1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Lịch sử khai phá vùng đất nam bộ việt nam tài liệu giảng dạy

241 12 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Lịch sử khai phá vùng đất nam bộ việt nam tài liệu giảng dạy
Tác giả ThS. Dương Thế Hiền
Trường học Trường Đại học An Giang
Chuyên ngành Lịch sử
Thể loại Tài liệu giảng dạy
Năm xuất bản 2019
Thành phố An Giang
Định dạng
Số trang 241
Dung lượng 2,5 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1.1.2.2 Đất đai Quá trình hình thành đất gắn liền với lịch sử phát triển nguồn gốc đá mẹ vốn có sự khác biệt tương đối, giữa miền Tây Nam Bộ là miền châu thổ được phù sa bồi đắp hàng nă

Trang 1

LỜI CAM KẾT

Tôi xin cam kết đây là tài liệu giảng dạy do chính tôi thực hiện

Kết quả nghiên cứu, biên soạn được trình bày trong tài liệu giảng dạy này chưa từng công bố ở các công trình nghiên cứu khác

Tôi xin chịu trách nhiệm về tài liệu giảng dạy của mình

An Giang, ngày 15 tháng 5 năm 2019

Tác giả biên soạn

ThS.Dương Thế Hiền

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu Trường Đại học An Giang, Ban lãnh đạo Khoa Sư phạm, quý thầy cô Bộ môn Lịch sử cùng tất cả các anh chị em giảng viên đã nhiệt tình giúp đỡ tôi hoàn thành tài liệu này

Tôi cũng xin tỏ lòng tri ân sâu sắc đến Thư viện Trường ĐHAG, Thư viện tỉnh An Giang, Thư viện Trường ĐHSP TP Hồ Chí Minh đã tận tình giúp đỡ tôi về nguồn tư liệu

Tuy chỉ được biên soạn trong thời gian ngắn, nhưng với sự giúp đỡ tận tình của quý lãnh đạo, sự hỗ trợ của bạn bè, đồng nghiệp, gia đình, sự cố gắng hết sức mình, tôi đã có điều kiện tiếp thu được kiến thức và phương pháp nghiên cứu vô cùng quý báu để hoàn thành tại liệu này

Một lần nữa xin chân thành cảm ơn!

An Giang, ngày 15 tháng 5 năm 2019

Tác giả biên soạn

ThS.Dương Thế Hiền

Trang 3

MỤC LỤC

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VÙNG ĐẤT NAM BỘ 1

1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên 1

1.1.1 Vị trí địa lý 1

1.1.2 Điều kiện tự nhiên 1

1.1.2.1 Địa hình 1

1.1.2.2 Đất đai 2

1.1.2.3 Khí hậu 6

1.1.2.4 Thủy văn 7

1.1.2.5 Tài nguyên khoáng sản 11

1.2 Diện mạo dân cư Nam Bộ 12

1.3 Khái quát lịch sử vùng đất Nam Bộ đến trước năm 1620 17

CHƯƠNG 2 CHÍNH QUYỀN CHÚA NGUYỄN VỚI QUÁ TRÌNH KHAI PHÁ VÙNG ĐẤT NAM BỘ TỪ NĂM 1620 ĐẾN NĂM 1777 23

2.1 Quá trình xác lập, thực thi và bảo vệ vùng đất Nam Bộ của chúa Nguyễn trong diễn trình Nam tiến của dân tộc Việt Nam 23

2.1.1 Khái quát diễn trình khai phá về phương Nam của dân tộc Việt Nam trong quá trình tương tác với Champa (đến năm 1693) và Chân Lạp (đến năm 1620) 23

2.1.2 Quá trình xác lập, thực thi và bảo vệ chủ quyền trên vùng đất Nam Bộ của Chúa Nguyễn đến năm 1777 32

2.1.2.1 Quá trình xác lập và thực thi chủ quyền của Chúa Nguyễn trên vùng đất Nam Bộ từ nửa đầu thế kỉ XVII đến nửa cuối thế kỉ XVIII 32

2.1.2.2 Công cuộc tổ chức quân đội và cơ sở phòng thủ bảo vệ vùng đất Nam Bộ của Chúa Nguyễn đến năm 1777 41

2.1.2.3 Hoạt động quốc phòng và kiến tạo hòa bình trên vùng đất Nam Bộ dưới thời Chúa Nguyễn 49

2.2 Chính sách khai hoang, lập ấp của Chúa Nguyễn trên vùng đất Nam Bộ đến năm 1777 53

2.2.1 Những chính sách thúc đẩy khai hoang, lập làng và phát triển vùng đất Nam Bộ Việt Nam của chính quyền Chúa Nguyễn từ nửa đầu thế kỉ XVII đến cuối thế kỉ XVIII 53

2.2.2 Tổ chức và thiết lập các đơn vị hành chính của Chúa Nguyễn trên vùng đất Nam Bộ 67

Trang 4

CHƯƠNG 3 QUÁ TRÌNH KHAI PHÁ VÀ BẢO VỆ VÙNG ĐẤT NAM BỘ TRONG GIAI ĐOẠN NỘI CHIẾN NGUYỄN ÁNH-TÂY SƠN TỪ NĂM 1778 ĐẾN NĂM 1802 74 3.1 Cuộc nội chiến Nguyễn Ánh-Tây Sơn trên vùng đất Nam Bộ 74 3.2 Những chính sách khai phá, tổ chức và thiết lập các đơn vị hành chính của Nguyễn Ánh ở Nam Bộ trước năm 1802 78 3.3 Công cuộc bảo vệ chủ quyền đất nước trên vùng đất Nam Bộ cuối thế kỉ XVIII 83 CHƯƠNG 4 QUÁ TRÌNH KHAI PHÁ VÀ BẢO VỆ VÙNG ĐẤT NAM BỘ DƯỚI TRIỀU NGUYỄN TỪ NĂM 1802 ĐẾN NĂM 1858 95 4.1 Công cuộc khai phá Nam Bộ dưới thời Nguyễn 95 4.1.1 Các phương thức tổ chức khai hoang, chế độ ruộng đất và kinh tế nông nghiệp của Nam Bộ 95 4.1.2 Đào kênh, phát triển kinh tế, ổn định xã hội, tăng cường các nguồn lực bảo

vệ biên giới Tây Nam 99 4.1.3 Tái cơ cấu bộ máy hành chính Nam Bộ trong một nền hành chính quốc gia thống nhất dưới thời Nguyễn 110 4.2 Công cuộc bảo vệ chủ quyền đất nước trên vùng đất Nam Bộ dưới thời Nguyễn 114 4.2.1 Tổ chức quân đội và thiết lập thế trận phòng thủ phương Nam trên vùng đất Nam Bộ của nhà Nguyễn 114 4.2.2 Hoạt động thực thi quốc phòng trên vùng đất Nam Bộ của nhà Nguyễn 121 CHƯƠNG 5 QUÁ TRÌNH KHAI PHÁ VÙNG ĐẤT NAM BỘ DƯỚI THỜI PHÁP THUỘC TỪ NĂM 1859 ĐẾN NĂM 1945 136 5.1 Nam Bộ với quá trình xâm lược và cai trị của thực dân Pháp từ năm 1859 đến năm 1945 136 5.1.1 Nam Bộ với quá trình đấu tranh chống xâm lược và cai trị của thực dân Pháp từ năm 1859 đến trước năm 1925 136 5.1.2 Nam Bộ trong quá trình đấu tranh chống Pháp từ năm 1925 đến trước năm

1945 149 5.2 Nam Bộ trong sự tác động chính sách quản lý và khai thác của thực dân Pháp từ năm 1859 đến năm 1945 161 5.2.1 Tổ chức bộ máy cai trị và thiết lập các đơn vị hành chính đến trước 1945 161 5.2.2 Những biến đổi ở Nam Bộ từ chính sách khai thác của thực dân Pháp đến năm 1945 166 CHƯƠNG 6 VÙNG ĐẤT NAM BỘ VIỆT NAM TỪ NĂM 1945 ĐẾN NĂM 2010 187 6.1 Nam Bộ trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954) 187

Trang 5

6.2 Nam Bộ trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975) 195 6.3 Nam Bộ thời kỳ thống nhất đất nước, đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế (1975-2010) 215 TÀI LIỆU THAM KHẢO 230

Trang 6

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VÙNG ĐẤT NAM BỘ

*Mục tiêu Chương 1:

Sau khi học xong Chương 1, sinh viên cần đạt được mục tiêu sau:

1 Khái quát được vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên bao gồm địa hình, đất đai, khí hậu, thủy văn, tài nguyên khoáng sản của vùng đất Nam Bộ

2 Hiểu biết về các thành phần dân cư trên vùng đất Nam Bộ trong lịch sử

3 Phục dựng lại được bức tranh quá khứ của vùng đất Nam Bộ đến trước năm 1620

1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên

1.1.1 Vị trí địa lý

Nam Bộ được giới hạn giữa các tọa độ 8025’30”-12009’34” vĩ độ Bắc;

103022’55”-107000’00” kinh độ Đông (Nguyễn Huy Dũng (chủ biên), 2004), phía Tây giáp Vịnh Thái Lan, phía Đông và Đông Nam giáp Biển Đông, phía Bắc và Tây Bắc giáp Campuchia và một phần phía Tây Bắc giáp Nam Trung Bộ

Nam Bộ bao gồm không gian được phân bố theo ranh giới hành chính thuộc địa bàn 19 tỉnh/thành phố bao gồm: Bình Phước, Tây Ninh, Bình Dương, Đồng Nai,

Bà Rịa-Vũng Tàu, Thành phố Hồ Chí Minh thuộc miền Đông Nam Bộ; Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Vĩnh Long, Đồng Tháp, An Giang, Kiên Giang, Cần Thơ, Hậu Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau thuộc miền Tây Nam Bộ hay còn gọi

là Đồng bằng sông Cửu Long, với tổng diện tích là 6.412.400 ha

Trên thực tế, Nam Bộ là tên gọi mang hàm ý không gian hành chính (ngay từ thuở ban đầu) hơn là xuất phát từ một khái niệm địa lý tự nhiên Vì lẽ đó, ranh giới Nam Bộ khá biến động theo thời gian, theo sự phân chia của các hệ thống hành chính-chính trị khác nhau qua các thời kỳ Về mặt lịch sử, những người dân Việt di

cư nhiều thời gian từ trước thế kỷ XVII đã đặt nền móng để hòa nhập vùng đất này vào Việt Nam Tiếp đến, trong thế kỷ XVII, các Chúa Nguyễn là những người có công khẳng định cương vực nước ta tới vùng đất Nam Bộ ngày nay

1.1.2 Điều kiện tự nhiên

1.1.2.1 Địa hình

Địa bàn phía Nam bán đảo Đông Dương, từ vĩ độ 12 Bắc, trải qua các bậc thềm địa hình hạ thấp dần theo hướng Đông Bắc-Tây Nam, từ đồi thấp dưới 100m tới đồng bằng châu thổ Tuổi địa hình và lịch sử phát triển đã được minh giải trong nội dung về địa chất và địa mạo Phần lớn địa hình Đông Nam Bộ là kết quả nhiều biến đổi nội ngoại sinh trong quá khứ nên bề mặt địa hình bị cắt xẻ mạnh Trong khi

đó, phần lớn đồng bằng Tây Nam Bộ (Đồng bằng sông Cửu Long) thì rất bằng

Trang 7

phẳng, có tuổi địa hình còn rất trẻ, sau 6-7 ngàn năm trở lại đây, càng ra gần bờ biển thì tuổi địa hình càng trẻ dần

Trên nền địa hình tương đối bằng phẳng này nhô lên các khối núi cao, như:

Bà Rá (723m), Bà Đen (986m), Chứa Chan (837m), vùng Bảy Núi (núi Cấm, 710m) Bao quanh đất liền là vùng biển nông và nhiều quần đảo như Côn Đảo, Hòn Khoai, Nam Du và Phú Quốc Theo Phạm Hoàng Hải và cộng sự, khu vực nghiên cứu thuộc

2 miền cảnh quan Miền cảnh quan đồng bằng cao Đông Nam Bộ gồm vùng cảnh quan đồi Đông Nam Bộ, vùng cảnh quan đồng bằng ven biển Đông Nam Bộ, và miền cảnh quan đồng bằng Nam Bộ (Phạm Hoàng Hải, 1997)

Xét về mặt thời gian, độ cao địa hình này cũng có sự thay đổi tương đối khi

mà mực nước biển trong quá khứ vài chục ngàn năm qua đã có lúc thấp hơn 120m hay cao hơn vài mét so với hiện tại, hay những vùng đất được bồi đắp lên hay bị mài mòn thấp đi, hay bị chìm ngập

1.1.2.2 Đất đai

Quá trình hình thành đất gắn liền với lịch sử phát triển nguồn gốc đá mẹ vốn

có sự khác biệt tương đối, giữa miền Tây Nam Bộ là miền châu thổ được phù sa bồi đắp hàng năm và miền Đông Nam Bộ là đồi núi thấp chịu quá trình phong hóa rửa trôi lâu dài nên đặc điểm phân bố đất trong khu vực nghiên cứu sẽ được trình bày thứ

tự theo 2 vùng:

* Đất ở Đông Nam Bộ

Ở Đông Nam Bộ có mặt hầu hết các nhóm đất phổ biến ở Việt Nam Trên địa hình thềm và đồi thấp ở Đông Nam Bộ là nhóm đất xám, đất nâu đỏ trên đá bazan bị rửa trôi phong hóa mạnh mẽ Các nhóm đất này có lịch sử phát triển tương đối lâu dài so với các nhóm đất khác trong khu vực và diện phân bố còn lan rộng qua phần miền đông Campuchia Do phần lớn là đất dưới tán rừng, hay mới được khai phá nên chất lượng đất còn khá tốt Đất phù sa chỉ phân bố theo dải hẹp dọc các sông suối Đất cát phân bố trên các dải đụn cát dọc bờ biển Đặc điểm chung về đất vùng Đông Nam Bộ là sự đa dạng, phong phú và có chất lượng cao so với các vùng đất đồi núi khác của Việt Nam Tính đa dạng của đất khu vực thể hiện ở sự có mặt của nhiều nhóm đất, gồm:

- Đất cát biển: Có khoảng 28.058 ha phân bố trên các đụn cát dọc theo bờ biển các huyện Xuyên Mộc, Long Đất, Châu Thành, thành phố Vũng Tàu và huyện Cần Giờ Đất cát biển có bề dày rất biến động, đặc biệt ở những đụn cát trẻ do cát di động Tỷ lệ cấp hạt cát cao (76-85%), đất có phản ứng chua (pHKCl từ 4,2 đến 4,7), nghèo mùn, đạm, lân và kali, khả năng giữ nước kém Tuy không phải là loại đất tốt nhưng lại có loại hình sử dụng đất phong phú với nhiều loại cây trồng cạn gồm cả rau màu và cây ăn trái Những vùng đất cát đã có quá trình canh tác lâu năm thì đất cũng có chiều hướng tốt lên nhiều do được bổ sung các chất dinh dưỡng qua phân bón (Phạm Quang Khánh, 1995)

Trang 8

- Đất mặn: Có khoảng 2.500 ha đất mặn, phân bố chủ yếu ở ven quốc lộ 51 đi Thành phố Hồ Chí Minh và huyện Cần giờ (Phạm Quang Khánh, 1995) Mặt đất thường chỉ bị ngập nước mặn vào các đỉnh thủy triều cao trong năm Hàm lượng chất dinh dưỡng trung bình khá Yếu tố hạn chế chủ yếu là độ mặn cao, nhưng vào mùa mưa thì nhờ muối mặn được rửa trôi nên đất vẫn canh tác được

- Đất phèn: Đất phèn có diện tích 170.445 ha chiếm 7,27% diện tích toàn vùng Đất này hình thành trên trầm tích đầm lầy mặn trong các vịnh cổ, tập trung ở huyện Cần Giờ, dải đất thấp ven biển các huyện Long Đất, Xuyên Mộc và dọc thung lũng sông Vàm Cỏ Đông từ thành phố Hồ Chí Minh lên tận Gò Dầu tỉnh Tây Ninh Đất có hai nhóm phụ là đất phèn tiềm tàng ngập mặn thường xuyên và đất phèn hoạt động đã thoát ngập Đất có phản ứng chua, hàm lượng các độc tố Fe2+, Al3+ trong đất cao Đất phèn hoạt động có nguồn nước tưới chủ động thì hầu hết đã được khai thác trồng lúa 2-3 vụ, rau màu và cây ăn trái

- Đất phù sa: Diện tích hơn 87.000 ha, phân bố thành những dải hẹp dọc theo triền các sông Đồng Nai, sông Bé, sông Sài gòn, sông Ray và sông Dinh Đất phù sa chỉ chiếm một diện tích rất nhỏ so với diện tích đất tự nhiên vùng Đông Nam Bộ (3,72%) (Vũ Cao Thái, Phạm Quang Khánh, Nguyễn Văn Khiêm, 1997) nhưng phân

bố khá phân tán Đất phù sa tạo nên đồng bằng tương đối lớn là thung lũng Tánh Linh và thung lũng Định Quán Có 4 đơn vị đất được thể hiện trên bản đồ là đất phù

sa chưa phân hoá phẫu diện; đất phù sa có tầng loang lổ đỏ vàng; đất phù sa gley và đất phù sa ngòi suối Các loại đất này hầu hết đều có phản ứng chua, có nơi rất chua

do bị rửa trôi nhiều Do có độ phì cao, gần nguồn nước nên tuy có diện tích nhỏ nhưng đất phù sa đã được khai thác toàn bộ để trồng lúa và các cây hoa màu, cây ăn trái

- Đất xám: Đây là nhóm đất có diện tích lớn thứ hai sau đất đỏ vàng (744.652

ha, chiếm 31,75% diện tích tự nhiên vùng Đông Nam Bộ) và phân bố rộng khắp Đất xám phát triển trên phù sa cổ thường có tầng đất dày hơn và phân bố thành vùng có diện tích tương đối lớn và bằng phẳng so với đất xám trên đá granit Đặc điểm chung của đất xám là có phản ứng chua nhẹ, đất nghèo dinh dưỡng, cấp hạt thô, dễ bị rửa trôi, dễ thoát nước nên thích hợp với các loại cây trồng cạn nhưng cần đầu tư phân bón cao Đất phát triển trên đá granit thường có tầng đất mỏng, cấp hạt thô dễ bị rửa trôi xói mòn Đất xám phân bố tập trung ở địa bàn Tây Ninh, phía bắc Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Phước, Bình Dương, Đồng Nai Phần lớn diện tích đất xám được dùng trồng mía, sắn, điều, lạc Gần đây thì diện tích trồng cây ăn trái, cây cao su cũng được mở rộng trên loại đất này

- Đất đen nhiệt đới: Diện tích nhỏ (khoảng 99.000 ha) song là nhóm đất đặc trưng cho khu vực Đông Nam Bộ do có nhiều họng núi lửa ở Định Quán, Tân Phú, Long Khánh, Thống Nhất (Đồng Nai), Châu Thành, Xuyên Mộc (Bà Rịa-Vũng Tàu) Đất đen hình thành trên các vật liệu tàn tích, sườn tích, lũ tích của đá bọt và đá

Trang 9

bazan (Tôn Thất Chiểu, Nguyễn Công Pho, Nguyễn Văn Nhân, Trần An Phong, Phạm Quang Khánh, 1991)

Đặc điểm chung là tầng đất rất mỏng, nhiều đá vụn, đá lộ đầu Đất có phản ứng gần trung tính, độ phì nhiêu rất cao, giàu can xi, giàu lân tổng số gấp hàng chục lần so với các loại đất khác (Tôn Thất Chiểu, Nguyễn Công Pho, Nguyễn văn Nhân, Trần An Phong, Phạm Quang Khánh, 1991), tỷ lệ các chất dinh dưỡng rất cân đối, cấu trúc đất tơi xốp Vì vậy, mặc dù tầng đất mỏng, đất đen vẫn được khai thác đề trồng cây trồng cạn vào mùa mưa hoặc lúa ở những vùng trũng Những cây trồng cạn phổ biến trên đất này là ngô, các loại đậu, đặc biệt là cây thuốc lá cho chất lượng cao Ngoài ra, còn có cây ăn quả được trồng rất tốt

- Đất đỏ vàng: Đây là nhóm đất có diện tích lớn nhất vùng với trên một triệu

ha, phát triển trên một số loại đá mẹ là các đá bazan, granit, phù sa cổ, phiến sét Đặc biệt là trên vỏ phong hóa đá bazan hình thành loại đất nâu đỏ đặc trưng với tầng đất dày có thể tới vài mét, tính chất hóa học và lý học có ưu thế hơn đất hình thành trên các đá mẹ khác: hàm lượng sét cao, cấu trúc viên hạt bền vững; đất có phản ứng gần trung tính, hàm lượng hữu cơ và đạm ở mức khá, lượng lân tổng số ở mức giàu và chỉ thua đất đen Đất nâu đỏ phân bố thành những vùng tương đối rộng nên thuận tiện cho trồng trọt tập trung Nhóm đất đỏ vàng này còn phân bố một cách liên tục và kéo dài qua phần lớn diện tích miền Đông Campuchia

Nhìn chung, quỹ đất ở Đông Nam Bộ rất thích hợp cho nhiều loại cây trồng cạn ngắn ngày và dài ngày Đa dạng về đất cũng tạo nên nhiều dạng sử dụng đất hơn

so với vùng đồng bằng Tây Nam Bộ Phân bố nhóm đất (liên quan tới độ phì), bề dày tầng đất, mức độ phân cắt địa hình, độ dốc, là những yếu tố chi phối chính các kiểu

sử dụng đất đối với các cây trồng cạn và tiếp đến mới là nguồn cấp nước

* Đất ở Tây Nam Bộ

Sự hình thành đất ở Tây Nam Bộ hay vùng Đồng bằng sông Cửu Long chịu ảnh hưởng rất rõ các quy luật trầm tích và phát triển địa mạo của châu thổ này Theo quan hệ tương tác sông và biển mà sự hình thành trầm tích giàu hữu cơ trong điều kiện yếm khí sẽ tạo điều kiện khử ion SO4 trong nước biển thành các dạng sulphur là nguồn gốc tạo nên vật liệu sinh phèn trong đất phèn ở Đồng bằng sông Cửu Long Nước biển xâm nhập toàn bộ sông rạch ven biển vào mùa khô, thấm vào đất còn làm đất bị mặn Ngoài ra, ngập lụt hàng năm cũng góp phần bồi đắp phù sa và phát triển dải đất phù sa ngọt ven bờ sông rạch

Về nguồn gốc phát sinh, ở Đồng bằng sông Cửu Long gồm có các nhóm đất sau: (Nguyễn Bích Thu, Trần Thị Tường Linh, 2005)

- Đất phù sa của hệ thống sông Mekong: có 4 đơn vị

1 Đất phù sa được bồi có diện tích khoảng 83.914 ha, phân bố chủ yếu ở các tỉnh An Giang, Đồng Tháp, Tiền Giang, Hậu Giang Đây là các dải đất thấp ven sông

và các cù lao giữa sông được bồi phù sa hàng năm Đất có màu nâu tươi toàn phẫu

Trang 10

diện chưa phân hoá Đất có thành phần cơ giới là thịt pha cát, và là loại đất có độ phì nhiêu cao nhất ở đồng bằng

2 Đất phù sa không được bồi, có diện tích khoảng 96.885 ha tập trung phần lớn ở các tỉnh Bến Tre, Đồng Tháp, Hậu Giang, Vĩnh Long Đất có màu nâu nhạt, cấu trúc đất tơi xốp

3 Đất phù sa không được bồi gley, diện tích khoảng 356.000 ha phân bố ở hầu khắp các tỉnh trừ địa bàn Cà Mau Nhóm đất này phân bố xa sông, địa hình thấp đọng nước nên gley là hiện tượng phổ biến trong phẫu diện đất

4 Đất phù sa không được bồi có tầng loang lổ, có diện tích 645.000 ha, phân

bố ở địa hình hơi cao xa sông Đây là đất đã trồng lúa lâu đời, đốm vệt loang lổ đỏ vàng trong phẫu diện đất là do đất phù sa biến đổi do trồng lúa nước, khô ẩm xen kẽ liên tục trong năm

- Đất mặn: Đất mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long có diện tích 744.547 ha, đứng sau đất phèn và đất phù sa Đất mặn do muối biển, chủ yếu là NaCl Tuỳ thuộc mức độ mặn có 4 đơn vị:

1 Đất mặn dưới rừng ngập mặn, diện tích khoảng 56.000 ha, phân bố ở vùng ven biển Bến Tre, Vĩnh Long, Cà Mau, Kiên Giang

2 Đất mặn nhiều có diện tích 102.103 ha, phân bố ở nhiều tỉnh: Long An, Tiền Giang, Bến tre, Vĩnh Long, Hậu Giang, Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang

3 Đất mặn trung bình phân bố ở tất cả các tỉnh với diện tích khoảng 148.000

ha

4 Đất mặn ít có diện tích 437.488 ha

- Đất phèn là nhóm đất có diện tích lớn nhất ở Đồng bằng sông Cửu Long (khoảng 1,8 triệu ha) và cũng là vùng đất phèn lớn trên thế giới Tên gọi “đất phèn” xuất phát từ đặc tính chua của đất Đây là nhóm đất rất đặc biệt và cũng phân hoá phức tạp nhất ở Đồng bằng sông Cửu Long (Vũ Cao Thái, Nguyễn Bích Thu, 1991) Trước đây nhiều người gọi đây là nhóm đất có vấn đề bởi khó sử dụng cho trồng trọt Đất này có nguồn gốc hình thành từ trầm tích đầm lầy biển

Về hình thái phẫu diện, đất phèn tiêu biểu bao giờ cũng có tầng sinh phèn (tầng chứa vật liệu lưu huỳnh) Khi tầng này thoát khỏi ngập nước tức là ở trạng thái ôxy hoá, các hợp chất lưu huỳnh sẽ chuyển hoá hình thành axit sunphuric gây chua cho đất, trị số pH lúc này hạ thấp dưới 3,5

- Đất xám: phát triển trên nền trầm tích cổ vốn được hình thành từ thời kỳ Pleistocen hay còn gọi là phù sa cổ, phân bố ở các vùng gò cao ở ven biên giới, thuộc địa bàn Kiên Giang, An Giang, Đồng Tháp, Long An và quanh khối Bảy Núi (An Giang) Dải đất này còn kéo dài qua lãnh thổ Campuchia, trên thềm cổ của sông Mekong Đây là vùng ngập nông trong mùa lũ lớn Do trải qua quá trình phong hóa, rửa trôi lâu dài nên đất thường có sa cấu nhẹ, nghèo hữu cơ và chất dinh dưỡng,

Trang 11

nhiều nơi tầng đất còn rất mỏng Ở phía Đông, đất xám ở vùng Mộc Hóa, Đức Huệ, Đức Hòa - Củ Chi nối liền với dải đất xám xa hơn ở miền Đông Nam Bộ

- Đất xói mòn mạnh trơ sỏi đá: Đất xói mòn trơ sỏi đá chiếm diện tích rất nhỏ trên các khối núi nhô lên trên đồng bằng ở vùng tứ giác Long Xuyên

1.1.2.3 Khí hậu

Nam Bộ nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa Gió mùa Tây Nam, xuất phát và mang hơi ẩm từ Ấn Độ Dương cùng bộ phận gió mùa mang hơi ẩm từ vùng biển vĩ độ thấp lên vùng Đông Bắc Á trong mùa hè và gió mùa Đông Bắc đi theo chiều ngược lại mang theo luồng khí lạnh mùa Đông Hơi ẩm theo gió mùa Tây Nam

là nguồn gây mưa chính trong khu vực Gió mùa Đông Bắc tuy là luồng khí khô lạnh, nhưng khi qua vùng ven biển dọc bờ Trung Hoa và biển Đông có tích lũy theo hơi ẩm nên vẫn gây mưa nhỏ hay mây mù vào thời kỳ cao điểm gió mùa

Ở mức độ chi tiết hơn thì trên lưu vực hai sông Mekong và Sài Gòn-Đồng Nai thì có nhiều tiểu vùng khí hậu khác nhau, do phân đới khí hậu theo vĩ độ và cao

độ Có những tiểu vùng khí hậu: nhiệt đới, cận nhiệt đới, ôn đới và hàn đới-trên lưu vực Mekong và nhiệt đới, cận nhiệt đới trên lưu vực Sài Gòn-Đồng Nai

Ngoài ra, ảnh hưởng của đới khí hậu Tây Thái Bình Dương liên quan tới các hiện tượng ENZO cũng là nguyên nhân gây nên những biến động khí hậu có tính chu

kỳ tương đối khô hoặc ẩm kéo dài vài năm trong khu vực quanh Biển Đông (Takehiro Mithsuguchi, Phong X Dang, Hiroyuki Kitagawa, Tetsuo Uchida, Yasuyuki Shibata, 2008, tr 341-352)

*Nhiệt độ và bức xạ

Phông nền nhiệt độ khu vực cao và khá ổn định, với nhiệt độ trung bình năm

là 27oC và chuyển tiếp từ từ sang vùng núi, cao nguyên Nam Tây Nguyên với nền nhiệt độ trung bình còn 19oC Nhiệt độ thấp nhất cũng không dưới 14oC

Ở miền Tây Nam Bộ, nhiệt độ trong hai tháng 1 và 7 là lớn nhất Biến thiên nhiệt theo mùa cũng không lớn với biên độ nhiệt năm là 2-3oC, nhưng biên độ nhiệt ngày là khá lớn, 6-8oC trong mùa mưa và xấp xỉ 10o

C trong mùa khô Ở miền Đông Nam Bộ, chênh lệch nhiệt độ tháng lạnh và nóng nhất không quá 4oC, nhưng chênh lệch nhiệt độ trong ngày thì lại khá cao, có từ 10oC đến 14o

C vào mùa khô và 7oC đến 8oC vào mùa mưa

Bức xạ phong phú và ổn định ở khoảng 150 Kcal/cm2/năm và thấp hơn chút ít

ở miền Đông Nam Bộ Tháng có lượng bức xạ lớn nhất là tháng 3

*Bốc hơi

Dưới phông nền nhiệt và bức xạ cao nên lượng bốc hơi toàn vùng khá lớn Ở miền Tây Nam Bộ, lượng bốc hơi đạt 3-6 mm/ngày, và giá trị này lớn nhất vào mùa khô (120-180 mm/tháng) Ở miền Đông Nam Bộ, lượng bốc thoát hơi nước lớn nhất, 5,0-6,0 mm/ngày vào giai đoạn cuối mùa khô

Trang 12

*Chế độ mưa

Lượng mưa nhiều năm phân phối không đều Trên thực tế tồn tại một trục rãnh ít mưa hướng Tây Bắc-Đông Nam theo hướng trục châu thổ Mekong với lượng mưa trung bình năm là 1.800mm, thấp nhất là 1.600mm và cao nhất là 2.000mm Phía Tây Nam của rãnh khí hậu này là dải khí hậu mưa ẩm kéo dài dọc bán đảo Cà Mau tới Hà Tiên với lượng mưa trung bình năm là 2.600mm, lượng mưa thấp nhất là 2.400mm và lớn nhất là 2.800mm Ở sườn phía Bắc của rãnh khí hậu này có lượng mưa tăng dần, với lượng mưa trung bình năm là 2.200mm, lượng mưa thấp nhất là 2.000mm và lớn nhất là 2.400mm, và tiếp cận tới tâm mưa trên cao nguyên Bảo Lộc-nơi có lượng mưa lớn nhất là 2.800mm Tương tự, dọc theo bờ biển từ Vũng Tàu trở

ra thì lượng mưa cũng tăng dần khi đi vào nội địa và tiếp cận với tâm mưa Bảo Lộc Mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10 với lượng mưa tập trung tới 87-88% lượng mưa năm Trong mùa mưa thường xuất hiện lốc xoáy nguy hiểm

1.1.2.4 Thủy văn

Khu vực nghiên cứu có 2 sông lớn chảy qua là sông Mekong và sông Sài Gòn-Đồng Nai Phần lớn lưu vực sông Sài Gòn-Đồng Nai bao phủ phần miền Đông Nam Bộ, còn Tây Nam Bộ là một phần hạ lưu của lưu vực sông Mekong vốn chảy qua nhiều vĩ tuyến, từ 6o tới 34o Bắc cũng như nhiều đới khí hậu Trong khi đó lưu vực sông Sài Gòn-Đồng Nai có hình dạng khá điều hòa theo trục vĩ tuyến và chỉ kéo dài qua vĩ tuyến 10o17’-12o20’ Bắc

Ngoài ra còn có nhiều sông nhỏ, có độ dài dưới 100km, đổ ra vùng bờ biển từ Phan Thiết tới Vũng Tàu, như sông Phan, sông Dinh, sông Ray, sông Cái Lưu vực các sông này khá dốc, và lòng sông hầu như bị cạn nước vào mùa khô

* Sông Mekong

Sông Mekong là sông lớn thứ 10 trên thế giới, với tổng diện tích lưu vực tới 795.000km2, chiều dài sông chính khoảng 4.200km, bắt nguồn từ cao nguyên Tây Tạng ở độ cao 5.000m

Vùng thượng lưu sông Mekong chạy dài từ nơi bắt nguồn ở độ cao 5.000m quanh năm tuyết phủ của cao nguyên Tây Tạng đến Chiang Sean Đây là phần lưu vực hẹp chiếm 19% diện tích, có địa hình cao nhiều núi non hiểm trở Tuy vậy, đây

là vùng dẫn nguồn nước quan trọng từ tuyết tan trên cao nguyên Tây Tạng

Vùng trung lưu được tính từ Chiang Saen xuống tận Kratie, chiếm 57% diện tích lưu vực Chỉ tại vùng này có nhận thêm 30 phụ lưu quan trọng Đây cũng là vùng đón nhận các cơn bão lớn thổi theo hướng Tây đi vào lưu vực đem lại mưa to thường gây ra lũ lụt lớn trên sông

Vùng hạ lưu sông Mekong được tính từ Kratie kéo dài ra Biển Đông với diện tích 198.800km2, chiếm 24% diện tích lưu vực Tại Phnom Penh, sông Mekong gặp sông Tonle Sap có diện tích lưu vực riêng là 85.000km2 Sông này nối với sông Mekong vào Biển Hồ

Trang 13

Biển Hồ là một hồ chứa nước tự nhiên có dung tích 85 tỷ m3, diện tích mặt nước biến đổi từ 3.000km2

vào cuối mùa cạn đến 14.000km2 vào cuối mùa lũ

Hàng năm nơi này nhận khoảng 60 tỷ m3

nước vào mùa lũ Từ sau Biển Hồ trở về hạ lưu chế độ thủy văn chịu ảnh hưởng mạnh của thủy triều biển

*Sông rạch tự nhiên và kênh đào vùng Đồng bằng sông Cửu Long

Sau khi nhập lưu với sông Tonle Sap, sông Mekong phân ra làm 2 nhánh chính: sông Tiền và sông Hậu, hay còn gọi là 2 nhánh Mekong và Bassac trong các văn liệu quốc tế Xuôi về hạ lưu, 2 nhánh sông này lại liên thông với nhau qua sông Vàm Nao

Sông Tiền chảy theo hướng Tây Bắc-Đông Nam, chảy qua các tỉnh An Giang, Đồng Tháp, Tiền Giang, Vĩnh Long, Trà Vinh và Bến Tre, đổ ra Biển Đông theo 6 cửa là Cửa Tiểu, Cửa Đại, Ba Lai, Hàm Luông, Cổ Chiên và Cung Hầu Đoạn chảy qua An Giang dài khoảng 80km Gia Định thành thông chí chép:

“Sông Tiền (sông trước) ở phía Tây trấn, nguồn sông nầy ở phía Bắc từ Ai Lao xuống Cao Miên đến Nam Vang, theo hướng Đông chảy đến Cầu Nôm, Tân Châu qua sông Đại Tuần trước trấn Vĩnh Thanh đến Ba Lai, Mỹ Tho rồi chảy

về Nam ra hai cửa biển Đại, Tiểu, ấy là dòng chính của sông lớn ban đầu Ở sông Đại Tuần chảy xuống bến bờ chia ra 3 nhánh: một nhánh qua phía Đông trấn làm sông lớn Long Hồ, xuống phía Nam ra cửa biển Cổ Chiên; một nhánh

là sông lớn Hàm Luông, về phía Nam đến hai cửa biển Băng Côn và Ngao Châu; một nhánh qua sông dưới Ba Lai đến Tiên Thủy, xuống phía Nam ra cửa biển Ba Lai Thế nước ôm quanh cồn nọ, dựa vào bãi kia, có tới tám ngã

ba sông, nhiều nhánh đan xuyên qua Hậu Giang, trông xuống trấn Vĩnh Thanh như là một biển sao, các ngôi sao đan xen nhau.”

(Trịnh Hoài Đức, 2006, tr.70)

Sông Hậu có hướng chảy song song với sông Tiền, đi qua các tỉnh An Giang, Đồng Tháp, Cần Thơ, Hậu Giang, Vĩnh Long, Trà Vinh, Sóc Trăng, đổ ra biển theo 3

cửa là Định An, Ba Thắc và Tranh Đề Gia Định thành thông chí chép:

“Hậu Giang (sông sau) ở phía Tây Nam trấn Thượng lưu sông từ phía đông thành Nam Vang (Cao Miên), chảy xuống Châu Đốc, qua Mạt Cần Đăng; đổ xuống đồn Cường Oai ở Lấp Vò rồi qua đồn thủ Trấn Giang, đến đạo Trấn Di,

ra cửa biển Ba Thắc; nước dầm thấm khắp cả ruộng vườn, bao hàm cả cồn bãi

bờ bến, là nguồn thủy lợi rất lớn, lúa gạo cá tôm dùng ăn không hết.”

(Trịnh Hoài Đức, 2006, tr.71)

Xuôi về hạ lưu, 2 nhánh sông này lại liên thông với nhau qua sông Vàm Nao Sông Vàm Nao chảy ven thị trấn Phú Mỹ (huyện Phú Tân) và xã Kiến An (Chợ Mới) ngày nay, nối liền sông Tiền và sông Hậu Trong cuốn địa chí “Tân Châu xưa”, có viết về Vàm Nao như sau:

Trang 14

“Đúng theo cổ sử thì sông Vàm Nao xưa kia gọi “Hồi Oa thủy” (nước xoáy tròn) Sở dĩ hiện trạng nầy mà có, thường khởi từ tháng 8 đến tháng 11 âm lịch, khi sông Cửu Long bắt đầu dâng lên, nước cuồn cuộn chảy như thác lũ; những dòng nước xoáy to lớn nơi Vàm Nao ồ ạt đảo lộn liên tục làm cho sự lưu thông trở nên khó khăn Người chưa từng kinh nghiệm trên dòng nước xoáy nguy hiểm lắm lúc bị đắm thuyền.”

(Nguyễn Văn Kiềm, Huỳnh Minh, 2003, tr.149-150)

Trải qua quá trình diễn biến đào xói để tự phát triển, ngày nay sông Vàm Nao nằm gọn trong địa phận tỉnh An Giang, chảy theo hướng Đông Bắc-Tây Nam, có chiều dài khoảng 6km, chiều rộng trung bình khoảng 700m với độ sâu trên 17m, có tác dụng cân bằng dòng chảy giữa sông Tiền và sông Hậu (Ủy ban Nhân dân tỉnh An Giang, 2013, tr.122) Chính những diễn biến phức tạp của dòng chảy trên sông Vàm Nao đã tạo ưu thế rõ nét trong tác chiến của thủy quân trong các thời kì giữ nước đã qua

Sông Bình Di và sông Châu Đốc: Tại xã Khánh Bình, huyện An Phú ngày nay, sông Hậu chia dòng, nhánh hữu ngạn hẹp có độ rộng khoảng ¼ dòng chính gọi

là sông Bình Di Sau một đoạn dài trên 10km, sông Bình Di chảy đến Vĩnh Hội Đông ngày nay thì gặp sông Tà Keo và sông Châu Đốc Bắt đầu từ ngã ba sông này, sông Châu Đốc chảy đến địa phận thành phố Châu Đốc ngày nay thì nhập lưu trở lại sông Hậu, dài 18km (Ủy ban Nhân dân tỉnh An Giang, 2013, tr.122) Đây là đặc điểm khá đặc biệt tạo ra sự đặc trưng của hai con sông, rất thích hợp cho công tác bố trí, tập kích quân giặc khi mới vừa vào lãnh thổ nước ta trên tuyến sông Hậu

Ngoài ra, trên Đồng bằng còn có các sông rạch nội địa có nhiệm vụ tiêu thoát nước cục bộ Các sông nội địa có kích thước lớn gồm có:

- Sông Mỹ Thanh, sông Gành Hào, sông Bồ Đề thoát nước ra cả biển Đông

Căn cứ vào vị trí địa lý, tính chất và nhiệm vụ mà ta có thể phân hệ thống kênh đào trên Đồng bằng sông Cửu Long thành 6 hệ sau đây:

Trang 15

- Hệ thống kênh nối sông Hậu với biển Tây, cấp thoát nước cho vùng Tứ giác Long Xuyên

- Hệ thống kênh nối sông Hậu với sông Cái Lớn, Cái Bé cấp thoát nước cho vùng Tây Nam sông Hậu

- Hệ thống kênh nối sông Tiền với sông Vàm Cỏ Tây cấp thoát nước cho vùng Đồng Tháp Mười

- Hệ thống kênh nối sông Tiền với sông Hậu cấp thoát nước cho vùng giữa 2 sông

- Hệ thống kênh Quản Lộ-Phụng Hiệp chuyển nước từ sông Hậu vào bán đảo

Cà Mau

- Hệ thống kênh nối sông Vàm Cỏ Tây, Vàm Cỏ Đông

Tất cả kênh mương vùng Đồng bằng sông Cửu Long đều hoạt động theo nhịp

độ thủy triều

*Lũ lụt trên đồng bằng Tây Nam Bộ

Hàng năm vào khoảng cuối tháng 5 đến đầu tháng 6, tại Tân Châu trên sông Mekong nước bắt đầu chảy 1 chiều, người ta gọi đó là “thời kỳ trở nước” Khi mức nước ở Tân Châu vượt qua 4m, nước bắt đầu chảy tràn qua tuyến biên giới Khi dòng chảy tràn từ biên giới vào nội đồng Đồng Tháp Mười mạnh lên thì các kênh nằm theo hướng ngang sẽ ngừng chuyển nước từ sông chính vào nội đồng

Do tác động của con người trên các vùng thượng lưu và việc đào kênh dọc trên vùng Đồng Tháp Mười và Tứ giác Long Xuyên mà lượng nước lũ tràn qua biên giới ngày càng tăng làm ngăn cản dòng chảy ngang giàu phù sa từ sông chính vào nội đồng Ngập lụt ở Đồng bằng sông Cửu Long thường là do tác động giữa nước lũ từ thượng nguồn kéo về và được thế triều biển Đông dâng lên đẩy vào nội đồng

* Hệ thống sông Sài Gòn-Đồng Nai

Lưu vực hệ thống sông Sài Gòn-Đồng Nai có tổng diện tích 48.000km2

, trong

đó 47.683km2

nằm trên địa phận nước ta (99%) Chỉ một phần nhỏ (đầu nguồn sông

Bé, sông Sài Gòn, sông Vàm Cỏ) nằm trên phần đất Campuchia Lưu vực này bao trùm toàn bộ miền Đông Nam Bộ

Đây lại là lưu vực sông nội địa có diện tích lớn nhất nước Sông Đồng Nai có một nguồn thủy năng phong phú, với nhiều bậc thang và một nguồn nước dồi dào dễ khai thác Hệ thống sông Sài Gòn-Đồng Nai bao gồm sông chính và 4 sông nhánh: Sông La Ngà (tả ngạn), sông Bé, sông Sài Gòn và sông Vàm Cỏ (hữu ngạn) và các sông nhỏ ven biển

*Sông Đồng Nai

Sông Đồng Nai bắt nguồn từ dãy núi Lâm Viên, Bi Đúp trên cao nguyên Lang Biang Với hai nhánh Đa Nhim và Đa Dung ở độ cao khoảng 2000m Dòng

Trang 16

chính Đồng Nai có tổng chiều dài 628km, kể từ thượng lưu Đa Nhim đến cửa Soài Rạp Phần thượng lưu dòng sông bị chặn thành đoạn tạo thành các hồ Xuân Hương,

Mê Linh và hồ Than Thở, tới rìa cao nguyên có nhiều thác ghềnh như Angkroet, Đa Tăng La, Pren, Guru, Pong Gua

Phần trung lưu sông Đồng Nai được kể từ sau hợp lưu hai nhánh sông nói trên đến thác Trị An, với chiều dài 300km Ở đây, sông Đồng Nai chảy qua địa hình núi và cao nguyên với bậc thềm biến đổi, lòng sông hẹp và độ dốc lớn Hạ trung lưu được tính từ sau thác Trị An đến cửa Soài Rạp, có chiều dài 150km, sông đi vào vùng đồng bằng, lòng sông rộng và sâu, độ dốc nhỏ, thủy triều ảnh hưởng đến tận chân thác Trị An Sông Đồng Nai đổ ra biển qua hai phân lưu chính: sông Lòng Tàu

và sông Soài Rạp

*Sông La Ngà

Sông La Ngà là phụ lưu duy nhất nằm bên phía trái dòng chính sông Đồng Nai, bắt nguồn từ cao nguyên Di Linh (1.500-1.600m) và Bảo Lộc (1.300m) đổ ra dòng chính tại vị trí cách thác Trị An 38km về phía thượng lưu Chiều dài sông là 290km, diện tích lưu vực 4.100km2

Hệ thống sông ngòi trên vùng đất Nam Bộ là những tuyến thủy lộ rất quan trọng trong chiến lược khai phá, xây dựng, phát triển và bảo vệ vùng đất này trong suốt chiều dài lịch sử

1.1.2.5 Tài nguyên khoáng sản

Vùng đất Nam Bộ không giàu tài nguyên khoáng sản, đặc biệt là khoáng sản kim loại Các kết quả điều tra tìm kiếm cho tới nay chủ yếu phát hiện các điểm mạch quặng có trữ lượng và chất lượng thấp trong vùng núi đá, hay trên một số đảo ngoài khơi Tài liệu khảo cổ cho rằng người xưa đã khai thác nguyên liệu khoáng sắt trong

vỏ phong hóa (đá ong) để luyện đồ sắt Trên thực tế, khoáng chứa sắt và nhôm nằm phân tán với hàm lượng thấp nhưng có tổng trữ lượng khá cao trong vỏ phong hóa ở miền Đông Nam Bộ Quặng quý kim, đá quý, đá trang sức cũng rất hiếm Sa khoáng vàng hay vàng xâm tán trong mạch đá ở Bảy Núi, Châu Thới, suối Linh, suối Bà Hào Đá mỹ nghệ, đá nửa quý, như mã não ngũ sắc, opan, canxedon, thạch anh tía, thạch anh vàng gặp trong các mạch đá ở Tri Tôn, Hà Tiên, hòn Hải Tặc, hòn Mấu,

Củ Tron, nhưng trữ lượng các loại đá này cũng không nhiều

Đất sét làm gốm, vật liệu xây dựng thì rất phong phú ở vùng đồng bằng châu thổ cũng như vùng đồi núi Đông Nam Bộ Vùng Đồng Nai, Bình Dương, Bình Phước đều có nhiều mỏ sét kaolin có chất lượng cao Từ nguồn nguyên liệu này đã hình thành các vùng sản suất gốm sứ có tiếng ở đây Đất dùng để nung gạch thì có ở nhiều nơi Đá vôi không nhiều, tập trung ở cụm núi đá vôi ở khu vực Hà Tiên, Hòn Chông được khai thác để làm xi măng từ vài chục năm qua Cuội, sạn sỏi, cát xây dựng thường phổ biến ở các triền sông suối ở miền Đông Nam Bộ

Trang 17

Nhóm vật liệu đá tập trung chính ở vùng núi miền Đông Nam Bộ, vùng Hà Tiên, Bảy Núi ở miền Tây Nam Bộ kéo dài qua tới dãy Cardamon thuộc Campuchia Chủ yếu đây là nhóm đá có độ cứng trung bình và thấp như, cát kết bột kết, phiến sét

Đá cứng không nhiều, chỉ gặp ở Đông Nam Bộ và Bảy Núi

Ở dưới lòng đất Nam Bộ không có than đá, đá dầu, nhưng than bùn thì khá phổ biến ở dạng vỉa trong vùng đầm lầy tù đọng trên châu thổ, như ở U Minh, Tứ giác Long Xuyên và Đồng Tháp Mười Trên đồng bằng châu thổ ta cũng thường gặp khí thiên nhiên phát sinh trong trầm tích nông từ quá trình phân hủy tàn tích hữu cơ

Dầu khí là tài nguyên quan trọng có trữ lượng phát hiện lớn trên thềm lục địa bao quanh vùng Nam Bộ Giá trị sản lượng dầu khí hiện đang đóng góp một tỷ trọng lớn trong thu nhập quốc gia

1.2 Diện mạo dân cư Nam Bộ

Vùng đất Nam Bộ là địa bàn sinh tụ của các lớp cư dân thời tiền sử và sơ sử,

cư dân Phù Nam và các tộc người thiểu số bản địa thuộc nhóm ngôn ngữ Khmer cổ miền núi có chung nguồn gốc nhân chủng, ngôn ngữ và văn hoá (Stiêng, Chơro, Mạ, Mnông, nhóm Tàmun) và là địa điểm tụ cư ngày càng trở nên đông đảo của cư dân các tộc người di cư có khác nhau về nguồn gốc nhân chủng, ngôn ngữ và văn hoá (Khmer, Việt, Chăm, Hoa, Nùng, Tày, Thái, Mường, nhóm Minh Hương, nhóm Java-Kur…)

Môn-Phát hiện khảo cổ học cho thấy, các lớp cư dân tiền sử và sơ sử đã cư trú có mật độ tập trung trên những vùng đất cao dọc theo lưu vực sông Đồng Nai và sông Vàm Cỏ Văn hoá Đồng Nai-Đông Nam Bộ có thể nói đã phát triển sánh bằng văn hóa Sa Huỳnh ở miền Trung và văn hoá Đông Sơn ở miền Bắc Việt Nam vào thời đại kim khí (Lê Xuân Diệm, Phạm Quang Sơn, Bùi Chí Hoàng, 1991) Những tài liệu lịch sử sớm viết về con người và xã hội Phù Nam đã ghi nhận Phù Nam là một vương quốc đa tộc người (Trần Văn Giàu, Trần Bạch Đằng (chủ biên), 1998, tr.172) Còn các tộc người thiểu số bản địa thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khmer miền núi (Stiêng, Chơro, Mạ, Mnông, nhóm Tàmun) trước đây đã từng sinh sống trên một địa vực cư trú-vùng lãnh thổ tộc người rộng hơn so với địa bàn cư trú của họ hiện nay trên vùng đất Nam Bộ và có lúc đã trở thành “nước Xtiêng (Stiêng)”, “nước Chê Mạ” “Vương quốc Mạ” bao gồm nhiều thành phần cư dân khác nhau, trong đó có người Chơro, người Kơho, người Mnông (Trần Văn Giàu, Trần Bạch Đằng (chủ biên), 1998, tr.196-206), còn được gọi là “Xứ người Mạ, lãnh thổ của thần linh” vào thời kỳ trước thế kỷ XVIII (Boulbet, 1999, tr.32)

Phát hiện của khảo cổ học cho thấy cư dân Phù Nam đã có mặt hầu như trên khắp các tiểu vùng sinh thái khác nhau của vùng đất Nam Bộ: Trên vùng đồng bằng thấp ở Tứ giác Long Xuyên, Đồng Tháp Mười và rừng U Minh; trên nền phù sa cổ ở Núi Sam và Bảy Núi (An Giang); trên lưu vực sông Đồng Nai và lưu vực sông Vàm

Cỏ Đông ở Đông Nam Bộ; trên giồng cát ven biển Đông ở Rừng Sát-Cần Giờ

Trang 18

(Thành phố Hồ Chí Minh), Trà Cú (Trà Vinh), Gò Thành (Tiền Giang) (Lê Xuân Diệm và các tác giả, 1995, tr 103-111)

Theo thư tịch cổ của Trung Hoa, cư dân Phù Nam có nước da đen (Tấn thư, Lương thư, Tân Đường thư, Thông chí) (Lương Ninh, 2009) Còn theo các tài liệu khảo cổ học, ngôn ngữ học và chủng tộc học, vùng Đông Nam Á lục địa và hải đảo

là địa bàn sinh sống và giao lưu của những cư dân thuộc hai ngữ hệ Nam Á và Nam Đảo Qua nghiên cứu những di cốt ở Cạnh Đền (Kiên Giang), An Sơn, Mộc Hoá, Lộc Giang, Gò Ô Chùa (Long An), Nhơn Nghĩa, Nhơn Thành (Cần Thơ), Gò Me (Đồng Nai), và Giồng Phệt (Thành phố Hồ Chí Minh), Nguyễn Lân Cường cho rằng

“cư dân cổ ở Nam Bộ là những người Mongoloid gần gũi với người Việt, nhóm loại

hình Đông Nam Á của người cổ Đông Sơn Hầu như thiếu vắng yếu tố Vedoid cổ, tổ tiên của những nhóm P’nông sau này chuyển dần thành người Khmer” (Nguyễn Lân

Cường, 2008, tr 190)

Nhìn chung, phần lớn những di cốt người cổ tìm thấy trên địa bàn cư trú của người Phù Nam mang đặc điểm thường gặp phải ở số đông người Thượng hiện nay, thường được xếp vào tiểu chủng hay loại hình người Indonésien, di hệ của lớp người này hiện nay vẫn còn ở Đông Nam Á đất liền và hải đảo và vào thời đại kim khí, loại hình nhân chủng phổ biến ở vùng và ven vùng châu thổ sông Mekong đã để lại những di cốt ở An Sơn và Samrong Sen (niên đại C14: trên dưới 3.000 năm cách nay đôi chút) và tiếp tục tồn tại cho đến thời kỳ sơ sử với những di cốt đã để lại ở Gò Tháp, Óc Eo, Cạnh Đền (Lê Trung Khá, 1984) Trong quá trình lịch sử, lớp người này hẳn đã có những quan hệ huyết thống và văn hoá với các tộc người Mã Lai gốc Nam Đảo trong những đợt thiên cư của họ trong vùng Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương (Solheim II, V.G, 1974, p.17-19)

Dù vậy, cảnh quan vùng đất Nam Bộ cuối thế kỷ XIII (1296-1297), theo Châu Đạt Quan, toàn là rừng cây rậm rạp, lắm thú chim, nhiều sông rạch, đầm lầy với những bụi rậm của khu rừng thấp, bóng mát um tùm của những cây cổ thụ, cây mây dài tạo thành nhiều chỗ xum xuê, tiếng chim hót, tiếng thú kêu vang khắp nơi, hàng trăm hàng ngàn trâu rừng tụ tập từng bầy trong vùng này Gần một cửa sông của đồng bằng có cánh đồng ruộng bỏ hoang nhưng không thấy có cư dân sinh sống

ở đây (Võ Sĩ Khải, 2009, tr.76) Vào đầu thế kỷ XVI, Alexandre de Rhodes ghi nhận

vùng đất này vẫn còn “quạnh hiu, hoang mạc” và “không có vật gì thuộc về sự

sống” (Nguyễn Công Bình và các tác giả, 1995, tr.33) Mãi cho đến thế kỷ XVIII, Lê

Quý Đôn cũng cho biết ở vùng đất Nam Bộ nói chung từ các cửa biển Cần Giờ, Lôi Lạp, cửa Đại, cửa Tiểu trở vào toàn là rừng rậm hàng ngàn dặm (Lê Quý Đôn, 1977,

tr 380-381)

Dưới thời Chúa Nguyễn, cộng đồng người Khmer (từ Campuchia), cộng đồng người Việt (từ miền Trung, miền Bắc), cộng đồng người Hoa (từ miền Nam Trung Hoa), cộng đồng người Chăm (từ miền Trung sang Campuchia, rồi trở lại Việt Nam),

kể cả người Chà Và (Java), người Phú Lang Sa (Pháp), người Hồng Mao (Anh),

Trang 19

người Mã Cao (Áo Môn) (Trịnh Hoài Đức, 2006, tr.143)… lần lượt di cư đến vùng đất Nam Bộ ngày càng đông đảo hơn từ cuối thế kỷ XVII trở về sau này Ở Nam Bộ trong thời kỳ này đã là vùng cư dân hỗn hợp đa tộc người, bao gồm cư dân các tộc người thiểu số bản địa (Stiêng, Chơro, Mnông, Mạ, nhóm Tàmun) và cư dân các tộc người di cư (Khmer, Việt, Hoa, Chăm, nhóm Minh Hương, nhóm Java-Kur…) Họ là những thành phần cư dân cơ bản hợp thành cơ cấu dân cư đa tộc người ngay từ thời

kỳ đầu khẩn hoang, lập nghiệp trên vùng đất Nam Bộ

Nam Bộ lâu nay được coi là vùng đất mở trong tiếp xúc, giao lưu và hội nhập của nhiều tộc người ở các vùng, miền khác nhau trên cả nước (Việt, Chăm, Nùng, Tày, Thái, Mường…) và một số tộc người ở các nước trong khu vực Đông Á (Hoa), Đông Nam Á lục địa (Khmer) và hải đảo (nhóm Java-Kur) Quá trình hình thành của các lớp cư dân thời tiền sử và sơ sử, cư dân Phù Nam, các tộc người thiểu số bản địa

và các tộc người di cư ở Nam Bộ diễn biến lâu nay có thể nói là hết sức đa dạng và

vô cùng phức tạp Nơi đây sớm đã trở thành vùng cư dân hỗn hợp đa tộc người, đa văn hoá, đa tôn giáo, khác nhau về nguồn gốc cư dân và chênh lệch về trình độ phát triển kinh tế-xã hội giữa các tộc người, nhất là giữa các tộc người thiểu số bản địa và các tộc người di cư

Trong tiến trình lịch sử, các tộc người bản địa và các tộc người di cư ở Nam

Bộ luôn hợp lực với nhau trong việc khai thác, mở mang đất đai, thành lập xóm làng (Việt), phum sóc (Khmer), bon (Stiêng, Mạ, Mnông), palei (Chăm, Chơro), hội quán (Hoa)… và luôn kề vai, sát cánh với nhau trong việc xây dựng cuộc sống, thiết lập các mối quan hệ tộc người nhìn chung gắn bó thân thiết với nhau qua nhiều thế kỷ, muộn nhất cách ngày nay cũng đã trên dưới 300 năm

Theo các nguồn tài liệu, thư tịch cổ của Trung Hoa và Việt Nam, những công trình nghiên cứu của các học giả người Pháp, người Mỹ… thì từ thời kỳ lịch sử cổ đại đến thời kỳ lịch sử trung đại, đặc biệt là trong thời kỳ Chúa Nguyễn, Nam Bộ đã

là vùng cư dân hỗn hợp đa tộc người, gồm các tộc người bản địa thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khmer miền núi sinh sống chủ yếu ở miền núi Đông Nam Bộ (Stiêng, Chơro, Mạ, Mnông, nhóm Tàmun) và các tộc người di cư (Khmer, Việt, Chăm, Hoa…) đã định cư, lập nghiệp ở nhiều nơi, trên các tiểu vùng sinh thái khác nhau của vùng đất này

Ở đây, người Stiêng sinh sống gần gũi với người Mnông ở vùng cao, người Khmer, người Chăm và người Việt ở vùng thấp trên vùng đồi núi thuộc các tỉnh Bình Phước, Bình Dương, một phần của Đồng Nai và một phần của Lâm Đồng Người Stiêng được coi là một bộ phận của người Mnông, sau đó được tách ra thành tộc người độc lập do quá trình phân ly tộc người khi họ chuyển cư về phía Đông Nam dọc theo lưu vực sông Bé, sông Đồng Nai, tiếp xúc và tiếp nhận ảnh hưởng của người Khmer (Nguyễn Công Bình, Lê Xuân Diệm, Mạc Đường, 199, tr.189-191) Trong khi đó, người Chơro sinh sống gần gũi với người Mạ ở vùng cao; người Khmer, người Chăm và người Việt ở vùng thấp trên vùng đất “bên lề” giữa đồi núi

Trang 20

và đồng bằng thuộc các tỉnh Đồng Nai, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, một phần tỉnh Bình Thuận Người Chơro được coi là một bộ phận của người Mạ, sau đó được tách ra thành tộc người độc lập do quá trình phân ly tộc người khi họ chuyển cư về phía Nam và Đông Nam dọc theo lưu vực sông Đồng Nai, tiếp xúc và tiếp nhận ảnh hưởng của người Khmer và người Chăm (Nguyễn Công Bình, Lê Xuân Diệm, Mạc Đường, 199, tr.189-191)

Còn người Tàmun sinh sống gần gũi với người Stiêng và người Khmer ở tỉnh Bình Phước và tỉnh Tây Ninh nên được coi là một nhóm địa phương của tộc người Stiêng chịu ảnh hưởng sâu sắc lối sống và văn hóa của người Khmer Tuy nhiên, về nguồn gốc tộc người của người Tàmun hiện nay còn có ý kiến khác nhau Theo D Thomas, người Tàmun là một trong những nhóm địa phương của người Chơro do người Pháp đưa từ vùng Đồng Giáo, Đồng Nai lên Sông Bé cách đây hơn 100 năm Vào thập niên 60 của thế kỷ XX, những người dân di cư này còn xa lạ với cái tên Tàmun, mà vẫn tự gọi mình là Chơro (Thomas, 1980)

Trong khi đó, người Khmer ở Việt Nam đã tách ra từ người Khmer ở Campuchia và trở thành một tộc người độc lập do quá trình phân ly tộc người khi họ chuyển cư từ Campuchia sang sinh sống trên vùng đất Nam Bộ Nhìn chung, người Khmer nhập cư vào Nam Bộ ngày càng trở nên đông đảo từ thế kỷ XIII và cư trú tập trung chủ yếu trên vùng đồi núi thấp, vùng đất giồng ven sông, ven biển của vùng Tây Nam Bộ trước hơn người Việt, người Hoa và người Chăm đến định cư lập nghiệp trên vùng đất này Họ cũng đã thích nghi với vùng đồng bằng sông nước phì nhiêu, rộng lớn, sông rạch dày đặc dọc ngang như mạng nhện ở đây trong hoạt động kinh tế nông nghiệp trồng lúa nước, hoa màu và khai thác những tiềm năng rất phong phú, đa dạng của đất đai, núi rừng, sông biển vùng này Nền văn hoá Khmer được tích hợp trên nền tảng kinh tế nông nghiệp lúa nước sớm đã phát triển và Phật giáo Nam tông là tôn giáo toàn dân tác động, chi phối hầu như mọi lĩnh vực trong đời sống cư dân từ đời sống văn hoá vật thể đến đời sống văn hoá phi vật thể và các thiết chế chính trị xã hội cổ truyền của họ

Người Chăm và người Mã Lai (Java-Kur): Từ năm 1756, sau khi cứu người Côn Man (người Chăm) ở Chân Lạp bị nặc Nguyên ức hiếp, Nguyễn Cư Trinh chiêu

dụ họ về với Đàng Trong, một phần đến Châu Giang định cư, một bộ phận đến đóng

ở Tây Ninh Tiếp đến, năm 1819, Thoại Ngọc Hầu trong quá trình huy động nhân lực

để đào kênh Vĩnh Tế từ Châu Đốc đến Hà Tiên đã chiêu mộ những người Chăm từ Chân Lạp đến đào kênh Trong những quảng nghỉ (1820) và sau khi con kênh được đào xong (1824), họ được thưởng công và cấp đất sinh sống tại vùng Châu Giang nên còn được gọi là Chăm Châu Giang (Sơn Nam, 2009, tr.71) Năm 1820, quan thống đốc người Chăm ở Cao Miên là Saet A Bubaca bị tố cáo là phiến loạn, bị vua Chân Lạp xử tử ở Ou dong Con ông và một số người khác nhờ sự che chở của người Chăm gốc Mã Lai ở đây, họ đã trốn về trú ngụ tại Châu Đốc được chính quyền Nguyễn cho về định cư tại Châu Giang và Khánh Hòa Trong nhóm người Chăm này

có một thành phần là người gốc Malaysia được gọi Chăm Chà-và (liên hệ tới đảo

Trang 21

Java, do không phân biệt được người Java tới từ Indonesia và người Mã lai nên hai nhóm này được gọi chung là Java) Người Chăm ở Nam Bộ hầu hết theo Hồi giáo chính thống nên còn được gọi là Chăm Islam Từ bên Chân Lạp, người Chăm rút về, nương náu trong lãnh thổ Nam Bộ Việt Nam để tránh loạn lạc do nội chiến bên Chân Lạp, rồi định cư luôn trên vùng đất này Cộng đồng người Chăm đã có sự đóng góp

to lớn trong sự nghiệp quốc phòng biên giới cũng như khai hoang mở đất phát triển vùng đất Nam Bộ

Người Hoa: Vào giữa thế kỷ XVII, ở Trung Quốc, nhà Thanh thay thế nhà Minh ở Trung Quốc, một số quan lại và quân lính trung thành với triều đình nhà Minh vì không chấp nhận sự thống trị của nhà Thanh đã vượt biển đến Đàng Trong tìm đất sinh sống và thúc đẩy nhanh hơn quá trình khai phá vùng đất đồng bằng Nam

Bộ Sách Đại Nam thực lục chép:

“Kỷ Mùi, năm thứ 31 (1679), mùa Xuân, tháng Giêng, tướng cũ nhà Minh là Long Môn tổng binh Dương Ngạn Địch và phó tướng Hoàng Tiến, tổng binh Trần Thượng Xuyên và phó tướng Trần An Bình đem hơn 3.000 quân và hơn

50 chiến thuyền đến các cửa biển Tư Dung và Đà Nẵng, tự trần là bô thần nhà Minh, nghĩa không chịu làm tôi nhà Thanh, nên đến để xin làm tôi tớ Bấy giờ bàn bạc rằng:

“Phong tục, tiếng nói của họ đều khác, khó bề sai dung, nhưng họ bị thế cùng bức bách đến đây thì không nỡ cự tuyệt Nay đất Đông Phố (tên cổ của Gia Định) nước Chân Lạp đồng ruộng phì nhiêu nghìn dặm, triều đình chưa rỗi mà kinh lý, chi bằng nhân lấy sức của họ cho đến khai khẩn để ở, làm một việc mà lợi ba điều Chúa theo lời bàn, bèn sai đặt yến úy lạo khen thưởng, trao cho quan chức khiến đến ở đất Đông Phố Lại cáo dụ nước Chân Lạp rằng như thế

là có ý không để nước Chân Lạp ra ngoài Bọn Ngạn Địch đến cửa Khuyết tạ

ơn để đi Binh thuyền của Ngạn Địch và Hoàng Tiến vào cửa Lôi Lạp (nay thuộc đất Gia Định) đến đóng ở Bàn Lân (nay thuộc Biên Hòa) Họ vỡ đất hoang, dựng phố xá, thuyền buôn của người Thanh và các nước Tây Dương, Nhật Bản, Chà-và đi lại tấp nập…”

(Quốc sử quán triều Nguyễn, Viện sử học 2007, tr.91)

Như thế trên danh nghĩa, họ Dương và họ Trần đã nhận quan tước và nhiệm

vụ của Chúa Nguyễn vào đất Đồng Nai-Gia Định chứ không thuần túy là những người bỏ xứ ra đi tỵ nạn Họ đã thành thần dân của Chúa Nguyễn Với chính sách đối

xử khá thuận lợi của họ Nguyễn, những di dân người Hoa đã triệt để lợi dụng những điều kiện có lợi trong việc làm ăn sinh sống để tạo nên một cộng đồng người Hoa vững chắc ở nhiều nơi trên toàn dải đất xứ Đàng Trong và đặt nền tảng cho sự phát triển của họ sau này Nhóm của Tổng binh Trần Thượng Xuyên sau khi đến Bàn Lân lập nghiệp, đã tiến hành chiêu mộ, thu hút lưu dân người Trung Quốc đến làm ăn sinh sống, mở mang đất đai Trong số lưu dân đến sau này có thể có người đã nhập

cư từ trước nhưng ở phân tán nhiều nơi, nhưng phần lớn phải là những người mới từ

Trang 22

Trung Quốc di cư tới và đa số là người buôn bán Từ đó họ mới thu hút khách thương đến buôn bán làm ăn ở Cù lao Phố gồm có người châu Âu, người Nhật, người

Mã Lai nòng cốt ban đầu là các lái buôn Trung Quốc

Buổi đầu đến định cư khai phá, nhóm Hoa kiều này khắc phục những trở ngại thiên nhiên trong đời sống hàng ngày như chặt đốn cây cối, phát cỏ rậm xung quanh khu vực định cư, khai thông nguồn nước, mở mang đường ngõ Vấn đề giải quyết lương thực được đặt lên hàng đầu, tuy nhiên do số lượng không nhiều, nên mức độ khai phá mở mang của nhóm này vẫn chưa có đóng góp đáng kể Vả lại đối với nhóm người Hoa này thì nông nghiệp không phải là phương thức sinh sống chủ yếu

Họ có tham gia khai phá đất đai để sản xuất nông nghiệp, nhưng đó chỉ là một phương tiện để sau đó chuyển sang kinh doanh buôn bán

Sách Đại Nam nhất thống chí, căn cứ vào các dấu tích hoạt động cụ thể đã cho biết nhóm Trần Thượng Xuyên đến Biên Hoà “mở đất, lập phố”, còn nhóm

Dương Ngạn Địch đến Mỹ Tho “dựng nhà cửa, hợp người Kinh, người Di, kết thành

làng xóm Sau đó dựng 9 trường biệt nạp là Quy An, Quy Hóa, Cảnh Dương, Thiên

Mụ, Gian Thảo, Hoàng Lạp, Tam Lạch, Bả Cạnh, Tân Thạnh cho dân lập ấp khai khẩn ruộng đất cày cấy; lại lập thành trang, trại, man, nậu, nhân dân đều theo nghề nghiệp của mình làm ăn để nộp thuế” (Vũ Minh Giang, 2006, tr.30) Như vậy, cùng

với Sài Gòn-Gia Định, Biên Hòa và Mỹ Tho cũng đã đang dần dần trở thành những trung tâm cư dân và kinh tế phát triển dưới quyền cai trị của Chúa Nguyễn ở miền Đông và cả miền Tây Nam Bộ

Cùng thời gian này, Mạc Cửu là người xã Lôi Quách, huyện Hải Khang, phủ Lôi Châu, tỉnh Quảng Đông (Trung Quốc) cũng vì việc nhà Minh mất mà:

“để tóc chạy sang phương Nam, đến nước Chân Lạp làm chức Ốc Nha, thấy phủ Sài Mạt ở nước ấy có nhiều người buôn bán các nước tụ họp, bèn mở sòng

gá bạc để thu thuế gọi là hoa chi, lại được hố bạc chôn nên trở thành giàu Nhân chiêu tập dân xiêu dạt đến các nơi Phú Quốc, Cần Bột, Giá Khê, Lũng

Kỳ, Hương Úc, Cà Mau (thuộc tỉnh Hà Tiên) lập thành 7 xã, thôn”

(Quốc sử quán triều Nguyễn, Viện sử học, 2007, tr.122)

Mạc Cửu đã biến toàn bộ vùng đất Hà Tiên-Long Xuyên-Bạc Liêu-Cà Mau (được gọi chung là Hà Tiên) thành khu vực cát cứ của dòng họ mình, không còn lệ thuộc vào chính quyền Chân Lạp nữa Hà Tiên vào thời Mạc Cửu, là một mắt xích quan trọng ở phía đông vịnh Thái Lan, trên tuyến hàng hải thương mại châu Á qua vịnh Thái Lan, men theo bờ Biển Đông Việt Nam lên Quảng Châu, Trung Quốc hay đảo Luzon (Philippin)

Sự xuất hiện của những người Hoa trên đất Nam Bộ đã góp phần quan trọng hình thành nên những cộng đồng người Hoa ở đây dưới tên gọi các làng Minh Hương

Trang 23

Như vậy, ngay từ buổi đầu khai hoang, lập ấp trên vùng đất Nam Bộ đã có sự chung sống hòa hợp giữa nhiều tộc người nối tiếp nhau trên vùng đất này Tất cả đã làm nên một diện mạo dân cư sinh động và đa dạng trong tiến trình phát triển của vùng đất Nam Bộ trong lịch sử

1.3 Khái quát lịch sử vùng đất Nam Bộ đến trước năm 1620

Từ thế kỉ I, vùng đất Nam Bộ là lãnh thổ của vương quốc cổ Phù Nam Theo thư tịch cổ và bi ký, lúc bấy giờ từ vùng đất Nam Bộ của Việt Nam sang đến Biển

Hồ của Campuchia có 7 liên minh bộ lạc của cư dân bản địa và một số thị tộc, bộ lạc sống lẻ tẻ ở miền núi Đứng đầu liên minh các thị tộc, bộ lạc này là một nữ chúa mà các sử sách Trung Quốc đều gọi là Liễu Diệp Khoảng thế kỷ I, một người Ấn Độ mà theo sử sách Trung Hoa đó là Hỗn Điền đã đem quân đội theo đường biển tấn công vào vương quốc của Liễu Diệp, lấy Liễu Diệp làm vợ, thay vợ làm vua đất nước này Dần dần, Hỗn Điền chinh phục các thị tộc, bộ lạc khác, lập ra nước Phù Nam Theo Lương thư ghi chép lại:

“Liễu Diệp tuổi trẻ, khỏe mạnh như con trai… Người của Liễu Diệp đông, thấy thuyền đến thì muốn bắt giữ Hỗn Điền giương cung bắn, tên xuyên qua bên mạn thuyền, đến theo những kẻ hầu Liễu Diệp sợ hãi xin hàng Hỗn Điền lấy Liễu Diệp làm vợ rồi cai trị nước Phù Nam”

(Lương Ninh, 2009, tr.241)

Vương quốc Phù Nam ra đời từ thế kỉ I sau CN, tồn tại và phát triển trong hơn 6 thế kỉ, đến thế kỉ VII thì suy vong Quá trình hình thành, phát triển và suy vong của vương quốc Phù Nam được chia làm ba giai đoạn sau:

- Giai đoạn 1-giai đoạn sơ kì: từ thế kỉ I đến đầu thế kỉ thứ III

- Giai đoạn 2-giai đoạn phát triển: từ đầu thế kỉ III đến đầu thế kỉ VI

- Giai đoạn 3-giai đoạn suy vong: nửa đầu thế kỉ VI đến đầu thế kỉ VII

Như vậy, từ thế kỉ I đến VII, lịch sử vùng đất Nam Bộ gắn liền với vương quốc Phù Nam

Sau thời gian dài phát triển và mở rộng, đến thế kỉ thứ VI, Phù Nam bắt đầu bộc lộ sự suy yếu, khủng hoảng từ bên trong Trong đế quốc Phù Nam các thuộc quốc không ngừng lớn mạnh, trong đó Chân Lạp (Chenla) dần trở thành một thế lực lớn Chân Lạp là một quốc gia cổ được hình thành ở trung tâm bán đảo Đông Dương bởi các dân tộc người Môn-Khmer vào khoảng nửa cuối thế kỷ V Lãnh thổ ban đầu tương ứng với phần đất miền Trung và Nam Lào cùng với vùng Đông-Bắc Thái Lan ngày nay Các vương quốc láng giềng xung quanh vào thời kì đó là Champa ở phía Đông, Phù Nam ở phía Nam (là thuộc quốc của Phù Nam) và Pyu (Miến Điện-Myanmar) ở về phía Tây-Bắc Mặc dù là thuộc quốc của Phù Nam, nhưng Chân Lạp

đã nhanh chóng phát triển thành một vương quốc độc lập vào thế kỷ VI và nhân sự suy yếu của Phù Nam đã tấn công rồi chiếm lấy một phần lãnh thổ của đế chế này vào đầu thế kỷ VII Vua Phù Nam Rudruvarman (vị vua thứ 13 và là vị vua cuối

Trang 24

cùng của vương quốc Phù Nam) thất bại chạy về Naravanagara (còn gọi là Na Phất Na-một kinh thành cổ nằm tại vùng Óc Eo-Ba Thê) và định đô ở đó một thời gian Sách “Tùy thư” chép rằng nước Chân Lạp ở về phía Tây Nam Lâm Ấp, nguyên là một chư hầu của Phù Nam Vua nước ấy là Ksatriya Citrasena đã đánh chiếm và tiêu diệt Phù Nam Sách “Tân Đường thư” cho biết cụ thể hơn là vào đầu niên hiệu Trinh

Quán nhà Đường (627 – 649): “Trong nước Phù Nam có thay đổi lớn Nhà vua đóng

đô ở thành Đặc Mục, thình lình bị nước Chân Lạp đánh chiếm, phải chạy trốn về Na Phất Na” (Lương Ninh, 2009, tr.249)

Cho đến khoảng từ năm 627 đến 649, dưới triều đại của vua Chân Lạp mới là Isanavarman thì việc thôn tính vương quốc Phù Nam cơ bản hoàn thành Phù Nam bị sáp nhập hoàn toàn vào Chân Lạp Do không quen với cuộc sống sông nước và thậm chí không cần cuộc sống sông nước nên người Chân Lạp đã không định cư ở hải cảng Óc Eo-đã được nhiều học giả cũng như giới khảo cổ chứng minh là một cảng thị quốc tế sầm uất bậc nhất Đông Nam Á lúc bấy giờ(1)

Vương quốc Phù Nam tồn tại hơn 6 thế kỷ, trải qua liên tục 13 đời vua, thời gian đó có thể sánh với độ dài của một triều đại phong kiến tập quyền ở Đông Nam

Á ở những thế kỷ tiếp sau đó Trong suốt quá trình tồn tại, với những thành quả xây dựng được về các mặt: chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội, Phù Nam đã khẳng định vị trí quan trọng của mình như là đầu mối buôn bán Đông-Tây, giữ vững sự ổn định trong các mối quan hệ quốc tế, xứng đáng là một “trung tâm liên kết thế giới” như lời

nhận xét của một học giả Nhật Bản “Với những thành tựu, biểu hiện đó, quốc gia

Phù Nam đã vượt qua trình độ cơ sở để trở thành một vương quốc phát triển cao nhất Đông Nam Á về mọi mặt trong thiên niên kỷ và nó xứng đáng có một vị trí quan trọng trong lịch sử thế giới” (Lương Ninh, 1984, tr.31)

Như vậy, từ chỗ một vùng đất thuộc Phù Nam, một quốc gia độc lập và hùng mạnh, sau năm 627, vùng đất Nam Bộ ngày nay đã từng bị phụ thuộc vào Chân Lạp Sau khi Chân Lạp đánh bại Phù Nam, trong một số sách Trung Quốc đã xuất hiện tên gọi “Thuỷ Chân Lạp” để chỉ phần lãnh thổ Phù Nam trên vùng đất Nam Bộ và phân biệt với vùng đất “Lục Chân Lạp”, tức là vùng đất gốc của Chân Lạp

Từ đây vùng đất Nam Bộ được sáp nhập vào lãnh thổ Chân Lạp Nhưng trên thực tế, việc cai quản vùng lãnh thổ mới này đối với Chân Lạp gặp nhiều khó khăn Trước hết, với truyền thống quen khai thác các vùng đất cao, dân số còn ít ỏi và thưa thớt, người Khmer khi đó khó có khả năng tổ chức khai thác trên quy mô lớn một vùng đồng bằng mới bồi lấp, còn ngập nước và sình lầy Hơn nữa, việc khai khẩn đất đai trên lãnh thổ của Lục Chân Lạp đòi hỏi rất nhiều thời gian và sức lực Việc cai trị

xứ Thủy Chân Lạp vì vậy vẫn phải giao cho những người thuộc dòng dõi Vua Phù Nam Theo những tài liệu bi ký còn lại có thể thấy rằng, vào thế kỷ VIII, tại vùng trung tâm của Phù Nam trước đây vẫn còn tồn tại một tiểu quốc tên là Aninditapura,

do một người dòng dõi Vua Phù Nam tên là Baladitya trị vì (Vũ Minh Giang, 2006, tr.23-24)

Trang 25

Khi Phù Nam tan rã là lúc nhiều vương quốc nhỏ vốn là thuộc quốc hoặc chư hầu của Phù Nam đã nổi lên thành những nước mạnh Trong số đó có Srivijaya của người Java là hùng mạnh nhất Vào nửa sau thế kỷ VIII, quân đội nước này đã liên tục tấn công vào các quốc gia trên bán đảo Đông Dương Kết cục là Thủy Chân Lạp

bị quân Java chiếm Cả vương quốc Chân Lạp gần như bị lệ thuộc vào Srivijaya Cục diện này mãi đến năm 802 mới kết thúc khi vua Jayavarman II đánh bại người Java, giải phóng được đất nước, mở ra thời kì lịch sử mới trên vùng đất Thủy Chân Lạp Trong vòng một thế kỷ, vùng đất này lại nằm dưới quyền kiểm soát của người Java (Vũ Minh Giang, 2006, tr 24) Các bộ phận dân cư ở Óc Eo – Ba Thê đã rời bỏ nơi đây lưu lạc đến những vùng khác Sự thịnh vượng của vùng đất Nam Bộ với đại diện tiêu biểu là đô thị Óc Eo – Ba Thê bị quên lãng, vùi lấp theo thời gian giữa vùng đất nhiễm phèn rộng mênh mông(2)

Thời kì Angkor huy hoàng, thời kì thống nhất và thịnh đạt của Campuchia với tâm điểm là vùng Tây Bắc (Siem Reap) với kinh đô là Yasodharapura Có thể thấy, địa điểm quần cư chủ yếu của người Khmer lúc bấy giờ là ở khu vực Angkor xa hẳn vùng hạ lưu sông Mekong Với dân số Khmer ít ỏi dù đang trong thời kỳ cực thịnh-thời kì trị vì của vua Jayavarman VII (1181-1201) với “tổng số nhân khẩu chắc chắn không thể lên tới con số một triệu người” (Lương Ninh, 1984, tr.122) Khu vực Angkor rất trù phú với nền kinh tế được miêu tả là “ruộng đất dư dật”, “gạo rất dễ tìm” Vì điều kiện sống thuận lợi nên việc cải tạo tự nhiên và khai khẩn đất hoang

hầu như không thấy được nhắc đến mà chỉ “tính thời tiết lúc nào lúa chín và nơi nào

ngập nước thì tùy đó mà gieo trồng”, “ngoài ra có một loại ruộng thiên nhiên lúa mọc thường xuyên không cần gieo trồng” (Lương Ninh, 1984, tr.109) Đó có thể là

lý do quan trọng mà vùng đất thuộc Thủy Chân Lạp với nhiều rừng rậm, thú dữ, đầy hiểm nguy bị quên lãng trong mấy thế kỉ

Theo Châu Đạt Quan thành viên đoàn sứ giả Mông Cổ, đi đến vương quốc Angkor Khmer vào thế kỷ XIII đã ghi lại trong quyển “Chân Lạp phong thổ ký” rằng:

“ Từ đó, rời Chiêm Thành, khi thuận gió, trong mười lăm ngày là có thể tới Chen-p’u (Chân Bồ) ta thấy mọi nơi um tùm các cây đan chen nhau trong khu rừng thấp, những cửa sông rộng lớn của con sông (Mekong) chạy dài hàng trăm lí, bóng mát um tùm của những gốc cổ thụ và cây mây leo quanh dài tạo thành nhiều chỗ trú ẩn xum xê Tiếng chim hót và tiếng thú vật kêu vang liên tục khắp nơi Ở khoảng nửa đường trong chuyến đi vào từ cửa sông, thình lình người ta mới thấy vùng đất mở ra với cánh đồng hoang, không thấy có một gốc cây nào Hàng trăm hàng ngàn trâu rừng tựu họp từng bầy ăn cỏ trong vùng nầy Đi tiếp theo đó, là vùng đất cao dần trải dài hàng trăm lí Từ các khúc nối của các cây tre nầy có gai mọc và măng tre thì lại có vị rất đắng Ở chân trời chung quanh bốn phía có các dãy núi cao.”

(Lê Hương, 1973)

Trang 26

Bắt đầu từ cuối thế kỷ XIV, Chân Lạp phải đối phó với sự bành trướng của các vương triều Xiêm từ phía Tây, đặc biệt là từ sau khi Vương triều Ayuthaya hình thành vào giữa thế kỷ XIV Trong suốt 78 năm (từ 1353 đến 1431), Ayuthaya và Chân Lạp liên tiếp có chiến tranh, trong đó chủ yếu là những cuộc tiến công Chân Lạp từ phía người Thái Trong thời kì đó, có lúc kinh thành Angkor đã bị quân đội Ayuthaya chiếm đóng

Sang thế kỷ XVI, và nhất là thế kỷ XVII, do sự can thiệp của Xiêm, triều đình Chân Lạp bị chia rẽ sâu sắc Vương quốc này dần bước vào thời kì suy vong Trong bối cảnh như vậy, Chân Lạp hầu như không có khả năng kiểm soát đối với vùng đất còn ngập nước ở phía Nam, vốn là địa phận của vương quốc Phù Nam Trên thực tế, khả năng kiểm soát và quản lý vùng đất này của vương triều Chân Lạp giảm sút dần (Vũ Minh Giang, 2006, tr.25-26)

(2)

Có nhiều cách giải thích sự biến mất của cư dân Óc Eo-Ba Thê vào thế kỷ VII Một cách lý giải được nhiều học giả trước đây thừa nhận: đó là một cuộc chiến của người Chân Lạp từ phía Tây tràn xuống cướp bóc và tiêu diệt cư dân Óc Eo Nhưng cách lý giải này chưa đủ thuyết phục bởi lẽ những bằng chứng khảo cổ cho thấy không có vết tích của những đổ vỡ do cướp phá, tại thủ phủ Óc Eo những vật quý hầu như còn nguyên vẹn cho đến khi L.Mallerete phát hiện Một cuộc xâm lăng trên quy mô lớn nếu không chiếm đất cướp của thì với mục đích gì? Nhưng có lẽ lý do quan trọng nhất vén bức màng bí mật của suy vong và biến mất vai trò trong lịch sử của cảng thị cổ Óc Eo-Ba Thê một thời gian dài thuyết phục hơn cuộc xâm lăng của người Chân Lạp là lý thuyết về sự tác động tự nhiên của quá trình biển tiến và biển lùi

CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG 1 Câu hỏi 1: Anh (Chị) hãy trình bày vị trí địa lý của vùng đất Nam Bộ

Câu hỏi 2: Anh (Chị) hãy khái quát địa hình của vùng đất Nam Bộ

Câu hỏi 3: Anh (Chị) hãy trình bày sự đa dạng các nhóm đất của vùng Đông Nam

Bộ

Câu hỏi 4: Anh (Chị) hãy trình bày sự đa dạng các nhóm đất của vùng Tây Nam Bộ Câu hỏi 6: Anh (Chị) hãy trình bày khái quát về nhiệt độ và bức xạ nhiệt ở Nam Bộ Câu hỏi 7: Anh (Chị) hãy trình bày khái quát về chế độ mưa ở Nam Bộ

Trang 27

Câu hỏi 8: Anh (Chị) hãy trình bày khái quát về chế độ thủy văn ở Nam Bộ

Câu hỏi 9: Anh (Chị) hãy trình bày khái quát về sông Mekong

Câu hỏi 10: Anh (Chị) hãy trình bày khái quát về 2 con sông lớn nhất ở Đồng bằng

sông Cửu Long

Câu hỏi 11: Anh (Chị) hãy cho biết ngoài sông Tiền và sông Hậu, ở Đồng bằng sông

Cửu Long còn có những con sông quan trọng nào?

Câu hỏi 12: Hãy kể tên các hệ thống kênh đào ở Đồng bằng sông Cửu Long

Câu hỏi 13: Hãy kể khái quát hiện tượng lũ lụt ở Đồng bằng sông Cửu Long hàng

năm

Câu hỏi 14: Hãy khái quát về hệ thống sông Sài Gòn - Đồng Nai ở miền Đông Nam

Bộ

Câu hỏi 15: Hãy khái quát về sông Đồng Nai ở miền Đông Nam Bộ

Câu hỏi 16: Hãy khái quát về tài nguyên khoáng sản ở Nam Bộ

Câu hỏi 17: Hãy khái quát về tài nguyên khoáng sản ở Nam Bộ

Câu hỏi 18: Hãy khái quát về cư dân sinh sống trên vùng đất Nam Bộ

Câu hỏi 19: Qua phát hiện khảo cổ học, anh (chị) hãy cho biết sự phân bố cư dân

của Phù Nam trên vùng đất Nam Bộ từ thế kỉ I đến thế kỉ VII

Câu hỏi 20: Từ thế kỉ XVII đến cuối thế kỉ XIX, thành phần cư dân đa tộc người ở

Nam Bộ bao gồm những tộc người cơ bản nào?

Câu hỏi 21: Anh (Chị) hãy khái quát sự du nhập của người Khmer vào vùng đất

Nam Bộ Việt Nam

Câu hỏi 22: Anh (Chị) hãy khái quát sự du nhập của người Chăm và Mã Lai

(Java-Kur) vào vùng đất Nam Bộ Việt Nam

Câu hỏi 23: Anh (Chị) hãy khái quát sự du nhập của nhóm người Hoa của Dương

Ngạn Địch và Trần Thượng Xuyên vào vùng đất Nam Bộ Việt Nam

Câu hỏi 24: Anh (Chị) hãy khái quát sự du nhập của nhóm người Hoa của Mạc cửu

vào đất Hà Tiên của Nam Bộ

Câu hỏi 25: Anh (Chị) hãy khái quát lịch sử Nam Bộ từ thế kỉ I đến thế kỉ VII Câu hỏi 26: Anh (Chị) hãy khái quát lịch sử Nam Bộ từ sau khi Phù Nam tan rã đến

đầu thế kỉ XVII

Trang 28

CHƯƠNG 2 CHÍNH QUYỀN CHÚA NGUYỄN VỚI QUÁ TRÌNH KHAI PHÁ VÙNG ĐẤT NAM BỘ TỪ NĂM 1620 ĐẾN NĂM 1777

*Mục tiêu Chương 2:

Sau khi học xong Chương 2, sinh viên cần đạt được mục tiêu sau:

1 Hiểu biết về quá trình xác lập, thực thi và bảo vệ vùng đất Nam Bộ của chúa Nguyễn trong diễn trình Nam tiến của dân tộc Việt Nam

2 Phân tích, tổng hợp, đánh giá được những chính sách và hoạt động khai hoang, lập

ấp của Chúa Nguyễn trên vùng đất Nam Bộ đến năm 1777

2.1 Quá trình xác lập, thực thi và bảo vệ vùng đất Nam Bộ của Chúa Nguyễn trong quá trình khai phá về phương Nam

2.1.1 Khái quát quá trình khai phá về phương Nam của dân tộc Việt Nam trong sự tương tác với Champa (đến năm 1693) và Chân Lạp (đến năm 1620)

Quá trình mở rộng lãnh thổ về phía Nam của Đại Việt trải qua nhiều triều đại khác nhau và được xúc tiến mạnh mẽ dưới thời các Chúa Nguyễn ở Đàng Trong Sự

mở rộng lãnh thổ về phía Nam được tiến hành theo nhiều hình thức khác nhau Trong

đó, những chiến thắng về quân sự trong những cuộc giao chiến đóng vai trò quan trọng cho việc mở rộng lãnh thổ Bởi sau những chiến thắng quân sự, các nước bại trận thường phải cắt, dâng đất để chuộc tội, xin đầu hàng, và những nước thắng trận nhận những phần đất đó như những chiến lợi phẩm của cuộc chiến tranh Trong quan

hệ giữa Đại Việt và nước láng giềng Champa ở phía Nam cũng vậy Những chiến thắng quân sự trong những lần giao tranh giữa hai bên đã mở đường cho sự mở rộng lãnh thổ của Đại Việt Không chỉ mở rộng lãnh thổ bằng con đường quân sự, việc mở rộng lãnh thổ còn được tiến hành theo hình thức hòa bình Như mối quan hệ hôn nhân giữa Đại Việt và Champa thời nhà Trần Dù dưới hình thức nào, nhà nước phong kiến Đại Việt đều giành được những thắng lợi lớn, quan trọng

Năm 979, phò mã Ngô Nhật Khánh dẫn hơn nghìn chiếc thuyền thủy quân của Chiêm Thành (Champa) vào cướp, muốn đánh thành Hoa Lư Do hai cửa biển Đại Ác và Tiểu Khang nổi gió lớn nên sau một đêm, thuyền đều chìm đắm, Nhật Khánh và người Chiêm (Chăm) đều chết đuối, duy chỉ có thuyền vua Chiêm được trở

về nước(1) Đó chỉ là một cái cớ khởi binh hợp lý cho Champa vốn có dã tâm xâm lấn Đại Cồ Việt từ rất lâu rồi

Sau biến cố năm 979 nói trên, khi Lê Hoàn lên ngôi, nhà Tiền Lê phải đương đầu với cuộc tiến công của người Tống ở phương Bắc (năm 981) Ngay sau khi đánh dẹp được quân xâm lược Tống, thanh thế của Lê Hoàn cũng như vương triều Tiền Lê được đẩy lên rất cao Ngay lập tức, ông đã đích thân dẫn quân đi đánh Champa Quyết định của Lê Hoàn cho phép đưa ra một số giả định về nguyên nhân: Thứ nhất, ông nhận thấy được mối hiểm họa mà Champa đem lại từ trước đó đối với an nguy

Trang 29

của đất nước Thứ hai, việc thắng nhà Tống chưa đủ uy vũ để thể hiện sức mạnh của nhà nước; hơn nữa, ông cũng muốn Chiêm Thành (Champa) thần phục như một giải pháp đối trọng quyền lực với phương Bắc Chính vì vậy, ngay sau khi phá Tống, Lê Hoàn gấp rút chuẩn bị lực lượng và tiến hành bình Chiêm

Năm 982, “vua thân đi đánh nước Chiêm Thành thắng được Trước đây, vua

sai Từ Mục và Ngô Tử Canh sang sứ Chiêm Thành, bị họ bắt giữ Vua giận, mới đóng thuyền chiến, sửa sang binh khí, thân chinh làm tướng tiên phong đi đánh Chiêm Thành, chém được vua Chiêm Thành là Phê Mị Thuế (Parameshvaravarman I) tại trận; Chiêm Thành thua to; bắt sống được binh sĩ không biết bao nhiêu mà kể; bắt được kỹ nữ trong cung trăm người và một người thầy tăng người Thiên Trúc; lấy các đồ quý mang về, thu được vàng bạc của báu kể hàng vạn; san phẳng kinh đô Indrapura (làng Đồng Dương, Thăng Bình, Quảng Nam ngày nay), phá hủy tôn miếu, vừa một năm thì trở về kinh sư (tức Hoa Lư)”

(Ngô Sĩ Liên, 1972, tr.171)

Lần chinh phạt của Lê Đại Hành đã mở đầu quá trình Nam tiến của các chính

quyền Việt Nam thời trung đại

Sang thời Lý, năm 1069, vua Lý Thánh Tông cử Lý Thường Kiệt đi tiên phong, đem 5 vạn quân để đánh Champa Quân Lý đổ bộ, tiến lên đóng ở bờ sông Tu Mao, tướng Champa là Bố Bì Đa La dàn trận trên bờ sông Quân Lý tấn công, giết chết tướng của Champa, quân Champa bị giết vô kể Được tin này, vua Chăm lúc bấy giờ là Chế Củ đã mang gia quyến bỏ chạy, Lý Thường Kiệt đã cho quân đuổi theo và bắt về cùng với hơn 5 vạn tù binh Chế Củ sau khi bị bắt được đưa về Thăng Long,

đã xin cắt đất dâng 3 châu: Bố Chính, Địa Lý, Ma Linh để được tha về Đào Duy

Anh đã chép sự kiện này như sau: “Năm 1069, nhà Lý lấy được của Chiêm Thành ba

châu Bố Chính, Địa Lý và Ma Linh, đến năm 1074 thì đổi tên Địa Lý làm Lâm Bình,

Ma Linh làm Minh Linh” (Ngô Sĩ Liên, 1972, tr.236) Biên giới Đại Việt được mở

rộng đến tận cửa Việt Đây thực sự là bước mở đầu cho cuộc mở mang bờ cõi về phía Nam của Đại Việt Tham vọng mở rộng lãnh thổ về phía Nam của Đại Việt nhờ chiến thắng này đã được đẩy mạnh và xúc tiến

Đến thời Trần, quan hệ giữa Đại Việt và Champa tiếp tục được duy trì tốt đẹp trong thế kỉ XII-XIII Đó là quãng thời gian mà hai nước Đại Việt-Champa đã cùng nhau đánh bại âm mưu xâm chiếm lãnh thổ của quân Mông Cổ Quan hệ giữa hai nước được duy trì bền vững dưới triều vua Champa Simhavarman III, sử ta thường gọi là vua Chế Mân Chế Mân tuy là một nhà vua cương nghị, hào hùng, đã từng ngăn cản thủy quân Mông Cổ khi đoàn quân này lăm le đổ bộ lên đất Chiêm Thành, nhưng cũng là một nhà vua si tình Sang thế kỷ XIV, quan hệ hai nước lại càng được thắt chặt hơn bằng cuộc hôn nhân “có lợi” cho Đại Việt Năm 1306, vua Chế Mân muốn xin được cưới một công chúa của nước Đại Việt nên đã cắt đất dâng hai châu

Trang 30

Ô, Lý làm sính lễ, “hai châu Ô, Lý vuông ngàn dặm, một gái Huyền Trân của mấy

mươi” (Phan Du, 1974, tr.37)

Trước mối lương duyên có lợi này, vua Trần Anh Tông đã gả em gái của

mình là công chúa Huyền Trân cho vua Champa là Chế Mân Quả đúng là: “… Cuộc

Nam tiến êm đềm của dân tộc Việt nhóm trong đầu của Thái Thượng Hoàng Trần Nhân Tôn khi Chế Mân ưng hỏi Huyền Trân công chúa” (Phan Du, 1974, tr 37) Từ

sau cuộc hôn nhân này lãnh thổ của nước ta đã được mở rộng thêm một phần lãnh thổ trên vùng đất của Champa, từ huyện Hải Lăng tỉnh Quảng Trị đến phần phía bắc tỉnh Quảng Nam ngày nay Năm 1307, vua Trần Anh Tông đã cho đổi hai châu Ô,

Lý thành Thuận Châu và Hóa Châu Nhưng không lâu sau đó, vua Chế Mân chết, và theo tục lệ của Champa thì Huyền Trân phải bị đốt theo chồng Vua Trần vì thương con đã sai Trần Khắc Chung bày kế đưa công chúa Huyền Trân về nước Nói về cuộc hôn nhân giữa vua Chế Mân và công chúa Huyền Trân, trong dân gian vẫn truyền tụng câu:

“Tiếc thay cây quế giữa rừng

Để cho thằng Mán thằng Mường nó leo”

(Ca dao Việt Nam) Cuộc hôn nhân này cũng bị đông đảo triều thần Đại Việt phản đối, dân gian cũng không đồng tình với cuộc hôn nhân Chế Mân-Huyền Trân Nhân dân Champa cũng không chịu khuất phục, nhất là nhân dân Chăm đang sinh sống trên vùng đất

mà vua Chế Mân cắt làm sính lễ cho Đại Việt Nhưng nếu nhìn ở khía cạnh khác, Đại Việt đã có lợi lớn từ cuộc hôn nhân này, vì chỉ mất một nàng công chúa mà lãnh thổ của Đại Việt được mở rộng thêm một phần nữa

Sang thời Hồ, Năm 1402, vua Champa là Ba Đích Lại đã xin dâng Chiêm Động, nhưng vua Hồ Quý Ly ép phải dâng thêm Cổ Lũy Động Nhà Hồ đã chia hai động này thành 4 châu: Thăng, Hoa, Tư, Nghĩa Sự kiện này được Đại Việt sử ký toàn thư ghi nhận lại như sau:

“Mùa thu, tháng 7, Hán Thương đem đại quân đi đánh Chiêm Thành Lấy Đỗ

Mãn làm Đô tướng; Điện nội phán thủ Nguyễn Vị làm Chiêu dụ sứ; An phủ sứ

lộ Đông Đô Nguyễn Bằng Cử làm Đồng chiêu dụ sứ Đại quân sắp tới đất Chiêm, Đinh Đại Trung cưỡi ngựa đi trước các quân, gặp tướng giặc Chế Tra Nan, hai bên giao chiến, đều bị chết Chúa Chiêm Ba Đích Lại sợ, sai cậu là

Bố Điền dâng một voi trắng, một voi đen và các sản vật địa phương, lại dâng đất Chiêm Động để xin rút quân Bố Điền tới, Quý Ly bắt ép phải sửa tờ biểu

là dâng nộp cả động Cổ Lũy Rồi chia đất ấy thành bốn châu Thăng, Hoa, Tư, Nghĩa Đặt An phủ sứ và An phủ phó sứ lộ Thăng Hoa để cai trị; miền đầu nguồn đất ấy thì đặt trấn Tân Ninh”

(Ngô Sĩ Liên, 1972, tr.299)

Trang 31

Qua đó có thể thấy, nhà Hồ đã có những hành động kiên quyết trong việc xâm chiếm lãnh thổ của Champa

Nhận rõ được sự suy yếu của Champa, nhà Hồ còn muốn tiến xa hơn nữa vào lãnh thổ của Champa, đó là các vùng đất Bạt Đạt Gia, Hắc Bạch và Sa Ly Nha ở phía nam Tư Nghĩa

“Năm Quý Mùi (1403), nhà Hồ lại muốn lấy những đất Bạt Đạt Gia, Hắc Bạch, và Sa Ly Nha về phía Nam những đất đã nhường năm trước, bèn sai Phạm Nguyên Khôi và Đỗ Mãn đem thủy bộ cả thảy 20 vạn quân sang đánh Chiêm Thành Quân nhà Hồ vào vây thành Đồ Bàn hơn một tháng trời mà không đánh đổ, lương thực hết cả, phải rút quân về Lần này hao binh tổn tướng mà không có công trạng gì”

(Trần Trọng Kim, 2005, tr.75)

Cuộc tấn công của nhà Hồ năm 1403 đã bị thất bại Giấc mộng chưa thành thì nhà Hồ bị triều đình nhà Minh (Trung Quốc) đánh bại và áp đặt lại ách thống trị của phong kiến phương Bắc lên nước ta Dưới sự đô hộ của phong kiến triều Minh, Thăng hoa lộ an phủ sứ được đổi thành Thăng hoa phủ và theo Cố Lâm Bình, tác giả quyển “Thiên hạ quận quốc lợi bịnh”, phủ này lãnh bốn châu (vào năm Vĩnh Lạc thứ 2- 1404):

- Châu Thăng gồm có ba huyện: Lê Giang, Đô Hòn, An Bị

- Châu Hoa gồm có ba huyện: Vạn An, Cụ Hi, Lễ Để

- Châu Tư gồm có 2 huyện: Trì Bạc, Bạch Ô

- Châu Nghĩa gồm có 3 huyện: Nghĩa Thuần, Nga Bội, Khê Cẩm

Nhưng Thăng Hoa phủ chỉ được ghi cho có tên trong bản đồ tịch vì trên thực

tế, Chiêm Động và Cổ Lũy vẫn do Champa chiếm cứ

Như vậy, sau khi nước ta phải chịu ách đô hộ của phong kiến triều Minh, những vùng đất chiếm được của Champa trước kia đã bị Champa chiếm lại Đó cũng chính là lý do về sau vua Lê Thánh Tông đích thân đem quân đi đánh Champa để đòi lại các vùng đất vốn đã thuộc về nước ta

Đến thời Lê, Tháng 9 năm 1470, vua Chăm là Trà Toàn đã đem hơn 1 vạn quân, gồm cả bộ binh, thủy binh và tượng mã ra đánh vùng đất Hóa Châu của Đại Việt Tướng trấn thủ đất Hóa Châu không chống lại nổi đã phải cầu cứu về triều đình Hành động đó của quân Champa đã khiến vua Lê Thánh Tông tức giận, quyết định thân chinh đem quân đi đánh Trước đền thờ vua Thái Tổ, vua Lê Thánh Tông

đã tâu rằng:

“Thần là kẻ ít tuổi bất tài, vào nối nghiệp lớn, chỉ mong yên dân giữ nước đâu dám dùng nhảm việc binh Chỉ vì giặc Chiêm Thành ngu xuẩn, nó điên cuồng nhòm ngó nước ta Không sợ trời tạm bợ cho qua; với nước ta, nó gây thù địch Trước thì đánh cướp châu Hóa để hòng chiếm đoạt đất đai, sau lại sang

Trang 32

báo nhà Minh, âm mưu diệt hết tông miếu Là phường cha chó, mẹ lợn nhuốc nhơ; làm việc cướp, giết vua bạo nghịch Để vỗ cho Thị Nại béo no; nó dao thớt cắt xẻo Tượng Quận, Chức ác ngập trời, làm hại khắp cõi Thần đã bàn bạc nơi miếu đường, lại lắng hỏi ở lòng dân Mọi người đều cho rằng nó là loài rắn độc hung tàn, là mối lo cho sinh linh trong cõi Phải kíp đem quân hỏi tội, treo thủ cấp nó bên đường Thần bất đắc dĩ, theo nguyện vọng của mọi người, đem đại quân đi hỏi tội”

Vào khoảng đầu tháng 2 năm Hồng Đức (1471), quân Chăm lẻn đến bao vây dinh trại, vua Lê Thánh Tông đã bí mật sai các tướng Lê Hy Cát, Hoàng Nhân Thiêm, Lê Thế và Trịnh Văn Sái đem trên 500 chiến thuyền, 3 vạn tinh binh đang đêm vượt biển, tiến vào cửa biển Sa Kỳ, bí mật xây dựng thành lũy để ngăn chặn đường rút về của giặc, mặt khác nhà vua còn cho một đội quân bộ binh đi chiếm trước các đường núi Đến ngày hôm sau, vua đem 1000 chiến thuyền và 7 vạn tinh binh ra cửa bể dựng cờ Thiên Tử, vừa cho đánh trống hò reo, vừa thúc quân tiến tới Quân Chăm tan vỡ, dày xéo lên nhau cố chạy về thành Trà Bàn Đến ngày 27, vua Lê Thánh Tông lại thúc quân tiến đánh Thị Nại, chém trên 100 quân Chăm Đến ngày

28, quân ta tiến đánh thành Trà Bàn Quân Champa bị quân triều đình nhà Lê đánh cho đại bại Sự kiện lịch sử này đã được chép lại trong Đại Việt sử ký toàn thư như sau:

“Ngày mồng 6, vua bí mật sai bọn Tả du kích tướng quân Lê Hy Cát, Hoàng Nhân Thiêm và bọn Tiền phong tướng quân Lê Thế, Trịnh Văn Sái đem hơn

500 chiếc thuyền, 3 vạn tinh binh, ban đêm ra cửa Áp và cửa Toạ vượt biển gấp, bí mật tiến vào cửa biển Sa Kỳ dựng lũy đắp thành để ngăn chặn lối về của giặc Người Chiêm Thành không biết gì về việc này Ngày mồng 7, vua tự mình dẫn hơn 1.000 chiếc thuyền, hơn 70 vạn tinh binh ra hai cửa biển Tân Áp

và Cựu Tọa dựng cờ thiên tử, đánh trống hò reo mà tiến Trước đó, vua đã bí mật sai bộ binh tướng quân Nguyễn Đức Trung dẫn bộ binh ngầm đi đường

Trang 33

chân núi Tướng giặc trông thấy ngự doanh thì tan vỡ, giày xéo lẫn nhau chạy

về Chà Bàn Chạy đến núi Mộ Nô, bỗng thấy quân của bọn Hy Cát đã chặn đường về, giặc cuống cuồng sợ hãi, chạy rẽ ngang trèo qua chân núi cao, xác người, ngựa và đồ quân tư đầy núi đầy đường Lê Niệm, Ngô Hồng tung quân

ra đánh, chém được 1 viên đại tướng giặc, còn thì đều sợ hãi tan chạy cả Bấy giờ, vua đến Mễ Cần,.… Trà Toàn nghe tin em mình thua chạy, rất sợ hãi, sai người thân tín mang biểu tới xin hàng Vua cũng sai sứ đi lại không ngớt

- Ngày 27, vua tự mình đem đại quân đánh phá thành Thi Nại…

- Ngày 28, vua tiến vây thành Chà Bàn

- Ngày 29, đến sát chân thành vây thành mấy vòng

- Ngày mồng 1 tháng 3 hạ được thành Chà Bàn….rồi đem quân về.”

(Ngô Sĩ Liên, 1972, tr.469)

Quân Champa bị đánh bại hoàn toàn Một tướng của Champa là Bô Trì Trì chạy thoát, đem tàn quân vào Phan Lung (Phan Rang) tự xưng vương, giữ được hơn 1/5 đất đai của Champa cũ, đã sai người đến xưng thần và nạp cống cho vua Lê Vua Thánh Tông nhân đó đã chia những phần còn lại của Champa ra làm 3 nước với mục đích để Champa yếu thế đi, nhằm giữ vững bình yên cho nhân dân Đại Việt tại biên giới

“Sau khi Trà Toàn bị bắt, tướng của hắn là Bô Trì Trì chạy đến Phiên Lung,

chiếm cứ đất ấy, xưng là chúc Chiêm Thành, Trì Trì lấy được 1 phần 5 đất của nước Chiêm, sai sứ sang xưng thần, nộp cống, được phong làm vương Vua lại phong vương cho cả Hoa Anh và Nam Bàn gồm 3 nước để dễ ràng buộc”

(Ngô Sĩ Liên, 1972, tr.470)

- Champa là đất từ núi mà sau đó gọi là Thạch Bi trở về Nam, phong cho Bô Trì Trì cai quản

- Nam Bàn là vùng đất từ núi này trở về phía tây, phong cho dòng dõi của vua

nước Chăm cũ còn sót lại Theo Đào Duy Anh, “Nước Nam Bàn đại khái là miền

châu Thượng Nguyên trước kia, tức miền Tây Nguyên ngày nay Cương mục chú các nước Thủy Xá, Hỏa Xá đời sau là đất Nam Bàn” (Đào Duy Anh, 2006, tr 414)

- Nước thứ ba là Hoa Anh Theo nghiên cứu của Đào Duy Anh thì đây là

vùng đất “từ Cù Mông đến Đại Lãnh” (Đào Duy Anh, 2006, tr 414), tức là gần

tương đương với địa phận của tỉnh Phú Yên ngày nay

Sau chiến thắng trước quân Champa, Đại Việt đã khôi phục lại được bốn châu Thăng, Hoa, Tư, Nghĩa và còn mở rộng lãnh thổ tới Vijaya – được vua Thánh Tông đặt làm phủ Hoài Nhân (Bình Định ngày nay) Nhà vua đã lấy người của nước Champa giữ chức vụ cai quản để dễ bề vỗ an dân chúng, nhưng cũng nghiêm khắc trị

những kẻ làm phản “Hai châu Thái Chiêm và Cổ Luỹ trước là đất của ta, đời gần

Trang 34

đây bị mất về nước Chiêm, nay lấy lại được hết, đặc cách sai bọn các ngươi trấn giữ

Có kẻ nào không chịu theo, cho giết trước rồi tâu sau” (Ngô Sĩ Liên, 1972, tr.470)

Với mong muốn giữ yên bờ cõi nước nhà, nhất là vùng biên cương nhà vua

đã cho khắc bia đặt ở đỉnh núi cao nhất để phân định địa giới của Đại Việt và Champa Như vậy có thể khẳng định, đến triều vua Lê Thánh Tông lãnh thổ nước ta

đã mở rộng vào phía Nam đến núi Thạch Bi, đèo Cả ngày nay Nhưng trên thực tế thì chính quyền của nhà Lê vẫn chưa được thiết lập đến tận vùng đất này Biểu hiện rõ nhất chính là việc vua Lê Thánh Tông đã giao lại việc coi giữ các vùng đất này cho những tướng cũ của Champa trông coi Suốt khoảng thời gian dài sau đó Đại Việt không mở rộng thêm được lãnh thổ xuống phía Nam trên phần lãnh thổ của Champa

mà duy trì mốc ranh giới vua Lê Thánh Tông đã đặt ra Điều này khẳng định, vấn đề quan trọng với chính quyền Đại Việt là bảo vệ biên cương, bờ cõi đất nước, còn vấn

đề xâm chiếm đất đai, mở rộng lãnh thổ chưa phải là vấn đề bức thiết và sống còn của đất nước

Nhưng sự kiện năm 1471 đã mở ra một bước ngoặt nữa trong cuộc Nam tiến

mở rộng lãnh thổ xuống phía Nam của Đại Việt Thắng lợi quân sự năm 1471 của vua Lê Thánh Tông trước quân Champa có ý nghĩa quan trọng Nước Champa hùng mạnh, kiêu ngạo thuở nào giờ đã bị suy yếu nhanh chóng, họ không đủ thực lực để đương đầu với các cuộc tấn công quân sự của Đại Việt, không còn đủ sức ngăn cản

sự mở rộng lãnh thổ xuống phía Nam của dân tộc Việt Thắng lợi năm 1471 đã chỉ ra rằng, Chiêm Thành không còn là bước cản trở lớn trong quá trình mở rộng lãnh thổ

về phía Nam của chính quyền phong kiến Đại Việt nữa Nếu lúc đó, vua Lê Thánh Tông không chỉ dừng lại ở núi Đá Bia, chia lãnh thổ của Champa thành các tiểu quốc nhỏ mà tiếp tục tiến hành cuộc tấn công thảo phạt Champa, thì có lẽ vương triều cuối cùng của vương quốc Champa đã chấm dứt dưới triều đại phong kiến Lê sơ, toàn bộ lãnh thổ của Champa đã bị sáp nhập vào Đại Việt

Đến thời kỳ các chúa Nguyễn cũng là giai đoạn mà công cuộc mở rộng lãnh thổ về phía Nam được xúc tiến và đẩy mạnh Đó là một quá trình liên tục Bằng các hoạt động, quân sự, ngoại giao, chính quyền Đàng Trong đã từng bước lấn chiếm hết vùng đất còn lại của Champa và vùng đất của Thủy Chân Lạp ở phía Nam Sự khủng hoảng và suy yếu của Champa đã làm họ không đủ khả năng cản trở bước tiến của Đại Việt mở rộng lãnh thổ xuống phía Nam Nhưng quá trình thụ đắc lãnh thổ Champa của chính quyền Chúa Nguyễn đã gặp không ít gian nan, khi phải thường xuyên chống đối lại các cuộc đấu tranh của người Chăm, những người cũng đang bị dồn vào bước đường cùng trong cuộc đấu tranh sinh tồn, bảo vệ lãnh thổ cuối cùng của họ Nhưng trong bối cảnh, chính quyền chúa Nguyễn cũng đang ở trong tình thế khốn cùng, vấn đề mở rộng lãnh thổ trở thành vấn đề sống còn cho cuộc đấu tranh sinh tồn với họ Trịnh ở phía Bắc, buộc họ phải đẩy mạnh các hoạt động di dân, khai phá các vùng đất ở phía Nam Đi phía sau lực lượng dân cư là chính quyền chúa Nguyễn, các cuộc xung đột, chiến tranh, quan hệ ngoại giao giữa hai bên diễn ra liên tục trong khoảng thời gian dài của thế kỷ XVII Kẻ mạnh hơn đã giành chiến thắng,

Trang 35

Champa yếu thế chấp nhận thất bại, chính quyền chúa Nguyễn thắng lợi và sáp nhập toàn bộ lãnh thổ của Champa vào lãnh thổ Đàng Trong

Năm 1578, chúa Nguyễn Hoàng cử Lương Văn Chánh cầm quân tiến vào Hoa Anh, vây đánh và hạ thành An Nghiệp-một trong những kinh thành kiên cố và

đồ sộ nhất trong lịch sử của vương quốc Champa, đẩy họ về biên giới cũ ở phía Nam đèo Cả Cuộc tấn công của Lương Văn Chánh và chính quyền họ Nguyễn mới chỉ nhằm thiết lập lại trật tự cũ như đã có trước đó Tuy nhiên, Lương Văn Chánh (Chính) cũng đã tiến thêm một bước trong việc đưa dân lưu tán vào khai khẩn miền đất này, rải rác từ phía nam đèo Cù Mông đến Đồng bằng sông Đà Diễn Đó chính là

cơ sở đầu tiên cho cuộc Nam tiến của Đại Việt vào sâu trong vùng lãnh thổ cũ của vương quốc Champa

Năm 1602, Nguyễn Hoàng dựng dinh Thanh Chiêm (Quảng Nam) và giao cho hoàng tử thứ 6 là Nguyễn Phước Nguyên làm Trấn thủ dinh Quảng Nam, đây là vùng đất giàu có, nhiều tiềm lực hơn Thuận Hóa nhiều lần Nguyễn Phước Nguyên

đã nhanh chóng xây dựng vùng đất này trở thành một vùng quan trọng về kinh tế, chính trị của Đàng Trong

Năm 1611, nhân việc quân Champa sang cướp phá vùng biên giới và xâm chiếm vùng đất Hoa Anh, Nguyễn Hoàng đã sai tướng là Nguyễn Phong đem quân đi đánh Quân của Champa nhanh chóng bị đánh bại trước sức mạnh quân sự của chính quyền chúa Nguyễn Vua của Champa là Po Nit đã phải bỏ vùng đất Hoa Anh rút quân về phía nam đèo Cả Đến lúc này chúa Nguyễn mới chiếm được hẳn vùng đất Hoa Anh (đất cũ của Champa), đặt làm hai huyện Đồng Xuân và Tuy Hòa, hợp thành phủ Phú Yên Đóng quân để phòng giữ, Lương Văn Chánh được cử làm Tham tướng dinh Trấn Biên, sau đổi là dinh Phú Yên Trong Việt sử xứ Đàng Trong, Phan

Khoang đã ghi lại sự kiện này như sau: “Năm Tân hợi (1611), Thái tổ sai chủ sự là

Văn Phong đem quân vào đánh Chiêm Thành, lấy đất bên kia đèo Cù Mông đến núi Thạch Bi, đặt làm phủ Phú Yên, gồm hai huyện Đồng Xuân và Tuy Hòa, cho Văn Phong làm Lưu thủ” (Phan Khoang, 1966, tr.296) Đây thực sự là bước Nam tiến đầu

tiên của các Chúa Nguyễn

Năm 1613, chúa Tiên Nguyễn Hoàng mất, Hoàng tử thứ 6 là Nguyễn Phúc Nguyên lên nối nghiệp, theo lời dặn của cha tiếp tục xây dựng cơ ngơi để chống đối lại họ Trịnh ở Đàng Ngoài Chúa Nguyễn Phước Nguyên (1613-1635) tính tình hiền hậu như Phật nên người ta thường gọi là chúa Sãi Chúa Sãi đã tiến hành cải tổ lại bộ máy hành chính và cách cai trị ở Đàng Trong Lãnh thổ được phân chia theo thừa Tuyên hay xứ, phân thành các chính dinh, dinh ngoài Dưới dinh là các phủ, huyện Quan lại làm việc trong các chính dinh hay dinh ngoài cũng có những tên xưng gọi mới khác với Đàng Ngoài như ty Xá sai thì có Đô tri và ký lục giữ, ty Tướng thần lại thì có cai bạ giữ, ty Lệnh sử thì có nha úy giữ

Năm 1653, đời chúa Nguyễn Phúc Tần, vua Chăm là Bà Tấm xâm lấn vùng đất Phú Yên, Nguyễn Phúc Tần đã sai Cai cơ Hùng Lộc đem quân đi đánh Hùng

Trang 36

Lộc đem quân vượt đèo Hổ Dương núi Thạch Bi, đánh thẳng vào thành của vua Chăm, ban đêm lại cho quân lính phóng hỏa đốt trại của quân Chăm, đại phá quân Champa Sau đó thừa thắng đuổi Bà Tấm phải chạy dài và chiếm được đất tới tận Phan Rang Bà Tấm sai con là Xác Bà Ân mang thư đến xin hàng, chấp nhận địa giới mới là sông Phan Rang (sông Cái), từ sông Phan Rang trở ra thuộc Chúa Nguyễn, từ sông Phan Rang trở vào thuộc Champa Nguyễn Phúc Tần đã đặt tên cho vùng đất mới là phủ Phú Khang và phủ Diên Ninh, lại đặt Dinh Thái Khang (nay gồm tỉnh Khánh Hòa và một phần phía Bắc tỉnh Ninh Thuận) giao cho Hùng Lộc trấn giữ và bắt vua Chăm hàng năm phải cống nạp Hai phủ này rộng trên 5.500km2

(Nguyễn Đình Đầu, 2008) Sau sự kiện năm 1653, cương vực lãnh thổ của Champa đã bị thu hẹp lại khá nhiều, bao gồm từ sông Phan Lang đến khoảng sông Dinh (Hàm Tân), tức đất đai của hai tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận ngày nay Người dân Chăm còn lại tập trung sinh sống ở các vùng đồng bằng sông Lòng Sông (huyện Tuy Phong), sông Phan Rí, sông Phú Hài, sông Phan Thiết và sông Phố Chiêm (Hàm Tân) Champa từ lúc này đã thực sự suy yếu và không còn là sự cản trở đường Nam tiến của người Việt và của Chúa Nguyễn nữa Chúa Nguyễn đã nhanh chóng nắm lấy được quyền kiểm soát ở lưu vực sông Đồng Nai, vốn là đất sinh cơ lập nghiệp lâu đời của người Chăm, rồi thuộc hẳn vào vương quốc Champa, nhưng Champa đã không còn đủ thực lực để kiếm soát vùng này kể từ sau sự kiện năm 1471

Thời chúa Nguyễn Phúc Chu (1691-1725), năm Nhâm Thân (1692), vua Chăm là Bà Tranh đem quân đắp lũy, cướp giết nhân dân phủ Diên Ninh, quân trấn thủ ở dinh Bình Khương báo lên chúa Nguyễn Tháng 8, Chúa Hiển Tông đã sai Cai

cơ Lê Tài hầu Nguyễn Hữu Kính làm thống binh, Văn chức Nguyễn Đình Quang làm tham mưu, đem quân Chánh dinh cùng quân Quảng Nam và Bình Khương đi đánh Tháng giêng năm sau (1693), quân Việt đánh bại được quân của Champa, vua Bà Tranh bỏ chạy; quan quân Chúa Nguyễn tiếp tục đuổi bắt và đến tháng ba năm đó thì bắt được Bà Tranh cùng một viên quan là Tả Trà Viên Kế Bá Tử và một người trong hoàng gia Chăm là Nàng Mi Bà Ân Chúa Nguyễn Phước Chu bèn sáp nhập nước Chăm vào bản đồ nước mình, đặt làm một trấn, tên là Thuận Thành, về sau đổi làm phủ Bình Thuận coi hai huyện An Phước và Hòa Đa, rộng khoảng 11.500km2 Sự kiện thất bại của vua Bà Tranh năm 1693 trong cuộc đối đầu với chính quyền họ Nguyễn đã đánh dấu một mốc lịch sử quan trọng trong việc mở rộng bờ cõi về phía Nam của chúa Nguyễn

Nước Champa sau 15 thế kỉ tồn tại đã bị xóa sổ Đó là quy luật tất yếu của lịch sử lúc bấy giờ Nước yếu không thể đứng vững trước sự tấn công của các nước lớn mạnh thì sẽ bị diệt vong Dân tộc Chăm cũng không tránh khỏi được quy luật đó của lịch sử, họ không đứng vững được trước những cuộc tấn công của các chúa Nguyễn và làn sóng di cư của người Việt Thất bại buộc họ phải nhận kết cục là biến lãnh thổ của mình thành một phần lãnh thổ của Đại Việt, dân tộc Chăm sinh sống hoà lẫn với những di dân người Việt trên vùng đất của mình và dần trở thành một bộ phận trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam Với ba chiến thắng lớn đạt được trên

Trang 37

mặt trận quân sự vào các năm 1611, 1653 và 1692, quân đội của chính quyền Chúa Nguyễn đã đánh bại hoàn toàn những nổ lực cuối cùng của người Chăm trong việc bảo vệ lãnh thổ, quốc gia của mình Vương quốc Champa đã hoàn toàn thất bại, thất bại của họ trong cuộc đối đầu với chúa Nguyễn như một tất yếu của lịch sử, và thất bại đó cũng đồng nghĩa với sự diệt vong của vương quốc Champa, một quốc gia đã tồn tại suốt hơn 15 thế kỉ, đã hình thành và phát triển song hành với Đại Việt Nhưng cuối cùng đã không thể đứng vững được trước sự lớn mạnh của Đại Việt Cùng với

sự diệt vong của Champa là sự mở rộng lãnh thổ của Chúa Nguyễn Lãnh thổ của Đàng Trong lúc này đã bao gồm từ con sông Gianh giáp Đàng Ngoài cho đến tận lãnh thổ của tỉnh Bình Thuận ngày nay

Trải qua suốt một thế kỷ, Chúa Nguyễn ở Đàng Trong đã sáp nhập được toàn

bộ lãnh thổ của Champa vào lãnh thổ của Đại Việt Trong quá trình chiếm hết vùng đất còn lại của Champa, các Chúa Nguyễn còn thực hiện các chính sách can thiệp vào Chân Lạp, tạo điều kiện cho lưu dân người Việt tới sinh sống trên lãnh thổ của Thủy Chân Lạp Cũng bằng các hoạt động quân sự, ngoại giao khôn khéo, dựa vào sức mạnh của mình, các chúa Nguyễn đã từng bước lấn chiếm hết vùng đất của Thủy Chân Lạp ở phía Nam vào lãnh thổ của mình Hoàn thành quá trình mở rộng lãnh thổ xuống phía Nam của Đại Việt

Ở phía Nam Champa, Thủy Chân Lạp là vùng đất tương đương với Nam Bộ nước ta ngày nay Sau khi hoàn thành việc thôn tính toàn bộ lãnh thổ của nước Champa, các Chúa Nguyễn tiếp tục tiến hành mở rộng lãnh thổ của mình về phía Nam Như đã trình bày ở trên, vùng đất Thủy Chân Lạp lúc bấy giờ vẫn là vùng đất hoang vu, có rất ít dân cư sinh sống Chính quyền của Chân Lạp cũng không thể đưa dân tới sinh sống, hay thiết lập chính quyền cai quản ở vùng đất toàn đầm lầy này Trên bước đường phát triển thế lực của mình, các chúa Nguyễn đã lần lượt xâm chiếm vùng đất của Thủy Chân Lạp bằng nhiều con đường khác nhau, có cả việc giành đất bằng quân sự, và cả việc thụ đắc đất đai bằng con đường hòa bình Mốc sự kiện mở đầu cho cuộc Nam tiến của các Chúa Nguyễn vào lãnh thổ của Thủy Chân Lạp là sự kiện năm 1620, khi chúa Nguyễn Phước Nguyên đã gả Công nữ Ngọc Vạn cho vua Chân Lạp là Chey Chettha II Cuộc hôn nhân này đã mở đầu cho giai đoạn

sự có mặt của người Việt trên đất Chân Lạp

Từ đây bắt đầu lịch sử quá trình khai phá vùng đất Nam Bộ của dân tộc Việt Nam dưới sự tác động của chính quyền Đàng Trong

2.1.2 Quá trình xác lập, thực thi và bảo vệ chủ quyền trên vùng đất Nam

Bộ của Chúa Nguyễn đến năm 1777

2.1.2.1 Quá trình xác lập và thực thi chủ quyền của Chúa Nguyễn trên vùng đất Nam Bộ từ nửa đầu thế kỉ XVII đến nửa cuối thế kỉ XVIII

Lịch sử Việt Nam thế kỉ XVII, XVIII chứng kiến sự phân liệt sâu sắc giữa các tập đoàn phong kiến Sau khi chấm dứt sự chia cắt Nam-Bắc triều với sự thắng lợi của nhà Lê-Trịnh cùng sự sụp đổ của nhà Mạc năm 1592 nước Đại Việt lại rơi

Trang 38

vào tình trạng chia cắt Đàng Trong-Đàng Ngoài với hai thế lực đối đầu nhau họ Trịnh ở phía Bắc và họ Nguyễn ở phía Nam Năm 1600, sau khi trở về từ phía Bắc Nguyễn Hoàng quyết chí xây dựng một giang sơn riêng cho họ Nguyễn Bằng sự tinh tường về chính trị, sự lọc lõi trong cách ứng xử với họ Trịnh và tầm nhìn chiến lược của một vị quân vương anh minh, Nguyễn Hoàng nhanh chóng xác định cách thức xây dựng thế và lực trên vùng đất mới vốn là đất của Champa xưa

Các Chúa Nguyễn ở Đàng Trong, do nhu cầu tồn tại và phát triển, cũng như tăng cường lực lượng để đối phó với các cuộc chiến tranh từ nhà Trịnh ở phía Bắc nên công cuộc khai phá về phương Nam càng được đẩy mạnh

Sau khi hoàn thành việc thôn tính toàn bộ lãnh thổ của nước Chiêm Thành, các Chúa Nguyễn tiếp tục tiến hành mở rộng lãnh thổ của mình về phía Nam và từng bước sáp nhập các vùng đất của Thủy Chân Lạp bằng nhiều con đường khác nhau, có

cả việc giành đất bằng quân sự, và cả việc chiếm đất bằng con đường hòa bình

Năm 1620, chúa Nguyễn Phước Nguyên đã gả Công nữ Ngọc Vạn cho vua Chân Lạp là Chey Chettha II Cuộc hôn nhân này đã mở đầu cho giai đoạn sự có mặt của người Việt trên đất Chân Lạp Cuộc hôn nhân này cũng giúp cho vua Chân Lạp

có chỗ dựa vững chắc trong cuộc chiến chống lại tham vọng thôn tính của người Xiêm Sau cuộc hôn nhân này, chính quyền Chúa Nguyễn đã đặt tại kinh đô U Đông một sứ bộ thường trực với lực lượng quân đội rất mạnh Được sự giúp đỡ và can thiệp của Công nữ Ngọc Vạn mà những lưu dân người Việt có điều kiện thuận lợi đến sinh sống, làm ăn trên vùng đất của Thuỷ Chân Lạp ngày một đông (Vũ Minh Giang, 2006, tr.27-28)

Năm 1623, chúa Nguyễn Phước Nguyên đã cho mở hai đồn thu thuế tại Kas Krobey (Bến Nghé) và tại Prey Nokor (Sài Gòn-Chợ Lớn) Chúa Nguyễn cũng thiết lập một đồn binh cử tướng chỉ huy, lấy cớ là để giúp chính quyền Chân Lạp, đồng thời nhằm mục đích bảo vệ người Việt di cư đến đây làm ăn, buôn bán và khai hoang Những lưu dân người Việt du cư vào sinh sống trên vùng đất Thủy Chân Lạp ngày càng đông và được thoải mái khai hoang, lập ấp Những lưu dân người Việt sống xen kẽ với người Khmer bản địa, nhưng do khác nhau về cách làm ăn, sinh hoạt, bởi vậy mà nơi nào người Việt tới sinh sống thì những người Khmer lại dạt đi nơi khác Chính điều này đã làm cho những vùng đất có người Việt sinh sống ngày càng được mở rộng và chịu ảnh hưởng của chính quyền Chúa Nguyễn mạnh mẽ hơn

là chịu ảnh hưởng của chính quyền Chân Lạp Điều đó hiển nhiên biến những vùng đất của Chân Lạp trở thành đất của người Việt mỗi khi người Việt đặt chân tới sinh sống Dù hình thức bề ngoài thì nó vẫn thuộc quyền cai quản của nước Chân Lạp (G Maspéro, 1904, p.61)

Tháng 9 năm Mậu Tuất (1658), vua Chân Lạp là Nặc Ông Chân đem quân xâm lấn biên thùy, chúa Hiền Nguyễn Phước Tần đã sai phó tướng dinh Trấn Biên là Nguyễn Phước Yến, Cai đội Xuân Thắng và tham mưu Minh Lộc đem 3.000 quân đến thành Mỗi Xuy (Bà Rịa), đánh bại quân của Nặc Ông Chân, bắt được vua Chân

Trang 39

Lạp mang về Quảng Bình giao nộp cho Chúa Nguyễn Nhưng sau đó Chúa Nguyễn

đã tha cho Nặc Ông Chân về, bắt hàng năm phải cống nộp Đổi lại chính quyền Chân Lạp để cho người Việt được tự do tới sinh sống trên vùng đất của Chân Lạp Sự kiện này được Quốc sử quán triều Nguyễn chép lại trong Đại Nam thực lục như sau:

“Tháng 9, vua nước Chân Lạp là Nặc Ông Chân xâm lấn biên thùy Dinh Trấn Biên báo lên Chúa sai Phó tướng Trấn Biên là Tôn Thất Yến, Cai đội là Xuân Thắng, Tham mưu Minh Lộc đem 3.000 quân đến thành Hưng Phúc đánh phá được, bắt Nặc Ông Chân đưa về Chúa tha tội cho và sai hộ tống về nước, khiến làm phiên thần, hàng năm nộp cống”

(Quốc sử quán triều Nguyễn, Viện sử học, 2007, tr.72)

Từ đó người Việt được đến sinh sống ở Gia Định, Biên Hòa và Bà Rịa ngày càng đông Ban đầu họ sống xen kẻ với những cư dân bản địa ở đây, nhưng dần dần những cư dân bản địa hễ thấy người Việt di cư tới đâu là họ lại tránh xa, lánh đi nơi khác mà không tranh giành gì với những người Việt Những vùng đất mà người Việt tới sinh sống đương nhiên trở thành vùng đất mà chỉ có người Việt sinh sống Nhìn những gì mà lưu dân người Việt đã có được trên vùng đất của Thuỷ Chân Lạp thật dễ dàng Nhưng thực chất thì chính quyền của Chân Lạp đã không có đủ sức và lực lượng để cai quản vùng đất của mình, cũng như đưa dân cư tới sinh sống, khai hoang tại những vùng đất này Trong khi đó, ảnh hưởng của chính quyền Chúa Nguyễn trong triều đình của Chân Lạp ngày càng gia tăng Điều này đã tạo điều kiện thuận lợi cho những lưu dân người Việt có điều kiện thuận lợi đến sinh sống, khai hoang, lập xóm làng trên vùng đất mới, hoang vu-Thuỷ Chân Lạp

Sau khi vua của Chân Lạp là Batom Reachea bị một người trong hoàng tộc giết chết, Ang Chei (1673-1674), còn được gọi là Nặc Ông Đài lên làm vua Đây là ông vua thân với chính quyền của Xiêm Được sự giúp đỡ của Xiêm, Nặc Ông Đài

đã cho đắp chiến lũy ở thành Nam Vang, làm các bè nổi, dùng xích sắt nối lại với nhau, sau đó được sự tiếp sức của Xiêm La đã đem quân xuống chiếm Sài Côn Quân Chân Lạp đắp thêm chiến lũy dài và kiên cố ở Mỗi Xuy, cho quân đội phòng thủ, nhằm ngăn chặn những cuộc tấn công của Chúa Nguyễn

Đầu năm Giáp Dần (1674), chúa Nguyễn Phúc Tần (1648-1687) sai Cai cơ đạo Nha Trang thuộc dinh Thái Khương là Nguyễn Dương Lâm làm Thống binh, Tướng thần lại Thủ hợp là Nguyễn Diên Phái làm Tham mưu, Văn Sùng làm Thị chiến đem quân đi đánh Quan quân đi gấp, tháng 3 cùng năm, Nguyễn Diên Phái đến Mỗi Xuy trước, thừa lúc quân Miên không đề phòng, vào chiếm đồn, binh khí không vấy máu Qua ba ngày quân Miên bốn mặt kéo về, vây đồn Nguyễn Diên Phái đóng cửa kiên thủ, không giao chiến Đến lúc đại binh Nguyễn Dương Lâm kéo đến, trong ngoài giáp công quân Miên tan rã, tử thương rất nhiều Đại binh tiến lên chiếm Sài Côn Đến tháng 4, quan quân chia ra làm hai đường thủy, bộ tiến lên phá hai đồn

Gò Bích, Nam Vang, thiêu hủy các thuyền nồi, khóa sắt Nặc Ông Đài trốn vào rừng,

bị người trong đảng giết chết Sau đó Chúa Nguyễn đã đưa Nặc Thu lên làm chánh

Trang 40

vương, đóng đô ở U Đông và đưa Nặc Nộn làm đệ nhị vương đóng đô ở Sài Côn Uy thế của Chúa Nguyễn đã được củng cố vững chắc ở Chân Lạp, lưu dân người Việt được thoải mái trong di dân, khai hoang ở vùng đất mới, cũng như mục tiêu bành trướng của Chúa Nguyễn ở vùng đất Thủy Chân Lạp cũng dễ dàng hơn

Một bước tiến lớn của Chúa Nguyễn trong việc mở rộng sang vùng đất của Thủy Chân Lạp được xúc tiến mạnh mẽ kể từ khi xuất hiện những người Hoa chạy nạn sau khi nhà Minh sụp đổ Đó là sự kiện xảy ra năm 1679, khi các tướng lưu vong của nhà Minh là Dương Ngạn Địch, Hoàng Tiến, Trần Thượng Xuyên, Trần An Bình cùng khoảng 3.000 người đến xin thần phục Chúa Nguyễn và mong muốn có được một nơi để cư trú, làm ăn sinh sống (Quốc sử quán triều Nguyễn, Viện sử học, 2007, tr.91)

Nhóm người Hoa của Dương Ngạn Địch và Hoàng Tiến vào cửa Lôi Lạp, đến đóng ở Mỹ Tho Binh thuyền của Trần Thượng Xuyên và Trần An Bình thì vào cửa Cần Giờ, đến đóng ở Bàn Lân Họ vỡ đất hoang, dựng phố xá Thuyền buôn của người Thanh và các nước Tây Dương, Nhật Bản, Chà Và đi lại tấp nập, do đó mà phong hóa Hán thấm dần vào đất Đông Phố (Quốc sử quán triều Nguyễn, Viện sử học, 2007, tr.91)

Việc Chúa Nguyễn cho những tướng cũ, lưu vong của nhà Minh đến cư trú, khai phá trên vùng đất của Chân Lạp cho thấy thế lực của Chúa Nguyễn ở Chân Lạp lúc bấy giờ là rất lớn, và những vùng đất đó dường như đã nằm trong sự kiểm soát của chính quyền Chúa Nguyễn chứ không phải là của Chân Lạp như trong pháp lý nữa Biểu hiện cụ thể nhất chính là những vùng đất Chân Lạp vẫn tưởng là của mình, chỉ có những lưu dân người Việt sinh sống và đã xây dựng được cơ sở vững chắc với

hệ thống làng xóm, thôn ấp Những nhóm di dân người Hoa này về sau đã góp công lớn vào công cuộc mở rộng lãnh thổ xuống phía Nam của chính quyền Chúa Nguyễn

và góp phần quan trọng vào việc phát triển kinh tế trên vùng đất Nam Bộ (Dương Thế Hiền, 2014)

Cùng thời gian này, Mạc Cửu đến Chân Lạp làm chức Ốc Nha rồi xin chiêu tập dân xiêu dạt đến các nơi Phú Quốc, Cần Bột, Giá Khê, Lũng Kỳ, Hương Úc, Cà Mau (thuộc tỉnh Hà Tiên) lập thành 7 xã, thôn (Quốc sử quán triều Nguyễn, Viện sử học, 2007, tr.122) Hà Tiên vào thời Mạc Cửu với tên là Cảng Khấu Quốc, là một mắt xích quan trọng ở phía Đông vịnh Thái Lan, trên tuyến hàng hải thương mại châu Á qua vịnh Thái Lan giao thương với Trung Quốc và các nước Đông Nam Á hải đảo

Năm 1698, một viên quan của Chân Lạp tên là Êm tiến hành nổi loạn trong nước, đã nhờ Chúa Nguyễn giúp đỡ quân lính và hứa sẽ nhường các tỉnh Prey Nokor (Sài Gòn), Kampeap Srekatrey (Biên Hòa), Bà Rịa để đền đáp Năm 1699, Êm đem quân Việt theo sông Mekong tiến lên đến Kompong Chhnang, nhưng bị đẩy lui, trở

về ba tỉnh này, Êm bị giết Nhưng nhân đó chúa Hiển Tông Nguyễn Phước Chu đã công khai chiếm đất ấy, đặt quan cai trị

Ngày đăng: 15/04/2021, 19:32

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm