luận văn
Trang 1I- mở đầu
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Nước ta là nước nông nghiệp nhiệt đới, quanh năm bốn mùa luôn luôn
có sản phẩm thu hoạch từ nông nghiệp, song tính chất thời vụ trong sản xuất cũng như thu hoạch là một đặc thù trong sản xuất nông nghiệp đòi hỏi sau thu hoạch phải bảo quản, chế biến để nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm Việc
đảm bảo và kéo dài thời gian sử dụng và nâng cao chất lượng nông sản có ý nghĩa rất to lớn, nhiệm vụ của sản xuất nông nghiệp không chỉ hoàn thành về mặt số lượng mà còn phải đảm bảo các chỉ tiêu về chất lượng Chất lượng nông sản phẩm tốt sẽ kéo dài thời gian sử dụng và giảm bớt sự chi tiêu của nhà nước, hạ thấp được mức thiệt hại có thể xảy ra
Công nghiệp và nông nghiệp có mối quan hệ mật thiết với nhau đặc biệt
là công nghiệp chế biến nông sản và sản xuất nông nghiệp Những năm gần
đây sản xuất nông nghiệp đã có những bước tiến vượt bậc vì thế thúc đẩy công nghiệp phát triển và ngược lại công nghiệp chế biến đã tạo điều kiện thuận lợi kích thích sản xuất nông nghiệp đi lên sản xuất hàng hoá quy mô lớn Nước ta
đang từng bước thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn nhằm tạo ra các sản phẩm đồng loạt, giá thành hạ với khối lượng ngày càng tăng Thế nhưng có một thực tế là người nông dân được mùa mà không vui, thu hoạch tăng mà vẫn nghèo túng Tình hình này kéo dài có thể dẫn đến hậu quả triệt tiêu động lực sản xuất nông nghiệp, người nông dân bỏ ruộng bỏ vườn và sản xuất nông nghiệp sẽ sa sút, đình đốn Để hạn chế những ảnh hưởng đó con đường đúng nhất là nước ta phải đẩy mạnh chế biến nông sản ngay trong các hộ nông dân thành những sản phẩm nông nghiệp hàng hoá Sản phẩm của nông nghiệp là sản phẩm tươi sống, mau hư chóng thối và có tính thời vụ cao vì thế nên cần phát triển công nghiệp chế biến để giải quyết tốt việc dự trữ, làm tăng giá trị của nông sản, đồng thời tạo việc làm tăng thu nhập cho người lao động
Trang 2Vậy chế biến nông sản thực chất là gì? chế biến nông sản là một phạm trù của lĩnh vực sản xuất vật chất, là một giai đoạn trong quá trình sản xuất ra vật phẩm tiêu dùng, có vai trò quan trọng của nền kinh tế Hiện nay các ngành chế biến nông sản (theo nghĩa rộng bao gồm cả chế biến nông-lâm-thuỷ sản) chiếm trên 40% giá trị tổng sản lượng, 45% tổng số lao động, 25% tổng số vốn của toàn ngành công nghiệp cả nước và chiếm 30% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu cả nước Ngoài ra, chế biến nông sản còn đáp ứng nhu cầu tiêu dùng sản phẩm đa dạng của đời sống xã hội
Trong quá trình phát triển và đổi mới, chế biến nông sản được xuất hiện
ở nhiều khâu, dưới nhiều hình thức tổ chức với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế có quan hệ chặt chẽ với nhau trong khu vực chế biến thủ công và chế biến công nghiệp Hiện nay, Bộ đã và đang chỉ đạo xây dựng các chương trình đầu tư công nghiệp và chế biến đổi mới một số ngành hàng nông sản quan trọng đáp ứng yêu cầu của thị trường trong nước và xuất khẩu, giải quyết công ăn việc làm cho người lao động, chuyển dịch cơ cấu kinh tế như chương trình 1 triệu tấn đường, chương trình chế biến rau quả, chương trình 1 triệu tấn muối, chương trình sản xuất chế biến chè, chương trình chế biến sản phẩm gỗ Chế biến nông sản ngày càng tỏ ra là một lĩnh vực kinh tế phát triển có hiệu quả Tuy vậy trong quá trình phát triển, lĩnh vực kinh tế này còn gặp nhiều khó khăn và còn nhiều tồn tại chưa phù hợp với tình hình sản xuất kinh doanh mới, vai trò của vùng nguyên liệu còn mờ nhạt, kỹ thuật công nghệ phần lớn là cũ kỹ, lạc hậu Để khắc phục khó khăn trên, Đảng và Nhà nước ta
đã đề ra chính sách dựa vào nội lực là chính, đồng thời phải tranh thủ tối đa các nguồn lực từ bên ngoài, phát huy tiềm năng của các thành phần kinh tế Trong đó kinh tế Nhà nước giữ vai trò cơ bản, cùng với kinh tế tập thể ngày càng vững chắc, phát triển mạnh mẽ kinh tế hộ sản xuất hàng hoá, các loại hình doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp vừa và nhỏ
Từ những lý do trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Đánh giá hiệu quả kinh tế trong hoạt động chế biến một số loại nông sản
Trang 3phẩm của hộ nông dân ở tỉnh Hưng Yên”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
1.2.1 Mục tiêu chung
- Đánh giá hiệu quả kinh tế trong quá trình chế biến nông sản phẩm của các hộ nông dân, từ đó chỉ ra những thuận lợi, khó khăn trong quá trình chế biến nông sản mà các hộ nông dân đang gặp phải Qua nghiên cứu, luận án phải đề xuất được một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế trong quá trình chế biến nông sản ở các hộ gia đình nông dân ở địa bàn nghiên cứu
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn về hiệu quả kinh tế nói chung
và hiệu quả kinh tế trong chế biến nông sản phẩm của hộ nông dân nói riêng trên địa bàn một số huyện thuộc tỉnh Hưng Yên
- Phân tích đánh giá thực trạng chế biến một số loại nông sản trong các
hộ gia đình nông dân ở các huyện Yên Mỹ, Khoái Châu thuộc tỉnh Hưng Yên
Đánh giá hiệu quả kinh tế của quá trình chế biến một số loại nông sản chủ yếu như: táo quả, vải thiều, xay xát gạo, và một số cây dược liệu đã và đang được chế biến trong các hộ gia đình nông dân ở các huyện nói trên
- Qua nghiên cứu, phân tích từ đó đề xuất những những định hướng và một số giải pháp chủ yếu, cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế trong quá trình chế biến nông sản trong hộ nông dân
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về hiệu quả kinh tế trong quá trình chế biến nông sản phẩm của hộ nông dân ở các huyện Yên Mỹ và Khoái Châu thuộc tỉnh Hưng Yên
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Không gian: Một số xã, huyện có cơ sở chế biến nông sản phẩm thuộc tỉnh Hưng Yên, cụ thể là huyện Yên Mỹ, Khoái Châu
- Thời gian: Từ 12/11/2003 đến 10/2004
Trang 42 Tổng quan tài liệu nghiên cứu
2.1 Các vấn đề lý luận
2.1.1 Cơ sở lý luận và các quan điểm về hiệu quả kinh tế
- Khái niệm: Hiệu quả kinh tế là một phạm trù phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động kinh tế Nâng cao chất lượng các hoạt động kinh tế nghĩa là tăng cường trình độ tận dụng các nguồn lực sẵn có của các hoạt động kinh tế
Đây là đòi hỏi khách quan của mọi nền kinh tế-xã hội do nhu cầu vật chất trong cuộc sống của con người ngày càng tăng
- Về hiệu quả kinh tế, các nhà kinh tế ở nhiều nước khác nhau đã có nhiều quan điểm khác nhau nhưng chủ yếu theo 3 quan điểm sau:
+ Hệ thống quan điểm thứ nhất cho rằng hiệu quả kinh tế được xác định bởi tỷ số giữa kết quả đạt được và các chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó
H =
C Q
động được hiệu suất lao động Nhiều nhà kinh tế cũng thể hiện quan điểm này
+ Hệ thống quan điểm thứ 2: Theo Nguyễn Đình Hợi cho rằng hiệu quả kinh tế được đo bằng hiệu số giữa giá trị sản xuất đạt được và số lượng chi phí
bỏ ra để đạt được kết quả đó [6, tr 18]
Hiệu quả kinh tế = Kết quả sản xuất - Chi phí bỏ ra
Trang 5Tác giả Đỗ Khắc Thịnh cũng cho rằng: Thông thường hiệu quả kinh tế
được biểu hiện như một số giữa kết quả và chi phí Tuy nhiên trong thực tế có nhiều trường hợp không thực hiện được phép trừ hoặc phép trừ không có ý nghĩa Do vậy nói một cách linh hoạt hơn hiệu quả là kết quả tốt phù hợp với mong muốn và hiệu quả có nghĩa là không lãng phí [12, tr 190] Đánh giá hiệu quả kinh tế theo quan điểm này thì chưa xác định rõ ràng năng suất lao
động xã hội và không thấy được khả năng cung cấp vật chất cho xã hội của các cơ sở sản xuất khác nhau là khác nhau khi có cùng hiệu số của kết quả và chi phí như nhau
+ Hệ thống quan điểm thứ 3 xem xét hiệu quả kinh tế trong phần biến
động giữa chi phí và kết quả sản xuất Theo tác giả Ngô Đức Cát hiệu quả kinh tế thể hiện ở quan hệ tỷ lệ giữa phần tăng thêm của kết quả và phần tăng thêm chi phí của chi phí hay quan hệ tỷ lệ giữa kết quả bổ sung và chi phí bổ sung[2, tr 54] Một số ý kiến chú ý đến quan hệ tỷ lệ giữa mức độ tăng trưởng kết quả sản xuất với mức độ tăng trưởng chi phí của nền sản xuất xã hội
Hiệu quả kinh tế =
C
K
∆
∆
∆K: Phần tăng thêm của kết quả sản xuất
∆C: Phần tăng thêm của chi phí sản xuất
Đánh giá hiệu quả kinh tế theo quan điểm này khá phức tạp ở một số lĩnh vực sản xuất kinh doanh, tuy nhiên theo quan điểm này vẫn chưa thật đầy
đủ Trong thực tế kết quả sản xuất luôn là hệ quả của cả chi phí có sẵn (chi phí ban đầu) cộng với chi phí bổ xung sẽ khác nhau Tính biện chứng thống nhất của các sự vật hiện tượng đòi hỏi khi nghiên cứu phải đảm bảo một chừng mực nhất định, sự tương ứng đó nếu không sẽ dẫn đến kết luận sai lạc với sự vận
động vốn có của nó
Ngoài những hệ thống quan điểm trên, còn có những ý kiến, quan điểm nhìn nhận hiệu quả kinh tế trong tổng thể nền kinh tế xã hội Chẳng hạn theo
