Nội dung và phương pháp giáo dục BVMT phải chú trọng thực hành, hình thành các kĩ năng, phương pháp hành động cụ thể để học sinh có thể tham gia có hiệu quả và các hoạt động [r]
Trang 1TRƯỜNG THCS NGÔ THỜI NHIỆM
TỒ HOÁ - SINH
LỒNG GHÉP GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG VÀO
BỘ MÔN SINH HỌC Ở TRƯỜNG THCS
QUÝ THẦY CÔ VÀ CÁC EM HỌC SINH
ĐẾN THAM DỰ
Chuyên đề
Chào mừng
Trang 2I lý do chọn đề tài
IV Kết QỦA
V BÀI HỌC KINH NGHIỆM
VI MỘT SỐ kiến nghị
VII Kết LUẬN
Trang 3Thiên nhiên có thể phát triển
không cần sự có mặt của
chúng ta…
… nhưng chúng ta không thể tồn tại bên ngoài
thiên nhiên.
Trang 4I LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Thiên nhiên có thể phát triển không cần
sự có mặt của chúng ta, nhưng chúng ta không thể tồn tại bên ngoài thiên nhiên Con người chỉ là một trong những quần thể trong
tự nhiên, cũng tuân theo quy luật tất yếu đó
là sinh ra, lớn lên và chết đi.
Trang 5I LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Tuy nhiên, bằng khả năng tư duy sáng tạo con người
đã tận dụng mọi tiềm năng của tài nguyên thiên nhiên
và những tiến bộ của khoa học kỹ thuật để ngày càng nâng cao chất lượng cuộc sống và song song đó con người đã và đang không ngừng thải ra môi trường đủ mọi loại chất thải làm cho môi trường ngày càng bị ô nhiễm nghiêm trọng Và bây giờ tự nhiên đã trả lại cho con người những hậu quả do chính mình gây ra, đó là
sự biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường, hiệu ứng nhà kính, thiên tai bão lụt trầm trọng,…
Trang 6I LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Ý thức được những vấn đề này mỗi người chúng ta phải chung tay cứu lấy môi trường cũng là cứu lấy chính sự sống trên trái đất Bằng những quyết định và hành động
cụ thể, mọi người đều có thể tham gia cải thiện môi trường sống, khắc phục những hậu quả của ô nhiễm môi trường Để thực hiện được điều đó, ý thức của mỗi người đóng vai trò then chốt Vì lẽ đó việc tích hợp lồng ghép giáo dục môi trường vào các môn học có ý nghĩa to lớn, đặc biệt là ở bộ môn sinh học
Trang 7I LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Để việc tích hợp lồng ghép mang lại hiệu quả tốt thì đòi hỏi mỗi giáo viên không chỉ được trang bị các hiểu biết về môi trường một cách sâu rộng mà cần phải có phương pháp khoa học phù hợp trong từng tiết dạy
Đó cũng chính là lí do tổ chúng tôi xây dựng chuyên đề này
Trang 8II THỰC TRẠNG TRƯỚC KHI THỰC HIỆN CÁC
GIẢI PHÁP CỦA ĐỀ TÀI:
- Bảo vệ môi trường là mối quan tâm mang tính toàn cầu Ở nước ta, bảo vệ môi trường là một trong nhiều mối quan tâm sâu sắc Nghị quyết số 41/NQ-TƯ ngày 15 tháng 11 năm 2004 của bộ chính trị về tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kì đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước: Quyết định số 1363/QĐ-TTg ngày
17 tháng 10 năm 2001 của thủ tướng chính phủ về việc phê duyệt đề án: “Đưa các nội dung bảo vệ môi trường vào hệ thống giáo dục quốc dân” và quyết định số 256/2003/QĐ-TTg ngày 02 tháng 12 năm 2003 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược bảo về môi trường quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 đã tạo cơ
sở pháp lí vững chắc cho những nỗ lực và quyết tâm bảo vệ môi trường theo định hướng phát triển một tương lai bền vững của đất nước.
1 Thuận lợi:
Trang 9II THỰC TRẠNG TRƯỚC KHI THỰC HIỆN CÁC
GIẢI PHÁP CỦA ĐỀ TÀI:
- Cụ thể hoá và triển khai thực hiện các chủ trương của Đảng
và Nhà nước ngày 31 tháng 01 năm 2005, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ra chỉ thị về việc tăng cường công tác giáo dục bảo vệ môi trường, xác định nhiệm vụ trọng tâm từ nay đến
2010 cho giáo dục phổ thông là trang bị cho học sinh kiến thức,
kĩ năng về môi trường và bảo vệ môi trường bằng hình thức phù hợp trong các môn học và thông qua các hoạt động ngoại khoá, xây dựng mô hình nhà trường xanh - sạch - đẹp phù hợp với các vùng, miền.
