luận văn
Trang 1Đánh giá tác động của chính sách dồn điền
đổi thửa đến việc quản lý sử dụng đất nông nghiệp huyện Kim Bảng - tỉnh Hà Nam
Luận văn thạc sỹ nông nghiệp
Hà Nội - 2005
Bộ giáo dục và đào tạo
Trang 2Trường đại học nông nghiệp I
-
Lê thị thanh xuân
Đánh giá tác động của chính sách dồn đIền
đổi thửa đến việc quản lý sử dụng đất nông nghiệp huyện Kim Bảng - tỉnh Hà Nam
Luận văn thạc sỹ nông nghiệp
Chuyên ngành: Quản lý đất đai
Mã số: 60-62-15
Người hướng dẫn khoa học:TS Nguyễn Đình Bồng
Hà Nội -2005
Trang 3Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và ch−a đ−ợc sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện Luận văn này đã đ−ợc cám ơn và các thông tin trích dẫn trong Luận văn này đều đã đ−ợc chỉ rõ nguồn gốc./
Tác giả Luận văn
Lê Thị Thanh Xuân
Trang 4Lời cảm ơn Trong quá trình thực hiện đề tài ngoài sự cố gắng nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được sự hướng dẫn nhiệt tình, chu đáo của các nhà khoa học , các thầy cô giáo và
sự giúp đỡ nhiệt tình, những ý kiến đóng góp quý báu của nhiều cá nhân và tập thể để tôi hoàn thành bản luận văn này
Nhân dịp này tôi xin chân thành cảm ơn TS Nguyễn Đình Bồng đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong thời gian tôi thực hiện luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn sự góp ý chân thành của các thầy, cô giáo khoa Tài nguyên đất và Môi trường- Trường đại học nông nghiệp I Hà Nội, Vụ Đăng ký và Thống kê
đất đai – Bộ tài nguyên và Môi trường
Tôi xin chân thành cảm ơn Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Hà Nam, Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Kim Bảng, UBND các xã Khả Phong, Lê Hồ, Thi Sơn … đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong thời gian nghiên cứu thực hiện luận văn tại địa phương
Một lần nữa tôi xin chân trọng cảm ơn
Tác giả Luận văn
Lê Thị Thanh Xuân
Trang 5Danh mục các bảng, biểu đồ, sơ đồ
Bảng 2.1 Mức độ manh mún ruộng đất canh tác ở các vùng
Bảng 2.2 Mức độ manh mún đất đai ở một số tỉnh thuộc vùng Đồng bằng sông
Hồng
Bảng 2.3 Quy mô và sự thay đổi quy mô đất nông nghiệp ở nông hộ
Bảng 4.4 so sánh cơ cấu kinh tế của huyện và của tỉnh qua một số năm
Bảng 4.5 Giá trị sản xuất nông - lâm - thuỷ sản huyện Kim Bảng
Biểu đồ: Cơ cấu các loại đất huyện Kim Bảng năm 2005
Bảng 4.6 Hiện trạng cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp huyện Kim Bảng năm
2005
Bảng 4.7 Biến động diện tích đất nông nghiệp
Sơ đồ: Các tổ chức chính quyền và ban ngành các cấp ra văn bản DĐĐT
Bảng 4.8 Kết quả thực hiện dồn điền đổi thửa ở huyện Kim Bảng, Hà Nam
Bảng 4.9 Tổng hợp phân loại hộ theo số thửa sau chuyển đổi huyện Kim Bảng
Bảng 4.10 Kết quả của công tác dồn điền đổi thửa ở Kim Bảng và 2 xã điều tra điểm
Bảng 4.11 Sự thay đổi về DT một số loại đất trước và sau dồn điền đổi thửa
Bảng 4.12 Diện tích đất giao thông, thuỷ lợi trước và sau dồn điền đổi thửa
Bảng 4.13 Tình hình trao đổi ruộng đất ở Thi Sơn trước và sau dồn điền đổi thửa
Bảng 4.14 Sự thay đổi cơ cấu ruộng đất của các kiểu hộ ở Thi Sơn
Bảng 4.15 Sự thay đổi cơ cấu thu nhập trước và sau dồn điền đổi thửa
Bảng 4.16 Hiệu quả kinh tế của mô hình thực hiện dồn điền đổi thửa theo hướng tập trung đất đai
Bảng 4.17 Đánh giá về các tác động xã hội của dồn điền đổi thửa
Bảng 4.18 Tỷ lệ ý kiến đánh giá về phân công lại lao động gia đình dưới tác
động của DĐĐT
Bảng 4.19 Thay đổi lao động tại vùng nghiên cứu
Bảng 4.20 Mức chi phí BQ trên 1 sào lúa giữa trước và sau DĐĐT
Bảng 4.21 Nhận xét về chất lượng dịch vụ sau dồn đổi của hộ nông dân
Trang 6Mục lục
1 Mở Đầu 1.1 Tính cấp thiết của đề tài
1.2 Mục đích yêu cầu của đề tài
1.2.1 Mục đích
1.2.2 Yêu cầu
2 Tổng quan tàI liệu nghiên cứu
2.1 Chính sách quản lý và sử dụng đất nông nghiệp
2.1.1 Chính sách pháp luật đất đai
2.1.1.1 Chế độ sở hữu toàn dân về đất đai
2.1.1.2 Giao đất ổn định lâu dài và mở rộng quyền của người sử dụng đất
2.1.1.3 Cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
2.1.1.4 Các chính sách tài chính về đất đai
2.1.1.5 Quản lý chặt chẽ mục đích sử dụng đất và nâng cao hiệu quả sử dụng đất thông
qua công tác quy hoạch đất đai
2.1.2 Chính sách pháp luật về quản lý và sử dụng đất nông nghiệp
2.1.2.1 Quỹ đất nông nghiệp giao cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng
2.1.2.2 Hạn mức giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân
2.1.2.3 Đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích công ích
2.1.2.4 Đất nông nghiệp sử dụng cho kinh tế trang trại
2.1.2.5 Thời hạn giao đất nông nghiệp
2.1.2.6 Chuyển đổi đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân
21.2.7 Chuyển nhượng đất nông nghiệp
2.1.2.8 Hộ gia đình, cá nhân thuê đất
2.1.2.9 Thế chấp quyền sử dụng đất để vay vốn ngân hàng
1.1.2.10 Thừa kế quyền sử dụng đất nông nghiệp
2.1.2.11 Góp vốn bằng quyền sử dụng đất để sản xuất kinh doanh
2.2 Chính sách dồn điền đổi thửa
2.2.1 Những khái niệm về đất đai, đất nông nghiệp và dồn điền đổi thửa
Trang 72.2.3.2 Nguyên nhân, hạn chế của ruộng đất manh mún
2.2.3.3 Tình hình thực hiện dồn điền đổi thửa của một số tỉnh
2.2.3.4 Những nghiên cứu DĐĐT đã thực hiện trong thời gian qua
3 đối tượng, phạm vi, nội dung
và Phương pháp nghiên cứu 3.1 Đối tượng nghiên cứu
3.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
3.3 Nội dung nghiên cứu của đề tài
3.3.1 Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Kim Bảng
3.3.2 Hiện trạng tình hình quản lý và sử dụng đất sản xuất nông nghiệp ở huyện Kim Bảng
3.3.3 Đánh giá tác động của chính sách dồn điền đổi thửa đến việc quản lý
sử dụng đất nông nghiệp ở địa bàn huyện Kim Bảng
3.3.4 Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của việc dồn điền
đổi thửa ở địa bàn huyện Kim Bảng
3 4 4 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu
4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận
4.1- Điều kiện tự nhiên
4.1.1- Vị trí địa lý
4.1.2 Địa hình, địa mạo
4.1.3 Khí hậu
4.1.4 Thuỷ văn
4.1.5 Các nguồn tài nguyên
4.1.6 Cảnh quan môi trường
4.2 Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội
4.2.1 Tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Trang 84.3 Tình hình quản lý đất đai
4.4 Hiện trạng tình hình quản lý và sử dụng đất sản xuất nông nghiệp
ở huyện Kim Bảng
4.4.1 Tình hình thực hiện giao đất nông nghiệp
4.4.2 Tình hình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp
4.4.3 Qui mô thửa đất sau khi thực hiện giao đất nông nghiệp
4.4.4 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp
4.5 Biến động đất nông nghiệp trong giai đoạn 1995-2005
4.6 Tình hình thực hiện chính sách D Đ ĐT trên địa bàn huyện Kim Bảng
4.6.1 Cơ sở khoa học và thực tiễn
4.6.2 Cơ sở pháp lý của việc dồn điền đổi thửa
4.6.3 Qui hoạch sử dụng đất đối với việc thực hiện DĐĐT
4.6.4 Kết quả thực hiện chính sách dồn điền đổi thửa ở địa bàn huyện Kim Bảng
4.6.5 Đánh giá tác động của chính sách DĐĐT đến việc quản lý và sử dụng đất nông
nghiệp ở địa bàn huyện Kim Bảng
4.7 Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của việc dồn điền đổi
thửa ở địa bàn huyện Kim Bảng
5 Kết luận và kiến nghị 5.1 Kết luận
Trang 101 Mở Đầu
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây Đảng và Nhà nước đã đề ra nhiều chủ trương, chính sách phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn theo hướng sản xuất hàng hoá gắn với thị trường Những chủ trương và chính sách đó là sự phát triển và cụ thể hoá quan điểm, đường lối đổi mới theo tinh thần Đại hội VI của Đảng (1986), Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ 7, Nghị quyết Trung ương lần 2 khóa 7… đặc biệt Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị về đổi mới quản lý nông nghiệp Tại Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ 5 (10/6/1993)
đã ra Nghị quyết quan trọng tiếp tục đổi mới và phát triển kinh tế - xã hội nông thôn theo hướng Công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Chủ trương Nhà nước giao đất nông nghiệp ổn định lâu dài, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp và cho phép người sử dụng đất
có các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế… đã được qui
định trong Luật Đất đai năm 1993 và được cụ thể hóa trong Nghị định 64/CP ngày 7 tháng 9 năm 1993 của Chính phủ về việc giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình cá nhân ổn định, lâu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp với phương trâm công bằng xã hội, bằng cách chia đều ruộng đất tính trên một khẩu cho các gia đình Như vậy mỗi hộ nông dân đều có phần trên những mảnh ruộng xấu, ruộng tốt, ruộng xa cũng như ruộng gần Hiệu quả của chính sách đã có tác dụng lớn trong việc khai thác nguồn lực (lao động sẵn
có ở nông thôn), khuyến khích nông dân sản xuất, tăng cường an ninh lương thực đặc biệt đối những vùng có bình quân ruộng đất trên đầu người thấp như vùng Đồng Bằng Sông Hồng; những chính sách này đã đem lại những thành quả to lớn về kinh tế xã hội cho đất nước Từ một nước nhập khẩu lương thực
là chủ yếu, kinh tế nghèo nàn lạc hậu, Việt Nam đã vươn lên và trở thành nước xuất khẩu lớn trên thế giới về một số mặt hàng nông sản như gạo, cà phê, chè, tiêu, thuỷ sản Thu nhập và đời sống của người dân luôn được cải thiện Tỷ lệ đói nghèo đã giảm đáng kể, đặc biệt ở nông thôn Tuy nhiên, sự
Trang 11phân chia ruộng đất cho hộ nông dân nh− trên cũng thể hiện những hạn chế,
nó gây nên tình trạng manh mún ruộng đất ở nông thôn, tạo nên những khó khăn trong quy hoạch, quản lí và sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên đất
đai và gây nên những khó khăn trong quá trình Công nghiệp hoá (CNH), hiện
đại hoá(HĐH) nông nghiệp, nông thôn đó là tình trạng ruộng đất manh mún, phân tán, bờ vùng, bờ thửa nhiều đã tác động rất lớn đến việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi và hình thành các vùng sản xuất hàng hoá tập trung Nghiên cứu, đánh giá tác động của chính sách dồn điền đổi thửa đến việc quản lý sử dụng đất nông nghiệp từ đó đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả của công tác này là một yêu cầu cấp thiết để đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện
đại hoá nông nghiệp, nông thôn Đề tài “Đánh giá tác động của chính sách dồn điền đổi thửa đến việc quản lý sử dụng đất nông nghiệp huyện Kim Bảng tỉnh Hà Nam” đ−ợc thực hiện nhằm góp phần thực hiện mục tiêu trên
1.2 Mục đích yêu cầu của đề tàI
1.2.1 Mục đích
- Nghiên cứu, đánh giá tác động của chính sách dồn điền đổi thửa đến việcuản lý sử dụng đất nông nghiệp phục vụ quá trình công nghiệp hoá, hiện
đại hoá nông nghiệp trên địa bàn huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam
- Đề xuất một số giải pháp để nâng cao hiệu quả của công tác dồn điền đổi thửa
- Từ đó đề xuất giải pháp để nâng cao hiệu quả của công tác dồn điền
đổi thửa trên địa bàn huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam
Trang 122 Tổng quan tàI liệu nghiên cứu
2.1 Tổng quan về chính sách quản lý và sử dụng đất nông nghiệp
2.1.1 Chính sách pháp luật đất đai
Sau năm 1975 đất nước hoàn toàn thống nhất, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản về chính sách Pháp luật đất đai như: Nghị quyết số 254/NQ-TW ngày 15/7/1976 của Bộ Chính trị, Chỉ thị số 235 CT-TW ngày 20/6/1976 và Quyết định số 188/CP ngày 25/9/1976 của Hội Đồng Bộ trưởng thực hiện điều chỉnh ruộng đất trong nông thôn, Chỉ thị 57/CT-TW ngày15/11/1978, Quyết định số 318/CP ngày 14/12/1978 để khuyến khích phát triển sản xuất, khai hoang phục hoá, mở rộng diện tích đất lâm nghiệp Nội dung của chính sách đất đai được thể hiện như sau:
2.1.1.1 Chế độ sở hữu toàn dân về đất đai
Chính sách đất đai của Việt Nam từ sau năm 1975 đất nước hoàn toàn thống nhất đến nay luôn giữ vững quan điểm cơ bản về chế độ sở hữu toàn dân về đất đai Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm
1980, 1992 và Luật Đất đai năm 1987, 1993, 1998, 2001, 2003 đều đã khẳng
định đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý Chế độ
sở hữu toàn dân về đất đai đã góp phần xoá bỏ hoàn toàn chế độ bóc lột thông qua đất đai, thực hiện quyền bình đẳng và công bằng về lợi ích của mọi người đối với các nguồn lợi do đất đai mang lại
2.1.1.2 Giao đất ổn định lâu dài và mở rộng quyền của người sử dụng đất
Chỉ thị 100/CT-TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng ngày 13/11/1981
về cải tiến công tác khoán, mở rộng khoán sản phẩm đến người lao động trong hợp tác xã (HTX) nông nghiệp và Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị ngày 5/4/1988 về việc giao đất cho hộ nông dân sử dụng ổn định lâu dài Những
Trang 13kết quả mang lại từ Chỉ thị 100 và Nghị quyết số 10 là tiền đề khởi đầu cho việc đổi mới trao quyền sử dụng đất đai một cách đầy đủ hơn cho người sử dụng Luật Đất đai năm 1993 đã xác định những nội dung chủ yếu quản lý Nhà nước về đất đai: điều tra, khảo sát, đo đạc, đánh giá phân hạng đất, lập bản đồ địa chính, quy hoạch và kế hoạch hoá việc sử dụng đất, ban hành các văn bản pháp luật về quản lý, sử dụng đất và tổ chức thực hiện các văn bản
đó, giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, đăng ký đất đai, lập và quản lý sổ địa chính, quản lý các hợp đồng sử dụng đất, thống kê, kiểm kê đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thanh tra việc chấp hành các chế độ, thể lệ về quản lý, sử dụng đất, giải quyết tranh chấp về đất đai, giải quyết khiếu nại, tố cáo các vi phạm trong quản lý và sử dụng đất đai [8] Việc chính thức hoá và
mở rộng các quyền của người sử dụng đất đã được bắt đầu từ Luật Đất đai năm 1993 với việc quy định 5 quyền của người sử dụng đất và Luật sửa đổi năm 1998 đã mở rộng thêm quyền góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất để sản xuất- kinh doanh, Luật sửa đổi năm 2001 mở rộng thêm quyền giá trị quyền sử dụng đất để bảo lãnh cho bên thứ 3 vay vốn tại các ngân hàng Luật
Đất đai năm 2003 lại tiếp tục cụ thể hoá thêm với quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất, quyền thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất[15] Quyền sử dụng đất đai đã trở thành một nguồn lực tài chính để đầu tư phát triển sản xuất, các quan hệ về quyền sử dụng đất
đai đã trở thành quan hệ hàng hoá tiền tệ góp phần hình thành và phát triển thị trường bất động sản
2.1.1.3 Cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là một trong những nội dung quản lý Nhà nước về đất đai, là trách nhiệm hành chính của Nhà nước Các chính sách, thủ tục và trình tự đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã có nhiều đổi mới Các thủ tục và trình tự thực hiện công tác kê khai đăng ký đất đai đã được đổi mới theo hướng tăng cường vai trò của các
Trang 14cấp cơ sở trong việc hình thành hồ sơ ban đầu về quyền sử dụng đất Do đó Luật Đất đai sửa đổi năm 2001 đã thể hiện sự tăng cường vai trò cấp quản lý cơ sở, cụ thể là cấp quận, huyện
Luật đất đai năm 2003 đã có những thay đổi căn bản, thuận tiện cho công tác đăng ký đất đai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Thủ tục hành chính cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người sử dụng có sự thay đổi; thủ tục đăng ký đất đai quy định tại Luật và Nghị định đã qui định
bổ sung thêm một số điểm như: gia hạn sử dụng đất, thay đổi hạn chế quyền
sử dụng đất, tạo điều kiện đáp ứng đầy đủ các quyền người sử dụng đất; Luật
đất đai và Nghị định thi hành Luật mới quy định rõ hơn về thời gian giải quyết thủ tục đăng ký; trong đó quy định tổng thời gian phải hoàn thành giải quyết thủ tục đối với từng loại hình đăng ký đất đai và thực hiện các quyền của người sử dụng đất; quy định cụ thể thời gian giải quyết ở từng cơ quan, nhất là cơ quan tài chính (trước đây chưa quy định); một số trường hợp vướng mắc trong quá trình cấp giấy đã được giải quyết [4]
Nhà nước cũng đã có nhiều biện pháp khuyến khích đẩy nhanh tiến độ
đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất như chính sách giảm lệ phí
đăng ký cấp giấy chứng nhận, hỗ trợ kinh phí từ ngân sách cho công tác đăng
ký đất đai, đặc biệt là ở các tỉnh còn nhiều khó khăn, vùng núi, vùng sâu, vùng xa [5] Những kết quả đạt được trong công tác đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã bước đầu góp phần tăng cường công tác quản lý hành chính về đất đai và tạo điều kiện thúc đẩy sự hình thành, phát triển thị trường bất động sản chính thức
2.1.1.4 Các chính sách tài chính về đất đai
Các chính sách tài chính về đất đai đã dần được hoàn thiện và phát huy tác dụng tích cực, là công cụ để Nhà nước thực hiện quản lý kinh tế đối với
đất đai Những đổi mới của chính sách tài chính đối với đất đai, là công cụ để huy động nguồn lực tài chính từ đất đai phục vụ phát triển kinh tế-xã hội, làm
Trang 15căn cứ giải quyết các thay đổi về quan hệ sử dụng đất, đền bù, thu hồi đất Chính sách thuế sử dụng đất đã đổi mới theo hướng khuyến khích sử dụng đất đai một cách tiết kiệm có hiệu quả Mức thuế chuyển quyền sử dụng đất đã giảm từ mức 10% đối với đất nông, lâm nghiệp và 20% đối với các loại đất khác (năm 1994) xuống còn 2% đối với đất nông, lâm nghiệp, 4% đối với các loại đất khác (năm 1999) Mức lệ phí trước bạ cũng giảm từ 2% xuống còn 1% Cùng với chính sách thuế, các chính sách về thu tiền sử dụng đất khi giao đất, chính sách cho thuê đất và chính sách đấu thầu quyền
sử dụng đất đã được thực hiện nhằm chuyển các quan hệ về đất đai giữa Nhà nước đối với người sử dụng từ cơ chế bao cấp sang cơ chế thị trường
Chính sách giao đất không thu tiền sử dụng đất, chính sách giao đất có thu tiền sử dụng đất, chính sách thuế chuyển quyền sử dụng đất, chính sách cho thuê đất thể hiện sự vận dụng các quan hệ thị trường vào các chính sách tài chính là bước đầu phù hợp với xu hướng vận động các quan hệ đất
đai trong nền kinh tế thị trường
Luật Đất đai năm 1993 đã thừa nhận đất đai có giá và Nhà nước xác
định giá các loại đất để tính thuế đất, tính giá trị tài sản khi giao đất, bồi thường thiệt hại về đất khi thu hồi đất, Chính phủ quy định khung giá các loại
đất đối với từng vùng và theo thời gian Nghị định 87/CP ngày 17/8/1994 của Chính phủ về quy định khung giá các loại đất, Thông tư liên bộ số 94/TT-LB ngày 14//11/1994 của Bộ Tài chính, Bộ xây dựng, Bộ Tổng cục Địa chính, Ban vật giá Chính phủ hướng dẫn thi hành Nghị định 87/NĐ-CP là cơ sở cho các tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương xây dựng bảng giá đất cho
địa phương mình Đến năm 1996 Chính phủ ra quyết định số 302/QĐ-TTg ngày 13/5/1996 về việc điều chỉnh hệ số k trong khung giá ban hành theo Nghị định só 87/NĐ-CP Hệ số k được điều chỉnh từ 0.5 đến 0.8 lần mức giá trong bảng khung giá đất đô thị Năm 1998 Chính phủ ban hành Nghị định số 17/NĐ-CP quy định lại hệ số k điều chỉnh khung giá đất cộng, trừ 50% theo
Trang 16khung giá quy định tại Nghị định số 87/NĐ-CP
Việc ban hành khung giá và các quy định về định giá đối với đất đai, các chính sách đền bù thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất là cơ sở quan trọng
để xác lập sự vận động của các quan hệ đất đai trong điều kiện nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước Những chính sách tiến bộ đó đã góp phần làm cho đất đai trở thành tài sản quý giá, vai trò của đất đai trong sự phát triển kinh tế-xã hội được khôi phục, tăng cường và là một nguồn lực đặc biệt Chính sách tài chính về đất đai đã tiếp cận gần với các quan hệ hàng hoá tiền tệ của nền kinh tế thị trường, góp phần đưa nguồn lực đất đai thành một nguồn lực đầu tư phát triển của xã hội
2.1.1.5 Quản lý chặt chẽ mục đích và nâng cao hiệu quả sử dụng đất
thông qua công tác quy hoạch đất đai
Công tác quy hoạch đất đai là công cụ và nhiệm vụ hết sức quan trọng
để Nhà nước quản lý đất đai theo đúng pháp luật Quy hoạch đất đai được tiến hành trên 4 cấp: cấp Nhà nước, cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã phù hợp với định hướng phát triển kinh tế-xã hội và nhu cầu sử dụng đất thực tế Việc thực hiện công tác quy hoạch sử dụng đất hợp lý đã làm hạn chế dần tình trạng tự do chuyển đổi mục đích sử dụng đất của người sử dụng, khắc phục tình trạng tự quyết định chuyển đổi mục đích sử dụng đất bất hợp pháp của các cấp chính quyền cơ sở
2.1.2 Chính sách pháp luật về quản lý, sử dụng đất nông nghiệp
Đất nước ta 80% dân số sống ở vùng nông thôn, trong đó sản xuất nông nghiệp cung cấp việc làm cho khoảng 60% lực lượng lao động và tạo ra khoảng 1/2 tổng sản phẩm quốc dân (GDP) trong năm 2004 Tuy nhiên, diện tích đất dành cho sản xuất nông nghiệp không nhiều, Bình quân mỗi người chỉ có khoảng 1.200 m2 đất sản xuất nông nghiệp, mọi hoạt động khai thác và
sử dụng quỹ đất này đều dựa vào những chính sách do Nhà nước quy định Có thể khái quát những nội dung chủ yếu về chính sách đất nông nghiệp như sau:
Trang 172.1.2.1 Quỹ đất nông nghiệp giao cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng
Theo Luật Đất đai năm 1993 qui định quỹ đất nông nghiệp giao cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp trong đó có:
đất trồng cây hàng năm, đất nông nghiệp trồng cây lâu năm, đất có mặt nước nuôi trồng thuỷ sản Các loại đất này gồm cả đất làm kinh tế gia đình trước
đây do hợp tác xã giao, đất vườn, đất xâm canh, đất trống đồi núi trọc, đất hoang hoá xác định để sản xuất nông nghiệp
Theo Luật Đất đai năm 2003, đất nông nghiệp do hộ gia đình, cá nhân
sử dụng bao gồm đất nông nghiệp được Nhà nước giao, cho thuê, do thuê quyền sử dụng đất của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân khác, do nhận chuyển nhượng, nhận thừa kế, được tặng cho quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật
2.1.2.2 Hạn mức giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân
Đất nông nghiệp luôn được Nhà nước ưu đãi trong quá trình quản lý và
sử dụng Theo quy định tại điều 44 Luật đất đai năm 1993 và Điều 5 bản quy
định ban hành kèm theo Nghị định 64/CP của Chính phủ, ngày 27/9/1993: Nhà nước phân đất nông nghiệp thành 3 loại:
+ Đối với đất nông nghiệp để trồng cây hàng năm thì hạn mức giao đất nông nghiệp không quá 3 ha đối với các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung -
ương khu vực Đông Nam Bộ và khu vực đồng bằng Sông Cửu Long, không quá 2 ha đối với các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương khác
+ Đối với đất nông nghiệp để trồng cây lâu năm: Các xã đồng bằng không quá 10 ha, các xã trung du, miền núi không quá 30 ha
+ Đối với đất trống, đồi núi trọc, đất khai hoang lấn biển thì hạn mức giao đất nông nghiệp của hộ, cá nhân sử dụng do UBND (Uỷ ban nhân dân) tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định, căn cứ vào quỹ đất của địa phương và khả năng sản xuất của họ [12]
Trang 18Theo điều 70 của Luật Đất đai năm 2003, hạn mức giao đất nông nghiệp
được mở rộng hơn, như chỉ tính chung mức đất nông nghiệp trồng cây hàng năm là không quá 3 ha, không qui định chi tiết cho từng vùng Diện tích đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân do nhận chuyển nhượng, cho thuê, thuê lại, nhận thừa kế, được tặng cho quyền sử dụng đất, nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất từ người khác, nhận khoán, được Nhà nước cho thuê đất không tính vào hạn mức giao đất nông nghiệp [15]
2.1.2.3 Đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích công ích
Theo quy định tại khoản 1, Điều 45 Luật Đất đai năm 1993 và Điều 14
và Điều 15 của Bản quy định ban hành kèm theo Nghị định 64/CP của Chính phủ ngày 27/9/1993, thì Căn cứ vào quỹ đất, đặc điểm và nhu cầu của địa phương, Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết
định tỷ lệ đất dành làm đất công ích cho cấp xã không quá 5% đất nông nghiệp của xã
Luật Đất đai năm 2003 và Nghị định 181/2004/NĐ-CP còn quy định cụ thể việc sử dụng đất công ích vào các mục đích khác nhau
2.1.2.4 Đất nông nghiệp sử dụng cho kinh tế trang trại
Luật Đất đai năm 1993 không quy định đất nông nghiệp sử dụng cho kinh tế trang trại Luật Đất đai năm 2003 và Nghị định 181/2004/NĐ-CP đã quy định cụ thể đất sử dụng cho kinh tế trang trại của hộ gia đình, cá nhân bao gồm: Đất trồng cây hàng năm, đất trồng cây lâu năm, đất rừng sản xuất,
đất nuôi trồng thuỷ sản, đất làm muối, đất xây dựng chuồng trại chăn nuôi gia súc, gia cầm và các loại động vật khác được pháp luật cho phép
Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất nông nghiệp cho kinh tế trang trại phải
sử dụng đất đúng mục đích đã được xác định, trường hợp chuyển đổi mục
đích sử dụng các loại đất thì phải lập phương án sản xuất, kinh doanh gắn với việc sử dụng đất trình UBND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh xét duyệt, phải đăng ký chuyển mục đích sử dụng đất và nộp tiền sử dụng đất
Trang 19theo quy định của pháp luật
2.1.2.5 Thời hạn giao đất nông nghiệp
Theo quy định tại điều 67 Luật Đất đai năm 2003:
+ Đối với đất nông nghiệp được giao, cho thuê từ ngày 15/10/1993 trở
về trước thì thời hạn giao đất được tính thống nhất từ ngày 15/10/1993
+ Đối với đất nông nghiệp được giao sau ngày 15/10/1993 thì thời điểm giao đất được tính từ ngày giao đất
Với đất trồng cây hàng năm 20 thời hạn giao đất là 20 năm, đất trồng cây lâu năm thời hạn giao đất 70 năm.[15]
2.1.2.6 Chuyển đổi đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân
Trong Luật đất đai năm 1993 Điều 73 cũng như trong Bộ luật dân sự
Điều 700 đã quy định các điều kiện chuyển đổi:
+ Thuận tiện cho sản xuất và đời sống
+ Sau khi chuyển đổi quyền sử dụng đất phải sử dụng đất đúng mục
đích, đúng thời hạn, trong hạn mức đối với từng loại đất
+ Trong thời hạn sử dụng đất được quy định khi Nhà nước giao
Điều 105, 107, 113 của Luật đất đai năm 2003 cũng qui định về quyền chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp của các hộ gia đình, cá nhân trong cùng một xã, phường, thị trấn
2.1.2.7 Chuyển nhượng quyền sử dụng đất nông nghiệp
Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất nông nghiệp được chuyển nhượng quyền sử dụng đất trong các trường hợp như: Chuyển đi nơi khác, chuyển sang làm nghề khác, không còn khả năng trực tiếp lao động
Việc chuyển nhượng phải được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho phép Người nhận chuyển nhượng phải sử dụng đúng mục đích
Trang 202.1.2.8 Hộ gia đình, cá nhân thuê đất
Theo quy định tại Điều 1 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
đất đai năm 2001: Nhà nước giao đất cho hộ gia đình, cá nhân để sử dụng ổn
định lâu dài, dưới hình thức giao đất không thu tiền sử dụng đất và giao đất
có thu tiền sử dụng đất, Nhà nước còn cho hộ gia đình, cá nhân thuê đất Tại khoản 2 Điều 22b của Luật sửa đổi bổ sung một số điều Luật đất đai năm 2001 quy định điều kiện thuê đất của hộ gia đình, cá nhân là: khi có nhu cầu sử dụng đất để sản xuất kinh doanh thì được Nhà nước cho thuê đất [14] Tại điều 114 (Luật Đất đai năm 2003) qui định về quyền và nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất thuê
+ Thế chấp, bảo lãnh bằng tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với
đất thuê trong thời hạn thuê tại tổ chức tín dụng Việt Nam để vay vốn sản xuất, kinh doanh theo quy định của pháp luật
+ Chuyển đổi, chuyển nhượng quyền sử dụng đất, để thừa kế quyền sử dụng đất thuê cùng với tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất thuê trong thời hạn thuê đất với tổ chức tín dụng, hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài để hợp tác sản xuất kinh doanh
+ Góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất thuê cùng với tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất thuê trong thời hạn thuê để hợp tác kinh doanh + Cho thuê lại quyền sử dụng đất trong thời hạn thuê đất [15]
2.1.2.9 Thế chấp quyền sử dụng đất để vay vốn ngân hàng
Theo quy định tại khoản 3, Điều 3 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật đất đai năm 1998, Điều 77 của Luật đất đai, khoản 1 Điều 24 Nghị định 17/1999/NĐ-CP ngày 29/3/1999 của Chính phủ và Điều 23 quy chế thế chấp, cầm cố tài sản và bảo lãnh vay vốn ngân hàng ngày 17/8/1996 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định: “Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất nông nghiệp, lâm nghiệp, đất ở, đất chuyên dùng có giấy chứng nhận quyền sử
Trang 21dụng đất được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp thì có quyền thế chấp quyền sử dụng đất tại ngân hàng để vay vốn Tài sản gắn liền trên đất như nhà
ở, rừng trồng, vườn cây, công trình xây dựng khác thuộc tài sản thế chấp”
Tại khoản 7 điều 113 Luật đất đai năm 2003 qui định hộ gia đình các nhân sử dụng đất không phải là đất thuê được thế chấp, bảo lãnh bằng quyền
sử dụng đất tại tổ chức tín dụng được phép hoạt động tại Việt Nam, tại tổ chức kinh tế hoặc cá nhân để vay vốn sản xuất, kinh doanh.[15]
2.1.2.10 Thừa kế quyền sử dụng đất nông nghiệp
Theo quy định tại khoản 3 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật
đất đai, Điều 76 luật đất đai, Điều 739 Bộ luật dân sự và Điều 22 Nghị định 17/1999/NĐ-CP ngày 29/3/1999 của Chính phủ thì người được thừa kế quyền
Tại khoản 5 Điều 113 Luật đất đai năm 2003 qui định cá nhân hộ gia
đình có quyền để thừa kế quyền sử dụng đất theo di chúc hoặc theo pháp luật
2.1.2.11 Góp vốn bằng quyền sử dụng đất để sản xuất kinh doanh
Theo quy định tại Điều 32 Nghị định 17/1999/NĐ-CP ngày 29/3/1999 của Chính phủ thì hộ gia đình, cá nhân được quyền góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất để hợp tác sản xuất kinh doanh với tổ chức, cá nhân trong nước, bao gồm các điều kiện sau:
+ Đất do được Nhà nước giao
Trang 22đất với tổ chức, hộ gia đình cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài
để hợp tác sản xuất, kinh doanh
2.2 chính sách dồn điền đổi thửa
2.2.1 Những khái niệm về đất đai, đất nông nghiệp và dồn điền đổi thửa
2.2.1.1 Khái niệm về đất đai, đất nông nghiệp
* Theo V.V.Dokutraev (năm 1879): “Đất là một thể thiên nhiên có lịch
sử riêng biệt và độc lập, có những qui luật phát sinh và phát triển rõ ràng
được hình thành do tác động tương hỗ của các yếu tố: đá mẹ, khí hậu, sinh vật, địa hình và tuổi địa phương”
Đất là vật hình thành tự nhiên, gồm những tầng lớp liên quan nhau theo phát triển sinh học, được tạo thành do kết quả biến đổi các lớp mặt của thạch quyển vỏ Trái đất, dưới tác động của nước, không khí, sinh vật[31] “Đất đai” về thuật ngữ khoa học được hiểu theo nghĩa rộng như sau: “Đất đai” là một diện tích cụ thể của bề mặt trái đất, bao gồm tất cả các cấu thành của một môi trường sinh thái ngay trên và dưới bề mặt đó bao gồm: khí hậu bề mặt, thổ nhưỡng,
dạng địa hình, mặt nước (hồ, sông, suối, đầm lầy…), các lớp trầm tích sát bề
mặt cùng với nước ngầm và khoáng sản trong lòng đất, tập đoàn thực vật và
động vật, trạng thái định cư của con người trong quá khứ và hiện tại để lại (san
nền, hồ chứa nước, hệ thống tiêu thoát nước, đường xá, nhà cửa…)
Như vậy, “Đất đai” là một khoảng không gian có giới hạn, theo chiều
thẳng đứng (gồm khí hậu của bầu khí quyển, lớp đất phủ bề mặt, thảm thực
Trang 23vật, động vật, diện tích mặt nước, tài nguyên nước ngầm và khoán sản trong lòng đất), theo chiều nằm ngang - trên mặt đất (là sự kết hợp giữa thổ nhưỡng, địa hình, thuỷ văn, thảm thực vật cùng với các thành phần khác) giữ
vai trò quan trọng và có ý nghĩa to lớn đối với hoạt động sản xuất cũng như cuộc sống của xã hội loài người
Theo luật đất đai năm 1993: Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt không gì thay thế được của nông nghiệp, lâm nghiệp,
là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh quốc phòng [12]
* Nông nghiệp: tập hợp các mặt hoạt động của con người trong một môi trường khí hậu và sinh học cụ thể, trong những điều kiện kinh tế xã hội
cụ thể, nhằm tạo ra những sản phẩm thực vật và động vật cần cho đời sống,
đặc biệt là lương thực, thực phẩm[31]
Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất quan trọng của đất nước, trong
điều kiện trước mắt cũng như trong quá trình công nghiệp hoá đất nước Ngành nông nghiệp có 2 nhiệm vụ lớn là trực tiếp đảm bảo an ninh lương thực quốc gia và đảm bảo tối đa nguyên liệu cho công nghiệp, tăng khối lượng nông sản cho xuất khẩu Ngành nông nghiệp hoạt động chủ yếu trên
địa bàn nông thôn [9]
Đất nông nghiệp: Theo quy định của luật đất đai năm 1993 thì đất nông nghiệp là đất được xác định chủ yếu để sử dụng vào sản xuất nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, kể cả nuôi trồng thuỷ sản hoặc nghiên cứu thí nghiệm về trồng trọt, chăn nuôi
2.2.1.2 Dồn điền đổi thửa
Từ "Dồn điền đổi thửa" (DĐĐT) xuất hiện trong quá trình phát triển của
đất nước, quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp Tuỳ vào từng
địa phương có thể có các tên gọi khác nhau, có nơi thì gọi là “Dồn đất đổi
Trang 24ruộng” có nơi thì gọi là “Dồn điền đổi thửa” nhưng chung quy lại mục đích chính của nó vẫn là sắp xếp lại ruộng đất, dồn đổi ruộng đất từ nhiều thửa nhỏ thành những thửa lớn nhằm khắc phục tình trạng ruộng đất phân tán, manh mún, tổ chức lại đồng ruộng; đẩy mạnh thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá, phát triển kinh tế hộ và trang trại,
củng cố quan hệ sản xuất, thực hiện CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn [16] 2.2.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
2.2.2.1 Vấn đề về qui mô diện tích đất nông nghiệp của nông hộ và phát triển kinh tế trang trại
Một xu thế nghiên cứu trong các nước phát triển liên quan đến quá trình tập trung hay phân hoá quy mô diện tích đất nông nghiệp của các nông hộ, đó là: kinh tế quy mô (economic of scale) hoặc ngược lại - kinh tế phi quy mô Kinh tế quy mô đựơc mô tả đối với một đơn vị sản xuất là việc phát triển
mở rộng quy mô (lao động, đất hay vốn ) nhằm hạ giá thành của một đơn vị sản phẩm, tăng sức cạnh tranh của nông phẩm hàng hoá Người ta hy vọng rằng khi quy mô nông hộ càng lớn thì có thể giảm được đáng kể chi phí như: chi phí quản lí nông trại, chi phí áp dụng tiến bộ kỹ thuật, chi phí tư vấn, đào tạo Nhìn chung ở châu Âu và các nước phát triển khác kể từ sau cách mạng nông nghiệp lần thứ 2 cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, một loạt các trang trại nhỏ, manh mún năng suất thấp đã bị loại thải thay vào đó là các trang trại quy mô vừa, những trang trại có năng suất lao động cao hoặc các nhóm nhỏ của những người sản xuất Ví dụ năm 1955 ở Pháp có xấp xỉ 2.3 triệu nông hộ, quy mô ruộng đất trung bình là 14 ha/hộ thì đến năm 1993 chỉ còn 800 ngàn hộ với quy mô trung bình là 35 ha Tương tự ở Mỹ năm 1950 cả nước có 5.65 triệu hộ với quy mô bình quân là 86 ha/hộ, đến năm 1992 con số này là 1.92 triệu và 198.9 ha
Có thể nhận xét rằng tiến trình tích tụ của các nông hộ ở châu Âu có nguyên nhân rất lớn từ những thành tựu về kỹ thuật công nghệ phát minh trong cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 2, ở đó tiến trình cơ giới hoá trong
Trang 25nông nghiệp phát triển nhanh, các giống cây trồng vật nuôi được chọn tạo cho năng suất cao và được đưa vào sản xuất đây chính là quá trình tích tụ
về vốn nói chung của các nông hộ
Tuy nhiên, trong nông nghiệp giới hạn của kinh tế quy mô không giống như trong công nghiệp Sự tăng hiệu quả sản xuất nhờ việc tăng quy mô chỉ giới hạn đến ngưỡng nào đó về đất đai, lao động, máy móc Nếu vượt ngưỡng này hiệu quả sản xuất lại giảm xuống Giá thành của một đơn vị sản phẩm không những không giảm mà có thể lại tăng lên, người ta gọi đó là
kinh tế phi quy mô Ngưỡng của các yếu tố sản xuất phụ thuộc rất nhiều vào
đặc điểm của mỗi loại hình nông hộ: hộ chăn nuôi hay trồng trọt, hộ trồng nho hay trồng lúa mỳ, phụ thuộc vào khả năng công nghệ kỹ thuật áp dụng trong sản xuất Ví dụ quy mô nông hộ sản xuất có hiệu quả hiện nay ở Pháp
là từ 50 ha đến 100 ha nhưng ở Mỹ nơi có khả năng cơ giới hoá cao hơn thì quy mô đó là từ 200 ha đến 300 ha
Theo Macheal Lipton (2002) [nghiên cứu về tình hình phát triển nông nghiệp các nước Châu á] cho thấy nông nghiệp trong những nước đang phát triển ở châu á, đặc trưng bởi: (1) tỷ lệ lao động trong khu vực nông nghiệp
và nông thôn chiếm tỷ lệ khá lớn và dư thừa, (2) nền nông nghiệp thâm canh sản xuất lương thực đặc biệt là lúa nước dựa chủ yếu trên đầu tư lao động sống của các nông hộ quy mô nhỏ và (3) sự tăng trưởng của khu vực nông nghiệp quyết định nhiều đến sự tăng trưởng cả nền kinh tế Để có thể xóa đói giảm nghèo, giải pháp là cần tạo thêm công ăn việc làm cho lực lượng lao
động ở nông thôn Thành quả của những cuộc cải cách ruộng đất thời gian qua đã mang lại công ăn việc làm và tạo điều kiện cho các nông hộ nhỏ phát triển kinh tế trong những nước nghèo Chính vì thế, những giải pháp nhằm tập trung ruộng đất, phát triển trang trại quy mô lớn, tăng cường cơ giới hoá không hợp lí có nguy cơ làm tăng thất nghiệp nông thôn dẫn đến sự tăng trưởng trì trệ về thu nhập của nông hộ nhỏ Một bộ phận lao động nông
Trang 26nghiệp dư thừa đã chuyển vào thành phố nhưng khó phát triển được và trở thành người nghèo đô thị, làm cho hiện tượng nghèo chỉ chuyển từ khu vực này sang khu vực khác
Giải pháp thay đổi kỹ thuật canh tác trong nông nghiệp cần hướng vào giải quyết lao động tại chỗ Việc phát triển mạnh các loại hình nông nghiệp sinh thái, nông nghiệp sinh học nhằm tăng năng suất và giá trị tiềm tăng của nông nghiệp, đẩy mạnh quá trình phi tập trung hoá trong quản lí nguồn lợi, tài nguyên, thúc đẩy sự tham gia của cộng đồng và xã hội dân sự… là những giải pháp cho phép phát triển được kinh tế nông hộ nhỏ, góp phần xoá đói giảm nghèo[11]
2.2.2.2 Chuyển đổi ruộng đất một số nước
Khái niệm ruộng đất manh mún trong nông nghiệp cần được hiểu trên 2 khía cạnh: Một là, sự manh mún về mặt ô thửa, trong đó một đơn vị sản xuất (thường là nông hộ) có quá nhiều mảnh ruộng với kích thước quá nhỏ của các mảnh ruộng này không đáp ứng được yêu cầu của sản xuất Hai là, sự manh mún thể hiện trên quy mô về đất đai của các đơn vị sản xuất, số lượng ruộng
đất quá nhỏ không tương thích với số lượng lao động và các yếu tố sản xuất khác Cả 2 kiểu manh mún này đều dẫn đến tình trạng chung là hiệu quả sản xuất thấp, khả năng đổi mới và ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, nhất
là vấn đề cơ giới hoá, thuỷ lợi hoá trong nông nghiệp kém hiệu quả Ngoài ra tình trạng manh mún ruộng đất còn gây nên những khó khăn trong quy hoạch sản xuất và sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên đất đai Vì thế mà người
ta luôn tìm cách để khắc phục tình trạng này
Tuy nhiên, tình trạng manh mún ruộng đất xảy ra ở nhiều nơi, nhiều nước khác nhau trên thế giới và ở nhiều thời kỳ của lịch sử phát triển Những nguyên nhân dẫn đến tình trạng này cũng rất đa dạng: Có thể là do đặc điểm
về mặt phân bố địa lí, do sức ép gia tăng dân số nhưng cũng có thể có nguyên nhân về mặt xã hội như tính chất tiểu nông của nền sản xuất còn kém
Trang 27phát triển, đặc diểm tâm lí của cộng đồng dân cư nông thôn, hệ quả của một hay nhiều chính sách ruộng đất, kinh tế xã hội, hoặc sự quản lí lỏng lẻo kém hiệu quả cuả công tác địa chính Muốn giải quyết triệt để tình trạng này đòi hỏi người ta phải có những hiểu biết cụ thể về các nguyên nhân của vấn đề này Châu á nói chung và vùng Đông - Nam á nói riêng trong đó có Việt Nam là nơi có tình trạng ruộng đất khá manh mún
a Nhật Bản Xuất phát điểm từ chính sách trước những năm 1960 mỗi
hộ nông dân Nhật có nhiều thửa ruộng phân tán, xa nhau quy mô mỗi thửa chỉ từ 500 m2 đến 1.000 m2
Vào thời kỳ này, sản xuất nông nghiệp chủ yếu sử dụng lao động thủ công và sức kéo gia súc Đã xuất hiện sự chênh lệch lớn về thu nhập giữa lao
động nông nghiệp và lao động của các ngành khác Để chấn hưng nông nghiệp, năm 1961 Chính phủ Nhật Bản đã ban hành Luật cơ bản về nông nghiệp Một trong ba mục tiêu chính của Luật cơ bản nông nghiệp là đưa nông nghiệp từ quy mô nhỏ lên quy mô lớn Để thực hiện mục tiêu này Bộ nông nghiệp đề ra
“sự nghiệp xây dựng ruộng đất với ba mục tiêu rộng, chắc chắn, sâu”
- Rộng: Nâng kích thước thửa ruộng lên 0,3 ha
- Chắc chắn: Cải tạo nền đất yếu, nhiều bùn, hay lún trên cơ sở thiết
kế xây dựng thoát nước cho từng thửa ruộng và toàn khu vực để có thể sử dụng máy móc thuận lợi
- Sâu: Cải tạo tầng canh tác ruộng đất đảm bảo độ dày khoảng 1m Để đáp ứng nhu cầu trên phải làm hai việc:
- Về mặt hành chính: Đó là xử lý chuyển đổi đất từ các thửa nhỏ, ở xa nhau thành những thửa có kích thước lớn
- Về mặt kỹ thuật: Gắn liền với việc xử lý kích thước thửa ruộng là việc xây dựng hệ thống tưới tiêu và san ủi mặt bằng Việc chuyển đổi đất là công việc rất phức tạp vì đất đai thuộc sở hữu tư nhân và việc chuyển đổi phải
Trang 28tiến hành đồng thời với một số biện pháp, công việc khác mới phát huy có hiệu quả Trước khi chuyển đổi phải xây dựng quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp cho mục đích phi nông nghiệp với yêu cầu ít nhất 8 năm kể từ khi xử
lý, không được thay đổi mục đích Việc quy hoạch đất nông nghiệp vào mục
đích phi nông nghiệp cũng nhằm mục đích kêu gọi đầu tư tạo việc làm, tăng thu nhập cho nông dân, giảm việc nông dân di cư vào thành phố Giới hạn tối
đa cho diện tích này là 30% diện tích toàn khu nông nghiệp
Công tác chuyển đổi là khó khăn phức tạp, vì vậy có nơi làm dần từng bước, lúc đầu từ 500 m2 lên 1.000 m2, sau vài năm lên 2.000 m2, vài năm sau lên 3000m2 Kết quả là khoảng 2 triệu ha trong 2,7 triệu ha đất trồng lúa nước đã được xử lý, chuyển đổi Số còn lại chủ yếu là đất trồng cỏ Trước chuyển đổi bình quân một hộ có 3,4 thửa ruộng, sau khi chuyển đổi còn 1,8 thửa Việc chuyển đổi xử lý đất nông nghiệp đã làm tăng năng suất của máy nông nghiệp, tăng sức sản xuất của đất đai, làm tăng năng suất lao động của người nông dân, tạo điều kiện phát triển hàng hoá để nâng cao sức cạnh tranh của nông nghiệp Vì vậy, cùng những yêu cầu khác, việc chuyển đổi xử lý
đất nông nghiệp đã góp phần quan trọng đưa năng suất lúa từ 3.000 kg gạo/ha năm 1960, lên 6.000 kg gạo/ha năm 1992 Hiện nay việc chuyển đổi
xử lý ruộng đất được tiếp tục khuếch trương lên 1 hahoặc 2 ha, có thể lên tới
3 ha hoặc 6 ha [2]
* Trung Quốc: Nhà nước Trung Quốc đã tiến hành cải cách nông
nghiệp và nông thôn từ năm 1978 Quá trình cải cách được chia thành hai giai đoạn, giai đoạn một từ năm 1978 đến năm 1984, giai đoạn hai từ năm
1985 đến năm 1990 và sau đó có đề ra phương hướng phát triển nông nghiệp, nông thôn cho thập kỷ 90
Văn kiện số 01 năm 1984 quy định “kéo dài thời hạn khoán ruộng đất
để khuyến khích nông dân đầu tư bồi bổ sức đất, thực hiện thâm canh” Chủ trương này nhằm kiện toàn chế độ khoán sản phẩm đến hộ nông dân, khắc
Trang 29phục tình trạng nông dân bóc ngắn cắn dài, kinh doanh có tính chất quá lạm dụng độ màu mỡ của đất đai Thời hạn khoán ruộng đất từ 15 năm trở lên,
đối với loại kinh doanh chu kỳ sản xuất dài có tính chất khai hoang như vườn, rừng, đồi hoang thì thời hạn khoán cần phải dài hơn Trước khi kéo dài thời hạn khoán, nếu quần chúng có yêu cầu điều chỉnh ruộng đất thì có thể dựa vào nguyên tắc “đại ổn định, tiểu điều chỉnh” (nghĩa là, về cơ bản phải ổn định, nhưng có thể điều chỉnh một phần nhỏ ruộng đất khoán chưa hợp lý), thông qua thương lượng một cách đầy đủ, sau đó tập thể thống nhất
điều chỉnh Ngoài ra Văn kiện này còn cho phép hộ nông dân có quyền nhượng ruộng khoán, cụ thể là “khuyến khích từng bước tập trung ruộng đất vào tay những người làm ruộng giỏi”
Chỉ thị số 18 năm 1990 của Trung Quốc quy định “ổn định quan hệ ruộng đất nhận khoán không có nghĩa là không cho phép có sự điều chỉnh về mảnh ruộng và số lượng ruộng khoán, những thửa ruộng quá phân tán, không thuận tiện cho việc canh tác thì có thể căn cứ vào nguyện vọng của quần chúng
mà tiến hành điều chỉnh theo nguyên tắc số lượng và giá trị ngang bằng” Trong quá trình thực hiện khoán ruộng đất cho các hộ nông dân, một số địa phương đã thực hiện việc khoán đất tốt kèm đất xấu, cho nên ruộng đất nhận khoán phân tán, manh mún không thuận tiện cho nông dân canh tác Những năm gần đây một số địa phương đã căn cứ nguyện vọng của quần chúng, tiến hành nhận ruộng và điều chỉnh Kết quả đã diễn ra tốt, nhưng cần phải giữ vững hai nguyên tắc: Một là, tôn trọng nguyện vọng của quần chúng, không được áp đặt Hai là, phải đảm bảo theo nguyên tắc số lượng và giá trị ngang bằng
Như vậy, từ những năm 1978 Trung Quốc đã tiến hành cải cách nông nghiệp, thực hiện hình thức khoán sản lượng đến hộ nông dân mà thực chất là khoán ruộng đất, hoàn thành công cuộc thiết kế lại đồng ruộng thông qua chuyển đổi ruộng đất
c Đài Loan: Sau năm 1949 dân số đã tăng đột ngột do sự di dân từ lục
Trang 30địa ra Lúc đầu chính quyền Tưởng Giới Thạch đã thực hiện cải cách ruộng
đất theo nguyên tắc phân phối đồng đều ruộng đất cho nông dân Ruộng đất
đã được trưng thu, tịch thu, mua lại của các địa chủ rồi bán chịu, bán trả dần cho nông dân Điêù này đã tạo điều kiện cho ra đời các trang trại gia đình quy mô nhỏ Năm 1953, trên hòn đảo này đã có đến 679 ngàn trang trại với quy mô là 1.29 ha/một trang trại Đến năm 1991 số trang trại đã lên đến 823.000 trang trại và quy mô chỉ còn 1,08 ha/trang trại Tuy nhiên, quá trình công nghiệp hoá nông nghiệp nông thôn sau này đòi hỏi phải mở rộng quy mô của các trang trại gia đình nhằm ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, giảm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm Nhưng do đặc điểm của người
Đài Loan là coi ruộng đất là tiêu chí để đánh giá vị trí của họ trong xã hội nên mặc dù có thị trường ruộng đất nhưng ruộng đất vẫn không được tích tụ cho dù đã có nhiều người tuy là chủ đất nhưng đã chuyển sang làm những nghề phi nông nghiệp Để giải quyết tình trạng này, năm 1983 Đài loan công
bố Luật phát triển nông nghiệp trong đó công nhận phương thức sản xuất uỷ thác của các hộ nông dân Có nghĩa là nhà nước công nhận sự chuyển quyền
sử dụng ruộng đất cho các hộ khác nhưng chủ ruộng cũ vẫn được thừa nhận quyền sở hữu, ước tính đã có tới trên 75% số trang trại áp dụng phương thức này để mở rộng quy mô ruộng đất sản xuất Ngoài ra để mở rộng quy mô sản xuất các trang trại trong cùng thôn xóm còn tiến hành các hoạt động hợp tác như làm đất, mua bán chung một số vật tư, sản phẩm nông nghiệp Nhưng không chấp nhận phương thức tập trung ruộng đất, lao động để sản xuất [2]
d Inđônêsia: Đồng bằng Java của Inđônêsia cũng là nơi có tình trạng
manh mún về ruộng đất Mật độ dân số của đồng bằng này thậm chí còn cao hơn cả Đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) của chúng ta Năm 1963, số trang trại
có quy mô ruộng đất nhỏ hơn 0.5 ha chiếm đến trên 52% trong tổng số 7.9 triệu nông hộ ở đây, trang trại có từ 0.5 đến 1.0 ha chiếm 27%, loại trang trại
có 4 đến 5 ha chỉ có 0.4% Trong khi đó 40% số trang trại là người đi thuê chứ không phải là chủ đất (JL Maurer, 1986, nghiên cứu qui mô ruộng đất
Trang 31Inđônêsia ) Tình trạng này đã ảnh hưởng nhiều đến việc áp dụng các tiến bộ
kỹ thuật của cuộc cách mạng xanh thời đó ở Inđônêsia nói riêng và Đông nam á nói chung có sự gia tăng về áp lực dân số trên ruộng đất, nhưng sự phân cực giữa các loại nông hộ ít sảy ra, các trang trại quy mô lớn đến hàng chục hectare xuất hiện chỉ là cá biệt, mặc dù số nông dân không có ruộng đất vẫn tăng lên Và như vậy ruộng đất vẫn không tập trung được vào một số trang trại lớn và chỉ trao đổi giữa các chủ nhỏ Thậm chí người ta còn thấy quy mô ruộng đi thuê ở tất cả các nhóm hộ đều giảm xuống Giá ruộng đất (địa tô) thì vẫn tăng lên, nhưng lãi từ việc đầu tư thêm lao động lại giảm xuống Điều này làm thay đổi một loạt các thể chế ở nông thôn, chủ yếu là
sự gia tăng của số hộ cho thuê đất Như vậy thị trường ruộng đất đã không vận hành hoàn toàn theo logic về mặt kinh tế [2]
đ Thái Lan: Đồng bằng Chao phraya của Thái Lan có sức ép về dân số
thấp hơn so với các nước khác Quá trình phân nhỏ ruộng đất tuy chưa đến mức quá manh mún nhưng nó lại có một nguyên nhân khác đó chính là việc xây dựng siêu đô thị Bankok Một sự phát triển theo chiều thuận là công nghiệp
sẽ rút bớt lao động nông thôn ra thành thị làm cho quy mô ruộng đất nông nghiệp tăng lên Tuy nhiên ở Chao phraya lại khác, cách đây khoảng 120 năm vùng này dân cư vẫn còn thưa thớt, cả vùng có đến 2 triệu ha đất nhưng dân cư chỉ có khoảng trên 300 ngàn người Nhưng việc bắt đầu xây dựng đô thị khổng lồ Bankok kể từ vài chục năm gần đây đã làm cho dân số vùng tăng nhanh bình quân 3% năm Đất nông nghiệp mất đi trung bình 1% mỗi năm kể
từ năm 1970 trở lại đây Các trang trại bị chia nhỏ giảm dần về quy mô ruộng
đất Trung bình một hộ năm 1950 có 4.8 ha, đến năm 1963 còn 4.5 ha, năm
1978 là 4.1 ha và 15 năm sau, năm 1993, chỉ còn 3.5 ha Sự giảm quy mô trung bình ruộng đất ở Thái Lan một phần còn được giải thích bởi sự chia đều ruộng
đất cho con cái thừa kế và sự chậm tiến bộ về mặt công nghệ, kỹ thuật sản xuất Giai đoạn 20 năm từ 1955 đến 1975 là giai đoạn giá nông sản (lúa) khá thấp, công nghệ sản xuất ‘bão hoà’ không khuyến khích tập trung ruộng đất
Trang 32Trên thực tế, giá nông sản thấp và sự bần cùng hoá nông dân luôn đi cùng với
sự chia nhỏ quy mô sản xuất bởi vì lợi ích đầu tư ruộng đất lúc đó không cao, bởi vì người ta cần chia nhỏ và đa dạng hoạt động để tránh rủi ro và cũng còn bởi vì thiếu những người có đủ tiền bạc, thực lực để mua đất vào
2.2.3 Tình hình nghiên cứu dồn điền đổi thửa ở nước ta
Những ví dụ về công tác dồn điền đổi thửa của một số nước tuy còn
chưa nhiều như đã nêu trên đây, nhưng cũng đủ cho thấy tính chất phức tạp cả về nguyên nhân và cách giải quyết tình trạng manh mún ruộng đất trong nông nghiệp Riêng ở Việt Nam chúng ta và đặc biệt là ở đồng bằng sông Hồng vấn đề này đã được đề cập đến như thế nào?
2.2.3.1 Thực trạng ruộng đất ở nước ta
Sau khi giải phóng miền Nam, Chỉ thị của Bộ chính trị số 57-CT/TƯ ngày 15/11/1978, các chỉ thị của Ban Bí thư số 19-CT/TƯ ngày 3/5/1983 và số 100-CT/TƯ ngày 13/1/1981 đã đề ra những chủ trương: xoá bỏ các hình thức bóc lột của phú nông, tư sản nông thôn và tàn dư bóc lột phong kiến, tịch thu ruộng đất của ngụy quân, ngụy quyền và tay sai ác ôn đem chia cho nông dân,
điều chỉnh ruộng đất vượt quá mức lao động của những hộ trung nông lớp trên, nhường cho các gia đình bần nông, trung nông nghèo và gia đình thương binh liệt sĩ theo tinh thần "nhường cơm, xẻ áo" trong nội bộ nông dân lao động, ruộng khoán đến hộ và người lao động[3] Trong giai đoạn hiện nay khi đất nước đang trong quá trình đổi mới, Đại Hội VIII của Đảng đã ra Nghị quyết về Công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong đó trọng tâm là CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn "Nội dung cơ bản của CNH, HĐH trong những năm còn lại của thập kỷ 90 là: Đặc biệt coi trọng CNH,HĐH nông nghiệp và nông thôn, phát triển toàn diện nông lâm ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biến nông, lâm, thuỷ sản, phát triển các ngành nghề, làng nghề truyền thống " Bước sang thế kỷ XXI, Đại hội IX của Đảng nêu ra nhiệm vụ trọng tâm là tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh Công nghiệp hoá, hiện đại hoá vì mục tiêu dân
Trang 33giầu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Đại hội đã quyết
định đường lối, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội nước ta trong 10 năm (2001 - 2010), trong đó nông nghiệp, nông thôn được quan tâm đặc biệt "Đẩy nhanh CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn theo hướng hình thành nền nông nghiệp hàng hoá lớn phù hợp với nhu cầu thị trường và điều kiện sinh thái của từng vùng Đưa tiến bộ khoa học và công nghệ vào sản xuất, xây dựng hợp lý cơ cấu sản xuất nông nghiệp "[32] Tuy nhiên trong quá trình CNH, HĐH nông nghiệp thì chúng ta lại vấp phải vấn đề về ruộng đất đó là ruộng đất manh mún, phân tán đã gây trở ngại cho quá trình CNH, HĐH nông nghiệp
a- Thực trạng manh mún ruộng đất sau khi thực hiện Nghị định 64/CP
Ngày 27/9/1993, Chính phủ ban hành Nghị định 64/CP “ban hành bản quy định về việc giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn
định lâu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp”
Nghị định 64/CP quy định: Hộ gia đình, cá nhân được nhà nước giao
đất nông nghiệp để sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp Toàn bộ quỹ đất nông nghiệp đang sử dụng được giao cho hộ gia
đình, cá nhân sản xuất nông nghiệp, trừ đất giao cho các tổ chức, đất dùng cho nhu cầu công ích của xã Đất nông nghiệp giao cho hộ gia đình, cá nhân
sử dụng vào mục đích nông nghiệp bao gồm: đất nông nghiệp trồng cây hàng năm, đất nông nghiệp trồng cây lâu năm, đất có mặt nước nuôi trồng thuỷ sản Các loại đất này gồm cả đất làm kinh tế gia đình trước đây được hợp tác xã giao, đất vườn, đất xâm canh Đối với những loại đất nông nghiệp không thể giao cho từng hộ gia đình, cá nhân thì cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân thuê để sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp Trong quy định này còn nêu rõ: Nguyên tắc giao đất nông nghiệp; thời hạn giao đất; hạn mức giao đất nông nghiệp; Đối tượng giao đất nông nghiệp; Cách giao đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ); Giải quyết đất vượt hạn mức;
Trang 34Đất dành cho nhu cầu công ích của xã
Theo số liệu tổng hợp của Bộ Tài nguyên và Môi trường tính đến nay cả nước đã cơ bản hoàn thành việc giao ruộng đất cho hơn 11 triệu hộ nông dân sử dụng đất nông nghiệp và GCNQSDĐ cho hộ nông dân đạt 91,74% về
số hộ và 87,02% về diện tích đất nông nghiệp[5] Kết quả đó đã tác động tích cực, thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển làm tăng tổng sản phẩm nông nghiệp, nhất là sản lượng lương thực trong những năm qua, góp phần quan trọng vào sự tăng trưởng kinh tế, ổn định chính trị, xã hội của cả nước và đổi mới nhanh chóng bộ mặt nông thôn
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được thì tình trạng manh mún ruộng đất đã và đang bộc lộ những ảnh hưởng đến sự phát triển sản xuất trong nông nghiệp, làm cho chủ sử dụng đất không thể áp dụng khoa học tiến
bộ vào sản xuất nông nghiệp, cản trở sự nghiệp hiện đại hoá sản xuất nông nghiệp ở nông thôn
Trong quá trình thực hiện nghị định 64/CP ngày 27/9/1993 của Chính phủ, phần lớn các địa phương kế thừa từ việc giao khoán ruộng đất của các hợp tác xã, tập đoàn sản xuất nông nghiệp theo Nghị quyết 10 NQ-TƯ ngày 5/4/1998 của Bộ Chính trị, trong nông nghiệp gọi là “khoán 10” Ruộng đất ở các địa phương hầu như được giữ nguyên như trong khoán cho các hộ, chỉ có
điều chỉnh chút ít, rút của hộ thừa và bù cho hộ thiếu; có một số địa phương
rũ ra chia lại với phương châm: “Rũ nhưng không rối”, nhưng số địa phương làm được như vậy không nhiều, mặt khác chính quyền đã thừa nhận và công
bố thời hạn sử dụng đất, quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất (hộ gia
đình, cá nhân)
Quĩ đất 5% dành cho nhu cầu công ích của các xã, hầu hết các địa phương đã chuyển từ quỹ đất vòng II của Hợp tác xã nông nghiệp (HTX), trước đây giao khoán cho các hộ có lao động, vốn, có khả năng thâm canh, với mức giao khoán cao hơn mức khoán bình quân khoảng 30% để làm nghĩa
Trang 35vụ với Nhà nước và bù đắp cho quĩ đất cơ bản (quĩ đất vòng I, giao khoán cho nhân khẩu) Quỹ đất này thường giao khoán hoặc cho các hộ đấu thầu, đồng thời quỹ đất không tập trung hầu hết là phân tán, xen kẽ trong đất giao ổn
b- Mức độ manh mún ruộng đất hiện nay thể hiện ở một số điểm sau
- Tình trạng manh mún ruộng đất hiện nay tập trung chủ yếu ở các loại
đất trồng cây hàng năm như: Đất trồng lúa; đất trồng rau, màu, cây công nghiệp ngắn ngày và các cây hàng năm khác Loại đất càng tốt, có điều kiện thâm canh càng cao thì càng bị phân chia manh mún
Biểu hiện đặc trưng của sự manh mún là: ruộng đất bị “Băm nhỏ” để chia đều cho các hộ gia đình; một hộ sử dụng rất nhiều thửa đất nằm rải rác trên tất cả các cánh đồng của mỗi thôn, xóm, ấp bản Kích thước rất đa dạng; diện tích bình quân/thửa đất lúa phổ biến là từ 200 - 400 m2, riêng các tỉnh Nam Bộ từ 2.000 – 4.000 m2; diện tích đất trồng rau màu và các cây công nghiệp ngắn ngày bình quân/thửa phổ biến từ 100 - 300 m2, cá biệt một số vùng thuộc các tỉnh phía Nam có mức bình quân diện tích thửa lên đến hàng nghìn m2 Tuy vậy, số lượng thửa có diện tích <100 m2 ở các tỉnh phía Bắc
Trang 36cũng chiếm một tỷ lệ không nhỏ từ 3% - 10% tổng số thửa; thậm chí có nhiều trường hợp nhất là đất mạ, diện tích thửa dưới 10 m2 Có những thửa chiều dài đến vài chục mét nhưng chiều rộng chỉ có từ 30 - 50 cm
Bảng 2.1 cho ta thấy mức độ manh mún ruộng đất ở các vùng có sự khác nhau ở vùng Đông Nam Bộ và vùng đồng bằng Sông Cửu Long, mức
độ manh mún thường ít hơn và bình quân tổng số thửa/hộ thường nhỏ hơn so
với các tỉnh thuộc Miền núi - Trung du, đồng bằng Bắc Bộ, khu Bốn cũ
Bảng 2.1 Mức độ manh mún ruộng đất canh tác ở các vùng
(số thửa trên hộ và diện tích bình quân của thửa)
Tổng số thửa Bình quân/hộ
Diện tích bình quân/ thửa
(m 2 ) Vùng
Trung bình Cá biệt Đất lúa Đất rau màu
1 Miền núi – trung du 10-20 150 150-300 100-150
(Nguồn: Báo cáo thực trạng tình hình manh mún ruộng đất hiện nay và việc
chuyển đổi ruộng đất giữa các hộ nông dân ở một số địa phương - Tổng cục
địa chính nay là Bộ Tài nguyên và Môi trường, 1997)
Bảng 2.2 Mức độ manh mún đất đai ở một số tỉnh thuộc vùng
Nhỏ nhất
Lớn nhất
Trung bình
Trang 3718,0 17,0 47,0 19,0 37,0 24,0
6,8 11,0 9,0 5,7 8,2 8,0
20,0 10,0 10,0 10,0 14,0 5,0
5868,0 1000,0 1265,0 4224,0
228,0288,0
(Nguồn: Viện QH và TKNN, 2002)
Qua bảng 2 cho thấy tình hình manh mún ở 7 tỉnh trong số 11 tỉnh của
đồng bằng sông Hồng đã thể hiện rất mức độ manh mún này Cụ thể là có sự khác biệt đáng kể giữa các tỉnh và còn cao hơn số liệu tổng hợp năm 1997 Trung bình số thửa trên một hộ thấp nhất là 5,7 (Nam Định) và cao nhất là 11 thửa (Hải Dương) Cá biệt ở Vĩnh Phúc có hộ quản lý đến 47 thửa Diện tích thửa nhỏ nhất cũng có sự khác biệt giữa các tỉnh Ninh Bình có hộ sử dụng thửa đất 5m2, trong khi đó trung bình các thửa nhỏ nhất từ 10- 20m2 và thửa lớn nhất có diện tích 5.868 m2
Tình trạng manh mún ruộng đất của nông hộ luôn có mối quan hệ tương tác giữa quá trình tập trung ruộng đất ở cấp nông hộ và quá trình tập trung hay chia nhỏ diện tích các mảnh ruộng [8] Nói cách khác quá trình DĐĐT
có thể thúc đẩy hoặc hạn chế quá trình tập trung ruộng đất và ngược lại Trong đồng bằng sông Hồng sự manh mún ruộng đất cấp nông hộ thể hiện ở các đặc điểm như:
- Diện tích canh tác bình quân trên hộ hay trên lao động rất thấp (chỉ khoảng 0,25 ha/hộ)
- Số lượng các hộ có diện tích từ 1 ha trở lên không đáng kể (chưa đầy 15%) đa số có diện tích nhỏ hơn 0,50 ha
- Bình quân diện tích canh tác trên hộ và trên khẩu luôn có xu thế giảm
do sự mất đất nông nghiệp và sự gia tăng của dân số nông thôn
Bảng 2.3 Quy mô và sự thay đổi quy mô đất nông nghiệp ở nông hộ (%)
Trang 38Nguồn: TCTK, Kết quả tổng điều tra NN, NT và TS 2001 (2003)
Riêng đối với quỹ đất dành cho công ích xã mỗi nơi để một cách khác nhau Một số địa phương đã chú trọng dành tập trung ở một số cánh đồng thuộc mỗi thôn, tuy nhiên đại đa số các xã còn để phân tán rải rác ở các cánh đồng và
“đầu thừa đuôi thẹo” của các thửa đất lớn trước đây không chia hết cho các hộ gia đình Một số địa phương do chia đều quỹ đất này cho các hộ gia đình nên diện tích đất công ích được chia lẫn với diện tích giao lâu dài cho hộ gia đình
Đặc biệt một số tỉnh miền núi phía Bắc, quỹ đất công ích chỉ để trên giấy tờ,
đến mùa vụ sẽ thu thêm sản lượng của hộ gia đình cho công ích xã
2.2.3.2 Nguyên nhân, hạn chế của ruộng đất manh mún
- Nguyên nhân Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng ruộng đất manh
mún, cụ thể như sau:
- Chủ trương chỉ đạo của nhà nước về giao đất trên cơ sở hiện trạng
để đảm bảo đoàn kết, ổn định nông thôn
Nguồn gốc sâu xa của tình trạng manh mún ruộng đất hiện nay là sự
kế thừa kết quả phân chia ruộng đất ở các HTX cho các hộ nông dân khi thực hiện Chỉ thị 100 của Ban Bí thư và Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị khoá VI, kết hợp với việc điều chỉnh lại theo Nghị định 64/CP: Hộ nhiều ruộng thì lấy
ra cho hộ không có ruộng; hộ ít ruộng thì được chia bổ sung
Trang 39Trong quá trình thực hiện chuyển đổi cơ chế khoán sang hình thức giao ổn định lâu dài Vào những năm 1990, 1991, 1992 một số địa phương đã
có chủ trương khắc phục tình trạng manh mún ruộng đất bằng cách “rũ ra chia lại”, nhưng gặp nhiều khó khăn do tình trạng đòi lại ruộng đất cũ tạo nên bối cảnh tranh chấp đất đai rất gay gắt Nghị định 64/CP của Chính phủ
đã có chủ trương thực hiện giao ruộng đất cho nông dân sử dụng ổn định lâu dài trên cơ sở hiện trạng đang sử dụng và vận động, tạo điều kiện cho các hộ chuyển đổi ruộng đất Tuy nhiên chủ trương này trên thực tế đã không được nông dân hưởng ứng nên đã không đem lại hiệu quả đáng kể nào
- Công tác quy hoạch sử dụng đất chậm được triển khai
Do thực hiện giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình cá nhân phải triển khai, hoàn thành gấp rút theo kế hoạch của Hội đồng nhân dân và UBND các cấp; hầu hết các địa phương đều triển khai thực hiện giao đất nông nghiệp trong điều kiện chưa lập quy hoạch sử dụng đất chi tiết ở cấp xã, nhu cầu sử dụng đất cho các mục đích kinh tế xã hội chưa được xác định cụ thể, vì vậy nhiều diện tích đất nông nghiệp trong dự kiến chuyển mục đích phải dành lại
để lập quỹ đấu thầu; Một số trường hợp do quy hoạch làm chậm nên ruộng
đất đã giao rồi nhưng khi cấp giấy chứng nhận lại cắt bớt diện tích lại để quy hoạch Cũng do chưa làm tốt việc quy hoạch quỹ đất dành cho công ích của xã nên một số tỉnh đã để đất công ích một cách tuỳ tiện, manh mún, không tính tới các điều kiện hợp lý để tổ chức sản xuất có hiệu quả cao
- Tư tưởng, tâm lý và trình độ nhận thức hạn chế của nông dân về đòi hỏi sự công bằng trong phân chia và giao ruộng đất
Trong quá trình giao ruộng đất, công tác phân hạng đất làm cơ sở cho
sự phân chia ruộng đất công bằng thì lại chưa được thực hiện; với trình độ có hạn, người nông dân không có cách nào khác là tổ chức phân chia đều từng loại đất trên từng cánh đồng, từng loại đất tốt xấu theo năng suất sản lượng hàng năm Do trình độ nhận thức của nông dân còn hạn chế, đòi hỏi công
Trang 40bằng trong phân chia ruộng đất chỉ đơn giản là phải chia đều mọi người đều phải có ruộng tốt, xấu, có xa, có gần
Hình thức phân chia này cũng phần nào chịu ảnh hưởng bởi gánh nặng tâm lý lo ngại thiên tai dịch hoạ nếu xảy ra thì có thửa mất mùa nhưng còn có thu hoạch để đảm bảo đời sống
- Hạn chế của tình trạng ruộng đất manh mún và những nhu cầu mới đặt ra
Chúng ta biết rằng Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn là một nội dung lớn bao gồm nhiều mặt, nhiều khía cạnh, nhiều nội dung hoạt động hiện nay vẫn đang còn là vấn đề cần được làm rõ; công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn không thể tách rời giữa sản xuất nông sản hàng hoá với vấn đề tiêu thụ nông sản, sản phẩm hàng hoá nông sản phải có sức cạnh tranh cao[9] Đây cũng là mục tiêu đặt ra đối với người sản xuất hàng hoá nói chung và nông sản hàng hoá nói riêng trong xu thế hội nhập
Tuy nhiên, để sản xuất được hàng hoá có giá thành rẻ đòi hỏi phải giảm chi phí đầu vào, chi phí này bao gồm cả chi phí vật chất và chi phí lao
động Mặt khác để hàng hoá có sức cạnh tranh trên thị trường thì ngoài giá thấp, sản phẩm phải có chất lượng cao, phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng, những yêu cầu này không thể sản xuất trong điều kiện mỗi hộ có nhiều thửa, thửa đất quá nhỏ và phân tán như hiện nay
Như vậy, một vấn đề đặt ra là tình trạng manh mún đất đai đang hạn chế và cản trở đến quá trình phát triển sản xuất hàng hoá, đến sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn cần phải được xem xét giải quyết một cách nghiêm túc Các kết quả điều tra, khảo sát, đánh giá kết quả thực hiện DĐĐT ở một số tỉnh đã cho thấy tình trạng manh mún đất đai
ảnh hưởng đến quá trình sản xuất, phát triển nông nghiệp như sau:
1/- Hạn chế khả năng cơ giới hoá nông nghiệp