1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn đánh giá hiệu quả kinh tế của một số loại hình sử dụng đất canh tác chủ yếu tại tại huyện tam nông tỉnh phú thọ

104 902 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh giá Hiệu quả Kinh tế của Một Số Loại Hình Sử Dụng Đất Canh Tác Chủ Yếu Tại Huyện Tam Nông - Tỉnh Phú Thọ
Tác giả Nguyễn Minh Tuấn
Người hướng dẫn TS. Phạm Văn Phê
Trường học Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội
Chuyên ngành Quản lý đất đai
Thể loại Luận văn thạc sĩ Nông nghiệp
Năm xuất bản 2005
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 1,47 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

luận văn

Trang 1

bộ giáo dục và đào tạo trường đạI học nông nghiệp I

-

nguyễn minh tuấn

Đánh giá hiệu quả kinh tế của một số loại

hình sử dụng đất canh tác chủ yếu tại

huyện Tam Nông - tỉnh Phú Thọ

luận văn thạc sĩ nông nghiệp

Trang 2

bộ giáo dục và đào tạo trường đạI học nông nghiệp I

-

nguyễn minh tuấn

Đánh giá hiệu quả kinh tế của một số loại

hình sử dụng đất canh tác chủ yếu tại

Trang 3

Lời cam đoan

- Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn

là trung thực và ch−a từng đ−ợc sử dụng để bảo vệ một học vị nào

- Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã đ−ợc cám ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn này đã đ−ợc chỉ

rõ nguồn gốc

Tác giả luận văn

Nguyễn Minh Tuấn

Trang 4

Lời cảm ơn

Trong thời gian thực hiện luận văn này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của thầy giáo hướng dẫn cùng tập thể các thầy, cô giáo Bộ môn Sinh thái - Môi trường, Khoa Đất và Môi trường, Trường Đại học Nông nghiệp 1 Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo, TS Phạm Văn Phê đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này

Tôi cũng gửi lời cảm ơn tới Sở Tài nguyên và Môi trường - tỉnh Phú Thọ, Cục Thống kê - tỉnh Phú Thọ, Phòng Địa chính - Nông nghiệp huyện Tam Nông - tỉnh Phú Thọ đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong thời gian thực tập

và hoàn thành đề tài

Tác giả luận văn

Nguyễn Minh Tuấn

Trang 5

Mục lục

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục các chữ viết tắt vi

Danh mục các bảng vii

1 Mở đầu 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục đích yêu cầu nghiên cứu của đề tài 3

1.3 ý nghĩa lý luận và thực tiễn 3

1.3.1 Về lý luận 3

1.3.2 ý nghĩa thực tiễn 3

2 Tổng quan tài liệu và những vấn đề liên quan đến nội dung của đề tài 4 2.1 Các nghiên cứu về hệ thống canh tác 4

2.2 Các nghiên cứu về phương pháp đánh giá đất trên Thế giới và ở Việt Nam 7

2.2.1 Phương pháp đánh giá đất đai của Liên Xô (cũ) 7

2.2.2 Phương pháp đánh giá đất đai ở Anh 7

2.2.3 Đánh giá đất đai ở Mỹ 8

2.2.4 Đánh giá đất theo FAO 9

2.2.5 Nhận xét 10

2.2.6 Những nghiên cưú về đất đai và đánh giá đất ở Việt Nam 11

2.3 Các nghiên cứu về hiệu quả kinh tế 15

2.3.1 Khái niệm về hiệu quả kinh tế 15

2.3.2 Nội dung, bản chất, phạm trù hiệu quả kinh tế 16

2.3.3 Tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả kinh tế 16

Trang 6

2.3.4 Nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế trong mô hình canh tác nông

nghiệp 17

2.4 Nghiên cứu về hiệu quả môi trường 18

2.5 Quan điểm sử dụng đất bền vững 19

2.6 Quan điểm sử dụng đất nông nghiệp 22

2.7 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp tại Việt Nam 24

2.8 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp của tỉnh Phú Thọ 27

2.9 Tình hình sử dụng đất của huyện Tam Nông 29

3 Đối tượng, phạm vi, nội dung và phương pháp nghiên cứu 31

3.1 Đối tượng nghiên cứu 31

3.2 Phạm vi nghiên cứu 31

3.3 Nội dung nghiên cứu 31

3.4 Phương pháp nghiên cứu 32

3.4.1 Sử dụng phương pháp đánh giá đất của FAO 32

3.4.2 Các phương pháp áp dụng trong nghiên cứu 32

4 Kết quả nghiên cứu 35

4.1 Đặc điểm chung của huyện Tam Nông 35

4.1.1 Điều kiện tự nhiên 35

4.1.2 Điều kiện kinh tế- xã hội 42

4.2 Tình hình sản xuất các ngành của huyện Tam Nông 50

4.2.1 Ngành sản xuất nông nghiệp 50

4.2.2 Ngành lâm nghiệp 53

4.2.3 Ngành công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp 54

4.3 Đánh giá hiệu quả kinh tế của một số loại hình sử dụng đất canh tác chủ yếu của huyện Tam Nông 54

4.3.1 Xác định loại hình sử dụng đất canh tác chủ yếu ở huyện Tam Nông 54

4.3.2 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp của các hộ gia đình 59

Trang 7

4.3.3 Đánh giá hiệu quả kinh tế các loại hình sử dụng đất canh tác chủ yếu tại

huyện Tam Nông 63

4.4 Đề xuất hướng sử dụng đất nông nghiệp cho huyện Tam Nông 82

4.4.1 Đất vàn 83

4.4.2 Đất đồi gò 84

4.4.3 Đất trũng 84

4.5 Các giải pháp để thực hiện 85

5 Kết luận và đề nghị 86

5 1 Kết luận 86

5.2 Đề nghị 87

Tài liệu tham khảo 88

Phụ lục 93

Trang 8

Danh môc c¸c ch÷ viÕt t¾t

UBND Uû ban nh©n d©n

USDA Bé n«ng nghiÖp Hoa Kú

Trang 9

Danh mục các bảng

Bảng 2.1 Tình hình sử dụng đất ở Việt Nam đến năm 2003 25

Bảng 2.2 Cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp ở nước ta đến năm 2003 26

Bảng 2.3 Tình hình sử dụng đất đai của tỉnh Phú Thọ năm 2003 27

Bảng 2.4 Diện tích,năng suất và sản lượng một số cây trồng chính của tỉnh Phú Thọ 28

Bảng 2.5 Tình hình sử dụng đất của huyên Tam Nông từ năm 2001- 2004 29 Bảng 2.6 Cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp ở huyện Tam Nông năm 2004 30

Bảng 4.1 Nhiệt độ không khí bình quân các tháng trong năm tại huyện Tam Nông (0C) 37

Bảng 4.2 Số giờ nắng,lượng mưa và ẩm độ không khí các tháng trong năm tại huyện Tam Nông 38

Bảng 4.3 Hiện trạng dân số và lao động huyện Tam Nông năm 2004 43

Bảng 4.4 Hiện trạng sử dụng đất năm 2004 huyện Tam Nông 48

Bảng 4.5 Diện tích, năng suất, sản lượng một số cây trồng chính 52

Bảng 4.6 Các loại hình sử dụng đất và các kiểu sử dụng đất nông nghiệp chủ yếu của huyện Tam Nông 58

Bảng 4.7 Quy mô diện tích đất nông nghiệp các hộ đang sử dụng 60

Bảng 4.8 Hiệu quả kinh tế LUT 2 Lúa 66

Bảng 4.9 Hiệu quả kinh tế LUT 2 Lúa- Màu 67

Bảng 4.10 Hiệu quả hinh tế LUT chuyên màu 69

Bảng 4.11 Lượng chất hữu cơ và đạm thu được từ cây họ đậu(kg/ha) 71

Bảng 4.12 Hiệu quả kinh tế LUT cây ăn quả 74

Bảng 4.13 Hiệu quả kinh tế của LUT cây Sơn 77

Bảng 4.14 Hiệu quả kinh tế của LUT nuôi trồng thuỷ sản 79

Bảng 4.15 Đề xuất các loại hình sử dụng đất đến năm 2010 83

Trang 10

1 Mở đầu

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Đất đai là tài nguyên vô cùng quý báu, là tài sản quan trọng của mỗi quốc gia Đất đai là địa bàn phân bố dân cư, là môi trường sống của các loài

động, thực vật Ngoài ra đất đai còn là tư liệu sản xuất không thể thiếu của sản xuất nông nghiệp

Quá trình sử dụng đất canh tác của con người đã hình thành từ rất lâu

đời, trong đó con người đã tác động làm thay đổi thuộc tính của đất theo cả hai chiều hướng xấu và tốt Việc canh tác nhờ vào các biện pháp canh tác kỹ thuật mang tính khoa học cũng đã cải thiện được tính chất của đất đai được tốt hơn, đất đai mầu mỡ hơn làm cho năng xuất cây trồng vượt trội so với năng suất cây trồng vốn có ban đầu của đất đai ở trạng thái tự nhiên Mặt khác đất đai tự nhiên cũng do tác động của con người làm cho đất đai ngày càng thoái hoá đi theo nhiều hình thức khác nhau như hiện tượng xói mòn, rửa trôi, hiện tượng sa mạc hoá, nhiễm mặn, phèn hoá, chua hoá Mặt trái này là kết quả của quá trình khai thác triệt để đất mà không quan tâm đến việc trả lại cho đất đai nguồn dinh dưỡng mà cây trồng đã lấy đi Việt Nam là một quốc gia với tổng diện tích đất tự nhiên: 32.924.061ha Diện tích đất nông nghiệp 9.343.848,5ha chiếm 28,38% tổng diện tích đất tự nhiên Với dân số là 80.902.400 người[6], nên chỉ số trung bình về đất nông nghiệp trên

đầu người là rất thấp so với các nước trong khu vực và trên thế giới Vì vậy việc sử dụng đất có hiệu quả nhằm đem lại ngày càng nhiều hơn lương thực, thực phẩm cho xã hội là vấn đề kinh tế trong nông nghiệp, cũng như đảm bảo

được độ an toàn cho đất đai mà không tổn hại đến môi trường sống là vấn đề hết sức quan trọng Do phải chịu về sức ép dân số gia tăng nên nhiều năm

Trang 11

trước đây vấn đề sản xuất nông nghiệp ở nước ta có phần không chú trọng đến việc bồi bổ đất đai mà chỉ quan tâm đến năng suất sản lượng Chính vì vậy hệ sinh thái nông nghiệp đã bị thay đổi đáng kể và tính bền vững trong hệ thống nông nghiệp không còn được duy trì Đây cũng là nguyên nhân dẫn đến nguy cơ làm thoái hoá đất đai đặc biệt là ở các tỉnh trung du miền núi nước ta

Từ những vấn đề còn tồn tại của việc sử dụng đất đai trong sản xuất nông nghiệp dẫn đến nguy cơ đất đai bị thoái hoá thì việc xây dựng một nền sản xuất nông nghiệp bền vững cần phải dựa trên quan điểm sinh thái Khi nghiên cứu sản suất nông nghiệp cần phải dựa vào các yếu tố tự nhiên như: khí hậu, địa hình, đất đai Dựa vào những yếu tố tự nhiên để xem xét kỹ sự tác động của chúng với điều kiện kinh tế, xã hội đến sản xuất trong vùng miền

Huyện Tam Nông tỉnh Phú Thọ là một huyện được tái lập từ tháng 9 năm

1999 với tổng diện tích tự nhiên là 15.551,34ha, quy mô diện tích đứng thứ 8 trong tổng số 12 huyện thị của tỉnh Phú Thọ Bình quân diện tích tự nhiên là 1.967m2/người, thấp hơn so với cả nước (bình quân cả nước là 4.200m2/người) Bình quân đất nông nghiệp trên đầu người thấp, chỉ có 799,4m2/người (trong khi cả nước hiện nay là 940m2/người)

Tam Nông là một huyện trung du miền núi với điều kiện phát triển sản xuất nông nghiệp còn gặp nhiều khó khăn, cơ sở hạ tầng kỹ thuật còn nhiều thiếu thốn, trình độ dân trí chưa đáp ứng được yêu cầu cho sản xuất, nguồn tài nguyên đất được sử dụng vào sản xuất nông nghiệp chưa hiệu quả và hợp lý

để phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của huyện Với mong muốn góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế trong nông nghiệp và sử dụng hợp lý hơn đất canh

tác, bảo vệ môi trường, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:

"Đánh giá hiệu quả kinh tế của một số loại hình sử dụng đất canh tác chủ yếu tại huyện Tam Nông - tỉnh Phú Thọ"

Trang 12

1.2 Mục đích yêu cầu nghiên cứu của đề tài

- Mục đích của đề tài :

+ Đánh giá hiệu quả các loại hình sử dụng đất nông nghiệp huyện Tam Nông - Phú Thọ và đề xuất hướng sử dụng đất theo quan điểm nâng cao hiệu quả kinh tế và bền vững

- Yêu cầu của đề tài :

+ Đánh giá các mặt lợi thế và hạn chế của điều kiện tự nhiên, kinh tế- xã hội đối với các loại hình sử dụng đất và diện tích đất nông nghiệp tại huyện Tam Nông - Phú Thọ

+ Đánh giá hiệu quả kinh tế của một số loại hình sử dụng đất canh tác chủ yếu của địa phương hiện nay

+ Đề xuất hướng sử dụng đất nâng cao hiệu quả kinh tế và trên địa bàn huyện Tam Nông - Phú Thọ

1.3 ý nghĩa lý luận và thực tiễn

1.3.1 Về lý luận

+ Đề tài nghiên cứu góp phần làm rõ mối quan hệ của hệ thống canh tác với

điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của từng tiểu vùng trong huyện

+ Góp phần vào kết quả phân tích, đánh giá đất đai theo chỉ dẫn của FAO

Trang 13

2 Tổng quan tài liệu và những vấn đề liên

quan đến nội dung của đề tài

2.1 Các nghiên cứu về hệ thống canh tác

Hệ thống canh tác là một hệ thống độc lập, ổn định giữa các hoạt động sản xuất phù hợp với các điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội nhằm đáp ứng ngày càng cao nhu cầu của nông hộ ,do đó khi xem xét, đánh giá một hệ thống canh tác tại một vùng nào đó có phù hợp hay không, chúng ta phải

đánh giá chúng trong mối quan hệ với các điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của vùng đó Như vậy, hệ thống canh tác là một tổ hợp sản xuất bao gồm nhiều ngành nghề có mối quan hệ mật thiết với nhau và tiêu thụ sản phẩm Cấu trúc của hệ thống không phải là phép cộng đơn giản các yếu tố, các

đối tượng Chúng có tác động qua lại với nhau và có quan hệ ràng buộc với môi trường (Đào Thế Tuấn 1977)[33] Phân tích hệ thống canh tác là vấn đề quan trọng trong việc đánh giá sự phát triển nông nghiệp nó vừa là hệ thống sinh thái, chính trị, xã hội, vừa là một đơn vị độc lập về hoạt động kinh tế, chúng có liên quan chặt chẽ với nhau do cùng sử dụng chung lao động, đất

đai, vốn và sự rủi ro Hệ thống canh tác là một đơn vị tự quyết định có tính hữu hiệu cao, trong đó việc trồng trọt và chăn nuôi được tiến hành để thoả mãn các mục tiêu của nông dân Do vậy hệ thống canh tác là một hệ thống

định hướng mục tiêu Việc tổ chức thích hợp một hệ thống canh tác bất kỳ là mục tiêu của người đưa ra quyết định, chủ yếu là người nông dân để làm thoả mãn các mục tiêu của chính họ và cũng chính là mối quan tâm chung của toàn xã hội Đối với những hộ sản xuất nhỏ mục tiêu chính của họ là tự cung,tự cấp, nhằm thoả mãn cho việc tiêu dùng cá nhân hơn là sản xuất hàng

Trang 14

hoá, do vậy hệ thống canh tác và nông dân có quan hệ rất chặt chẽ Phần lớn các nông hộ nhỏ sản xuất nhằm đáp ứng những nhu cầu tối thiểu vì lương thực của họ, nó phụ thuộc vào từng giai đoạn phát triển của gia đình Đối với nhiều hộ sản xuất lớn, việc mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, lợi nhuận

và giải quyết việc làm là mục tiêu chính của họ Do vậy hệ thống canh tác

được tổ chức không chỉ phụ thuộc vào các giai đoạn phát triển của gia đình

mà còn phụ thuộc vào xã hội Những mục đích quan trọng khác như đảm bảo

an toàn cho tương lai bằng cách huy động vốn để xây dựng trang trại chăn nuôi,trồng trọt và chế biến nông sản, đồng thời tăng cường vị trí xã hội bằng cách huy động của cải để đạt được những thành tựu về kinh tế, kỹ thuật và xã hội, do đó hệ thống canh tác là một hệ thống đa mục tiêu

Hệ thống canh tác là một tổ hợp cây trồng trong không gian và thời gian của một vùng khí hậu, thổ nhưỡng đặc thù, trong một điều kiện kinh tế - xã hội nhất định HTCT ảnh hưởng trực tiếp đến hệ sinh thái thông qua các

động,thực vật và các chất khoáng, các hoá chất trong đất, nước và không khí, tham gia nhiều chu trình chuyển giao năng lượng cho chuỗi thức ăn Do vậy tính đa dạng và bảo tồn dinh dưỡng, chống chịu sâu bệnh xâm nhập và có thể

đứng vững với sự dao động khí hậu trong phạm vi rộng (Trần An Phong 1955)[24]

Nghiên cứu HTCT là một vấn đề phức tạp, nó liên quan đến vấn đề môi trường của hệ thống như đất đai, khí hậu thời tiết, sâu bệnh, mức độ đầu tư và trình độ khoa học nông nghiệp Vì vậy HTCT phải được hình thành từ lý luận của sinh thái học nông nghiệp (Đào Thế Tuấn 1984)[34]

Các hoạt động khác nhau của HTCT tạo điều kiện sử dụng nguồn tài nguyên lao động, máy móc và tiền vốn của nông hộ hay trang trại Các hoạt

động của chăn nuôi và trồng trọt khác nhau theo thời gian thì yêu cầu về máy móc, sức lao động, nhà xưởng, vốn đầu tư, nước tưới cũng khác nhau Nếu

Trang 15

trong HTCT có một số hoạt động này có thể thay thế cho một số hoạt động khác thì khả năng hoàn vốn cao hơn, do vậy trong HTCT hiện nay có thể lồng ghép sử dụng phù hợp các hệ phụ trồng trọt, chăn nuôi, chế biến và tiêu thụ sản phẩm, các hoạt động của hệ phụ chăn nuôi có quan hệ với nhau và quan

hệ với hệ phụ trồng trọt Mối quan hệ giữa các hệ phụ có thể cạnh tranh về lao

động, vốn, nhưng lại bổ sung cho nhau về sử dụng phân bón,các sản phẩm phụ của cây trồng, thúc đẩy khả năng tiêu thụ làm giảm rủi ro Các hệ phụ chế biến có liên quan rõ rệt đến việc trồng trọt những cây trồng cần chế biến, các thành viên của nông hộ và vật nuôi hoạt động có hiệu quả hơn và giảm

được rủi ro nếu các HTCT được đa dạng hoá và luân canh

Đại đa số các HTCT giữ được trạng thái ổn định về độ phì và đầu ra ở mức tương đối cao Bất kỳ sự thay đổi nào về môi trường đều có ảnh hưởng đến trạng thái ổn định, trong trường hợp ảnh hưởng ít HTCT có thể quay trở lại trạng thái ban đầu của nó, nhưng trong canh tác thường có hiệu quả thì rất bền vững Chúng nằm trong mối cân bằng động do các chỉ tiêu đất đai, khí hậu, năng suất, số lượng gia súc, công nghệ chế biến, giá cả, thị trường tiêu thụ Ngày nay với sự gia tăng dân số nhanh đã tạo ra những nhu cầu ngày càng lớn trong việc sử dụng nguồn tài nguyên và ngày càng có nhiều áp lực liên tiếp đè nặng lên nguồn tài nguyên đất hiện đang còn nhiều khả năng khai thác trong nông nghiệp, sản xuất và cho năng suất cây trồng cao Tuy vậy tính bền vững của mức tăng năng suất cây trồng và sự cân bằng các yếu tố dinh dưỡng trong đất, đa dạng sinh học và sinh thái môi trường phụ thuộc nhiều vào các HTCT khác nhau (Trần Đức Viên 1994- 1995)[35]

Trong xu thế phát triển của nền nông nghiệp hiện đại đã kéo theo sự ô nhiễm hoá chất trong đất, nước và không khí, đó là nguyên nhân chính gây suy thoái môi trường nghiêm trọng Việc sử dụng các loại phân vô cơ thay thế phân hữu cơ đã làm giảm độ phì của đất, làm rửa trôi các chất dinh dưỡng

Trang 16

trong đất, gây xói mòn tầng đất mặt, làm thay đổi đáng kể các hoạt động của

vi sinh vật trong đất, làm giảm độ phì nhiêu của đất

2.2 Các nghiên cứu về phương pháp đánh giá đất trên Thế giới và ở Việt Nam

2.2.1 Phương pháp đánh giá đất đai của Liên Xô (cũ)

Phương pháp đánh giá đất đai của Liên Xô (cũ) được hình thành từ đầu năm 1950 và sau đó được hoàn thiện vào năm 1986, để tiến hành đánh giá và thống kê chất lượng tài nguyên đất đai phục vụ cho việc xây dựng chiến lược quản lý và sử dụng đất trên toàn lãnh thổ Liên Bang Xô Viết Đánh giá đất chủ yếu dựa trên cơ sở các đặc tính khí hậu, địa hình địa mạo, thổ nhưỡng,nước ngầm và thực vật (Đỗ Nguyên Hải)[8] Nguyên tắc đánh giá mức độ thích hợp là chia khả năng sử dụng đất thành các nhóm và lớp trong

đó nhóm đất thích hợp được tách ra theo sự khác biệt về loại hình thổ nhưỡng như địa hình, mẫu chất, thành phần cơ giới, chế độ nước Kết quả đánh giá đất của Liên Xô (cũ) đã giúp cho việc thống kê tài nguyên đất đai và hoạch định chiến lược sử dụng, quản lý nguồn tài nguyên đất trong phạm vi toàn Liên Bang Xô Viết Tuy nhiên, đối với đất nông nghiệp thì phương pháp này chưa

đi sâu một cách cụ thể vào từng loại sử dụng, chỉ tập trung chủ yếu vào việc

đánh giá các yếu tố tự nhiên của đất đai mà chưa chú ý đến các điều kiện kinh

tế - xã hội[8]

2.2.2 Phương pháp đánh giá đất đai ở Anh

Đánh giá đất đai ở Anh được áp dụng theo hai phương pháp dựa vào việc thống kê sức sản xuất tiềm năng và sức sản xuât thực tế của đất[27]

* Phương pháp thứ nhất, xác định khả năng trồng cây nông nghiệp của

đất phụ thuộc vào ba nhóm nguyên nhân chính sau đây:

+ Những nguyên nhân hoàn toàn không phụ thuộc vào người sử dụng đất:

Trang 17

Đó là các yếu tố tự nhiên như khí hậu, vị trí địa lý, địa hình, độ dốc, thành phần cơ giới

+ Những nguyên nhân đòi hỏi các biện pháp đầu tư lớn mới khắc phục

được như các công trình tưới, tiêu, thau chua, rửa mặn

+ Những nguyên nhân đòi hỏi người sử dụng đất thực hiện các biện pháp thông thường hàng năm là có thể khắc phục được như cải tạo độ chua, cung cấp chất dinh dưỡng cho đất

* Theo phương pháp thứ hai, việc đấnh giá đất đai căn cứ hoàn toàn vào năng suất thực tế trên đất được lấy làm tiêu chuẩn, lấy năng suất bình quân nhiều năm ở trên đất tốt nhất hoặc đất trung bình so sánh với năng suất trên

đất tiêu chuẩn Tuy nhiên phương pháp này gặp khó khăn vì sản lượng năng suất còn phụ thuộc vào cây trồng được chọn và khả năng của người sử dụng[27]

2.2.3 Đánh giá đất đai ở Mỹ

Hệ thống đánh giá phân loại đất đai theo tiềm năng của Mỹ được Bộ Nông Nghiệp Mỹ (USDA) đề xuất vào những năm 1961

Phương pháp đánh giá đất đai của Mỹ là dựa vào các yếu tố hạn chế trong sử dụng đất, các yếu tố này được chia thành hai nhóm:

+ Nhóm các yếu tố hạn chế vĩnh viễn bao gồm những hạn chế không thể cải tạo được như độ dốc, độ dày tầng đất, lũ lụt và khí hậu khắc nghiệt

+ Nhóm những yếu tố hạn chế tạm thời có khả năng khắc phục được bằng các biện pháp cải tạo trong quản lý đất đai như độ phì, thành phần dinh dưỡng, những trở ngại về tưới hoặc tiêu

Đánh giá mức độ khả năng sử dụng đất đai chủ yếu được xác định dựa trên những yếu tố hạn chế vĩnh viễn Nguyên tắc chung của phương pháp là các yếu tố nào có mức độ hạn chế lớn và khả năng chi phối mạnh đến sử dụng

Trang 18

đất là yếu tố quyết định mức độ thích hợp mà không cần tính đến những khả năng thuận lợi của các yếu tố khác có trong đất

2.2.4 Đánh giá đất theo FAO

Đứng trước tình hình suy thoái đất đai đang diễn ra mạnh mẽ và ngày một nghiêm trọng, từ những năm đầu của thập kỷ 70 nhiều nước phát triển đã không ngừng hoàn thiện các hệ thống đánh giá đất đai của mình vì đánh giá sử dụng đất thích hợp là cơ sở cần thiết cho quy hoạch sử dụng đất và phát triển nền sản xuất nông nghiệp (Đỗ Nguyên Hải - 2000)[8]

Cơ sở của phương pháp đánh giá đất của FAO là dựa trên sự so sánh,đối chiếu mức độ thích hợp giữa yêu cầu của các loại hình sử dụng đất (Land Use Type) với chất lượng và các đặc tính vốn có của các đơn vị bản đồ đất (Land Mapping Unit), kết hợp với các điều kiện kinh tế, xã hội có liên quan đến hiệu quả sử dụng đất Đánh giá đất đai theo FAO được ứng dụng rộng rãi để

đánh giá khả năng của đất đối với các mục đích sử dụng của con người trong sản xuất nông nghiệp, thuỷ lợi, quy hoạch vùng bảo tồn thiên nhiên[8]

Năm 1976, FAO đã đề xuất định nghĩa về đánh giá đất như sau (Theo

Đào Châu Thu và Nguyễn Khang 1998)[32]

Đánh giá đất là quá trình so sánh, đối chiếu những tính chất vốn có của vạt, khoanh đất cần đánh giá với những tính chất đất đai mà loại yêu cầu sử dụng đất cần phải có

Việc đánh giá đất cho các vùng sinh thái hoặc lãnh thổ khác nhau là nhằm tạo ra một sức sản xuất mới ổn định, bền vững và hợp lý Vì vậy, khi

đánh giá đất,đất đai được nhìn nhận như là một vạt đất xác định về mặt địa lý,

là một diện tích bề mặt trái đất với những thuộc tính tương đối ổn định hoặc thay đổi có tính chất chu kỳ có thể dự đoán được của môi trường bên trên hoặc bên dưới nó như không khí, loại đất, điều kiện địa chất, thuỷ văn, động

Trang 19

vật, thực vật, những hoạt động từ trước và hiện tại của con người ở chừng mực

mà những thuộc tính này có ảnh hưởng đáng kể đến việc sử dụng vạt đất đó trong hiện tại và tương lai (TheoChristian, Stewart- 1968, Brinkman, Smyth- 1973)[38]

Như vậy đánh giá đất đai theo FAO phải được xem xét trên phạm vi rất rộng, bao gồm cả không gian, thời gian, tự nhiên,kinh tế và xã hội Đặc điểm

đánh giá đất đai của FAO là những đặc tính đất đai có thể đo lường được[32]

* Nội dung chính của đánh giá đất đai theo FAO (Theo Đào Châu Thu và Nguyễn Khang 1998)[32]

- Xác định chỉ tiêu xây dựng bản đồ đơn vị đất đai

- Xác định và mô tả các loại hình sử dụng đất và yêu cầu sử dụng đất

- Hệ thống cấu trúc và phân hạng đất đai

- Phân hạng thích hợp đất đai

* Các bước chính trong đánh giá đất theo FAO gồm:

3 Xác dịnh loại hình SDĐ

vị đất đai

5

Đánh giá khả

năng thích hợp

6 Xác định hiện trạng KT- XH

và MT

7 Xác định loại hình

sử dụng

đất thích hợp

8 Quy hoạch

sử dụng

đất

9

áp dụng việc

đánh giá đất

2.2.5 Nhận xét

Theo Đỗ Nguyên Hải[8] Phương pháp đánh giá đất của FAO có những

ưu điểm vượt trội so với các phương pháp đánh giá đất của các nước nêu trên: + Phương pháp đánh giá đất thích hợp của FAO có đánh giá riêng rẽ đối

Trang 20

với từng loại sử dụng đất (LUT) nên kết quả nhìn nhận, đánh giá các yếu tố thể hiện một cách rõ ràng và cụ thể hơn Các phương pháp đánh giá đất của Liên Xô (cũ), của Mỹ không có những chỉ dẫn thích hợp về đất đai cho những cây trồng riêng rẽ hay yêu cầu của các LUT cụ thể trong sản xuất

+ Phương pháp đánh giá đất của FAO có đề cập đến chỉ tiêu kinh tế, xã hội có liên quan đến khả năng sử dụng đất và khả năng sinh lợi của đất trong khi các phương pháp khác chỉ quan tâm đến tính thích hợp và các điều kiện tự nhiên của các LUT

+ Phương pháp đánh giá đất của FAO đã khắc phục được yếu tố chủ quan trong đánh giá đất vì xác định được khá rõ các giới hạn về giá trị của các yếu tố đánh giá Kết quả mang tính khách quan và rõ ràng hơn cho các loại sử dụng đất

+ Việc nhấn mạnh những yếu tố hạn chế trong sử dụng đất và quản lý đất

có tính đến các vấn đề môi trường trong phương pháp đánh giá đất của FAO rất có ý nghĩa trong việc tăng cường bảo vệ môi trường sinh thái,đăc biệt trên những loại đất có vấn đề và dễ bị suy thoái

Tóm lại phương pháp đánh giá đất của FAO có sự kế thừa, phối hợp điểm mạnh của hai phương pháp đánh giá đất của Liên Xô (cũ) và Mỹ, đồng thời

có sự bổ sung hoàn chỉnh về phương pháp đánh giá thích hợp đất đai cho các mục đích sử dụng đất khác nhau

2.2.6 Những nghiên cưú về đất đai và đánh giá đất ở Việt Nam

Xuất phát từ quá trình sản xuất nông nghiệp lâu đời, bằng những kinh nghiệm tích luỹ trong sản xuất nông nghiệp, khái niệm về đánh giá đất,phân hạng đất đã xuất hiện dựa vào kinh nghiệm để phân biệt loại đất tốt,đất xấu

để bố trí thích hợp cho từng loại cây trồng Năm 1092 thời nhà Lý người ta đã biết tiến hành đạc điền Vào thời nhà Lê thế kỷ XV đã bắt đầu phân ra các

Trang 21

hạng điền nhằm phục vụ công tác quản lý và thu thuế điền địa Vào thời Gia Long (1802) nhà Nguyễn đã phân chia thành "Tứ hạng điền" và "Lục hạng thổ" để làm cơ sở cho việc mua bán và phân cấp ruộng đất[8]

Thời Pháp thuộc nhằm mục đích khai thác tài nguyên đất, công tác nghiên cứu đánh giá đất được chú ý và tiến hành nghiên cứu ở các vùng đất màu mỡ để xác định tiềm năng và lựa chọn đất đai lập đồn điền trồng cây ngắn ngày và dài ngày, tiêu biểu là các công trình nghiên cứu của Yves Henry (1931), Castagnol E M (1950,1952), Smith (1951)[32]

Sau hoà bình lặp lại, các công trình nghiên cứu về đất cũng như đánh giá

đất đai ở hai miền có những thành tựu khác nhau Tại miền Bắc, được sự giúp

đỡ của các chuyên gia Liên Xô (cũ) các nhà khoa học Việt Nam đã tiến hành

điều tra nghiên cứu về đất và xây dựng được bản đồ thổ nhưỡng toàn miền Bắc tỷ lệ 1/1.000.000, mỗi huyện đều xây dựng được sơ đồ thổ nhưỡng tỷ lệ 1/50.000 và 1/25.000 Một số công trình nghiên cứu cơ bản về đất được công

bố như Fridland V M với "Một số kết quả nghiên cứu bước đầu về đất miền Bắc Việt Nam" (1962);Vũ Ngọc Tuyên, Trần Khải, Phạm Gia Tu với "Những loại đất chính miền Bắc Việt Nam" (1963), Tôn Thất Chiểu với "Tổng quan

về điều tra phân loại đất Việt Nam" (1975) (dẫn theo Đoàn Công Quỳ, 2000)[27]

Từ đầu những năm 1970, Bùi Quang Toản đã cùng một số cán bộ khoa học của Viện Thổ Nhưỡng Nông Hoá như Vũ Cao Thái, Đinh Văn Tính,Nguyễn Văn Thân thực hiện công tác nghiên cứu đánh giá đất và phân hạng đất ở 23 huyện, 286 hợp tác xã thuộc 9 vùng chuyên canh thu được những kết quả phục vụ thiết thực cho công tác tổ chức lại sản xuất[27]

Từ những năm 1989 đến năm 1995 nhiều công trình đánh giá đất ứng dụng quy trình đánh giá đất của FAO được tiến hành và thu được nhiều kết quả tốt như nghiên cứu của Vũ Cao Thái và một số tác giả xác định mức độ

Trang 22

thích hợp của đất Tây Nguyên với cây cao su, cà phê, chè và dâu tằm (1989) Nguyễn Khang và Phạm Dương Ưng với những kết quả nghiên cứu bước đầu

đánh giá tài nguyên đất đai Việt Nam (1994) Nguyễn Công Pho với đánh giá

đất vùng đồng bằng Sông Hồng (1995) Nguyễn Khang và Nguyễn Văn Tân với đánh giá đất vùng dự án đa mục tiêu EA SOUP (1995) Phạm Quang Khánh với kết quả nghiên cứu hệ thống sử dụng đất trong nông nghiệp (1994)

và nhiều kết quả nghiên cứu của các tác giả khác như Võ Văn Anh (1990), Trần An Phong (1991- 1995), Nguyễn Văn Nhân (1991- 1994), Nguyễn Xuân Nhiệm (1992)[27]

Tháng 1 năm 1995, Viện Quy Hoạch và Thiết Kế Nông Nghiệp đã tổ chức hội thảo quốc gia về đánh giá đất và quy hoạch sử dụng đất trên quan

điểm sinh thái và phát triển bền vững với sự tham gia của nhiều nhà khoa học Hội thảo đã tổng kết đánh giá việc ứng dụng quy trình đánh giá đất của FAO vào Việt Nam và nêu lên những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu

Nhiều công trình đánh giá đất ứng dụng quy trình đánh giá đất của FAO cho những vùng sinh thái lớn đã được tiến hành bao gồm:

+ Vùng đồi núi Tây Bắc và Trung du phía Bắc của tác giả Lê Duy Thước (1992), Lê Văn Khoa (1993), Lê Thái Bạt (1995) Trong các nghiên cứu, các tác giả đã có những nhận định tổng quát về quỹ đất của vùng với nét nổi bật

là đất đai của vùng gồm 6 nhóm và 24 loại đất có những đặc điểm phát sinh

và sử dụng đa dạng Trong vùng có bốn loại hình sử dụng đất chính là đất ruộng lúa, đất chuyên màu và cây công nghiệp ngắn ngày, đất trồng cây lâu năm và đất rừng Kết quả đánh giá đất thích hợp cho thấy đất thích hợp cao chiếm 0,4%, đất thích hợp trung bình chiếm 17,2%, đất thích hợp ít chiếm 33,0% và đất không thích hợp chiếm 49,4%[27]

+ Vùng đồng bằng sông Hồng với những công trình nghiên cứu của các tác giả Nguyễn Công Pho, Lê Hồng Sơn (1995), Cao Liêm, Vũ Thị Bình,

Trang 23

Quyền Đình Hà (1992,1993), Phạm Văn Lăng (1992) Các tác giả đã đưa ra một số kết luận sau: đồng bằng sông Hồng có 33 đơn vị đất đai, trong đó 22

đơn vị đất đai thuộc đồng bằng và 11 đơn vị đất đai thuộc đất đồi núi Loại hình sử dụng đất rất đa dạng với 3 vụ sản xuất chính là vụ xuân, vụ mùa và vụ

đông Cây trồng bao gồm lúa nước,cây trồng cạn ngắn ngày, cây ăn quả, cây công nghiệp lâu năm, tổng cộng có 28 loại hình sử dụng đất[27]

+ Vùng Tây Nguyên có các công trình của các tác giả như Nguyễn Khang, Phạm Dương Ưng, Nguyễn Văn Tân, Đỗ Đình Đài, Nguyễn Văn Tuyên (1995) Các kết quả nghiên cứu đã xác định được Tây Nguyên có 3 vùng, 18 tiểu vùng, 54 đơn vị sinh thái nông nghiệp và 195 đơn vị đất đai Trên bản đồ 1/250.000 cho thấy đất Tây Nguyên có 5 hệ thống sử dụng đất chính và 29 loại hình sử dụng đất hiện tại[27]

+ Vùng Đông Nam Bộ có các công trình của Trần An Phong, Phạm Quang Khánh, Cao Vũ Thái, Trương Công Tín (1990) nghiên cứu về môi trường tự nhiên, kinh tế - xã hội, đặc điểm các đơn vị đất đai, hiện trạng sản xuất, loại hình sử dụng đất cũng như các phân tích tài chính, đánh giá hiệu quả kinh tế và tác động môi trường, đánh giá đất thích hợp và lựa chọn các loại hình sử dụng đất bền vững trong nông nghiệp của vùng Trên bản đồ 1/250.000 đã thể hiện 54 đơn vị đất đai với 602 khoanh, có 7 loại hình sử dụng đất chính, 49 loại hình sử dụng đất chi tiết với 94 hệ thống sử dụng đất trong nông nghiệp,trong đó có 50 hệ thống sử dụng đất được chọn[27]

+ Vùng đồng bằng sông Cửu Long có các công trình nghiên cứu của Trần An Phong, Nguyễn Văn Nhân (1991,1995) Các kết quả nghiên cứu đã khẳng định vùng này có 123 đơn vị đất đai được phân chia trên toàn vùng với

63 đơn vị đất đai trên đất phèn, 20 đơn vị đất đai trên vùng đất mặn, 22 đơn vị

đất đai ở vùng đất phù sa không có hạn chế và 18 đơn vị đất đai ở vùng đất khác[27]

Trang 24

Ngoài ra, Viện Quy Hoạch và Thiết Kế nông nghiệp (1993 1994)đã tiến hành đánh giá đất đai trên toàn quốc ở cả 9 vùng sinh thái với bản đồ tỷ lệ từ 1/500.000 đến 1/250.000 Trên các bản đồ này thể hiện đất đai toàn quốc có

90 loại hình sử dụng đất chính trong đó có 28 loại hình được lựa chọn Qua kết quả nghiên cứu dã xác định được 340 đơn vị đất đai trong đó miền Bắc có

144 đơn vị đất đai, miền Nam có 196 đơn vị đất đai (theo Đoàn Công Quỳ, 2000)[27]

Những công trình nghiên cứu đánh giá đất ở tầm vĩ mô của các tác giả đã góp phần hoàn thiện quy trình đánh giá đất đai ở Việt Nam Đề cương hướng dẫn đánh giá đất đai của FAO là kết quả nghiên cứu của nhiều công trình nghiên cứu khoa học và kinh nghiệm đánh giá đất của nhiều nước trên thế giới Việt Nam đã và đang vận dụng đề cương này để tiến hành đánh giá phân hạng đất trên phạm vi toàn quốc Việc đánh giá được khả năng thích hợp của

đất đai trên các vùng, miền khác nhau sẽ làm cơ sở cho việc định hướng chiến lược về quy hoạch sử dụng đất và các vùng sinh thái

2.3 Các nghiên cứu về hiệu quả kinh tế

2.3.1 Khái niệm về hiệu quả kinh tế

Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động kinh tế Mục đích sản xuất kinh tế - xã hội là đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về vật chất tinh thần của toàn xã hội, khi nguồn lực sản xuất xã hội ngày càng trở nên khan hiếm Yêu cầu của công tác quản lý kinh tế đòi hỏi phải nâng cao chất lượng các hoạt động kinh tế làm xuất hiện phạm trù hiệu quả kinh tế

Xuất phát từ giác độ nghiên cứu khác nhau các nhà kinh tế đưa ra nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả kinh tế Mục tiêu các nhà quản lý đặt ra là với một khối lượng dự trữ tài nguyên nhất định tạo ra một khối lượng hàng

Trang 25

hoá lớn nhất Hay nói cách khác là ở một mức sản xuất nhất định cần phải làm thế nào để có chi phí tài nguyên và lao động thấp nhất Điều đó cho thấy quan hệ mật thiết giữa các yếu tố đầu vào và đầu ra là sự biểu hiện kết quả của mối quan hệ thể hiện tính hiệu quả của sản xuất

Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế chung nhất, nó liên quan trực tiếp đến nền sản xuất hàng hoá và tất cả các phạm trù và quy luật khác Quan

điểm cho rằng hiệu quả kinh tế được xác định bởi sự so sánh giữa kết quả đạt

được với các chi phí bỏ ra để đạt được các kết quả ấy

Hiệu quả kinh tế là phạm trù phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động kinh tế bằng quá trình tăng cường lợi dụng các nguồn lực sẵn có phục vụ cho lợi ích của con người Do những nhu cầu vật chất của con người ngày càng tăng, vì vậy nâng cao hiệu quả kinh tế là đòi hỏi khách quan của một nền sản xuất xã hội

2.3.2 Nội dung, bản chất, phạm trù hiệu quả kinh tế

Từ quan điểm về hiệu quả kinh tế và bản chất hiệu quả kinh tế cho ta thấy hiệu quả là một pham trù trọng tâm và rất cơ bản của khoa học kinh tế và quản

lý, do đó cần hiểu đầy đủ nội dung và bản chất của hiệu quả kinh tế

Hiệu quả kinh tế xã hội phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động kinh tế,

là đặc trưng cho mọi hình thái sản xuất xã hội tạo ra kết quả hữu ích lớn nhất Kết quả và hiệu quả kinh tế có quan hệ khăng khít với nhau, kết quả là một đại lượng vật chất được biểu hiện bằng nhiều chỉ tiêu, nhiều nội dung tuỳ thuộc vào từng trường hợp cụ thể để xác định

2.3.3 Tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả kinh tế

Để so sánh hiệu quả kinh tế và các hoạt động kinh tế theo những tiêu thức chung, cần có những tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả kinh tế Trong thực tế quản lý kinh tế ta cần xem xét và đánh giá các hoạt động này có hiệu quả,

Trang 26

không có hiệu quả hay hiệu quả thấp Để nhận biết và có kết luận đánh giá hiệu quả kinh tế cần phải có một mức chuẩn, đó chính là tiêu chuẩn để đánh giá hiệu quả kinh tế

Tuy nhiên tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả kinh tế là vấn đề phức tạp, mỗi trình độ phát triển kinh tế- xã hội khác nhau, mỗi hiệu quả kinh tế khác nhau thì tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả kinh tế là khác nhau

Đối với toàn bộ xã hội thì tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả kinh tế là khả năng thoả mãn nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của xã hội bằng các vật chất sản xuất ra, trong nền kinh tế thị trường còn đòi hỏi yếu tố chất lượng, giá thành thấp để tăng khả năng cạnh tranh

2.3.4 Nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế trong mô hình canh tác nông nghiệp

2.3.4.1 Nhân tố con người

Con người có vai trò quan trọng trong quá trình sản xuất áp dụng các chuyển giao tiến bộ khoa học- kỹ thuật vào sản xuất, chính sự áp dụng này đã làm ảnh hưởng đến kết quả và hiệu quả của các mô hình canh tác nông nghiệp

2.3.4.2 Nhân tố kinh tế, chính trị, xã hội

Trong điều kiện kinh tế - chính trị, xã hội ổn định thì hiệu quả kinh tế sẽ

đạt được cao, cho dù có một số yếu tố có thể không hoàn thiện Mặt khác các yếu tố khác đều hoàn thiện mà điều kiện kinh tế - chính trị xã hội không ổn

định thì hiệu quả kinh tế đạt được là không cao

2.3.4.3.Nhân tố môi trường kinh doanh

Môi trường kinh doanh chịu sự chi phối bởi điều kiện kinh tế - xã hội đã

ảnh hưởng đến kết quả hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp nông nghiệp và người nông dân

Trang 27

2.3.4.4 Nhân tố vốn

Vốn là vấn đề cần thiết và quan trọng đối với hộ nông dân nhằm đầu tư cho sản xuất, thâm canh tăng năng suất nông lâm nghiệp Nếu thiếu vốn hiệu quả kinh tế sử dụng đất sẽ không được cải thiện Vì vậy vốn là nhân tố hết sức quan trọng trong quá trình sản xuất

2.3.4.5 Nhân tố tự nhiên

Điều kiện tự nhiên thuận lợi sẽ ảnh hưởng lớn không chỉ đến quá trình sản xuất mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả kinh tế Vì vậy phải dựa vào điều kiện tự nhiên để thúc đẩy quá trình sản xuất nông lâm nghiệp, yếu tố

tự nhiên đã tác động đến năng suất, sản lượng của quá trình sản xuất

2.4 Nghiên cứu về hiệu quả môi trường

Để có một nền nông nghiệp bền vững, trước hết phải quan tâm đến vấn

đề môi trường Môi trường trong nông nghiệp bao gồm các biện pháp làm đất, bón phân, tưới tiêu nước Nếu như sự phối hợp các khâu này trong canh tác không hợp lý sẽ dẫn đến tình trạng ô nhiễm đất bởi các chất hoá học, đất bị chua, mặn hoặc laterit hoá, làm giảm độ phì nhiêu của đất, ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất, phẩm chất nông sản và làm suy thoái môi trường

Trong hoạt động của sản xuất nông nghiệp, mục đích cuối cùng là nhằm sản xuất ra lương thực, thực phẩm phục vụ sức khoẻ con người, phục vụ sự phát triển hoàn thiện của nhân loại mà không phải chỉ sản xuất ra các nông sản thực phẩm mang lại lợi nhuận cao cho nông dân hay phục vụ mục đích của một nhóm người hoặc một cộng đồng nào đó, nhưng lại làm hại đến môi trường và tài nguyên chung của mọi người và của tương lai

Để đánh giá một phương thức canh tác nào đó là tiến bộ, đi đôi với việc xem xét hiệu quả kinh tế còn phải đánh giá chung về hiệu quả môi trường Hiệu quả môi trường của một hệ thống canh tác trước hết phải phục vụ mục

Trang 28

tiêu của sự phát triển một nền nông nghiệp bền vững Đó là:

* Bảo vệ và làm tăng độ phì nhiêu của đất, cải tạo và phục hồi những loại

đất nghèo dinh dưỡng, đất đã bị suy thoái do kỹ thuật canh tác gây nên, duy trì và nâng cao tiềm năng sinh học của các loại đất còn chưa bị suy thoái Các tiêu thức dùng để đánh giá bao gồm:

+ Bón phân và giữ gìn đất; Việc cung cấp lại lượng mùn bị mất đi hàng năm của đất là rất cần thiết để giữ độ phì cho đất

+ Hạn chế dùng hoá chất trong nông nghiệp

+ Trồng cây họ đậu bao gồm các cây họ đậu ngắn ngày, dài ngày, cây phân xanh, cây đa tác dụng bằng nhiều hình thức: Trồng luân canh, trồng xen, trồng ở dọc đường ranh giới

+ Tăng vụ, tăng hệ số quay vòng của đất để tăng cường sự che phủ đất

* Tính đa dạng sinh học, bảo vệ nguồn gien của các động vật, thực vật hoang dã dùng để lai tạo thành các giống chống chịu tốt với sâu bệnh và các

điều kiện ngoại cảnh bất thường

* Tính đa dạng giữa các hệ phụ trồng trọt, chăn nuôi, ngành nghề phụ, bảo quản chế biến sau thu hoạch và tiêu thụ hàng hoá

* Phát triển phương thức nông, lâm kết hợp, xây dựng các mô hình VAC

* Bảo vệ và duy trì nguồn tài nguyên nước bằng việc trồng rừng, xoá bỏ

đất trống đồi núi trọc, trồng cây lâu năm, kết hợp nông lâm với nuôi trồng thuỷ sản

2.5 Quan điểm sử dụng đất bền vững

Đất đai là tài nguyên vô cùng quý báu không chỉ trong hiện tại mà cả tương lai Khi dân số trên trái đất còn ít thì diện tích đất luôn đáp ứng một cách dễ dàng nhu cầu của con người và con người cũng ít tác động lớn đến tài

Trang 29

nguyên quý báu này Một vài thập niên gần đây, dân số thế giới tăng nhanh kéo theo những nhu cầu về lương thực, thực phẩm tạo nên sức ép vô cùng lớn

đến vấn đề sử dụng đất Diện tích đất đai màu mỡ ngày càng bị thu hẹp trước những nhu cầu công nghiệp hoá, đô thị hoá dẫn đến con người phải tìm cách khai thác những vùng đất ít thích hợp cho sản xuất và hậu quả là quá trình này đã làm cho đất đai bị thoái hoá, rửa trôi, xói mòn nghiêm trọng làm cho một số diện tích lớn đất đai bị suy kiệt, ngoài ra còn ảnh hưởng đến môi trường sống của con người và nhiều loại động thực vật khác Theo kết quả của UNDP và Trung tâm thông tin nghiên cứu đất Quốc tế (ISRIC) đã cho thấy cả thế giới có khoảng 13,4 tỷ ha đất thì trong đó có 2 tỷ ha đất bị thoái hoá ở các mức độ khác nhau trong đó Châu á vàa Châu Phi có 1,24 tỷ ha đất chiếm 62% tổng diện tích đất bị thoái hoá của thế giới (Đỗ Nguyên Hải, 2000)[8] Những

số liệu trên cho thấy sự thoái hoá đất đai hầu hết tập trung vào các vùng, quốc gia đang phát triển, nơi mà nhu cầu lương thực, thực phẩm còn thiếu hụt lớn

Đất đai có những tác dụng to lớn đối với hệ sinh thái nói chung và cuộc sống của con người nói riêng Theo E R De Kipe và B F Warkentin (1998)[40] thì đất có 5 chức năng chính:

+ Duy trì vòng tuần hoàn sinh hoá và địa hoá học

+ Phân phối nước

+ Dự trữ và phân phối vật chất

+ Tính đệm

+ Phân phối năng lượng

Những chức năng trên đảm bảo cho khả năng điều chỉnh sự cân bằng của

hệ sinh thái tự nhiên trước những thay đổi trong quá trình sử dụng đất đai con người đã không chỉ tác động vào đất đai mà còn tác động vào khí quyển, để tạo thành ngày một nhiều hơn lương thực, thực phẩm và hậu quả là đất đai và các nhân tố tự nhiên khác bị suy thoái ngày một theo chiều hướng xấu đi Vì vậy cần phải có những chiến lược về sử dụng đất để duy trì khả năng hiện có

Trang 30

của đất và nâng cao hiệu quả sử dụng đất ở hiện tại và tương lai

"Sử dụng đất bền vững" bao gồm các giải pháp sử dụng đất một cách hiệu quả và bền vững luôn là mong muốn của con người trong suốt cả thời gian lâu dài Nhiều nhà khoa học và các tổ chức quốc tế đã đi sâu nghiên cứu vấn đề sử dụng đất bền vững trên nhiều vùng của thế giới trong đó có Việt Nam Việc sử dụng đất bền vững là sử dụng đất với tất cả các đặc trưng vật lý, hoá học, sinh học có ảnh hưởng đến khả năng sử dụng đất

"Chất lượng đất đai" là thuật ngữ của FAO bao gồm nhân tố ảnh hưởng

đến sự bền vững của tài nguyên đất khi sử dụng cho các mục đích nhất định, chất lượng đất đai có thể khác nhau trên nhiều phương diện như khả năng cung cấp nước tưới, khả năng cung cấp dinh dưỡng cho mục đích sản xuất nông nghiệp, khả năng chống chịu xói mòn, sức sản xuất tự nhiên và phân bố

địa hình ảnh hưởng đến khả năng cơ giới hoá (Fleischauer E and H Eger 1998)[41]

Để duy trì được sự bền vững của đất đai, Smyth A J và Julian Dumanski 1993[46] đã xác định 5 nguyên tắc có liên quan đến sử dụng đất bền vững là: + Duy trì hoặc nâng cao các hoạt động sản xuất

+ Giảm mức độ rủi ro đối với sản xuất

+ Bảo vệ tiềm năng các nguồn tài nguyên tự nhiên, chống lại sự thoái hoá chất lượng đất và nước

Trang 31

+ Bền vững về mặt kinh tế: Cây trồng cho hiệu quả kinh tế cao và được thị trường chấp nhận

+ Bền vững về mặt môi trường: Loại hình sử dụng đất bảo vệ được đất

đai, ngăn chặn sự thoái hoá đất, bảo vệ môi trường tự nhiên

+ Bền vững về mặt xã hội: Thu hút được nhiều lao động, đảm bảo đời sống người dân, góp phần thúc đẩy xã hội phát triển

Tóm lại, hoạt động sản xuất nông nghiệp của con người diễn ra hết sức

đa dạng trên nhiều vùng đất khác nhau Vì vậy khái niệm sử dụng đất bền vững thể hiện nhiều hoạt động sản xuất và quản lý đất đai trên nhiều vùng đất xác định theo nhu cầu và mục đích sử dụng của con người Đất đai trong sản xuất nông nghiệp chỉ được gọi là sử dụng bền vững trên cơ sở duy trì các chức năng chính của đất là đảm bảo khả năng sản xuất của cây trồng một cách ổn

định, không làm suy giảm về chất lượng tài nguyên đất theo thời gian và việc

sử dụng đất không gây ảnh hưởng xấu đến môi trường sống của con người và sinh vật

2.6 Quan điểm sử dụng đất nông nghiệp

Để đáp ứng nhu cầu về lương thực và thực phẩm của con người hiện tại

và tương lai, con người đã tìm mọi cách để khai thác nguồn tài nguyên đất

đai Mục đích của con người trong quá trình sử dụng đất là sử dụng triệt để, tiết kiệm và có khoa học, nhằm không những khai thác mà còn bảo vệ nguồn tài nguyên đất đai, nhưng trong thực tế quá trình sử dụng đất lâu dài do thiếu hiểu biết về khoa học kỹ thuật, nhận thức về sử dụng đất chưa được đầy đủ đã dẫn đến nhiều vùng đất bị khai thác quá mức đã và đang bị thoái hoá nghiêm trọng Diện tích đất thích hợp dùng cho mục đích sản xuất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp Để đáp ứng nhu cầu về lương thực, thực phẩm con người đã phải mở rộng diện tích đất canh tác trên những vùng đất không thích hợp để sản xuất nông nghiệp bằng cách chặt, đốt phá rừng để làm nương rẫy Hậu quả là đã làm cho quá trình rửa trôi, xói mòn đất, quá trình thoái hoá đất diễn

Trang 32

ra mạnh mẽ Mặt khác quá trình thâm canh tăng năng suất cây trồng trên một

đơn vị canh tác, với hệ số sử dụng đất từ 2 đến 3 lần trong năm, cây trồng đã lấy đi một khối lượng lớn các chất dinh dưỡng từ đất làm cho đất ngày càng

bị nghèo độ phì nhiêu đất Các loại hình sử dụng đất không hợp lý, công thức luân canh không phù hợp với điều kiện tự nhiên cũng là nguyên nhân làm cho

đất bị suy thoái Vì vậy để bảo vệ nguồn tài nguyên đất cần phải sử dụng một cách hợp lý và khoa học (Tôn Thất Chiểu, Lê Thái Bạt 1993)[5] Để sử dụng

đất theo hướng bền vững trước tiên phải có quan điểm phát triển nông nghiệp

đúng đắn Hiện nay quan điểm phát triển bền vững chiếm một vị trí quan trọng và có tính quyết định trong sự phát triển chung của xã hội Việc cải thiện chất lượng đất là vấn đề cơ bản nhất của sự phát triển nông nghiệp Nông nghiệp bền vững là việc sử dụng,quản lý có hiệu quả tài nguyên cho nông nghiệp để đáp ứng nhu cầu cuộc sống của con người, đồng thời giữ gìn và cải thiện tài nguyên thiên nhiên và môi trường (Theo FAO 1990)

Hệ thống nông nghiệp bền vững là hệ thống có hiệu quả kinh tế, đáp ứng

được nhu cầu xã hội về an ninh lương thực, đồng thời giữ gìn và cải thiện tài nguyên thiên nhiên và chất lượng của môi trường sống cho đời sau (Theo Mollison B 1994)[19]

Hệ thống nông nghiệp bền vững là một hệ thống thiết kế để chọn môi trường bền vững cho con người liên quan tới cây trồng, vật nuôi, cơ sở hạ tầng

và các công trình xây dựng do con người tạo ra (Hội khoa học đất Việt Nam)[10]

Nông nghiệp bền vững được thể hiện theo các vấn đề cơ bản sau:

+ Bền vững về an ninh lương thực trong thời gian dài trên cơ sở hệ thống nông nghiệp phù hợp với điều kiện sinh thái môi trường

+ Bền vững về tổ chức quản lý hệ thống nông nghiệp phù hợp trong mối quan hệ con người cho thế hệ sau

+ Bền vững thể hiện tính cộng đồng thể hiện trong quá trình sử dụng đất

Trang 33

sản xuất nông nghiệp là sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên đất đai, giữ vững và cải thiện chất lượng môi trường, nâng cao hiệu quả kinh tế, làm tăng chất lượng cuộc sống và hạn chế rủi ro

Quá trình sử dụng đất là hệ thống các biện pháp nhằm điều hoà mối quan

hệ giữa con người với đất đai Sử dụng hợp lý đất đai là vấn đề phức tạp, nó chịu

ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác nhau bao gồm; điều kiện tự nhiên như khí hậu, thuỷ văn, thảm thực vật và các quy luật sinh thái tự nhiên

Các tác giả Bill Mollison và R M Slay trong cuốn "Đại cương về nông nghiệp bền vững" cho rằng: "Nông nghiệp bền vững nói về thiết kế những hệ thống định canh lâu bền Đó là triết lý một cách tiếp cận về sử dụng đất đai, liên kết tiểu khí hậu, cây trồng hàng năm và lâu năm, vật nuôi, đất, nước và những nhu cầu của con người xây dựng nên những cộng đồng chặt chẽ và có hiệu quả"[19]

Hệ thống nông nghiệp bền vững bao gồm những vấn đề chủ yếu là:

+ Một hệ thống tạo ra những mô hình định canh lâu bền bằng cách kết hợp thiết kế và sinh thái

+ Một sự tổng hợp hiểu biết truyền thống với khoa học hiện đại, áp dụng cho cả thành thị và nông thôn

+ Nông nghiệp bền vững lấy các hệ thống thiên nhiên làm mẫu và hành

động với thiên nhiên nhằm thiết kế những môi trường lâu bền cung cấp những nhu cầu cơ bản cho con người cũng như những hạ tầng xã hội, kinh tế và đảm bảo cho những nhu cầu đó

+ Nông nghiệp bền vững thúc đẩy chúng ta tham ra có ý thức vào việc giải quyết nhiều vấn đề đặt ra cho chúng ta ở phạm vi địa phương và toàn cầu[20]

2.7 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp tại Việt Nam

Việt Nam là một nước có bình quân diện tích đất trên đầu người vào hàng thấp nhất trên thế giới Theo báo cáo của Tổng Cục Địa chính năm 1997

Trang 34

so với 10 nước khu vực Đông Nam á thì Việt Nam có tổng diện tích đất tự nhiên đứng hàng thứ 4, nhưng dân số đứng hàng thứ 2 nên bình quân diện tích

đất trên đầu người đứng hàng thứ 9, chỉ cao hơn Singapore (dẫn theo Đỗ Nguyên Hải 2000)[8]

Bảng 2.1 Tình hình sử dụng đất ở Việt Nam đến năm 2003

Loại đất Diện tích

(ha)

Tỷ lệ (%)

Bình quân diện tích trên đầu người (m 2 /người)

Tổng diện tích đất tự nhiên 32.931.456 100,00 4.070,5

Nguồn:Bộ tài nguyên và môi trường

Số liệu ở bảng trên cho thấy diện tích đất nông nghiệp toàn quốc là 9.531.831ha chiếm 28,94% tổng diện tích tự nhiên, tỷ lệ này còn thấp hơn nhiều so với các nước trong khu vực và trên thế giới, ở Philipin là 33%, ấn Độ 52%, Pháp 66%,Bungari 56%, Mỹ 68% Diện tích đất chưa sử dụng là 8.867.412ha chiếm 26,90% tổng diện tích tự nhiên, điều này cho thấy diện tích đất chưa sử dụng vẫn chiếm một tỷ lệ khá cao trong khi diện tích đất được

Trang 35

sử dụng trên đầu người của nước ta còn ở mức rât thấp Vì vậy cần phải có nhiều biện pháp thiết thực hơn để có thể khai thác được diện tích đất chưa sử

dụng vào nhiều mục đích khác nhau

Bảng 2.2 Cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp ở nước ta đến năm 2003

Loại đất Diện tích (ha) Tỷ lệ (%)

Tổng diện tích đất nông nghiệp 9.531.831 100,00

42,20 6,85 13,46

Đất mặt nước nuôi trồng thuỷ sản 594.810 6,24

Nguồn: Bộ tài nguyên và môi trường

Việt Nam là một nước nông nghiệp với 80% dân số sống chủ yếu bằng nghề nông, diện tích đất lại nhỏ và có dân số đông đứng hàng thứ 2 ở khu vực

Đông Nam á Diện tích đất sử dụng vào mục đích nông nghiệp là 9.531.831ha chiếm 28,94% tổng diện tích tự nhiên toàn quốc Vì vậy diện tích

đất nông nghiệp bình quân trên đầu người chỉ đạt 0,1ha/người xếp vào hàng thấp so với các nước trong khu vực và trên thế giới Để có thể đáp ứng nhu cầu

về lương thực,thực phẩm theo kịp tốc độ ra tăng dân số hiện tại và tương lai cần phải có những chiến lược khai thác sử dụng đất hợp lý, triệt để tiết kiệm

đất, sử dụng có hiệu quả trên cơ sở phát triển một nền nông nghiệp bền vững

Trang 36

2.8 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp của tỉnh Phú Thọ

Phú Thọ là một tỉnh miền núi phía Bắc với tổng diện tích đất tự nhiên là 351.965,32ha, trong đó diện tích đất nông nghiệp là 97.513,53ha chiếm 27,70 % tổng diện tích tự nhiên, diện tích đất nông nghiệp chiếm tỷ lệ nhỏ so với diện tích

đất tự nhiên, có độ dốc lớn, điều kiện canh tác gặp nhiều khó khăn Trong nhiều năm qua diện tích đất canh tác của tỉnh Phú Thọ biến động từ 100.000ha đến 125.000ha, trong đó trên 50% là diện tích trồng lúa Diện tích gieo trồng lúa vụ

đông xuân là 36.000ha, vụ mùa là 34.000ha Diện tích gieo trồng cây lương thực

có xu hướng giảm dần, chủ yếu diện tích cây màu,diện tích lúa ổn định hơn Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến diện tích màu giảm là do đời sống nhân dân đã

được cải thiện nên màu không được sử dụng làm lương thực như trước và một phần diện tích đã được chuyển sang trồng các cây trồng khác có hiệu quả kinh tế cao hơn như trồng bí đỏ, bí đao, dưa, rau xanh , những năm qua việc thâm canh, tăng năng suất các loại cây trồng đã thu được kết quả lớn, nhất là cây lúa

Bảng 2.3 Tình hình sử dụng đất đai của tỉnh Phú Thọ năm 2003

(ha)

Tỷ lệ (%)

1 5- Đất có mặt nước nuôi trồng thuỷ sản 2.552,55 0,72

Trang 37

Diện tích đất nông nghiệp của tỉnh Phú Thọ đã được tận dụng khá triệt để

cho việc sản xuất nông nghiệp Những năm 1994 trở về trước năng suất lúa

bình quân cả năm của tỉnh Phú Thọ chỉ đạt khoảng 20 đến 25,1tạ/ha, đến nay

năng suất lúa bình quân đạt từ 39 đến 43,4tạ/ha Năng suất lúa tăng nhanh

làm cho sản lượng lúa cả năm từ 16 vạn tấn đã tăng lên (29 ữ 30 vạn tấn) Có

được kết quả đó là do những năm gần đây người dân đã biết áp dụng tiến bộ

khoa học kỹ thuật để tạo ra năng suất ngày một cao hơn và mở rộng diện tích

các giống lúa ngắn ngày cho năng suất cao Mặt khác do thời tiết cơ bản thuận

lợi, cộng với cơ sở hạ tầng, màng lưới dịch vụ được tăng cường, do đó sản xuất

lương thực đã phát triển khá Ngoài diện tích trồng lúa và các loại cây lương thực

khác, diện tích các loại cây còn lại khoảng 35 ữ 40% Chi tiết được thể hiện qua

Sản lượng (tấn)

Trang 38

nghiên cứu được những cây, con phù hợp với vùng đất của từng địa phương nên đã từng bước hình thành một số cây chủ lực trong quá trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng theo hướng sản xuất hàng hoá và có ý nghĩa quan trọng để tăng thêm việc làm, góp phần xoá đói giảm nghèo ở khu vực nông thôn và nông nghiệp Phú Thọ Trong một vài năm gần đây một số diện tích cây lâu năm,diện tích các loại cây ăn quả đã được các địa phương quan tâm đầu tư như cam, quýt, xoài, nhãn, vải và diện tích cây lâu năm đã cho sản phẩm như chè 7.008,33ha, cà phê 11,1ha, cam quýt 86,9ha, xoài 58,54ha, nhãn 168ha, vải 268,79ha[6]

2.9 Tình hình sử dụng đất của huyện Tam Nông

Trong những năm gần đây tình hình sử dụng đất của huyện Tam Nông có nhiều biến động, diện tích đất nông nghiệp tăng giảm thất thường Tình hình

sử dụng đất được thể hiện qua bảng 2.5

Bảng 2.5 Tình hình sử dụng đất của huyện Tam Nông

Đất chưa sử dụng 4.318,12 4.157,44 4.128,54 4.115,64

Nguồn: Phòng địa chính huyện Tam Nông

Qua bảng số liệu trên cho ta thấy diện tích đất các loại đất tăng giảm thất thường qua các năm từ 2001 đến năm 2004 Điều này cho thấy tình hình sử

Trang 39

dụng và quản lý đất đai của huyện còn tồn tại những hạn chế nhất định, một phần diện tích đất đai không được kê khai do cấp xã sử dụng thu quỹ riêng, mặt khác do công tác đo đạc và chỉnh lý diện tích các loại đất của địa phương chưa thật chính xác tương đối dẫn đến sự biến động thất thường diện tích các loại đất đặc biệt là đất nông nghiệp và đất chuyên dùng Hiện nay nhờ áp dụng công nghệ thông tin trong lĩnh vực quản lý đất đai và xây dựng các loại bản đồ

có độ chính xác cao hơn, nhờ đó mà công tác quản lý và sử dụng đất đai của huyện đạt hiệu quả cao hơn

Bảng 2.6 Cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp

ở huyện Tam Nông năm 2004

(ha)

Tỷ lệ (%) Tổng diện tích đất nông nghiệp 6.462,45 100,00

Nguồn:Phòng địa chính Tam Nông

Trang 40

3 Đối tượng, phạm vi, nội dung

và phương pháp nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

+ Đất sản xuất nông nghiệp của huyện Tam Nông- Phú Thọ

+ Các điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội có liên quan đến sản xuất nông nghiệp của huyện Tam Nông- tỉnh Phú Thọ

+ Các loại hình sử dụng đất canh tác chủ yếu tại địa phương

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài được thực hiện trên các xã có diện tích đất đại diện cho các loại hình sử dụng đất canh tác phổ biến

3.3 Nội dung nghiên cứu

- Nghiên cứu các điều kiện tự nhiên như vị trí địa lý, khí hậu, thuỷ văn, tài nguyên đất và nước ảnh hưởng đến sử dụng đất nông nghiệp của huyện

- Nghiên cứu các điều kiện kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến sử dụng đất nông nghiệp của huyện

- Xác định các loại hình sử dụng đất chủ yếu trong huyện

- Đánh giá hiệu quả sử dụng đất:

+ Xác định yêu cầu sử dụng đất của các loại hình sử dụng đất

+ Đánh giá hiệu quả kinh tế các LUT

+ Đánh giá hiệu quả xã hội các LUT

+ Đánh giá tác động môi trường các LUT

Ngày đăng: 28/11/2013, 10:07

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
38- Brinkman R. & Smyth A. J (1973), Land Evaluation for Rural Purpse. Wagenigen Sách, tạp chí
Tiêu đề: Land Evaluation for Rural Purpse
Tác giả: Brinkman R. & Smyth A. J
Năm: 1973
39- De Kimpe E. R & Warkentin B. P (1998), '' Soil Functions and Future of Natural Resources '', Towards Sustainable Land Use, USRIC, Vol 1. pp 3- 11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Towards Sustainable Land Use
Tác giả: De Kimpe E. R & Warkentin B. P
Năm: 1998
40- Fleischhauer E. and H. Eger (1998), '' Can Sustainable Land Use be Achieved? An Introductory View on Scientific and Political Issues '', Towards Sustainable Land Use, Vol 1,ISSS. pp 557- 560 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Towards Sustainable Land Use
Tác giả: Fleischhauer E. and H. Eger
Năm: 1998
41- FAO (1976), '' A Framwork for Land Evaluation '', Soil bulletin (32), FAO, Rom. pp 13- 35 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Soil bulletin
Tác giả: FAO
Năm: 1976
42- FAO (1983), Guidelines : Land Evaluation for Rainfed Agriculture, FAO, Rom. pp 23- 25 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Guidelines : Land Evaluation for Rainfed Agriculture
Tác giả: FAO
Năm: 1983

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.2. Cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp ở nước ta đến năm 2003 - Luận văn đánh giá hiệu quả kinh tế của một số loại hình sử dụng đất canh tác chủ yếu tại tại huyện tam nông   tỉnh phú thọ
Bảng 2.2. Cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp ở nước ta đến năm 2003 (Trang 35)
Bảng 2.5. Tình hình sử dụng đất của huyện Tam Nông - Luận văn đánh giá hiệu quả kinh tế của một số loại hình sử dụng đất canh tác chủ yếu tại tại huyện tam nông   tỉnh phú thọ
Bảng 2.5. Tình hình sử dụng đất của huyện Tam Nông (Trang 38)
Bảng 4.1. Nhiệt độ không khí bình quân các tháng trong năm - Luận văn đánh giá hiệu quả kinh tế của một số loại hình sử dụng đất canh tác chủ yếu tại tại huyện tam nông   tỉnh phú thọ
Bảng 4.1. Nhiệt độ không khí bình quân các tháng trong năm (Trang 46)
Bảng 4.2. Số giờ nắng,l−ợng m−a và ẩm độ không khí - Luận văn đánh giá hiệu quả kinh tế của một số loại hình sử dụng đất canh tác chủ yếu tại tại huyện tam nông   tỉnh phú thọ
Bảng 4.2. Số giờ nắng,l−ợng m−a và ẩm độ không khí (Trang 47)
Bảng 4.3. Hiện trạng dân số và lao động huyện Tam Nông năm 2004 - Luận văn đánh giá hiệu quả kinh tế của một số loại hình sử dụng đất canh tác chủ yếu tại tại huyện tam nông   tỉnh phú thọ
Bảng 4.3. Hiện trạng dân số và lao động huyện Tam Nông năm 2004 (Trang 52)
Bảng 4.4. Hiện trạng sử dụng đất năm 2004 huyện Tam Nông - Luận văn đánh giá hiệu quả kinh tế của một số loại hình sử dụng đất canh tác chủ yếu tại tại huyện tam nông   tỉnh phú thọ
Bảng 4.4. Hiện trạng sử dụng đất năm 2004 huyện Tam Nông (Trang 57)
Bảng 4.5. Diện tích, năng suất, sản l−ợng một số cây trồng chính  Loại cây trồng  §V tÝnh  N¨m 2002 N¨m 2003  N¨m 2004 - Luận văn đánh giá hiệu quả kinh tế của một số loại hình sử dụng đất canh tác chủ yếu tại tại huyện tam nông   tỉnh phú thọ
Bảng 4.5. Diện tích, năng suất, sản l−ợng một số cây trồng chính Loại cây trồng §V tÝnh N¨m 2002 N¨m 2003 N¨m 2004 (Trang 61)
Bảng 4.7. Quy mô diện tích đất nông nghiệp các hộ đang sử dụng - Luận văn đánh giá hiệu quả kinh tế của một số loại hình sử dụng đất canh tác chủ yếu tại tại huyện tam nông   tỉnh phú thọ
Bảng 4.7. Quy mô diện tích đất nông nghiệp các hộ đang sử dụng (Trang 69)
Bảng 4.8. Hiệu quả kinh tế LUT 2 Lúa - Luận văn đánh giá hiệu quả kinh tế của một số loại hình sử dụng đất canh tác chủ yếu tại tại huyện tam nông   tỉnh phú thọ
Bảng 4.8. Hiệu quả kinh tế LUT 2 Lúa (Trang 75)
Bảng 4.9. Hiệu quả kinh tế LUT 2 Lúa- Màu - Luận văn đánh giá hiệu quả kinh tế của một số loại hình sử dụng đất canh tác chủ yếu tại tại huyện tam nông   tỉnh phú thọ
Bảng 4.9. Hiệu quả kinh tế LUT 2 Lúa- Màu (Trang 76)
Bảng 4.10. Hiệu quả hinh tế LUT chuyên màu - Luận văn đánh giá hiệu quả kinh tế của một số loại hình sử dụng đất canh tác chủ yếu tại tại huyện tam nông   tỉnh phú thọ
Bảng 4.10. Hiệu quả hinh tế LUT chuyên màu (Trang 78)
Bảng 4.11. L−ợng chất hữu cơ và đạm thu đ−ợc từ cây họ đậu (kg/ha) - Luận văn đánh giá hiệu quả kinh tế của một số loại hình sử dụng đất canh tác chủ yếu tại tại huyện tam nông   tỉnh phú thọ
Bảng 4.11. L−ợng chất hữu cơ và đạm thu đ−ợc từ cây họ đậu (kg/ha) (Trang 80)
Bảng 4.12. Hiệu quả kinh tế LUT cây ăn quả - Luận văn đánh giá hiệu quả kinh tế của một số loại hình sử dụng đất canh tác chủ yếu tại tại huyện tam nông   tỉnh phú thọ
Bảng 4.12. Hiệu quả kinh tế LUT cây ăn quả (Trang 83)
Bảng 4.13. Hiệu quả kinh tế của LUT cây Sơn - Luận văn đánh giá hiệu quả kinh tế của một số loại hình sử dụng đất canh tác chủ yếu tại tại huyện tam nông   tỉnh phú thọ
Bảng 4.13. Hiệu quả kinh tế của LUT cây Sơn (Trang 86)
Bảng 4.15. Đề xuất các loại hình sử dụng đất đến năm 2010 - Luận văn đánh giá hiệu quả kinh tế của một số loại hình sử dụng đất canh tác chủ yếu tại tại huyện tam nông   tỉnh phú thọ
Bảng 4.15. Đề xuất các loại hình sử dụng đất đến năm 2010 (Trang 92)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm