1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nội khoa gia súc tài liệu giảng dạy

141 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nội khoa gia súc
Tác giả Nguyễn Phi Bằng
Trường học Đại học An Giang
Chuyên ngành Nội khoa gia súc
Thể loại Tài liệu giảng dạy
Năm xuất bản 2012
Thành phố An Giang
Định dạng
Số trang 141
Dung lượng 4,42 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bệnh Nội khoa gia súc là môn học chuyên nghiên cứu về các bệnh không lây lan ở gia súc, nhiệm vụ của môn học nghiên cứu về nguyên nhân gây bệnh, triệu chứng, tiên lượng, cơ chế sinh bệnh

Trang 1

KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN

-

TÀI LIỆU GIẢNG DẠY

NỘI KHOA GIA SÚC

Tác giả biên soạn: NGUYỄN PHI BẰNG

2012

Trang 2

KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN

-

TÀI LIỆU GIẢNG DẠY

NỘI KHOA GIA SÚC BAN GIÁM HIỆU LÃNH ĐẠO ĐƠN VỊ TÁC GIẢ BIÊN SOẠN

2012

Trang 3

Bệnh Nội khoa gia súc là môn học chuyên nghiên cứu về các bệnh không lây lan ở gia súc, nhiệm vụ của môn học nghiên cứu về nguyên nhân gây bệnh, triệu chứng, tiên lượng, cơ chế sinh bệnh, các phương pháp chẩn đoán và điều trị bệnh Nội khoa gia súc là môn học đặc thù do nguyên nhân gây Bệnh nội khoa rất đa dạng và phức tạp không có bệnh nguyên đặc biệt tức là các nguyên nhân sinh bệnh thường mang tính chất tổng hợp không có tính đặc hiệu Kiến thức về bệnh Nội khoa trên gia súc trong tài liệu này là những kiến thức nền tảng cho đối tượng là học sinh, sinh viên học chuyên ngành

về thú y

Trong tài liệu này gồm có 3 phần: Phần đại cương, phần chuyên khoa Bệnh nội khoa trên gia súc và phần thực hành đề cập đến những kiến thức từ cơ bản đến chuyên môn về bệnh Nội khoa và những kỹ năng thực hành thú y cơ bản về một số bệnh phổ biến trên gia súc giúp cho nguời là công tác về chuyên môn thú y hiểu và thực hành để điều trị các bệnh Nội khoa trên gia súc có hệ thống và khoa học

Hy vọng những vấn đề được đề cập trong tài liệu này có thể giúp người học chuyên ngành Chăn nuôi – Thú y có những thông tin cơ bản để giải quyết các vấn đề về Bệnh nội khoa trên gia súc Tuy nhiên, trong quá trình biên soạn có những thiếu sót không thể tránh khỏi, rất mong nhận được phản hồi và góp ý của đồng nghiệp và các bạn độc giả

Trân trọng

Trang 4

MỤC LỤC

PHẦN I ĐẠI CƯƠNG

Chương 1 ĐẠI CƯƠNG BỆNH NỘI KHOA GIA SÚC

Các khái niệm và nguyên nhân gây bệnh 1

Phương pháp tiếp cận và cố định gia súc 25

PHẦN 2 CHUYÊN KHOA BỆNH NỘI KHOA

CHƯƠNG 2 BỆNH Ở HỆ TIÊU HOÁ

Xuất huyết tiêu hoá

Bệnh bội thực dạ cỏ 39 Viêm dạ tổ ong do ngoại vật 41

Chương 3: BỆNH Ở HỆ HÔ HẤP

Bệnh chảy máu mũi 50

Bệnh viêm phế quản phổi 55 Bệnh viêm phổi thuỳ 58 Bệnh viêm màng phổi 61

Bệnh viêm ngoại tâm mạc 72

Chương 5: BỆNH Ở HỆ BÀI TIẾT

Viêm bàng quang cấp 84

Trang 5

Chẩn đoán và điều trị lệch dạ múi khế 132

TÀI LIỆU THAM KHẢO 136

 

 

Trang 6

1

Phần 1 PHẦN ĐẠI CƯƠNG

Chương 1 TỔNG QUAN BỆNH NỘI KHOA GIA SÚC

CÁC KHÁI NIỆM VÀ NGUYÊN NHÂN GÂY BỆNH

1 Khái niệm môn học và các khái niệm liên quan

1.1 Bệnh là gì?

Là sự rối loạn đời sống bình thường của một cơ thể sinh vật do tác động của các yếu tố gây bệnh khác nhau, gây ra một quá trình đấu tranh phức tạp, làm cho khả năng lao động và giá trị kinh tế bị giảm sút

Là sự thay đổi về phương diện cơ thể học, hóa học và sinh lý xảy ra trong cơ thể con vật,

gây ra bởi tổn thương dưới tác động của những nguyên nhân gây bệnh khác nhau

1.2 Thế nào là một bệnh?

Bệnh là sự sai lệch hoặc tổn thương nào đó về cấu trúc và chức năng của bất kỳ bộ phận, cơ quan, hệ thống nào đó của cơ thể biểu hiện bằng một bộ triệu chứng đặc trưng giúp cho thầy thuốc có thể chẩn đoán xác định và chẩn đoán phân biệt, mặc dù đôi khi chưa rõ nguyên nhân , bệnh lý học và tiên luợng

Là dùng mọi biện pháp nhằm giúp cho cơ thể đang mắc bệnh trở về trạng thái bình thường

Có nhiều phương pháp điều trị cho gia súc như dùng thuốc, dùng nhân tố vật lý…

1.5 Chẩn đoán

Là một khoa học nghiên cứu về khám bệnh Nó nghiên cứu các phương pháp để tìm hiểu gia súc trước lúc bệnh và sau lúc bệnh, nhằm phát hiện và thu thập triệu chứng, phân tích tổng hợp các triệu chứng để đi đến kết luận bệnh Việc chẩn đoán có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc điều trị bệnh cho gia súc, nếu chẩn đoán sai lệch hoặc không đúng sẽ dẫn đến những sai lầm trong điều trị

Một chẩn đoán đầy đủ và chính xác cần phải làm rõ được các nội dung sau:

- Vị trí bệnh trong cơ thể

- Tính chất của bệnh

- Hình thức và mức độ của những rối loạn trong cơ thể bệnh

- Nguyên nhân gây bệnh

Tuy nhiên, một quá trình bệnh diễn ra trong cơ thể thường phức tạp, chẩn đoán dù có tỉ

mỉ đến đâu cũng khó phát hiện hết những thay đổi của các quá trình đó và trả lời được đầy

đủ các nội dung trên Chẩn đoán lâm sàng càng cẩn thận, tỉ mỉ dựa trên nhiều mặt thì càng chính xác

Trang 7

2

Chú ý:

- Kết luận chẩn đoán có thể thay đổi theo quá trình bệnh

- Gia súc có nhiều loại, đặc điểm sinh lý và các biểu hiện bệnh lý ở chúng cũng rất

khác nhau Phải cố gắng hiểu rõ và nắm được các đặc điểm sinh lý, các biểu hiện bệnh lý

của từng loại gia súc, vận dụng thành thạo các phương pháp chẩn đoán thích hợp để rút ra

một kết luận chính xác cho chẩn đoán

Bệnh nội khoa và bệnh truyền nhiễm có sự khác nhau về:

a Nguyên nhân gây bệnh

Nguyên nhân gây bệnh nội khoa gồm nhiều yếu tố (môi trường, thời tiết, thức ăn, chăm sóc

nuôi dưỡng, )

Ví dụ: Bệnh viêm phế quản phổi ở gia súc do nhiều yếu tố gây nên như:

- Chăm sóc nuôi dưỡng gia súc kém

- Gia súc bị nhiễm lạnh đột ngột

- Kế phát từ một số bệnh khác (kế phát từ bệnh giun ở phế quản, )

- Gia súc hít phải một số khí độc trong chuồng nuôi (H 2 S, NH 3 , )

Nguyên nhân gây bệnh truyền nhiễm là nguyên nhân đặc thù một loại vi sinh vật Ví dụ:

bệnh tụ huyết trùng heo (Fowl cholera) ở gia súc chỉ do vi khuẩn Pasteurella spp gây nên,

bệnh phó thương hàn (Paratyphus Suum) ở gia súc chỉ do vi khuẩn Salmonella spp, dịch tả

heo (hog cholera) do Pestivirus gây nên

b Tính chất lây lan

Bệnh nội khoa: không có sự lây lan giữa con vật khoẻ với con vật ốm khi tiếp xúc với

nhau, hoặc khi con vật khỏe tiếp xúc trực tiếp với chất thải của con vật ốm Ví dụ ở bệnh viêm

ruột, bệnh viêm phổi, bệnh viêm thận,

Bệnh truyền nhiễm: có sự lây lan giữa con vật khoẻ với con vật ốm khi tiếp xúc với nhau,

hoặc con vật khỏe tiếp xúc với chất thải của con vật ốm và dễ dàng gây nên ổ dịch lớn Ví dụ:

ở bệnh dịch tả lợn, bệnh lở mồm long móng, bệnh cúm gà,

c Sự hình thành miễn dịch

Ở bệnh nội khoa: không có sự hình thành miễn dịch của cơ thể sau khi con vật bệnh khỏi

bệnh Do vậy, trong quá trình sống con vật có thể mắc một bệnh nhiều lần Ví dụ: bệnh viêm

thận cấp, bệnh viêm ruột, bệnh viêm phổi,

Ở bệnh truyền nhiễm: hầu hết các bệnh truyền nhiễm có sự hình thành miễn dịch của cơ

thể khi con vật bệnh khỏi bệnh Do vậy, trong quá trình sống con vật hiếm khi mắc lại bệnh

đó nữa Ví dụ khi gà mắc bệnh Newcastle (dịch tả gà) và khỏi bệnh thì con gà đó hiếm khi

mắc lại bệnh này nữa

Trang 8

Nguyên nhân đặc thù là vi sinh vật gây nên

TÍNH CHẤT LÂY LAN Không lây lan từ gia súc bệnh

sang gia súc khỏe

Lây lan từ gia súc bệnh sang gia súc khỏe

SỰ HÌNH THÀNH

MIỄN DỊCH

Không hình thành miễn dịch sau khi khỏi bệnh Có hình thành miễn dịch sau khi khỏi bệnh

2 Những đặc điểm của bệnh nội khoa

- Không có bệnh nguyên đặc biệt

- Chịu ảnh hưởng của những tác động xấu (từ bên ngoài và bên trong) đến cơ thể

- Cơ địa của con vật ảnh hưởng lớn đến quá trình bệnh

- Nghiên cứu cơ chế sinh bệnh rất quan trọng

- Điều trị phải toàn diện và chăm sóc có ý nghĩa quyết định đến quá trình hồi phục của con bệnh

- Bệnh nội khoa là cơ sở để các bệnh khác gây tác hại

2.1 Nguyên nhân gây bệnh nội khoa

Nguyên nhân gây bệnh nội khoa rất đa dạng và phức tạp như: nguyên nhân di truyền, chăm sóc nuôi dưỡng, nhân tố vật lý, hóa học…

Ví dụ: Bệnh viêm ruột cata cấp tính ở gia súc do nhiều nguyên nhân gây nên như:

• Thức ăn kém phẩm chất (ôi, mốc, nhiễm độc, nhiễm hóa chất…)

• Gia súc bị nhiễm lạnh

• chăm sóc và nuôi dưỡng kém

• Kế phát từ một số bệnh khác (do kế phát từ một số bệnh khác như bệnh truyền nhiễm, bệnh ký sinh trùng)

• Môi trường chăn nuôi bị ô nhiễm làm cho vật dễ bị một số bệnh truyền nhiễm

2.1.1 Nguyên nhân bên trong

- Di truyền là một trong những nguyên nhân bên trong gây nên bệnh, súc vật cha mẹ bị bệnh sễ truyền lại cho đời con những cơ thể gầy ốm, dễ mắc bệnh

- Loài gia súc khác nhau do cấu tạo cơ thể khác nên loại gia súc mắc bệnh này nhưng loại khác không mắc Thí dụ như ở bò bị bệnh viêm dạ tổ ong do ngoại vật

Trang 9

4

- Giống gia súc khác nhau mắc bệnh khác nhau như bò ngoại nhập dễ mắc bệnh ký sinh trùng đường máu hơn bò nội

Ngoài ra tính đực cái, tuổi và thể trạng gia súc …cũng là nguyên nhân bên trong

Hầu hết các nguyên nhân bên trong là nguyên nhân thuận lợi Nghĩa là tự nó không có khả năng gây bệnh chỉ làm giảm sức đề kháng của cơ thể tạo điều kiện thuận lợi cho các nguyên nhân bên ngoài xâm nhập và gây nên bệnh

2.1.2 Nguyên nhân bên ngoài

Nguyên nhân cơ học

Do chấn thương gây thương tích làm hư hại một số mô giảm chức năng của một số cơ quan

bị thương

Nguyên nhân lý học

Do tác động của nhiệt độ cao, ẩm độ thay đổi thất thường… làm tổn thương tế bào mô trong cơ thể

Nguyên nhân hóa học

Một số hóa chất độc hại có thể phá hủy tế bào gây độc như: thuốc trừ sâu, độc tố trong thức ăn, nước uống hoặc tiêm nhằm thuốc hoặc quá liều qui định

Nguyên nhân sinh học

Là nhóm nguyên quan trọng nhất đa dạng phong phú, gồm vi khuẩn, virus, ký sinh trùng, nấm mốc khi gặp điều kiện thuận lợi xâm nhập vào cơ thể gây bệnh

Nguyên nhân do con người

Nếu con người chăm sóc – nuôi dưỡng sử dụng gia súc không hợp lý làm giảm sức đề kháng, bệnh dễ phát sinh, thời gian bệnh kéo dài trở thành bệnh nặng

► Nguyên nhân bên ngoài là nguyên nhân quyết định và cơ hội

- Nguyên nhân quyết định: chỉ có 1 nguyên nhân đủ gây thành bệnh (sinh học)

- Nguyên nhân cơ hội: chỉ gây thành bệnh được khi cơ thể đã bị nguyên nhân thuận lợi làm suy yếu

Trang 10

ật gây ra thư

ều vật nuôi phòng, trị b hững sinh v

ký sinh trùn

ký sinh ở bê

Trang 11

6

- Cướp đoạt chất dinh dưỡng, hút máu

- Gây tổn thương các cơ quan nội tạng

- Trực tiếp hoặc gián tiếp làm lây truyền mầm bệnh khác Làm con vật gầy yếu dần, nặng hơn có thể bị chết

Ngoại ký sinh trùng: sống ký sinh ở bên ngoài cơ thể vật nuôi Ví dụ: con ghẻ sống ký sinh

ở da lợn, ve chó sống ở ngoài da

Tác hại:

- Hút máu

- Gây tổn thương da, tạo lối vào cho các mầm bệnh khác

- Gây ngứa ngáy, khó chịu làm con vật kém ăn gầy dần

b Chất độc

+ Ăn phải cây cỏ độc: một số loại cây cỏ thực vật có độc chất, khi gia súc

ăn phải sẽ bị ngộ độc Ví dụ: nếu gia súc ăn nhiều lá sắn tươi, vỏ củ sắn sẽ bị ngộ độc, nặng hơn có thể bị chết

+ Bị rắn độc, nhện độc cắn Cần lưu ý khi chăn thả vật nuôi ở nơi gò hoang, bụi rậm

dễ bị các loại rắn độc, nhện độc cắn dẫn tới vật nuôi có thể bị chết

c Ăn phải hoá chất độc:

Vật nuôi có thể bị ngộ độc do ăn phải thuốc trừ sâu, bả chuột, phân hoá học hoặc một

số loại hoá chất độc khác

d Chất lượng thức ăn kém

+ Thức ăn bị ôi thiu, mốc

+ Thức ăn có quá nhiều muối

+ Uống phải nguồn nước bị nhiễm độc:

+ Nhiễm các loại hoá chất độc, thuốc trừ sâu

+ Nhiễm các kim loại nặng: thuỷ ngân, chì,

e Nuôi dưỡng, chăm sóc và sử dụng

Chăm sóc không chu đáo, không cẩn thận cũng là nguyên nhân làm vật nuôi gầy yếu

và dễ bị mắc bệnh Ví dụ: chuồng nuôi quá chật chội, quá bẩn, quá ẩm ướt, quá nóng hoặc

bị gió lùa vào mùa đông

- Đánh nhau

Trang 12

7

- Bị tai nạn khi chăn thả, làm việc

- Con non mới đẻ yếu ớt bị mẹ hoặc con khác đè, dẫm lên

- Bắt giữ, vận chuyển thô bạo dễ làm con cái sẩy thai

- Vệ sinh đỡ đẻ kém dễ làm cho con mẹ và vật sơ sinh bị uốn ván,

g Sử dụng không hợp lý:

+ Không hợp lý về thời gian: phải làm việc quá sớm về mùa đông, quá muộn về

mùa hè

+ Phải làm việc quá sức

+ Gia súc trong thời kỳ chửa đẻ, gia súc non phải làm việc nặng

h Thời tiết bất lợi:

+ Thời tiết phù hợp sẽ cho con vật khoẻ mạnh, ít mắc bệnh Nhưng khi thời tiết bất lợi, con vật dễ mắc bệnh

+ Quá lạnh: làm vật nuôi tốn nhiều năng lượng để chống rét nên gầy yếu, dễ nhiễm bệnh

+ Quá nóng: làm cho con vật nuôi khó chịu, ỉa phân nhiều nước, chuồng trại ẩm ướt sức khoẻ giảm sút là cơ hội tốt cho mầm bệnh xâm nhập vào cơ thể và gây bệnh

► Tóm tắt: Nguyên nhân sinh bệnh → rối loạn chức năng bộ phận, cơ quan trong cơ thể

→ thể hiện triệu chứng → dựa vào triệu chứng để chẩn đoán → bệnh → phương hướng điều trị

3 Vị trí của môn học

Môn bệnh nội khoa là môn học nghiên cứu các bệnh không lây ở gia súc Nó có những đặc điểm khác với môn bệnh truyền nhiễm và bệnh ký sinh trùng Bệnh ký sinh trùng và bệnh truyền nhiễm có mầm bệnh cụ thể (vi khuẩn, virus, ký sinh trùng…) riêng bệnh nội khoa không có bệnh nguyên đặc biệt, chỉ có nguyên nhân sinh bệnh

4 Những tổn thất do bệnh nội khoa gây ra

Bệnh nội khoa tuy không lây lan thành ổ dịch nguy hiểm nhưng số gia súc mắc bệnh nội khoa xảy ra lẻ tẻ ở khắp mọi nơi, ở tất cả các mùa đã gây thiệt hại không nhỏ về súc vật và kinh tế

5 Nhiệm vụ của môn học bệnh nội khoa

Môn học này nghiên cứu về:

• Nguyên nhân gây bệnh,

Trang 13

8

• Đề ra phương pháp phịng bệnh hữu hiệu

SƠ ĐỒ NỘI DUNG CỦA MƠN HỌC BỆNH NỘI KHOA GIA SÚC

BỆNH CỦA GIA SÚC NON

BỆNH NỘI KHOA GIA SÚC

BỆNH DO RỐI LOẠN TRAO ĐỔI CHẤT

BỆNH DO TRÚNG ĐỘC

BỆNH CỦA HỆ TIM MẠCH BỆNH

CỦA HỆ HÔ HẤP

BỆNH CỦA HỆ TIÊU

BỆNH CỦA HỆ TIẾT NIỆU

BỆNH CỦA HỆ THỐNG TẠO MÁU

BỆNH CỦA HỆ THẦN KINH

Trang 14

1.2 Nguyên tắc chủ động tích cực

Cốt lõi của nguyên tắc này là khám bệnh sớm, chẩn đoán bệnh nhanh và chính xác, điều trị bệnh kịp thời, liên tục, đủ liệu trình Mặt khác, đòi hỏi người thầy thuốc phải tiên liệu để ngăn chặn những diễn tiến xấu tiếp theo do bệnh gây ra

Người cán bộ điều trị phải có kiến thức về chuyên môn để xử lý tốt mọi tình huống của bệnh Mặt khác cũng đòi hỏi tính nhiệt tình của cán bộ điều trị bởi vì việc điều trị sớm và tích cực con bệnh thường khỏi nhanh ít biến chứng và đở tốn kém hơn

1.3 Nguyên tắc tổng hợp

Muốn điều trị thu được kết quả cao chúng ta kết hợp nhiều biện pháp điều trị Do cơ thể gia súc là khối thống nhất liên quan chặt chẽ và mật thiết với nhau, mỗi hoạt động cơ quan bộ phận này đều có quan hệ đến cơ quan và bộ phận khác và thống nhất chịu sự chi phối của hệ thần kinh trung ương Cho nên khi điều trị bệnh phải kết hợp nhiều biện pháp với nhau mới nâng cao tối ưu hiệu hiệu quả điều trị, trọng tâm của nguyên tắc này là kết hợp nhiều loại thuốc, nhiều biện pháp Điều trị nguyên nhân + triệu chứng hay Điều trị cục bộ + điều trị toàn thân và điều trị theo cách sinh bệnh

1.4 Điều trị theo từng cá thể

Do mỗi cá thể gia súc là sản phẩm duy nhất và đặc thù của sự sống và tiến hoá, chúng ta sẽ không tìm đựơc hai hay nhiều cá thể hoàn toàn giống nhau Không có phác đồ điều trị nào đáp ứng tốt đối với tất cả các truờng hợp bệnh trên gia súc và cũng không bệnh nào tác động trên

cơ thể gia súc làm gia súc mắc bệnh giống hệt nhau Cùng một loại kích thích bệnh nguyên đối với từng cá thể thì biểu hiện bệnh lý sẽ khác nhau, sự khác nhau này là do cơ địa của con vật, do sự phản ứng cuả từng cơ thể và do cơ năng bảo vệ, loại hình thần kinh có khác nhau Mỗi khi tiến hành điều trị cần phải cân nhắc kỹ lưỡng điều này phải dựa trên cơ sở khoa học chẩn đoán bệnh toàn diện chính xác, phân biệt được nguyên nhân nguyên phát, nguyên nhân thứ phát, triệu chứng chính hay triệu chứng phụ, thể bệnh, biến chứng, cơ địa và hoàn cảnh của con bệnh

Tóm lại do những cơ thể khác nhau có sức đề kháng khác nhau nên phản ứng của cơ thể với các tác nhân gây bệnh cũng khác nhau, dẫn đến tính chất mức độ bệnh khác nhau và sự đáp ứng của cơ thể đối với các phương pháp điều trị khác nhau Chính vì thế mà tuỳ theo từng trường hợp cụ thể tuỳ từng loài, lứa tuổi, từng mục đích sản xuất chăn nuôi, từng giai đoạn nuôi, thể trạng, sức khoẻ mà ngừoi thầy thuốc đưa ra những loại thuốc, liệu trình, chỉ định

và chống chỉ định phù hợp nhằm mục đích tạo điều kiện cho con vật hồi phục sức khoẻ nhanh chóng

Trang 15

10

2 Các phương pháp điều trị

2.1 Tiết chế liệu pháp

- Điều tiết chế độ ăn uống cho phù hợp với quá trình bệnh là rất quan trọng và cần thiết

- Khi sử dụng tiết chế liệu pháp cần chú ý:

+ Cung cấp đầy đủ kịp thời nhu cầu dinh dưỡng và nước uống cho cơ thể

+ Tránh biến đồ ăn uống thành tác nhân có hại cho cơ thể

+ Tìm đồ ăn ngon dễ tiêu và dễ hấp thu

- Tiết chế liệu pháp trong trường hợp đặc biệt:

+ Gia súc bệnh gan: hạn chế thức ăn dầu mỡ

+ Gia súc bệnh thận: giảm muối

+ Gia súc viêm dạ dày ruột: không cho ăn đồ cứng, khó tiêu

2.2 Vật lý liệu pháp

2.2.1 Điều trị bằng ánh sáng

- Ánh sáng tự nhiên (mặt trời) có tia hồng ngoại có tác dụng sưởi ấm cơ thể, tăng quá trình trao đổi chất ở da, tăng chức năng bảo vệ da Mặt khác ánh sáng còn có tính sát khuẩn của tia

tử ngoại tiêu diệt mầm bệnh và xúc tác quá trình tổng hợp vitamin D chức năng chuyển hóa

Ca, P chống bệnh còi xương

- Ánh sáng nhân tạo: dùng đèn hồng ngoại hoặc tử ngoại

2.2.2 Điều trị bằng nhiệt độ

- Dùng nhiệt độ từ cám, cát hay muối rang cho nóng bọc lại bằng khăn sạch rồi đắp chườm

có tác dụng giảm đau, tiêu viêm

- Nhiệt độ ướt: nhiệt độ của các loại dầu nóng hoặc của nước

2.2.3 Điều trị bằng nước

- Điều trị toàn thân: tắm nhằm loại bỏ chất bẫn và sạch mầm bệnh trên da tăng cường trao đổi chất , tuần hoàn, hô hấp…

- Điều trị cục bộ: rửa họng, mũi, dạ dày, ruột, tử cung, âm đạo…

2.2.4 Điều trị bằng thuốc kháng sinh và sulfamid

Nhằm điều trị các ổ viêm nhiễm trùng Tuy nhiên khi sử dụng kháng sinh và sulfamid cần chú ý những nguyên tắc cơ bản sau:

- Phải dùng kháng sinh đúng chỉ định

- Dùng kháng sinh liều cao ngay từ đầu

- Dùng thuốc đúng liều cho hết liệu trình

- Phối hợp kháng sinh để tăng tính kháng khuẩn

- Chú ý những phản ứng phụ, những tai biến khi sử dụng kháng sinh như choáng, dị ứng và độc tính của kháng sinh đối với các cơ quan

3 Phân loại điều trị

Trang 16

11

Dựa trên triệu chứng, tác nhân gây bệnh, cơ chế sinh bệnh mà người ta chia ra làm 4 loại điều trị

3.1 Điều trị theo nguyên nhân bệnh

Loại điều trị này thu được hiệu quả điều trị và hiệu quả kinh tế cao nhất Bởi vì đã xác định chính xác nguyên nhân gây bệnh, từ đó dùng thuốc điều trị đặc hiệu đối với nguyên nhân bệnh đó

Ví dụ: Khi xác định gia súc bị trúng độc sắn (HCN), dùng xanh methylen 0,1% tiêm để giải độc

3.2 Điều trị theo cơ chế sinh bệnh

Đây là loại điều trị nhằm cắt đứt một hay nhiều giai đoạn gây bệnh của để đối phó với sự tiến triển của bệnh theo các hướng khác nhau

Ví dụ: Trong bệnh chướng hơi dạ cỏ: vi khuẩn làm thức ăn lên men - sinh hơi và hơi được thải ra ngoài theo ba con đường (thấm vào máu, ợ hơi, theo phân ra ngoài) Nếu một trong ba con đường thoát hơi bị cản trở, đồng thời vi khuẩn trong dạ cỏ hoạt động mạnh làm quá trình sinh hơi nhanh dẫn đến dạ cỏ chướng hơi → tăng áp lực xoang bụng, hậu quả làm cho con vật thở khó hoặc ngạt thở Do vậy, trong quá trình điều trị phải hạn chế sự hoạt động của vi khuẩn trong dạ cỏ, loại bỏ thức ăn đã lên men sinh hơi trong dạ cỏ, phục hồi lại con đường thoát hơi

3.3 Điều trị theo triệu chứng

Loại điều trị này hay được sử dụng, nhất là trong thú y Vì đối tượng bệnh là gia súc, hơn nữa chủ của bệnh súc không quan tâm và theo dõi sát gia súc nên việc chẩn đoán đúng bệnh ngay từ đầu là rất khó Do vậy, để hạn chế sự tiến triển của bệnh và nâng cao sức đề kháng của con vật trong thời gian tìm nguyên nhân gây bệnh, người ta phải điều trị theo triệu chứng lâm sàng thể hiện trên con vật

Ví dụ: khi gia súc có triệu chứng phù, triệu chứng này do rất nhiều nguyên nhân: do bệnh viêm thận, do bệnh tim, do bệnh ký sinh trùng đường máu, do bệnh sán lá gan, do suy dinh dưỡng Do vậy, trong thời gian xác định nguyên nhân chính, người ta dùng thuốc lợi tiểu, giảm phù và thuốc trợ lực, thuốc nâng cao sức đề kháng cho cơ thể Khi đã xác định được rõ nguyên nhân thì dùng thuốc điều trị đặc hiệu đối với nguyên nhân đó

3.4 Điều trị theo tính chất bổ sung

Loại điều trị này dùng để điều trị những bệnh mà nguyên nhân là do cơ thể thiếu hoặc mất một số chất gây nên

Ví dụ: bổ sung vitamin (trong các bệnh thiếu vitamin); bổ sung máu, chất sắt (trong bệnh thiếu máu và mất máu); bổ sung các nguyên tố vi lượng (trong các bệnh thiếu các nguyên tố

vi lượng); bổ sung canxi, phospho trong bệnh còi xương, mềm xương; bổ sung nước và chất điện giải trong bệnh viêm ruột ỉa chảy

4 Truyền dịch

Đây là một trong các phương pháp điều trị bổ sung, nhằm bổ sung nước và các chất điện giải

mà cơ thể đã bị mất trong các trường hợp bệnh lý

Trong điều trị bệnh cho gia súc ốm, việc truyền máu thường rất hiếm (chỉ sử dụng với các gia súc quý) Nhưng việc dùng các dung dịch để truyền cho con vật ốm là rất cần thiết và thường dùng, vì nó góp phần quan trọng để nâng cao hiệu quả điều trị

5 Truyền máu

Trang 17

ưng ở huyế máu A (β): T

máu B (α): T

ết tố α máu O (α, β

ng kết

0): Ở nhóm

ết thanh khô Trong hồng Trong hồng ): Trong hồ Như vậy ta c

ỵ của 2 nhó

thiết để hạn

n toàn hơn

ường người việc truyền

có sơ đồ truy

óm máu

n chế sự rủi Trong lĩnh

ta chỉ truyề máu sẽ ảnh

ng kỵ cơ bản

h: Lấy giọt

lam kính Q

hành từng đ ược cho độn

A

B

có những k chất của ng

m của bào t

là ngưng k dính (ngưng

Hai ngưng k (α, β)

ương kỵ khô

trong hồng c

ng kết tố (α, ưng kết sinh

có ngưng k ông có ngưn yền máu nh

đám là có s

ng vật nhận

A

kháng nguy gưng kết ng thai Ðồng t kết tố Có 2

g kết) hồng

kết sinh này

ông tồn tại

cầu có cả h β)

B và trong kết sinh B v

ng kết sinh

hư sau:

uá trình truy , việc truyề

n thú cưng h

n đến tính m yền máu gia ộng vật cho

au 5 phút sẽ

sự tương kỵ máu

AB 

yên gọi là guyên là pol thời trong h loại ngưng cầu khi A g

g kết tố là α gặp α, hoặc

g huyết cầu,

nếu chúng

ết sinh là A

nh có ngưng yết thanh có yết thanh có

úp cho việc phức tạp và

uý hiếm mà

c

i giọt huyết rong 3 hiện

Trang 18

5.3.2 Kiểm tra bằng phương pháp sinh vật học: Lấy máu của động vật cho tiêm trực tiếp vào

Trang 19

14

RỐI LOẠN CHUYỂN HOÁ NƯỚC, ĐIỆN GIẢI

1 Chuyển hoá nước và điện giải

Nước có vai trò rất quan trọng trong việc tham gia cấu tạo tế bào và tổ chức, kể cả việc duy trì hoạt động bình thường của cơ thể Trong thực nghiệm thấy chuột chết khát nhanh hơn chết đói: có thể nhịn đói hoàn toàn trên 30 ngày nhưng không có nước, cơ thể sẽ chết sau vài ngày

Cơ thể mất 10% nước đã lâm vào tình trạng bệnh lý, mát 20 – 25% nước đã có thể chết Trong cơ thể, các chất điện giải có một vai trò vô cùng quan trọng:

¾ Duy trì áp lực thẩm thấu

¾ Cân bằng axit-bazơ

¾ Chi phối tính chịu kích thích thần kinh – cơ

Rối loạn điện giải ảnh hưởng nghiêm trọng tới hoạt động của cơ thể, thậm chí có thể gây chết

1.1 Phân bố nước và các chất điện giải trong cơ thể

Nước chiếm 70% thể trọng và phân bố không đồng đều trong các cơ quan, tổ chức Nhìn toàn bộ cơ thể, người ta chia thành 2 khu vực chứa nước:

Khu vực trong tế bào chiếm 50% thể trọng

Khu vực ngoài tế bào chiếm 20% thể trọng Khu vực này lại chia thành 2 phần : huyết tương (chiếm 5% thể trọng) và dịch gian bào (15%)

Giữa 2 khu vực trong và ngoài tế bào có màng tế bào ngăn cách Màng tế bào có tính thấm lựa chọn: cho nước và các chất hữu cơ phân tử nhỏ (axit amin, glucoza,vv ) đi qua, và không cho các chất có phân tử lớn (protein, SO 42--, PO 43--, vv ) đi qua Do đặc điểm đó, sự phân bố các chất trong và ngoài màng tế bào rất khác nhau

Dịch gian bào và huyết tương bị ngăn cách với nhau bởi thành mao mạch Đặc tính của màng này là không cho qua protein nhưng cho tất cả các chất điện giải qua

Dịch gian bào và huyết tương không có những khác biệt quan trọng về thành phần điện giải,chúng chứa phần lớn NaCl Lượng Na+ ở dịch gian bào và huyết tương lớn hơn lượng

Na+ trong tế bào nhiều Trái lại chúng chứa ít K+ hơn tế bào nhiều Huyết tương chứa nhiều,

K+ hơn dịch gian bào, nhưng ít Cl- hơn, huyết tương chứa 70g protein/lít, trong khi đó dịch gian bào chỉ chứa rât ít

Dịch tế bào chứa rất ít Cl-, Na+, trái lại chứa nhiều ion K+, photphat và protein

1.2 Trao đổi nước và chất điện giải qua màng tế bào

Màng tế bào có vai trò vô cùng quan trọng trong hoạt động của tế bào, tham gia trực tiếp vào mọi quá trình chuyển hoá của tế bào

Màng tế bào được cấu tạo bởi lipoprotein, trên màng tế bào có lỗ nhỏ (đường kính 5,5 – 8,0

A0) để cho các chất có thể qua màng theo cách khuếch tán thông thường ở mặt trong của màng tế bào có hệ thống men và có thể có các chất vận chuyển trung gian (bản chất chưa rõ)

để vận chuyển tích cực các chất đi ngược bậc thang nồng độ (đó là hệ thống bao gồm ATPaza, ATP và chất chuyển trung gian )

Tóm lại, các ion qua màng tế bào tương đối khó khăn, phức tạp, chậm chạp và tiêu hao năng

lượng Còn nước thì qua lại rất dễ dàng, cho nên sự trao đổi nước và điện giải ở đây chủ yếu

và thực chất là quá trình di chuyển nước giữa trong và ngoài tế bào nước vạn chuyển qua

Trang 20

15

màng tế bào là do sự chênh lệch áp lực thẩm thấu giữa 2 khu vực: bên nào áp lực thẩm thấu cao (chủ yếu là do nồng độ Na+ quyết định) thì nước sẽ di chuyển về bên đó: ưu trương ngoại bào gây mất nước tế bào, trái lại nhược trương nhoại bào gây ngấm nước tế bào

1.3 Trao đổi nước và điện giải qua thành mao mạch

Cân băng huyết tương và dịch gian bào phụ thuộc vào những yếu tố sau :

1.3.1 Tính thấm thành mạch

Đó là màng ngăn cách cho phép mọi phân tử nhỏ qua, trừ những phân tử như protein (không tuyệt đối và tuỳ chỗ, do đó dịch gian bào vẫn có một ít protein ) Vì vậy mà các chất điện giải

ở hai bên thành mạch không chênh lệch nhau nhiều

Tính thấm thành mạch chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố: thần kinh vận mạch, trạng thái dinh dưỡng thành mao mạch, vv Trong bệnh lý thiếu oxy, thiếu vitamin, nhiễm toan ảnh hưởng tới nội tiết và các chất trung gian hoá học, vv có thể thay đổi tính thấm thành mạch

1.3.2 Áp lực thẩm thấu và áp lực keo trong máu và dịch gian bào

Sự vận chuyển nước trong và ngoài lòng mạch là do cân bằng giữa áp lực thẩm thấu có xu hướng đẩy nước ra ngoài và áp lực keo (chủ yếu do albumin chi phối) hút nước từ ngoài vào

có thể tóm tắt hoạt động của hai lực đó như sau: nước ra khỏi lòng mạch ở phần mao động mạch và vào ở phần mao tĩnh mạch

Ngoài ra có một số nước gian bào về theo đường bạch huyết vai trò của thành mạch được coi như màng bán thấm mà hoạt động có thể minh hoạ trong hình

1.3.3 yếu tố thần kinh – thể dịch

Chủ yếu do ADH và aldosterol

ADH do nhân trên thị và nhân gần não thất ở vùng dưới thị tiết ra và được dự trữ ở hậu yên

Sự tiết ADH chịu ảnh hưởng của áp lực thẩm thấu của máu : tăng áp lực thẩm thấu huyết tương , thông qua các thụ cảm thể vùng dưới thị (chỗ phân chia của động mạch cảnh trong) và một số cơ quan, tổ chức khác (gan, phổi, tụy, vv ) gây tăng tiết ADH, do đó tăng hấp thu nước có tác dụng phục hồi áp lực thẩm thấu huyết tương (như khi uống nhiều nước, truyền nhiều dịch, vv ) Cũng thông qua các thụ thể thẩm thấu, gây giảm tiết ADH do đó tái hấp thu nước giảm có tác dụng phục hồi áp lực thẩm thấu huyết tương Ngoài các thụ thể thẩm thấu còn có các thụ thể thể tích (ở nhĩ phải) có tác dụng chi phối sự tiết ADH: dãn nhĩ trái, thông qua dây X gây ức chế tiết ADH, trái lại máu tới nhĩ trái giảm sẽ gây tăng tiết ADH Ngoài ra tăng tiết ADH còn gặp trong một số trường hợp: đau, sợ, vận cơ, tiêm morphin, chảy máu, vv Sự tiết ADH còn thực hiện thông qua cơ chế phản xạ có điều kiện, nói lên vai trò của não bộ

Aldosterol là hormon chính của cân bằng nước, điện giải, có tác dụng tái hấp thu Na+ và thải K+ ở đoạn xa ống thận Khi Na+ máu tăng, aldosterol giảm tiết có tác dụng tăng đào tải

Na + trái lại khi Na + máu giảm, aldosterol sẽ tăng tiết, có tác dụng tăng tái hấp thu Na + Hiện

đã rõ là renin có tác dụng kích thích tiết aldosterol: khi huyết áp giảm, renin tăng tiết dẫn tới tăng angiotensin có tác dụng kích thích vỏ thượng thận tăng tiết aldosterol Trái lại khi huyết

áp tăng, renin giảm dẫn tới giảm tiết aldosterol Trong một số hội chứng lâm sàng thấy renint tiết, kết hợp với tăng tiết aldosterol (mất máu, suy tuần hoàn do ứ, xơ gan, vv ) Việc điều tiết aldosterol còn nhờ những thụ thể thể tích ở thành động mạch cảnh, động mạch lớn gần tim, tâm nhĩ, vv Trung tâm khát là nhân bụng giữa vùng dưới thị: trong thực nghiệm nếu phá huỷ nhân này thấy con vật không chịu uống nước và chịu chết khát

Trang 21

16

2 Rối loạn chuyển hoá nước, điện giải

Trong lâm sàng, hai loại rối loạn chuyển hoá nước và điện giải thường kết hợp với nhau, vì rối loạn chuyển hoá nước gây ra những thay đổi về nồng độ các chất điện giải trong các dịch của cơ thể, những rối loạn chuyển hoá điện giải gây ra sự phân phối lại nước trong cơ thể để phục hồi cân bằng thẩm thấu

2.1 Rối loạn chuyển hoá nước

Những thay đổi về nước trong cơ thể được chia làm 2 loại lớn :

a) Mất cân bằng nước đơn thuần: bao gồm 4 hội chứng

• Mất nước khu vực ngoại bào

• Tăng ngấm nước ngoại bào

• Mất nước khu vực tế bào

• Tăng ngấm nước tế bào

b) Mất cân bằng nước kết hợp (còn gọi là loạn ngấm nước) bao gồm 4 hội chứng:

• Mất nước toàn bộ

• Tăng ngấm nước toàn bộ

• Mất nước ngoại bào kết hợp tăng ngấm nước tế bào

• Mất nước tế bào kết hợp tăng ngấm nước ngoại bào

2.1.1 Mất nước ngoại bào : trong trường hợp này cơ thể mất điện giải và mất nước ngoại

bào , gây giảm thể tích nước ngoại bào

a) Nguyên nhân gây mất nước ngoại bào :

Mất nước ưu trương (mất nước nhiều hơn mất muối) gặp trong :

Ra mồ hôi nhiều (trời nóng, sốt cao, lao động nặng, vv )

Trong bệnh đái tháo nhạt, gia súc đào thải một lượng nước tiểu rất loãng

Khi tiếp tế nước không đủ trong khi cơ thể vẫn tiếp tục mất nước (qua da, phổi thận,vv )

đó là trường hợp gia súc bất tỉnh, suy mòn, không uống được nước hoặc không giữ được nước uống vào, vv

Trong các trường hợp kể trên, cơ thể mất nước nhiều hơn mất muối gây ra trạng thái ưu trương ngoại bào, gọi nước tế bào ra ngoại bào (gây mất nước tế bào) cho tới khi cân bằng thẩm thấu giữa 2 khu vực được tái lập

Mất nước đẳng trương (mất nước và mất muối tương xứng với nhau) gặp trong rối loạn tiêu hoá, nôn mửa (chủ yếu mất Cl-), đi lỏng (chủ yếu mất Na+), dò ống tiêu hoá,vv trong nôn mửa và đi lỏng nặng có thể mất đi 15% tổng lượng Na + , 28% tổng lượng Cl - , 22% tổng lượng dịch ngoại bào Trừ nước bọt và mồ hôi là những dung dịch nhược trương, còn các dịch tiêu hoá khác có tính chất đẳng trương, nên không có di chuyển nước giữa hai khu vực

Mất nước nhược trương khi mất muối nhiều hơn mất nước Đó là trường hợp suy thượng thận Trong loại mất nước này, do nhược trương ngoại bào, nước từ khu vực ngoại bào vào trong tế bào (gây tăng ngấm nước tế bào) nhằm lập lại cân bằng thẩm thấu

Dấu hiệu lâm sàng và cận lâm sàng: mất nước ngoại bào dẫn tới giảm khối lượng máu lưu thông, ảnh hưởng sâu sắc tới toàn bộ các chức năng của cơ thể

Trang 22

Rối loạn tiêu hoá: giảm tiết dịch, giảm co bóp, giảm hấp thu, vv

Tuỳ mức độ nặng nhẹ, mất nước ngoại bào có thể chia làm 3 độ :

Độ 1: Mệt mỏi, da khô, nhăn nheo, thiểu niệu , huyết áp giảm

Độ 2: Các triệu chứng kể trên nặng hơn, ngoài ra còn phát sinh rối loạn thần kinh (giảm vận động, chóng mặt, đi đứng không vững vv )

Độ 3: Mắt hõm lại, ở trong trạng thái vô định và sững sờ, thường có nôn làm cho trạng thái mất nước thêm nặng

Điều trị: Trong mất nước ngoại bào, cơ thể vừa mất điện giải vừa mất nước Do đó nguyên tắc điều trị là tiếp tế dung dịch NaCl (uống hoặc tiêm) đẳng trương hoặc ưu trương (khi mất muối nhiều) để phục hồi thể tích nước ngoại bào và áp lực thẩm thấu ngoại bào Thôi truyền dịch khi thấy hết các triệu chứng kể trên (da khô, huyết áp giảm, mạch nhanh, thiểu niệu, vv )

2.1.2 Mất nước tế bào :

Mất nước tế bào phát sinh do mất nước (khác với mất nước ngoại bào vừa mất nước, vừa mất điện giải) hoặc do tụ muối trong cơ thể Cả hai nguyên nhân này đều gây tăng áp lực thẩm thấu ngoại bào (ưu trương ngoại bào), làm cho nước di chuyển từ khu vực tế bào ra ngoại bào gây mất nước tế bào

Mất nước tế bào thường kết hợp với mất nước ngoại bào

a) Nguyên nhân gây mất nước tế bào :

Cung cấp nước thiếu (sốt cao, sau khi mổ ống tiêu hoá, vv )

Chức năng thận giảm, không đào thải đầy đủ các chất điện giải, đặc biệt là Na+ (viêm cầu thận, suy tim mất bù, vv )

Ưu năng thượng thận (tăng tiết aldosterol) có tác dụng giữ Na+ trong cơ thể, có thể gặp trong vài ngày đầu sau khi mổ lớn

Đái nhạt gây mất nước tế bào điển hình

Tất cả các nguyên nhân kể trên đều dẫn tới hậu quả là tăng Na+ ngoại bào (ưu trương ngoại bào) làm cho nước di chuyển ra ngoài gây mất nước tế bào

b) Dấu hiệu lâm sàng và cận lâm sàng :

Tuỳ mức độ nặng nhẹ, mất nước tế bào có thể chia làm 3 độ :

Độ 1 : Ngoài cảm giác khát – dấu hiệu sớm nhất và quan trọng nhất của mất nước tế bào – không có dấu hiệu nào khác

Độ 2 : Khát nhiều, suy nhược, miệng và lưỡi khô, khó nuốt do thiếu nước bọt, thiểu niệu, khả năng lao động vẫn còn Sốt là dấu hiệu toàn thân quan trọng nhất và đặc biệt là của mất nước tế bào, tiếp tế đầy đủ nước thấy sốt lui ngay

Độ 3 : Các triệu chứng kể trên nặng hơn, phát sinh nhiều rối loạn thần kinh và tâm thần (ngủ

gà, vật vã, vô cảm, chuột rút, ngủ lịm, ảo giác, hôn mê, vv ) Tất cả các triệu chứng này là do

Trang 23

2.1.3 Mất nước toàn bộ:

a) Nguyên nhân:

Ra mồ hôi nhiều: có thể mất tới 14 lít/24giờ khi trời rất nóng, lại lao động nặng (di chuyển quãng đường xa, lao động nặng nhọc dưới trời nắng như cày, kéo, đua )

Trong bệnh đái nhạt, gia súc đào thải một lượng lớn nước tiểu

Tiếp tế nước không đủ trong khi cơ thể vẫn mất nước qua da, phổi, thận (trường hợp gia súc bất tỉnh, suy mòn, không uống được nước ,vv )

Trong các trường hợp trên, cơ thể mất nước nhiều hơn mất muối, gây ra trạng thái ưu trương ngoại bào, gọi nước tế bào ra ngoại bào, gây mất nước tế bào và phát sinh mất nước toàn bộ

b) Dấu hiệu lâm sàng và cận lâm sàng: Trong mất nước toàn bộ, các triệu chứng của mất

nước ngoại bào (huyết áp giảm, mạch nhanh, yếu, thiểu niệu, da khô, vv ) kết hợp với những triệu chứng của mất nước tế bào (khát, sốt, rối loạn tâm thần, thần kinh, vv )

c) Điều trị : Trước tiên phải giải quyết mất nước tế bào, tốt nhất là dùng dung dịch glucoza

đẳng trương (uống hoặc tiêm) nhằm cung cấp nước, phục hồi áp lực thẩm thấu ngoại bào để nước trở lại tế bào, đảm bảo hoạt động bình thường của tế bào Khi hết khát và hết các triệu chứng khác, sẽ dần dần bổ xung dung dịch NaCl đẳng trương nhằm giải quyết mất nước ngoại bào

2.1.4 Tăng ngấm nước tế bào :

Hội chứng này nói lên trạng thái “nhiễm độc nước” của cơ thể Tăng ngấm nước tế bào đơn thuần rất ít gặp trong thực tế lâm sàng, thường kết hợp với tăng ngấm nước ngoại bào, gây tăng ngấm nước toàn bộ

a) Nguyên nhân :

Suy thượng thận gây mất Na+, do đó phát sinh nhược trương ngoại bào gây ngấm nước tế bào chính trạng thái này đã gây ra những rối loạn tiêu hoá và thần kinh Tất cả các trường hợp mất nước và mất muối nếu chỉ tiếp tế nước mà không đồng thời bổ sung muối đều gây ra nhược trương ngoại bào mà hậu quả là tăng ngấm nước tế bào

Nước nội sinh tăng: trong một số bệnh cấp tính nặng, nhất là khi có sốt, thoái biến ở tế bào tăng mạnh, do đó nước nội sinh tăng, làm cho tế bào tràn ngập nước

b) Dấu hiệu lâm sàng và cận lâm sàng :

Rối loạn tiêu hoá thường nổi bật lên hàng đầu Lúc đầu gia súc chỉ bỏ ăn và buồn nôn, bỏ ăn hoàn toàn, có thể chán uống Nếu tăng ngấm nước tế bào nặng, có thể sẽ nôn mửa (dấu hiệu

có giá trị)

Trang 24

Nếu do mất muối nhiều, tiếp tế NaCl ưu trương để phục hồi áp lực thẩm thấu

Nếu do nước nội sinh tăng, dùng hormon sinh dục nam để hạn chế thoái biến protein, đồng thời tăng tổng hợp protein

2.1.5 Tăng ngấm nước ngoại bào: ứ nước ở khoảng gian bào gây phù và tràn dịch (ứ nước ở

các hố thanh mạc)

a) Nguyên nhân gây phù : cơ chế gây phù khá nhiều, có thể xếp vào 2 loại lớn: Cơ chế thận

và cơ chế mao quản

¾ Cơ chế thận :

Chức năng lọc của cầu thận giảm song tái hấp thu của ống thận vẫn bình thường, thí dụ trong viêm cầu thận, rối loạn tuần hoàn (suy tim mất bù) hoặc tăng tái hấp thu do tăng tiết aldosterol sau mổ, điều trị dùng nhiều hormon hậu yên, hormon vỏ thượng thận

¾ Cơ chế mao quản:

Tăng áp lực thẩm thấu: huyết áp mao mạch tăng và tốc độ máu chảy giảm làm cho nước dễ thấm qua thành mao mạch vào khoảng gian bào thường gặp trong sung huyết tĩnh mạch (suy tim mất bù, xơ gan tăng huyết áp vv )

Giảm áp lực keo huyết tương: khi protein huyết tương giảm nhiều (chủ yếu là giảm albumin) thấy phù xuất hiện , thường gặp trong thận hư nhiễm mỡ (protein niệu nghiêm trọng), đói ăn, các bệnh tiêu hao, xơ gan, vv

Tăng tính thấm thành mao mạch: gặp trong viêm, thiếu oxy, nhiễm toan, nhiễm độc, tăng histamin máu ,vv Đặc điểm của loại phù này là dịch phù chứa nhiều protein, ngoài ra còn phải kể tới:

Giảm sức kháng tổ chức: trong một cơ thể bình thường, mỗi tổ chức có một sức kháng (đối áp) nhất định, trong những điều kiện giống nhau, dịch thấm vào tổ chức lỏng lẻo dễ dàng hơn

là thấm vào tổ chức đặc Khi sức kháng của tổ chức giảm (trường hợp teo tổ chức, giảm chất tạo keo của tổ chức khi đói ăn, vv ) thấy phát sinh phù

Rối loạn tuần hoàn bạch huyết: một phần dịch gian bào trỏ về máu qua đường bạch huyết, nên khi tắc mạch bạch huyết sẽ phát sinh phù (phù chân voi)

Trong thực tế lâm sàng phù thường do nhiều yếu tố kết hợp gây ra, trong đó có một yếu tố là chủ yếu thí dụ trong phù tim, yếu tố bệnh sinh chủ yếu là tăng áp lực thuỷ tĩnh (do giảm sức

co bóp cơ tim), phục hồi được sức co bóp của tim, thấy phù giảm hoặc mất Phân loại phù thường dựa vào nguyên nhân: phù tim, phù gan, phù thận, phù do viêm, phù do đói, phù dị ứng, vv

Hiện nay, vai trò của aldosterol trong phù đã được khẳng định: Trong tất cả các loại phù, khi phù tăng thì nồng độ aldosterol máu và nước tiểu tăng.khi phù giảm, nồng độ aldosterol giảm

Do đó trong điều trị, cần hạn chế muối nghiêm ngặt hơn hạn chế nước

b) Dấu hiệu lâm sàng và cận lâm sàng: khi lượng nước ứ ở khoảng gian bào không quá 1-2

lít, biểu hiện lâm sàng của phù không rõ, đó là trạng thái trước phù, với những dấu hiệu như

Trang 25

20

tăng cân nặng, khuynh hướng máu loãng, giảm nồng độ protein huyết tương,vv Khi ứ nước nhiều, phù thể hiện rõ Đáng chú ý là khi phù toàn thân, theo dõi cân nặng cho ta biết mức độ của phù một cách chính xác

Phù và tràn dịch ảnh hưởng không tốt tới hoạt động của tổ chức: dịch phù chèn ép tổ chức, gây rối loạn tuần hoàn tại chỗ, do đó ảnh hưởng không tốt tới chuyển hoá của tế bào, tổ chức phù kém dinh dưỡng nên dễ bị nhiễm trùng Phù kéo dài gây tăng sinh tổ chức liên kết Nếu dịch phù ưu trương sẽ phát sinh mất nước tế bào (khát, sốt) Nếu dịch phù nhược trương sẽ phát sinh nhiễm độc nước, rối loạn cân bằng điện giải trong phù có thể gây ra rối loạn cân bằng axit-bazơ Tuỳ theo vị trí, phù có thể gây nguy hiểm (phù phổi cấp, phù thanh quản, vv )

c) Điều trị phù: Chủ yếu là phải điều trị nguyên nhân gây phù Ngoài ra có thể kết hợp một

số biện pháp nhằm giải quyết trạng thái ứ nước, kiêng muối, rút dịch phù, lợi tiểu, vv

2.1.6 Tăng ngấm nước toàn bộ

Cả hai khu vực tế bào và ngoại bào đều ứ nước, chủ yếu do tiếp tế nước quá nhiều đồng thời thải trừ nước bị hạn chế gây ra nhược trương ngoại bào và tăng ngấm nước toàn bộ

a) Nguyên nhân :

Trong vô niệu, bệnh súc cố uống thật nhiều nước, kết quả là nhược trương ngoại bào Trong một số bệnh, bệnh súc uống nhiều nước song đi giải ít, hoặc ăn ít khoáng (viêm thận, suy tim mất bù) hoặc mất muối nhiều, hoặc trong nôn mửa và đi lỏng ở gây mất muối (và mất nước) nghiêm trọng, song bệnh súc chỉ uống nước nhiều Kết quả là phát sinh nhược trương ngoại bào, gây tăng ngấm nước toàn bộ

Truyền dịch quá nhiều sau khi mổ để gây lợi tiểu cũng dẫn tới ngấm nước toàn bộ

b) Dấu hiệu lâm sàng và cận lâm sàng : những dấu hiệu tăng ngấm nước tế bào (rối loạn

tiêu hoá, thần kinh, vv ) kết hợp những dấu hiệu tăng ngấm nước ngoại bào (phù, tràn dịch, tăng khối lượng máu lưu thông, phù phổi, vv )

c) Điều trị: chủ yếu là thôi uống nước hoặc uống rất ít trong vài ngày, tiên lượng tốt nếu các

triệu chứng kể trên giảm, đặc biệt nếu xuất hiện cảm giác khát

2.1.7 Mất cân bằng nước kết hợp :

Thông thường, rối loạn cân bằng nước xảy ra ở cả hai khu vực: tế bào và ngoại bào Bốn trường hợp có thể xảy ra :

Mất nước toàn bộ

Tăng nhấm nước toàn bộ

Tăng ngấm nước ngoại bào kết hợp với mất nước tế bào: trường hợp này có thể gặp ở bệnh nhân suy tim không kiêng muối; ứ muối đã gây ưu trương ngoại bào làm cho tế bào mất nước Trong điều trị, cần hạn chế muối

Mất nước ngoại bào kết hợp tăng ngấm nước tế bào Trong trường hợp này, cơ thể mất muối nhiều hơn mất nước, do đó phát sinh nhược trương ngoại bào, gây tăng ngấm nước tế bào Gặp trong suy thượng thận (cơn cấp tính), nôn mửa, đi lỏng, vv chỉ uống nước không tiếp tế muối kèm theo Điều trị bằng NaCl thường đem lại kết quả tốt

3 Rối loạn chuyển hoá điện giải

Trang 26

21

Như đã nêu trên, rối loạn chuyển hoá nước và điện giải liên quan chắt chẽ với nhau Cân bằng điện giải là do các ion Na+, K+, Cl- và HCO3- đảm nhiệm chính Ở đây chỉ đề cập đến 2 ion Natri và Kali

3.1 Rối loạn chuyển hoá Na :

Na+ là ion chủ yếu của dịch ngoại bào Na+ có một vai trò vô cùng quan trọng đối với hoạt động bình thường của cơ thể, quyết định áp lực thẩm thấu, chi phối cân bằng axit-bazơ, vv , chuyển hoá Na chịu sự điều hoà của hormon vỏ thượng thận

Đáng chú ý là khi Na+ máu giảm, tổng lượng Na+ của cơ thể có thể giảm, không đổi hoặc tăng

3.1.1 Na máu giảm:

Nguyên nhân gây giảm Na + máu có thể xếp thành 3 loại :

Na+ máu giảm do cơ thể mất Na+: trường hợp này, tổng lượng Na+ trong cơ thể giảm thực

sự, gặp trong:

- Mất nước ngoại bào: ra mồ hôi nhiều, nôn mửa, đi lỏng nặng, vv Trong tất cả các trường hợp này, cơ thể mất nước đồng thời mất muối, song do uống nhiều nước nên

Na+ máu giảm

- Chế độ kiêng muối kéo dài

- Suy thượng thận gây giảm tiết aldosterol, mà hậu quả là Na+ ra theo nước tiểu

Na+ máu giảm do máu loãng: trong trường hợp này tổng lượng Na+ của cơ thể về cơ bản không thay đổi, gặp trong

- Vô niệu hoặc thiểu niệu lại uống nước nhiều nên Na+ máu giảm

- Suy tim mất bù Chức năng lọc của cầu thận giảm đồng thời chế độ kiêng muối cũng làm cho Na+ máu giảm

- Na vào trong tế bào do nhược trương nội bào Gặp trong trường hợp tế bào mất K +

Dấu hiệu lâm sàng và cận lâm sàng :

Nhiều Na+ máu giảm do máu loãng : ngoài hội chứng tăng ngấm nước tế bào còn ghép thêm hội chứng tăng ngấm nước ngoại bào, gây tăng ngấm nước toàn bộ

Nếu Na+ máu giảm do mất muối, ngoài hội chứng tăng ngấm nước tế bào còn ghép thêm hội chứng mất nước ngoại bào

3.1.2 Na máu tăng gây mất nước tế bào: Trong trường hợp này, cũng như giảm Na+ máu, tổng lượng Na+ của cơ thể có thể giảm, không đổi hoặc tăng

a) Nguyên nhân gây tăng Na+ máu có thể thể xếp thành 4 loại :

- Cơ thể mất nước nhiều hơn mất muối

- Gặp trong mất nước ưu trương (ra mồ hôi nhiều, đái nhạt, đái tháo đường , vv )

- Tiếp tế nhiều muối

- Giảm đào thải muối qua thận do giảm lọc hoặc tăng hấp thu Na+ Một trong những nguyên nhân phổ biến nhất và quan trọng nhất gây tăng Na + máu là tăng tái hấp thu do tăng tiết aldosterol tiên phát hoặc thứ phát (do suy tim, suy gan )

Nước ngoại bào vào trong tế bào do rối loạn chuyển hoá trong tế bào đã gây ra trạng thái ưu trương nội bào, kết quả là gọi nước ngoại bào vào trong tế bào, gây tăng Na+ máu

b) Dấu hiệu lâm sàng và cận lâm sàng :

Trang 27

3.2 Rối loạn chuyển hoá Kali :

K+ là chất điện giải chủ yếu của tế bào, 98% tổng lượng K+ của cơ thể ở trong tế bào, dịch ngoại bào chỉ chứa 2% Mỗi ngày khoảng 4g K + vào trong cơ thể và được đào thải chủ yếu qua thận (sự đào thải phụ thuộc vào quá trình tái hấp thu Na+ và hoạt động tạo H+ của ống thận)

K + có một vai trò quan trọng trong việc duy trì áp lực thẩm thấu , trong các loại chuyển hoá, duy trì tính chịu kích thích của sợi cơ, nhất là cơ tim, vv Do đó thiếu K+ sẽ ảnh hưởng sâu sắc tới cấu tạo và chức năng của tế bào

Muốn cho cơ thể hoạt động bình thường cần các điều kiện sau:

- Nồng độ tế bào bình thường, nói lên tổng lượng K+ của cơ thể đầy đủ

- Lượng K+ máu nói lên lượng K+ trong khu vực ngoại bào, nghĩa là một phần rất nhỏ (2%) của tổng lượng K+ trong cơ thể Tuy nhiên, giá trị triệu chứng học của nó lại rất lớn Ytực tte là mọi thay đổi (tăng và giảm) K+ máu đều đều ảnh hưởng sâu sắc tới dẫn truyền xung động thần kinh và co cơ

- Đáng chú ý là nồng độ K+ máu không cho ta biết một cách chính xác tình hình chuyển hoá K+ trong cơ thể

- Nồng độ K + máu phụ thuộc và thể tích nước ngoại bào (máu cô, máu loãng) Thông thường người ta cho rằng nồng độ K+ máu giảm giảm 1 mEq/l tương ứng với mất 100 –

400 mEq lượng K + toàn phần Trái lại, nồng độ K + máu tăng 1 mEq/l tương ứng với mất

100 – 200 mEq lượng K+ toàn phần

3.2.1 K + máu giảm:

a) Nguyên nhân gây giảm K+ máu chủ yếu là do cơ thể mất K+, ngoài ra còn do tiếp tế thiếu

K +

Mất theo đường tiêu hoá : nôn mửa, đi lỏng, hút dạ dày, rửa dạ dày liên tiếp, vv

Mất K+ theo đường thận: tất cả các trường hợp đa niệu đều có thể gây mất K+ (truyền quá nhiều dung dịch mặn, ngọt, dung dịch lợi tiểu, vv )

Tăng tiết aldosterol tiên phát hoặc thứ phát đều gây giảm K+ máu

Đáng chú ý cơ thể thiếu K+ có thể không gây giảm K+ máu, có khi K+ máu bình thường, thậm chí còn tăng, còn K+ máu giảm bao giờ cũng do thiếu K+

b) Dấu hiệu lâm sàng và cận lâm sàng:

Chủ yếu là rối loạn thần kinh cơ: K+ chi phối khả năng hưng phấn thần kinh cơ, tác động trên dẫn truyền xung động thần kinh (tham gia tổng hợp axetylcholin và huỷ cholinesteraza)

và tham gia tổng hợp ATP

Cơ vân : dấu hiệu đầu tiên là cảm giác mệt mỏi và giảm trương lựu cơ Nếu thiếu K+ nghiêm trọng có thể phát sinh liệt toàn bộ cơ vân : cơ tứ chi và cơ thân bị liệt đầu tiên, có thể liệt hô hấp, liệt kèm theo giảm hoặc mất phản xạ gân

Cơ tiêu hoá : thiếu K+ nghiêm trọng có thể gây tắc ruột do liệt, căng dạ dày, ảnh hưởng sâu sắc tới vận chuyển thức ăn

Trang 28

23

Định lượng K+ máu giúp ích nhiều cho chẩn đoán và tiên lượng

3.2.2 K+ máu tăng :

Trong lâm sàng, K+ máu tăng ít gặp hơn K+ máu giảm Nếu K máu giảm thường không phải

là trường hợp cấp cứu thì K+ máu tăng có tính chất cấp cứu vì có nguy cơ ngừng tim

a) Nguyên nhân gây tăng K+ máu

Tiếp tế nhiều K + : ở bệnh súc suy thận, tiếp tế thức ăn có nhiều K thường gây tăng K máu, truyền máu dự trữ nhiều, đặc biệt máu để lâu trên 10 ngày, cũng dẫn tới tăng K máu do trong huyết tương của máu dự trữ có nhiều K + từ hồng cầu thoát ra

Giảm đào thải K + : suy thận (vô niệu hoặc thiểu niệu rõ rệt) và suy tim gây ứ K + trong máu

Do đó dùng muối K+ cho những gia súc có thể gây nguy hiểm ngay cả với liều vừa phải Suy thượng thận mỗi khi phát sinh một đợt cấp tính lại thấy K + máu tăng

K+ từ tế bào thoát ra : gặp trong nhiều trường hợp như nhiễm toan, bỏng rộng, vết thương có huỷ hoại cơ nghiêm trọng, tan máu ồ ạt, nhiễm độc cấp nặng,vv Đáng chú ý là K+ máu tăng thể hiện rõ nếu đồng thời phát sinh thiểu niệu hoặc vô niệu, thí dụ trong sốc (chấn thương, bỏng) K+ máu tăng rõ rệt do K+ từ tế bào thoát ra kết hợp với thiểu niệu do giảm khối lượng máu lưu thông

b) Dấu hiệu lâm sàng và cận lâm sàng :

Nổi bật lên hàng đầu là rối loạn hoạt động tim, rối loạn vận động và co giật cơ

MỘT SỐ LOẠI DUNG DỊCH VÀ CHỈ ĐỊNH ĐIỀU TRỊ

Nước muối đẳng trương (0,9%) NaCl - Mất nước đẳng trương

- Mất máu

Dung dịch Bicarbonat đẳng trương

(1,3% NaHCO 3 )

- Acidosis

1,3% NaHCO 3 ) trong dung dịch Dextrose - Acidosis

Dung dịch Bicarbonat ưu trương

Trang 29

24

MỨC ĐỘ MẤT NƯỚC ĐÁNH GIÁ QUA BIỂU HIỆN LÂM SÀNG

GIẢM THỂ TRỌNG % BIỂU HIỆN LÂM SÀNG

0% - 5% 1 Uể oải, suy nhược (mức độ trung bình)

2 Giảm lượng nước tiểu

2 Chết

Dựa vào bảng trên ta có thể đánh giá được mức độ mất nước của gia súc và sau đó xác định được lượng nước cần truyền bù cho gia súc

Trang 30

25

PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN VÀ CỐ ĐỊNH GIA SÚC

1 Phương pháp tiếp cận gia súc

Để đảm bảo an toàn cho người và gia súc, khi khám bệnh và trị bệnh cho gia súc phải biết cách gần gia súc

Trước khi tiếp xúc với gia súc cần phải hỏi kĩ chủ gia súc để biết được tính tình của con vật như con vật có hay cắn, hay đá không?, Người khám khi gần gia súc phải có thái đội ôn hòa, bình tĩnh, động tác nhẹ nhàng, dứt khoát, không nên có những động tác thô bạo làm cho gia súc sợ sệt, phản ứng mạnh

Đối với trâu bò và ngựa: Để tiếp cận, người khám nên đứng trước gia súc, cách khoảng 1m,

rồi từ từ tiến lại gần, một tay cầm dây cương (ngựa) hoặc dây mũi (trâu bò), tay kia xoa hoặc

vỗ nhẹ nhàng vào con vật để làm quen

Đối với chó: Để tiếp cận, người khám nên biết tên con vật và dùng thức ăn

Đối với heo: nên dùng thức ăn để tiếp cận

2 Phương pháp cố định gia súc

2.1 Ý nghĩa của việc cố định gia súc

Để tiến hành tốt các thao tác: tiêm, lấy máu, băng bó vết thương, làm các phẫu thuật ngoại khoa như mổ dạ cỏ, thiến trâu bò đực, hoặc cho chúng uống thuốc, người cán bộ thú y thường phải bắt giữ và cố định chúng (trâu, bò, lợn,…) Hiệu quả của các công việc trên phụ thuộc rất lớn vào khâu cố định gia súc

2.2 Các khâu chuẩn bị để cố định gia súc

Kiểm tra kỹ các dụng cụ dùng để cố định như dây thừng, gióng gia súc, xem có đủ và chắc chắn không?

Phải biết sơ qua về tính tình con vật trước khi tiếp xúc

Phải làm quen gia súc, thao tác nhanh nhẹn, dứt khoát, tránh những động tác quá thô bạo làm cho gia súc sợ hãi hoặc phản ứng mạnh dẫn đến khó khăn cho việc cố định chúng

2.3 Một số phương pháp cố định gia súc

2.3.1 Đối với trâu bò

- Phương pháp kẹp cổ: Chọn 2 đoạn tre hoặc 2 đoạn cây chắc chắn, chôn xuống đất chéo

nhau Phía trên buộc lại tạo ra một khe vừa đủ cho trâu, bò chui qua (cũng có thể lợi dụng những cây có 2 chẽ phù hợp để cố định) Khi cố định trâu, bò thít chặt 2 dây ở 2 nút A, B Có một người giữ thừng mũi

- Phương pháp cột cố định và buộc sừng hình số 8: Chọn một gốc cây tự nhiên hoặc chôn

một cột gỗ chắc chắn Ghì trán trâu, bò vào sát cột và buộc sừng vào cột theo hình số 8, thít chặt sừng vào cột Cần có một người giữ mũi trâu và đầu dây thừng số 8 để trâu đứng yên khi tiêm hoặc thực hiện các thủ thuật khác

- Phương pháp cố định đứng (Cố định trâu bò trong giá 4 trụ): Phần đầu và phần cổ được

kẹp và buộc chặt để gia súc chỉ đứng tại chỗ, không tiến lên, cũng không lùi lại được Hai chân sau dùng thừng buộc theo hình số 8 Phần ngực và bụng dùng dây thừng chắc buộc đỡ vào gióng Không cho gia súc nằm xuống để dễ dàng thực hiện phẫu thuật hoặc khám bệnh

Trang 31

26

- Phương pháp vật trâu bò: Trong một số phẫu thuật ngoại khoa bắt buộc phải vật ngã

trâu, bò để cố định chúng Có nhiều phương pháp vật trâu bò nhưng thường dùng phương pháp sau:

Chuẩn bị buộc: Lấy một dây thừng thật chắc chắn dài 5-6m Một đầu thừng buộc cố định vào hai sừng gia súc, phần còn lại cuốn lần lượt làm 2 vòng Một vòng sau nách và một vòng trước đùi gia súc Đoạn còn lại kéo thẳng dọc theo thân gia súc

Vật gia súc: Tiến hành theo trình tự sau: Một người khoẻ mạnh giữ 2 sừng để bẻ đầu con vật ngược theo chiều định cho con vật ngã Hai hoặc ba người kéo đoạn dây thừng còn lại theo chiều dọc thân gia súc

Chú ý:

- Phải có sự thống nhất giữa người bẻ đầu gia súc và những người kéo thừng ở phía sau Trước khi vật phải kiểm tra mặt đất không gồ ghề, không có gạch đá và không nên cho gia súc này ăn quá no

- Khi con vật nằm xuống phải có người đè chặt đầu và ghìm sừng con vật xuống sát đất Lấy dây thừng khác buộc hai chân sau và hai chân trước của trâu bò chụm lại với nhau Dây thừng phải buộc sao cho khi không cần dùng nữa, cởi ra một cách dễ dàng nhanh chóng

2.3.2 Đối với bê nghé: Người ta thường túm chân vật nằm, đè cố để cố định chúng

* Đối với dê cừu: Để cố định, người ta thường đứng dọc theo chiều con vật, hai chân kẹp vào hai thành bụng, hai tay nắm chặt sừng con vật

Người ta thường dùng phương pháp đeo rọ mõm hoặc buộc mõm chó

- Phương pháp buộc mõm chó: Đầu tiên phải đeo rọ mõm hoặc bộc mồm chó, sau đó dùng dây vải cho vào mồm, phía trong răng nanh, rồi buộc hàm dưới lại, vòng dây buộc lên hàm trên, cuối cùng thắt nút lại ở phía sau cổ

2.3.5 Cố định gà

- Đối với gà lớn: Dùng bàn tay trái luồn xuống dưới lườn rồi nhấc gà ra khỏi chuồng Hoặc dùng tay phải túm lấy 2 chân gà nhấc ra khỏi lồng Sau đó đặt gà xuống, tay phải cố định 2 chân gà Tay trái nhẹ nhàng mở cánh gà ra để người thứ 2 làm các thao tác (tiêm, chủng vacxin)

- Đối với gà con: Đặt gà con trong lòng bàn tay trái, dùng ngón trỏ và ngón cái cố định cổ gà

để đầu gà hướng lên trên cho tiện việc nhỏ thuốc vào mắt, mũi gà hoặc cho gà uống thuốc

Trang 32

27

Phần lớn triệu chứng được phát hiện nhờ các phương pháp khám cơ bản Tuy nhiên khi mắc bệnh con vật còn có những biểu hiện phi lâm sàng, những biểu hiện này chỉ có thể phát được nhờ các phương pháp khám đặc biệt như đã nêu trên

2.1 Các phương pháp khám cơ bản

2.1.1 Phương pháp quan sát (nhìn)

Đây là phương pháp khám bệnh đơn giản nhưng chính xác, được sử dụng rộng rãi trong lâm sàng thú y, là phương pháp được sử dụng trước tiên trong chẩn đoán bệnh gia súc Qua phương pháp này ta có thể biết được trạng thái gia súc, cách đi đứng, màu sắc và tình trạng lông, da, niêm mạc và các triệu chứng khác của con vật Đồng thời quan sát giúp ta đánh giá được chất lượng đàn gia súc, sàng lọc được những con có nghi vấn mắc bệnh

Khi quan sát tùy theo mục đích

- Nhìn toàn thân: là quan sát trạng thái, thái độ, cử động, tình hình dinh dưỡng, dáng điệu, của gia súc

- Nhìn cục bộ: nhìn lần lượt từ trước ra sau, từ trái qua phải, lần lượt các cơ quan bộ phận như đầu, cổ, lồng ngực, vùng bụng, bốn chân, để phát hiện những biến đổi bất thường nếu

có như vết thương, vết loét, mụn, nốt, nước mắt, nước mũi, dử, lông rụng,…

Nên quan sát nhờ ánh sáng ban ngày, nếu buổi tối hoặc thiếu ánh sáng có thể sử dụng ánh sáng điện hoặc đèn chiếu Cần quan sát đối chiếu, so sánh giữa hai bộ phận tương ứng của con vật: hai bên mông, hai bên thành bụng, hai bên ngực, hai bên chân, và có sự so sánh giữa cơ quan tổ chức đau với cơ quan tổ chức lành để thấy được những biến đổi bất thường

2.1.2 Phương pháp sờ nắn

Sờ nắn là phương pháp dùng cảm giác của ngón tay, bàn tay để kiểm tra chỗ khám, xác định nhiệt độ, độ ẩm, trạng thái, và sự mẫn cảm của tổ chức cơ thể gia súc Sờ nắn cũng biết được cảm giác của con vật khi đau Qua sờ nắn người khám còn xác định được tình trạng mạch của gia súc, sờ nắn để đo huyết áp, để khám trực tràng Do vậy, sờ nắn là phương pháp thường dùng trong thú y

Sờ nắn có hai cách sau:

- Sờ nắn nông: là việc sờ nắn những cơ quan bộ phận nông để biết được ôn độ, độ ẩm của

da, lực căng của cơ, tần số hô hấp, nhịp tim,…

- Sờ nắn sâu: dùng để khám các khí quan, tổ chức sâu trong cơ thể gia súc (ví dụ: Sờ nắn dạ

cỏ trâu bò)

Khi sờ nắn kiểm tra các khí quan, tổ chức của cơ thể gia súc, nhờ cảm giác tay ta có thể nhận biết các trạng thái sau:

- Dạng rất cứng: Như sờ vào xương

- Dạng cứng: Như sờ vào gan, thận

- Dạng bột nhão: Cảm giác mềm như bột, ấn tay rồi bỏ ra để lại vết Dạng này thường do tổ chức bị thấm ướt (ví dụ: bị thủy thũng)

- Dạng ba động: Khi sờ thấy cảm giác lùng nhùng, di động, ấn vào giữa thì lõm xuống Dạng này là do tổ chức mất đàn tính vì thấm đầy nước (Ví dụ: Các tổ chức bị mưng mủ)

Trang 33

28

- Dạng khí thũng: Sờ vào thấy cảm giác mềm, chứa đầy khí Ấn mạnh vào tổ chức nghe thấy tiếng kêu lép bép do khí lấn sang phần tổ chức bên cạnh Dạng này có thể do tổ chức tích khí hoặc có túi không khí

Sờ nắn là phương pháp khám bệnh đơn giản, tuy nhiên để sờ nắn mang lại hiệu quả cao đòi hỏi người khám phải nắm vững về vị trí giải phẫu và có kinh nghiệm trong chẩn đoán bệnh

2.1.3 Phương pháp gõ

Gõ là phương pháp khám bệnh cơ bản, mà cơ sở của nó là âm hưởng, âm thanh do các vật thể chấn động tạo ra Các vật thể khác nhau, ở trong các trạng thái khác nhau khi gõ sẽ cho các âm thanh khác nhau Do vậy, các khí quan tổ chức khác nhau trong cơ thể gia súc có cấu tạo và tính chất khác nhau nên khi gõ sẽ phát ra các âm thanh khác nhau Trong trạng thái bệnh lí, các cơ quan tổ chức cũng thay đổi về tính chất, khi đó âm phát ra khi gõ sẽ thay đổi

Kỹ thuật gõ: Tùy theo gia súc cần khám bệnh lớn hay nhỏ mà ta có thể áp dụng các phương

pháp gõ sau:

Gõ trực tiếp: dùng ngón trỏ và ngón giữa của tay thuận gõ theo chiều thẳng đứng (vuông góc) vời bề mặt của tổ chức khí quan cần khám Với cách gõ này, lực gõ không lớn, âm phát

ra nhỏ, thường áp dụng với gia súc nhỏ

Gõ gián tiếp: là các phương pháp gõ qua một vật trung gian

2.1.4 Phương pháp nghe

Nghe là phương pháp dùng trực tiếp tai hoặc qua dụng cụ chuyên dụng để nghe những âm phát ra từ các khí quan bộ phận của của cơ thể gia súc như tim, phổi, dạ dày, ruột,…để biết được trạng thái và sự hoạt động của các cơ quan, bộ phận đó

Các phương pháp nghe: có hai phương pháp nghe

Nghe trực tiếp: là cách dùng trực tiếp tai, áp sát vào cơ thể gia súc để nghe, người nghe

có thể dùng một miếng vải hoặc miếng khăn sạch phủ lên vùng cần nghe trên cơ thể gia súc

để giữ vệ sinh Khi nghe phần ngực của gia súc thì người nghe quay mặt về phía đầu gia súc, còn khi nghe phần bụng của gia súc thì người nghe quay mặt về phía sau của con vật Khi nghe tay bên trong của người nghe đặt lên sống lưng của con vật

Nghe gián tiếp: Đây là phương pháp nghe qua ống nghe Hiện nay người ta thường dùng

ống nghe hai loa có độ phóng đại âm thanh lớn, sử dụng thuận lợi và âm nghe được rõ, không lẫn tạp âm

Điều kiện nghe

- Để gia súc ở nơi yên tĩnh, tránh gió to, không làm gia súc rung da, gia súc phải đứng ở tư thế thoải mái

- Nghe lần lượt từ trên xuống dưới, từ trái qua phải, ở mỗi vị trí phải nghe lâu để xác định rõ

âm thanh nghe được

- Khi nghe phải có sự so sánh đối chiếu giữa hai bên ngực, nếu muốn nghe rõ thì cho gia súc vận động trong vài phút

 

 

 

 

Trang 34

29

CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG 1

Nêu các khái niệm về bệnh, thế nào là một bệnh, bệnh Nội khoa, nguyên nhân gây nên bệnh Nội khoa?

Nêu các nguyên tắc cơ bản trong điều trị bệnh Nội khoa gia súc? Cho biết ý nghĩa của từng nguyên tắc trên?

Cho biết nội dung các phương pháp điều trị bệnh?

Có mấy loại rối loạn chuyển hóa nước, điện giải? Kể tên, nêu phương pháp nhận biết và xử lý các loại rối loạn chuyển hóa này?

Ý nghĩa của việc cố định và cầm cột gia súc? Nêu nội dung của các phương pháp cố định và cầm cột đối với trâu bò?

Trang 35

30

Chương 2 BỆNH Ở HỆ TIÊU HÓA

Hệ thống tiêu hóa do phải tiếp xúc với thức ăn, nước uống có nhiều thay đổi nên rất dễ

bị bệnh, nó chiếm tới 33-55% trong tổng số các bệnh nội khoa mà các loài gia súc mắc phải

Nước ta thuộc vùng nhiệt đới, khí hậu thay đổi bất thường, trình độ kỹ thuật chăn nuôi còn thấp kém nên số gia súc hằng năm bị bệnh và chết do các bệnh ở hệ tiêu hóa rất nhiều, đặc biệt là hội chứng tiêu chảy ở gia súc và bệnh rối loạn tiêu hóa ở gia súc non

Do đó bệnh ở hệ tiêu hóa là loại bệnh mà những người làm công tác thú y phải đặc biệt lưu ý

Bệnh ở hệ tiêu hóa bao gồm bệnh xảy ra ở miệng (viêm mạc miệng), ở thực quản (viêm, liệt, tắt và giãn thực quản), các bệnh ở dạ dày, ruột và các bệnh xảy ra ở các cơ quan lien quan trực tiếp đến hoạt động của hệ tiêu hóa như tuyến nước bọt, gan và tụy Nguyên nhân gây ra bệnh ở hệ tiêu hóa rất đa dạng song có thể tóm tắt do những nguyên nhân chính sau đây:

+ Nguyên nhân nguyên phát: chủ yếu do chế độ chăm sóc nuôi dưỡng gia súc kém, cho gia súc ăn thức ăn kém phẩm chất: mốc, thối, ít dinh dưỡng, lẫn tạp chất hoặc chất độc hoặc do thay đổi thức ăn đột ngột, nước uống dơ bẩn hoặc do chuồng trại thiếu vệ sinh…

+ Nguyên nhân kế phát: Thường kế phát do một số bệnh truyền nhiễm (lỡ mồm long móng, dịch tả, thương hàn, ) hoặc do trúng độc hóa chất, chất độc,…

Trong hàng loạt các bệnh ở hệ tiêu hóa thì bệnh xảy ra ở dạ dày và ruột là phổ biến và nghiêm trọng hơn cả

XUẤT HUYẾT TIÊU HÓA

(Hemorrhage in digestive tract)

1 Triệu chứng:

1.1 Nôn ra máu

Máu cùng với chất chứa ở đường tiêu hóa được tống ra ngoài qua đường miệng

1.2 Triệu chứng chức năng: Trước khi nôn ra máu con bệnh thường ở trong trạng thái

bồn chồn, khó chịu, buồn nôn và nôn Nếu nôn máu do vỡ tĩnh mạch thực quản thì thường không có dấu hiệu báo trước, nôn ra rất nhiều và nhanh

1.3 Tính chất của máu nôn ra

- Máu đỏ tươi thường do vỡ tĩnh mạch thực quản vì máu chảy ra được nôn ran gay

- Máu đen lẫn máu cục lẫn thức ăn vì máu chảy ra còn đọng lại ở dạ dày một thời gian rồi mới nôn ra ngoài

- Nôn ra nước màu nâu hồng khi số lượng máu không nhiều, bị hòa loãng bởi dịch dạ dày , thức ăn và chưa đọng lại lâu

* Cần phân biệt nôn ra máu với:

Trang 36

31

+ Ho ra máu: Máu ran gay sau khi ho, máu đỏ tươi có lẫn bọt

+ Sau khi cho con bệnh uống thuốc có màu đen (than hoạt), ăn thức ăn có máu (huyết, phổi, gan, hoặc bột máu)

- Máu đen: do xuất huyết phần trước của ống tiêu hóa (thực quản, dạ dày, tá tràng) có thời gian lưu lại trong ống tiêu hóa bị dịch tiêu hóa và vi khuẩn phân hủy trở nên đen Phân đen có thể khô, sệt hoặc lỏng có màu cà phê hoặc màu đen như nhựa đường

* Cần phân biệt với:

- Ăn nhiều bột máu, huyết, phổi, gan hoặc uống bismuth chất sắt hay than thảo mộc phân có màu đen Khi ngừng uống hoặc ăn các loại trên thì phân hết đen

-Phân đen do tiêu ra nhiều mật: Lúc đầu màu đen sau đó màu xanh đen

- Viêm dạ dày, suy tủy, xuất huyết do giảm tiểu cầu

- Suy gan do xuất huyết niêm mạc dạ dày do thiếu prothrombin

- Do dùng thuốc: Aspirin, salysylic, Chloral hydrat, corticoid, thuốc chống đông máu

- Ngộ độc nội sinh (Ure huyết cao) hoặc ngoại sinh (ngộ độc chì, thủy ngân, )

- Những bệnh nhiễm trùng và dị ứng: dịch tả, distemper, parvo,…

3.3 Nguyên nhân khác:

- các bệnh truyền nhiễm: dịch tả, phó thương hàn heo, distemper, parvo chó mèo

- Kiết lị do Clostridium perfrigen, shigella, amip,

Trang 37

32

- các bệnh ký sinhh trùng do giun móc, sán dây, cầu trùng

- Tắc, xoắn hay long ruột,

- Ngộ độc nội hoặc ngoại sinh

+ Truyền nhỏ giọt dung dịch glucose 5% (10-20 giọt/phút)

+ Tiêm dưới da Atropin sulphat 1-2mg

+ Vitamin C 500-1000mg tiêm dưới da hoặc tĩnh mạch

4.2 Xuất huyết trung bình : mạch nhanh hồng cầu Hb giảm trên 50%, tiểu ít

- Hộ lý : Không cho vận động, ngưng cho ăn uống hoàn toàn, chườm đá vào vùng bụng

Trang 38

33

CHƯỚNG HƠI DẠ CỎ CẤP TÍNH

(Tympania ruminis acuta)

1 Nguyên nhân

Bệnh do rất nhiều nguyên nhân gây ra

1.1 Do thức ăn nước uống

Cho ăn nhiều thức ăn dễ lên men sinh hơi: thức ăn bột đường, ngọn mía… hoặc gia súc ăn phải những thức ăn đang lên men dở (cây, cỏ, rơm mục)

Thức ăn nhiều nước hoặc thức ăn mốc, thối, lẫn chất độc, nước uống dơ bẩn

Thức ăn có chứa nhiều chất Saponin gây tạo bọt khí trong dạ cỏ ngăn gia súc không ợ hơi được

1.2 Các nguyên nhân làm giảm thoát hơi khỏi dạ cỏ

Hẹp tắc lổ thượng vị hay thực quản

1.3 Các nguyên nhân làm giảm nhu động dạ cỏ

Do gia súc làm việc quá sức hoặc do thời tiết thay đổi quá đột ngột làm ảnh hưởng tới bộ máy tiêu hoá

Bê, nghé mắc bệnh thường do bú sữa không tiêu

Nguyên nhân gây ức chế hoặc rối loạn của hệ thần kinh trung uơng hoặc thần kinh thực vật

2 Triệu Chứng

Bệnh xuất hiện rất nhanh (thường xuất hiện sau khi ăn 30 phút đến 1 giờ)

Bệnh xuất hiện nhanh gia súc khó chịu, không yên, dùng mõm hoặc chân sau thúc vào vùng bụng trái

Bụng trái phình to, lõm hông trái nhô cao

Dạ cỏ căng và đàn hồi như trái banh chứa đầy khí

Gõ bụng trái âm trống chiếm hầu hết vùng lõm hông trái Nếu khí tích lại nhiều trong

dạ cỏ, khi gõ còn nghe thấy âm kim thuộc

Nghe vùng dạ cỏ thấy nhu động dạ cỏ lúc đầu tăng sau đó giảm dần rồi mất hẳn, chỉ nghe thấy tiếng nổ lép bép do thức ăn lên men

Bệnh càng nặng, gia súc đau bụng càng rõ rệt, vã mồ hôi, uể oải, hay sợ hãi, con vật ngừng ăn, ngừng nhai lại Nhịp tim và tần số hô hấp tăng, bệnh nặng thở khó và ngạt

Trang 39

Gia súc đi vòng tròn hoặc mất phương hướng

Gia súc có hiện tượng chảy máu ở mũi và hậu môn, có hiện tượng lòi dom, mồm đầy bọt, thực quản vít chặt, thức ăn lên tới tận miệng, phổi sung huyết, máu tím bầm

3 Cơ chế sinh bệnh

Thức ăn trong dạ cỏ do tác động của các vi sinh vật trong dạ cỏ, sinh sản ra khí: metan (26%), carbonic (6,2%), sulfua hydro, hydrogen và nitơ (7%) Một phần hơi tích lại trên bề mặt thức ăn ở túi trên, khí còn thừa được gia súc ợ ra ngoài, một phần nhỏ thấm vào máu, phần còn lại theo đường ruột thải ra ngoài

Khi thức ăn dễ lên men, phản xạ ợ hơi bị ngưng trệ, gây nên chướng hơi dạ cỏ

Ngoài ra, Để có hơi tích lại trong dạ cỏ không chỉ do thức ăn và điều kiện khí hậu

mà còn do bọt hơi hình thành trong dạ cỏ và các chất nhầy carbonat của nước bọt Những bọt hơi này có sức căng bề mặt lớn lên tích lại ở túi trên và trộn với thức ăn Do sự tích lại những bọt hơi lớn lên những bọt hơi nhỏ không có lối thoát

ra vì những bọt hơi lớn có sức căng bề mặt lớn hơn, nó tích lại ở phần trên, ngoài

ra protein thực vật cũng giúp cho sức căng bề mặt của những bọt hơi lớn lên

Hơi tích trong dạ cỏ là glycosid, axit cyanhydric, chất giống vitamin PP ở thực vật gây ức chế cơ trơn dạ cỏ, dạ cỏ nhu động kém làm hơi tích lại hoặc những chất sản sinh trong cơ thể như histamin cũng có tác dụng làm ức chế hoạt động của cơ trơn, làm cho bệnh dễ phát ra Bệnh gây ra chủ yếu vẫn do thức ăn lên men chứa nhiều nước làm hơi sản sinh nhiều, làm rối loạn tuần hoàn ở vách dạ cỏ và

ức chế thần kinh ảnh hưởng đến sự nhai lại và ợ hơi, vách dạ cỏ bị thiếu máu, nhu động dạ cỏ giảm

Thức ăn lên men và chứa nhiều hơi nước, hơi được sản sinh nhiều tích tụ trong dạ

cỏ, thể tích dạ cỏ tăng lên đột ngột, ép cơ hoành đẩy cơ hoành về phía trước chèn ép phổi làm giảm thể tích phổi gây khó thở (tăng nhịp hô hấp)

Chèn ép tĩnh mạch làm phù mạch, trở ngại máu tuần hoàn về tim làm ứ huyết ở não, các cơ quan và mạch máu phía trước

Giảm lượng máu đế các cơ quan, nội tạng phía sau gây thiếu, giảm chức năng giải độc gan chất độc tích tụ trong máu dẫn đến trúng độc Chức năng siêu lọc của thận

bị giảm gây thiểu niệu hay vô niệu làm tăng urê huyết

Cuối cùng con vật sẽ chết rất nhanh chóng nếu không can thiệp đúng cách

4 Chẩn đoán

4.1 Đặc điểm chính của bệnh

Cần nắm được đặc điểm chính của bệnh: bệnh tiến triển nhanh (thường sau khi ăn 1 - 2

Trang 40

35

giờ), đầu mùa mưa bệnh thường xảy ra, bệnh tiến triển nhanh, bụng trái phình to, căng như trái banh, gia súc khó thở

4.2 Chẩn đoán phân biệt

Chẩn đoán phân biệt với bệnh bội thực dạ cỏ

Xảy ra vào mùa khô

Tiến triển chậm

Con vật có biểu hiện chủ yếu là khó thở, đau dạ cỏ

Gõ thấy âm đục tuyệt đối

Cho gia súc nghỉ làm việc nhưng vận động nhẹ

Ngưng cho ăn những thức ăn dễ lên men sinh hơi, thức ăn nhiều nước

Để vật ở tư thế đầu cao hơn chân sau

6.2 Hạn chế quá trình lên men sinh hơi

Thay đổi môi trường pH dạ cỏ dùng acid acetic, acid lactic 1-3% 300-500ml/ con, 2-3 lần/ ngày

NH 4 OH 15ml + 1 lít nước cho uống

Cồn (rượu) + tỏi giả nhuyễn + 0,5 lít nước cho uống

Cho uống nước dưa cải

6.3 Kích thích ợ hơi

Kéo lưỡi theo nhịp thở

Kích thích gốc lưỡi: chà sát vào gốc lưỡi bằng muối bọt

6.4 Tăng nhu động dạ cỏ

Xoa bóp dạ cỏ 2-3 lần/ngày

Dùng pilocarpin 0,1g/con

6.5 Thoát hơi dạ cỏ

Dùng ống thông đưa vào miệng đến thực quản rồi đến dạ cỏ

Chọc dò dạ cỏ (trocar) Chú ý cho hơi thoát ra từ từ

Dùng thuốc thải trừ chất chứa ở dạ cỏ:

Ngày đăng: 15/04/2021, 19:29

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w