1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn đánh giá các loại hình sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả cao và đề xuất khả năng mở rộng ở huyện đông hưng tỉnh thái bình

128 1,3K 5
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh Giá Các Loại Hình Sử Dụng Đất Nông Nghiệp Có Hiệu Quả Cao Và Đề Xuất Khả Năng Mở Rộng Ở Huyện Đông Hưng Tỉnh Thái Bình
Tác giả Vũ Thị Xuân Hương
Người hướng dẫn PGS.TS. Trần Văn Chính
Trường học Trường Đại Học Nông Nghiệp I
Chuyên ngành Khoa Học Đất
Thể loại Luận Văn Thạc Sĩ
Năm xuất bản 2005
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 128
Dung lượng 1,6 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

luận văn

Trang 1

bộ giáo dục và đào tạo trường đạI học nông nghiệp I

-

vũ thị xuân hương

đánh giá các loại hình sử dụng đất nông nghiệp

có hiệu quả cao và đề xuất khả năng mở rộng

Trang 2

lời cam đoan

Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu của tôi trong luận văn này là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo

vệ một học vị nào

Tôi cũng cam đoan rằng, các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc và mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn

Vũ Thị Xuân Hương

Trang 3

lời cảm ơn

Trong quá trình học tập và thực hiện đề tài, tôi đã nhận được

sự giúp đỡ tận tình của các thầy, cô giáo:

-Thầy Trần Văn Chính-Trưởng bộ môn Khoa học đất-Khoa

đất và môi trường đã hướng dẫn tôi thực hiện đề tài và hoàn thiện luận văn này

-Các thầy cô giáo trong bộ môn trong quá trình giảng dạy và viết luận văn

-Các thầy, cô giáo khoa Sau đại học

-Bạn bè, người thân đã giúp đỡ cả về vật chất và tinh thần trong quá trình học tập và thực hiện đề tài

Tôi xin chân thành cảm tạ mọi sự giúp đỡ quý báu trên!

Tác giả luận văn

Vũ Thị Xuân Hương

Trang 4

2.1 Hiệu quả sử dụng đất trong phát triển nông nghiệp bền vững 4

2.2 Đánh giá hiệu quả và tính bền vững trong sử dụng đất nông nghiệp 11

2.3 Sử dụng đất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá 20

2.4 Những nghiên cứu nâng cao hiệu quả sử dụng đất và phát triển

sản xuất nông nghiệp trên thế giới và Việt Nam 30

2.5 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội và tình hình sử dụng đất nông

3 Đối tượng, phạm vi, nội dung và phương pháp nghiên cứu 37

4.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội của huyện Đông Hưng 41 4.2 Đánh giá các loại hình sử dụng đất có hiệu quả cao ở huyện

4.3 Đề xuất các loại hình sử dụng đất có triển vọng 88

Trang 6

Danh mục các chữ viết tắt trong luận văn

Chữ viết tắt Nghĩa đầy đủ

FAO Tổ chức nông lương Liên Hợp Quốc

ISRIC Trung tâm thông tin nghiên cứu đất Quốc tế IPM Chương trình quản lý dịch hại tổng hợp IRRI Viện nghiên cứu lúa Quốc tế

LUT (Land Use Type) Loại hình sử dụng đất

LĐTBXH Lao động thương binh xã hội

RRA Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn

QHTKNN Quy hoạch thiết kế nông nghiệp

UNDP Tổ chức phát triển Liên Hợp Quốc

Trang 7

danh mục các bảng biểu trong luận văn

TT Tên bảng Trang

1 Biến động về diện tích đất nông nghiệp và diện tích đất canh tác

2 Tình hình xuất khẩu hàng hoá nông nghiệp những năm gần đây 25

3 Tình hình sử dụng đất đai của tỉnh Thái Bình đến 1/4/2005 35

4 Tình hình sử dụng đất đai của huyện Đông hưng giai đoạn 2000-2004 46

5 Cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp ở huyện Đông hưng năm 2004 47

6 Bảng phân loại đất theo phát sinh huyện Đông hưng-tỉnh Thái Bình 49

7 Thống kê diện tích đất nông nghiệp theo các chỉ tiêu huyện

11 Hiệu quả kinh tế loại hình sử dụng đất chuyên màu 73

12 Hiệu quả kinh tế loại hình sử dụng đất cây ăn quả 77

13 Hiệu quả kinh tế loại hình sử dụng đất 2 lúa-cá 82

15 Phân cấp các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế-xã hội 92

16 So sánh hiệu quả kinh tế-xã hội các loại hình sử dụng đất 93

17 Đề xuất diện tích các loại hình sử dụng đất trong tương lai 94

Trang 8

Danh mục các biểu đồ trong luận văn

TT Tên biểu đồ Trang

1 Cơ cấu đất nông nghiệp huyện Đông H−ng năm 2004 48

2 Cơ cấu kinh tế huyện Đông H−ng năm 2004 53

Trang 9

Danh môc c¸c ¶nh minh ho¹ trong luËn v¨n

Trang 10

1 Mở đầu

1.1.Tính cấp thiết của đề tài

Đất đai là tài nguyên vô cùng quý báu, là tài sản quan trọng nhất của Quốc gia Đất đai không chỉ là địa bàn phân bố dân cư, nơi sinh sống của loài người mà còn là tư liệu sản xuất không thể thiếu của sản xuất nông nghiệp Là một sản phẩm tự nhiên nhưng đất đai không giống như nhiều tài nguyên khác bởi diện tích hạn chế và vị trí cố định Trong quá trình sử dụng đất, con người

đã tác động làm thay đổi đất đai theo cả hai chiều hướng xấu và tốt Nhiều nơi trên thế giới và ở Việt Nam đất đang ngày càng bị thoái hoá dưới nhiều hình thức như xói mòn trơ sỏi đá, quá trình Laterit hoá, quá trình sa mạc hoá theo nghĩa rộng, nhiễm mặn, phèn hoá, chua hoá [19] Đây là kết quả của một thời gian dài con người sản xuất, canh tác phiến diện, không quan tâm đến sự bồi bổ đất đai hay nói cách khác, con người đã không coi đất đai như một cơ thể sống cần được chăm sóc để nó khoẻ mạnh và phục vụ con người tốt hơn

Nằm trong khu vực Đông Nam á, Việt Nam chúng ta có diện tích đất

tự nhiên thấp: 32.929 triệu ha, nhưng dân số lại đông và tăng rất nhanh, đất

đai được sử dụng vào mục đích nông nghiệp chiếm tỷ lệ thấp (Chỉ chiếm 28,38% tổng diện tích đất tự nhiên) nên chỉ số trung bình về đất nông nghiệp trên đầu người thấp, chỉ có 1162,64 m2/người [36] Chính vì thế việc sử dụng tốt đất đai nhằm đem lại ngày càng nhiều hơn lương thực, thực phẩm cho xã hội là vấn đề hết sức quan trọng

Những năm trước đây, do trình độ công nghệ còn lạc hậu cộng với sự gia tăng dân số nhanh nên nền sản xuất nông nghiệp của ta phần nào chỉ chú trọng đến năng suất-sản lượng, các vùng đất đều được khai thác một cách gượng ép cho canh tác lúa nước Một hệ sinh thái nhân tạo trong sản xuất nông nghiệp thay thế cho hệ sinh thái tự nhiên đã làm giảm đi tính bền vững

Trang 11

của hệ thống Vấn đề đặt ra là phải tiến hành xây dựng một nền sản xuất nông nghiệp-hệ thống gồm nhiều mối quan hệ phức tạp giữa tự nhiên và con người- thực sự bền vững để giảm thiểu nguy cơ thoái hoá đất đai, đảm bảo nhu cầu thiết yếu cho con người trong cả hiện tại và tương lai

Trong sản xuất nông nghiệp hiện nay nhất là ngành trồng trọt, các loại hình sử dụng đất có thu nhập đạt trên 40 triệu đồng/ha/năm là không phổ biến

và được xem là có hiệu quả kinh tế cao Chính vì thế mô hình cánh đồng đạt giá trị sản xuất 50 triệu đồng/ha/năm trở thành điển hình tiên tiến không chỉ ở Thái Bình mà ở cả khu vực đồng bằng Bắc bộ

Là một tỉnh có diện tích đất nhỏ,Thái bình muốn phát triển sản xuất nông nghiệp, tăng sản lượng nông sản chỉ có hai con đường: Đó là mở rộng diện tích đất canh tác trên các vùng đất tạm thời chưa sử dụng nhưng có khả năng nông nghiệp và thâm canh tăng vụ trên những vùng đất có điều kiện thích hợp Chính vì vậy từ năm 2002 ở Thái Bình xuất hiện phong trào xây dựng cánh đồng 50 triệu Tuy nhiên, sự đa dạng và phong phú của các loại hình sử dụng đất đạt được tiêu chí trên đã gây ra nhiều khó khăn trong việc

định hướng phát triển một số loại hình điển hình

Đông Hưng là một huyện nằm ở phía Tây Nam của tỉnh Thái Bình với tổng diện tích đất tự nhiên theo thống kê năm 2005 là 19.840,04 ha trong đó

đất nông nghiệp chiếm 72,96% [32] Như thế có thể nói đất của huyện được xác định chủ yếu là sử dụng vào mục đích nông nghiệp vì vậy việc xác định một loại hình sử dụng đất có hiệu quả kinh tế cao, có triển vọng cả về xã hội

và môi trường là rất quan trọng Tuy nhiên trong số nhiều các loại hình sử dụng đất được áp dụng tại Đông Hưng có những loại hình đã được khẳng định

có hiệu quả kinh tế thực sự cao, có khả năng phát triển mở rộng trong tương lai mặc dù hiện tại quy mô của chúng còn hạn chế nhưng cũng có không ít loại hình chỉ đơn thuần có tổng thu đạt 50 triệu đồng/ha/năm còn thu nhập thực tế, lãi suất mang lại không nhiều và hiệu quả xã hội, tác động của chúng

Trang 12

đến môi trường còn chưa được nghiên cứu Như vậy, sự lựa chọn những loại hình sử dụng đất áp dụng lâu dài tại địa phương không chỉ mang lại hiệu quả kinh tế mà còn đảm bảo sự bền vững là việc làm cần thiết Xuất phát từ những

lý do đó, nhằm đánh giá hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường của một số loại hình sử dụng đất được xem là triển vọng(có thu nhập trên 40 triệu

đồng/ha/năm) để phát triển và mở rộng tại địa phương, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài :

“Đánh giá các loại hình sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả cao và đề xuất khả năng mở rộng ở huyện Đông Hưng-tỉnh Thái Bình”

1.2 Mục đích:

-Đánh giá hiệu quả sử dụng đất( kinh tế, xã hội và môi trường) của một

số loại hình sử dụng đất có triển vọng tại huyện Đông Hưng-tỉnh Thái Bình(có thu nhập trên 40 triệu đồng/ha/năm)

-Đề xuất các loại hình có khả năng mở rộng diện tích trên cơ sở hiệu quả sử dụng đất cao

1.3 ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài:

1.3.1 ý nghĩa khoa học:

-Những kết quả khoa học thu được thông qua thực hiện đề tài sẽ bổ

sung cơ sở thực tiễn để đánh giá đất đai theo FAO vào công tác đánh giá đất vùng đồng bằng sông Hồng nói chung và Thái Bình nói riêng

1.3.2 ý nghĩa thực tiễn của đề tài

-Kết quả của đề tài là cơ sở dữ liệu cho các chương trình chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp của Đông Hưng, đặc biệt là chương trình những cánh đồng 50 triệu/ha/năm trong những năm trước mắt

Trang 13

2 Tổng quan tài liệu

2.1 Hiệu quả sử dụng đất trong phát triển nông nghiệp bền vững 2.1.1 Khái quát về hiệu quả và hiệu quả sử dụng đất

Đánh giá đất cho các vùng sinh thái hoặc các vùng lãnh thổ khác nhau

là nhằm tạo ra một sức sản xuất mới, ổn định, bền vững và hợp lý trong đó

đánh giá hiệu quả sử dụng đất là một nội dung hết sức quan trọng Vậy hiệu quả sử dụng đất là gì?

Theo các nhà khoa học kinh tế Smuel-Norhuas; “Hiệu quả không có nghĩa

là lãng phí Nghiên cứu hiệu quả sản xuất phải xét đến chi phí cơ hội Hiệu quả sản xuất diễn ra khi xã hội không thể tăng số lượng một loại hàng hoá này mà không cắt giảm số lượng một loại hàng hoá khác”.(Dẫn theo Vũ Phương Thuỵ-[39])

Theo Trung tâm từ điển ngôn ngữ [40], hiệu quả chính là kết quả cũng như yêu cầu của việc làm mang lại

Theo khái niệm trên thì hiệu quả sử dụng đất phải là kết quả của quá trình sử dụng đất Trong đó ta quan tâm nhiều tới kết quả hữu ích, một đại lượng vật chất tạo ra do mục đích của con người, được biểu hiện bằng những chỉ tiêu cụ thể, xác định Do tính chất mâu thuẫn giữa nguồn tài nguyên đất đai là hữu hạn với nhu cầu ngày càng tăng của con người mà ta phải xem xét kết quả sử dụng

đất được tạo ra như thế nào? Chi phí bỏ ra để tạo ra kết quả đó là bao nhiêu? Có

đưa lại kết quả hữu ích hay không? Chính vì thế khi đánh giá hoạt động sản xuất nông nghiệp không chỉ dừng lại ở việc đánh giá kết quả mà còn phải đánh giá chất lượng các hoạt động sản xuất tạo ra sản phẩm đó Đánh giá chất lượng của hoạt

động sản xuất là nội dung đánh giá hiệu quả

Sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả cao thông qua việc bố trí cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp là một trong những vấn đề bức xúc hiện nay của

Trang 14

hầu hết các nước trên thế giới [46] Nó không chỉ thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học, các nhà hoạch định chính sách, các nhà kinh doanh nông nghiệp mà còn là sự mong muốn của nông dân, những người trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất nông nghiệp

Căn cứ vào nhu cầu của thị trường, thực hiện đa dạng hoá cây trồng vật nuôi trên cơ sở lựa chọn các sản phẩm có ưu thế ở từng địa phương, từ đó nghiên cứu áp dụng công nghệ mới nhằm làm cho sản phẩm có tính cạnh tranh cao Đó là một trong những điều kiện vô cùng quan trọng để phát triển nền nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá vừa mang tính ổn định vùa

đảm bảo sự bền vững

Ngày nay, nhiều nhà khoa học cho rằng: xác định đúng khái niệm, bản chất hiệu quả sử dụng đất phải xuất phát từ luận điểm triết học của Mác và những nhận thức lí luận của lí thuyết hệ thống, nghĩa là hiệu quả phải được xem xét trên 3 mặt: hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội, hiệu quả môi trường [39]

* Hiệu quả kinh tế

Theo Các Mác thì quy luật kinh tế đầu tiên trên cơ sở sản xuất tổng thể là quy luật tiết kiệm thời gian và phân phối một cách có kế hoạch thời gian lao

động theo các ngành sản xuất khác nhau Theo các nhà khoa học Đức (Stenien, Hanau, Rusteruyer, Simmerman-1995): Hiệu quả kinh tế là chỉ tiêu so sánh mức độ tiết kiệm chi phí trong một đơn vị kết quả hữu ích và mức tăng kết quả hữu ích của hoạt động sản xuất vật chất trong một thời kỳ, góp phần làm tăng thêm lợi ích của xã hội [39]

Như vậy hiệu quả kinh tế được hiểu là mối tương quan so sánh giữa lượng kết quả đạt được và lượng chi phí bỏ ra trong hoạt động sản xuất kinh doanh Kết quả đạt được là phần giá trị thu được của sản phẩm đầu ra, lượng chi phí bỏ ra là phần giá trị của các nguồn lực đầu vào Mối tương quan đó cần xét cả

về phần so sánh tuyệt đối và tương đối cũng như xem xét mối quan hệ chặt chẽ

Trang 15

giữa 2 đại lượng đó

Hiệu quả kinh tế là phạm trù kinh tế mà trong đó sản xuất đạt hiệu quả kinh tế và hiệu quả phân bổ Điều đó có nghĩa là cả hai yếu tố hiện vật và giá trị

đều tính đến khi xem xét việc sử dụng các nguồn lực trong nông nghiệp Nếu đạt

được một trong hai yếu tố hiệu quả kỹ thuật và phân bổ thì khi đó sản xuất mới

đạt hiệu quả kinh tế

Từ những vấn đề trên có thể kết luận rằng: Bản chất của hiệu quả kinh

tế sử dụng đất là: trên một diện tích đất nhất định sản xuất ra một khối lượng của cải vật chất nhiều nhất, với một lượng đầu tư chi phí về vật chất và lao

động thấp nhất nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng tăng về vật chất của xã hội Xuất phát từ lý do này mà trong quá trình đánh giá đất nông nghiệp cần phải chỉ ra được loại hình sử dụng đất có hiệu quả kinh tế cao

* Hiệu quả x∙ hội

Theo Nguyễn Thị Vòng và các cộng sự (2001) [46] thì hiệu quả xã hội là mối tương quan so sánh giữa kết quả xét về mặt xã hội và tổng chi phí bỏ ra

Hiệu quả về mặt xã hội sử dụng đất nông nghiệp chủ yếu được xác định bằng khả năng tạo việc làm trên một diện tích đất nông nghiệp [42],

Từ những quan niệm trên đây của các tác giả cho ta thấy giữa hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội có mối quan hệ mật thiết với nhau, chúng là tiền đề của nhau và là một phạm trù thống nhất, phản ánh mối quan hệ giữa kết quả sản xuất và các lợi ích xã hội mang lại Trong giai đoạn hiện nay việc đánh giá hiệu quả xã hội của các loại hình sử dụng đất nông nghiệp là nội dung được nhiều nhà khoa học quan tâm

* Hiệu quả môi trường

Hiệu quả môi trường là môi trường được sản sinh do tác động của hoá học, sinh học, vật lý chịu ảnh hưởng tổng hợp của các yếu tố môi trường của các loại vật chất trong môi trường Hiệu quả môi trường phân theo nguyên nhân gây nên gồm: hiệu quả hoá học môi trường, hiệu quả vật lý môi trường và hiệu quả

Trang 16

sinh vật môi trường Hiệu quả sinh vật môi trường là hiệu quả khác nhau của hệ thống sinh thái do sự phát sinh biến hoá của các loại yếu tố môi trường dẫn đến Hiệu quả hoá học môi trường là hiệu quả môi trường do các phản ứng hoá học giữa các vật chất chịu ảnh hưởng của điều kiện môi trường dẫn đến Hiệu quả vật

lý môi trường là hiệu quả môi trường do tác động vật lý dẫn đến [45]

Như vậy hiệu quả môi trường là hiệu quả mang tính lâu dài Hiệu quả môi trường vừa đảm bảo lợi ích trước mắt vì phải gắn chặt với quá trình khai thác, sử dụng đất vừa đảm bảo lợi ích lâu dài là bảo vệ tài nguyên đất và môi trường sinh thái Khi hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội của một loại hình sử dụng đất nào đó được đảm bảo thì hiệu quả môi trường càng cần được quan tâm

2.1.2 Đất nông nghiệp và phương pháp đánh giá hiệu quả sử dụng

đất nông nghiệp

2.1.2.1 Khái quát về đất nông nghiệp

Đất nông nghiệp là đất được xác định chủ yếu để sử dụng vào sản xuất nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản hoặc nghiên cứu thí nghiệm về nông nghiệp [28]

Theo niêm giám thống kê năm 2003, Việt Nam có tổng diện tích tự nhiên là 32,929 triệu ha, trong đó đất nông nghiệp chỉ có 9,406 triệu ha, dân

số là 80,902 triệu người, bình quân diện tích đất nông nghiệp là 1162,64

m2/người [36].So sánh với các nước trong khu vực Đông Nam á, tổng diện tích tự nhiên của Việt Nam xếp thứ tư, nhưng dân số lại xếp thứ hai nên bình quân diện tích tự nhiên trên đầu người của Việt Nam đứng ở vị trí thứ chín trong khu vực [16] Vì vậy, việc nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp

để tạo ra ngày càng nhiều nông sản phẩm nhằm thoả mãn nhu cầu xã hội đã trở thành vấn đề được nhiều nhà quản lý và sử dụng đất quan tâm

Thực tế cho thấy trong những năm qua do tốc độ công nghiệp hoá cũng như đô thị hoá diễn ra khá mạnh mẽ ở nhiều địa phương trên địa bàn cả

Trang 17

nước làm cho đất nông nghiệp của Việt Nam có nhiều biến động Những thay

đổi về số lượng đất nông nghiệp của chúng ta trong 10 năm gần đây được thể hiện trong bảng 1

Bảng 1-Biến động về diện tích đất nông nghiệp và diện tích đất canh tác ở

Việt Nam (1993-2003)

Năm

Tổng diện tích đất nông nghiệp (1000ha)

Tổng diện tích đất canh tác hàng năm (1000ha)

Dân số (1000 người)

Bình quân diện tích đất canh tác hàng năm/người (m2)

(Nguồn: Niên giám thống kê-2003 [36])

2.1.2.2 Đặc điểm, tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp

* Đặc điểm đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp

Trong quá trình khai thác, sử dụng đất nông nghiệp con người luôn mong muốn thu được nhiều sản phẩm nhất trên một đơn vị diện tích với chi phí thấp nhất Điều đó khẳng định khi đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông

Trang 18

nghiệp trước hết phải được xác định bằng kết quả thu được trên một đơn vị diện tích cụ thể thường là một ha, tính trên một đồng chi phí, một lao động

đầu tư Như vậy một trong những đặc điểm để đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp là hiệu quả kinh tế

Theo Đường Hồng Dật và các cộng sự (1994) [11] thì hoạt động sản xuất nông nghiệp mang tính xã hội rất sâu sắc Chính vì vậy khi đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp cần phải quan tâm đến những tác động của sản xuất nông nghiệp đến các vấn đề xã hội bao gồm giải quyết việc làm, tăng thu nhập, nâng cao trình độ dân trí trong nông thôn Đây thực chất là đề cập đến hiệu quả xã hội khi đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp Ngoài ra cũng theo tác giả này thì phát triển nông nghiệp chỉ có thể thích hợp được khi con người biết cách làm cho môi trường phát triển, điều này đồng nghĩa với việc

đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp phải quan tâm tới những ảnh hưởng của sản xuất nông nghiệp tới môi trường xung quanh [11]

Tóm lại, để đánh giá một cách toàn diện hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp cần phải đề cập tới cả hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường

*Tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp

Theo tác giả Vũ Thị Phương Thuỵ (2000) [39] thì tiêu chuẩn cơ bản và tổng quát khi đánh giá hiệu quả là mức độ đáp ứng nhu cầu xã hội và sự tiết kiệm lớn nhất về chi phí các nguồn tài nguyên, sự ổn định lâu dài của hiệu quả Đối với đát nông nghiệp thì tiêu chuẩn để đánh giá là mức độ đạt được các mục tiêu kinh tế xã hội môi trường do xã hội đặt ra và cụ thể là: tăng năng suất cây trồng, vật nuôi, tăng chất lượng và tổng sản phẩm hướng tới thoả mãn tốt nhu cầu nông sản cho thị trường trong nước và tăng xuất khẩu, đồng thời

đáp ứng yêu cầu bảo vệ hệ sinh thái nông nghiệp bền vững

Theo quan điểm của tổ chức FAO (1990) đưa ra có ba tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả sử dụng đất bền vững là bền vững về mặt kinh tế, bền vững về

Trang 19

mặt môi trường và bền vững về mặt xã hội, Nghĩa là định hướng sự thay đổi về

kỹ thuật và tổ chức sản xuất nhằm đảm bảo thoả mãn liên tục các nhu cầu của con người thuộc các thế hệ hôm nay và mai sau [53]

Như vậy tiêu chuẩn chung để đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp ngày nay không chỉ dừng lại ở hiệu quả kinh tế mà còn bao gồm cả hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường nữa Để đảm bảo cho nền nông nghiệp của ta phát triển bền vững khi dánh giá đất cần căn cứ vào các tiêu chuẩn trên

2.1.3 Sử dụng quản lý đất trong phát triển nông nghiệp bền vững

Trong vài thập kỷ gần đây, do sự bùng nổ dân số cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật đã làm biến đổi sâu sắc cảnh quan môi trường Sự mất cân đối nghiêm trọng giữa nhu cầu con người với khả năng cung cấp của tự nhiên đã làm cạn kiệt dần các nguồn tài nguyên thiên nhiên trong đó có đất Trong sản xuất nông nghiệp, để đáp ứng những nhu cầu về lương thực, thực phẩm con người đã tìm mọi biện pháp để đất đai sản sinh ngày càng nhiều sản phẩm trong đó có cả những biện pháp có hại cho đất Với việc sử dụng ngày một tăng các sản phẩm công nghiệp hoá như phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, hoá chất tăng trưởng đã làm cho đất đai bị thoái hoá, không những thế còn kéo theo các thảm họa về môi trường sinh thái nghiêm trọng Nhận thức được nguy cơ đó, thế giới đã có nhiều nghiên cứu nhằm tìm

ra một hướng đi thích hợp trong sử dụng đất nông nghiệp Một trong những quan điểm phổ biến hiện nay là phát triển một nền nông nghiệp bền vững Vậy nông nghiệp bền vững là gì?

Các tác giả Bill Mollison và R.M Slay trong cuốn “Đại cương về nông nghiệp bền vững” cho rằng: “Nông nghiệp bền vững nói về thiết kế những hệ thống định canh lâu bền Đó là triết lý và một cách tiếp cận về sử dụng đất đai, liên kết tiểu khí hậu, cây trồng hàng năm và lâu năm, vật nuôi, đất, nước và những nhu cầu của con người, xây dựng nên những cộng đồng chặt chẽ và có hiệu quả” [8]

Trang 20

Theo R Morrow thì nông nghiệp bền vững được xây dựng trên nền tảng của sinh thái học, tức là sự nghiên cứu những mối liên hệ và tương quan giữa các cơ thể sống và môi trường của chúng Hiệu quả của một phương pháp mới làm bền vững và phong phú hơn cho cuộc sống mà không gây suy thoái môi trường thiên nhiên và xã hội [31]

Nghiên cứu về nông nghiệp bền vững, có thể thấy những nét chủ yếu là: -Một hệ thống tạo ra những mô hình định canh lâu bền bằng cách kết hợp thiết kế và sinh thái

-Một sự tổng hợp hiểu biết truyền thống với khoa học hiện đại, áp dụng cho cả thành thị và nông thôn

-Nông nghiệp bền vững lấy các hệ thống thiên nhiên làm mẫu và hành

động hoà hợp với thiên nhiên nhằm thiết kế những môi trường lâu bền cung cấp những nhu cầu cơ bản cho con người cũng như những hạ tầng xã hội, kinh

tế và đảm bảo cho những nhu cầu đó

-Nông nghiệp bền vững thúc đẩy chúng ta tham gia có ý thức vào việc giải quyết nhiều vấn đề đặt ra cho chúng ta ở phạm vi địa phương và toàn cầu [31]

Sử dụng đất đai bền vững đã và đang là nhu cầu cấp bách của nước ta hiện nay Hậu quả mà chúng ta đang phải gánh chịu là hiện tượng sa mạc hoá,

lũ lụt, diện tích đất trống đồi núi trọc gia tăng phải chăng do việc sử dụng đất kém bền vững, làm cho môi trường tự nhiên ngày càng suy thoái

2.2 Đánh giá hiệu quả và tính bễn vững trong sử dụng đất nông nghiệp

2.2.1 Sự cần thiết phải đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp

Thế giới đang sử dụng khoảng 1,5 tỷ ha đất cho sản xuất nông nghiệp Tiềm năng đất nông nghiệp của thế giới khoảng 3-5 tỷ ha Nhân loại đã làm hư hại khoảng 1,4 tỷ ha đất và hiện nay mỗi năm có khoảng 6 -7 triệu ha đất nông nghiệp bị bỏ do xói mòn và thoái hoá Để giải quyết nhu cầu về sản

Trang 21

phẩm nông nghiệp của con người phải thâm canh tăng vụ, tăng năng suất cây trồng và mở rộng diện tích đất nông nghiệp [43] Việc điều tra, nghiên cứu đất

đai để nắm vững số lượng và chất lượng đất bao gồm điều tra lập bản đồ đất,

đánh giá hiện trạng sử dụng đất, đánh giá phân hạng đất và quy hoạch sử dụng

đất hợp lý là vấn đề quan trọng mà các quốc gia đang rất quan tâm Để ngăn chặn những suy thoái tài nguyên đất đai do sự thiếu hiểu biết của con người,

đồng thời nhằm hướng dẫn những quyết định về sử dụng và quản lý đất đai, sao cho nguồn tài nguyên này có thể được khai thác tốt nhất mà vẫn duy trì được sức sản xuất của nó trong tương lai, cần thiết phải nghiên cứu thật đầy đủ về tính hiệu quả trong sử dụng đất, đó là sự kết hợp hài hoà cả 3 lĩnh vực hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và bảo vệ môi trường trên quan điểm quản lý sử dụng

đất bền vững

2.2.2 Những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng tới việc sử dụng đất nông nghiệp

* Điều kiện tự nhiên

Điều kiện tự nhiên bao gồm các yếu tố như dất đai, khí hậu thời tiết, nước…có ảnh hưởng trực tiếp tới sản xuất nông nghiệp bởi vì đây là cơ sở để sinh vật sinh trưởng, phát triển và tạo sinh khối Đánh giá đúng điều kiện tự nhiên là cơ sở xác định cây trồng vật nuôi phù hợp và định hướng đầu tư thâm

canh đúng

Mặt khác khi sử dụng đất ngoài bề mặt không gian cần thích ứng với

điều kiện tự nhiên và các yếu tố hình thành đất như khí hậu, địa hình, đá mẹ…Trong nhân tố điều kiện tự nhiên, điều kiện khí hậu là nhân tố quan trọng, sau đó là điều kiện đất đai, nguồn nước và các nhân tố khác

- Điều kiện khí hậu: các yếu tố khí hậu ảnh hưởng trực tiếp đến sản

xuất nông nghiệp và điều kiện sinh hoạt của con người Tổng tích ôn, nhiệt độ bình quân, sự sai khác nhiệt độ ánh sáng, về thời gian và không gian trực tiếp ảnh hưởng tới sự phân bố, sinh trưởng và phát triển của cây trồng, cây

Trang 22

rừng và thực vật thuỷ sinh, lượng mưa, bốc hơi có ý nghĩa quan trọng trong việc giữ nhiệt độ, độ ẩm của đất, cũng như khả năng đảm bảo cung cấp nước cho sinh trưởng của cây trồng, gia súc, thuỷ sản [43]

- Điều kiện đất đai: Đất đai vùng đồng bằng được hình thành chủ yếu

do sự bồi tụ phù sa của hệ thống các sông lớn theo những loại hình tam giác châu hoặc đồng bằng ven biển.Với các đặc điểm là địa hình tương đối bằng phẳng, có nguồn nước tưới thuận lợi, đất đai màu mỡ phì nhiêu đồng bằng đã

và đang là những vựa lúa lớn càng ngày càng phong phú theo sự phát triển của của giống và hệ thống canh tác mới.Tại những vùng đất cao hoặc chủ

động tưới tiêu nông dân đã trồng thêm cây vụ đông hoặc cây họ đậu vừa để có thêm thu nhập vừa có tác dụng cải tạo đất Với tính chất đất và sự thích nghi rộng nên ở nhiều vùng đất phù sa còn phát triển nhiều laọi cây khác đặc biệt là những cây ăn quả có giá trị cao như vải, nhãn, cam… Tuy nhiên với sự khác biệt về vị trí địa lý, trình độ thâm canh cũng như tính chất đất đai được thể hiện qua độ phì nhiêu đất đối với cây trồng cụ thể sẽ quyết định đến năng suất

tự và hiệu quả sử dụng đất

*Biện pháp kỹ thuật canh tác

Biện pháp kỹ thuật canh tác là các tác động của con người vào đất đai, cây trồng, vật nuôi nhằm tạo nên sự hài hoà giữa các yếu tố của quá trình sản xuất để hình thành, phân bố và tích luỹ năng suất kinh tế Theo tác giả Đường Hồng Dật, (1995) [11] thì biện pháp kỹ thuật canh tác là những tác động thể hiện sự hiểu biết sâu sắc của con người về đối tượng sản xuất, về thời tiết,về

điều kiện môi trường và thể hiện những dự báo thông minh và sắc sảo Lựa chọn các tác động kỹ thuật, lựa chọn chủng loại và cách sử dụng đầu vào phù hợp với các quy luật tự nhiên của sinh vật nhằm đạt mục tiêu đề ra

Theo Frank Ellis và Douglass C.North [39], ở các nước phát triển, khi

có tác động tích cực của kỹ thuật, giống mới, thuỷ lợi, phân bón tới hiệu quả thì cũng đặt ra yêu cầu đói với tổ chức sử dụng đất Có nghĩa là ứng dụng

Trang 23

công nghệ sản xuất tiến bộ là một đảm bảo vật chất cho kinh tế nông nghiệp tăng trưởng nhanh Cho đến giữa thế kỷ XXI, trong nông nghiệp Việt Nam, quy trình kỹ thuật có thể góp phần đến 30% của năng suất kinh tế [11] Như vậy nhóm các biện pháp kỹ thuật đặc biệt có ý nghĩa quan trọng trong quá trình khai thác đất theo chiều sâu và nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp

* Nhân tố kinh tế - x∙ hội

Nhân tố kinh tế - xã hội bao gồm các yếu tố về chế độ xã hội, dân số và

lao động, thông tin và quản lý chính sách, môi trường và chính sách đất đai, yêu cầu quốc phòng, sức sản xuất và trình độ phát triển kinh tế hàng hoá, cơ cấu kinh tế và phân bố sản xuất, các điều kiện về công nghiệp, nông nghiệp, thương nghiệp, giao thông vận tải, sự phát triển của khoa học kỹ thuật, trình

độ quản lý sử dụng lao động, điều kiện trang thiết bị vật chất cho công tác phát triển nguồn nhân lực Trong đó các nhân tố xã hội thường có ý nghĩa quyết định, chủ đạo về việc sử dụng đất đai nói chung, sử dụng đất nông nghiệp nói riêng Phương thức sử dụng đất nông nghiệp được quyết định bởi yêu cầu của xã hội và mục tiêu kinh tế trong từng thời kỳ nhất định

Chế độ sở hữu tư liệu sản xuất và chế độ kinh tế xã hội khác nhau đã tác

động đến việc quản lý của xã hội về sử dụng đất nông nghiệp, khống chế phương thức và hiệu quả sử dụng đất Trình độ phát triển xã hội và kinh tế khác nhau dẫn đến trình độ sử dụng đất nông nghiệp khác nhau Nền kinh tế

và khoa học kỹ thuật nông nghiệp càng phát triển thì khả năng sử dụng đất nông nghiệp của con người càng được nâng cao

ảnh hưởng của các điều kiện kinh tế xã hội góp phần tạo ra năng suất kinh tế trong nông nghiệp và được đánh giá bằng hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp Thực trạng sử dụng đất nông nghiệp liên quan đến lợi ích kinh tế của người sử dụng đất nông nghiệp Tuy nhiên, nên có chính sách ưu đãi để tạo điều kiện cải thiện và hạn chế việc sử dụng đất theo kiểu bóc lột đất đai Mặt khác,

Trang 24

sự quan tâm quá mức đến lợi nhuận cũng dẫn đến tình trạng đất bị sử dụng không hợp lý, thậm chí hủy hoại đất Vì vậy, cần phải dựa vào quy luật tự nhiên

và quy luật kinh tế-xã hội để nghiên cứu mối quan hệ giữa các yếu tố tự nhiên, kinh tế-xã hội trong việc sử dụng đất nông nghiệp Căn cứ vào những yêu cầu thị trường của xã hội xác định sử dụng đất nông nghiệp, kết hợp chặt chẽ yêu cầu sử dụng với ưu thế tài nguyên của đất đai, để đạt tới cơ cấu hợp lý nhất, với diện tích đất nông nghiệp có hạn để mang lại hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội

và sử dụng đất được bền vững

Trong các nhóm nhân tố chủ yếu tác động đến việc sử dụng đất được trình bày ở trên, từ thực tế từng vùng, từng địa phương có thể nhận biết thêm những nhân tố khác tác động đến hiệu quả sử dụng đất, trong đó có những yếu

tố thuận lợi và những yếu tố hạn chế Đối với những yếu tố thuận lợi cần khai thác hết tiềm năng của nó, những nhân tố hạn chế phải có những giải pháp để khắc phục dựa trên cơ sở khoa học và thực tiễn Vấn đề mấu chốt là tìm ra những nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng đất, để có những biện pháp thay đổi cơ cấu sử dụng đất nhằm nâng cao hiệu quả

2.2.3 Quan điểm sử dụng đất bền vững

Đất đai ngày càng thể hiện vai trò vô cùng quan trọng của nó không chỉ trong hiện tại mà cả tương lai Khi dân số trên trái đất còn ít thì đất đai có thể

đáp ứng một cách dễ dàng nhu cầu của con người về số lượng cũng như chất lương Trong điều kiện ấy con người cũng ít có tác động lớn đến tài nguyên quí báu này Một vài thập kỷ gần đây, dân số thế giới tăng nhanh kéo theo những nhu cầu về lương thực, thực phẩm, chỗ ở tăng lên tạo nên một sức ép vô cùng lớn đến vấn đề sử dụng đất Những diện tích đất đai màu mỡ ngày càng bị thu hẹp trước những nhu cầu công nghiệp hoá, đô thị hoá dẫn đến con người phải tìm cách khai thác những vùng đất ít thích hợp cho sản xuất và hậu quả của quá trình này là đất đai bị thoái hoá, rửa trôi, xói mòn nghiêm trọng làm một diện tích lớn đất đai trên thế giới bị suy kiệt, ngoài ra còn ảnh

Trang 25

hưởng đến môi trường sống của con người và nhiều loài động thực vật khác Theo kết quả điều tra của UNDP và Trung tâm thông tin nghiên cứu đất quốc

tế (ISRIC) đã cho thấy cả thế giới có khoảng 13,4 tỷ ha đất thì đã có 2 tỷ ha bị thoái hoá ở các mức độ khác nhau trong đó Châu á và Châu Phi là 1,24 tỷ ha chiếm 62% tổng diện tích đất bị thoái hoá của thế giới [15], [21] Những số liệu trên cho thấy sự thoái hoá đất đai tập trung vào các vùng, quốc gia đang phát triển, nơi mà nhu cầu về lương thực, thực phẩm còn thiếu hụt lớn

Đất đai có những tác dụng to lớn đối với hệ sinh thái nói chung và với cuộc sống của con người nói riêng Theo E.R De Kimpe và B.P Warkentin (1998) [48] thì đất có 5 chức năng chính: một là duy trì vòng tuần hoàn sinh hoá học và địa hóa học, hai là phân phối nước, ba là dự trữ và phân phối vật chất, bốn là tính đệm và năm là phân phối năng lượng Những chức năng này

đảm bảo cho khả năng điều chỉnh sự cân bằng của hệ sinh thái tự nhiên trước những thay đổi Tuy nhiên, các tác động của con người đã làm cho hệ sinh thái biến đổi nhiều khi vượt quá khả năng điều chỉnh của đất Là một hệ sinh thái một phần do con người tạo ra nhằm mục đích phục vụ con người nên hệ sinh thái nông nghiệp chịu những tác động của con người mạnh mẽ nhất Con người đã không chỉ tác động vào đất đai mà còn tác động cả vào khí quyển, nguồn nước để tạo ngày một nhiều hơn lương thực, thực phẩm và hậu quả là

đất đai cũng như các nhân tố tự nhiên khác bị thay đổi theo chiều hướng ngày một xấu đi Ngày nay những vùng đất đai màu mỡ đã giảm sức sản xuất một cách rõ rệt và có nguy cơ thoái hoá nghiêm trọng, không những thế sự suy thoái đất đai còn kéo theo sự suy giảm nguồn nước, những hiện tượng thiên tai bất thường Trước những biểu hiện nói trên, nhằm đảm bảo cho cuộc sống của con người trong hiện tại và tương lai cần phải có những chiến lược về sử dụng

đất để không chỉ duy trì những khả năng hiện có của đất mà còn khôi phục những khả năng đã mất Thuật ngữ “sử dụng đất bền vững” ra đời trên cơ sở của những mong muốn trên Việc tìm kiếm các giải pháp sử dụng đất một

Trang 26

cách hiệu quả và bền vững luôn là mong muốn của con người trong suốt cả thời gian Nhiều nhà khoa học và các tổ chức quốc tế đã đi sâu nghiên cứu vấn

đề sử dụng đất một cách bền vững trên nhiều vùng của thế giới, trong đó có Việt Nam Việc sử dụng đất bền vững là sử dụng đất với tất cả những đặc trưng vật lý, hoá học, sinh học có ảnh hưởng đến khả năng sử dụng đất Thuật ngữ đất đai được đề cập đến ở đây gồm thổ nhưỡng, địa hình, khí hậu, thuỷ văn, thực vật và động vật, kể cả vấn đề cải thiện các biện pháp quản lý đất đai

Tổ chức Nông Lương Liên hợp quốc (FAO) sử dụng thuật ngữ “chất lượng đất

đai” trong sử dụng đất bền vững bao gồm các nhân tố ảnh hưởng đến sự bền vững của tài nguyên đất khi sử dụng cho các mục đích nhất định, chất lượng

đất đai có thể khác nhau trên nhiều phương diện như khả năng cung cấp nước tưới, khả năng cung cấp chất dinh dưỡng cho mục đích sản xuất nông nghiệp, khả năng chống chịu xói mòn, sức sản xuất tự nhiên và phân bố địa hình ảnh hưởng đến khả năng có giới hoá [50] Để duy trì được sự bền vững của đất

đai, Smyth A.J và Julian Dumanski (1993) [49] đã xác định 5 nguyên tắc có liên quan đến sự sử dụng đất bền vững là:

-Duy trì hoặc nâng cao các hoạt động sản xuất

-Giảm mức độ rủi ro đối với sản xuất

-Bảo vệ tiềm năng của các nguồn tài nguyên tự nhiên, chống lại sự thoái hoá chất lượng đất và nước

-Khả thi về mặt kinh tế

-Được xã hội chấp nhận

Như vậy, theo các tác giả, sử dụng đất bền vững không chỉ thuần tuý về mặt tự nhiên mà còn cả về mặt môi trường, lợi ích kinh tế và xã hội Năm nguyên tắc trên đây là trụ cột của việc sử dụng đất bền vững, nếu trong thực tiễn đạt được cả 5 nguyên tắc trên thì sự bền vững sẽ thành công, ngược lại sẽ chỉ đạt được ở một vài bộ phận hay sự bền vững có điều kiện Tại Việt Nam, theo ý kiến của Đào Châu Thu và Nguyễn Khang (1998) [44], việc sử dụng

Trang 27

đất bền vững cũng dựa trên những nguyên tắc trên và được thể hiện trong 3 yêu cầu sau:

-Bền vững về mặt kinh tế: Cây trồng cho hiệu quả kinh tế cao và được thị trường chấp nhận

-Bền vững về mặt môi trường: Loại hình sử dụng đất bảo vệ được đất

đai, ngăn chặn sự thoái hoá đất, bảo vệ môi trường tự nhiên

-Bền vững về mặt xã hội: Thu hút được nhiều lao động, đảm bảo đời sống người dân, góp phần thúc đẩy xã hội phát triển

Tóm lại, hoạt động sản xuất nông nghiệp của con người diễn ra hết sức

đa dạng trên nhiều vùng đất khác nhau và cũng vì thế khái niệm sử dụng đất bền vững thể hiện trong nhiều hoạt động sản xuất và quản lý đất đai trên từng vùng đất xác định theo nhu cầu và mục đích sử dụng của con người Đất đai trong sản xuất nông nghiệp chỉ được gọi là sử dụng bền vững trên cơ sở duy trì các chức năng chính của đất là đảm bảo khả năng sản xuất của cây trồng một cách ổn định, không làm suy giảm về chất lượng tài nguyên đất theo thời gian

và việc sử dụng đất không gây ảnh hưởng xấu đến môi trường sống của con người và sinh vật

2.2.4 Khung đánh giá sử dụng đất bền vững

Vào năm 1991, ở Nairobi đã tổ chức Hội thảo về “Khung đánh giá quản

lý đất bền vững ” đã đưa ra định nghĩa: “ Quản lý bền vững đất đai bao gồm tổ hợp các công nghệ, chính sách và hoạt động nhằm liên hợp các nguyên lý kinh

tế xã hội với các quan tâm môi trường để đồng thời:

- Duy trì, nâng cao sản lượng (hiệu quả sản xuất);

- Giảm rủi ro sản xuất (an toàn)

- Bảo vệ tiếm năng nguồn lực tự nhiên và ngăn ngừa thoái hoá đất và nước (bảo vệ)

- Có hiệu quả lâu dài (lâu bền)

Trang 28

- Được xã hội chấp nhận (tính chấp nhận) [19]

Năm nguyên tắc trên được coi là trụ cột của sử dụng đất đai bền vững

và là những mục tiêu cần phải đạt được, nếu thực tế diễn ra đồng bộ, so với các mục tiêu cần phải đạt được Nếu chỉ đạt một hay một vài mục tiêu mà không phải tất cả thì khả năng bền vững chỉ mang tính bộ phận

Vận dụng nguyên tắc trên, ở Việt Nam một loại hình sử dụng đất được xem là bền vững phải đạt 3 yêu cầu sau:

- Bền vững về kinh tế: cây trồng cho hiệu quả kinh tế cao, được thị

trường chấp nhận

Hệ thống sử dụng đất phải có mức năng suất sinh học cao trên mức bình quân vùng có cùng điều kiện đất đai Năng suất sinh học bao gồm các sản phẩm chính và phụ (đối với cây trồng là gỗ, hạt, củ, quả và tàn dư để lại) Một hệ bền vững phải có năng suất trên mức bình quân vùng, nếu không sẽ không cạnh tranh được trong cơ chế thị trường

Về chất lượng: sản phẩm phải đạt tiêu chuẩn tiêu thụ tại địa phương, trong nước và xuất khẩu, tùy mục tiêu của từng vùng

Tổng giá trị sản phẩm trên đơn vị diện tích là thước đo quan trọng nhất của hiệu quả kinh tế đối với một hệ thống sử dụng đất Tổng giá trị trong một giai đoạn hay cả chu kỳ phải trên mức bình quân của vùng, nếu dưới mức đó thì nguy cơ người sử dụng đất sẽ không có lãi, hiệu quả vốn đầu tư phải lớn hơn lãi suất tiền vay vốn ngân hàng

- Bền vững về mặt xã hội: thu hút được lao động, đảm bảo đời sống và

phát triển xã hội

Đáp ứng nhu cầu của nông hộ là điều quan tâm trước, nếu muốn họ quan tâm đến lợi ích lâu dài (bảo vệ đất, môi trường ) Sản phẩm thu được cần thoả mãn cái ăn, cái mặc, và nhu cầu sống hàng ngày của người nông dân

Nội lực và nguồn lực địa phương phải được phát huy Về đất đai, hệ thống sử dụng đất phải được tổ chức trên đất mà nông dân có quyền hưởng thụ

Trang 29

lâu dài, đất đã được giao và rừng đã được khoán với lợi ích các bên cụ thể

Sử dụng đất sẽ bền vững nếu phù hợp với nền văn hoá dân tộc và tập quán địa phương, nếu ngược lại sẽ không được cộng đồng ủng hộ

- Bền vững về môi trường: loại hình sử dụng đất phải bảo vệ được độ màu mỡ

của đất, ngăn chặn thoái hoá đất và bảo vệ môi trường sinh thái Giữ đất được thể hiện bằng giảm thiểu lượng đất mất hàng năm dưới mức cho phép

Độ phì nhiêu đất tăng dần là yêu cầu bắt buộc đối với quản lý sử dụng bền vững Độ che phủ tối thiểu phải đạt ngưỡng an toàn sinh thái (>35%)

Đa dạng sinh học biểu hiện qua thành phần loài (đa canh bền vững hơn

độc canh, cây lâu năm có khả năng bảo vệ đất tốt hơn cây hàng năm )

Ba yêu cầu bền vững trên là để xem xét và đánh giá các loại hình sử dụng đất hiện tại Thông qua việc xem xét và đánh giá các yêu cầu trên để giúp cho việc định hướng phát triển nông nghiệp ở vùng sinh thái [19]

Tóm lại: khái niệm sử dụng đất đai bền vững do con người đưa ra được

thể hiện trong nhiều hoạt động sử dụng và quản lý đất đai theo các mục đích

mà con người đã lựa chọn cho từng vùng đất xác định Đối với sản xuất nông nghiệp việc sử dụng đất bền vững phải đạt được trên cơ sở đảm bảo khả năng sản xuất ổn định của cây trồng, chất lượng tài nguyên đất không suy giảm theo thời gian và việc sử dụng đất không ảnh hưởng xấu đến môi trường sống của con người, của các sinh vật

2.3 Sử dụng đất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá

2.3.1 Những xu hướng phát triển nông nghiệp trên thế giới

Theo Đường Hồng Dật, (1995) [11] trên con đường phát triển nông nghiệp, mỗi nước chịu ảnh hưởng của các điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội khác nhau, nhưng đều phải giải quyết các vấn đề chung sau:

-Không ngừng nâng cao năng suất chất lượng, nông sản, nâng cao năng suất lao động nông nghiệp, nâng cao hiệu quả đầu tư

Trang 30

-Mức độ đầu tư vốn, lao động, khoa học vào các quá trình phát triển của nông nghiệp Chiều hướng chung là giảm lao động chân tay, đầu tư nhiều lao

động trí óc, tăng cường hiệu quả của lao động quản lý và tổ chức

-Mối quan hệ giữa nông nghiệp và môi trường

Từ những vấn đề chung đã nêu trên đây mỗi nước lại có chiến lược phát triển khác nhau, có thể chia thành hai nhóm chính sau:

+Nông nghiệp công nghiệp hoá: Những nước đi theo khuynh hướng này muốn cho sản xuất nông nghiệp có được cách tổ chức quản lý sản xuất như trong công nghiệp cụ thể là chuyên môn hoá lao động, sản xuất theo dây chuyền, chuyên canh, tăng cường đầu tư…Đây là một khuynh hướng tích cực nhưng vận dụng quy trình công nghiệp để dập khuôn vào nông nghiệp là máy móc Mặt khác theo hướng này dùng nhiều sản phẩm công nghiệp cho nông nghiệp (phân bón, thuốc bảo vệ thực vật…) đã gây nên hậu quả ô nhiễm môi trường mà sau đó con người không kiểm soát nổi gây bế tắc cho sản xuất Nói chung nội dung của nền nông nghiệp công nghiệp hoá là coi thường bản tính sinh học của thế giới sinh vật, xem cây trồng vật nuôi như những cái máyđể sản xuất ra nông sản, coi thường hoạt động sinh học của đất, bón quá nhiều phân hoá học và thuốc trừ sâu bệnh để tăng năng suất cây trồng nhưng lại làm cho đất chai cứng, mất sức sống và nảy sinh nhiều vấn đề về ô nhiễm môi trường Như vậy theo Lê Văn Khoa và cộng sự (1999) [26] nền nông nghiệp công nghiệp hoá chỉ là nền nông nghiệp nhằm vào số lượng và lợi nhuận, không làm lành mạnh cho sức khoẻ và làm nảy sinh nhiều tiêu cực đối với xã hội và môi trường

+Nông nghiệp sinh thái: Các nước theo hướng này cho rằng nông nghiệp sinh thái có sự kết hợp hài hoà giữa những cái tích cực, những cái đúng

đắn hợp lý của nông nghiệp công nghiệp hoá và sinh học nông nghiệp Nội dung của nông nghiệp sinh thái thực hiện tính đa dạng sinh học: trồng nhiều loại cây khác nhau, luân xen canh cây trồng, trồng trọt theo phương thức nông

Trang 31

lâm kết hợp….Nông nghiệp sinh thái quan niệm rằng đất là một vật thể sống cho nên phải tạo ra những điều kiện thuận lợi để sinh vật đất phát triển như thường xuyên bón phân hữu cơ, phải che phủ mặt đất chống xói mòn, rửa trôi, phải tìm biện pháp khử các yếu tố gây hại như những hoá chất dùng trong nông nghiệp Ngoài ra còn phải đảm bảo sự tái sinh hoạt chất, nghĩa là sử dụng đúng mức các nguồn tài nguyên, tạo ra mối quan hệ đúng đắn giữa các thành phần và tác nhân của hệ sinh thái nông nghiệp Trong nông nghiệp sinh thái học còn đề cập đến nội dung cấu trúc nhiều tầng để tận dụng tối đa ánh sáng mặt trời, nước mưa…Vì vậy cần thực hiện theo phương thức nông lâm kết hợp, trồng xen, trồng gối [26]

Gần đây, nhiều nhà khoa học đã nghiên cứu nền nông nghiệp bền vững

Đây là một dạng nông nghiệp sinh thái với mục tiêu là sản xuất nông nghiệp

đi đôi với giữ gìn và bảo vệ môi trường sinh thái, đảm bảo cho nông nghiệp phát triển bền vững, lâu dài Xuất phát từ quan điểm đó, nông nghiệp bền vững phải tuân thủ các mục tiêu sau:

-Phải khai thác nhiều hơn các quá trình tự nhiên như chu trình chất dinh dưỡng, cố định đạm và các mối quan hệ sâu hại thiên địch trong quá trình sản xuất nông nghiệp

-Giảm thiểu những đầu tư từ bên ngoài và không tái tạo với tiềm ẩn lớn phá hoại môi trường hoặc gây hại đến sức khoẻ của người sản xuất và tiêu thụ

-Tiếp cận một cách hợp lý đối với những cơ hội và những nguồn tài nguyên mang tính năng sản xuất và đối với sự tiến bộ của các hình thái nông nghiệp có tính xã hội hoá hơn Sử dụng có hiệu quả cao hơn tiềm năng sinh học, tri thức và kỹ năng bản địa bao gồm cả những cách tiếp cận sáng tạo mà

có thể các nhà khoa học chưa hiểu đầy đủ và người dân chưa chấp nhận rộng rãi

Trang 32

-Tăng cường tính tự chủ trong nông dân, cải thiện những bất lợi giữa mẫu hình cây trồng, tiềm năng năng xuất và các trở ngại của môi trường, khí hậu, địa hình để đảm bảo tính bền vững lâu dài của các mức sản xuất hiện tại

-Sản xuất hiệu quả và có lãi với việc nhấn mạnh quản lý tổng hợp trang trại, bảo vệ đất, nước, năng lượng và các nguồn tài nguyên sinh học [26]

2.3.2 Phương hướng phát triển nông nghiệp Việt nam trong 10 năm tới

Trên cơ sở của những nghiên cứu về phương thức sản xuất nông nghiệp cũng như nền nông nghiệp của các nước trên thế giới cho thấy mỗi phương thức sản xuất nông nghiệp đều có những ưu và nhược điểm, vận dụng phương thức nào cho sản xuất tại Việt Nam là vấn đề cần được nghiên cứu sâu sắc Các nghiên cứu của nhiều nhà khoa học về định hướng phát triển nông nghiệp Việt Nam thời gian tới khẳng định cần tận dụng tối đa những ưu thế chúng ta

đang có như thành tựu của quá trình đổi mới, của khoa học và kỹ thuật trên thế giới và ở Việt Nam, kết hợp với việc nghiên cứu vận dụng theo điều kiện

cụ thể tại các địa phương Nhìn chung, xu hướng phát triển của nền nông nghiệp Việt Nam trong 10 năm tới tập trung ở các vấn đề sau đây:

-Tập trung vào sản xuất nông sản hàng hoá theo nhóm ngành hàng, nhóm sản phẩm dựa trên cơ sở dự báo cung cầu của thị trường nông sản trong nước và trên thế giới, đồng thời khai thác tốt lợi thế so sánh giữa các vùng [14]

-Xác định cơ cấu sản phẩm dựa trên cơ sở của các tiềm năng tự nhiên, kinh tế, xã hội của từng vùng, lấy hiệu quả kinh tế xã hội tổng hợp làm thước

đo để xác định cơ cấu và tỷ lệ sản phẩm phù hợp với các chỉ tiêu, kế hoạch phát triển nông sản hàng hoá [14]

-Chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp theo hướng tăng tỷ trọng ngành chăn nuôi, cây công nghiệp, rau hoa quả so với cây lương thực Giảm tỷ lệ lao động nông nghiệp xuống còn 50% Mặt khác, cần đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện

Trang 33

đại hoá nông nghiệp, phát triển ngành nghề công nghiệp và dịch vụ ngoài nông nghiệp [13]

-Để khuyến khích sản xuất nông sản hàng hoá, khuyến khích các sản phẩm xuất khẩu cần tiếp tục tạo ra sự đồng bộ giữa các yếu tố của kinh tế thị trường, từng bước hoàn thiện các loại thị trường theo định hướng xã hộic hủ nghĩa, đặc biệt là thị trường ruộng đất, tạo ra sự lưu chuyển mạnh mẽ đất nông nghiệp để hình thành các doanh nghiệp sản xuất nông nghiệp hàng hoá với quy mô thích hợp [1]

-Đẩy mạnh việc ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp [37] Trong sản xuất hàng hoá cần ứng dụng khoa học công nghệ một cách đồng bộ, nâng cao trình độ khoa học công nghệ trong sản xuất và lưu thông hàng hoá Sản phẩm làm ra phải chứa đựng một lượng tri thức khoa học-

kỹ thuật và tổ chức quản lý cao để không ngừng nâng cao năng xuất, chất lượng và hạ giá thành sản phẩm [42]

2.3.3 Xây dụng nền nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá

Trên thế giới, sản xuất nông nghiệp từ lâu đã là một thành tố quan trọng của nền kinh tế nhiều quốc gia, ngay cả những nước có nền công nghiệp phát triển, nông nghiệp chỉ chiếm một tỷ trọng nhỏ nhưng các trở ngại và khó khăn nảy sinh trong nông nghiệp cũng đã gây ra không ít xáo trộn trong đời sống xã hội và có những ảnh hưởng sâu sắc tới tốc độ phát triển của nền kinh tế nói chung [11]

Việt Nam là một quốc gia có nền sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ trọng khá lớn trong nền kinh tế, chính vì vậy để nông nghiệp thực hiện được vai trò quan trọng của mình đối với nền kinh tế quốc dân đồi hỏi nông nghiệp phải phát triển toàn diện, mạnh mẽ và vững chắc Con đường tất yếu dể phát triển nông nghiệp nước ta là phải chuyển từ sản xuất nhỏ tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hoá [20]

Trang 34

Các nước trong khu vực như Thái Lan, Philippin, Malayxia…nền sản xuất nông nghiệp đã sản xuất một lượng hàng hoá lớn đóng góp đáng kể vào kim ngạch xuất khẩu Thái Lan đã đạt kim ngạch xuất khẩu hàng nông lâm thuỷ sản 10 tỷ USD năm 1987, Malayxia đạt mức 14 tỷ USD từ năm 1986 [22] ở Việt Nam, mặc dù đã có những tiến bộ vượt bậc trong sản xuất hàng hoá nông nghiệp nhưng chúng ta chỉ xuất khẩu được một lượng khiêm tốn, tập trung chủ yếu vào một số mặt hàng như gạo, cà phê, chè, cao su…[10]

Cũng theo Doãn Khánh (2000) [22] thì tính bình quân kim ngạch xuất khảu trên đầu người thì năm 1999 ở Việt Nam đạt 150 USD, trong khi đó các nước trong khu vực đạt mức cao hơn rất nhiều, ví dụ như Philippin đạt 344 USD, Thái Lan đạt 943 USD, Malayxia đạt 3750 USD, Xingapo đạt 4167 USD… Như vậy so với nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là các nước thuộc khối ASEAN thì Việt Nam đang có tỷ lệ xuất khẩu nông sản thấp, cơ cấu hàng hoá nông sản xuất khẩu trong tổng kim ngạch xuất khẩu của nước ta chưa phản ánh đúng cơ cấu của nền kinh tế cũng như tầm quan trọng của sản xuất nông nghiệp

Bảng 2-Tình hình xuất khẩu hàng hoá nông nghiệp những năm gần đây

(ước tính) Nhóm hàng xuất

khẩu Giá trị

(Triệu USD

Tỷ lệ

so với tổng kim ngạch (%)

Giá trị (Triệu USD)

Tỷ lệ

so với tổng kim ngạch (%)

Giá trị (Triệu USD)

Tỷ lệ

so với tổng kim ngạch (%)

Giá trị (Triệu USD)

Tỷ lệ

so với tổng kim ngạch (%)

100,0

37,2 33,8 17,7 1,1 10,2 0,0

15029,0

5247,0 5368,3 2421,3 176,0 1816,0 0,4

100,0

34,9 35,7 16,1 1,2 12,1

16706,1

5304,3 6785,7 2396,6 197,7 2021,7

-

100,0

31,8 40,6 14,3 1,2 12,1

-

20176,0

6253,2 8025,5 3621,8

- 2275,6

-

100,0

31,0 39,7 18,0

- 11,3

-

(Nguồn: Tổng cục thống kê, 2003-[36])

Trang 35

Tuy có những đóng góp tương đối lớn với kim ngạch xuất khẩu ngày một tăng nhưng nhìn chung năng xuất, chất lượng cũng như sức cạnh tranh của hàng hoá nông sản của chúng ta trên thị trường thế giới còn thấp Theo

Đặng Hữu (2001) [17] nguyên nhân sâu xa của tình trạng trên là do chúng ta

bố trí cơ cấu cây trồng, vật nuôi chủ yếu dựa vào tiềm năng tự nhiên mà chưa dựa vào các luận cứ khoa học cũng như chưa tổ chức tốt việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật Một trong những nguyên nhân khiến hàng hoá nông sản của chúng ta xuất khẩu chậm, tỷ trọng sụt giảm, giá thành thấp là do chúng ta chưa có tập quán sản xuất nông nghiệp chất lượng cao để cạnh tranh với thị trường thế giới Mặt khác, nông dân ta còn thiếu hiểu biết về kinh tế thị trường, thiếu năng lực, bản lĩnh và trình độ tổ chức sản xuất kinh doanh nông nghiệp hàng hoá Do đó sản xuất hàng hoá nhưng lại mang tính tự phát, thiếu

ổn định và thiếu một định hướng thị trường rõ ràng Chính vì thế, yêu cầu đặt

ra đối với sự phát triển nông nghiệp của chúng ta hiện nay là phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá có định hướng và thị trường ổn định Muốn vậy chúng ta phải có hệ thống sản xuất đồng loạt và đạt tiêu chuẩn

Chuyển sang nền sản xuất hàng hoá là sự phát triển hợp quy luật Đó là quá trình chuyển nền nông nghiệp truyền thống, lạc hậu thành nền sản xuất nông nghiệp hiện đại Trước đây, nền kinh tế của chúng ta chủ yếu là tự cung

tự cấp, một nền kinh tế “đóng cửa” làm cho nông dân có cuộc sống thấp, năng xuất lao động không cao Khi vận động lên kinh tế thị trường tạo ra lượng hàng hoá lớn, cuộc sống nông dân được nâng cao, giá trị sản xuất cũng như năng xuất lao động tăng kích thích sự phát triển của các nông hộ Đây là sự vận động phù hợp với quy luật nhằm tạo ra một lực lượng sản xuất mới ở nông thôn, tạo ra nhiều sản phẩm hàng hoá [41]

Theo Vũ Thị Ngọc Trân (1996) [41] thì sản xuất hàng hoá là sản xuất ra sản phẩm đem bán để thu về giá trị của nó trong đó có phần giá trị thặng dư để tái sản xuất và mở rộng quy mô

Trang 36

Nền kinh tế thị trường ra đời đã làm nảy sinh mối quan hệ cung cầu trên thị trường Đối với sản xuất nông nghiệp thì khả năng cung cho thị trường là các loại sản phẩm từ trồng trọt, chăn nuôi như lúa gạo, các loại hạt cây công nghiệp như cà phê, hồ tiêu, các loại sản phẩm cây công nghiệp khác như chè, mía, đay, cói…các loại sản phẩm từ vật nuôi như thịt, trứng, sữa…Đồng thời, cầu của sản xuất nông nghiệp là các loại phân bón, vật tư nông nghiệp…Khi tham gia thị trường, sản xuất nông nghiệp với quy mô trang trại đòi hỏi chủ hộ

có những kiến thức về sản xuất và thị trường, đòi hỏi họ cân đối cung cầu Việc thay đổi cơ cấu cây trồng và thâm canh tăng vụ là động lực chính để tạo

ra một lượng sản phẩm dư thừa tham gia vào thị trường Tuy nhiên, những rủi

ro về thị trường như không bán được sản phẩm hay sản phẩm bị rớt giá là những mối lo ngại lớn nhất của người sản xuất Theo Nguyễn Duy Bột (2001) [3] thị trường và hoạt động tiêu thụ nông sản ở nước ta tồn tại một số vấn đề sau:

-Hầu hết các sản phẩm nông nghiệp thường bị tồn đọng, nhất là vào thời

vụ thu hoạch

-Trong tất cả các kênh phân phối liên quan đến sản xuất nông nghiệp

đều có sự tham gia phổ biến của tư thương Phân phối qua nhiều khâu trung gian đã làm chậm quá trình lưu thông sản phẩm, thậm chí gây ách tắc dẫn đến tồn đọng giả tạo

-Hệ thống kinh doanh thương mại Nhà nước lâm vào thế lúng túng Thị trường đầu ra không ổn định gây khó khăn thường xuyên cho nông nghiệp trong việc bao mua sản phẩm và bao cung tư liệu sản xuất

-Đối với nông dân, trong sản xuất nông nghiệp vẫn phổ biến là “bán cái mình có chứ chưa bán cái thị trường cần”, hoạt động sản xuất kinh doanh chủ yếu sử dụng cái có sẵn chứ chưa chủ động khai thác các yếu tố của nền kinh tế thị trường

Trang 37

Rõ ràng, việc phát triển một nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay là hoàn toàn hợp với quy luật Tuy nhiên tìm kiếm thị trường tiêu thụ cũng như

có các giải pháp trong sản xuất, lưu thông và những đầu tư hợp lý theo hướng hàng hoá đang là những đòi hỏi cấp bách nhằm đạt được một nền sản xuất nông nghiệp có hiệu quả cao, ổn định

2.3.4 Một số định hướng phát triển nền nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá

Để xây dựng thành công nền nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá Việt Nam nói riêng và các nước trên thế giới nói chung cần có những định hướng phù hợp Một trong những cơ sở để định hướng là sự chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp Khi nghiên cứu bản chất của quá trình chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp của một số nước Đông Nam á tác giả Đặng Kim Sơn và Trần Công Thắng (2001) [34] thấy rằng:

-Trong giai đoạn hiện nay các nước trong khu vực đang chuyển đổi nhanh cơ cấu kinh tế và cơ cấu nông nghiệp

-Hầu hết các nước đều chuyển đổi theo hướng tập trung phát triển ngành hàng theo lợi thế của riêng mình và cải tổ để đương đầu với với những thách thức mới của thế kỷ XXI mà cụ thể là:

+Thái Lan: phát huy thế mạnh sẵn có của mình để phát triển sản xuất nông nghiệp và xuất khẩu theo hướng đa dạng hoá sản phẩm, giảm bớt rủi ro thị trường và tăng cường đầu tư công nghệ chế biến

+Cũng như Thái Lan, Malaixia tập trung sản xuất hàng hoá có lợi thế cạnh tranh cao để xuất khẩu, phát triển nông nghiệp thành lĩnh vực hiện đại và thương mại hoá cao.Tăng cường phát triển ngành chế biến gắn với sản xuất nông nghiệp dựa vào tài nguyên của từng địa phương

+Inđônêxia: Tập trung sản xuất hàng hoá các mặt hàng có lợi thế như hạt tiêu, hoa quả, gỗ và các sản phẩm từ gỗ, một số mặt hàng chế biến từ thuỷ hải sản là tôm đông lạnh, cá ngừ…

Trang 38

+Với Philippin việc phát triển nông nghiệp theo hướng xây dựng các vùng chuyên canh gắn với công nghiệp chế biến, hệ thống thông tin, tín dụng

và tiếp thị Đặc biệt là việc tăng cường đầu tư cho công tác nghiên cứu, chuyển giao áp dụng công nghệ và khuyến nông

Từ những kinh nghiệm và thực tế đang diễn ra ở các nước trong khu vực cho chúng ta thấy định hướng phát triển nền nông nghiệp Việt Nam theo hướng sản xuất hàng hoá cũng không thể tách khỏi xu hướng chung của các nước Đông Nam á Điều đó có nghĩa là chúng ta phải tận dụng những lợi thế riêng của mình về tự nhiên xã hội để sản xuất ra những sản phẩm phù hợp với nhu cầu thị trường và điều kiện cụ thể của mỗi vùng sinh thái Cũng là vấn đề trên tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX (2000) [13] đã khẳng định:

“Định hướng phát triển ngành kinh tế nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp và kinh tế nông thôn là: công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn theo hướng đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu ngành nghề, cơ cấu lao động hình thành nền nông nghiệp hàng hoá lớn phù hợp với nhu cầu thị trường và điều kiện sinh thái trên từng vùng…” Cũng tại Đại hội này đã chỉ ra định hướng phát triển vùng đồng bằng sông Hồng là: “Phát triển nền nông nghiệp hàng hoá đa dạng Cùng với lương thực đưa vụ đông thành một thế mạnh, hình thành các vùng chuyên canh rau, cây ăn quả, thịt, hoa ”

Theo Phan Sĩ Mẫn và Nguyễn Việt Anh(2001) [29] định hướng và tổ chức phát triển nền nông nghiệp hàng hoá ở nước ta như sau:

-Phát triển mạnh sản xuất kinh doanh hàng hoá theo chiều sâu trên cơ

sở đầy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, khai thác lợi thế so sánh của từng vùng , gắn với bảo vệ và tái tạo tài nguyên, môi trường sinh thái Đảm bảo an ninh lương thực đáp ứng nhu cầu hàng nông sản và nguyên liệu cho thị trường trong nước đồng thời chuyển mạnh nền nông nghiệp sang sản xuất xuất khẩu

Trang 39

-Tiếp tục đổi mới thể chế chính sách và có các giải pháp đồng bộ về tổ chức và quản lý quá trình phát triển, cụ thể là phải có quy hoạch và định hướng phát triển nông nghiệp cho từng vùng, tiểu vùng kinh tế sinh thái và theo nhóm sản phẩm hàng hoá Trước hết cần tập trung cho các vùng nông nghiệp trọng điểm, có điều kiện sản xuất hàng hoá, tập trung với quy mô lớn các loại cây trồng, vật nuôi tạo sản phẩm hàng hoá chủ lực có giá trị kinh tế cao, có lợi thế xuất khẩu và phù hợp với điều kiện cụ thể của vùng Ngoài ra cần tăng cường đầu tư và điều chỉnh cơ cấu đầu tư thích ứng với yêu cầu thực

tế phát triển nền nông nghiệp Đặc biệt coi trọng đầu tư cho nghiên cứu khoa học, ứng dụng chuyển giao công nghệ, kỹ thuật mới và công nghệ sau thu hoạch, công nghệ chế biến Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ và thúc đẩy việc phát triển các hình thức kinh tế hợp tác, liên doanh, liên kết trong sản xuất kinh doanh nông nghiệp

Nằm trong vùng đồng bằng sông Hồng, vùng nông nghiệp trọng điểm của cả nước thì định hướng phát triển nông nghiệp của Thái Bình trong giai

đoạn tới sẽ là phát triển nền nông nghiệp hàng hoá đa dạng dựa trên cơ sở có thế mạnh về tài nguyên đất đai màu mỡ và con người cần cù lao động Chủ trương xây dựng và phát triển các cánh đồng có thu nhập đạt 50 triệu

đ/ha/năm nhằm tạo cho Thái Bình chuyển dịch nhanh cơ cấu kinh tế và hình thành nền nông nghiệp hàng hoá phù hợp với điều kiện tự nhiên sinh thái của tỉnh

2.4 Những nghiên cứu nâng cao hiệu quả sử dụng đất và phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hoá trên thế giới và Việt Nam

2.4.1 Những nghiên cứu trên thế giới

Đất nông nghiệp là nhân tố vô cùng quan trọng đối với sản xuất nông nghiệp Trên thế giới, mặc dù nền sản xuất nông nghiệp của các nước phát triển không giống nhau nhưng tầm quan trọng đối với đời sống con người thì quốc gia nào cũng thừa nhận Hầu hết các nước coi sản xuất nông nghiệp là cơ

Trang 40

sở hạ tầng, là thu nhập quan trọng của mình Vì vậy việc nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp để đáp ứng nhu cầu trước mắt và lâu dài là vấn đề được nhiều nhà khoa học trên thế giới quan tâm Hướng nghiên cứu mà đa số các nhà khoa học quan tâm trong lĩnh vực nâng cao hiệu quả sử dụng đất là xem xét sự phù hợp của mỗi giống cây trồng trên từng loại đất là cơ sở để bố trí cơ cấu cây trồng phù hợp nhằm khai thác một cách có hiệu quả tiềm năng đát đai nói riêng và lợi thế của từng vùng sinh thái nói chung Xuất phát từ lý do trên

mà hàng năm các viện nghiên cứu nông nghiệp thuộc nhiều nước trên thế giới

đã tạo ra những giống cây trồng mới giúp cho việc hình thành các kiểu sử dụng đất mới ngày càng phù hợp với đất đai, khí hậu của mỗi vùng là cơ sở để khai thác đất đai có hiệu quả hơn Viện Lúa quốc tế (IRRI) đã có nhiều thành tựu về lĩnh vực giống lúa cũng như hệ thống cây trồng trên đất canh tác Tại Nhật Bản, tạp chí “Farming Japan” hàng tháng đều giới thiệu các công trình của các nước trên thế giới về các hình thức sử dụng đất đai, đặc biệt là của Nhật

Các nhà khoa học Nhật Bản đã hệ thống hoá tiêu chuẩn hiệu quả sử dụng đất đai thông qua hệ thống cây trồng trên đất canh tác: đó là sự phối hợp giữa cây trồng và gia súc, các phương pháp trồng trọt và chăn nuôi, cường độ lao động, vốn đầu tư, tổ chức sản xuất, sản phẩm làm ra, tính chất hàng hoá của sản phẩm [42]

Các nước trong khu vực đều có những chính sách và nghiên cứu về sự phát triển nông nghiệp nói chung và nông nghiệp hàng hoá nói riêng Trung quốc đã coi việc khai thác và sử dụng đất đai là yếu tố quyết định để phát triển kinh tế xã hội nông thôn Chính phủ Trung quốc đã đưa ra chính sách quản lý

và sử dụng đất đai ổn định, giao đất cho nông dân sử dụng, thiết lập hệ thống trách nhiệm và tính chủ động sáng tạo của nông dân trong sản xuất Chính quyền các địa phương của Trung Quốc thực hiện chủ trương “Ly nông bất ly hương” đã thúc đẩy nền sản xuất nông nghiệp cũng như sự phát triển kinh tế

Ngày đăng: 28/11/2013, 10:06

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1-Biến động về diện tích đất nông nghiệp và diện tích đất canh tác ở - Luận văn đánh giá các loại hình sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả cao và đề xuất khả năng mở rộng ở huyện đông hưng tỉnh thái bình
Bảng 1 Biến động về diện tích đất nông nghiệp và diện tích đất canh tác ở (Trang 17)
Bảng 2-Tình hình xuất khẩu hàng hoá nông nghiệp những năm gần đây - Luận văn đánh giá các loại hình sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả cao và đề xuất khả năng mở rộng ở huyện đông hưng tỉnh thái bình
Bảng 2 Tình hình xuất khẩu hàng hoá nông nghiệp những năm gần đây (Trang 34)
Bảng 3-Tình hình sử dụng đất đai của tỉnh Thái Bình đến 1/4/2005 - Luận văn đánh giá các loại hình sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả cao và đề xuất khả năng mở rộng ở huyện đông hưng tỉnh thái bình
Bảng 3 Tình hình sử dụng đất đai của tỉnh Thái Bình đến 1/4/2005 (Trang 44)
Bảng 4-Tình hình sử dụng đất đai của huyện Đông h−ng - Luận văn đánh giá các loại hình sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả cao và đề xuất khả năng mở rộng ở huyện đông hưng tỉnh thái bình
Bảng 4 Tình hình sử dụng đất đai của huyện Đông h−ng (Trang 55)
Bảng 5-Cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp ở huyện Đông h−ng năm 2004 - Luận văn đánh giá các loại hình sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả cao và đề xuất khả năng mở rộng ở huyện đông hưng tỉnh thái bình
Bảng 5 Cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp ở huyện Đông h−ng năm 2004 (Trang 56)
Bảng 7-Thống kê diện tích đất sản xuất nông nghiệp theo các chỉ tiêu - Luận văn đánh giá các loại hình sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả cao và đề xuất khả năng mở rộng ở huyện đông hưng tỉnh thái bình
Bảng 7 Thống kê diện tích đất sản xuất nông nghiệp theo các chỉ tiêu (Trang 59)
Bảng 8-Các loại hình sử dụng đất và các kiểu sử dụng đất - Luận văn đánh giá các loại hình sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả cao và đề xuất khả năng mở rộng ở huyện đông hưng tỉnh thái bình
Bảng 8 Các loại hình sử dụng đất và các kiểu sử dụng đất (Trang 70)
Bảng 10a-Hiệu quả kinh tế loại hình sử dụng đất 2 lúa-rau, màu - Luận văn đánh giá các loại hình sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả cao và đề xuất khả năng mở rộng ở huyện đông hưng tỉnh thái bình
Bảng 10a Hiệu quả kinh tế loại hình sử dụng đất 2 lúa-rau, màu (Trang 77)
Bảng 10b-Hiệu quả kinh tế loại hình sử dụng đất 2 rau, màu-1 lúa - Luận văn đánh giá các loại hình sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả cao và đề xuất khả năng mở rộng ở huyện đông hưng tỉnh thái bình
Bảng 10b Hiệu quả kinh tế loại hình sử dụng đất 2 rau, màu-1 lúa (Trang 78)
Bảng 11-Hiệu quả kinh tế loại hình sử dụng đất chuyên màu - Luận văn đánh giá các loại hình sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả cao và đề xuất khả năng mở rộng ở huyện đông hưng tỉnh thái bình
Bảng 11 Hiệu quả kinh tế loại hình sử dụng đất chuyên màu (Trang 82)
Bảng 13-Hiệu quả kinh tế loại hình sử dụng đất lúa-cá - Luận văn đánh giá các loại hình sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả cao và đề xuất khả năng mở rộng ở huyện đông hưng tỉnh thái bình
Bảng 13 Hiệu quả kinh tế loại hình sử dụng đất lúa-cá (Trang 91)
Bảng 14-Hiệu quả kinh tế loại hình sử dụng đất hoa, cây giống - Luận văn đánh giá các loại hình sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả cao và đề xuất khả năng mở rộng ở huyện đông hưng tỉnh thái bình
Bảng 14 Hiệu quả kinh tế loại hình sử dụng đất hoa, cây giống (Trang 94)
Bảng 15-Phân cấp các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế-xã hội - Luận văn đánh giá các loại hình sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả cao và đề xuất khả năng mở rộng ở huyện đông hưng tỉnh thái bình
Bảng 15 Phân cấp các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế-xã hội (Trang 101)
Bảng 16-So sánh hiệu quả kinh tế, xã hội các loại hình sử dụng đất - Luận văn đánh giá các loại hình sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả cao và đề xuất khả năng mở rộng ở huyện đông hưng tỉnh thái bình
Bảng 16 So sánh hiệu quả kinh tế, xã hội các loại hình sử dụng đất (Trang 102)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w