Trang 6quan điểm tính hiệu quả của Các Mác thì quy luật kinh tế đầu tiên trên cơ sở sản xuất tổng thể là quy luật tiết kiệm thời gian và phân phối một cách có kế hoạch thời gian lao động theo các ngành sản xuất khác nhau Trên cơ sở thực hiện vấn đề “ Tiết kiệm và phân phối một cách hợp lý thời gian lao động giữa các ngành”, theo quan điểm của Các Mác đó là quy luật tiết kiệm, là “tăng năng suất lao động xã hội, hay đó là tăng hiệu quả”[1, tr 122] Như vậy, theo quan điểm của Các Mác tăng hiệu quả phải được hiểu rộng và nó bao hàm cả việc tăng hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội
Các nhà khoa học kinh tế Samuelson-Nordhuas cho rằng: “ hiệu quả có nghĩa là không lãng phí” Nghiên cứu hiệu quả sản xuất phải xét đến chi phí cơ hội “ Hiệu quả sản xuất diễn ra khi xã hội không thể tăng sản lượng hàng hoá này mà không cắt giảm một loại hàng hoá khác Mọi nền kinh tế có hiệu quả nằm trên đường giới hạn khả năng sản xuất của nó”[10, tr 48-49]
Tóm lại, qua phân tích ở trên cho thấy có nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả kinh tế, nhưng các quan điểm này đều thống nhất nhau ở bản chất của nó Người sản xuất muốn thu được kết quả thì phải bỏ ra những chi phí nhất định, những chi phí đó là nhân lực, vật lực, vốn v.v So sánh kết quả đạt
được với chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó thì sẽ có hiệu quả kinh tế Tiêu chuẩn của hiệu quả kinh tế là sự tối đa hoá với một lượng chi phí định trước hoặc tối thiểu hoá chi phí để đạt được một kết quả nhất định
2.1.2 Cơ sở lý luận về chế biến nông sản phẩm
2.1.2.1 Vai trò của chế biến nông sản phẩm
Công nghệ chế biến làm tăng giá trị của nông sản phẩm và kéo dài thời gian sử dụng vì sản phẩm sau khi qua chế biến có thể cất trữ lâu dài, vận chuyển được đi xa mà không bị hư hỏng Chính vì thế mà công nghệ chế biến nông sản trong các hộ gia đình nông dân nói riêng và chế biến với qui mô công nghiệp nói chung có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế xã hội So với nhiều ngành công nghiệp khác thì nó không đòi hỏi vốn quá lớn, mặt bằng và
Trang 7địa bàn sản xuất có thể tận dụng ngay trong các hộ gia đình nông dân, chúng
ta có thể xây dựng nhanh công trình và đưa cơ sở mới vào hoạt động, và cũng
có thể nhanh chóng dẹp bỏ để nhường chỗ cho những hoạt động khác mà không gây tốn kém về công sức và tài chính, mặt khác vốn được chu chuyển nhanh phù hợp với tình trạng thiếu vốn hiện nay của các hộ nông dân nhờ đó
mà mà giải quyết được những khó khăn cho các hộ gia đình nông dân ở nông thôn hiện nay đồng thời tạo cơ sở cho quá trình tích luỹ vốn cho sự nghiệp CNH - HĐH đất nước, cụ thể quá trình chế biến nông sản trong các hộ nông dân có những vai trò sau:
- Giữ và kéo dài thời gian sử dụng cũng như chất lượng của sản phẩm nông nghiệp
- Tạo việc làm và nâng cao thu nhập cho lao động nông nghiệp vốn
đang dư thừa ở các vùng nông thôn hiện nay
- Làm phong phú và đa dạng các sản phẩm nông nghiệp để đáp ứng ngày càng cao nhu cầu tiêu dùng của thị trường trong nước cũng như quốc tế
- Thông qua chế biến, làm tăng giá trị và khả năng cạnh tranh của sản phẩm nông nghiệp
- Phát triển mạnh chế biến nông sản là động lực để thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển Vì nó giải quyết được vấn đề hết sức cơ bản và quan trọng hiện nay của sản xuất nông nghiệp là đầu ra cho sản phẩm
Các sản phẩm nông nghiệp nói chung và nông sản chế biến nói riêng giữ vai trò quan trọng đối với đời sống hàng ngày của mỗi người dân Nhu cầu xã hội về nông sản ngày một tăng một mặt do dân số không ngừng tăng mặt khác thu nhập bình quân đầu người cũng tăng lên, yêu cầu về số lượng và chất lượng nông sản ngày càng cao Những năm trước đây, người dân chỉ quen dùng các sản phẩm tươi sống, chế biến thô thì nay đã có sự chuyển biến rõ rệt Các sản phẩm chế biến ngày càng giữ vai trò quan trọng trong đời sống của nhân dân như các loại bánh được chế biến từ lúa gạo, nước giải khát từ các
Trang 8loại quả, rau quả đóng hộp … Rõ ràng sự phong phú của các sản phẩm cũng như giá trị dinh dưỡng, sự tiện ích của các sản phẩm chế biến đã thuyết phục người dân tiêu dùng ngày càng nhiều Nhưng vấn đề chế biến nông sản hiện nay ở các hộ nông dân ở Việt Nam còn rất hạn chế cả về số lượng hộ tham gia chế biến cũng như qui mô chế biến, mặt khác công nghệ chế biến còn đơn giản mang tính chất thủ công là chính Bên cạnh đó các yêu cầu khác như chất lượng sản phẩm sau chế biến như độ sạch và an toàn, mẫu mã còn rất hạn chế
đòi hỏi các hộ tham gia chế biến cần đầu tư cải tiến mạnh hơn nữa mới đáp ứng được nhu cầu tăng nhanh của người tiêu dùng, đặc biệt là người tiêu dùng
có thu nhập cao ở các thành phố và các khu công nghiệp
- Chế biến và công nghiệp chế biến nông sản là ngành sản xuất mang tính hiệu quả cao Phát triển mạnh chế biến nông sản tạo nên hiệu quả trong việc hình thành những vùng nông nghiệp chuyên môn hoá, tạo điều kiện thâm canh và áp dụng khoa học kỹ thuật mới
- Chế biến nông sản trong hộ gia đình nông dân nói riêng và công nghiệp chế biến nói chung góp phần quan trọng trong chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp theo hướng công nghiệp hoá nông nghiệp nông thôn Các nước nông nghiệp trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung và cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp nói riêng có ý nghĩa vô cùng to lớn làm thay đổi bộ mặt nông thôn, công nghiệp hoá nông nghiệp nông thôn đang đặt ra vấn đề kết hợp giữa sản xuất và chế biến, giữa trồng trọt chăn nuôi giữa thâm canh và mở rộng kinh doanh tổng hợp Trong đó gắn liền giữa sản xuất với chế biến nông sản và đa dạng hoá ngành nghề là con đường tốt nhất để thúc đẩy kinh tế nông thôn phát triển Kinh nghiệm của các nước trên thế giới cũng như ở các nước trong khu vực cho thấy nếu chỉ có thuần nông, không gắn nông nghiệp với công nghiệp nhất là công nghiệp chế biến nông sản và phát triển mạnh ngành nghề ở nông thôn thì nông dân không thể giầu có, nông thôn không thể phát triển để tiến tới đuổi kịp thành thị Như vậy, quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh
Trang 9tế nông nghiệp nông thôn tất yếu bao hàm cả việc phát triển nông nghiệp với quá trình phát triển chế biến nông sản ở các hộ gia đình nông dân và công nghiệp chế biến với quy mô lớn Chế biến nông sản với quy mô nhỏ và vừa tác
động đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp không chỉ là sự chuyển dịch trong các ngành nông, lâm, ngư nghiệp mà còn bao hàm cả việc mở rộng công nghiệp và dịch vụ, đồng thời kéo theo sự phát triển của các ngành khác như xây dựng kết cấu hạ tầng, giao thông nông thôn, điện lực, thông tin liên lạc Sự tác động của công nghiệp chế biến nông sản vào lĩnh vực sản xuất nông nghiệp gắn với quá trình tổ chức lại và phân công lao động xã hội theo hướng tiến bộ đồng thời nó cũng kéo theo sự phát triển của các ngành khác có liên quan như thương mại dịch vụ để phục vụ cho nhu cầu của phát triển sản xuất nông nghiệp, công nghiệp và nhu cầu vật chất, cũng như tinh thần ngày càng cao của mọi tầng lớp nhân dân
Đối tượng sản xuất của chế biến nông sản là các sản phẩm được cung cấp bởi nông nghiệp Trong ngành chế biến nông sản, thường nguyên liệu chế biến chiếm tới 70-80% giá thành, hơn nữa đối với một số nông sản chỉ có qua quá trình chế biến thì mới đạt đến giá trị thương phẩm và hiệu quả kinh tế như
đường, sữa và khi đó chúng mới thực sự trở thành hàng hoá trao đổi trên thị trường Để vận hành dây truyền công nghệ chế biến một cách đầy đủ và có hiệu quả đòi hỏi phải có nguồn nguyên liệu dồi dào và được cung cấp đều đặn
và như vậy sự phát triển của ngành công nghiệp chế biến nông sản sẽ có điều kiện cải tiến quy trình công nghệ và áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất, ngày càng tạo ra nhiều sản phẩm cho xã hội
- Chế biến nông sản góp phần làm tăng kim ngạch xuất khẩu
Trong nền kinh tế thị trường và đặc biệt là đang trên con đường hội nhập thì sự phát triển của công nghiệp chế biến nông sản là con đường có hiệu quả để tăng kim ngạch xuất khẩu Vai trò này lại càng đóng vai trò quan trọng
đối với các nước đang phát triển như nước ta có nguồn thu nhập ngoại tệ vẫn
Trang 10chủ yếu dựa vào việc xuất khẩu nguyên liệu thô hoặc chỉ mới qua sơ chế Thực tế cho thấy xuất khẩu thô là thua thiệt, người sản xuất chuối ở Malaysia mười năm trước đây chỉ nhận được khoảng 12% giá chuối bán ở thị trường Italia
Trên thị trường quốc tế hiện nay xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp thô chỉ là giải pháp tạm thời và gặp phải cũng không ít khó khăn trong quá trình vận chuyển, bảo quản mà giá bán lại thấp và không ổn định, điều kiện thương mại bất lợi, thế mạnh thuộc về người có vốn, môi trường bị ô nhiễm Qua thực