- Sở giáo dục, phòng giáo dục đã tổ chức tập huấn cho giáo viên về việc tích hợp lồng ghép giáo dục môi trường vào dạy học.
1 Thuận lợi:
Trang 10II THỰC TRẠNG TRƯỚC KHI THỰC HIỆN CÁC
GIẢI PHÁP CỦA ĐỀ TÀI:
- Trường có cơ sở vật chất hiện đại phục vụ cho
việc lồng ghép giáo dục môi trường
- Đội ngũ giáo viên nhiệt tình và có những am
hiểu nhất định về các vấn đề môi trường
- Các phương tiện thông tin đại chúng thường
xuyên cung cấp nhiều thông tin, sự kiện về biến đổi
khí hậu, ô nhiễm môi trường
1 Thuận lợi:
Trang 11II THỰC TRẠNG TRƯỚC KHI THỰC HIỆN CÁC
GIẢI PHÁP CỦA ĐỀ TÀI:
- Phương tiện trực quan về môi trường ở các trường học: Băng đĩa, kinh phí tham quan thực tế,…còn hạn chế.
- Đa số học sinh chưa có ý thức cao trong việc giữ gìn vệ sinh chung, bảo vệ môi trường.
- Việc xử lý các trường hợp vi phạm phá hoại môi trường còn chưa triệt để, nghiêm khắc.
- Các hoạt động ngoại khoá giáo dục môi trường trong nhà trường và ở địa phương còn gặp nhiều khó khăn về thời gian, phương tiện và kinh phí.
- Một số giáo viên còn lung túng, chưa linh hoạt trong việc lồng ghép GDMT vào mỗi bài học nên chưa mang lại hiệu quả cao.
2 Khó khăn:
Trang 12III NỘI DUNG CỦA ĐỀ TÀI:
- Môi trường: Bao gồm tất cả những gì bao
quanh sinh vật, tất cả các yếu tố vô sinh và hữu sinh có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp lên sự sống, sự phát triển và sinh sản của động vật.
- Môi trường có vai trò cực kì quan trọng đối với đời sống con người Đó không chỉ là nơi tồn tại, sinh trưởng và phát triển mà còn là nơi lao động và nghỉ ngơi, hưởng thụ và trao dồi những nét đẹp văn hoá, thẩm mĩ….
1 Cơ sở lý luận:
Trang 13III NỘI DUNG CỦA ĐỀ TÀI:
- Ô nhiễm môi trường: Ô nhiễm môi
trường là sự biến đổi không mong muốn tính chất vật lí, hóa học, sinh học của không khí, đất, nước trong môi trường sống, gây tác hại tức thời hoặc trong tương lai đến sức khỏe, đời sống con người và sinh vật, làm ảnh hưởng đến quá trình sản xuất, đến các tài sản văn hóa và làm tổn thất nguồn tài nguyên dự trữ của con người
1 Cơ sở lý luận:
Trang 14III NỘI DUNG CỦA ĐỀ TÀI:
- Phát triển môi trường bền vững: Là phát triển đáp ứng được nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu đó của các thế hệ tương lai trên
cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hoà giữa tăng trưởng kinh tế, bảo đảm tiến bộ xã hội và bảo
vệ môi trường.
