đời sống xã hội Việt Nam Về nội dung, văn học yêu nước phát triển rất phong phú với âm hưởng bi tráng, thơ ca trữ tình cũng có những thành tựu xuất sắc Về nghệ thuật, văn học chữ Quốc ngữ xuất hiện nhưng chủ yếu vẫn là văn học chữ Hán và chữ Nôm với thể loại và thi pháp truyền thống Văn học bước đầu có những thay đổi theo hướng hiện đại để chuẩn bị chuyển mình sang một giai đoạn mới đầu thế kỷ XX
Trang 27Vì lẽ đó, con người luôn nhìn thấy mình trong tự nhiên Như Nguyễn Du tả vẻ đẹp của Thúy Vân Thúy Kiều bằng những chất liệu từ thế giới tự nhiên như mai, như tuyết, là hoa ghen thua thắm, là liễu hờn kém xanh…
Vân xem trang trọng khác vời Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang, Hoa cười ngọc thốt đoan trang…
(Truyện Kiều- Nguyễn Du)
Hay nàng Nguyệt Nga của cụ Đồ Chiểu tự ví mình là vóc thân bồ liễu:
Thưa rằng Quân tử phó công Xin thương bồ liễu chữ tùng thơ ngây
(Lục Vân Tiên – Nguyễn Đình Chiểu)
Và từ vẻ đẹp ngoại hình mang hình ảnh thế giới tự nhiên, con người cũng nhìn thấy những phẩm chất nhất định và tốt đẹp ở sự vật là vì bản thân con người cũng có những phẩm chất ấy Như cây tùng cây bách là phẩm chất đạo đức của người quân tử:
Thu đến cây nào chẳng lạ lùng, Một mình lạt thuở ba đông…
(Tùng – Nguyễn Trãi)
Hay sự kết đôi của sự vật hiện tượng cũng chính là sự thủy chung của đôi lứa,
của khát khao được liền cánh, liền cành như tâm sự của nàng chinh phụ trong Chinh phụ ngâm:
Chàng chẳng thấy chim quyên ở nội, Cũng dập dìu chẳng vội phân Trương
Chẳng xem chim én trên nường,
Trang 2819
Bạc đầu không nỡ đôi đường rẽ nhau
Kìa loài sâu hai đầu cùng sánh,
Nọ loài chim chắp cánh cùng bay
Liễu sen là thức cỏ cây, Đôi hoa cùng sánh, đôi dây cùng liền
Ấy loài vật tình duyên còn thế, Sao kiếp người nỡ để đấy đây
(Chinh phụ ngâm – Đoàn Thị Điểm ?)
Con người còn nhìn thấy tình cảm trong cảnh vật, đó là cảnh sinh tình và tình người lại sinh ra cảnh Vậy nên, giữa ngoại cảnh và tâm cảnh có sự tương thông lẫn nhau rất hài hòa, gắn kết Như chim kêu hoa nở, sáng xuân là cảnh vui- người vui; lá rụng chim đi, gió may hiu hắt thì cảnh buồn – người buồn
Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu, Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ ?
(Truyện Kiều – Nguyễn Du) Cảnh buồn người thiết tha lòng
Cành cây sương đượm tiếng trùng mưa phun (Chinh phụ ngâm– Đoàn Thị Điểm ?)
Tình buồn cảnh lại vô duyên, Tình trong cảnh ấy, cảnh bên tình này
(Cung oán ngâm – Nguyễn Gia Thiều)
Không chỉ thế, con người còn cảm thấy trong mình có cả vũ trụ, con người là một tiểu vũ trụ trong đại vũ trụ Vậy nên chẳng lạ gì khi văn học trung đại hay khắc họa hình ảnh con người mang tầm vóc của vũ trụ
Hoành sóc giang san cáp kỷ thu Tam quân tì hổ khí thôn Ngưu (Múa giáo non sông trải mấy thâu,
Ba quân khí mạnh nuốt trôi trâu)
(Thuật hoài – Phạm Ngũ Lão)
Trang 29(Truyện Kiều - Nguyễn Du)
Từ đó, con người trung đại thường có cái nhìn sự vật trong thế giới tự nhiên bằng cách xuyên qua bề ngoài sự vật để tìm ra một ngụ ý hoặc một điều giáo huấn đạo đức nào đó Điều này đưa đến cách nhìn, cách nói, cách nghĩ, cách cảm mang tính ước lệ, trừu tượng,
Chẳng hạn, người xưa nhìn Trời bằng nhiều cách khác nhau Nếu là sự tin
tưởng thì sẽ là Trời cao có mắt, trời ngó lại, Trời Phật phù hộ, nói có trời… Còn nếu thề thốt thì là Đất trời chứng giám, trời tru đất diệt, trời hại, mặt mũi nào đứng giữa trời đất…; lúc giận dữ, căm ghét thì gọi là Xanh kia, trời già, con tạo…; lúc
biết ơn thì là ơn mưa móc, ơn trời…như một số ví dụ sau đây:
Xanh kia thăm thẳm từng trên,
Vì ai gây dựng cho nên nỗi này
(Chinh phụ ngâm – Đoàn Thị Điểm?)
Nàng rằng : “Lồng lộng trời cao”
Hại nhân nhân hại sự nào tại ta
(Truyện Kiều – Nguyễn Du)
Một lời đã trót thâm giao, Dưới dày có đất trên cao có trời ! Gẫm hay muôn sự tại trời, Trời kia đã bắt làm người có thân…
(Truyện Kiều – Nguyễn Du)
Hoặc không ít người nhìn hoa mai để ngụ ý về cuộc đời và giáo huấn về nhân
cách, về lẽ sống chết Như Mãn Giác thiền sư đệ tử nói với đệ tử trong bài Cáo tật thị chúng
Đừng tưởng xuân tàn hoa rụng hết
Đêm qua sân trước một nhành mai
Trang 3021
1.4.1.2 Cảm thức về thời gian
Thời gian đối với cảm nhận của người trung đại chẳng có bao nhiêu giá trị Con người trung đại coi thời gian vô thủy vô chung, họ cảm nghĩ cuộc đời chẳng khác nào một giấc mộng, đời người qua nhanh như bóng câu qua cửa sổ, trăm năm không bằng một cái chớp mắt
Tuổi đà ngoại tám mươi già Thấm thoắt xem bằng bóng ngựa qua
(Nguyễn Bỉnh Khiêm)
Trăm năm còn có gì đâu Chẳng qua một nấm cỏ khâu xanh rì (Cung oán ngâm - Nguyễn Gia Thiều)
Trăm năm thấm thoắt có là bao, Cảm thương việc cũ, nước mắt thấm áo
(Long Thành cầm giả ca – Nguyễn Du)
Thời gian đối với cảm nhận của người trung đại vừa có tính chất tuyến tính, vừa có cả tính chu kỳ
Nếu thời gian tuyến tính chảy trôi không ngừng, một đi rồi là không bao giờ trở lại
Sen tàn, cúc lại nở hoa, Sầu dài, ngày ngắn, đông đà sang xuân
(Truyện Kiều – Nguyễn Du) Hoàng hôn thôi lại hôn hoàng
Nguyệt hoa thôi lại thêm buồn nguyệt hoa
(Cung oán ngâm - Nguyễn Gia Thiều)
thì thời gian chu kỳ là một vòng quay tái hồi, chúng qua đi rồi quay trở lại chứ không
Trang 3122
(Cáo tật thị chúng- Mãn Giác Thiền sư)
Trong hai cái nhìn nêu trên, ý thức về thời gian chu kỳ của người trung đại nhiều hơn và sâu hơn nên đôi khi nó có sức mạnh lấn át xóa mờ cả thời gian tuyến tính Với họ, cái xoay vòng quay lại quan trọng hơn cái chảy trôi biền biệt, cái xoay vòng là tuần tự vĩnh viễn nên thời gian trở thành vĩnh cửu, ổn định không đổi thay
Vì thế, họ cũng thiên về sự ổn định, bảo thủ, đời sống sinh hoạt thường chậm rãi, tinh thần thường an nhiên, tự tại, ung dung
Tuy nhiên, do tính ước lệ tượng trưng trong cái nhìn đối với cuộc sống, con người trung đại cũng nhìn thấy trong thời gian bao giờ cũng chứa chất một nội dung
cụ thể Đó là thời gian nhàn hạ, mùa nào thức ấy trong cuộc sống ẩn dật:
Thu ăn măng trúc, đông ăn giá, Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao
(Thơ Nôm 73 - Nguyễn Bỉnh Khiêm)
Là thời gian thao thức, trăn trở đầy ắp những nỗi niềm ưu dân ái quốc:
Còn có một lòng âu việc nước, Đêm đêm thức nhẵn nẻo sơ chung (thức suốt đêm hướng về phía hồi chuông buổi sớm)
Là thời gian băn khoăn, suy tư, day dứt về lẽ sống chết
Chẳng biết ba trăm năm lẻ nữa, Người đời ai khóc Tố Như chăng
(Độc Tiểu Thanh ký - Nguyễn Du) Trăm năm còn có gì đâu
Chẳng qua một đám cỏ khâu xanh rì
(Cung oán ngâm - Nguyễn Gia Thiều)
Hay là thời gian chất chứa đầy những tâm trạng, những mong chờ, trông ngóng
Thuở đăng đồ mai chưa dạn gió Hỏi ngày về ước độ đào bông Nay đào đã quyến gió đông Phù dung lại rũ bên sông bơ sờ
Trang 3223
Thuở lâm hành oanh chưa bén liễu Hỏi ngày về ước nẻo quyên ca Nay quyên đã giục oanh già
Ý nhi lại gáy sau nhà líu lo
Thuở đăng đồ mai chưa dạn gió Hỏi ngày về chỉ độ đào bông Nay đào đã quyến gió đông Tuyết mai trắng bãi phù dung đỏ bờ
(Chinh phụ ngâm – Đoàn Thị Điểm?)
1.4.1.3 Cảm thức về không gian - xã hội
Nói đến không gian không gian thời trung đại là nói đến triết lý tam tài, với mối quan hệ Thiên Địa Nhân, nói đến sự chi phối của trời đất, thiên nhiên đối với con người Khái niệm Thiên Địa Nhân có thể dùng để lý giải mọi mặt của cuộc sống,
vũ trụ Thiên là khoảng không bao la của vũ trụ ngoài trái đất với ba yếu tố hợp thành (Nhật, nguyệt và tinh – tức là mặt trời, mặt trăng và các vì sao), đó là đại vũ trụ
có mối tương thông với tiểu vũ trụ là con người Bởi vạn vật và con người chuyển dịch trong không gian, được Nhật, Nguyệt và Tinh chiếu vào, tác động ảnh hưởng đến suốt cả cuộc đời của mỗi con người, có thể quyết định được vận mệnh của con người Tương tự, Địa chính là môi trường tự nhiên trên bề mặt trái đất tác động đến con người Từ yếu tố Địa, người xưa hình thành nên môn địa lý phong thủy để xem xét sự vận động hài hòa của thủy, hỏa và phong (Nước, lửa và gió) Nếu mất cân bằng trong vận động của ba yếu tố này ở một địa điểm mà một người đang sinh sống thì người đó sẽ gặp trở ngại và tai họa
Và Nhân phản ảnh chủ thể của con người với các mối quan hệ xã hội, thể hiện
ở lối sống của mỗi người Do sự ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo, người trung đại thường tỏ ra sùng cổ, nệ cổ nên cảm nhận về một không gian tự nhiên là sự ổn định bất biến, xã hội cũng ổn định, bất biến Mọi sự đã có từ trước, do trời đất xếp đặt và
cả thảy đều tốt đẹp, không cần phải thay đổi; sáng kiến cách tân là không nên, có khi nguy hiểm đưa đến quan niệm xã hội sùng cổ, bảo thủ Vì thế, trong văn chương, người có tài chính là người thuộc nhiều sách cổ từ lối học từ chương, suy nghĩ, diễn đạt bằng chữ nghĩa người xưa kiểu tầm chương trích cú, họ hay dùng điển tích, điển
cố để gửi gắm tâm ý của mình
Đối với người trung đại, họ luôn ý thức xã hội mình đang sống là xã hội có đẳng cấp, có trên có dưới, có quý tộc và bình dân, có cao sang và đê hèn, có quân tử
Trang 3324
và tiểu nhân… Tính chất đẳng cấp ấy in đậm trong tư duy, ngay trong phạm vi gia tộc, trong cộng đồng làng xã làm nên ý thức sáng tác luôn chủ động đạt đến sự cao quý, sự thanh nhã
Xã hội trung đại chính là xã hội của chữ “Lễ” (tiên học lễ, hậu học văn) Từ gia đình đến trường học, từ những sinh hoạt xã hội đời thường đến chốn quan trường, cung vua, phủ chúa… đâu đâu cũng phải có kỷ cương phép tắc Điều đó hướng tới sự
ổn định chính trị, là giáo dục sự phục tòng trật tự xã hội phong kiến, dưới danh nghĩa
lễ nhạc tạo ra sự hài hòa cho cuộc sống được êm đẹp Ở góc độ chính trị, chữ Lễ khép con người vào khuôn khổ, dạy cho con người sự an phận, phục tòng Ở góc độ văn hóa, nhất là văn hóa làng xã, gia tộc, chữ Lễ tạo ra những quy định khuôn phép chặt chẽ mang tính đặc thù bên trong lũy tre làng
Phương châm “khắc kỷ phục lễ” nêu trên cũng ảnh hưởng từ Nho giáo Khổng Mạnh Con người sinh ra phải khuôn mình khép chặt vào mọi quy định, phép tắc mà điều khiển chi phối mọi hành vi, mọi hoạt động của mình.Từ đó, góp phần xây dựng nên sự ổn định của cộng đồng, của tập thể, của xã hội Phẩm giá con người được đo trước hết là ở tiêu chí này để ứng xử cho phù hợp với các mối quan hệ xã hội
Ngoài ra, do những quy ước từ cuộc sống xã hội thời trung đại, cảm nhận của con người thời đó trước tự nhiên đã làm nảy sinh phương thức sử dụng tính ước lệ, tượng trưng, sử dụng các ký hiệu trong cách nói, cách bộc lộ suy nghĩ, tình cảm, từ
đó tạo nên các yếu tố quy phạm và bất quy phạm trong văn chương
Mọi cách cảm nhận của con người trung đại trước thế giới, thiên nhiên xã hội được phản ánh vào trong văn học suốt thời kỳ trung đại Qua các giai đoạn phát triển của nền văn học ấy với những thăng trầm biến đổi và sự tác động trực tiếp của thời đại xã hội, những cảm nhận nêu trên cũng có những diễn biến đậm nhạt nhất định
nhưng cho dù thế nào thì chúng vẫn phụ thuộc vào những quan niệm thẩm mỹ Việt
Nam
1.4.2 Cơ sở hình thành quan niệm thẩm mỹ Việt Nam
1.4.2.1 Thiên nhiên Việt Nam tươi đẹp hữu tình
Thiên nhiên Việt Nam được tạo tác với núi sông, tạo thành giang san gắn liền
với khái niệm đất nước Đất nước, non sông, non nước cũng chính là quê hương, là
Tổ quốc Tổ quốc Việt Nam từ xưa thành hình chữ S dần theo thời gian dựng nước
và giữ nước với thiên nhiên tươi đẹp Thiên nhiên Việt Nam với màu xanh sức sống
bất tận, vĩnh viễn đã in vào tiềm thức của người Việt những hình ảnh “Sơn thủy hữu tình”, “Cao sơn lưu thủy”, “bích thủy thanh sơn”, “non xanh nước biếc” và những
hình ảnh ấy trở thành quen thuộc trong văn học trung đại
Tháp ảnh trâm thanh ngọc
Trang 3425
Ba quang kính thúy hoàn (Dịch nghĩa: Hình ảnh ngọn tháp như cái trâm bằng ngọc biếc Ánh sáng sóng nước như cái gương soi mái tóc xanh)
( Dục Thúy sơn – Nguyễn Trãi) Nhất bàn lam bích trừng minh kính
Vạn hộc nha thanh đóa thúy hoàn
(Dịch nghĩa: Một làn nước xanh biếc im lặng như tấm gương sáng Muôn hộc đá đen lánh rủ xuống như những mái tóc xanh)
( Vân Đồn – Nguyễn Trãi) Đoái trông theo đã cách ngăn
Tuôn màn mây biếc, trải ngần núi xanh
(Chinh phụ ngâm – Đoàn Thị Điểm?)
1.4.2.2 Vị trí địa lý, vị trí văn hóa độc đáo
Là bán đảo Đông Nam Á, Việt Nam có một vị trí đắc địa vừa thuận tiện cho
việc giao lưu với bốn phương vừa gợi lòng tham muốn cùng ý đồ xâm lược của bọn
ngoại bang cướp nước Vị trí của nước ta đón nhận thuận lợi các nền văn hóa du
nhập, đặc biệt là hai nền văn hóa lâu đời như Ấn Độ với Phật giáo, Ấn Độ giáo và
Trung Hoa với Nho giáo, Đạo giáo (Phật giáo cũng du nhập vào Việt Nam từ Trung
Hoa) Từ đó, văn hóa Việt Nam tiếp biến để tạo thành bản sắc riêng độc đáo
Song, vị thế đắc địa ấy cũng là mầm mống của bao tai họa can qua, những
cuộc chiến tranh xâm lược triền miên song hành trong lịch sử dựng nước của dân tộc
ta đã ít nhiều phá vỡ nhịp sống hài hòa, bình yên, đôn hậu của nền văn minh lúa
nước Tuy nhiên, sức sống mãnh liệt của người Việt vẫn trỗi dậy mạnh mẽ sau bao
binh biến, chiến tranh có khắc nghiệt tàn bạo đến đâu vẫn không ngăn con người
Việt Nam giữ được cho mình nhịp sống hiền hòa, thuận theo tự nhiên, hòa mình và
tựa mình vào thiên nhiên
Thiên nhiên là đề tài quen thuộc trong thơ cổ điển, tình yêu thiên nhiên cũng là
một tình cảm không thể thiếu trong tâm hồn con người thời trung đại Với người
Việt, đặc biệt là những thi nhân Việt, thiên nhiên trở thành một phần đáng kể trong
cuộc đời, trong sự nghiệp của họ, và ngược lại trái tim của họ, tâm hồn của họ cũng
thuộc về, cũng gắn mình với thiên nhiên
Hái cúc ương lan hương bén áo, Tìm mai đạp nguyệt tuyết xâm khăn
Trang 35Mây khách khứa, nguyệt anh tam
( Thuật hứng 19 – Nguyễn Trãi)
1.4.2.3 Quan hệ giữa con người Việt Nam với cộng đồng làng xã, với đất nước và nhân dân
Trải qua quá trình dựng nước và giữ nước, con người Việt Nam luôn gắn chặt với cộng đồng, từ làng xã đến quê hương tổ quốc Những biến cố lịch sử đặc biệt ở nước ta đã gắn chặt nước với dân Yêu nước thương dân trở thành một tình cảm chung của con người Việt Nam bởi nước và dân gắn chặt nhau Cứu nước cũng là
cứu dân, có dân bốn cõi một nhà mới có thể dựng cần trúc ngọn cờ phấp phới (Bình
Ngô đại cáo – Nguyễn Trãi) Có dân thì sự nghiệp dựng nước, giữ nước mới đi đến thắng lợi, không có dân ủng hộ thì thế nước suy yếu nguy nan Đưa thuyền vượt sóng cũng là dân mà lật thuyền cũng là dân Dân không chỉ là công dân trong quan hệ dân nước, dân còn là con người trong quan hệ dân - cộng đồng người, thương dân cũng là thương người, là dòng chảy của tư tưởng nhân đạo nhân văn Nhà tồn tại trong nước, nước mất nhà tan, nước sớm đặt trên nhà, con người tồn tại trong nước, không tách khỏi nước, khỏi cộng đồng dân tộc
Mối quan hệ này thể hiện đầy ắp trong văn học Việt Nam từ văn học dân gian đến văn học viết thời trung đại Ngay từ những tác phẩm đầu tiên của văn học viết, ta
đã thể hiện mối quan hệ này như Quốc tộ (Pháp Thuận), Nam quốc sơn hà (tương truyền của Lý Thường Kiệt), Hịch tướng sĩ (Trần Quốc Tuấn), Tụng giá hoàn kinh
sư (Trần Quang Khải), Thuật hoài (Phạm Ngũ Lão), Cảm hoài (Đặng Dung)…đến Bình Ngô đại cáo (Nguyễn Trãi), Thơ chữ Hán – chữ Nôm của Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm…hay Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, thơ văn yêu nước của Nguyễn Đình
Chiểu, của Trần Tế Xương, Nguyễn Khuyến…
1.5 ĐẶC ĐIỂM VĂN HỌC TRUNG ĐẠI
1.5.1 Tính chất cao nhã của văn học trung đại
Tính chất cao nhã là cách nói để chỉ sự cao quý và thanh nhã của văn chương
thời trung đại Sự cao quý thanh nhã đó thể hiện ở quan niệm về văn chương – nguồn gốc và chức năng xã hội của văn chương Quan niệm sáng tác, lực lượng sáng tác, phạm vi phổ biến của văn chương cũng toát lên sự cao quý thanh nhã trong điều kiện lịch sử cụ thể thời trung đại
Trang 3627
Chẳng hạn người xưa luôn quan niệm văn chương là vẻ đẹp (văn), là vẻ sáng
(chương) Phan Kế Bính (Việt Hán văn khảo) định nghĩa văn chương là “lời của người ta, rực rỡ, bóng bẩy, tựa như có vẻ đẹp, vẻ sáng…Người ta, ai là không có tính tình, có tư tưởng Đem cái tình tư tưởng ấy diễn ra thành câu nói, tả ra thành bài văn, gọi là văn chương" (tr 142 – Dẫn theo Lê Trí Viễn – Đặc trưng văn học trung đại Việt Nam – NXB KHXH.H.1996) Trong Văn tâm điêu long, Lưu Hiệp – nhà lý luận đời Nam Bắc triều Trung Quốc thế kỷ V-VI, cho rằng: “Con người là tinh hoa của ngũ hành, là trung tâm của vũ trụ Con người có hoạt động tinh thần thì lời nói xuất hiện, lời nói xuất hiện thì văn sáng lên Đó là cái đạo tự nhiên vậy” Người xưa
quan niệm văn chương là vẻ đẹp, là vật quý, là cái đạo của cả trời đất, chứ không chỉ
của con người Bởi “Con rồng con phượng lấy vảy, lấy lông như vẽ thêm mình nó báo trước điều lành Con hổ con báo nhờ bộ da vằn vèo mà có vẻ uy nghi Màu sắc tươi đẹp của mòng, của gián còn vượt qua cái tài khéo của người họa sĩ Hoa là của
cỏ cây không chờ đến cái tài của người dệt gấm mới đẹp Những vật vô tri vô giác kia mà còn đẹp rực rỡ đến thế, huống chi con người là cái vật có tâm,lẽ nào lại chẳng có văn của nó hay sao?(Tinh hoa lý luận văn học cổ điển Trung Quốc Phương Lựu NXB GD H 1989 Tr 52,53)
Bên cạnh đó, xuất phát từ quan niệm sáng tác, lập ngôn là một trong ba chí hướng (lập công, lập đức và lập ngôn) để làm nên sự nghiệp ở đời Sáng tác văn chương không chỉ để tiêu khiển mà còn là phương tiện để các bậc thánh hiền giáo hóa người đời nên thường gắn với những gì thần thánh, thiêng liêng Vì mục đích này, người sáng tác nghiêm túc không thể tùy tiện mà thường dùng văn chương để nói về cái hùng tâm tráng chí của mình Ngôn chí được đặt lên hàng đầu như một yêu cầu tu dưỡng khẳng định lý tưởng, lẽ sống Văn chương là cái chí, cái tình, cái tâm
hướng theo một cái Đạo nhất định Thi dĩ ngôn chí, Văn dĩ tải đạo chính là quan
niệm đó
Tính chất cao nhã trước hết biểu hiện ở lực lượng sáng tác Hầu hết những người sáng tác văn chương trung đại đều là những bậc trí thức Hán học có trình độ học thức (nên trước đây, văn học trung đại còn được gọi là văn chương bác học) Từ vua đến các vị vương tôn, từ thiền sư, đạo sĩ đến các vị đỗ đạt làm quan, một số vì lý
do này khác không đỗ cao, không làm quan… nhưng có tài Tất cả họ, dù thế nào, khi cầm bút sáng tác đều được rèn luyện trong một khuôn khổ diễn đạt chung theo hướng thanh nhã, quý tộc, cao sang
Vì thế, từ đề tài, hình tượng nhân vật, hình ảnh núi sông cảnh vật đến loại hình thơ văn, kết cấu, ngôn ngữ, biện pháp tu từ ẩn dụ, tượng trưng đến điển tích, điển cố….tất cả đều hướng đến mục đích tạo nên cái bề thế cao quý trong sự hiểu biết sâu rộng của văn chương (thơ yêu nước và thơ thiền Lý Trần, thơ văn chữ Hán của
Trang 3728
Nguyễn Trãi, Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ, Hoàng Lê nhất thống chí của Ngô Gia văn phái, thơ văn Cao Bá Quát…)
Thơ văn xuất hiện từ quan niệm cao quý của văn chương nhà nho Văn chương
là phải bác học, cao quý, là biểu hiện của cái đẹp, là tinh hoa của con người Làm
thơ, viết văn phải vươn tới thiên kinh địa nghĩa, thế đạo nhân tâm, hiền nhân quân
tử, đế vương khanh tướng công hầu, không được nói đến cái nhỏ mọn tầm thường
không trang nhã Quan niệm văn chương hướng tới cái đẹp có tính chất cao quý, linh thiêng siêu phàm là rất phổ biến Điều đặc biệt là không chỉ văn học chữ Hán mới đạt mức cao quý thanh nhã mà không ít kiệt tác văn học chữ Nôm cũng làm được điều
đó, đồng thời có thể tìm được sự cảm nhận sâu rộng trong đời sống tinh thần của đông đảo quần chúng nhân dân Tính chất thanh nhã, hướng tới cái đẹp thể hiện
trong thơ Nôm Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương…, trong Truyện Kiều của Nguyễn Du, bản Nôm Chinh phụ ngâm tương truyền của Đoàn Thị Điểm, hay Cung oán ngâm của Nguyễn Gia Thiều, …
Chẳng hạn Nguyễn Du, ngay khi mô tả cuộc sống lầu xanh nhơ nhớp của nàng Kiều, ông vẫn trau chuốt từng lời, từng chữ:
1.5.2 Tính chất vô ngã và hữu ngã trong văn học trung đại
Khái niệm vô ngã và hữu ngã có nguồn gốc từ các thuật ngữ Phật giáo, ở đây dùng để chỉ một đặc điểm xuất hiện trong văn học trung đại Việt Nam Đây cũng là đặc điểm nổi bật và biểu hiện đậm nhạt theo từng giai đoạn văn học của mười thế kỷ
Từ giai đoạn đầu, thế kỷ X – XV, tính vô ngã nổi bật, đến sau đó, thế kỷ XVI – nửa đầu XIX, tính hữu ngã chiếm ưu thế và ở giai đoạn cuối thế kỷ XIX, tính chất vô ngã
và hữu ngã xen lẫn vào nhau để văn học chuyển mình hiện đại hóa
Vô ngã là không bản ngã, không chấp nhận cái bản ngã Thời trung đại, con người chưa tách hẳn khỏi thiên nhiên và còn gắn mình trong cộng đồng xã hội Con người luôn ý thức mình hòa làm một với thiên nhiên, thiên nhiên là chủ thể, con người chỉ là khách thể Việc con người ý thức mình là con người của quần thể mạnh hơn là con người cá nhân Từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XV, cùng với lịch sử, văn học trải qua rất nhiều những thăng trầm Ngay cả những đạo sĩ, thiền sư cũng đều làm việc đời, giúp ích cho nước cho dân Ý thức cộng đồng, quốc gia, dân tộc được đề cao mạnh mẽ Các nho sĩ từ vua chúa, vương hầu đến quan lại hay những người học
Trang 38“đạo” dân tộc Đó là yêu nước, nhân đạo, nhân văn, phục vụ cho sự nghiệp độc lập vững bền nước nhà Con người vô ngã lúc bấy giờ là con người – công dân, con người của quần thể lớn là quốc gia, dân tộc Đó cũng là con người thẩm mỹ, nghệ
thuật của văn chương thời kỳ này Đó là tiếng dân tộc hào hùng trong Nam quốc sơn
hà (Lý Thường Kiệt?), là lời hiệu triệu trong Dụ chư tì tướng hịch văn (Trần Quốc Tuấn), là tiếng non sông kết tụ trong Bình Ngô đại cáo (Nguyễn Trãi)…
Đến khi có sự tác động xã hội, ý thức cá nhân phát triển, con người nhận ra mình là con người – cá nhân, cá thể là chính Cá nhân là một con người cụ thể; còn ý thức cá nhân là con người tự ý thức mình là mình, một thực thể tồn tại bằng mình, cho mình, đó là con người - cá nhân, con người cá thể, con người đứng trong tự nhiên và xã hội nhưng vừa tách khỏi tự nhiên và xã hội Ý thức đó làm nên tính chất hữu ngã Bước sang thế kỷ XVI, đất nước trở nên rối ren với chiến tranh giữa các tập đoàn phong kiến, đặc biệt từ giữa thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XIX, chế độ phong kiến suy thoái và có lúc trở nên phản động chà đạp quyền sống của con người Giai đoạn đó làm dấy lên trào lưu nhân đạo chủ nghĩa với trung tâm là sự xuất hiện của con người – cá nhân cùng ý thức của con người ấy về đời sống mọi mặt từ vật chất đến tinh thần, chống mọi áp bức, ràng buộc của những tín điều bất công, vô nhân đạo Thơ văn trung đại từ âm hưởng vô ngã của ý thức công dân chuyển sang âm
hưởng hữu ngã của ý thức cá nhân và đạt được những thành tựu mới đáng kể Truyền
kỳ mạn lục (Nguyễn Dữ) thương cảm và bênh vực rạch ròi người dân thấp cổ bé
họng, đồng cảm với khao khát yêu đương hạnh phúc của tình yêu trai gái thắm thiết
và táo bạo Chinh phụ ngâm (bản dịch Đoàn Thị Điểm?) là niềm nhớ tiếc, ước mong,
oán trách, lo sợ của chinh phụ hướng đến thời thanh xuân với tình yêu hạnh phúc Con người cá nhân thiết tha được sống bình yên, gia đình sum vầy hạnh phúc, vứt bỏ
mọi công danh, tước vị Truyện Kiều (Nguyễn Du) là tấm lòng xót xa đến đau đớn
lòng trước những điều trông thấy mà không tìm được lối thoát cho con người – cá nhân ý thức sâu sắc về mình Rồi tiếng nói cá nhân của nữ sĩ họ Hồ, của chàng si tình Phạm Thái…
Triều Nguyễn khôi phục lại chế độ phong kiến và nước nhà bị xâm lược rồi mất hẳn vào tay thực dân Pháp, con người công dân vô ngã lại đường hoàng bước vào văn học như một truyền thống tốt đẹp Có điều hoàn cảnh, tình thế đã khác Cuộc chiến khốc liệt, nghiệt ngã hơn và sau đó thất bại hoàn toàn, con người hữu ngã với ý
Trang 3930
thức cá nhân lên tiếng Từ Nguyễn Đình Chiểu với những tác phẩm thể hiện rõ tình cảm công dân nhưng vẫn vang vọng tiếng nói của mỗi trái tim sắc thái khác nhau đến những buồn đau bất lực của cụ nghè Yên Đỗ hay ông tú Vị Xuyên Cái vô ngã công dân và cái hữu ngã ở xúc cảm riêng tư vẫn hòa quyện vào nhau
1.5.3 Tính chất quy phạm và bất quy phạm trong văn học trung đại
“Quy phạm là những quy định được một cộng đồng chấp nhận để đảm bảo cho cộng đồng ấy hoạt động có tổ chức và kết quả” (Đoàn Thị Thu Vân – chủ biên - Văn học trung đại Việt Nam NXB GD H 2008) Xã hội phong kiến Việt Nam là xã hội
của chữ “lễ”, quy phạm là một trong những biểu hiện của chữ “lễ” ấy Trong văn chương trung đại nước ta, do nhiều nguyên nhân, trong đó có tính chất cao nhã của văn chương, quy phạm có mặt ở nhiều yếu tố từ nhỏ đến lớn, đâu cũng có quy định, khuôn phép Tuy nhiên, trong quá trình phát triển, do những tác động khác nhau, tính chất quy phạm ấy không phải lúc nào cũng được giữ vững mà đôi khi bị phá vỡ một cách táo bạo, mới mẻ Khi đó, văn học hình thành tính chất bất quy phạm
Tùy theo hoàn cảnh xã hội và văn học mà tính chất quy phạm và bất quy phạm bộc lộ đậm nhạt khác nhau, có khi song hành cũng nhau, hoặc ngay cả trong cùng một tác giả, một tác phẩm cũng đồng thời tồn tại cả hai tính chất này
Tính chất quy phạm Tính chất bất quy phạm
Đề
tài
Văn chương chữ Hán với tính chất
cao quý, hướng đến quốc gia đại sự,
thế thái thân tình, nêu thành tích lớn
lao của vua chúa, công thần, xoay
quanh quan hệ ngũ thường và đạo lý
làm người theo lý tưởng cao cả… vì
thế thường xoay quanh những đề tài:
Cảm, thuật, hoài, tặng, đề, tán, tiễn,
tống, biệt, hứng, vịnh, ngâm, tức,
điếu, vãn…“Thơ kiểu Thịnh Đường,
văn khuôn tiền Hán” (Phan Bội
Châu)
Văn chương Nôm thường hướng đến
những đề tài đời thường (cái hủ, cái
vò, cái đầu rau, cối xay, cái rế, cái điếu, cái nón, quả dừa, củ khoai – Hồng Đức Quốc âm thi tập; cây chuối, rau muống, mùng tơi – Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi) Một số tác
phẩm đi vào những quan hệ đời thường như khóc người yêu, thương
vợ, nhớ bạn, ngóng chồng (Thơ Phạm Thái, Hồ Xuân Hương, Trần Tế Xương…)
Thể
loại
Thơ chữ Hán được coi trọng trên
hết, được đưa vào thi cử Thể thơ
cách luật của Trung Quốc (thất ngôn
bát cú, thất ngôn tứ tuyệt, ngũ ngôn
tứ tuyệt) có tính quy phạm từ số
Thơ chữ Nôm thường bất chấp quy
định nghiêm nhặt chặt chẽ của niêm luật Thơ thất ngôn xen lục ngôn, thay đổi cấu trúc đề thực luận kết, thể hát
nói (thơ Nguyễn Trãi, Hồ Xuân
Trang 4031
dòng, số chữ mỗi câu đến đối ngẫu,
niêm luật và hàng loạt những cấm kỵ
khác đã được đem dùng vào nước ta
Phú thuộc văn biền ngẫu nhưng
cũng là phú luật Đường thường giữ
nếp trang trọng cao quý, thanh nhã,
nghiêm túc (Phú sông Bạch Đằng,
Phú sen trong giếng ngọc…)
Văn xuôi thời kỳ đầu với tình trạng
bất phân, quy phạm chặt chẽ (văn
chính trị, văn sử, văn triết, văn bia,
tác dựa theo truyện tích dân gian
hoặc truyện tích Trung Quốc
Tuồng thiên về ca ngợi những nhân
cách anh hùng trung hiếu tiết nghĩa,
đại nghĩa thắng gian tà
Hương, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương)
Phú ở giai đoạn sau mở rộng ra hướng
đến đời sống trần tục, có khi phàm tục, hài hước và lỏng lẻo dần trong phép
tắc (tổ tôm, cờ bạc, thầy đồ ngông…)
Văn xuôi thời kỳ sau tiến lên một
bước mới, có chất văn học nhiều hơn, nghệ thuật cao hơn và bao quát nhiều
mặt của xã hội đương thời (Truyền kỳ mạn lục, Hoàng Lê nhất thống chí…)
Truyện thơ giai đoạn sau dùng thơ
lục bát với đề tài đa dạng, tác dụng xã hội cao, sử dụng lời ăn tiếng nói của nhân dân
Tuồng hài đi về phía nhân dân đời
thường với mọi ngõ ngách của đời sống Đặc biệt là chèo dân gian
trưng, khơi gợi trực cảm không lý
giải, miêu tả dài dòng; sử dụng
hình tượng ngôn ngữ xưa, những
điển tích, điển cố trong văn thơ
người đi trước, những công thức, ước
lệ3, những cách diễn đạt “tầm
chương trích cú”
Chữ Nôm thời kỳ sau đã sánh ngang
và còn vượt qua văn chương chữ Hán,
đặc biệt là thơ Ngôn ngữ thơ của một