1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Lịch sử giáo dục và khoa cử việt nam tài liệu giảng dạy

192 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Lịch Sử Tư Tưởng Phương Đông
Tác giả ThS. Nguyễn Bảo Kim
Người hướng dẫn ThS. Nguyễn Bảo Kim
Trường học Trường Đại Học An Giang
Chuyên ngành Sư Phạm
Thể loại Tài liệu giảng dạy
Năm xuất bản 2016
Thành phố An Giang
Định dạng
Số trang 192
Dung lượng 2,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đến Tần Tam Thế Tần Tử Anh mới lên ngôi đã bị sụp đổ do các cuộc khởi nghĩa hùng mạnh của nhân dân đứng đầu là Ngô Quảng, Trần Thắng và sau đó là Lưu Bang – Hạng Vũ lãnh đạo đã đưa đến s

Trang 2

Tài liệu giảng dạy “Lịch sử tư tưởng phương Đông”, do tác giả Nguyễn Bảo Kim, công tác tại khoa Sư phạm thực hiện Tác giả đã báo cáo nội dung và được Hội đồng Khoa học và Đào tạo Khoa thông qua ngày 9/10/2015, và được Hội đồng Khoa học và Đào tạo Trường Đại học An Giang thông qua

Tác giả biên soạn

ThS Nguyễn Bảo Kim

Hiệu Trưởng

AN GIANG, THÁNG 02 NĂM 2016

Trang 3

LỜI CAM KẾT

Tôi xin cam đoan đây là Tài liệu giảng dạy của riêng tôi, nội dung tài liệu giảng dạy

có xuất xứ rõ ràng

An Giang, ngày 16 tháng 02 năm 2016

Người biên soạn

Nguyễn Bảo Kim

Trang 4

MỞ ĐẦU

Mục tiêu của tài liệu “Lịch sử tư tưởng phương Đông” đảm bảo cho sinh viên đại học sư phạm ngành lịch sử hệ thống kiến thức về sự hình thành, phát triển của tư tưởng phương Đông từ thời cổ đại đến thời hiện đại để vận dụng vào giảng dạy lịch sử ở bậc trung học phổ thông Tuy nhiên, khái niệm “Lịch sử tư tưởng phương Đông có phạm vi rất rộng lớn Do vậy, trong nội dung tài liệu giảng dạy “Lịch sử tư tưởng phương Đông”, chúng tôi chỉ đề cập trong phạm vi:

Về không gian: tài liệu chỉ nghiên cứu lịch sử tư tưởng của ba trung tâm lớn của phương Đông đó là Trung Quốc, Ấn Độ và Trung Đông

Về tư tưởng: tài liệu tập trung nghiên cứu lịch sử tư tưởng triết học, chính trị - xã hội và tôn giáo

Khi biên soạn tài liệu “Lịch sử tư tưởng phương Đông”, chúng tôi dựa trên những cơ sở quan trọng sau:

- Đảm bảo tính chính xác khoa học và quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng

Hồ Chí Minh về giáo dục và giáo dục lịch sử

- Tăng cường tính thực hành trong học tập, kiểm tra đánh giá và nghiên cứu khoa học

- Phát huy tính tích cực của sinh viên trong học tập để nắm vững kiến thức, nội dung môn học kết hợp với vận dụng vào dạy học ở bậc trung học phổ thông

Trong khi biên soạn, chúng tôi kế thừa thành tựu nghiên cứu trong nhiều chuyên khảo, giáo trình đại học trong nước

Ngoài phần mở đầu, tài liệu tham khảo, nội dung tài liệu “Lịch sử tư tưởng phương Đông” có bố cục 3 chương:

Chương 1: Lịch sử tư tưởng Trung Quốc, khái quát hoàn cảnh lịch sử Trung Quốc từ

thời cổ đại đến giữa thế kỷ XX; trình bày thân thế, sự nghiệp và nội dung tư tưởng chủ yếu của các nhà tư tưởng trong từng trường phái triết học Trung Quốc qua các thời kỳ lịch sử, đồng thời chỉ rõ những ưu điểm hạn chế trong từng học thuyết tư tưởng

Chương 2: Lịch sử tư tưởng Ấn Độ, sơ lược về bối cảnh lịch sử Ấn Độ từ thời cổ đại

đến giữa thế kỷ XX; trình bày sự ra đời, thân thế sự nghiệp, nội dung tư tưởng chủ yếu của từng triết gia trong các trường phái triết học qua các thời kỳ lịch sử, và chỉ rõ những thành tựu, hạn chế trong từng học thuyết tư tưởng

Chương 3: Lịch sử tư tưởng Trung Đông, trình bày các nội dung:

Tóm lược những nét chính về lịch sử Ixraen, sự ra đời, nội dung tư tưởng chủ yếu trong kinh thánh của đạo Do Thái trong thời cổ đại và chỉ ra những mối liên hệ giữa đạo Do Thái với đạo Cơ-đốc và đạo Hồi

Trình bày sơ lược về bối cảnh lịch sử, nguồn gốc của đạo Cơ-đốc và nội dung tư tưởng chủ yếu của kinh thánh đạo Do Thái ở thời cổ đại

Trang 5

Sơ lược về hoàn cảnh lịch sử, sự ra đời của nhà nước Hồi giáo A-rập, đế quốc Hồi giáo A-rập và các đế quốc Hồi giáo, nội dung tư tưởng của đạo Hồi, kinh Co-ran, sự ra đời và những tư tưởng chủ yếu của các giáo phái Hồi giáo từ thế kỷ VII đến cuối thế kỷ XX

Đầu mỗi chương có nêu mục đích, yêu cầu học tập chương Cuối mỗi chương có hệ thống câu hỏi học tập và ôn tập chương

Chúng tôi mong nhận được nhiều ý kiến đóng góp của quý đồng nghiệp để tài liệu được hoàn thiện hơn

Xin trân trọng cảm ơn!

Tác giả

Trang 6

MỤC LỤC

Trang

Chương 1 Lịch sử tư tưởng Trung Quốc……… 9

1.1 Khái quát lịch sử Trung Quốc……… 10

1.1.1 Các thủ lĩnh liên minh bộ lạc từ Hoàng đế đến Nghiêu, Thuấn, Vũ………… 10

1.1.2 Thời kỳ cổ đại: Hạ, Thương, Chu……… ………10

1.1.3 Thời kỳ trung đại: từ Tần đến trước Chiến tranh thuốc phiện (221 TCN – 1840)……… ……… 14

1.1.4 Thời kỳ cận đại: từ Chiến tranh thuốc phiện (1840) đến năm 1949……… …15

1.2 Những trường phái tư tưởng chủ yếu ở Trung Quốc thời cổ - trung đại……….… 18

1.2.1 Vài nét về những trường phái tư tưởng chủ yếu và truyền thống Tam giáo đồng nguyên ở Trung Quốc……… ………… 18

1.2.2 Âm dương gia……….…… 19

1.2.3 Nho gia……… ………… 23

1.2.4 Đạo gia và Đạo giáo……… …… 46

1.2.5 Mặc gia……… …… 66

1.2.6 Danh gia……… 70

1.2.7 Pháp gia……… …… …… 72

1.3 Những kết luận tóm tắt về các trường phái tư tưởng Trung Quốc thời cổ - trung đại……… ……… 74

1.4 Tư tưởng cải cách và cách mạng tư sản và sự truyền bá Chủ nghĩa Mác – Lê-nin vào Trung Quốc thời cận – hiện đại 76

1.4.1 Hoàn cảnh lịch sử và sự du nhập tư tưởng dân chủ tư sản phương Tây vào Trung Quốc……… 76

1.4.2 Tư tưởng của Khang Hữu Vi và Lương Khải Siêu……… 77

1.4.3 Tư tưởng cách mạng dân chủ tư sản của Tôn Trung Sơn……….… 79

1.4.4 Sự truyền bá chủ nghĩa Mác – Lê-nin vào Trung Quốc……… …………80

Chương 2 Lịch sử tư tưởng Ấn Độ……… ………….85

2.1 Khái quát hoàn cảnh lịch sử Ấn Độ……….……… 86

2.1.1 Những nét chính về điều kiện tự nhiên……… ……….86

2.1.2 Ấn Độ, thời kỳ nền văn minh sông Ấn (khoảng từ giữa đầu thiên niên kỷ III đến đầu thiên niên kỷ II TCN)……… ……….86

2.1.3 Ấn Độ, thời kỳ Veda (khoảng từ đầu thế kỷ XV đến thế kỷ VIII TCN)……… 87

2.1.4 Ấn Độ từ thế kỷ VII TCN đến giữa thế kỷ V……….……88

Trang 7

2.1.5 Ấn Độ từ giữa thế kỷ V đến giữa thế kỷ XX……… …………88

2.2 Nội dung lịch sử tư tưởng triết học tôn giáo Ấn Độ……… ………89

2.2.1 Các thời kỳ phát triển của tư tưởng triết học tôn giáo Ấn Độ……….…… 89

2.2.2 Tư tưởng triết học thời kỳ Veda (cuối thiên niên kỷ II đến thế kỷ VIII TCN)……….……90

2.2.3 Sự phát triển tư tưởng triết học Ấn Độ trong thời kỳ Bà-la-môn giáo, Phật giáo (từ thế kỷ VII TCN đến thế kỷ I)……….…… 97

2.2.4 Những trường phái tư tưởng triết học không chính thống (phủ nhận uy thế của thánh kinh Veda – Nastika)……… 98

2.2.5 Đạo Bà-la-môn và đạo Hin-đu (Ấn Độ giáo), những trường phái tư tưởng triết học chính thống Bà-la-môn……… 123

2.3 Những kết luận tóm tắt về tư tưởng triết học tôn giáo Ấn Độ……….………134

Chương 3 Lịch sử tư tưởng Trung Đông……… …….138

3.1 Vài nét về Trung Đông……… …… 139

3.2 Lịch sử tư tưởng đạo Do Thái cổ đại (từ thế kỷ XX TCN đến thế kỷ V) ………… ….140

3.2.1 Sơ lược lịch sử dân tộc Ixraen và sự hình thành đạo Do Thái cổ đại……… 140

3.2.2 Những đặc điểm cơ bản trong tín ngưỡng tôn giáo của người Ixraen……… 142

3.2.3 Kinh điển của đạo Do Thái (từ thế kỷ VIII TCN đến thế kỷ V)……….….145

3.2.4 Quan hệ giữa đạo Do Thái và đạo Cơ-đốc……… … 154

3.2.5 Quan hệ sâu sắc giữa đạo Do Thái và đạo Hồi……… 155

3.3 Lịch sử tư tưởng đạo Cơ-đốc cổ đại (từ đầu thế kỷ I đến thế kỷ V)……… 156

3.3.1 Bối cảnh ra đời của đạo Cơ-đốc……… 156

3.3.2 Nguồn gốc của đạo Cơ-đốc……… ….157

3.3.3 Cuộc đời và truyền thuyết của Giê-su……… …….158

3.3.4 Buổi đầu của đạo Cơ-đốc và vai trò của Paul (thế kỷ I)……… 159

3.3.5 Đặc điểm tín ngưỡng của giáo hội Cơ-đốc thời kỳ đầu……….… 159

3.3.6 Sự hình thành hội Công giáo cổ đại (từ cuối thế kỷ II đến thế kỷ V)……… 160

3.3.7 Quốc giáo hóa đạo Cơ-đốc……… 161

3.3.8 Nội dung chủ yếu của kinh thánh đạo Cơ-đốc……… 161

3.4 Lịch sử tư tưởng đạo Hồi (từ thế kỷ VII đến hết thế kỷ XX)……….….…162

3.4.1 Khái quát tình hình bán đảo A-rập trước thế kỷ VII và sự thành lập nhà nước Hồi giáo trên bán đảo A-rập ……….….162

Trang 8

3.4.2 Sự hình thành, phát triển, suy vong của đế quốc Hồi giáo A-rập (661 – 1258) và của các

đế quốc Hồi giáo (thế kỷ XIII – XX) ……… 165

3.4.3 Kinh Co-ran và những tư tưởng chủ yếu……….….…………170

3.4.4 Những tư tưởng cơ bản của đạo Hồi……… …… 171

3.4.5 Các giáo phái và những tư tưởng chủ yếu trong thời trung đại (thế kỷ VII đến đầu thế kỷ XVIII)……….……… 175

3.4.6 Những trào lưu tư tưởng Hồi giáo trong thời cận đại (từ thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XX)……… 180

3.4.7 Tư tưởng Hồi giáo sau Chiến tranh thế giới thứ nhất……… 185

3.4.8 Tư tưởng Hồi giáo sau Chiến tranh thế giới thứ hai (1945) đến năm 2000 185

Tài liệu tham khảo……….……… 191

Trang 9

CHƯƠNG 1 LỊCH SỬ TƯ TƯỞNG TRUNG QUỐC

1 Mục đích

a Về kiến thức

- Khái quát được hoàn cảnh lịch sử Trung Quốc từ thời nguyên thủy đến năm 1949 và chỉ ra được những tác động của hoàn cảnh lịch sử trong từng thời kỳ đến sự phát triển

tư tưởng triết học Trung Quốc

- Khái quát được những nội dung tư tưởng của các trường phái triết học Trung Quốc thời cổ đại:

+ Âm Dương gia và Nho gia

+ Đạo gia và Mặc gia

+ Danh gia và Pháp gia

- Khái quát được nội dung tư tưởng triết học Nho gia thời trung-cận-hiện đại:

- Chỉ ra được những ưu điểm, hạn chế trong từng học thuyết của từng triết gia

- Phân tích, giải thích và nhận xét đánh giá được những ưu điểm hạn chế, những nét độc đáo trong các học thuyết tư tưởng của từng triết gia

- Chỉ rõ những tác động của các học thuyết tư tưởng triết học đến sự phát triển kinh tế, chính trị - xã hội qua các thời kỳ

- Bám sát Đề cương chi tiết và Tài liệu giảng dạy (giảng viên cung cấp)

- Đọc sách tham khảo và trả lời các câu hỏi học tập trong Tài liệu giảng dạy và trong

Đề cương chi tiết

- Làm bài tập ở nhà, thảo luận nhóm theo câu hỏi trong Đề cương chi tiết và Tài liệu giảng dạy

- Kiểm tra lấy điểm thường xuyên trên lớp theo yêu cầu của giảng viên

Trang 10

1.1 Khái quát lịch sử Trung Quốc

1.1.1 Các thủ lĩnh liên minh bộ lạc từ Hoàng đế đến Nghiêu, Thuấn, Vũ

Theo truyền thuyết, lịch sử Trung Hoa được bắt đầu bởi một loạt các thánh vương trị

vị từ ba, bốn ngàn năm trước Công nguyên thường được gọi là thời “Tam hoàng, Ngũ đế”

Thời kỳ Tam hoàng, theo “Sử ký” của Tư Mã Thiên bao gồm: Thiên hoàng, Địa hoàng

Sau Phục Hy là Thần Nông, phát minh ra nghề cày cấy, trồng trọt

Tiếp theo là thời kỳ văn hóa đồ gốm màu và đồ gốm đen với các truyền thuyết về thời Ngũ đế Ngũ đế bao gồm: Hoàng Đế, Chuyên Húc, Đế Cốc, Đường Nghiêu, Ngu Thuấn Theo lịch sử Trung Hoa, đó chính là những thủ lĩnh của các bộ lạc hay thị tộc của người Trung Quốc cổ đại

Trong liên minh bộ lạc, mỗi khi cần thiết giải quyết những công việc quan trọng như chống lũ lụt, quyết định việc chiến tranh, bầu lại thủ lĩnh… đều phải mời các phụ lão và các thủ lĩnh quân sự đến họp để bàn bạc

Năm Nghiêu Thuấn 72 tuổi, Nghiêu nói mình đã già nên Nghiêu đề nghị bầu người khác làm thủ lĩnh bộ lạc Bộ lạc đã bầu Ngu Thuấn, một người có đạo đức và tinh thần trách nhiệm lên thay Đến khi Ngu Thuấn già, hội nghị lại bầu Hạ Vũ là người có công lớn trong việc trị thủy lên thay

Đến thời Hạ Vũ, sự phân hóa tài sản diễn ra mạnh mẽ, nô lệ bắt được trong chiến tranh ngày càng nhiều, thế lực của những người giàu có trong bộ lạc ngày càng tăng, đồng thời uy quyền của thủ lĩnh ngày càng lớn Sau khi Hạ Vũ chết, các quý tộc bộ lạc Hạ đã ủng hộ con vua Hạ Vũ là Hạ Khải lên thay, chế độ bầu cử thủ lĩnh liên minh bộ lạc đến đây chấm dứt Đồng thời sự kiện đó cũng đánh dấu xã hội thị tộc, một giai đoạn lịch sử mà sử sách Trung Quốc gọi là “thời kỳ đại đồng” kết thúc Trung Quốc bắt đầu bước vào một giai đoạn xã hội mới – xã hội có nhà nước

1.1.2 Thời kỳ cổ đại: Hạ, Thương, Chu

1.1.2.1 Nhà Hạ (khoảng thế kỷ XXI – XVI TCN)

Được sự ủng hộ của các quý tộc thân cận, Khải nghiễm nhiên trở thành ông vua có quyền hành rất lớn Khải được các quý tộc lớn khác phải triều bái, phục tùng và ca ngợi Từ

đó về sau, việc cha truyền con nối ngôi vua được coi là việc tất nhiên, hợp với đạo lý lúc bấy giờ

Trang 11

Như vậy, trong thực tế, Khải là ông vua đầu tiên ở Trung Quốc, nhưng ông Vũ được suy tôn là người sáng lập triều Hạ, vương triều đầu tiên ở Trung Quốc

Khải phải đương đầu với nhiều cuộc chống đối như sự phản kháng của Bá Ích thuộc

bộ lạc Đông Di (một thành viên của liên minh bộ lạc trước đây), hoặc họ Hữu Hồ thuộc bộ lạc

Hạ Đến thời Thái Khang (con Khải), Hậu Nghệ thuộc bộ lạc Đông Di lại khởi binh chống

Hạ, Thái Khang thua chạy, Hậu Nghệ giành được chính quyền, mãi đến đời Thiền Khang, nhà

Hạ mới được khôi phục

Trải qua mấy thế kỷ, đến đời Kiệt, mâu thuẫn trong xã hội ngày càng phát triển gay gắt Kiệt là kẻ tàn bạo, áp bức, bóc lột nhân dân thậm tệ, bắt nhân dân xây dựng cung điện, dinh thự và luôn gây việc binh đao làm hao người tốn của Kiệt kiêu ngạo tự ví mình là mặt trời Nhân dân rất căm phẫn Trong hoàn cảnh đó, Thương, một lực lượng mới trỗi dậy đã tấn công Hạ, nhà Hạ diệt vong

1.1.2.2 Nhà Thương (khoảng thế kỷ XVI – XII TCN)

Thương cũng là một bộ tộc có lịch sử lâu đời Thủy tổ của tộc Thương là Khế Đến cháu 14 đời của Khế là Thang (khoảng thế kỷ XVI TCN), tộc Thương bắt đầu bước vào xã hội có giai cấp

Sau khi đánh bại các bộ lạc đồng minh của Hạ là Vi, Cố và Côn Ngô ở vùng Hà Nam (Sơn Đông ngày nay), Thang và các bộ lạc đồng minh đem quân đánh Hạ Nhà Hạ bị diệt vong Triều Thương chính thức được thiết lập, đóng đô ở Bạc (Hà Nam)

Do nội bộ nhà Thương liên tiếp xảy ra việc tranh chấp ngôi vua, mâu thuẫn trong nội

bộ giai cấp thống trị ngày càng sâu sắc, mặt khác để làm yếu thế lực quý tộc và tránh nước lụt, vua Thương đã nhiều lần dời đô Đến đời Bàn Canh, nhà Thương dời đô đến đất Ân (Hà Nam) Từ đời Bàn Canh đến khi triều Thương diệt vong, các vua nhà Thương đều đóng đô ở đất Ân (trừ vua Trụ đóng đô ở Triều Ca) Vì thế nhà Thương còn gọi là nhà Ân

Cuối đời nhà Thương, các ông vua thường làm loạn, bạo ngược, vì vậy thời gian ở ngôi của họ thường ngắn ngủi Trong số đó, nổi bật là vua Trụ: ông là người hết sức tham lam, xa xỉ, tàn bạo, suốt ngày say đắm tửu sắc Hơn nữa, Trụ còn luôn gây chiến tranh với các

bộ lạc xung quanh làm tổn hao sức người, sức của của nhân dân Nhân dân nổi dậy đấu tranh,

bị Trụ đàn áp khốc liệt, từ đó làm cho mâu thuẫn trong xã hội ngày càng gay gắt Nhân tình hình ấy, nước Chu ở phía Tây vốn là một quốc gia mới thành lập và phụ thuộc Thương đã đem quân tấn công Triều Ca, nhà Thương bị diệt vong

1.1.2.3 Thời Tây Chu (khoảng thế kỷ XI – 771 TCN)

Chu là một bộ lạc cư trú ở thượng lưu sông Hoàng (Thiểm Tây – Cam Túc ngày nay) Khi tộc Thương tiến vào xã hội có giai cấp thì bộ lạc Chu sống trong chế độ công xã nguyên thủy

Tương truyền thủy tổ của tộc Chu là Khí Đến đời thứ 12 của Khí là Cổ Công Đản Phụ, sự phân hóa giai cấp trong bộ lạc Chu xuất hiện rõ rệt Như vậy, bộ tộc Chu bắt đầu bước lên ngưỡng cửa của xã hội có giai cấp

Đến đời Xương (cháu của Cổ Công Đản Phụ) thì nước Chu chính thức thành lập Xương tự xưng là Văn Vương và truy tặng ông mình là Thái Vương Trong khi đó ở nước

Trang 12

Thương, mâu thuẫn rất gay gắt, Văn Vương thấy điều kiện tiêu diệt nước Thương đã đến, nhưng chưa kịp thực hiện kế hoạch thì đã chết Bốn năm sau, con là Chu Vũ Vương kết hợp với các bộ tộc phía Nam tấn công nước Thương

Để xoa dịu quý tộc và cư dân vùng mới chinh phục, Vũ Vương phong cho con vua Trụ

là Vũ Canh một vùng đất của nhà Thương và phong cho ba em của mình là Quản Thúc, Thái Thúc và Hoắc Thúc vùng đất bên cạnh để giám sát Sau đó Vũ Vương rút về Cảo Kinh ở phía Tây, vì vậy gọi là Tây Chu

Nhà Chu tiến hành chính sách phân phong đất đai cho những người cùng họ, do đó lập nên hệ thống các chư hầu Từ đó Tây Chu bước vào thời kỳ hưng thịnh

Đến thế kỷ IX TCN, Lệ Vương thi hành nhiều chính sách độc quyền rừng núi, ao hồ nên nhân dân rất oán giận, đã thế lại thẳng tay đàn áp những ai bàn tán, kêu ca Năm 841 TCN, nhân dân vùng kinh kỳ nổi dậy khởi nghĩa Lệ Vương hốt hoảng bỏ kinh thành, chạy trốn đến đất Trệ (Sơn Tây ngày nay) rồi chết ở đó Sau khi Lệ Vương bị lật đổ, Trung Quốc bước vào một thời kỳ kéo dài 14 năm gọi là thời kỳ “Cộng hòa hành chính” Có ý kiến cho rằng trong thời kỳ này Thiên Công và Chu Công với tư cách là hai tướng quốc cùng cầm quyền nên gọi là thời Cộng hòa Đến năm 827 TCN, Thái tử Tĩnh lên làm vua, hiệu là Tuyên Vương, nhà Tây Chu được khôi phục

Đến đời thái tử Nghi Cữu lên làm vua (khoảng năm 771 TCN), hiệu là Bình Vương đã dời đô đến Lạc Ấp ở phía Đông Thời Đông Chu bắt đầu

1.1.2.4 Thời Đông Chu (thế kỷ VIII – III TCN)

Thời Đông Chu (770 – 221 TCN) tương đương với hai thời kỳ Xuân Thu và Chiến Quốc

Thời Xuân Thu (772 – 481 TCN), vì mệnh lệnh “thiên tử” không còn được tuân thủ, chế độ tông pháp bị phá bỏ, trật tự lễ nghĩa, cương thường xã hội bị đảo lộn, đạo đức suy yếu nên các nước chư hầu đua nhau động binh, gây chiến tranh thôn tính và tranh giành địa vị của nhau diễn ra liên miên và vô cùng khốc liệt Chế độ cống nạp do nước lớn tiếm quyền thiên tử

tự ý đặt ra với các nước nhỏ, đây là tai họa cho các nước nhỏ yếu Mỗi lần nhà Trịnh cống nạp cho nhà Tấn phải dùng đến “một trăm xe chở lụa và da thú Mà trăm xe thì phải ngàn người”

Do vậy dân đã nghèo cộng thêm đói khổ, nên như ở nước Tấn “thây người chết đầy đường”

Thời Xuân Thu có khoảng 242 năm thì đã xảy ra 403 cuộc chiến tranh Đầu thời Tây Chu có cả ngàn nước, đến cuối thời Xuân Thu chỉ còn hơn 100 nước và những chư hầu mạnh lên thì đua nhau làm bá chủ thiên hạ Trong số những nước hùng mạnh nhất thời bấy giờ chỉ

có 5 nước, gọi là cục diện ngũ bá gồm: Tề, Tấn, Tần, Sở, Tống Những quốc gia này mạnh và làm minh chủ các nước chư hầu khác là do các ông vua trị vì dựa trên sức mạnh của bạo lực

và áp bức, hoàn toàn đối lập với cách cai trị của “Vương đạo” tức là thi hành “nhân nghĩa”,

“lấy đức thu phục nhân tâm, chỉ giáo hóa con người” Mới đầu, cục diện “Ngũ bá” có Hoàn Công nước Tề, Văn Công nước Tấn, Mục Công nước Tần, Tương Công nước Tống, Trang Sở Vương nước Sở Cuối Xuân thu có Ngô Vương Phù Sai và Việt Vương Câu Tiễn

Chính trong hoàn cảnh xã hội đặc biệt trên, đã nảy sinh một loạt các nhà tư tưởng, các trường phái tư tưởng triết học, đại diện cho những trường phái, tầng lớp, giai cấp khác nhau,

Trang 13

đấu tranh với nhau không kém phần sôi động và quyết liệt như Âm Dương gia, Nho gia, Lão gia, Mặc gia, Danh gia…với các triết gia nổi tiếng như Khổng Khâu, Mặc Địch, Lão Đam, Dương Chu,…tạo nên bộ mặt và không khí đặc biệt trong lĩnh vực chính trị và tư tưởng Trung Quốc cổ đại

Trong thời Xuân Thu, ngoài các cuộc chiến tranh thường xuyên giữa các nước chư hầu, thì trong từng nước cũng xảy ra những cuộc xung đột giữa các dòng họ, các bọn quý tộc với nhau để giành đất đai và quyền thống trị:

Ở nước Tấn, năm 403 TCN có ba dòng họ lớn là Hàn, Triệu, Ngụy đã chia nhau đất nước và phế truất vua Tấn Lúc đó Trung Quốc đã bước vào thời kỳ Chiến Quốc (từ năm 475 – 221 TCN) Bấy giờ còn lại bảy nước lớn là Tề, Sở, Yên, Tần, Hàn, Triệu, Ngụy, tạo thế

“Thất hùng” thường gây chiến tranh thôn tính nhau với quy mô lớn Trong đó, nước Tần ở phía Tây Hàm Cốc quan, sáu nước ở phía Đông ải quan đó, nên gọi là “Sơn Đông lục quốc”

Thời Chiến Quốc, kinh tế Trung Quốc đã phát triển mạnh Trong xã hội có sự phân hóa giai cấp mạnh mẽ Một số nhỏ nông dân trở thành địa chủ phú nông Đa số nông dân nghèo đói, mất ruộng đất hay phải bán ruộng, đi cày cấy mướn, trở thành tá điền Do đó chế

độ tự do mua bán ruộng đất thịnh hành, giới quý tộc, địa chủ thương nhân giàu có chiếm đoạt nhiều ruộng đất của nông dân và họ đã chuyển sang hình thức phát canh thu tô Quan hệ sản xuất phong kiến địa chủ - tá điền xuất hiện, dần chiếm ưu thế trong nông nghiệp

Năm 362 TCN, trong tất cả những quốc gia độc lập tương đối lớn ở Trung Quốc, nước Tần mạnh nhất Tần Hiến Công lên ngôi tích cực phát triển nông nghiệp và chuẩn bị tăng cường binh bị Nhờ những cuộc cải cách của Thương Ưởng vào những năm 359 – 350 TCN

về chế độ kinh tế, chính trị hành chính, pháp luật và luật thu thuế mới, khuyến khích phát triển nông nghiệp, đã góp phần làm nước Tần mạnh lên Tới cuối thế kỷ III TCN, vua Tần Doanh Chính lên ngôi đã lần lượt chinh phục các nước khác, thống nhất toàn bộ đất nước Trung Quốc, thiết lập nên quốc gia phong kiến trung ương tập quyền đầu tiên ở Trung Quốc

Đó là đế quốc Tần Biến cố này là dấu ấn thay đổi lớn nhất trong lịch sử chính trị Trung Quốc Nó gắn liền với một trào lưu tư tưởng có ảnh hưởng lớn trong đời sống tinh thần, xã hội thời đó là trường phái triết học Pháp gia

Với chính sách hà khắc của Tần Thủy Hoàng như chôn Nho, đốt sách nhằm thống nhất về tư tưởng, xây dựng nhà nước trung ương tập quyền và thường xuyên gây chiến tranh thôn tính nước khác, mở rộng đất đai, biên cương nhằm thống nhất về chính trị, huy động bằng bạo lực hàng chục vạn nông dân xây dựng Vạn lý trường thành, dựng cung A phòng, xây lăng Ly sơn đã phá hoại kinh tế nước Tần

Sau khi Tần Thủy Hoàng chết, Tần Nhị Thế lên ngôi được vài năm cũng bạo ngược không kém Đến Tần Tam Thế (Tần Tử Anh) mới lên ngôi đã bị sụp đổ do các cuộc khởi nghĩa hùng mạnh của nhân dân đứng đầu là Ngô Quảng, Trần Thắng và sau đó là Lưu Bang – Hạng Vũ lãnh đạo đã đưa đến sự chấm dứt triều đại Tần và xây dựng lên chính thể của một triều đại mới, tiếp tục công cuộc thống nhất Trung Quốc của nhà Tần, đó là nhà Hán (năm

206 TCN)

Trang 14

1.1.3 Thời kỳ trung đại: từ Tần đến trước Chiến tranh thuốc phiện (221 TCN - 1840)

Chế độ phong kiến Trung Quốc được xác lập và phát triển qua hai triều đại nhà Tần và nhà Hán (221 TCN – 220)

Vua Tần Thủy Hoàng là người đầu tiên xưng hoàng đế, tự cho mình là đấng tối cao, vua của các nhà vua Hoàng đế có uy quyền tuyệt đối quyết định mọi vấn đề của đất nước

Nhà Tần tồn tại hơn 10 năm thì bị cuộc khởi nghĩa nông dân do Trần Thắng – Ngô Quảng lãnh đạo lật đổ Một địa chủ tên là Lưu Bang đã đánh bại các lực lượng cát cứ khác, lên ngôi hoàng đế, lập ra nhà Hán

Các vua Hán, một mặt cử con em và những người thân cận của mình giữ các chức vụ

ở triều đình và các địa phương, mặt khác mở rộng các hình thức tiến cử cả con em gia đình đại địa chủ Cuối triều Hán, xã hội Trung Quốc lại lâm vào tình trạng rối ren, loạn lạc Quý tộc, quan lại bóc lột nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động khác thậm tệ Nông dân nổi dậy chống lại triều đình phong kiến Ở phía Bắc, các dân tộc du mục xâm chiếm lãnh thổ Trung Quốc

Sau gần 400 năm phân tán loạn lạc, đến cuối thế kỷ VI, Trung Quốc mới thống nhất trở lại dưới triều Tùy Nhà Tùy chỉ tồn tại được có hai đời, trong vòng 28 năm, vì ăn chơi hưởng lạc, bóc lột nhân dân quá đỗi, lại bị khởi nghĩa nông dân lật đổ Lý Uyên, một quý tộc địa chủ lớn, dẹp được các đối thủ, đàn áp phong trào nông dân, lên làm vua lập ra nhà Đường

Từ năm 617 đến năm 907, nhà Đường đã đưa chế độ phong kiến Trung Quốc bước vào giai đoạn phát triển toàn thịnh rực rỡ Trung Quốc trở thành đế quốc lớn Năm 874, cuộc khởi nghĩa nông dân vĩ đại do Hoàng Sào lãnh đạo làm nhà Đường suy sụp Các thế lực phong kiến quân phiệt địa phương nổi lên cát cứ, tranh giành quyền lực gần một thế kỷ Năm

960, một thế lực quân sự đứng đầu là Triệu Khuông Dẫn dẹp tan các thế lực đối lập, lên ngôi vua, lập ra nhà Tống (960 – 1279)

Quan hệ sản xuất phong kiến đời Tống tiếp tục phát triển Kinh tế công thương nghiệp

và tiền tệ đạt nhiều thành tựu cao hơn cả thời Đường

Đến cuối nhà Tống, nước Kim (sau này là Mãn Thanh) xâm lược miền Bắc Trung Quốc Giai cấp thống trị nhà Tống rút xuống giữ phía Nam sông Hoàng, cai quản miền Nam Trung Quốc, từ đó gọi là Nam Tống (1127 – 1279)

Đầu thế kỷ XIII, trên thảo nguyên Mông Cổ, một nhà nước phong kiến quân sự độc tài

ra đời do Gien-git Khan (Thành Cát Tư Hãn) làm vua Từ năm 1211, Gien-git Khan tiến đánh Bắc Trung Quốc, tràn qua Tây Á, vào miền Nam nước Nga Tiếp đó, Khu-bi-lai (Hốt Tất Liệt) tiến đánh Nam Tống Năm 1279, Nam Tống bị tiêu diệt, Khu-bi-lai lên ngôi hoàng đế, thiết lập triều Nguyên ở Trung Quốc (1279 – 1368)

Nhà Nguyên áp bức bóc lột nhân dân Trung Quốc vô cùng thậm tệ Mâu thuẫn dân tộc

và mâu thuẫn giai cấp diễn ra sâu sắc Cuộc khởi nghĩa nông dân do Chu Nguyên Chương lãnh đạo bùng nổ Sau khi lật đổ ách thống trị của nhà Nguyên, Chu Nguyên Chương lên ngôi hoàng đế lập ra nhà Minh (1368 – 1644) Các vua nhà Minh thi hành nhiều biện pháp khôi phục và phát triển kinh tế, đặt cơ sở cho sự cường thịnh của triều đại này vào nửa sau thế kỷ

Trang 15

XVI Trong thế kỷ XVI, những mầm móng quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa đã xuất hiện ở Trung Quốc

Cũng như các triều đại trước, vào giai đoạn cuối, chính quyền quân chủ chuyên chế hết sức thối nát, mâu thuẫn giữa địa chủ phong kiến và nông dân vẫn là mâu thuẫn gay gắt nhất Nông dân lại tập hợp dưới ngọn cờ của Lý Tự Thành tiến vào Bắc Kinh Giữa lúc đó, một bộ tộc ở phương Bắc là Mãn kéo vào xâm lược Trung Quốc, Lý Tự Thành bị đánh bại, người Mãn chiếm toàn bộ Trung Quốc, lập ra nhà Thanh (1644 – 1911)

1.1.4 Thời kỳ cận đại: từ Chiến tranh thuốc phiện (1840) đến năm 1949

Vua quan nhà Thanh cưỡng bức nhân dân Trung Quốc phải theo phong tục của người Mãn, thực hiện chính sách áp bức dân tộc hết sức tàn bạo Các cuộc khởi nghĩa, chống đối ngày càng nhiều, làm cho nhà Thanh ngày càng suy yếu Chủ nghĩa tư bản phương Tây nhân

cơ hội đó tăng cường xâm lược Trung Quốc Cuộc Chiến tranh thuốc phiện lần thứ nhất (1840 – 1842) nổ ra giữa thực dân Anh với Trung Quốc đánh dấu một giai đoạn mới của lịch sử Trung Quốc, giai đoạn Trung Quốc bắt đầu trở thành một nước phụ thuộc Đến cuối thế kỷ XIX, quan hệ sản xuất phong kiến vẫn còn thống trị chủ yếu ở Trung Quốc Ruộng đất tập trung vào tay vua quan và địa chủ Phần lớn nông dân không có ruộng đất, phải thuê từ các địa chủ và phải nộp tô từ ½ đến 2/3 hoa lợi thu hoạch được Ngoài ra, nông dân còn chịu nhiều thuế má nặng nề và làm nghĩa vụ với nhà nước Thủ công nghiệp vốn khá phát triển đã không cạnh tranh nổi với hàng nước ngoài tràn ngập khắp nơi Thợ thủ công bị thất nghiệp và phá sản

Tuy bị quan hệ sản xuất phong kiến cản trở và tư bản nước ngoài chèn ép, công nghiệp Trung Quốc vẫn phát triển Các doanh nghiệp tư bản (hầm mỏ, nhà máy dệt) ra đời vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX Đường sắt được lắp đặt, các thành phố lớn mọc ra, số lượng công nhân tăng lên, giai cấp tư sản Trung Quốc hình thành

Thừa lúc Trung Quốc đang suy yếu, các đế quốc đua nhau xâu xé Trung Quốc và chia vùng ảnh hưởng Cuộc chiến tranh Trung – Nhật (1894 – 1895) và sự thất bại của triều đình Mãn Thanh đánh dấu sự hoàn thành quá trình biến Trung Quốc thành nửa thuộc địa của các cường quốc

Trước nguy cơ bị xâm lược, triều đình Mãn Thanh không có biện pháp gì mới để canh tân và bảo vệ đất nước Giai cấp tư sản vừa mới ra đời đòi hỏi phải có những cải cách kinh tế, chính trị, xã hội Cuối thế kỷ XIX, một số trí thức phong kiến tiến bộ, chịu ảnh hưởng tư tưởng phương Tây, đứng đầu là Khang Hữu Vi và Lương Khải Siêu khởi xướng phong trào Duy Tân (1898) Cuộc vận động duy tân tiến hành được hơn 100 ngày đã thất bại

Sang đầu thế kỷ XX, dưới ách thống trị của phong kiến trong nước và trước sự xâm lược của bọn đế quốc làm cho phong trào đấu tranh của nhân dân Trung Quốc phát triển mạnh

mẽ Khởi nghĩa nông dân liên tiếp xảy ra, lớn mạnh nhất là cuộc khởi nghĩa Nghĩa Hòa Đoàn, xuất phát từ Sơn Đông và lan ra khắp miền Bắc Trung Quốc Năm 1900, nghĩa quân đã tấn công vào các sứ quán nước ngoài tại Bắc Kinh Lập tức, liên quân 8 nước đế quốc đánh vào Bắc Kinh Chúng đốt phá, cướp bóc và bắn giết rất dã man Triều đình Mãn Thanh vội vã đầu hàng, ký điều ước Tân Sửu (1901) với những điều khoản nặng nề (bồi thường chiến tranh cho

Trang 16

các nước đóng quân ở Bắc Kinh) Điều ước Tân Sửu làm cho Trung Quốc càng lún sâu vào tình trạng phụ thuộc các cường quốc đế quốc

Do ảnh hưởng của cách mạng Nga (1905 - 1907), phong trào yêu nước chống phong kiến và đế quốc của nhân dân Trung Quốc tiếp tục dâng cao Giai cấp tư sản Trung Quốc thấy cần thiết phải tập hợp các lực lượng dân chủ yêu nước để đấu tranh thắng lợi Tháng 8 năm

1905, Tôn Trung Sơn thành lập Trung Quốc đồng minh hội nhằm “đánh đuổi Mãn Thanh khôi phục Trung Hoa, thành lập dân quốc, bình quân địa quyền” Đường lối của Đồng minh hội có nhiều nhược điểm, thể hiện tính chất không tưởng, nhưng cũng cổ vũ phong trào đấu tranh của quần chúng nhân dân

Trong những năm 1906 – 1908, Đồng minh hội lãnh đạo 10 cuộc khởi nghĩa chống Mãn Thanh, nhưng đều thất bại Năm 1911 (năm Tân Hợi), nhân dân khắp nơi nổi dậy phản đối triều đình trao quyền khai thác đường sắt cho các công ty nước ngoài Nhân cơ hội này, Đồng minh hội phát động cuộc khởi nghĩa ở Vũ Xương (10/10/1911) Cuộc khởi nghĩa thắng lợi và nhanh chóng lan rộng khắp cả nước

Cuối tháng 12/1911, Quốc dân đại hội (gồm đại biểu các tỉnh cách mạng) họp ở Nam Kinh và bầu Tôn Trung Sơn làm Đại Tổng thống đứng đầu chính phủ lâm thời Một hiến pháp lâm thời được thông qua, công nhận sự bình đẳng và các quyền tự do của mọi công dân, nhưng không đề cập đến vấn đề ruộng đất của nông dân đã được ghi trong cương lĩnh của Đồng minh hội

Trước thắng lợi bước đầu của cách mạng, địa chủ và tư sản hoảng sợ, vội vả thương lượng với triều đình Mãn Thanh Các nước đế quốc cũng ép họ thỏa hiệp Kết quả là vua Thanh thoái vị, Viên Thế Khải, một đại thần của triều đình phong kiến lên làm tổng thống Tôn Trung Sơn buộc phải từ chức (3/1913) Trên thực tế, cách mạng chấm dứt, các thế lực phong kiến quân phiệt nắm chính quyền

Cách mạng Tân Hợi (1911) là cuộc cách mạng dân chủ tư sản do những phần tử trí thức cấp tiến trong giai cấp tư sản và tiểu tư sản lãnh đạo Do đấu tranh của quần chúng nhân dân, chế độ quân chủ chuyên chế bị lật đổ, nền Cộng hòa được thiết lập Cách mạng Tân Hợi

là cuộc cách mạng tư sản không triệt để, vì không thủ tiêu chế độ sở hữu ruộng đất phong kiến, không xóa bỏ được ách nô dịch của các đế quốc Tuy nhiên, cách mạng Tân Hợi đã có ý nghĩa lịch sử lớn lao: lật đổ được chế độ quân chủ thối nát, mở đường cho chủ nghĩa tư bản phát triển ở Trung Quốc Cách mạng Tân Hợi có ảnh hưởng lớn đối với cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc ở một số nước châu Á

Ngày 4/5/1919, phong trào Ngũ Tứ bùng nổ, mở đầu bằng cuộc biểu tình của 5.000 học sinh, sinh viên yêu nước ở Bắc Kinh nhằm chống lại âm mưu xâu xé Trung Quốc của các

đế quốc Cuộc biểu tình của học sinh, sinh viên Bắc Kinh đã nhanh chóng lôi kéo đông đảo học sinh, sinh viên và các tầng lớp nhân dân khác trong nhiều thành phố xuống đường đấu tranh Chính phủ quân phiệt đàn áp và bắt giam hơn 1.000 sinh viên Phong trào bãi công to lớn và lan rộng của công nhân đã buộc chính phủ quân phiệt Trung Quốc phải thả tất cả học sinh, sinh viên yêu nước đang bị giam giữ

Phong trào Ngũ Tứ đánh dấu thời kỳ giai cấp công nhân Trung Quốc đã trở thành một lực lượng chính trị độc lập và bắt đầu bước lên vũ đài chính trị, tạo điều kiện cho chủ nghĩa

Trang 17

Mác- Lê-nin truyền bá rộng rãi vào Trung Quốc Được sự giúp đỡ của Quốc tế Cộng sản, ngày 01/07/1921, Đảng Cộng sản Trung Quốc thành lập

Trong những năm 1925 – 1927, Đảng Cộng sản Trung Quốc hợp tác với Quốc dân Đảng tiến hành cuộc chiến tranh cách mạng nhằm đánh đổ bọn quân phiệt, tay sai của đế quốc đang chia nhau thống trị các vùng khác nhau ở Trung Quốc Sau cuộc chiến tranh Bắc phạt (7/1926 – 7/1927), tập đoàn Quốc dân đảng Tưởng Giới Thạch đã thiết lập ở Trung Quốc một nền thống trị phản động đại diện cho quyền lợi của bọn phong kiến tư sản mại bản và đế quốc Nền thống trị này đã khủng bố dã man những người yêu nước và tàn sát hàng vạn chiến sĩ cộng sản

Trước tình hình trên, tháng 8/1927, Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc họp hội nghị khẩn cấp phê phán đường lối sai lầm hữu khuynh, bãi bỏ chức vụ lãnh đạo Đảng của Trần Độc Tú Hội nghị quyết định khởi nghĩa vũ trang, tiến hành cách mạng ruộng đất ở nông thôn và lật đổ nền thống trị phản động của Quốc dân đảng

Sau cuộc khởi nghĩa Nam Xương (1/8/1927) và những cuộc khởi nghĩa ở các thành thị miền Nam cuối năm 1927 bị thất bại, Đảng Cộng sản Trung Quốc chuyển về nông thôn, phát động nông dân nổi dậy, thành lập chính quyền Xô viết, Hồng quân công nông và tiến hành cách mạng ruộng đất

Tháng 7/1937, Nhật Bản phát động cuộc chiến tranh nhằm thôn tính toàn Trung Quốc Trước nguy cơ dân tộc, Đảng Cộng sản Trung Quốc chủ động đề nghị với Quốc dân đảng đình chiến và cùng nhau hợp tác chống Nhật Trước áp lực của nhân dân, tháng 9/1937, Quốc dân đảng buộc phải hợp tác với Đảng Cộng sản thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất chống Nhật Từ đó, cách mạng Trung Quốc chuyển sang thời kỳ chống Nhật Bản xâm lược

Sau khi cuộc kháng chiến chống Nhật kết thúc thắng lợi, cục diện cách mạng do Đảng cộng sản Trung Quốc lãnh đạo có nhiều biến đổi quan trọng khác trước Trước sự lớn mạnh của cách mạng Trung Quốc, tập đoàn thống trị Tưởng Giới Thạch âm mưu phát động nội chiến nhằm tiêu diệt Đảng Cộng sản Trung Quốc và phong trào cách mạng Trung Quốc Tập đoàn Tưởng Giới Thạch đã cấu kết chặt chẽ với Mỹ và dựa vào sự giúp đỡ về mọi mặt của

Mỹ để thực hiện mưu đồ này

Khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, đế quốc Mỹ ra sức giúp đỡ Tưởng Giới Thạch phát động nội chiến với âm mưu biến Trung Quốc thành thuộc địa kiểu mới của Mỹ

Sau khi được Mỹ giúp đỡ và chuẩn bị đầy đủ mọi mặt, ngày 20/7/1946, Tưởng Giới Thạch đã huy động toàn bộ lực lượng quân đội chính quy (113 lữ đoàn, khoảng 160 vạn quân) tấn công toàn diện vào các vùng giải phóng do Đảng Cộng sản lãnh đạo Cuộc nội chiến chính thức bùng nổ

Tháng 4/1949, quân giải phóng vượt sông Trường Giang, ngày 23/4, Nam Kinh, trung tâm thống trị của tập đoàn Quốc dân đảng Tưởng Giới Thạch được giải phóng Nền thống trị của Quốc dân đảng đến đây chính thức sụp đổ Ngày 1/10/1949, nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa tuyên bố chính thức thành lập, đánh dấu cách mạng dân tộc dân chủ Trung Quốc

đã hoàn thành

Trang 18

Với diện tích bằng ¼ châu Á và chiếm gần ¼ dân số thế giới, thắng lợi của cách mạng Trung Quốc năm 1949 đã tăng cường lực lượng của Chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới và có ảnh hưởng sâu sắc đến sự phát triển của phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới

1.2 Những trường phái tư tưởng chủ yếu ở Trung Quốc thời cổ - trung đại

1.2.1 Vài nét về những trường phái tư tưởng chủ yếu và truyền thống Tam giáo đồng nguyên ở Trung Quốc

Thời Tiên Tần tính tới năm 221 TCN, với cuộc thống nhất Trung Quốc của Tần Thủy Hoàng, ở Trung Quốc có nhiều trường phái tư tưởng khác nhau, gồm có:

Nho giáo đặt nặng nhân nghĩa, tôn trọng lễ nhạc, sống tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ với trình độ của một người dày công tu dưỡng và thành thạo lục nghệ: sáu kinh điển hoặc sáu kỹ năng của một người đã qua giáo dục Phái này sản sinh các học giả

Đạo học chiêm nghiệm về cuộc tuần hoàn của vũ trụ và sự thành bại, mất còn, họa phúc của con người, nhằm khám phá yếu tính của cuộc đời Từ đó người tu đạo tu dưỡng tâm tính hồn nhiên mộc mạc để sống cuộc đời tiêu dao, thanh thoát Phái này sản sinh ra các ẩn sĩ

Âm Dương gia kính ngưỡng và thận trọng thuận theo lẽ âm dương của vũ trụ Các Âm Dương gia chiêm nghiệm các hiện tượng thiên văn của nhật nguyệt tinh tú, trời đất và ứng dụng vào lịch trình hoạt động của xã hội, đặc biệt là nông nghiệp Phái này sản sinh ra các nhà thiên văn, lịch số và những người cầu đảo

Mặc gia chủ trương thuyết kiêm ái – yêu hết thảy mọi người, sống liêm chính, khắc khổ, tôn trọng quỷ thần và tế lễ Mặc gia không tin vào số mệnh, thuận theo mùa tiết, chống mọi hình thức mê tín và hiếu chiến Phái này sản sinh ra các hiệp sĩ

Pháp gia cùng với nỗ lực dùng Lễ để giáo hóa người dân, họ xem rất trọng việc sử dụng Hình pháp và các hình thức thưởng phạt nhằm buộc người dân thực hiện nghĩa vụ để xã hội có kỷ cương, quốc gia ổn định Phái này sản sinh các luật gia và nhà pháp trị

Danh gia chủ trương mỗi người đều có danh vị, và động thái trong xã hội phải tương ứng với danh vị ấy Người Danh gia triệt để theo thuyết Chính Danh của Khổng Tử: danh không chính thì lời không thuận, lời không thuận thì việc không thành Phái này sản sinh ra các nhà biện luận

Không tồn tại như những trường phái biệt lập, người của sáu trường phái ấy có qua lại

và cùng ảnh hưởng lên nhau Theo với thời gian, cả Nho giáo lẫn Đạo giáo, hai truyền thống chủ lưu của Trung Quốc đều không thể giữ mãi một học thuyết cố định mà có sự ảnh hưởng, xâm nhập lẫn nhau Sự du nhập Phật giáo vào nội địa Trung Quốc vào khoảng giữa hai nhà Tây Hán và Đông Hán đầu thế kỷ thứ nhất đã làm cho tư tưởng đa dạng của Trung Quốc thêm lần nữa bị hòa trộn sâu xa Để phù hợp với văn hóa của vùng đất mới, Phật giáo phải tự thích nghi, chịu ảnh hưởng và ảnh hưởng lên các triết thuyết đương thời

Từ thời nhà Hán trở về sau, giữa các trường phái vẫn âm ỉ tình trạng phản bác nhau, thậm chí có khi diễn ra quyết liệt, nhưng quần chúng hồn nhiên chấp nhận những khía cạnh

bổ túc lẫn nhau của chúng đã ảnh hưởng ngược trở lại các nhà tư tưởng Từ đó xuất hiện truyền thống Tam giáo đồng nguyên gồm có:

Trang 19

Nho giáo phát triển từ nho Tiên Tần sang hình thức Tân Nho giáo

Đạo giáo trong cả hai hình thức triết học và tôn giáo

Phật giáo với rất nhiều hình thức tu tập trong tu viện và nghi lễ thờ phụng tại chùa và nhà

Khác với Nho giáo, Đạo giáo và Phật giáo đều đặt cơ sở trên cá nhân và có chiều hướng bác bỏ những gì bị áp đặt bởi trật tự kỷ cương cố định của xã hội Nói chung ở Trung Quốc, cả ba truyền thống ấy cùng nhập thể khái quát vào ý thức của người dân, được họ điều hòa bằng cách tùy nghi áp dụng vào từng tình huống đặc thù trong cuộc sống

Để có sự quân bình và thanh thoát trong cuộc đời, mỗi người có thể sống theo một số lời giảng của Đạo giáo Nhưng để tổ chức cộng đồng, thiết lập và duy trì phong tục tập quán, nghi thức giao tế xã hội, mỗi người trở thành người Nho giáo Khi đối mặt với khổ não của bản thân và tha nhân, để khuây khỏa, tìm cách vượt qua nó và sống với lòng từ bi cho tới chết, mỗi người có thể là người Phật giáo

Người Á Đông nói chung và Trung Quốc nói riêng, hầu như không cảm thấy có nhu cầu phải phân ranh rạch ròi hoặc hòa giải những dị biệt của Nho, Phật, Đạo Về phương diện minh triết tổng thể, mỗi học thuyết đều có những đóng góp cụ thể, thích đáng và thiết yếu để giáo hóa con người, làm nơi nương tựa và cung cấp cho nó cách thông giải khá an tâm khi giáp mặt cuộc đời Thêm nữa, đối với họ, về phương diện thực dụng, mỗi học thuyết đều có khả năng đáp ứng một số khía cạnh nhất định của mỗi tình huống đặc thù

Một cách tổng quát, ta có thể phát biểu rằng, cả ba trường phái ấy đều không độc quyền đòi hỏi lòng trung thành theo kiểu các tôn giáo độc thần như Do Thái giáo, Cơ-đốc giáo hoặc Hồi giáo Người Á Đông chấp nhận một cách vô thức hoặc có ý thức sự hòa đồng của tam giáo Theo từng giai đoạn trong cuộc đời, họ rút ra từ mỗi truyền thống những gì được họ cảm thấy thích đáng nhất cho mỗi tình huống cá nhân và từng hoàn cảnh xã hội cá biệt của mình

1.2.2 Âm Dương gia

Một trong những trào lưu tư tưởng triết học cổ đại cố gắng tìm hiểu, giải thích căn nguyên cơ cấu của vũ trụ với quan điểm duy vật chất phát và tư tưởng biện chứng tự phát, lấy chính tự nhiên để giải thích các hiện tượng của tự nhiên, đó là học thuyết Ngũ Hành và học thuyết Âm Dương

Mới đầu, Âm Dương chỉ là những quan niệm sơ khai phát sinh trong thời kỳ Thương, Chu, là kết quả của quá trình khái quát những kinh nghiệm thực tiễn lâu dài trong lao động sản xuất, đấu tranh khắc phục thiên nhiên của nhân dân Trung Quốc thời cổ Sau đó nó được phát triển phong phú ở những thế kỷ thứ III TCN về sau

1.2.1.1 Học thuyết Ngũ Hành

“Ngũ Hành” theo truyền thuyết đã có trong văn bản viết vào khoảng thế kỷ XX TCN Nhưng quan niệm đầu tiên chính xác về “Ngũ Hành” được thấy trong “Kinh Thư”, dưới cái tên “Phạm Hồng” (nghĩa là Khuôn lớn), “Cửu Trù” (9 phép tắc, chín phạm trù trị nước đó là: Ngũ hồng, Ngũ vị, Bát chính, Ngũ kỷ, Hoàng cực, Tam đức, Kê nghi, Thứ trưng, Ngũ phước)

Trang 20

Đầu thế kỷ IV đến thế kỷ III TCN, các nhà triết học đã phát triển quan điểm Ngũ Hành với các ý nghĩa khác nhau, nhất là việc vận dụng học thuyết Ngũ Hành vào giải thích các hiện tượng xã hội, làm cho học thuyết Ngũ Hành càng có ý nghĩa quan trọng Trong đó Trâu Diễn (thế kỷ III TCN) là một trong những nhân vật đại diện nổi tiếng của các Âm Dương gia thời

kỳ đó

“Ngũ Hành” thường được hiểu là 5 yếu tố cơ bản đầu tiên hay 5 thứ khí của vũ trụ gồm Kim (kim khí), Mộc (gỗ), Thủy (nước), Hỏa (lửa), Thổ (đất) Theo các Âm Dương gia, mỗi yếu tố trong Ngũ Hành có những đặc điểm và tính chất riêng và những thuộc tính ấy của

5 khí gọi là năm “đức”: nước thì lạnh và luôn chảy xuống thấp; lửa thì nóng và bốc lên cao;

gỗ có tính chất uốn cong lại và thẳng ra; kim khí thì có tính chất phụ thuộc vào biến đổi bởi tác động, ảnh hưởng bên ngoài; đất thì tiếp nhận hạt giống và làm mùa Trong đó, nước tạo nên vị mặn, lửa tạo nên vị đắng, gỗ tạo nên vị chua, kim loại tạo nên vị cay Sự tiếp nhận gieo hạt giống và làm mùa của đất tạo nên vị ngọt

Là những yếu tố cơ bản, đầu tiên của vũ trụ, những năng tính của 5 vật chất: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ quy định tính chất, chủng loại, nguồn gốc của vạn vật trong giới tự nhiên Hỏa có tính chất nóng tạo nên mùa Hạ, là chủ và hành mạnh ở phương Nam và màu

đỏ Mộc tượng trưng cho thực vật, có năng tính sinh trưởng, nên hình thành mùa Xuân, chủ phương Đông và là màu xanh Kim có tính chất khô cứng, hành mạnh ở mùa Thu, và khô khan, có giá, lá rụng và chủ phương Tây, màu trắng Thủy giá lạnh tạo nên mùa Đông, hành mạnh và chủ về phương Bắc, màu đen Còn Thổ là hành chính của Ngũ Hành, giúp cho các hành và các mùa biến chuyển, nên nó được coi là vị trí trung tâm của bốn mùa, hành mạnh vào khoảng giữa mùa Hạ và mùa Thu

Các Âm Dương gia cũng coi sự thay đổi của ngày đêm là sự thu gọn của các mùa trong một năm, ứng với sự luân chuyển của Ngũ Hành: buổi sáng tương ứng với mùa Xuân do hành Mộc làm chủ Buổi trưa tương ứng với mùa Hạ, do hành Hỏa làm chủ Buổi chiều tương ứng với mùa Thu do hành Kim làm chủ Buổi tối ứng với mùa Đông do hành Thủy làm chủ

Ngũ Hành không chỉ biểu hiện những hiện tượng tự nhiên mà con biểu hiện tính chất, năng lực của con người cũng như các quan hệ xã hội và các biến cố lịch sử

Các yếu tố của Ngũ Hành không tồn tại tĩnh tại, bị động mà chúng là những yếu tố hoạt động, liên hệ, tương tác thâm nhập nhau, nên còn gọi là năm tác nhân Các Âm Dương gia đã chia sự tác động lẫn nhau của Ngũ Hành thành hai quá trình: tương sinh và tương khắc

“Ngũ Hành tương sinh” là quá trình các yếu tố trong Ngũ Hành tác động, chuyển hóa lẫn nhau, tạo ra sự biến chuyển liên hoàn trong vũ trụ Gỗ cháy sinh ra lửa, lửa thiêu cháy mọi vật sinh ra đất, đất sinh ra các thể rắn, các thể rắn nóng chảy thành nước

“Ngũ Hành tương khắc” là quá trình các yếu tố trong Ngũ Hành đối lập với các yếu tố kia, tạo ra sự ràng buộc, chế ước lẫn nhau giữa chúng Mộc thắng Thổ vì rể cây ăn vào đất, Thổ thắng Thủy vì đất thấm và ngăn chặn được dòng nước, Thủy thắng Hỏa vì nước lạnh, làm

hạ nhiệt và dập tắt lửa, Hỏa thắng Kim vì lửa làm nóng chảy, biến dạng kim loại, Kim thắng Mộc vì Kim có thể cưa, chặt cây cối

Theo các Âm Dương gia, thế lực của 5 thứ vật chất cơ bản ấy luôn bồi đắp, tiêu diệt và thay thế nhau chiếm địa vị thống trị theo trật tự “tương sinh” và “tương khắc”; một khi thứ

Trang 21

“đức” này thay thế cho một thứ “đức” khác thì sự vật trong thế giới phải biến đổi theo Họ cho rằng sự thay đổi của thời tiết bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông là căn cứ theo trật tự “Ngũ Hành tương sinh”: khi “đức Mộc” chiếm địa vị thống trị thì hình thành mùa Xuân; khi “đức Hỏa” chiếm địa vị thống trị thì hình thành mùa Hạ; khi “đức Kim” chiếm địa vị thống trị thì hình thành mùa Thu; khi “đức Thủy” đương vị thì hình thành mùa Đông Ở đây các Âm Dương gia đã cố gắng vận dụng trình tự thay đổi của “năm đức” để giải thích tính tất nhiên khách quan của mỗi giai đoạn trong quá trình phát triển của sự vật Đó là quan niệm có khuynh hướng máy móc, kinh nghiệm về sự phát triển của sự vật, hiên tượng

Ứng dụng quan niệm đó vào lịch sử xã hội, các Âm Dương gia cho rằng quá trình của lịch sử loài người cũng bị năm thế lực ấy chi phối và tuân theo sự biến đổi của Ngũ Hành

Theo các Âm Dương gia, vì Ngũ Hành chi phối đời sống con người và mọi biến cố lịch sử nên trong cuộc sống mọi hoạt động của con người phải tuân theo sự biến hóa của Ngũ Hành, nếu không sẽ bị trừng phạt bởi những hiện tượng bất thường trong tự nhiên

Với quá trình lịch sử, các Âm Dương gia cho rằng sự xuất hiện của mỗi triều vua trong lịch sử đều thể hiện một thứ thế lực và sự phát triển của lịch sử là dựa theo trình tự

“Ngũ Hành tương khắc” Họ nói triều nhà Chu lật đổ triều nhà Ân là thể hiện quy luật “Hỏa thắng Kim” và họ xem thời đại lúc bấy giờ là thời đại của 5 đức “thay đổi nhau”, lấy “đức Thủy” là đức của nhà Tần mọi việc phải phỏng theo hành Thủy, đổi đầu năm, việc triều cống, chúc mừng bắt đầu từ mùng một tháng mười Áo quần, cờ tiết, cờ mao đều dùng màu đen, lấy

số sáu làm đơn vị, các phù, các mũ đều dài 6 tấc, trục xe 6 thước, 6 thước làm một bộ…, sông Hoàng đổi thành “Thủy đức”, cai trị cũng tuân theo “đức Thủy” cứng rắn, nghiêm nghị, mọi việc đều dùng pháp luật để quyết định, khắc bạc, không dùng nhân đức, ân nghĩa

Tóm lại học thuyết Ngũ Hành là kết quả khái quát những kinh nghiệm thực tiễn lâu dài của nhân dân Trung Quốc thời cổ đại Do vậy tư tưởng về nguồn gốc cấu tạo của vạn vật trong học thuyết Ngũ Hành tuy mang tính chất trực quan, chất phác nhưng bộc lộ ra khuynh hướng duy vật của nó

Quan niệm về “Ngũ Hành tương sinh” và “Ngũ Hành tương khắc” của học thuyết Ngũ Hành cũng là một cống hiến quan trọng đối với việc phát triển tư tưởng biện chứng của triết học Trung Quốc cổ đại Tuy còn mang tính chất tự phát, chủ yếu miêu tả sự biến đổi có tính chất bề ngoài và quan niệm quá trình vận động của sự vật lặp lại, tuần hoàn khép kín, nhưng học thuyết Ngũ Hành đã vẽ nên bức tranh chung, sống động của hiện thực, trong đó vạn vật tương tác, thâm nhập, chuyển hóa lẫn nhau và biến đổi không ngừng

Các Âm Dương gia vận dụng học thuyết Ngũ Hành để giải thích các lĩnh vực lịch sử,

xã hội, tuy họ đã nhìn thấy tính tất yếu biến động của lịch sử, nhưng họ đã rơi vào khuynh hướng duy tâm và thần bí và thuyết lịch sử tuần hoàn Do vậy, học thuyết Ngũ Hành không chỉ ra được động lực thực sự của sự phát triển xã hội, và nó đã được nhiều thế lực cầm quyền trong các triều đại Trung Quốc khai thác, sử dụng như một công cụ để duy trì và củng cố địa

vị thống trị của mình

Trang 22

1.2.1.2 Học thuyết Âm Dương

Cùng với học thuyết Ngũ Hành, học thuyết Âm Dương là quan điểm về vũ trụ quan trọng nhất của triết học Trung Quốc cổ đại

Nếu như học thuyết Ngũ Hành chủ yếu giải thích cơ cấu vũ trụ thì học thuyết Âm Dương lại đi sâu lý giải nguồn gốc và sự biến đổi của vạn vật trong thế giới

Quan điểm về “Âm”, “Dương” đã được nói đến trong sách “Quốc ngữ” (viết vào thế

kỷ IV TCN) Trong “Chu ngữ”, cũng viết: “Từ sự hiểu biết thiên văn học, hấp thu quan niệm

Âm Dương”, Bá Đương nhân vụ địa chấn năm 780 TCN đã thốt ra câu nói: “Dương ẩn không thể hiện ra, Âm ép không lối thoát, thời địa trấn sinh” (Lê Văn Anh, Phạm Hồng Việt 2011

Tr 21)

Học thuyết Âm Dương, đặc biệt được thể hiện trong tư tưởng của “Kinh Dịch”, tác phẩm cổ điển vĩ đại nhất của Trung Quốc cổ đại Trong “Kinh Dịch” phần số là phần vũ trụ luận, nếu đem áp dụng vào việc người thì thành ra việc bói toán, phần lý chú trọng nhiều về nhân sinh quan Vì thế ý nghĩa triết lý vũ trụ và nhân sinh quan của “Kinh Dịch” hết sức phong phú và sâu sắc

Dịch có Thái cực, Thái cực sinh Lưỡng nghi (nghi Âm và nghi Dương), Lưỡng nghi sinh Tứ tượng: Thái dương, Thiếu dương, Thái âm, Thiếu âm Đây là bốn biểu tượng cho bốn yếu tố vật lý của tự nhiên là lửa, kim khí, nước và gỗ

Tứ tượng sinh Bát quái (tám quẻ), tượng trưng cho tám yếu tố vật chất cơ bản của thế giới Mỗi quẻ gồm ba vạch đứt biểu tượng cho khí Âm hay ba vạch liền biểu tượng cho khí Dương, chồng lên nhau, theo thứ tự: Kiền là trời, Khôn là đất, Chấn là sấm, Tốn là gió, Khảm

là nước, Ly là lửa, Cấn là núi, Đoài là đầm, hồ

Lấy mỗi quẻ trong tám quẻ ấy lần lượt chồng lên nhau tạo 64 quẻ kép gọi là Trùng quái Trùng quái sinh vạn vật Mỗi quẻ kép có sáu hào (vạch), ba vạch trên là quẻ ngoại, ba vạch dưới là quẻ nội, tổng cộng có 384 hào

Trong Kinh Dịch có ba điểm căn bản: một là Dịch, hai là Tượng, ba là Từ Tư tưởng cốt yếu của Kinh Dịch là vạch ra trạng thái luôn biến hóa của vạn vật, nguyên nhân biến đổi không ngừng của vạn vật là do sự liên hệ, tác động giữa hai nguyên động lực của vũ trụ: Âm, Dương, cương, nhu, vừa đối lập, vừa ràng buộc, tương tác, bồi bổ lẫn nhau trong Thái cực

Sự biến dịch của vạn vật được biểu hiện qua các quẻ Các quẻ đều tượng trưng ý nghĩa nào đó về sự vật, hiện tượng, gọi là Tượng Vậy Tượng là nguyên bản để làm mẫu, vật là cái được mô phỏng theo nguyên mẫu mà thành vậy Vì thế Kinh Dịch mới nói “Dịch là Tượng vậy, Tượng là phỏng theo vậy”

Nhưng nếu chỉ dựa vào Tượng biểu thị được ý tượng thôi thì không đủ hiểu biết được vạn vật, nên phải có Từ (lời) để giải thích (nghĩa) được mọi điều hàm chứa trong quẻ, mọi điều hung, kiết, động tĩnh của Tượng

Về sau Khổng Tử và các Nho gia đã bàn và phát hiện thêm những ý nghĩa về vũ trụ quan và nhân sinh quan của Kinh Dịch Những phần này làm thành Dịch truyện, hiện nay còn

có trong Kinh Dịch gồm 10 thiên truyện

Trang 23

Theo thuyết Âm Dương, nguyên lý tối cao và nguồn gốc biến hóa của mọi sự vật, hiện tượng trong vũ trụ là sự liên hệ, tác động của hai thế lực “Âm” và “Dương” trong Thái cực

Thái cực là nguyên thể đầu tiên trong thế giới, tồn tại cùng khắp vũ trụ “Khí‟ hay Thái cực bao hàm trong nó hai mặt đối lập “Âm” và “Dương” “Dương” nguyên nghĩa là ánh sáng mặt trời và những gì thuộc về ánh sáng mặt trời “Âm” là bóng tối và những gì thuộc về bóng tối Trong sự phát triển về sau, “Âm” và “Dương” được coi là hai nguyên lý, hai thế lực căn bản của vũ trụ tiềm ẩn trong Thái cực, cấu tạo nên vũ trụ, biểu thị cho ánh sáng và bóng tối, nóng và lạnh, cương và nhu, động và tĩnh, thể chất và tinh thần, giống đực và giống cái,…

“Âm và “Dương” tồn tại chi phối mọi sự vật hiện tượng trong thế giới, từ tự nhiên đến

xã hội “Âm” và “Dương” là hai mặt, hai thế lực hoàn toàn đồng đẳng với nhau, vừa đối lập, vừa đun đẩy, chế ước nhau lại vừa liên hệ, hấp dẫn, tương tác, làm tiền đề tồn tại và bao hàm nhau, có mặt “Dương” mới có mặt „Âm”, trong khí “Dương” có khí “Âm” và trong khí “Âm”

có khí “Dương” Trời là Dương, nhưng trời lại có mặt trăng là Âm Đất là Âm nhưng đất lại

có ánh sáng, lòng đất có lửa thuộc khí Dương

Sự biến hóa của vạn vật là do sự tác động giữa hai thế lực “Âm”, “Dương” trong Thái cực, là quy luật phổ biến và tất yếu khách quan chi phối mọi lĩnh vực của hiện thực Từ đó

Âm Dương gia cho rằng, thế giới vận động vĩnh viễn và đưa ra quan niệm “ngày càng mới”

Họ đưa ra lý luận sự vật biến hóa luôn luôn phát triển theo chiều hướng mới và theo một quy luật nhất định

Với quan điểm đó, Âm Dương gia đã biểu hiện rõ tính chất duy vật và biện chứng tự phát khi giải thích về sự vận động, biến đổi của sự vật, hiện tượng trong thế giới Tuy nhiên,

họ vẫn hiểu quá trình vận động chung của thế giới là quá trình tuần hoàn, luật biến hóa cơ bản của sự vật “ngày càng mới” và biến đổi chỉ là một giai đoạn trong quá trình tuần hoàn chung

mà thôi

Tóm lại, cũng như học thuyết Ngũ Hành, học thuyết Âm Dương đã thể hiện quan điểm duy vật thô sơ và tư tưởng biện chứng tự phát trong việc giải thích các sự vật, hiện tượng, quá trình của vũ trụ Tuy việc vận dụng học thuyết này vào giải thích các hiện tượng xã hội đã mang màu sắc thần bí, duy tâm, song tư tưởng của Âm Dương gia vẫn là vũ trụ quan quan trọng nhất, chi phối hầu hết thế giới quan của các trào lưu triết học Trung Quốc cổ đại Hơn thế tư tưởng của nó còn ảnh hưởng sâu sắc đến các lĩnh vực đời sống xã hội, không chỉ đối với nhân dân Trung Quốc mà còn đối với nhiều dân tộc khác nhau ở phương Đông, trước đây cũng như ngày nay

1.2.3 Nho gia (Nho giáo)

1.2.3.1 Khái quát Nho giáo thời cổ đại

Nho gia, Nho giáo là những thuật ngữ bắt nguồn từ chữ “Nho” Theo Hán tự, “Nho” là chữ “nhân” (người) đứng cạnh chữ “nhu” (cần, chờ đợi) Nho gia còn gọi là nhà Nho, người

đã đọc thấu sách thánh hiền, được thiên hạ trọng dụng để dạy bảo người đời để ăn ở cho hợp với luân thường đạo lý Trước thời Xuân Thu, nhà Nho được gọi là “Sĩ‟, chuyên học văn chương và lục nghệ để góp phần trị vì đất nước Đến đời mình, Khổng Tử đã hệ thống hóa những tư tưởng và tri thức trước đây thành học thuyết, gọi là Nho học hay Nho giáo

Trang 24

Cơ sở của Nho giáo được hình thành thời Tây Chu Từ đầu thời Tây Chu, nhà Chu đã chủ trương dùng “đức” để trị nước Chu Công Đán còn đặt ra lễ, nhạc, luật, lệnh, chủ trương phải “làm sáng cái đức và cẩn thận về hình phạt” Do đó, Chu Công Đán được coi là người đặt cơ sở đầu tiên cho tư tưởng Nho gia Đến thời Xuân Thu, xã hội loạn lạc, Khổng Tử phát triển tư tưởng của Chu Công, hệ thống hóa và tích cực truyền bá các tư tưởng đó Chính vì thế, người đời sau coi ngài là người sáng lập ra Nho giáo

Thời Xuân Thu, Đức Khổng Tử đã san định, hiệu đính và giải thích bộ Lục Kinh gồm

có Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Lễ, Kinh Dịch, Kinh Xuân Thu và Kinh Nhạc Về sau Kinh Nhạc bị thất lạc nên chỉ còn năm bộ Kinh, thường được gọi là Ngũ Kinh Sau khi Đức Khổng

Tử mất, học trò của ngài tập hợp các lời dạy để soạn ra cuốn Luận Ngữ Học trò xuất sắc nhất của Khổng Tử là Tăng Sâm, còn gọi là Tăng Tử, dựa vào lời thầy mà soạn ra Đại Học Sau

đó, cháu nội của Khổng Tử là Khổng Cấp, còn gọi là Tử Tư viết ra cuốn Trung Dung Đến thời Chiến Quốc, Mạnh Tử đưa ra các tư tưởng mà sau này học trò của ông chép thành sách Mạnh Tử Bốn sách sau được gọi là Tứ Thư và cùng Ngũ Kinh hợp lại làm 9 bộ sách chủ yếu của Nho giáo – bộ kinh điển của Nho giáo mà nho gia gối đầu và sĩ tử phải học tập để chuẩn bị khoa cử Từ năm 221 TCN trở về trước thường gọi là Nho giáo tiên Tần (trước đời Tần), Khổng giáo hay tư tưởng Khổng-Mạnh

Ngũ Kinh

Kinh Thi, gồm 300 bài thơ sưu tập từ thế kỷ XI tới thế kỷ VI TCN do sử quan các nước chư hầu, các nhạc sư vương triều Chu biên tập lại Nội dung chia làm:

Phong: chỉ phong tục, phần lớn là thơ dân dã

Nhã: các bài ca trong cung đình

Tụng: thơ về sinh hoạt xã hội và nhạc ca tông miếu

Kinh Thi rất có giá trị về nghệ thuật và sử liệu Ban đầu chỉ được gọi là Thi, sau vì Nho gia tôn lên hàng kinh điển nên gọi là Kinh Thi

Kinh Thư, còn gọi là Thượng Thư Sách ghi chép các lời bảo ban và khuyên răn của nhà vua thuộc ba triều đại Hạ, Thương, Chu Tương truyền, Khổng Tử duyệt và xếp thành

100 thiên nhưng về sau nguyên bản bị cháy trong lửa đốt của nhà Tần, Tới thời Hán Võ đế, phát hiện một bản Thượng Thư viết bằng chữ khoa đẩu trong vách nhà cũ của Khổng Tử Ban đầu chỉ gọi là Thư, từ đầu thời Chiến Quốc tới nay, Nho gia tôn là Kinh Thư

Kinh Lễ và Kinh Nhạc, gồm những lời bàn luận đối đáp của các nho gia thời Chiến Quốc về nghi lễ và phong tục, tôn giáo, tế tự, hiếu hỉ Quan điểm chủ yếu cốt ở lòng thành kính Còn Nhạc là để giúp cho Lễ được long trọng Kinh Nhạc bị cháy gần như toàn bộ trong lửa của Tần Thủy Hoàng, chỉ còn một thiên “Nhạc ký” chép trong Kinh Lễ

Kinh Dịch, cuốn sách không bị Tần Thủy Hoàng đốt Truyền thuyết vua Phục Hy (4477 – 4363 TCN) xét lẽ Âm Dương biến hóa mà đặt ra quy luật biến dịch của nhân sinh vũ trụ, gồm bát quái chồng lên nhau thành 64 quẻ và 384 hào Đây là tác phẩm triết học sâu xa và quan trọng của Nho giáo, cùng thường được dùng làm sách bói Khổng Tử đọc nhiều lần tới nỗi sách đứt lề ba lần mà còn thở than rằng: “Giá trời cho ta thêm vài năm nữa để học Chu

Trang 25

Dịch đến nơi đến chốn, mới khỏi mắc lỗi lớn vậy” Theo truyền thuyết, Khổng Tử nương theo những lời giảng của người xưa mà viết thêm lời Truyện cho mỗi quẻ

Kinh Xuân Thu, đây mới đích thực là tác phẩm do chính Khổng Tử viết về Sử theo lối biên niên với ý nghĩa hai mùa Xuân Thu chỉ cho một năm Dựa vào sử liệu cũ về các biến cố xảy ra giữa thiên tử và các chư hầu từ năm 722 đến năm 481 TCN, Khổng Tử chép vắn tắt, cân nhắc từng câu chữ với quan điểm chính trị “Chính Danh, định phận”, chủ yếu tôn vua nhà Chu và xác định giá trị chính tà trong mỗi hành động của từng nhân vật liên quan Người đời sau cho rằng, “Người nào được ngài khen một câu thì vinh như mặc áo cổn (áo lễ của vua), kẻ nào bị chê một câu thì nhục như chịu tội búa rìu” Chính Khổng Tử cũng nói, “Hiểu ta là tại kinh Xuân Thu chăng, kết tội ta cũng tại kinh Xuân Thu chăng?”

Tóm lại, trong những lời dạy của Khổng Tử, Ngũ Kinh có vai trò rất lớn

Tứ Thƣ

Đại Học, sách dạy về luân lý, dành cho nho sinh trên 15 tuổi đã vào bậc cao đẳng Sách do Tăng Sâm, học trò của Khổng Tử ghi theo lời của thầy và chia thành 10 chương Sách triển khai ba điều cốt yếu là minh đức, thân dân, chí ư chí thiện, và tám điều chuyên chú

là cách vật, trí tri, thành ý, chính tâm, tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ

Trung Dung, sách gồm những lời của Khổng Tử dạy cho học trò rồi được cháu nội là Khổng Cấp, hiệu là Tử Tư, học trò của Tăng Sâm chép lại và hệ thống hóa tư tưởng Trung Dung của Khổng Tử Tử Tư dẫn lời giảng của Khổng Tử rằng: “Trung hòa là tính tự nhiên của trời đất, Trung Dung là đức hạnh của con người” Trung là chính giữa, không lệch về bên nào, Dung là bình thường, không thái quá, không bất cập Cao thấp, dễ khó, cảnh ngộ nào cũng có thể lấy thái độ Trung Dung mà cảm thụ và ứng xử Trung là chính đạo của thiên hạ: Dung là định luật của thiên hạ Người theo đạo Trung Dung cần Trí để hiểu rõ sự lý, Nhân để biết điều lành mà làm, Dũng để có khí cường kiện mà tiến hành tới cùng

Luận Ngữ, sách ghi lại dung mạo, phong thái và lời bàn luận của Khổng Tử khi dạy học trò hoặc nói với người đương thời Nội dung đề cập tới đủ loại vấn đề như triết học, chính trị, tôn giáo, cách tiếp nhân xử thế và tâm lý người đời Sau khi Khổng Tử qua đời, các đệ tử nhớ lại những lời ngài đã dạy bảo và cùng nhau ghi chép, trong đó còn có những câu do đệ tử của ngài nói ra Đây là cuốn kinh điển chủ yếu của học thuyết Khổng Tử

Mạnh Tử, sách do môn đệ của Mạnh Tử ghi chép tư tưởng của thầy và được ông đích thân duyệt lại Sách luận đàm về những đề tài nổi bật trong học thuyết của Mạnh Tử, gồm: con người tính bổn thiện; tồn tâm, dưỡng khí, trì chí; quan điểm dân vi quý; trị quốc bằng thuyết Nhân chính

Nho giáo đã phát triển qua nhiều thời đại khác nhau, mỗi giai đoạn đều có những người đại diện cho nó mà Khổng Tử, Mạnh Tử, Tuân Tử được coi là những Đại Nho ở thời Trung Quốc cổ đại

1.2.3.2 Tư tưởng Khổng Tử

Khái quát thân thế, sự nghiệp Khổng Tử

Khổng Tử (551 – 479 TCN) tên là Khâu, tự là Trọng Ni, người nước Lỗ (tỉnh Sơn Đông ngày nay) Khổng Tử sinh ra trong một gia đình quan võ của triều đình nước Lỗ, có

Trang 26

học vấn uyên bác Ông sống trong cảnh xã hội loạn lạc triền miên, vua chúa chém giết nhau

để xưng hùng, xưng bá, chuyên lo hưởng thụ, luân thường, đạo lý xã hội bị xáo trộn, ác thiện khó phân biệt Khổng Tử muốn đem tài sức của mình để giúp các thế lực cầm quyền bình thiên hạ

Thời trẻ, Khổng Tử đã từng làm Ủy lại (kế toán), Thừa điền (quản lý chăn nuôi gia súc) cho họ Quý Tôn ở nước Lỗ, nhưng phần lớn thời gian ông mở trường dạy học Năm 50 tuổi, Khổng Tử được vua Lỗ cử làm Trung đô tể, chức quan đứng đầu kinh thành, năm sau giữ chức Tư khấu (tương tự như Thượng thư bộ Hình, nay tương đương với Bộ trưởng bộ Tư pháp) Sau 3 năm hoặc 4 năm ông được thăng lên quyền thủ tướng (theo cách gọi ngày nay)

Vì không hài lòng với cách trị nước và thái độ đối xử của vua Lỗ, Khổng Tử rời khỏi đất nước mình, đi đến các nước Vệ, Tống, Trần, Thái, Tề, Sở… mong được tiến thân nhưng không được toại nguyện Sau 13 năm chu du các nước, đến năm 68 tuổi (năm 484 TCN), Khổng Tử lại về nước Lỗ dạy học Tương truyền, trước sau số học trò của Khổng Tử có đến 3.000 người, trong đó có 72 người thành đạt, sử sách thường gọi là “thất thập nhị hiền” Đồng thời với việc dạy học, Khổng Tử còn chỉnh lí, biên soạn các sách Thi, Thư, Lễ, Nhạc, Dịch, Xuân Thu Thời Tần Thủy Hoàng với chính sách “đốt sách, chôn nho”, sách của Khổng Tử không còn được là bao Trong đó số sách Nhạc bị thất truyền, 5 loại sách còn lại người đời sau sưu tầm, bổ sung trở thành 5 tác phẩm kinh điển của nhà Nho, được gọi chung là Ngũ Kinh

Khổng Tử từ trần, thọ 73 tuổi Mộ của ông nay ở Khổng Lâm, cách huyện Khúc Phụ 3 cây số, thuộc tỉnh Sơn Đông Trước đó, Khổng Tử đã tổng kết cuộc đời của mình: “Ta mười lăm tuổi để chí vào việc học, ba mươi tuổi đã vững chí; bốn mươi tuổi tâm trí sáng suốt, không còn nghi hoặc về đạo lý nữa, năm mươi tuổi biết được mệnh trời; sáu mươi tuổi nghe điều gì là hiểu ngay; bảy mươi tuổi lòng ta muốn gì cũng không hề sái phép” Bảy ngày trước khi giã từ cuộc thế, ngài nói với Tử Cống, môn đệ duy nhất còn ở bên cạnh rằng: „Thiên hạ loạn từ lâu mà không thấy có ông vua nào chịu theo lời khuyên của thầy Thầy sắp đi đây” (Nguyễn Ước 2009 Tr 288)

Những lời nói của Khổng Tử và những câu hỏi của học trò của Khổng Tử được chép lại thành sách Luận Ngữ Đến đời Tống sau này, Luận Ngữ trở thành một tác phẩm trong Tứ Thư

Nội dung tư tưởng của Khổng Tử

Về mặt triết học

Do ít quan tâm đến vấn đề nguồn gốc của vũ trụ nên Khổng Tử đã thể hiện một thái độ không rõ rệt về trời đất, quỷ thần Một mặt ông cho rằng trời chỉ là giới tự nhiên, trong đó bốn mùa thay đổi, trăm vật sinh trưởng; nhưng mặt khác, ông lại cho rằng trời là một lực lượng có thể chi phối số phận và hoạt động của con người, do đó con người phải sợ mệnh trời

Đối với quỷ thần, một mặt Khổng Tử tỏ thái độ hoài nghi khi nói rằng: Chưa biết được việc thờ người, làm sao biết được việc thờ quỷ thần, chưa biết được việc sống, làm sao biết được việc chết, nhưng mặt khác, ông lại coi trọng việc cúng tế, tang ma và cho rằng tế thần xem như có thần

Trang 27

Về mặt đạo đức

Khổng Tử đề cập đến các khía cạnh Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Dũng… trong đó ông nhấn mạnh nhất là Nhân

“Nhân” không chỉ nói riêng một đức tính nào đó mà chỉ chung mọi đức tính Người có

“Nhân” đồng nghĩa với người hoàn thiện nhất nên “Nhân” là nghĩa rộng nhất của đạo làm người “Nhân” một mặt là lòng thương người, điều mà mình không muốn thì đừng làm cho người khác, trái lại, mình muốn lập thân thì giúp người khác lập thân, mình muốn thành đạt thì cũng giúp người khác thành đạt Đối với bản thân, muốn thực hiện được điều Nhân thì phải biết kiềm chế mình làm theo đúng Lễ, nếu không hợp với Lễ thì không nhìn, không hợp với Lễ thì không nghe, không hợp với Lễ thì không nói, không hợp với Lễ thì không làm Ngoài ra, Nhân còn bao gồm các nội dung khác như cung kính, nghiêm túc, thành thật, dũng cảm, rộng lượng… Như vậy, Nhân là một phạm trù rất rộng, hầu như đồng nghĩa với đạo đức Đánh giá vai trò của đức Nhân, Khổng Tử cho rằng nếu tâm của con người luôn hướng về

“Nhân” thì không bao giờ con người nghĩ đến chuyện phiến loạn, do đó miệng không nói bậy

mà thân không dấn vào việc ác Đối với người cầm quyền, đức Nhân như một thành trì vững chắc để giữ gìn và bảo vệ những gì họ đã đạt được

Bên cạnh Nhân, Khổng Tử còn rất chú trọng đến Lễ, nhưng Lễ theo Khổng Tử không phải là một tiêu chuẩn đạo đức hoàn toàn độc lập, mà là một vấn đề luôn luôn gắn liền với Nhân Trong mối quan hệ giữa Nhân và Lễ, Nhân là gốc, là nội dung, còn Lễ là biểu hiện của Nhân: trong các lễ xa xỉ chẳng bằng tiết kiệm, trong lễ tang, đầy đủ mọi nghi thức chẳng bằng thương xót Người không có lòng Nhân thì thực hành Lễ sao được? Nói về Lễ thì không phải chỉ có lụa ngọc mà thôi

Lễ không chỉ là biểu hiện của Nhân mà Lễ còn có thể điều chỉnh đức Nhân cho đúng mực: cung kính mà không biết Lễ thì mệt nhọc, cẩn thận mà không biết Lễ thì nhút nhát, dũng cảm mà không biết Lễ thì làm loạn, thẳng thắn mà không biết Lễ thì làm phật ý người khác

Lễ ở Khổng Tử là những phong tục, tập quán, những quy tắc quy định trật tự xã hội và cả thể chế pháp luật nhà nước như: sinh, tử, tang, hôn, tế lễ, triều sính, luật lệ, hình pháp…

“Nghĩa”, theo nghĩa đen là thích hợp, hành động thích hợp với Nhân, hợp với đạo lý của Nho giáo, đối lập với lợi Nghĩa tức là thể hiện Nhân bằng hành động Khổng Tử xem Nghĩa là tiêu chuẩn của mọi hành động Người quân tử chuyên chú theo điều Nghĩa, không mưu lợi lộc, chỉ vì làm sáng đạo mà không tiếc công sức Khổng Tử nói: Người quân tử rành

về điều Nghĩa, kẻ tiểu nhân rành về điều lợi

“Trí” được hiểu là sự minh mẫn nói chung để phân biệt, đánh giá con người và tình huống, qua đó xác định cho mình cách ứng xử cho phải đạo Theo Khổng Tử, phải có Trí, con người mới đạt được đức Nhân, nên không thể là người có Nhân lại thiếu Trí Khổng Tử cho rằng tri thức là tối thượng và Trí không phải ngẫu nhiên mà có, mà đó là kết quả của quá trình học hỏi

“Dũng”, với Khổng Tử, người muốn đạt Nhân chỉ có Trí thôi chưa đủ, mà cần phải có dũng khí nữa Ông khẳng định: kẻ Nhân tất có Dũng, nhưng người Dũng chưa chắc có Nhân Người có Dũng không phải là kẻ ỷ vào sức mạnh, vì lợi ích mà suy nghĩ và hành động bất chấp đạo lý Người Nhân có Dũng phải là người có thể tỏ rõ ý kiến của mình một cách cao

Trang 28

minh, có thể hành động một cách thanh cao khi vận nước loạn lạc, khi người đời gặp phải hoạn nạn Người Nhân có Dũng mới tự chủ được mình, mới quả cảm xả thân vì Nghĩa, lập Nhân và đạt Nhân Khi cơn thiếu thốn cực khó không nao núng làm mất nhân cách của mình, khi đầy đủ sung túc không ngả nghiêng xa rời đạo lý Hơn thế, người Nhân có Dũng sẽ sẳn sàng vì Nhân mà sát thân, chứ không phải giữ mạng sống của mình mà hại người

Về chính trị - xã hội

Nếu thịnh đức của trời đất là sinh thành, là chí thiện, thì cái gốc của con người là Nhân, nhờ đó mà dân tốt, nước yên, thiên hạ bình trị Nhưng xã hội thời Khổng Tử, người ta sống không theo đạo lý của con người nữa: trật tự lễ nghĩa xã hội xáo trộn, đạo đức suy vi, vua không ra vua tôi không ra tôi, cha không xứng danh cha, con không sống đúng đạo làm con, nhân nghĩa, trung, tín, hiếu, thành kính… lu mờ, đảo lộn Để cải biến xã hội đó, Khổng

Tử đưa ra học thuyết “Nhân trị” và “Chính danh định phận”, đó là hoài bão, ý nguyện kinh bang tế thế, gần như suốt đời của ông Dẫu cho người đời cười chê là người “biết việc chẳng làm được mà vẫn làm”, cho đến cuối đời, khi đã gắng hết sức mà không thành công, ông phải ngửa mặt lên trời cao mà an ủi mình “đó là mệnh trời”

Trung thành với nguyên lý đạo đức cơ bản trong triết học của mình, Khổng Tử phản đối việc nhà cầm quyền dùng pháp chế, hình phạt trị dân mà chủ trương “Nhân trị” Nguyên nhân khiến cho xã hội loạn lạc là do “Danh, Thực” rối loạn, xã hội đã xa rời đạo lý nhân nghĩa Muốn ổn định trật tự xã hội, ông chủ trương phải giáo dục đạo đức và thực hiện chủ nghĩa “Chính Danh định phận”

Khổng Tử cho rằng sự thay đổi của xã hội, làm thiên hạ rối ren không phải là nguyên nhân một sớm một chiều mà là một quá trình bắt nguồn từ một mối, đó là sự sa đọa của chính quyền Vì vậy, để khôi phục trật tự xã hội, Khổng Tử chủ trương thực hiện thuyết “Chính Danh” Ông cho rằng: trong xã hội, mỗi vật mỗi người đều có một công dụng nhất định, nằm trong một mối quan hệ nhất định, Mỗi vật, mỗi người đều có một địa vị nhất định tương ứng với nó là một danh nhất định Mỗi danh đều có một tiêu chuẩn riêng Vật nào, người nào mang danh nào phải thực hiện cho bằng được những tiêu chuẩn của danh đó, nếu không phải gọi bằng danh khác

Khổng Tử đã giải thích “Chính Danh” là làm mọi việc cho ngay thẳng “Chính Danh” thì người nào có địa vị, bổn phận chính đáng của người ấy, trên dưới, vua tôi, cha con trật tự phân minh Vua lấy Lễ mà khiến tôi, tôi lấy Trung mà thờ vua Vua cho ra vua, tôi cho ra tôi, cha cho ra cha, con cho ra con Đó là một nước thịnh trị, Lễ, Nghĩa, Nhân, Đức, Danh phận vẹn toàn Muốn trị nước, trước tiên phải sửa cho chính danh, nếu không chính danh thì lời nói

sẽ không đúng đắn, lời nói không đúng đắn sẽ dẫn tới việc thi hành sai Cho nên nhà cầm quyền xưng danh thì phải đúng với phận với nghĩa, đã xưng đúng với danh phận thì phải tùy theo đó mà làm

Khổng Tử chủ trương chia xã hội thành những quan hệ Mối quan hệ gọi là “Luân”

Có 5 quan hệ chính (ngũ luân) là vua tôi, cha con, chồng vợ, anh em, bạn bè (quân thần, phụ

tử, phu phụ, huynh đệ, bằng hữu) Mỗi quan hệ lại có những tiêu chuẩn riêng cho từng đối tượng: cha hiền con thảo, anh tốt em ngoan, chồng biết điều vợ nghe lẽ phải, bề trên rộng rãi

Trang 29

bề dưới kính trọng (thuận), vua nhân tôi trung Trong các quan hệ trên, Khổng Tử nhấn mạnh nhiều hơn đến quan hệ vua tôi và quan hệ cha con

Đối với quan hệ vua tôi, Khổng Tử chống việc ngôi vua duy trì theo huyết thống, tông tộc Ông cho rằng người cầm quyền phải có đức, tài mà không cần tính đến đẳng cấp xuất thân của người ấy Trong việc chính trị, vua phải biết trọng dụng người hiền đức, tài cán và rộng lượng với những kẻ cộng sự, vua phải tự mình làm thiện, làm phải trước thiên hạ để nêu gương và phải chịu khó lo liệu giúp đỡ dân Nhà cầm quyền phải thực hiện ba điều: bảo đảm

đủ lương thực cho dân được no ấm, phải xây dựng được lực lượng binh lực mạnh đủ để bảo

vệ dân, phải tạo lòng tin cậy của dân đối với mình Nếu bất đắc dĩ phải bỏ bớt những điều kiện trên thì trước hết hãy bỏ binh lực, sau đó đến bỏ lương thực, nhưng không thể bỏ lòng tin của dân đối với vua, nếu không, chính quyền xã tắc sẽ sụp đổ Ông cũng cho rằng dân đối với vua phải như đối với cha mẹ mình, phải tỏ lòng trung của mình đối với vua

Về đạo cha con, Khổng Tử cho rằng con đối với cha phải lấy chữ hiếu làm đầu và cha đối với con phải lấy lòng từ ái làm trọng Trong đạo hiếu của con đối với cha mẹ, dù rất nhiều mặt, nhưng cốt lõi phải ở tâm thành kính Đời nay hễ thấy ai nuôi được cha mẹ thì người ta khen là có hiếu, nhưng loài thú vật như chó ngựa người ta cũng nuôi được vậy Cho nên, nuôi cha mẹ mà chẳng kính trọng thì khác gì nuôi thú vật đâu

Như vậy, Khổng Tử không chủ trương ngu trung, ngu hiếu, không bắt buộc con người phải phục tùng bề trên vô điều kiện như nội dung trung, hiếu của Nho giáo sau này Đối với Khổng Tử, trong xã hội, Chính Danh là quan hệ hai chiều: quân có nhân thì thần mới trung, phụ có từ thì tử mới hiếu… mà công cụ để thực hiện mối quan hệ hai chiều này là đạo đức của xã hội

Trong việc trị nước cũng như tu thân, học đạo sửa mình để đạt được đức Nhân, Lễ được Khổng Tử rất chú trọng Lễ ở đây là những quy phạm, nguyên tắc đạo đức của nhà Chu Ông cho rằng, do vua không giữ đúng đạo vua, cha không giữ đúng đạo cha, con không giữ đúng đạo con… nên thiên hạ “vô đạo” Phải dùng Lễ để khôi phục lại trật tự, phép tắt, luân lý

xã hội, khiến cho mọi người trở về với Đạo, với Nhân và trở thành Chính Danh

Cùng với Lễ, Nhạc, Thi, Thư cũng là phương tiện để giáo hóa con người góp phần ổn định và phát triển xã hội Nhạc chính trực, trang nghiêm, hòa nhã có tác dụng dung dưỡng tính tình, cảm hóa lòng người, hướng tâm người ta tới chân, thiện, mỹ do sự ứng cảm trong tâm ta với sự hài hòa của âm nhạc Khổng Tử nói: “hưng khởi nhờ Thi, tạo lập là nhờ Lễ, thành đạt nhờ Nhạc” Tuy nhiên, nếu không có Nhân mà dùng Lễ, Nhạc thì chỉ là một cái hư văn, hình thức, sáo rỗng mà thôi

Về giáo dục

Trong việc giáo dục đạo đức, nhân nghĩa cho con người, một mặt Khổng Tử chủ trương “hữu giáo vô loại”, đây là quan điểm, là ý tưởng tiến bộ là đóng góp hữu ích của ông vào việc hoàn thiện và làm phong phú kho tàng lý luận giáo dục đạo đức cho nhân loại Đứng

ở phương diện này, ông không chỉ là nhà lý luận mà còn là nhà giáo dục lớn Nhưng mặt khác, vì hạn chế của điều kiện lịch sử và sự ràng buộc của lợi ích giai cấp, ông lại khẳng định rằng đức Nhân chỉ có thể có được ở người quân tử, mẫu người lý tưởng, những kẻ có địa vị xã hội Vì thế Khổng Tử luôn luôn phân biệt rõ sự đối lập giữa hai hạng người trong xã hội: quân

Trang 30

tử và tiểu nhân cả về tri thức, đạo đức, nhân cách, thái độ, hành động ứng xử và địa vị xã hội Ông khẳng định rằng, có thể có người quân tử bất nhân, nhưng chưa hề có người tiểu nhân có nhân

Mục đích cao nhất của học, theo Khổng Tử không chỉ để biết đạo mà để ra làm quan, tham gia việc chính trị quốc gia Trong lúc xã hội rối ren không ra làm quan không phải là kẻ trí, không ra giúp đời không phải là người nhân

Đối với Khổng Tử, việc dạy học chủ yếu là dạy kẻ cầm quyền trị dân “tu lễ nghĩa tín… khiến dân từ bốn phương sẽ đưa con đến phục dịch mình… chứ không phải học nghề cày cấy” Ông cho lao động chân tay là nghề tầm thường

Theo Khổng Tử, học phải cố gắng nỗ lực không mệt mỏi “Kẻ nào không cố công tìm hiểu ta chẳng dạy cho, kẻ nào không bộc lộ được tư tưởng của mình, ta chẳng khai sáng cho,

kẻ nào ta bày một mà không biết hai ta chẳng dạy nữa” (Bộ Giáo Dục và Đào Tạo 1999 Tr 90) Ông luôn khuyên mọi người học phải nghe nhiều rồi chọn điều hay mà theo, thấy nhiều

để xét cho rõ cái hay, cái dở mà nhớ lấy, đó là điều quan trọng để trở thành trí giả

Là một nhà giáo dục lớn, người đầu tiên mở trường dạy học trong lịch sử Trung Hoa, chủ trương “hữu giáo vô loại”, nhưng ông lại quan niệm đối với dân, việc gì cần làm thì cứ sai khiến người ta làm, không nên giảng giải vì dân không có khả năng hiểu được ý nghĩa sâu xa

Ông cũng muốn xóa bỏ sự thụ động của người tiếp thu tri thức và rất đề cao việc ứng dụng vào cuộc sống những điều đã học được Ông cho rằng, học thuộc 300 thiên sách Thi mà không biết ăn, không biết nói trong khi đi Sứ thì công học 300 thiên đó cũng trở nên vô bổ

Tư tưởng về mẫu người quân tử

Là người sáng lập ra thuyết “Chính Danh” nên mẫu người lý tưởng của Khổng Tử chịu sự chi phối của “Chính Danh” nói chung và đức “Nhân” nói riêng Theo ông, tiêu chuẩn của người quân tử phải đạt được 9 điều:

Khi nhìn phải nhìn cho minh bạch

Khi nghe phải nghe cho rõ ràng

Sắc mặt phải ôn hòa

Tướng mạo phải nghiêm trang

Nói năng phải trung thực

Làm việc phải trọng sự kính nể

Điều gì còn nghi hoặc phải hỏi han

Khi tức giận phải nghĩ đến hậu quả

Khi thắng lợi phải nhớ đến điều nghĩa

Những yêu cầu này, theo Khổng Tử phải có sự trung hòa mà ông gọi đó là đạo Trung Dung “Trung Dung” là cái tính tự nhiên của trời đất, là cái đức hạnh của con người Trung là giữa, là không lệch về bên nào Dung là thường Trung Dung nghĩa là dùng đạo Trung làm lẽ sống thường ngày

Trang 31

Theo Khổng Tử, người quân tử trước hết phải biết tu thân Không tự tu được thân thì không thể giúp được đời, không thể làm trọn được phận của mình với thiên hạ Học để tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ là đường đi của người quân tử Tiểu nhân cũng phải học xong cái học của tiểu nhân để họ phục dịch và tuân lệnh kẻ cầm quyền

Xét một người nào đó thuộc loại quân tử hay tiểu nhân, Khổng Tử đòi hỏi phải quan sát xem hành động của họ có phù hợp với lời họ nói hay không Để đánh giá con người, ông khuyên phải nhìn vào công việc của họ, phải xét lý do làm việc của họ và xem thái độ của họ

Tóm lại, là một trong những triết gia duy tâm đại diện cho tầng lớp chủ nô quý tộc ở giai đoạn chiếm hữu nô lệ kiểu phương Đông đang chuyển sang chế độ phong kiến trung ương tập quyền, lúc làm quan, lúc làm thầy, lúc truyền đạo, lúc san định kinh sách, Khổng Tử

đã cống hiến trọn đời mình cho giai cấp của mình nhằm duy trì sự tồn tại của nó Triết lý của Khổng Tử là triết lý hành động với đường lối chính trị đẳng cấp theo thuyết Chính Danh, nặng đức, nhẹ hình, khuyến khích người đời tu thân theo mẫu người quân tử

Học thuyết của Khổng Tử chứa đựng đầy mâu thuẫn phản ánh tâm tư bị giằng xé trước những biến chuyển của xã hội Lợi ích giai cấp và tính chất không nhất quán này đã là

cơ sở để các thế hệ sau ông khai thác, xuyên tạc và phủ cho nó tấm áo choàng tôn giáo đầy bí

ẩn Tư tưởng của Khổng Tử không phải lúc nào cũng được trọng dụng mặc dù nó có những nét tiến bộ nhất định Nhìn chung tư tưởng của Khổng Tử có mặt trong tất cả các triều đại Trung Hoa, nó để lại dấu ấn của mình không chỉ trong sách vở mà trong cuộc sống thực của nhiều thế hệ và nó đã vượt biên giới nước mình cắm rễ vào phong tục, tập quán của nhiều nước láng giềng

1.2.3.3 Tư tưởng của Mạnh Tử

Sau khi Khổng Tử mất, Nho gia chia thành nhiều phái Đến thời Chiến Quốc, đại biểu xuất sắc của phái Nho học chính thống là Mạnh Tử

Mạnh Tử (371 – 289 TCN) tên gọi là Mạnh Kha, tự là Tử Dư, người nước Trâu (tỉnh Sơn Đông ngày nay), là học trò của môn phái Tử Tư (tức Khổng Cấp, cháu đích tôn của Khổng Tử) Là người có học thức uyên bác, ông rất muốn làm quan, đã từng đến các nước Tề, Tống, Đằng, Ngụy… nhưng không được dùng vì lúc bấy giờ thiên hạ chỉ chú trọng việc thôn tính lẫn nhau, còn Mạnh Tử lại nói về đạo đức nên bị cho là viễn vông Cuối đời, ông cùng học trò là Vạn Chương soạn thành sách Mạnh Tử Đến đời Tống sau này, sách Mạnh Tử trở thành một tác phẩm trong Tứ Thư

Về mặt triết học

Mạnh Tử đã phát triển tư tưởng “Thiên mệnh” của Khổng Tử và đưa thế giới quan ấy tới đỉnh điểm của chủ nghĩa duy tâm Mạnh Tử hoàn toàn tin vào mệnh trời, cho rằng trời là lực lượng quyết định mọi việc ở đời “Chẳng có việc gì xảy ra mà không do mệnh trời Mình nên tùy thuận mà nhận lấy cái mệnh chính đáng ấy” Do vậy, những bậc quân tử nhờ hết sức

tu dưỡng đã đạt đến mức cực thiện, cực mỹ thì cũng có thể cảm hóa được ngoại giới như thánh thần Ông nói: “Trong lòng đầy đủ (sự chân thành) gọi là mỹ, đầy đủ mà còn rực rỡ ra ngoài là vĩ đại, vĩ đại rồi lại cảm hóa được ngoại giới là thánh, thánh mà không biết là thánh nữa là thần” Ông còn nói: “Hễ mình hết lòng hết dạ thì mình biết được cái bản tính của mình, thì biết được trời rồi đó” Từ đó, ông cho rằng, vũ trụ, vạn vật cũng đều tồn tại trong ý thức

Trang 32

chủ quan và trong quan niệm đạo đức trời phú cho con người Ông đưa ra quan điểm “vạn vật đều có đủ trong ta Ta tự xét mình mà thành thực, thì có cái thú vui nào lớn hơn nữa” Ông dạy mọi người không phải đi tìm chân lý ở ngoài thế giới khách quan mà chỉ cần suy xét ở trong tâm, tận tâm của mình mà thôi (Bộ Giáo Dục và Đào Tạo 1999 Tr 96)

Về đạo đức

Tư tưởng của Mạnh Tử tập trung vào những vấn đề triết lý nhân sinh mà trọng tâm là học thuyết về “tính thiện” của con người Thời Mạnh Tử, khi bàn về bản tính con người có 3 quan điểm chính:

Tính tự nhiên của con người không thiện cũng không ác

Tính tự nhiên của con người có thể thiện và cũng có thể ác tùy theo từng hoàn cảnh Tính tự nhiên của con người khác nhau tùy theo người, có người bản tính thiện, có người bản tính ác

Bác bỏ tất cả những thuyết trên, Mạnh Tử cho rằng bản tính con người ta là thiện Còn như có người làm những điều bất thiện, chẳng qua họ theo tự dục của mình, chứ không phải bản tính của họ như vậy Nhưng tại sao bản tính con người là thiện và tính thiện của con người do đâu mà có? Mạnh Tử đã đưa ra ba căn cứ để lý giải tính thiện của con người được thể hiện qua bốn đức lớn là: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí Bốn đức lớn đó bắt nguồn từ Tứ Đoan, bốn đầu mối của thiện: người ta ai cũng có lòng trắc ẩn (biết thương xót), lòng u ố (biết thẹn, ghét), lòng từ nhượng (biết cung kính) và lòng thị phi (biết phân biệt phải trái) Lòng thương xót là đầu mối của Nhân, lòng thẹn, ghét là đầu mối của Nghĩa, lòng cung kính là đầu mối của

Lễ, lòng thị phi là đầu mối của Trí Thiện Đoan ấy là cái chất (tài chất) vốn có của con người như cái mầm cây vốn có trong hạt, như thân thể vốn có tứ chi Nếu con người biết nuôi dưỡng, phát huy Thiện Đoan thì như lửa bắt đầu cháy, suối bắt đầu chảy, mỗi ngày một lớn

ra, mạnh thêm Nếu con người không biết giữ gìn và khuếch sung Thiện Đoan ấy, để nó mai một đi, sẽ trở nên nhỏ nhen, ti tiện, không khác gì cầm thú, dẫu việc thường như thờ cha mẹ cũng không làm được Con người chỉ khác với cầm thú có mảy may đó thôi, mà chỗ giống nhau thì nhiều Người có tính thiện là biết giữ phần quý, bỏ phần hèn, giữ gìn cái cao đạo, bỏ phần ti tiện, có thể trở thành thánh nhân

Bản tính của con người là thiện vì “tính là cái chung là cái bản chất của một loài” Đã

là loài người thì ai cũng đều có chung cái mầm thiện vốn có và ai cũng đều có các quan năng

do trời phú cho mỗi người để nhận biết, phân biệt phải trái, tốt xấu như nhau Với tài chất và quan năng thiên phú giống nhau đó, người ta ai ai cũng có thể trở thành thánh nhân

Hơn nữa, tính thiện của con người đều bắt nguồn từ tâm của mỗi con người Tâm là cái chủ thể trong tinh thần, là cái thần minh trời phú cho ta, là cơ quan để suy nghĩ, nhờ tâm

mà ta phân biệt mọi điều phải trái, thiện ác… đủ để ứng đối với vạn vật, vạn sự, cho nên còn gọi là lương tâm Đó là cái tự ta biết, trời sinh ra đã có Tâm ta sở dĩ tự biết được Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí là vì nhờ có lương năng (cái người ta sinh ra không cần học mà hay) và lương tri (cái người ta sinh ra không cần suy nghĩ mà biết) Mạnh Tử nói: Thiện Đoan là cái trong ta vốn có, không phải do bên ngoài nung đúc cho ta Chỉ vì ta đắm đuối vào vật dục nên cái tâm của ta nó mờ đi, không còn giữ được cái bản nhiên sáng suốt, bỏ mất mầm thiện trong tâm mình, nên tính mới trở thành bất thiện

Trang 33

Tính thiện của con người không phải nhất thành bất biến Người ta có thể đánh mất cái

cố hữu của mình mà sa vào đường bất thiện Ấy là khi ngoại cảnh tác động vào Tuy vậy, tác dụng của ngoại cảnh cũng có giới hạn của nó Khi tâm của con người thật vững vàng thì ngoại cảnh có tác dụng cũng vô hiệu Vì vậy, Mạnh Tử rất chú trọng đến giáo hóa, để con người không mai một lương tâm Ông cho rằng con đường chủ yếu là “tồn tâm dưỡng tính” Đó là

sự giữ gìn, bồi dưỡng, đừng làm tổn hại hay mất thiên tâm, thiên tính của mình

Ngoài ra, Mạnh Tử cho rằng cùng với cái tâm, cái tính trời phú cho còn có phàn khí Phàn khí lưu hành khắp vũ trụ, ngưng tụ lại thành hình nên có vạn vật cùng con người Nhờ

có khí lưu hành trong cơ thể mà vạn vật và con người mới có sự sinh trưởng Khí tồn tại không tách khỏi tâm, khỏi tính Tâm, tính là phần tinh thần, là phần điều khiển cái khí, còn khí là phần nhục thể, phần vật của con người Phần tinh thần và phần nhục thể phải điều hòa con người mới tồn tại Do vậy, cùng với việc tồn tâm dưỡng tính, con người phải dưỡng khí

Để dưỡng khí, Mạnh Tử cho rằng phải luôn nhớ đến bản thể tự nhiên của khí mà ông gọi là “Hạo nhiên khí” Phương pháp dưỡng Hạo nhiên khí là phải phối hợp với việc nghĩa với việc đạo Muốn vậy phải hiểu đạo lý, theo đạo và tập nghĩa Hiểu đạo, theo đạo là hiểu và theo lối sống của đạo và phải tuân theo lẽ tự nhiên thì Hạo nhiên khí sẽ mạnh lên, có thể hòa với trời đất

Như vậy, Mạnh Tử rất coi trọng vai trò của chủ thể trong việc tu dưỡng đạo lý để cái tâm sâu rộng, cái trí sáng suốt, cái khí điều hòa, tạo điều kiện cho bản tính thiện của mình tồn tại và phát huy

Để bảo tồn và phát triển tâm tính của con người, Mạnh Tử chủ trương cần phải có sự rèn luyện, giáo dục đạo lý cho con người Trong giáo dục đạo lý, nhân nghĩa cần phải có chuẩn mực Chuẩn mực ấy là đức độ, đạo lý của thánh hiền Theo chuẩn mực đó, Mạnh Tử đòi hỏi người học phải chuyên tâm, trì chí, khiêm nhường, cầu tiến, không khi nào tự cho mình đã là người hoàn thiện Mặt khác ông cũng đòi hỏi người dạy phải luôn tự sửa lấy mình, giữ tâm mình cho chính, vì nếu “mình cong queo không thể nào sửa cho người khác ngay thẳng được”

Như vậy, trong học thuyết về luân lý, đạo đức, Mạnh Tử đã khẳng định bản tính của con người là thiện, nó bắt nguồn từ tâm do trời phú cho con người Và ý chí của con người chi phối khí Qua đó cho thấy, Mạnh Tử đã bộc lộ khá rõ tư tưởng thần bí về con người Tuy nhiên, cũng phải ghi nhận rất nhiều tư tưởng tiến bộ của ông về vai trò của môi trường, vai trò của giáo dục và sự tự giáo dục đối với việc hình thành nhân cách

Về những vấn đề chính trị - xã hội

Mạnh Tử tuyên truyền lý luận thần quyền Ông cho rằng, chính quyền là do trời ban cho và thông qua vua chúa hiền minh để thực hiện ý chí của trời, con người phải thuận theo ý chí của trời Ông còn đưa ra quan điểm rằng, nhân vật vĩ đại – thánh nhân là động lực thúc đẩy lịch sử phát triển, mà nhân vật vĩ đại lại thể theo ý chí của trời để sáng tạo ra lịch sử Ông còn đưa ra thuyết “Nhất loạn, Nhất trị” cho rằng cứ một thời loạn lại một thời bình và cứ 500 năm với kết quả vận chuyển theo chu kỳ của Ngũ Hành, nhất định sẽ xuất hiện một đấng vương gia hiền đức trị vì thiên hạ

Trang 34

Mạnh Tử còn cho rằng, theo bản chất, con người phân chia ra làm hai hạng người: những người lao tâm và những người lao lực Hạng người thứ nhất là quý tộc, vua chúa, tức hạng người được coi là có tài đức, lo việc trị dân và sống dựa vào sức lao động của nhân dân Hạng người thứ hai là nhân dân lao động thì phải phục tùng và làm việc, nuôi sống hạng người thứ nhất Đó là lẽ thông thường trong thiên hạ Mỗi hạng người trong xã hội có nhiệm

vụ riêng, nhưng cũng giúp đỡ nhau để cùng đạt một mục đích là làm cho xã hội yên bình, thịnh trị Đó là nguyên tắc phân công lao động tự nhiên và là quy luật chung của sự phát triển

xã hội

Trên cơ sở học thuyết về Tính Thiện và tiếp tục tư tưởng “Nhân trị” của Khổng Tử, Mạnh Tử đề ra tư tưởng “Nhân chính” trong phương pháp trị nước và luôn khuyên các vua chư hầu phải tuân theo để trở nên các bậc quân vương Ông chống các chư hầu dùng vũ lực gây chiến tranh thôn tính nhau, đòi bọn quý tộc bớt những hình phạt tàn khốc đối với dân, cho dân có sản nghiệp riêng và nhà nước phải lo cải thiện đời sống kinh tế của dân Theo ông, việc chăn dân, trị nước là vì nhân nghĩa, chứ không phải vì lợi

Mạnh Tử có quan điểm mới mẻ và sâu sắc về dân quyền Ông nói: “Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh” (Dân quý nhất, đất nước thứ hai, vua thì coi nhẹ) Vì theo ông, có dân mới có nước, có nước mới có vua Kẻ thống trị nếu không được dân ủng hộ thì chính quyền sớm muộn phải sụp đổ Nếu vua tàn ác không hợp lòng dân và ý trời thì có thể bị truất phế

Mạnh Tử còn chủ trương chế độ “Bảo dân”, trong đó yêu cầu người trị vì phải lo cái lo của dân, vui cái vui của dân, tạo cho dân có sản nghiệp riêng và cuộc sống bình yên, no đủ Như thế, dân không bao giờ bỏ vua Đồng thời ông cũng khuyên các bậc vua chúa phải giữ mình khiêm cung, tiết kiệm, gia huệ cho dân, thu thuế của dân có chừng mực Nếu được như vậy thì đó là bậc hiền minh

Trong chế độ “Bảo dân”, Mạnh Tử còn đề xuất chế độ điền địa và giáo hóa dân Về điền địa, Mạnh Tử cho rằng, muốn dân sung túc và quốc gia có nền kinh tế lành mạnh, phải thực hiện việc phân chia ruộng đất công minh và thi hành chế độ “tỉnh điền” Về giáo hóa dân, Mạnh Tử chủ trương phải lập trường để dạy dân biết nhân, nghĩa, luân lý và võ nghệ

Ông cực lực lên án những ông vua không lấy điều nhân nghĩa làm gốc, chỉ vui chơi, lợi lộc riêng, tà dâm, bạo ngược, dùng sức mạnh để đàn áp dân, ông cho đó là “bá đạo” và thường tỏ thái độ khinh miệt

Tư tưởng về chính trị - xã hội của Mạnh Tử vẫn khoác áo duy tâm, truyền biện pháp đường lối chính trị đẳng cấp, thần quyền phục vụ cho giới quý tộc, song có lẽ chưa có một triết gia Trung Quốc cổ đại nào lại đề cập sâu sắc đến vai trò của đời sống kinh tế và các biện pháp cải cách như Mạnh Tử Và chưa có một triết gia nào của thời đại này lại phát triển tư tưởng đức trị thành công như ông

Không phải là người đầu tiên đến với Nho giáo thời cổ đại, nhưng công lao của Mạnh

Tử đối với hệ thống triết học này thật xứng đáng để hậu thế phong ông là Á Thánh

1.2.3.4 Tư tưởng Tuân Tử

Tuân Tử (289 – 238 TCN) tên là Tuân Huống, tự Tuân Khanh, người nước Triệu, đã từng làm Huyện lệnh Lan Lăng thuộc nước Sở Tuân Tử là người theo học thuyết của Khổng

Trang 35

Tử, nhưng quan điểm của ông so với tông chỉ của Khổng Tử có nhiều điểm tương phản cả về thế giới quan cũng như triết lý chính trị Tác phẩm của ông cũng gọi là Tuân Tử

Về thế giới quan

Trái với quan điểm về thiên mệnh, thiên chí, coi trời là một lực lượng thần linh tối cao chi phối vạn vật trong thế giới, chi phối xã hội loài người, Tuân Tử cho rằng vũ trụ gồm ba bộ phận là: trời, đất và người Trời chỉ là một bộ phận của vũ trụ, trời không có linh hồn, không

có ý thức, song trời có đạo của nó Cái đạo thâm viễn, công hiệu và vô hình này làm cho vạn vật sinh ra lớn lên và chuyển hóa Đạo trời diễn ra theo những lẽ tự nhiên nhất định, không liên quan đến đạo người Đạo trời chi phối sự biến hóa của vạn vật, thay đổi của vũ trụ, không phụ thuộc vào sự sáng suốt hay ngu muội của con người Con người không thể quyết định sự vận hành của đạo mà chính đạo quyết định sự vận hành của con người

Như vậy, với cách hiểu về trời và đạo Tuân Tử đã phủ nhận vai trò quyết định của trời đối với vận mệnh xã hội Theo ông, mọi biến động của lịch sử đều do chính con người tạo

ra, không có sự can thiệp của trời đất Ông từng tự hỏi: trị, loạn có phải tại trời không? Trị, loạn có phải tại thời không? Trị, loạn có phải tại đất không? Và tự trả lời: “mặt trời, mặt trăng, các tinh tú cũng làm nên lịch Trời của vua Vũ và trời của vua Kiệt giống nhau Thế mà đời vua Vũ thì trị, đời vua Kiệt thì loạn Trị, loạn đâu phải tại trời”

“Sự sinh sôi nảy nở của mùa Xuân, mùa Hạ, sự tích tụ, tiềm tàng ở mùa Thu, mùa Đông Thời của vua Vũ và thời của vua Kiệt giống nhau Thế mà đời vua Vũ thì trị, đời vua Kiệt thì loạn Trị, loạn đâu phải tại thời”

“Được đất thì sống, mất đất thì chết, đất của vua Vũ và đất của vua Kiệt giống nhau Thế mà vua Vũ thì trị, đời của vua Kiệt thì loạn Trị loạn đâu phải tại đất” (Lê Văn Anh, Phạm Hồng Việt 2001 Tr 50)

Tuân Tử cũng phủ nhận vai trò quyết định của trời đối với vận mệnh của con người Trời không thể làm hại cũng không thể cứu giúp con người Trong cuộc sống của mình, sự thành công hay thất bại của con người phụ thuộc vào việc con người hành động thuận hay trái với lẽ tự nhiên Tuân Tử khuyên con người hãy tự tin ở mình, hãy hành động theo tự nhiên để

tự quyết định cuộc sống của mình

Từ cách nhìn nhận về mối quan hệ giữa trời, đất, người như vậy, Tuân Tử đã kịch liệt lên án dị đoan, bói toán và những tư tưởng duy tâm, thần bí về vũ trụ Ông chỉ ra rằng: “các hiện tượng bất thường trong tự nhiên chỉ là sự biến đổi của bản thân tự nhiên, chúng không hề chứa đựng một điềm lành hay dữ đối với cuộc sống”

Ông phân biệt những thiên chức khác nhau của trời, đất và người Với Tuân Tử, thiên chức của trời, đất là toàn bộ sự nảy nở sinh thành, biến hóa cuộc sống của vạn vật trong tự nhiên Thiên chức của con người là luôn nghĩ về đạo của mình, làm tròn đạo của mình, đừng tranh thiên chức với trời, biết phục tùng đạo trời, biết dùng những cái trời đất tạo ra phục vụ cho cuộc sống của mình

Đặc biệt khi giải thích về tự nhiên, Tuân Tử đã phát triển học thuyết “Khí” của các bậc tiền bối để phân biệt sự khác nhau giữa các loài vật Ông nhận thấy nước lửa có khí nhưng không có sinh mệnh, cây cỏ có sinh mệnh nhưng không có tri giác, cầm thú có tri giác nhưng

Trang 36

không có luân thường đạo lý và tổ chức xã hội, còn loài người có tất cả: có khí, có sinh mệnh,

có tri giác, có khuôn phép và có cả kỷ cương nề nếp

Có thể nói, thế giới quan của Tuân Tử là bước tiến bộ rõ rệt trong triết học Nho gia Vẫn nói đến trời, đất, song ông thể hiện rõ nét tư tưởng duy vật và Đạo trời của Tuân Tử rất gần gũi với các quy luật tự nhiên

Tư tưởng về nhận thức của Tuân Tử còn thể hiện trong khi ông luận về thuyết “Chính Danh” Theo ông, tiếp cận với Chính Danh trước hết phải làm sáng tỏ ba điều chính: Vì sao

có danh, vì sao có đồng danh, dị danh, cái chủ yếu nhất của chế danh

Theo Tuân Tử: Các sự vật, hiện tượng gọi là Thực Danh hay lời do người chế ra để chỉ cái Thực

Đồng Danh hay dị Danh do chính bản thân sự vật quy định “Vật giống nhau thì có tên giống nhau, vật khác nhau thì có tên khác nhau… Biết Thực khác thì có Danh khác, cho nên nói Thực khác nhau bằng Danh khác nhau, cũng như nói Thực giống nhau thì chẳng bao giờ không đúng Danh giống nhau

Cái chủ yếu để chế Danh, theo Tuân Tử là tính chất của sự vật Dựa trên tính chất của

sự vật, con người có thể phân loại các loại Danh khác nhau

có nghĩa, do đó loài người là quý nhất trong trời đất”

Về sức mạnh của quần chúng, ông nói một câu bất hủ mà đời sau nhiều người đã nhắc lại, đó là: “Vua là thuyền, dân là nước, nước có thể chở thuyền, nước cũng có thể lật đổ thuyền”

Vì vậy, ông chủ trương tốt nhất là phải thi hành vương đạo, tức là nhà vua dùng nhân nghĩa để cai trị thiên hạ, cụ thể là phải tạo điều kiện cho dân tăng gia sản xuất để có đủ của cải sinh sống và làm giàu cho đất nước, đồng thời phải giảm bớt thuế khóa, đối với ruộng đất chỉ đánh thuế 1/10, còn cửa ải, chợ búa thì chỉ giám sát chứ không đánh thuế

Trang 37

Tuy chủ trương dùng nhân nghĩa để trị nước, nhưng Tuân Tử cho rằng, đối với quần chúng nhân dân cũng cần phải dùng hình pháp để kiềm chế Ông chỉ phản đối những hình phạt quá tàn khốc như tội tru di tam tộc

Về mặt xã hội

Tuân Tử cho rằng con người khác với động vật ở chỗ con người có tổ chức xã hội, có sinh hoạt xã hội theo lễ nghi và nghĩa Không có tổ chức xã hội, con người không thể tồn tại

Tổ chức xã hội tạo ra cuộc sống hợp quần, song cũng chính cuộc sống hợp quần mà phải định

ra và duy trì bổn phận, trách nhiệm của mỗi người làm cho sinh hoạt xã hội có kỷ cương, nề nếp Thực hiện việc này, cũng như Khổng Tử, Tuân Tử chủ trương thực hiện “Chính Danh”,

“Danh có định thì thực, giả mới được phân biệt…, lời nói dễ hiểu để từng bước khiến dân học theo”

Tuân Tử còn cho rằng thực hiện Chính Danh không thể thuần túy dựa vào đức hạnh

Vì bản tính con người là ác và cái ác có thể thay đổi được nên ông chủ trương dùng hình pháp

để trị nước Thực hiện quyền lực, ông đòi hỏi các thế lực cầm quyền phải thưởng phạt công minh, phải là tấm gương sáng để dân lấy đó làm mực thước mà noi theo, phải chăm lo dân

Như vậy, đối với xã hội, một mặt ông nhấn mạnh đến yếu tố luân lý chính trị, một mặt ông đề cập rất đậm nét đến pháp luật trong cuộc sống cộng đồng Đây chính là tư tưởng nền tảng mà sau này Hàn Phi Tử và nhiều triết gia khác đã kế thừa, phát triển để hình thành học thuyết Pháp gia

Về bản tính con người

Cuối thời Chiến Quốc, tận mắt thấy cảnh tranh giành, xâu xé lẫn nhau, Tuân Tử chủ trương lý giải mọi biến động lịch sử bằng “Ác tính luận” Với ông, tính là cái tự nhiên của con người, là cái “sinh ra đã có sẳn” Ông cho rằng, sở dĩ tính người là ác, vì con người sinh ra vốn sẳn có lòng ham lợi, dục vọng Để thỏa mãn ham muốn và dục vọng đó con người phải hành động thuận theo tính tự nhiên của mình Điều đó ắt dẫn tới sự tranh giành, xâu xé, cướp bóc và chiếm đoạt lẫn nhau

Về Giáo dục

Ông cũng cho rằng, con người có thể tạo ra tính thiện Theo Tuân Tử, ai cũng có thể tạo ra tính thiện để đức như Nghiêu, Thuấn, Vũ Cách tạo nên, theo ông như “cây cong được kéo thẳng ra”, song, cây cong muốn được kéo thẳng ra thì trước hết phải được hơ nóng, phải

có khuôn uốn Tính của con người cũng vậy, muốn có điều thiện, con người phải có thầy, có phép dạy bảo thì mới có lễ, nghĩa, thiên hạ mới trị Với quan niệm như vậy, Tuân Tử rất chú ý đến vấn đề giáo dục Trước hết, phải có thầy, có pháp Ông nhấn mạnh: không có thầy, không

có pháp là cái họa lớn nhất của người đời, có thầy, có pháp là cái tôn quý của người đời

Nhấn mạnh vai trò của người thầy, ông không hề xem nhẹ vai trò của người học Học, truớc hết phải theo khuôn phép để rèn giũa, sửa đổi lấy mình

Cùng với Giáo dục, theo Tuân Tử, xã hội còn phải dùng Lễ, Nhạc để cải hóa con người Với ông, Lễ có nghĩa rất rộng Nó là cái giúp con người biết kính, biết hiếu thảo, biết thuận, biết thiện, biết thi ân, bố đức… nghĩa là tất cả các phép tắc, những quy định trong cuộc

Trang 38

sống mỗi con người, mỗi gia đình và toàn xã hội Nhạc đối với Tuân Tử là công cụ để điều hòa tính khí

Với kiến thức uyên bác, Tuân Tử đã tổng kết được những nét chính của các nhà tư tưởng đương thời để tạo nên hệ thống triết học của mình Đúng như các nhà nghiên cứu đã khẳng định: Hấp thụ triết lý tự nhiên của Lão-Trang, lấy tư tưởng chính trị nhân bản của Mạnh Tử, xuyên suốt học thuyết của mình, có duy vật, có duy tâm, song Tuân Tử đã thể hiện lòng trung thành với luân lý chính trị của người đã sáng lập ra Nho gia Tuân Tử xứng đáng là một đại Nho của Trung Quốc cổ đại

1.2.3.5 Tư tưởng Đổng Trọng Thư – Nho giáo độc tôn

Học thuyết của Khổng Tử không được các vua chúa Trung Quốc thời cổ đại tán thưởng Đến thời Hán trở đi, các triều đại phong kiến đều đề cao học thuyết của Khổng Tử và thờ ông như một vị thánh Lưu Bang, người sáng lập ra nhà Hán là vị hoàng đế đầu tiên thân hành đến nước Lỗ (cũ) để tế Khổng Tử Từ Hán Vũ Đế trở đi, Nho giáo trở thành quốc giáo

Đại biểu của phái Hán Nho là Đổng Trọng Thư (174 – 104 TCN) Đổng Trọng Thư không phải là nhà tư tưởng xuất sắc, nhưng được giai cấp phong kiến Trung Quốc tôn sùng, vì ông có công “chính thống hóa Nho giáo”, biến nó thành công cụ sắc bén của giai cấp thống trị phong kiến

Đến thời phong kiến, đứng trước nhu cầu củng cố quyền lực của nhà Hán, Đổng Trọng Thư ra sức thần bí hóa nguồn gốc của vương triều Ông đề cao thuyết “Thiên Nhân tương cảm”, vận dụng thuyết “Âm Dương ngũ hành” để “thần hóa Tam cương Ngũ thường”, cho đó

là biểu hiện ý chí của trời

Tư tưởng Nho giáo của Đổng Trọng Thư mang tính thần bí hóa rất nặng nề Điều mới của Đổng Trọng Thư đưa vào Nho giáo là sáp nhập thuyết Âm Dương và thuyết Ngũ Hành với đạo Khổng, Mạnh Trước kia Khổng, Mạnh ít nói đến trời mà nói nhiều về người Khổng, Mạnh tránh đi sâu vào các vấn đề bản thể của vũ trụ, mà chuyên chú vào các vấn đề đạo đức, chính trị, xã hội

Về thế giới quan

Đổng Trọng Thư cho rằng “ông Trời” là một vị thần có nhân cách, đứng trên cả vũ trụ,

có ý thức và có đạo đức, “Trời có nhân”, “Trời – vua của trăm thần” Nhân nghĩa đều lấy ở Trời Trời vận hành Âm Dương, sản sinh ra các hiện tượng tự nhiên

Ông cho rằng, vũ trụ được cấu thành bởi “Thập đoan” (mười đầu mối) Thập đoan gồm: Trời, Đất, Người, Âm, Dương, Ngũ Hành mà biến thành vũ trụ hoàn chuyển, hài hòa, nhân sự Trong sơ đồ vũ trụ này, Con Người là sự sáng tạo đặc biệt của Trời, vượt lên trên vạn vật, tương hợp với Trời (Thiên Nhân hợp nhất) Nếu Trời có 4 mùa thì Người có tứ chi, nếu Trời tròn thì đầu Người cũng tròn, nếu Đất vuông thì chân Người cũng vuông, Trời có tinh tú thì Người có tóc, Trời có nhật nguyệt thì Người có tai mắt, Trời có nóng, lạnh, ấm, ráo thì Người có lành, dữ, giận, ghét, nếu Trời có âm dương thì Người có thiện ác Theo thuyết

“Thiên Nhân tương cảm” thì thiên tai là do Trời cảnh cáo loài người Và khi Trời giáng điều lành thì đó là lúc xã hội thái bình

Về chính trị - xã hội

Trang 39

Đổng Trọng Thư đã sáp nhập thuyết Âm Dương vào đạo Khổng, Mạnh bằng cách: Chọn trong Ngũ Luân lấy ra ba giềng mối quân thần, phu phụ, phụ tử và đặt tên là Tam Cương Cương nghĩa đen là dây chính của chiếc lưới từ đó mọi sự dính vào Ông còn thêm tín vào Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí để thành Ngũ Thường, năm phẩm tính chuẩn mực và thường trực của Nho gia Như thế, có sự phân định rành mạch: Ngũ Thường là năm đức của

cá nhân, Tam Cương là luân lý của xã hội

Đổng Trọng Thư gắn Tam Cương với đạo Âm Dương, cho rằng cái nghĩa vua tôi, cha con, chồng vợ đều lấy ở đạo Âm Dương và quy định:

Vua là Dương, tôi là Âm

Cha là Dương, con là Âm

Tư tưởng Nho gia của Đổng Trọng Thư được trình bày trong sách “Xuân Thu phồn lộ” và “Thiên Nhân tam sách” Đổng Trọng Thư chủ trương “Bãi truất Bách gia, độc tôn Nho thuật” (bỏ trăm nhà, chỉ dùng Nho học)

1.2.3.5 Tống Nho

Ở thời Tùy và thời Đường, không những Nho giáo mà cả Đạo giáo và Phật giáo đều được lưu hành, đều được nhà nước ủng hộ, không có tôn giáo nào được xem là quốc giáo, là độc tôn

Sang thời Tống, Nho giáo mới được trở lại vị trí quốc giáo và mang tính độc tôn hơn lúc nào hết Nhưng Nho giáo của Tống không phải là Nho giáo của Đường, Hán, cũng không hẳn là Nho giáo của Khổng, Mạnh mà là một loại Nho giáo đã tiếp thu khá sâu sắc nhiều yếu

tố tư tưởng của Đạo giáo và Phật giáo, nhất là về mặt thế giới quan và Tâm học

Các nhà Nho trứ danh đầu thời Tống hầu hết là những người từng trải qua nghiên cứu Đạo, Phật và làm giàu cho Nho giáo bằng sự vay mượn có nghiền ngẫm So với Nho giáo trước đó, Tống Nho có điểm rất khác biệt là:

Đi sâu vào lĩnh vực siêu hình học

Chú trọng tới phép tu dưỡng, quán tưởng

Tu tâm dưỡng tính để thành thánh nhân

Trang 40

Có một vũ trụ luận rành rọt

Trương Tái (1020 – 1077)

Khí là nguồn gốc của vũ trụ vạn vật, chỉ tụ hay tán chứ không sinh diệt Nho gia đưa

ra quan điểm ấy là Trương Tái (1020 – 1077), triết gia thời Bắc Tống, người Mi huyện, nay thuộc tỉnh Thiểm Tây Ông thi đỗ Tiến sĩ, làm quan cao và từng giảng học ở Quan Trung nên học phái của ông được gọi là Quan học Tác phẩm chủ yếu của ông là “Chính mông, Dịch thuyết, Trương tử ngữ lục” Từ khái niệm về Khí, ông đưa ra học thuyết “Thái hư tức là Khí” Thái hư không phải là khoảng chân không mà là Khí vô hình tan ra Nó vẫn là thực tại khách quan, có tính vật chất

Chu Đôn Di (1017 – 1073)

Chu Đôn Di người Hồ Nam, cuối đời ẩn cư ở Liêm Khê, dưới chân núi Lô Sơn, Giang Tây nên được gọi là Liêm Khê tiên sinh Tác phẩm chủ yếu của ông có Thái cực đồ thuyết và Thông thư Khác với Trương Tái, Chu Đôn Di chú trọng Lý hơn Khí Ông cho rằng vạn vật bẩm thụ cái Lý của Thái cực và cái tính của Ngũ Hành

Dùng Thái cực đồ của Đạo gia để giảng về vũ trụ, Chu Đôn Di cho rằng vũ trụ phát triển tuần tự theo quy luật Vô cực sinh Thái cực, Thái cực sinh Âm Dương, Âm Dương sinh Ngũ Hành, Ngũ Hành sinh vạn vật, vạn vật sinh sôi nảy nở không ngừng nghỉ Lý toàn thiện nên tính người cũng vốn thiện Con người phải tu dưỡng bằng tĩnh tâm, vô dục để cho tâm sáng và thấy được bản tính và cái Lý toàn thiện

Cùng là danh gia Lý học đời Tống có hai anh em họ Trình, học trò của Chu Đôn Di

Trình Hạo (1032 – 1085)

Trình Hạo, người Lạc Dương, Hà Nam ngày nay Ông cũng theo Lý học nhưng nhấn mạnh đến Nhân Tác phẩm để lại của ông có Minh đạo văn tập, bộ Nhị Trinh tập Tính khoan hòa, giản dị, ông cho rằng mọi vật đều hàm chứa khuynh hướng tới sự sống, cái làm thành đức nhân của trời đất Nếu ta coi trời đất vạn vật là nhất thể thì mọi vật và mình đều thông suốt với nhau Vạn vật đều có Lý, thuận với Lý thì tốt đẹp, trái với Lý thì tai họa Xưa nay phong khí khác nhau nên khí dụng cũng khác nhau Xã hội biến đổi là chuyện tất nhiên Vì thánh nhân thông suốt lẽ biến thiên của mọi sự nên tùy thời mà hành động khiến người dân không bị gượng ép, phiền nhiễu

Trình Hạo quả quyết rằng tri phải ngang với hành Ông đúng là mẫu người hòa nhi bất đồng Khi làm Giám sát ngự sử, ông thẳng thắn chống Tân pháp của Vương An Thạch, kẻ từng biếm Tô Đông Pha ra Hàng Châu Ông thường ung dung ngồi đối luận về các biện pháp tiện hay bất tiện của Vương An Thạch Khi bị họ Vương nghiêm sắc mặt tỏ vẻ không bằng lòng, Trình Hạo điểm tĩnh nói chậm rãi: việc thiên hạ không phải là việc bàn riêng của một nhà, xin bình khí mà nghe thì mới phải

Trình Di (1033 – 1107)

Trình Di, tính nghiêm nghị cương quyết và là người hiếu cổ Ông theo đúng từng chữ trong lời Khổng Tử nói và tự xem mình có nghĩa vụ kế thừa Nho giáo cổ truyền Ông làm quan thường gặp hoạn nạn, thậm chí dạy học cũng bị nịnh thần quy tội phe đảng, bắt giam và bắt giải tán học trò Đối với Trình Di, trong thiên hạ chỉ có một Lý Nó vĩnh cửu, ta không thể

Ngày đăng: 15/04/2021, 19:34

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w