1 Cơ sở lý luận:
Trang 15III NỘI DUNG CỦA ĐỀ TÀI:
Môi trường trên thế giới đang bị hủy hoại nghiêm trọng Sự bùng nổ dân số kéo theo nhu cầu về việc làm, nơi ở của con người ngày càng cao cùng với những tiến bộ của khoa học và công nghệ đã gây sức ép mạnh
mẽ và trực tiếp đến tài nguyên thiên nhiên, khí hậu và môi trường
2 Cơ sở thực tiễn:
2.1/ Tình hình môi trường thế giới:
Trang 16III NỘI DUNG CỦA ĐỀ TÀI:
Trong khoảng 100 năm trái đất đã mất đi 6 triệu km2 rừng Đất bị hoang mạc hóa 680 triệu ha/ năm Các rừng mưa nhiệt đới bị phá hủy nghiêm trọng Ngay cả rừng Amazôn đã 60 triệu năm qua giữ nhiệm vụ quan trọng trong việc điều hòa khí hậu của trái đất, nay đã bị phá vỡ thế cân bằng và đang bị đe dọa phá hủy nhanh chóng làm nhiệt độ trái đất tăng thêm từ 0,3 đến 0,8 oC trong vòng 10 năm trở lại đây 25.000 triệu tấn đất màu mỡ bị mất đi trong một năm Diện tích Rừng bị thu hẹp nhanh chóng, 300 năm trở lại đây, rừng từ chỗ 72 triệu km2 giảm xuống còn 41 triệu km2 tức là độ che phủ từ 47% diện tích mặt đất xuống 27% Ngày nay, mỗi năm thế giới mất hơn 15 triệu ha rừng, Đông Nam Á có mức phá rừng cao nhất
2 Cơ sở thực tiễn:
2.1/ Tình hình môi trường thế giới:
Trang 17III NỘI DUNG CỦA ĐỀ TÀI:
Lượng khí CO2 và các khí nhà kính khác ngày càng nhiều làm cho tầng ôzôn bị phá hủy( mỏng và thủng ) làm ảnh hưởng đến khí hậu toàn cầu gây nên hiệu ứng nhà kính Nguy cơ khí hậu nóng lên thêm
từ 1-3 oC làm cho lũ lụt và hạn hán ngày càng khắc nghiệt hơn.
Trang 18III NỘI DUNG CỦA ĐỀ TÀI:
Lượng chất thải công nghiệp ngày càng nhiều, làm ô nhiễm môi trường và đe dọa các loài thú biển trong vòng 40 năm qua Trong vòng 100 năm trở lại đây tỉ lệ CO2 tăng thêm khoảng 12% Mưa axít ( có nguyên nhân từ các nhà máy công nghiệp) đang phá hủy rừng nhiệt đới, ao hồ, đồng ruộng và các di tích lịch sử
Sự phát triển kinh tế không thích hợp ở một số nước đã gây nên một sức ép mạnh
mẽ lên hệ thống sinh thái tự nhiên Các tài nguyên đất rừng khai thác quá mạnh làm giảm đa dạng sinh học.
MƯA AXIT TƯỢNG ĐÁ, RỪNG CÂY BỊ MƯA AXIT PHÁ HỦY
2 Cơ sở thực tiễn:
2.1/ Tình hình môi trường thế giới:
Trang 19III NỘI DUNG CỦA ĐỀ TÀI:
Dân số Việt Nam tăng nhanh: Năm 1945: có 25 triệu dân, đến tháng 6/1999 dân số Việt Nam là 77.263.000 người Cuối năm 2004 dân số Việt Nam khoảng 82 triệu người Cùng với sức ép gia tăng dân số, sự nghèo nàn, quá trình đô thị hóa, sự di dân
và quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa chưa quán triệt quan điểm “ Phát triển Môi trường Bền vững” ở một số cơ sở sản xuất đã tác động mạnh mẽ tới môi trường:
2 Cơ sở thực tiễn:
2.2/ Tình hình môi trường Việt Nam:
Trang 20III NỘI DUNG CỦA ĐỀ TÀI:
- Rừng Việt Nam tăng trưởng chậm ( khoảng 10 triệu m3 / năm ) Hiện khai thác 35 triệu - 45 triệum3/ năm Trung bình rừng bị phá hàng năm từ 150.000 – 200.000 ha/năm Mất rừng, đồi núi trọc, đất bị xói mòn rửa trôi, chế độ thủy văn và khí hậu thay đổi theo chiều hướng xấu, mất đa dạng sinh học, nhất là những động vật quý hiếm Nguy cơ mất rừng và tài nguyên rừng đang đe dọa trong
cả nước, tai họa mất rừng và cạn kiệt tài nguyên rừng đã từng xảy ra nhiều nơi Độ che phủ của rừng từ 74,3% ( năm 1943) chỉ còn 27,7% (năm1992), hiện nay độ che phủ còn 28% nhờ chương trình trồng rừng