tế ở các nước trên thế giới cho thấy không một quốc gia nào trở nên giầu có và tăng trưởng bền vững lại chỉ nhờ vào xuất khẩu nguyên liệu thô mà không xây dựng cho mình một nền công nghiệp chế biến phát triển và hoàn thiện Sản phẩm của nông sản đã qua chế biến và được xuất khẩu ra nước ngoài mang lại một nguồn ngoại tệ khá lớn góp phần tích luỹ vốn cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước nói chung và công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nói riêng Mặt khác góp phần giảm bớt sự mất cân đối giữa xuất và nhập khẩu Mặt khác do tác động của chính sách kinh tế mở, các công ty nước ngoài và người nước ngoài vào làm việc càng nhiều, nhu cầu tiêu dùng của nhóm người này và một bộ phận cư dân có liên quan đến họ ngày một tăng lên
và cũng đa dạng và phong phú hơn Vì vậy phát triển công nghiệp chế biến nông sản để tạo ra ngày càng nhiều sản phẩm có chất lượng cao và đa dạng về mẫu mã, chủng loại để đáp ứng tốt hơn nhu cầu của họ cũng có nghĩa là tăng
được lượng sản phẩm nông nghiệp đã qua chế biến được xuất khẩu tại chỗ một cách có hiệu quả Như vậy chế biến nông sản trong các hộ gia đình nói riêng
và công nghiệp chế biến nói chung vừa có vai trò trực tiếp, vừa có vai trò gián tiếp tới sự phát triển nông nghiệp hàng hoá tạo ra cầu nối giữa công nghiệp và nông nghiệp, là khâu đột phá để công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn, từ đó tạo điều kiện thuận lợi để nền nông nghiệp hàng hoá phát triển mạnh mẽ hơn
Trang 11- Hiệu quả đầu tư:
Khác với các ngành công nghiệp khác, công nghiệp chế biến có thể thâm nhập sâu vào vùng nông thôn qua việc sắp đặt vị trí làm việc tại các vùng
đó, sử dụng nguồn lao động dư thừa ở nông thôn, góp phần thay đổi bộ mặt xã hội nông thôn theo hướng CNH-HĐH nông nghiệp nông thôn Công nghiệp chế biến cũng có quan hệ với các ngành kinh tế khác đặc biệt là nông nghiệp Vì vậy đầu tư cho phát triển chế biến và công nghiệp chế biến sẽ thúc đẩy một loạt các ngành khác phát triển, nhanh chóng tạo nguồn vốn tích luỹ trong nước, góp phần thúc đẩy sự nghiệp CNH-HĐH đất nước
- Hiệu quả kinh tế trên cơ sở tăng cường giao lưu hàng hoá và mở rộng thị trường
Với cơ chế thị trường được tự điều tiết bởi các quy luật cạnh tranh, quy luật cung cầu, quy luật giá trị, sản phẩm hàng hoá ngày càng phải đáp ứng nhu cầu của xã hội Thông qua chế biến công nghiệp, nông sản được thể hiện dưới những hình thái hấp dẫn hơn, đa dạng về chủng loại, chất lượng, mẫu mã, bao bì…đáp ứng đòi hỏi của thị trường
Mọi sản phẩm khi dự định sản xuất ra đều phải hướng vào thị trường tiêu thụ, mà đối với nông sản chưa qua chế biến, thị trường tiêu thụ hạn hẹp, hiệu quả kinh tế không cao Vì vậy, với biện pháp chế biến, nông sản phẩm chế biến sẽ có tương lai sáng sủa hơn, cạnh tranh tốt hơn vì được đảm bảo về giá trị dinh dưỡng, giá trị hàng hoá cũng như tiện lợi cho người tiêu dùng
Thị trường tiêu thụ nông sản chế biến bao gồm cả thị trường trong và ngoài nước, đối với thị trường trong nước, sản phẩm nông sản chế biến đáp ứng nhu cầu thông dụng trong nước và có giảm lượng nhập khẩu một số sản phẩm cao cấp như đường, sữa, góp phần tăng tích luỹ nội bộ Đối với thị trường nước ngoài, do nước ta có ưu thế phong phú về chủng loại sản phẩm nông nghiệp nên chế biến sản phẩm để xuất khẩu là khai khác những lợi thế
đó, tất nhiên là tiêu chuẩn hàng hoá đòi hỏi khắt khe hơn về chủng loại, về
Trang 12chất lượng, về bao bì, mẫu mã và về độ an toàn thực phẩm… nhưng giá trị kinh tế đem lại rất cao Thông qua chế biến, nông sản thâm nhập và đáp ứng cả hai thị trường trên nhằm tạo ra hiệu quả kinh tế cao
- Hiệu quả xã hội:
Sản xuất nông nghiệp phân bố trên không gian rộng và phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên lên sự liên kết giữa nông nghiệp và công nghiệp chế biến đã đưa được ngày càng nhiều các cơ sở chế biến vào các vùng chuyên môn hoá Sự phát triển công nghiệp chế biến ở nông thôn có tác động tích cực tới lợi ích cả về kinh tế và xã hội Về mặt xã hội, công nghiệp chế biến thu hút lao động và góp phần giảm bớt tình trạng thất nghiệp ở nông thôn, nâng cao thu nhập cho một bộ phận dân cư và từ đó tạo ra cuộc sống ổn định cho họ, tránh nạn di dân ồ ạt về các thành phố, tạo ra sự cân bằng giữa thành thị và nông thôn về mặt kinh tế xã hội
- Công nghiệp chế biến thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp, phát triển sản xuất nông sản hàng hoá và hình thành vùng chuyên canh quy mô lớn
Nguyên liệu cho công nghiệp chế biến phải tập trung, đồng nhất thì chế biến mới đạt hiệu quả cao Việc phát triển chế biến sản phẩm nào là do nắm bắt nhu cầu của thị trường, cho nên sản xuất nông nghiệp sẽ thay đổi để đáp ứng nhu cầu nguyên liệu của công nghiệp chế biến Khi xây dựng nhà máy chế biến thì vấn đề đầu tiên là phải xây dựng được vùng nguyên liệu cho chế biến để có quy mô và công nghệ hợp lý Quy mô, tốc độ phát triển của chế biến nông sản phụ thuộc vào trình độ, tính chất phát triển của sản xuất nông nghiệp, mặt khác nhờ sự phát triển của chế biến nông sản mà sản xuất nông nghiệp sẽ phát triển theo hướng chuyên canh có năng suất cao, tỷ suất hàng hoá lớn, hiệu quả kinh tế cao
Trên cơ sở xúc tiến CNH-HĐH nông nghiệp nông thôn để chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn theo hướng phát triển mạnh, vững chắc
Trang 13có hiệu quả Công nghiệp-dịch vụ ở nông thôn tăng nhanh làm chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp-công nghiệp-dịch vụ Trong nội bộ ngành nông nghiệp cũng
có sự bố trí lại cơ cấu cây trồng, vật nuôi gắn với công nghiệp chế biến theo hướng tăng tỷ trọng ngành chăn nuôi, giảm tỷ trọng ngành trồng trọt Trong nội bộ ngành trồng trọt thì lại giảm tỷ trọng cây lương thực và tăng tỷ trọng cây công nghiệp, cây ăn quả
Rõ ràng, công nghiệp chế biến đã có vai trò to lớn trong việc thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển theo hướng sản xuất hàng hoá, hình thành vùng chuyên canh quy mô lớn
- Công nghiệp chế biến góp phần mở rộng thị trường tiêu thụ nông sản nông sản nếu không qua chế biến thì không thể vận chuyển đi xa, không đáp ứng được nhu cầu đa dạng của dân cư ở những vùng khác nhau Thí dụ như một số nước ưa chuộng nước ép hoa quả còn một số nước khác lại thích hoa quả đóng hộp, mặc dù từ cùng một nguyên liệu nhưng cho ra các sản phẩm khác nhau sẽ đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng rộng rãi hơn Nhờ công nghiệp chế biến mà nông sản được cất trữ để bán trên thị trường lúc trái vụ, điều này khắc phục được điểm yếu của hàng hoá nông nghiệp vốn mang tính thời vụ cao
Nước ta đang trong quá trình hội nhập với nền kinh tế khu vực cũng như nền kinh tế thế giới, nên việc xuất khẩu nông sản là một thế mạnh Nếu chỉ xuất khẩu dưới dạng thô, sơ chế như hiện nay thì không thể cạnh tranh được với những nước khác, nhất là các nước trong khu vực Cho nên phát triển công nghiệp chế biến để phục vụ tiêu dùng và xuất khẩu, mở rộng thị trường là rất cần thiết và cấp bách
- Phát triển công nghiệp chế biến tạo công ăn việc làm cho người lao
động
Một trong những chủ chương giải quyết việc làm cho lao động ở nông thôn của Đảng và Nhà nước ta là phát triển công nghiệp chế biến tại chỗ
Trang 14Chính công nghiệp chế biến đã giải quyết tốt nạn di dân ồ ạt từ nông thôn ra thành thị, đã tạo việc làm cho hàng ngàn lao động thất nghiệp và bán thất nghiệp ở nông thôn Chế biến nông sản vừa làm tăng giá trị trao đổi vừa làm tăng giá trị sử dụng của hàng nông sản, đồng thời cũng làm tăng thu nhập của người lao động Ngành công nghiệp chế biến nếu phát triển tương xứng với tiềm năng và lợi thế của ngành sản xuất nông nghiệp thì sẽ thu hút được rất nhiều lao động ở nông thôn Lao động nông thôn ở nước ta dồi dào, giá nhân công lại rẻ mạt vì thế chủ chương của Đảng và Nhà nước ta là phải tận dụng
được ưu thế này bằng cách tạo ra những ngành nghề mới ở nông thôn, chẳng hạn như chế biến hải sản đông lạnh xuất khẩu để giải quyết việc làm cho người lao động vì yêu cầu không cao lại đào tạo cơ bản ít tốn kém
- Một số vai trò khác của chế biến nông sản
Công nghiệp chế biến tác động mạnh đến sự phát triển của nhiều ngành nghề trong nền kinh tế quốc dân, nhất là dịch vụ, nó ảnh hưởng sâu rộng đến
đời sống kinh tế xã hội của nhiều người dân Khi công nghiệp chế biến được chú trọng ở nông thôn thì cơ sở hạ tầng sẽ được nâng cấp, trình độ dân trí sẽ
được cải thiện một cách rõ nét
2.1.2.2 Đặc điểm của ngành chế biến nông sản
Việc tổ chức các ngành chế biến nông sản nhằm mục đích tiếp tục quá trình tái sản xuất nông sản hàng hoá, nâng cao chất lượng và giá trị sản phẩm, tận dụng nguồn nguyên liệu của vùng nhằm mục tiêu kinh doanh Ngành có những đặc điểm cơ bản sau:
- Ngành chế biến nông sản vừa mang tính độc lập vừa mang tính phụ thuộc vào sản xuất nông nghiệp
Hoạt động của chế biến nông sản là hoạt động thuộc lĩnh vực công nghiệp, được tiến hành theo quy trình công nghệ và dây truyền sản xuất riêng với tiêu chuẩn kinh tế-kĩ thuật nghiêm ngặt của công nghiệp Đặc điểm đó chứng tỏ nó độc lập so với sản xuất nông nghiệp Cần phát huy lợi thế của
Trang 15ngành độc lập để phát triển công nghiệp chế biến một cách vững chắc Tuy nhiên, nguyên liệu đầu vào cho ngành lại là các sản phẩm của ngành nông nghiệp Vì thế công nghiệp chế biến phải phù hợp với đặc điểm của sản phẩm nông nghiệp, bị quy định bởi tính mùa vụ và quy mô của ngành nông nghiệp, quy cách và chất lượng nguyên liệu nông sản phẩm Đây là mối quan hệ hữu cơ lẫn nhau, sản xuất nông nghiệp phát triển, sản lượng lớn, chất lượng cao,
đồng thời sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho chế biến đạt hiệu quả tốt và ngược lại chế biến nông sản phát triển sẽ là nơi tiêu thụ sản phẩm sản phẩm đầu ra tốt nhất cho người nông dân, giúp nông dân yên tâm sản xuất Chế biến nông sản phụ thuộc vào sản xuất nông nghiệp nên ta cần giải quyết tốt mối quan hệ này
để cả hai cùng phát triển
- Hoạt động của ngành chế biến nông sản thường không hoàn toàn diễn
ra trong phạm vi doanh nghiệp Đối tượng phục vụ cho chế biến là các nông sản hàng hoá vì thế trong phạm vi doanh nghiệp thường không đáp ứng được yêu cầu của nhà máy mà phải thu gom từ nhiều doanh nghiệp khác, các hộ nông dân trên địa bàn Đặc điểm này đòi hỏi việc tổ chức các ngành chế biến nông sản phải gắn với hoạt động của doanh nghiệp và các hoạt động của doanh nghiệp khác cũng như hoạt động của các hộ nông dân trên địa bàn
- Ngành chế biến nông sản là một bộ phận quan trọng cấu thành nên cơ cấu sản xuất kinh doanh nông nghiệp
Chế biến là hoạt động tiếp tục quá trình sản xuất hàng hoá có sự đan xen giữa các thành phần kinh tế và các tổ chức sản xuất kinh doanh Phải lựa chọn các sản phẩm có lợi thế so sánh để có chủ trương đầu tư đúng đắn Nó là một khâu trong chuỗi sản xuất-chế biến-tiêu thụ Rõ ràng, nếu chế biến tốt sẽ tạo điều kiện tiêu thụ nhanh nông sản và thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển
- Ngành chế biến nông sản sử dụng một số yếu tố xen kẽ
Đó là vừa sản xuất thủ công vừa sản xuất cơ khí, lao động vừa là lao
Trang 16động tại chỗ vừa là lao động kỹ thuật đi thuê, sản xuất vừa tập trung vừa phân tán, nông sản có loại chỉ sơ chế để tiêu dùng tại chỗ, có loại chế biến để tăng giá trị rồi vận chuyển được đi xa cho nên máy móc cũng cần vừa hiện đại vừa thô sơ Việc sử dụng lao động cũng đa dạng, được chia làm nhiều công đoạn, nhiều khâu khác nhau trong quá trình chế biến
2.1.2.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến công nghiệp chế biến
Công nghiệp chế biến nông sản vừa độc lập vừa phụ thuộc vào sản xuất nông nghiệp nên có những nhân tố ảnh hưởng vừa thuộc lĩnh vực công nghiệp vừa thuộc lĩnh vực nông nghiệp và một số nhân tố quan trọng khác Cần xác
định được vai trò của từng nhân tố để tổ chức ngành một cách có hiệu quả
Các nhân tố có mối quan hệ với nhau, nếu như thực hiện được đồng bộ tốt sẽ cho ra sản phẩm có chất lượng cao Những nhân tố cụ thể như sau:
- Nguyên liệu:
Khi xây dựng nhà máy chế biến hay các vùng chế biến một loại nông sản nào đó thì trước hết phải xác định được vùng nguyên liệu cho nhà máy hay cho vùng chế biến đó, khả năng cung cấp nguyên liệu cho nhà máy hay cho vùng chế biến nông sản đó Những năm qua đã có những doanh nghiệp vì xem nhẹ yếu tố này nên khi đi vào hoạt động xảy ra tình trạng thiếu nguyên liệu hoặc nguyên liệu không đảm bảo yêu cầu dẫn đến tình trạng công suất nhà máy chế biến rất thấp, hiệu quả kém, một số nhà máy phải đóng cửa do thiếu nguyên liệu Sản xuất nông nghiệp lệ thuộc vào điều kiện tự nhiên nên nguyên liệu không phải bao giờ cũng như ý muốn mà phải dự kiến đến những rủi ro
do yếu tố khách quan mang lại Tính mùa vụ của sản xuất nông nghiệp dẫn
đến tính mùa vụ trong chế biến nông sản để khắc phục được những nhược
điểm đó ta cần xây dựng nhà máy chế biến một số loại nông sản xen kẽ nhau hoặc sử dụng máy móc đa chức năng, chẳng hạn nhà máy đường lúc trái vụ có thế chế biến một số sản phẩm rau quả
Chất lượng nguyên liệu ảnh hưởng lớn đến chất lượng sản phẩm chế
Trang 17biến, nguyên liệu tốt sẽ tạo điều kiện cho ra các sản phẩm tốt Còn nguyên liệu kém thì khó có thể tạo ra được sản phẩm có chất lượng cao hơn Để có nguyên liệu tốt cần có giống, vật tư kỹ thuật tốt, nhà máy chế biến cần cung cấp cho người sản xuất nông nghiệp những yếu tố đó để họ yên tâm sản xuất vì đã có nơi tiêu thụ đầu ra ổn định
- Công tác thu mua nguyên liệu
Đây là vấn đề cần được quan tâm đúng mức, không phải doanh nghiệp nào cũng làm tốt công việc này Công tác thu mua nguyên liệu có thể là thu mua của nông trại nếu có khối lượng lớn hoặc có thể mua tại một địa điểm nhất định hoặc thu mua tại nhà máy chế biến nhưng phải tạo điều kiện cho người nông dân trong việc bán nguyên liệu, để họ không bị tư thương ép giá Phải tạo mối liên hệ làm ăn lâu dài để nhà máy luôn được cung cấp nguyên liệu ổn định, đúng thời hạn, chất lượng đảm bảo yêu cầu Doanh nghiệp có thể cho nông dân vay vốn hay cung cấp phân bón, giống, vật tư kỹ thuật…để nông dân yên tâm đầu tư sản xuất Làm tốt công tác này không chỉ giúp cho nhà máy đủ nguyên liệu phục vụ chế biến mà còn giúp cho nông dân phát triển sản xuất nông nghiệp hơn nữa
- Công nghệ và thiết bị chế biến
Tuỳ từng loại đối tượng chế biến mà lựa chọn công nghệ và thiết bị cho phù hợp Công nghệ và thiết bị chế biến tốt sẽ cho ra các sản phẩm có chất lượng cao, phế phẩm ít, mẫu mã đẹp đáp ứng được nhu cầu đa dạng và ngày càng cao của người tiêu dùng Nếu không sẽ dẫn đến tình trạng chất lượng sản phẩm không đảm bảo, năng suất thấp, hiệu quả kinh tế không cao Cần dựa vào yêu cầu, sự đòi hỏi của người tiêu dùng về sản phẩm để trang bị những công nghệ phù hợp, những sản phẩm xuất khẩu thì cần đầu tư công nghệ thiết
bị hiện đại hơn Khi lắp đặt công nghệ phải đánh giá được trình độ của nó, tránh tình trạng vừa đưa vào sử dụng đã hỏng hóc hoặc lạc hậu gây tổn thất lớn Công nghệ thiết bị chế biến không chỉ ảnh hưởng tới chất lượng sản phẩm
Trang 18mà nó còn ảnh hưởng đến giá thành sản xuất do đó cần có sự lựa chọn kỹ lưỡng loại thiết bị công nghệ cho việc chế biến từng loại nông sản và lập kế hoạch khấu hao hợp lý để nhanh thu hồi vốn đầu tư và tránh hao mòn vô hình
do sự tiến bộ như vũ bão của khoa học kỹ thuật hiện nay
Công nghệ thiết bị được xem là tối ưu khi nó phù hợp với điều kiện sản xuất thực tế của các cơ sở sản xuất và của các hộ nông dân tham gia chế biến
và có tuổi thọ cao, công suất lớn, cho ra sản phẩm có chất lượng tốt, ít hư hỏng và giá thành hạ vì một trong những đặc điểm của sản xuất nông nghiệp
là mang tính thời vụ cao, thời điểm thu hoạch sản phẩm tập trung trong một thời gian ngắn Để đạt được những điều đó cần chú ý đến những vấn đề sau:
+ Thiết bị phải đồng bộ, phải đủ phụ tùng thay thế, yêu cầu người đi mua phải có hiểu biết về máy móc thiết bị
+ Đối với các nhà máy hoặc các hộ nông dân sản xuất chế biến ở quy mô lớn cần thuê chuyên gia để hướng dẫn cách sử dụng, sửa chữa đồng thời
đào tạo công nhân kỹ thuật để vận hành, bồi dưỡng và quản lý thiết bị để kéo dài tuổi thọ, phát huy công suất tối đa với hiệu quả kinh tế kỹ thuật cao nhất
+ Có sự liên doanh liên kết hợp tác với các cơ sở chế biến ở các vùng khác nhau trong nước và các nước trong khu vực có điều kiện tương tự để thu hút vốn đầu tư, thiết bị công nghệ, phương pháp sản xuất tiên tiến vào việc phát triển mạnh công nghiệp chế biến ở nước ta Phải đánh giá, xem xét một cách toàn diện, sâu sắc để lựa chọn công nghệ, thiết bị thích hợp nhất
+ Thị trường tiêu thụ nông sản chế biến
Trong nền kinh tế thị trường, thị trường sẽ quyết định sản xuất cái gì, sản xuất cho ai và sản xuất như thế nào, với số lượng bao nhiêu thị trường ảnh hưởng tới tất cả các lĩnh vực từ khâu đầu tiên tới khâu cuối cùng và công nghệ chế biến cũng không nằm ngoài những ảnh hưởng đó Cần xuất phát từ thị trường để lựa chọn sản phẩm chế biến đạt hiệu quả kinh tế cao, dễ tiêu thụ, tránh tình trạng chỉ dựa vào khả năng sản xuất của doanh nghiệp mà xem nhẹ
Trang 19yếu tố thị trường Việc định hướng thị trường cho các sản phẩm công nghiệp chế biến có vai trò quan trọng đối với việc xác định loại sản phẩm, lựa chọn công nghệ và lựa chọn phương án đầu tư Để định đúng cần thu thập thông tin thị trường sau đó tổng hợp đánh giá, phân tích để tìm ra giải pháp hiệu quả nhất Thị trường tiêu thụ sản phẩm chế biến gồm thị trường trong nước và thị trường nước ngoài
Thị trường trong nước hiện nay tuy rất lớn nhưng sức mua còn hạn chế cần xác định sản phẩm chế biến phù hợp với khả năng người tiêu dùng Mức sống của người dân trong nước đang ngày càng được cải thiện, phải từng bước theo kịp để đáp ứng đầy đủ Còn đối với xuất khẩu, những năm qua chủ yếu là xuất khẩu thô, chế biến đơn giản gây tổn thất lớn, do vậy cần đẩy mạnh công nghiệp chế biến để tận dụng lợi thế của những nông sản có lợi thế so sánh với các nước khác trong khu vực cũng như trên thế giới Có những mặt hàng nông sản chỉ một vài nước sản xuất được thì tiêu thụ không khó nhưng có những mặt hàng rất nhiều nước sản xuất như gạo, ngô, đậu… thì phải làm sao để giá thành sản xuất thấp, chất lượng cao dần dần khẳng định và nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế
Như vậy, trước hết phải đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng trong nước sau
đó hướng ra thị trường nước ngoài Nước ta đã và đang trong quá trình hội nhập thị trường AFTA và tiến tới là tham gia tổ chức thương mại thế giới (WTO) trong tương lai gần nên thị trường trong nước sẽ gặp phải sự cạnh tranh gay gắt, nếu công nghiệp chế biến không bắt nhịp được sẽ bị hàng hoá của các nước trong khu vực lấn át
+ Thói quen, tập quán của người tiêu dùng
Đây là nhân tố ảnh hưởng tới chế biến nông sản, nhân tố này khó thay
đổi mà ta cần thay đổi chế biến nông sản để đáp ứng được nhu cầu đa dạng của người tiêu dùng nhưng phải đảm bảo được phong tục tập quán của họ Chẳng hạn như ở Việt Nam, người nông dân hay uống chè xanh còn người
Trang 20thành thị thì uống trà, người Việt Nam mua sản phẩm về nấu ăn cho cả gia
đình còn người nước ngoài thì thích dùng đồ hộp, đồ đông lạnh, thức ăn chế biến sẵn… do đó cần xem xét yếu tố này để có kế hoạch phát triển công nghiệp chế biến một cách hợp lý nhằm mục đích giúp sản phẩm sản xuất ra dễ tiêu thụ
+ Chính sách của nhà nước
Một trong những nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến phát triển chế biến
và công nghiệp chế biến nông sản đó là yếu tố chính sách Nếu chính sách
đúng đắn, hợp lý sẽ khuyến khích sản xuất phát triển và ngược lại chính sách sai lệch sẽ kìm hãm sản xuất dẫn đến trì trệ trong việc phát triển về số lượng cũng như quy mô chế biến nông sản trong các hộ gia đình nông dân Chính sách ở đây bao gồm nhiều chính sách ảnh hưởng trực tiếp đến công nghiệp chế biến và những chính sách ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp, đến thị trường… có nhiều loại chính sách, thời gian ban hành khác nhau nên dễ gây
ra mâu thuẫn, chồng chéo và không đồng bộ Nên khi ban hành chính sách, Nhà nước phải xem xét, cân nhắc kĩ để tránh gây ra hậu quả ảnh hưởng đến phát triển sản xuất và chế biến nông sản trong các hộ nông dân ở nông thôn hiện nay
Những chính sách quan trọng ảnh hưởng đến chế biến và công nghiệp chế biến là:
+ Chính sách đầu tư và tín dụng:
Chính sách này sẽ định hướng, khuyến khích phát triển ngành nghề nào
là căn cứ vào chế biến loại nông sản gì để quy định thời gian hoàn vốn, mức lãi suất vay hợp lý Chính sách này tạo điều kiện cho người nông dân có điều kiện mở rộng vùng nguyên liệu, áp dụng những giống cây con có năng suất cao, phẩm chất tốt vào trong sản xuất Các nhà máy chế biến thì có điều kiện
để tiếp cận công nghệ hiện đại nhằm nâng cao năng suất chế biến
+ Chính sách giá cả và vấn đề trợ giá cho một số loại nông sản
Trang 21Giữa giá mua nguyên liệu và giá sản phẩm sau chế biến có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Nếu giá nguyên liệu rẻ thì giá bán sản phẩm chế biến cơ bản sẽ không cao và ngược lại, thế nhưng nếu giá nguyên liệu quá thấp thì người sản xuất nông nghiệp sẽ bị thua thiệt dẫn đến tình trạng nhà máy thiếu nguyên liệu mà người nông dân không muốn thu hoạch vì không đủ bù đắp chi phí Nhà nước cần có chính sách để vừa khuyến khích người sản xuất nông nghiệp lại vừa khuyến khích công nghiệp chế biến phát triển, đây là một vấn
đề hết sức phức tạp nhất là trong điều kiện hội nhập với khu vực và thế giới
+ Chính sách thuế và chính sách xuất khẩu
Xuất khẩu là con đường mang lại ngoại tệ để phục vụ sự nghiệp HĐH đất nước, nếu như chỉ xuất thô thì hiệu quả đem lại không cao Nhà nước cần đánh thuế vào các sản phẩm thô và quy định mức thuế thấp đối với các sản phẩm tinh chế Đó là điều kiện bắt buộc các nhà xuất khẩu phải đầu tư phát triển công nghiệp chế biến Nó cũng giải quyết tốt lao động trong nước
CNH-và nâng cao hiệu quả xuất khẩu
+ Nhà nước cần tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong nước mở rộng quan hệ với các nước trong khu vực và trên thế giới thông qua các hình thức như mở các văn phòng giao dịch để quảng bá và giới thiệu sản phẩm ở nước ngoài
+ Hướng dẫn và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp xây dựng thương hiệu sản phẩm, bảo vệ thương hiệu của mình trên thị trường trong nước và trên thế giới
2.1.3 Phương pháp chung xác định hiệu quả kinh tế
Hiện nay việc nghiên cứu kinh tế nói chung, vấn đề hiệu quả kinh tế nói riêng cần phải dựa trên cơ sở hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế MPS (Materal Product System) và kết hợp từng bước thực hiện theo hệ thống tài khoản quốc gia SNA (System National Accouts)
Với luận văn là “Đánh giá hiệu quả kinh tế trong quá trình chế biến
Trang 22một số nông sản phẩm của hộ nông dân ở tỉnh Hưng Yên” cho nên chúng tôi
dùng phương pháp so sánh, trên cơ sở điều tra khảo sát quá trình chế một số
loại nông sản để xác định hiệu quả kinh tế trong quá trình chế biến nông sản
được biểu hiện như sau:
Kết quả sản xuất kinh doanh
Hiệu quả kinh tế =
Chi phí bỏ ra
Hay: H=
C
Q Q: Kết quả sản xuất kinh doanh
C: Chi phí bỏ ra
Ngoài ra còn sử dụng một số chỉ tiêu để phản ánh hiệu quả kinh tế chủ
yếu sau:
- Tổng giá trị sản xuất GO (Gross Output): Là giá trị tính bằng tiền của
toàn bộ các loại sản phẩm được chế biến trong một chu kỳ sản xuất
GO=∑
=
n i
Pi Qi
1
*
Qi: Khối lượng nông sản phẩm loại i
Pi: Đơn giá sản phẩm loại i
- Chi phí trung gian IC: Là toàn bộ các khoản chi phí vật chất thường
xuyên và dịch vụ được sử dụng trong quá trình sản xuất như thuê nhân công,
chi phí về nguyên nhiên liệu, bao bì…
IC=∑
=
m j
Cj
1
Trong đó: Cj là các khoản chi phí thứ j trong một vụ sản xuất chế biến
- Giá trị tăng thêm (gia tăng) (VA): Là phần giá trị tăng thêm của hộ nông
dân khi chế biến một khối lượng hoặc toàn bộ nông sản phẩm trong một vụ
VA=GO - IC
- Thu nhập hỗn hợp (MI): Là phần thu nhập thuần tuý của người sản
xuất bao gồm thu nhập của công lao động và lợi nhuận khi sản xuất chế biến
Trang 23một khối lượng nông sản phẩm trong một vụ
MI= VA - (A+T)
A: Phần giá trị khấu hao tài sản cố định và các chi phí phân bổ
T: Thuế
- Lợi nhuận (Pr): Là phần lãi ròng trong thu nhập hỗn hợp khi sản xuất
chế biến một đơn vị nông sản phẩm hay toàn bộ nông sản trong một vụ
Pr = MI - (L*P1)
L: Số công lao động đã sử dụng cho chế biến một đơn vị nông sản phẩm trong một vụ
P1: Giá thuê một ngày công lao động ở địa phương
- Tỷ suất lợi nhuận theo chi phí (T GO): Là tỷ số giá trị sản xuất trên với chi phí trung gian trên một đơn vị nông sản phẩm trong một vụ
2.1.4 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về chế biến nông sản
Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã nêu [5]:
- Nhà nước khuyến khích phát triển mạnh các ngành công nghiệp ở nông thôn, nhất là công nghiệp chế biến nông-lâm-thuỷ sản và các ngành sử dụng nguyên liệu tại chỗ
- Đẩy mạnh việc nghiên cứu và chuyển giao khoa học kĩ thuật cho sản xuất, coi đây là một khâu đột phá quan trọng nhất nhằm phát triển kinh tế nông thôn Muốn vậy trước hết cần tập trung vào công nghệ sinh học, công nghiệp chế biến
Trang 24- Phát triển mạnh công nghiệp chế biến gắn với vùng nguyên liệu, cơ khí phục vụ nông nghiệp, công nghiệp gia công dịch vụ Liên kết nông nghiệp-công nghiệp-dịch vụ trong phạm vi cả nước
- Phát triển mạnh công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn Hình thành các khu vực tập trung công nghiệp, các địa điểm công nghiệp ở nông thôn Đưa chế biến nông sản về nông thôn Muốn vậy phải có chính sách ưu đãi để thu hút vốn đầu tư của mọi thành phần kinh tế vào phát triển công nghiệp và dịch
vụ ở nông thôn
- ở khu vực đồng bằng: Phát triển nông nghiệp sinh thái đa dạng trên nền tảng cây lúa, cây rau, quả, chăn nuôi, thuỷ sản và ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ trong sản xuất chế biến, bảo quản và tiêu thụ sản phẩm
- Khu vực trung du miền núi: Phát triển mạnh cây dài ngày, chăn nuôi gia súc và công nghiệp chế biến
- Với cây rau quả: Hình thành các vùng sản xuất tập trung để thuận lợi cho việc phát triển công nghiệp chế biến và dịch vụ
Ngoài ra còn có các hệ thống chính sách khác như: chính sách tín dụng, chính sách thuế, chính sách giá cả và trợ giá, chính sách xuất nhập khẩu
2.2 Tình hình chế biến nông sản của các nước trong khu vực và Việt Nam
2.2.1 Các nước trong khu vực
Sự tác động của công nghiệp chế biến nông sản và hoạt động dịch vụ trong nông nghiệp của các nước trong khu vực và trên thế giới đã được tiến hành từ lâu, bên cạnh những nét đặc thù của từng nước thì nhìn chung vẫn phát triển theo những xu hướng nhất định, đồng thời cũng có nhiều kinh nghiệm rất đáng được tham khảo và học tập Nghiên cứu kinh nghiệm của một
số nước sẽ giúp cho chúng ta rút ra những bài học cần thiết và hữu ích để vận dụng vào việc đẩy mạnh hoạt động chế biến nông sản trong các hộ gia đình nông dân ở nước ta trong những năm trước mắt cũng như lâu dài
Trang 25* Kinh nghiệm của Thái Lan:
Vương quốc Thái Lan là một trong những nước có nền nông nghiệp hàng hoá khá phát triển Thái Lan nằm ở vị trí trung tâm Đông nam á với diện tích 513.115 km2, với dân số 62 triệu người (năm 1996).Thái lan nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa với nhiệt độ trong năm nóng nhất là 35OC và thấp nhất là 15OC, lượng mưa trung bình là 1.600 mm Nền kinh tế Thái lan trong những năm qua có những bước phát triển vững chắc Tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm ở mức cao và khá ổn định: Năm 1994 tăng 8%, năm 1995 tăng 8,5% , năm 1996 tăng 8,2% Cùng với mức tăng trưởng nhất nhì thế giới, GDP bình quân đầu người đạt 2.600 USD năm 1995, đứng thứ ba trong khối ASEAN sau Singapore và Malaysia [8,tr.12] Kinh tế tăng trưởng nhanh không chỉ cải thiện thu nhập của dân cư mà còn kéo theo sự thay đổi của nhu cầu tiêu dùng xã hội Thị trường nội địa mở mang và được nâng cấp rõ rệt Xét
về cơ cấu của nền kinh tế Thái Lan thì trong suốt hai thập kỷ 70 và 80 nông nghiệp đã từng là khu vực kinh tế chủ đạo Song từ cuối thập kỷ 80 vai trò này
đã bị khu vực công nghiệp chế tạo chiếm lĩnh nhưng sản xuất nông nghiệp vẫn
có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với toàn bộ nền kinh tế đất nước bởi nó không chỉ tiếp tục là nguồn cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến thực phẩm mà còn thu hút trên 60% lực lượng lao động xã hội tham gia vào lĩnh vực này Sản xuất nông nghiệp của Thái Lan hàng năm vẫn đạt tốc độ tăng trưởng nhanh: Giai đoạn 1958 – 1973 là 5,4%/ năm, giai đoạn 1973 –
1984 đạt 3,9 % Sự phát triển của nông nghiệp Thái Lan đã có sự đóng góp rất lớn của công nghiệp chế biến và hoạt động dịch vụ
- Chính phủ Thái Lan đã tập trung nhiều nỗ lực để thúc đẩy các ngành công nghiệp có quy mô lớn và hiện đại nhưng hầu hết công nghiệp chế biến nông sản ở Thái Lan vẫn duy trì ở quy mô vừa và nhỏ Thái Lan đã chú trọng phát triển công nghiệp chế biến nông sản và khuyến khích công nghiệp chế biến nông sản sử dụng nguồn nguyên liệu trong nước Chính phủ Thái Lan chủ
Trang 26trương phát triển công nghiệp chế biến nông sản là một biện pháp để tăng nhanh kim ngạch xuất khẩu của Thái Lan Trong 9 tháng đầu năm 1997, kim ngạch xuất khẩu của ngành chế biến nông sản của Thái Lan đạt 107,77 tỷ bạt, tăng 4,9% so với cùng kỳ năm 1996 Kim ngạch xuất khẩu hải sản và chăn nuôi tăng 6,8% và đạt tới 55,54 tỷ bạt Xuất khẩu gà đông lạnh tăng 11% đạt 7,31 tỷ bạt trong cùng giai đoạn nêu trên [8, tr 15] Sản phẩm xuất khẩu chủ yếu của công nghiệp chế biến nông sản của Thái Lan là hải sản, rau quả đóng hộp, gạo, đường, mật và các sản phẩm chế biến từ bột mì, thức ăn gia súc So với nhiều nước khác ngành chế biến nông sản ở Thái Lan có nhiều lợi thế do
có nguồn nguyên liệu trong nước và ít phụ thuộc vào nước ngoài
- Công nghiệp chế tạo cùng với hoạt động dịch vụ là một trong những lĩnh vực phát triển năng động và có vai trò quan trọng nhất đối với nền kinh tế Thái Lan ở thập kỷ 90 hoạt động dịch vụ ở Thái Lan được mở rộng ra tất cả các ngành và có sự tác động rất lớn đến nền kinh tế nói chung và nền nông nghiệp hàng hoá nói riêng Hàng loạt dịch vụ ngân hàng, tài chính, giống cây trồng, thuỷ lợi được mở ra và đã được nâng cấp một cách nhanh chóng nhờ
áp dụng những tiến bộ kỹ thuật mới Thái Lan đang nhanh chóng thực hiện công nghiệp hoá khu vực dịch vụ của mình để trở thành trung tâm tài chính của khu vực Việc phát triển nông nghiệp và công nghiệp chế biến nông sản ở Thái Lan đi kèm với sự phát triển chiều sâu do Chính phủ đầu tư thông qua việc xây dựng cơ sở hạ tầng như đường sá, các dự án phát triển hệ thống thuỷ lợi Nhưng việc đổi mới kỹ thuật, đặc biệt là giống một số cây trồng, vật nuôi lại do tư nhân đóng vai trò then chốt, nhất là những cây trồng có sản phẩm xuất khẩu như lúa, cây ăn quả Khi cây trồng nào có sản phẩm mang giá trị thương mại cao, ngay lập tức được Chính phủ khuyến khích tư nhân phát triển nhân giống và phổ biến rộng rãi Chính phủ dành một phần ngân sách để đầu tư cho cây trồng có sản phẩm thay thế nhập khẩu hơn đối với cây trồng có sản phẩm xuất khẩu Điều này chứng tỏ Chính phủ Thái Lan tạo động cơ để thúc
Trang 27đẩy tăng năng suất sản phẩm nông nghiệp nhằm cải thiện đời sống và nâng cao thu nhập cho hộ nông dân hơn là bảo hộ khả năng cạnh tranh của một số cây trồng có sản phẩm đặc biệt Trong những năm qua, do tác động tích cực của công nghiệp chế biến và các hoạt động dịch vụ đã làm cho sản xuất nông nghiệp hàng hoá của Thái Lan phát triển mạnh hơn, nhất là sản xuất lúa gạo Những năm qua, Thái Lan đã trở thành nước đứng đầu thế giới về xuất khẩu gạo, vì thế, hàng năm Thái Lan luôn luôn chi phối một cách đáng kể tình hình cung, cầu và giá cả gạo trên thế giới Giá chuẩn về gạo trên thị trường quốc tế thường căn cứ vào giá xuất khẩu gạo của Thái Lan Chất lượng gạo cũng được khách hàng ưa chuộng và tin cậy với nhiều cấp hạng khác nhau Để đẩy mạnh sản xuất trong nước và nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế, Chính phủ Thái Lan đã chú trọng nhiều đến các chính sách như khuyến khích phát triển sản xuất, bảo hộ nông phẩm cho người sản xuất điều hoà cung cầu khi có sự biến động giá cả trên thị trường, cho vay thế chấp khi giá gạo trong nước bị giảm mạnh để người nông dân yên tâm giữ thóc chờ giá lên Bên cạnh việc khuyến khích sản xuất, Chính phủ Thái Lan còn có những chính sách hỗ trợ cho những doanh nhân làm công tác xuất khẩu nông sản như cho nhà xuất khẩu gạo vay vốn dài hạn, với lãi suất thấp; Nhà nước mua lại gạo của các nhà xuất khẩu gạo khi giá gạo thế giới giảm và chịu các chi phí như vận chuyển, lưu kho, bảo quản Mặt khác Chính phủ trực tiếp đàm phán các hiệp định về xuất khẩu gạo với chính phủ các nước có nhu cầu nhập khẩu gạo nhằm mở rộng thị trường tiêu thụ Để nâng cao chất lượng sản phẩm và tăng khả năng cạnh tranh, Chính phủ Thái Lan rất chú trọng đến việc tiêu chuẩn hoá các cơ sở xay xát, đầu tư công nghệ chế biến và bảo quản như hệ thông kho tàng, bao bì, nhãn mác, xây dựng thương hiệu, hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ cho vận chuyển bốc xếp trong những năm qua Thái Lan đã đứng
đầu thế giới về xuất khẩu gạo và chiếm tỷ trọng rất lớn trong số lượng gạo xuất khẩu trên toàn thế giới Những số liệu sau thể hiện điều này:
Trang 28Bảng 1 : Số lượng gạo xuất khẩu của Thái Lan và thế giới
(Đvị: triệu tấn)
Tỷ trọng của Thái Lan so
với toàn thế giới (%) 34,04 31,78 28,14 28,09 27,17
Nguồn: [6 tr 70]
Qua số liệu ở bảng trên cho thấy: những năm cuối của thế kỷ 20 Thái
Lan hàng năm xuất khẩu một số lượng lớn gạo trên thị trường thế giới, chiếm
từ 28,14% năm 1994 đến 28,09% năm 1995
Sự tác động của công nghiệp chế biến nông sản và hoạt động dịch vụ
làm cho nền nông nghiệp hàng hoá có xu hướng phát triển tích cực cả về số
lượng và chất lượng, mặt khác do sự phát triển của công nghiệp chế biến nông
sản và hoạt động dịch vụ đã làm cho cơ cấu kinh tế của Thái Lan có sự chuyển
dịch theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, tỷ trọng nông nghiệp trong
GDP ngày càng giảm, ngược lại tỷ trọng dịch vụ và công nghiệp trong GDP
ngày càng tăng
Bảng: 2 Tỷ trọng các ngành kinh tế trong GDP của Thái Lan (%)
Trang 29nông nghiệp trong tổng giá trị GDP có xu hướng giảm rõ rệt: Từ 30,2% năm
1970 xuống còn 10,0% năm 1994, công nghiệp và dịch vụ có xu hướng tăng lên đặc biệt đối với dịch vụ tăng từ 44,1% năm 1970 lên 50,8% năm 1994
Điều đó cũng cho chúng ta thấy rằng sự biến đổi cơ cấu giữa các ngành trong GDP của Thái Lan trong những năm qua theo hướng hình thành một cơ cấu ngành kinh tế ngày một hợp lý và có hiệu quả
- ở Thái Lan việc phát triển sản xuất nông nghiệp gắn liền với chế biến nông sản và dịch vụ nông nghiệp có sự gắn kết chặt chẽ và phối hợp một cách hợp lý giữa nhà nước, thương nhân, HTX, và nông dân vì thế đã tạo điều kiện cho sản xuất nông nghiệp phát triển ổn định, giá cả nông sản ít có sự biến
động lớn
Bên cạnh những thành tựu đã đạt được trong việc phát triển ngành chế biến nông sản và dịch vụ phục vụ việc phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hoá, Thái Lan còn một số mặt hạn chế như:
+ Sự liên kết giữa một số xí nghiệp chế biến nông sản lớn và nhỏ chưa thực sự tốt, vẫn còn sự cạnh tranh không lành mạnh, hiện tượng tranh mua, tranh bán nguyên liệu và sản phẩm và lợi thế luôn thuộc về các xí nghiệp lớn
có nhiều vốn, có quy trình công nghệ cao, giá thành thấp hơn, và chất lượng sản phẩm lại tốt hơn, còn đối với những cơ sở sản xuất chế biến nhỏ, ít vốn, quy trình công nghệ thủ công, vốn lại ít vì thế hay bị thua thiệt trong cạnh tranh làm cho sản xuất không ổn định
+ Việc sản xuất nông sản nguyên liệu cung cấp cho các nhà máy chế biến ở các vùng biên giới thường bị ảnh hưởng của việc nhập lậu những nguyên liệu thô từ nước ngoài qua biên giới với giá rẻ hơn điều đó dẫn đến sản xuất nông nghiệp ở những vùng này không ổn định
Trang 302.2.2 ở Việt Nam
Từ lâu đời ông cha chúng ta đã biêt chế biến nông sản thành những sản phẩm phong phú và đa dạng, rất nhiều sản phẩm được chế biến từ lúa gạo như bún, bánh các loại, một số địa phương có những sản phẩm nổi tiếng trong nước như rượu Chương xá, rượu làng Vân cũng là những sản phẩm được chế biến từ lúa gạo và khoai sắn Nhiều sản phẩm được chế biến từ cây ăn quả có giá trị kinh tế cao được dùng rộng rãi trong y học cổ truyền cũng như y học hiện đại như long nhãn được chế biến từ nhãn quả, các loại tinh dầu được tinh chế từ các cây dược liệu như tinh dầu bạc hà, tinh dầu xả, dầu quế Trải qua hàng ngàn năm lịch sử việc chế biến các sản phẩm từ sản phẩm nông nghiệp
đã đúc rút được nhiều kinh nghiệm và đã hình thành nên nhiều làng nghề truyền thống ở những làng nghề này đã và đang góp phần không nhỏ vào việc tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp, giải quyết công ăn, việc làm cho hàng ngàn lao động ở các vùng nông thôn hiện nay
Việt Nam hiện có hơn 80 triệu dân, với tổng diện tích tự nhiên 330.363
km2, là một nước nông nghiệp nhiệt đới gió mùa, hiện có trên 80% dân số và 72% lao động đang sống và làm việc ở khu vực nông nghiệp nông thôn, sản phẩm nông nghiệp được thu hoạch quanh năm ở khắp các vùng khác nhau trên toàn quốc, vì thế việc thu gom và chế biến có ý nghĩa vô cùng to lớn nhất là trong sản xuất nông nghiệp hàng hoá hiện nay Bên cạnh đó nền kinh tế của Việt Nam nói chung, nông nghiệp nói riêng đang phải gánh chịu hậu quả nặng
nề của hai cuộc chiến tranh chống ngoại xâm và cơ chế tập trung quan liêu bao cấp kéo dài đã làm cho nền kinh tế Việt Nam phát triển trì trệ Dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, năm 1986 sau đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, Việt Nam đã thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện và sâu sắc, xoá bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, chuyển sang nền kinh tế thị trường
có sự quản lý của nhà nước theo định hướng XHCN Kết quả của sự đổi mới
đó làm cho nền kinh tế của nước ta phát triển nhanh chóng Trong Đại hội đại
Trang 31biểu toàn quốc của Đảng lần thứ VII, Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam đã khẳng định: “ Tình hình lương thực, thực phẩm có sự chuyển biến tốt Từ chỗ thiếu ăn triền miên, năm 1988 còn phải nhập hơn 45 vạn tấn gạo, nay chúng ta đã vươn lên đáp ứng nhu cầu trong nước, có dự trữ và xuất khẩu, góp phần quan trọng ổn định đời sống của nhân dân và cải thiện cán cân xuất nhập khẩu Đó là kết quả tổng hợp của việc phát triển sản xuất , thực hiện chính sách khoán trong nông nghiệp, xoá bỏ chế độ bao cấp, tự do lưu thông
và điều hoà cung cấp lương thực- thực phẩm trên cả nước” [3, tr.18]
Trong thời kỳ 1991-1995 nhịp độ tăng trưởng GDP của Việt Nam bình quân là 8,2%, khu vực nông nghiệp tăng bình quân hàng năm là 4,5%, khu vực công nghiệp tăng bình quân hàng năm là 13,3% Riêng sản lượng lương thực tăng 26% trong 5 năm, tạo điều kiện để ổn định đời sống nhân dân, phát triển ngành nghề, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và kinh tế nông thôn Các ngành nuôi trồng và đánh bắt thuỷ hải sản tăng khá mạnh do đó kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm của ngành này tăng gấp 3 lần trong thời gian 1996-2000 Sự tăng trưởng mạnh mẽ diễn ra trong khu vực dịch vụ, năm 1995 tăng 80% so với so với năm 1990 [7, tr 226] Sản xuất nông nghiệp đã phát triển vượt bậc, trong hơn mười năm, từ năm 1989 đến năm 1999 sản xuất nông nghiệp đã tăng trưởng liên tục với tốc độ khá cao, đạt trung bình 4,3%/năm và ngày càng đi vào thế tăng trưởng ổn định, vững chắc Sản xuất lương thực tăng bình quân 4,8%/ năm, từ 21,5 triệu tấn năm 1989 lên 33,8 triệu tấn năm 1999 Sản lượng thuỷ sản tăng trung bình 5% năm Sản lượng các loại cây công nghiệp, cây thực phẩm, cây ăn quả đều tăng ở mức cao, như cà phê đã tăng 11,
5 lần, từ 40,8 ngàn tấn năm 1989 lên 470 ngàn tấn năm 1999, sản lượng mía tăng gấp 3 lần, từ 5,4 triệu tấn năm 1990 lên 17 triệu tấn năm 1999 [9, tr 21] Sự phát triển của sản xuất nông nghiệp đã góp phần đưa Việt Nam từ một nước thiếu lương thực triền miên, mỗi năm phải nhập khẩu trên 1 triệu tấn lương thực, an ninh lương thực phụ thuộc vào nước ngoài trở thành cường
Trang 32quốc xuất khẩu gạo trên thế giới, chỉ đứng sau Thái Lan Ngoài ra nhiều mặt hàng nông sản khác cũng đ−ợc xuất khẩu với số l−ợng ngày càng tăng, thể hiện cụ thể qua số liệu ở bảng sau:
Bảng: 3 Các sản phẩm xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam
Trang 33sự chỉ đạo, phấn đấu kiên trì và nỗ lực cao của toàn Đảng, toàn dân Con
đường phát triển các ngành công nghiệp chế biến nông sản ở Việt Nam với chủ trương khuyến khích mọi thành phần kinh tế cùng tham gia, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở các vùng nông thôn vốn đã có nghề truyền thống là con đường thích hợp với điều kiện của nước ta Sự phát triển của hoạt
động chế biến ở các vùng nông thôn cũng đồng nghĩa với việc tổ chức và phân công lại lao động tạo nên nhiều ngành nghề ở nông thôn, giải quyết công ăn việc làm cho lao động vốn đang rất dư thừa hiện nay ở các vùng nông thôn ở nước ta Đảng ta chủ trương lãnh đạo nền nông nghiệp phát triển toàn diện, xây dựng vùng sản xuất nguyên liệu tập trung gắn với việc phát triển các cơ sở chế biến nông sản, đồng thời hạn chế xuất khẩu nguyên liệu thô Các mặt hàng nông sản xuất khẩu nhất thiết phải qua chế biến Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ VIII đã nêu:
“ Phát triển toàn diện nông lâm, ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biến nông lâm thuỷ sản, phát triển công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu Phát triển toàn diện nông, lâm, ngư nghiệp hình thành các vùng tập trung chuyên canh, có cơ cấu hợp lý về cây trồng, vật nuôi, có sản phẩm hàng hoá nhiều về số lượng, tốt về chất lượng, đảm bảo an toàn về lương thực cho xã hội, đáp ứng được yêu cầu cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và của thị trường trong, ngoài nước Thực hiện thuỷ lợi hoá, điện khí hoá, cơ giới hoá, sinh học hoá Phát triển công nghiệp chế biến nông, lâm, thuỷ sản với công nghệ ngày càng cao, gắn với nguồn nguyên liện và liên kết với công nghiệp đô thị “ [4, tr 46-47]
Phát triển vùng sản xuất nguyên liệu tập trung gắn với phát triển công nghiệp chế biến là một biện pháp tốt để thúc đẩy nền nông nghiệp phát triển toàn diện và bền vững Thực hiện chủ trương của Đảng, trong thời gian qua, cùng với sự phát triển toàn diện và vững chắc của ngành nông nghiệp, công nghiệp chế biến đã thu được kết quả quan trọng: Năm 2000 tăng 41% so với
Trang 34năm 1999 Đường sản xuất được 764.000 tấn (sản xuất công nghiệp); cà phê đạt sản lượng 500.000 tấn, tăng 20.000 tấn so với năm 1999; chè đạt sản lượng 65.000 tấn, tăng 7.000 tấn; cao su đạt sản lượng 270.000 tấn, tăng 60.000 tấn so với năm 1999; hồ tiêu đạt sản lượng 50.000 tấn; hạt điều đạt 150.000 tấn, tăng 87.5% so với năm 1999; cây ăn quả đạt sản lượng 5,5 triệu tấn, tăng 122% Các ngành chế biến lương thực, rau quả, lâm sản đều tăng từ 3 đến 10%
Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn đã và đang chỉ đạo xây dựng các chương trình đầu tư công nghiệp chế biến đối với một số ngành hàng nông-lâm-sản quan trọng đáp ứng yêu cầu của thị trường trong nước và xuất khẩu, giải quyết công ăn việc làm cho người lao động, chuyển dịch cơ cấu kinh tế như: chương trình một triệu tấn đường, chương trình chế biến rau quả, chương trình một triệu tấn muối, chương trình sản xuất chế biến chè, chương trình chế biến gỗ…
Đến nay chương trình một triệu tấn đường đã hoàn thành đúng mục tiêu
mà Đại hội lần thứ VIII của Đảng đề ra Vụ mía đường 1999-2000 có 42 nhà máy đi vào hoạt động với tổng công suất 73.700 tấn mía/ngày, sản xuất được 764.000 tấn đường, góp phần xoá đói giảm nghèo cho 300.000 hộ nông dân, giải quyết cho hơn 2 triệu lao động
Các chương trình khác đang tiếp tục triển khai và bước đầu đã và đang phát huy hiệu quả như: chương trình sản xuất chế biến chè đã đầu tư chiều sâu, thay thế thiết bị cũ lạc hậu để sản xuất chè có chất lượng cao mà thị trường thế giới đang có nhu cầu: lập dự án xây dựng 2 nhà máy chè đen công suất 12 tấn tươi/ ngày tại Nghệ An, chương trình chế biến rau quả, triển khai
được 20 dự án với tổng công suất 120.000 tấn sản phẩm/ năm trong đó 9 dự án
đã được phê duyệt với tổng công suất 44.600 tấn sản phẩm/ năm Xây dựng dự
án “Hệ thống kho mát bảo quản hoa quả tại Lạng Sơn thực hiện phương thức buôn bán hoa quả hai chiều” và xây dựng mô hình bảo quản mận Bắc Hà (Lào Cai); chương trình một triệu tấn muối, chỉ đạo xây dựng khu kinh tế muối
Trang 35công nghiệp Quán Thẻ - Ninh Thuận; chương trình sản xuất chế biến điều,
đang xây dựng đề án nghiên cứu chế biến các sản phẩm từ quả điều nhằm đa dạng hoá các sản phẩm chế biến, tăng thu nhập cho người trồng điều; chương trình lương thực, chỉ đạo các cơ sở kinh doanh đầu tư nâng cấp kho, thiết bị xay xát
Năm 2000 đã triển khai thực hiện 11 dự án đầu tư nâng cấp và xây dựng mới 22.000 tấn kho kèm theo thiết bị sấy, xây dựng 2 nhà máy xay lúa mì với tổng công suất 500 tấn/ ngày, 3 xưởng chế biến mì ăn liền với công suất chế biến 136.000 tấn/ năm Tổ chức trình diễn, hướng dẫn các Sở NN & PTNT tập huấn cho các hộ nông dân có nhu cầu trang bị máy sấy và lựa chọn thiết bị cho phù hợp
Trong đề án Công nghiệp hoá-Hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn giai đoạn 2000-2020 do bộ Nông Nghiệp và PTNT khởi thảo, các lĩnh vực chế biến được ưu tiên phát triển bao gồm:
- Bảo quản và chế biến lương thực
Công nghệ sấy lương thực được ưu tiên phát triển Kết hợp với nhiều hình thức để làm khô lúa và hoa màu Từng bước trang bị các thiết bị sấy với quy mô
và trình độ công nghệ phù hợp Đối với các bộ và liên bộ sản xuất, có thể trang
bị các máy sấy có công suất từ 0,5-0,2 tấn/ mẻ (táo, lúa, cây dược liệu, nhãn)
Đối với các doanh nghiệp có thể trang bị các máy sấy cỡ lớn, công suất từ 6-10 tấn/ mẻ Mục tiêu là đến 2005 cơ bản làm khô được từ 6-7 triệu tấn lúa hè thu ở
đồng bằng sông Cửu Long Bên cạnh đó, đầu tư nâng cấp 140.000 tấn kho bảo quản lúa gạo hiện có và xây dựng thêm 650.000 tấn kho mới
Để có thể chế biến khoảng 90-95% tổng sản lượng lương thực hàng năm, cần nâng năng lực xay xát lên từ 34-36 triệu tấn/ năm Trong đó, xay xát gạo để xuất khẩu đạt 4 - 4,5 triệu tấn/ năm Tập trung phát triển các loại máy xay xát cỡ 0,8-1 tấn/ giờ, hoặc dây chuyền xay xát, sàng phân loại 1-2 tấn/giờ cho nhu cầu cung cấp gạo trong nước, và đưa tỷ lệ thu hồi gạo từ 64-65% lên
Trang 3664-68% Đối với gạo xuất khẩu, trang bị các dây chuyền bao gồm: xay xát, phân loại và đánh bóng công suất 100-120 tấn/ca, kết hợp đồng bộ với máy sấy và các kho bảo quản Cải tạo, nâng cấp các nhà máy xay xát gạo xuất khẩu ở phía Bắc để nâng tổng công suất lên 1,5-1,8 triệu tấn/năm, đồng bộ hoá các nhà máy hiện có ở phía Nam để đảm bảo công suất 3-3,5 triệu tấn/ năm
2010 và 30% vào năm 2020
- Hạt điều
Ngoài các cơ sở hiện có, sẽ xây dựng thêm 40-50 cơ sở chế biến có công nghệ hiện đại, tạo ra nhiều sản phẩm từ nhân điều, vỏ điều và nâng công suất chế biến từ 50.000 tấn sản phẩm lên 300.000 tấn/ năm Quy mô đầu tư tuỳ thuộc vào vùng nguyên liêu, song thích hợp nhất là kết hợp cơ giới với thủ công, với công suất từ 3.000-5.000 tấn/ năm/ nhà máy, và khuyến khích sử dụng thiết bị do ngành cơ khí trong nước chế tạo Trang bị công nghệ hiện đại
để chế biến các sản phẩm như: bánh, kẹo cao cấp từ nhân điều, dầu vỏ hạt
Trang 37điều, nước giải khát từ quả điều…
- Chè
Với 76 cơ sở sản xuất hiện có, tổng công suất chế biến là 1.100 tấn búp tươi/ ngày, nhưng chế biến chè công nghiệp mới sử dụng hết 60% sản lượng chè nguyên liệu Do đó cần đầu tư thêm công suất chế biến để đưa tổng công suất chế biến lên 4.000 - 4.500 tấn búp tươi/ ngày
ứng dụng công nghệ CTC, OTD trong chế biến chè đen và lựa chọn công nghệ của Nhật Bản, Đài Loan, Trung Quốc kết hợp với công nghệ truyền thống của Việt Nam để chế biến chè xanh Công suất đầu tư phải căn cứ vào quy mô vùng nguyên liệu, song do điều kiện phân bố theo địa hình như nước
ta, nên chọn quy mô trung bình và nhỏ Cụ thể là đối với chè xanh, từ 2-6 tấn búp tươi/ ngày, chè đen từ 12-24 tấn búp tươi/ ngày Những nơi có nguyên liệu phân tán, vùng xa, vùng cao hoặc chưa có điều kiện xây dựng nhà máy thì nên trang bị các thiết vị vò, sao công suất 40-45 Kg búp tươi/ ngày, có thể sử dụng
động cơ điện, động cơ nổ hoặc quay tay Chú trọng chế biến chè đặc sản, chè thực phẩm và xây dựng các trung tâm tinh chế, đấu trộn để ổn định và nâng cao chất lượng chè xuất khẩu
- Cà phê
Hiện cả nước có 40 dây chuyền chế biến cà phê nhân với tổng công suất
20 tấn/ giờ, chủ yếu trang bị cho các nông trường và các doanh nghiệp nhà nước, với quy mô mỗi giây chuyền từ 2-9 tấn/ giờ Khu vực cà phê của tư nhân hầu hết sơ chế bằng các thiết bị nhỏ, công suất từ 0,3-0,5 tấn/ giờ Do thiếu sân phơi, thiết bị cũ và công nghệ lạc hậu nên chất lượng chế biến chưa cao Vì vậy, cần tăng cường đầu tư, ứng dụng công nghệ chế biến ướt cho cả hai loại cà phê chè và cà phê vối ở vùng nguyên liệu tập trung, trang bị dây chuyền đồng bộ (xát, sấy, phân loại, đánh bóng, đóng bao) quy mô 5-10 tấn/giờ Những nơi nguyên liệu phân tán hoặc chưa có điều kiện xây dựng xưởng chế biến thì trang bị các loại máy xát, công suất từ 0,3-1 tấn/ giờ Đầu tư xây dựng 3 dây chuyền chế biến cà phê hoà tan ở 3 miền, có quy mô công
Trang 38suất 1.000-2.000 tấn/năm
2.3 Tình hình chế biến nông sản phẩm của hộ nông dân ở tỉnh Hưng Yên
2.3.1 Số hộ nông dân tham gia vào chế biến nông sản phẩm
Những năm gần đây công nghiệp chế biến nông sản phẩm trên địa bàn tỉnh Hưng Yên đã có sự phát triển tích cực với khoảng 17 doanh nghiệp hoạt
động chế biến ở quy mô công nghiệp (gồm 3 doanh nghiệp nhà nước, 14 công
ty cổ phần và trách nhiệm hữu hạn) với 15 ngành hàng sản phẩm Bên cạnh các cơ sở chế biến nông sản phẩm có quy mô công nghiệp, hiện trên địa bàn tỉnh có 6.850 hộ gia đình tham gia chế biến nông sản với hơn 1.000 lò sấy thủ công (thu hút hơn 10 nghìn lao động), 32 hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp có hoạt động chế biến nông sản Các cơ sở chế biến hộ gia đình và hợp tác xã chủ yếu sản xuất ở quy mô nhỏ (bán công nghiệp) Các hoạt động chế biến nông sản phẩm chủ yếu diễn ra dưới các hình thức: xay xát đánh bóng gạo, chế biến long nhãn, sấy táo, chưng cất tinh dầu hương liệu…
- Trên địa bàn huyện Yên Mỹ hiện có khoảng 1.320 hộ gia đình tham gia vào chế biến nông sản phẩm (tập chung chủ yếu tại thị trấn Yên Mỹ) với hình thức chủ yếu là xay xát đánh bóng gạo, từ đó cung cấp sản phẩm đã chế biến cho các thị trường trong nước như: Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh,…
và xuất khẩu sang các thị trường nước ngoài
- Trên địa bàn huyện Khoái ChâuCó một số làng nghề truyền thống về sơ chế, chế biến các nông sản phẩm như táo, nhãn, vải, cây dược liệu Các làng nghề này tập chung chủ yếu tại xã Bình Minh với số lượng hộ tham gia chế biến khoảng 1260 hộ
- Trên địa bàn huyện Kim Động và huyện Tiên Lữ hiện có khoảng 1765 hộ nông dân tham gia chế biến các loại nông sản như nhãn, dược liệu, lúa gạo và các sản phẩm từ đay tơ, bẹ ngô
Số hộ nông dân tham gia chế biến trên địa bàn xã Bình Minh huyện Khoái
Trang 39Châu của tỉnh H−ng Yên đ−ợc thể hiện cụ thể nh− sau :
Bảng 4: Số hộ và tỷ lệ số hộ tham gia chế biến
của một số huyện tỉnh H−ng Yên
Huyện Số hộ tham gia chế
biến nông sản
Tỷ lệ số hộ tham gia chế biến và làm nghề thủ công
Xét trên địa bàn toàn tỉnh H−ng Yên: Qua 3 năm 2001, 2002, 2003 đã
sản xuất ra đ−ợc khối l−ợng nông sản phẩm nh−: lúa, nhãn, vải, táo, cây d−ợc
liệu đ−ợc thể hiện qua bảng sau:
Bảng: 5 Tình hình sản xuất nông sản phẩm của tỉnh H−ng Yên
Nguồn: Chi cục Thống kê tỉnh H−ng Yên
- Về xay xát lúa: Toàn tỉnh có trên 2300 máy xay xát gạo với tổng công
Trang 40suất trên 17.300 tấn/ ngày Xay xát 100% tổng khối lượng lương thực của tỉnh Ngoài ra còn thu mua ở các tỉnh khác về địa phương để chế biến, bình quân mỗi xã có 14 tổ máy, tính theo công suất thì máy xay xát đã vượt quá nhu cầu Một số cụm xay xát đã đầu tư thiết bị mới có thể tham gia xay xát để xuất khẩu, điển hình như cụm xay xát ở Trai Trang (thuộc thị trấn Yên Mỹ)
- Về chế biến nhãn: Qua bảng 5 cho thấy trong năm 2001 đã sản xuất
được 15.864 tấn, năm 2002 sản xuất được 11.500 tấn, năm 2003 sản xuất được 18.871 tấn Qua quá trình điều tra, thu thập số liệu chúng tôi thấy rằng, qua 3 năm các hộ nông dân đã chế biến được khoảng 30-40% khối lượng nhãn trong tỉnh Sản phẩm nhãn đã qua chế biến là nhãn hộp và long nhãn được tiêu thụ khá mạnh trên thị trường trong và ngoài nước
- Về chế biến vải thiều: Trong 3 năm 2001, 2002, 2003 do thị trường tiêu thụ vải khô không tiêu thụ được, kết hợp với việc rớt giá, do đó khối lượng vải quả tươi được chế biến cũng bị giảm theo, đặc biệt là vụ vải thiều năm 2004, theo kết quả điều tra sơ bộ sản lượng vải được chế biến của các hộ nông dân ở Hưng Yên chỉ còn đạt khoảng 1500 tấn (Chỉ bằng xấp xỉ 35% sản lượng được chế biến của năm 2003) Nguyên nhân cơ bản vẫn chỉ do không có thị trường tiêu thụ
- Về chế biến táo: Qua số liệu thu thập được trong 3 năm
2001-2002-2003, chúng tôi thấy rằng thị trường táo khô được tiêu thụ khá mạnh Do đó bình quân qua 3 năm 2001-2003, các hộ nông dân đã chế biến ra được 1000 tấn táo khô trong một năm Trong đó, khối lượng táo dài khô đã chế biến ra là
550 tấn/ năm; khối lượng táo tròn khô đã chế biến được là 450 tấn/ năm
- Chưng cất tinh dầu hương liệu: Cây dược liệu là các cây thuốc có nhiều tác dụng đối với sức khoẻ con người Do đó cây dược liệu là một loại nông sản phẩm rất gần gũi với người dân Việt Nam ta địa liền, bạch chỉ, hoài sơn, tam thất nam, nghệ… các cây hương liệu như bạc hà, húng… là những cây có hàm lượng tinh dầu cao Qua 3 năm 2001-2003, diện tích trồng cây