2 Cơ sở thực tiễn:
2.2/ Tình hình môi trường Việt Nam:
Trang 21III NỘI DUNG CỦA ĐỀ TÀI:
- Sự suy giảm nhanh chất lượng đất và diện tích canh tác, tài nguyên đất tiếp tục bị lãng phí do canh tác không hợp lí, thiếu phân bón hữu cơ, thiếu phương tiện tưới tiêu, lạm dụng phân bón hóa học, thuốc trừ sâu, phương thức canh tác lạc hậu của các dân tộc ít người làm cho đất thoái hóa nhanh, nhiều chỗ bỏ hoang, đất xấu chưa có điều kiện cải tạo Đặc biệt, sự lạm dụng phân bón, thuốc trừ sâu đã làm cho môi trường đất, nước và không khí bị ô nhiễm nặng nề, nhiều bệnh tật ngày càng phát sinh
2 Cơ sở thực tiễn:
2.2/ Tình hình môi trường Việt Nam:
Trang 22III NỘI DUNG CỦA ĐỀ TÀI:
- Tài nguyên biển, đặc biệt là tài nguyên sinh vật vùng ven biển đang bị suy giảm nhanh, môi trường bị
ô nhiễm: khai thác hải sản quá mức, đánh bắt sinh vật còn non, công cụ khai thác còn lạc hậu, đánh bắt chủ yếu ven bờ Nạn xói lở bờ biển có nguy cơ đe dọa vùng dân cư Mặt khác vùng cửa sông ven biển tập trung nhiều chất thải sinh hoạt công nông nghiệp từ thành phố, nhà máy, hầm mỏ,đồng ruộng, dân cư tập trung ở đây cao, sinh đẻ không có kế hoạch góp phần làm ô nhiễm môi trường ven biển
2 Cơ sở thực tiễn:
2.2/ Tình hình môi trường Việt Nam:
Trang 23III NỘI DUNG CỦA ĐỀ TÀI:
- Ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí đã xuất hiện nhiều nơi, nhất là các khu công nghiệp Rác thải ngày càng nhiều và là một vấn đề nan giải, xử lí chưa triệt để, các dòng sông ở các thành phố bị ô nhiễm ở mức độ khác nhau, bụi gia tăng, các loại khí độc trong không khí ngày càng nhiều có nơi khí SO2 vượt 14 lần cho phép, CO2 vượt 2,7 lần cho phép…
2 Cơ sở thực tiễn:
2.2/ Tình hình môi trường Việt Nam:
Trang 24III NỘI DUNG CỦA ĐỀ TÀI:
- Môi trường của toàn cầu nói chung và của Việt Nam nói riêng đã và đang xuống cấp rất nặng nề Nguyên nhân cơ bản gây ra suy thoái môi trường là do sự thiếu hiểu biết, thiếu ý thức của con người Một số trường hợp cố tình gây nguy hại đối với môi trường được phát hiện trong thời gian gần đây như: Công ty mì chính VeDan xả nước thải chưa qua xử lí vào sông, hồ; một số bệnh viện chôn rác thải chưa qua xử lí xuống đất gây ô nhiễm nguồn nước ngầm Việc người dân vứt xác lợn, gà bị dịch xuống sông, hồ Hay sự việc công ty Men Mauri trên địa bàn huyện Định Quán xả nước thải xuống sông
La Ngà….Tất cả những việc làm đó đang là vấn đề nhức nhối của toàn xã hội
2 Cơ sở thực tiễn:
2.2/ Tình hình môi trường Việt Nam:
Trang 25III NỘI DUNG CỦA ĐỀ TÀI:
Theo thông báo của các tổ chức trên thế giới và của Bộ Tài nguyên và Môi trường, Việt Nam là một trong năm quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của biến đổi khí hậu vì có một đường bờ biển dài và các vùng châu thổ thấp Đến cuối thế kỷ này nhiệt độ trung bình của nước ta tăng gần 2 o C, hàng ngàn km 2 đồng bằng sông Cửu Long chìm dưới mực nước biển Qua đó chúng ta thấy vấn đề môi trường và ô nhiễm môi trường là vấn đề cấp bách của toàn xã hội, mọi người đều phải
có trách nhiệm tham gia bảo vệ và cải tạo môi trường Vì vậy việc tăng cường lồng ghép các nội dung giáo dục môi trường vào trong dạy học sinh học là rất cần thiết và cấp bách trong giai đoạn hiện nay để góp phần nâng cao nhận thức và hành động của các em cũng như toàn xã hội.
3 Nội dung và biện pháp thực hiện các
giải pháp của đề tài:
Trang 26III NỘI DUNG CỦA ĐỀ TÀI:
- Lồng ghép giáo dục BVMT vào môn học là sự kết
hợp một cách có hệ thống các kiến thức GDMT và kiến thức môn học thành một nội dung thống nhất, gắn
bó chặt chẽ với nhau dựa trên những mối liên hệ về lí luận và thực tiễn được đề cập trong bài học, chú ý không phải là ghép thêm vào chương trình giáo dục như là một bộ môn riêng biệt hay một chủ đề nghiên cứu
3 Nội dung và biện pháp thực hiện các
giải pháp của đề tài:
3.1/ Nguyên tắc lồng ghép:
Trang 27III NỘI DUNG CỦA ĐỀ TÀI:
- Giáo dục BVMT phải trang bị cho học sinh một hệ thống kiến thức về môi trường và kĩ năng BVMT, phù hợp với tâm lí, lứa tuổi Hệ thống kiến thức và kĩ năng được
triển khai qua các môn học và các hoạt động theo hướng
lồng ghép nội dung qua các môn học, thông qua chương trình dạy học chính khoá và các hoạt động ngoại khoá, đặc biệt coi trọng việc đưa vào chương trình Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
3 Nội dung và biện pháp thực hiện các
giải pháp của đề tài:
3.1/ Nguyên tắc lồng ghép:
Trang 28III NỘI DUNG CỦA ĐỀ TÀI:
- Giáo dục môi trường trong nhà trường phổ thông nhằm đạt đến mục đích cuối cùng là: mỗi học sinh được trang bị một ý thức trách nhiệm đối với sự phát triển bền vững của trái đất, một khả năng biết đánh giá vẻ đẹp của thiên nhiên
và một giá trị nhân cách khắc sâu bởi một nền tảng đạo lí
về môi trường
- Mục tiêu, nội dung và phương pháp giáo dục BVMT
phải phù hợp với mục tiêu đào tạo của cấp học, góp phần thực hiện mục tiêu đào tạo của cấp học
3 Nội dung và biện pháp thực hiện các
giải pháp của đề tài:
3.1/ Nguyên tắc lồng ghép:
Trang 29III NỘI DUNG CỦA ĐỀ TÀI:
- Nội dung giáo dục BVMT phải chú ý khai thác tình
hình thực tế môi trường của từng địa phương Nội dung và phương pháp giáo dục BVMT phải chú trọng thực hành, hình thành các kĩ năng, phương pháp hành động cụ thể để học sinh có thể tham gia có hiệu quả và các hoạt động bảo
vệ môi trường của địa phương, của đất nước phù hợp với
độ tuổi Cách tiếp cận cơ bản của giáo dục BVMT là: Giáo
dục về môi trường, trong môi trường và vì môi trường, đặc biệt là giáo dục vì môi trường Coi đó là thước đo cơ bản hiệu quả của giáo dục BVMT
3 Nội dung và biện pháp thực hiện các
giải pháp của đề tài:
3.1/ Nguyên tắc lồng ghép:
Trang 30III NỘI DUNG CỦA ĐỀ TÀI:
3.2.1/ Lồng ghép giáo dục BVMT trong giờ học:
Giáo dục BVMT là một lĩnh vực giáo dục liên ngành,
vì vậy, được triển khai theo phương thức lồng ghép Nội dung giáo dục BVMT được tích hợp trong môn sinh học thông qua các chương, bài cụ thể Việc lồng ghép thể hiện
ở 3 mức độ:
3 Nội dung và biện pháp thực hiện các
giải pháp của đề tài:
3.2/ Các hoạt động lồng ghép giáo dục BVMT:
Trang 313.2.1/ Lồng ghép giáo dục BVMT trong giờ học:
Mức độ toàn phần: Mục tiêu và nội dung của bài học phù hợp hoàn toàn với mục tiêu và nội dung giáo dục BVMT Với những bài này trong quá trình dạy học chúng ta thực hiện lồng ghép giáo dục BVMT vào toàn bộ nội dung của bài.
Mức độ bộ phận: Trong bài học chỉ có một phần có mục tiêu
và nội dung giáo dục BVMT
Mức độ liên hệ: ở dạng này, các kiến thức GDMT không được đưa vào chương trình và SGK, không có trong mục tiêu bài dạy Nhưng dựa vào nội dung bài học, giáo viên có thể bổ sung kiến thức GDMT.
3.2/ Các hoạt động lồng ghép giáo dục
BVMT:
Trang 333.2.2/ Lồng ghép giáo dục BVMT ngoài lớp học:
- Hoạt động tham quan theo chủ đề
Ví dụ: Trong SGK sinh hoc 6, tiết 68, 69,70, “Tham quan thiên nhiên”
- Điều tra, khảo sát, nghiên cứu tình hình môi trường ở địa phương
Ví dụ: Trong SGK sinh học 9 Bài 56, 57: Thực hành tìm hiểu môi trường ở địa phương.
- Hoạt động tổ chức trồng cây xanh hóa nhà trường
Ví dụ: Hàng năm nhà trường phát động phong trào trồng cây xanh nhân dịp đầu năm mới Phát động phong trào mỗi ngày dành 10 phút cho vệ sinh môi trường….vv.
3.2/ Các hoạt động lồng ghép giáo dục
BVMT: