- Vì lý do đó, tôi đã cố gắng thống kê, phân loại lỗi, tìm hiểu nguyên nhân và đưa ra một số biện pháp khắc phục “để giúp học sinh giảm bớt lỗi chính tả”, giúp các em mạnh dạn, tự tin hơ
Trang 11 Kết quả thống kê lỗi:
2 Nguyên nhân mắc lỗi:
Trang 2I – Đăt vấn đề:
- Chữ viết là hệ thống ký hiệu bằng đường nét đặt ra để ghi tiếng nói và cónhững quy tắc, quy định riêng Muốn viết đúng chính tả Tiếng Việt, ta phải tuântheo những quy định, quy tắc đã được xác lập
- Trong thực tế, học sinh mắc lỗi chính tả rất nhiều Có nhiều học sinh viếtsai hơn 10 lỗi ở một bài chính tả khoảng 60 chữ Khi chấm bài Tập làm văn, tôikhông thể hiểu các em muốn diễn đạt điều gì vì bài viết mắc quá nhiều lỗi chính
tả Điều này ảnh hưởng tới kết quả học tập của các em ở môn Tiếng Việt cũngnhư các môn học khác, hạn chế khả năng giao tiếp, làm các em mất tự tin, trởnên rụt rè, nhút nhát
- Vì lý do đó, tôi đã cố gắng thống kê, phân loại lỗi, tìm hiểu nguyên nhân
và đưa ra một số biện pháp khắc phục “để giúp học sinh giảm bớt lỗi chính tả”, giúp các em mạnh dạn, tự tin hơn khi giao tiếp, nhằm mục tiêu đào tạo
những chủ nhân tương lai năng động, sáng tạo phù hợp với xu thế phát triển hiệnnay
II GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ:
2
Trang 3Qua kết quả thống kê các loại lỗi, tôi thấy học sinh thường mắc phải cácloại lỗi sau:
+ v/d/gi: Giao động, giải lụa , giòng giống , dui dẻ…
- Trong các lỗi này, lỗi về ch/tr, s/x, v/d/gi là phổ biến hơn cả.
c Về âm chính:
- Học sinh hay mắc lỗi khi viết chữ ghi các âm chính trong các vần sau đây:
+ ai/ay/ây: Bàn tai, đi cầy, dậy học, …
+ ao/au/âu: Hôm sao, mầu đỏ, …
+ iu/êu/iêu: chìu chuộng, lim khiết, cây niu, …
Trang 4+ oi/ôi/ơi/ui: nôi gương, xoi nếp, tui đi học, …
+ ăm/âm: con tầm, sưu tằm, bụi bậm…
+ im/iêm/êm/em: tim thuốc, lúa chim, cái kềm, đi tiềm, …
+ ăp/âp: gập gỡ, đầy ấp…
+ ip/iêp/êp/ep: số kíp, liên típ, thệp cưới…
+ ong/ông: ông bướm, sống biển,….
+ ui/uôi: tuối xách, đầu đui, tủi tác…
+ um/uôm: nhụm màu, ao chum…
+ ưi /ươi: tứu rau, …
+ ưu/ ươu: ốc bưu, con khứu
d Về âm cuối:
- Học sinh thường viết lẫn lộn chữ ghi âm cuối trong các vần sau đây:
+ an/ang: phong lang, tang trường, kháng giả, …
+ at/ac: nhút nhác, đôi mắc, nhạt cụ dân tộc, …
+ ăn/ăng: nếp nhăng, khăng quàng, …
+ ăt/ăc: giặc giũ, đánh giặt, mặt quần áo…
+ ân/âng: bân khuâng, vần trăng, …
+ ât/âc: bấc ngờ, nhất lên…
+ ên/ênh: bấp bên, nhẹ tên, ghập ghền, khấp khển…
+ êt/êch: trắng bệt, con ết…
+ iêt/iêc: mải miếc, xanh biết, …
+ ut/uc: cây búc, bão lục, …
+ uôn/uông: khuôn nhạc, buồn tắm…
+ uôt/uôc: rét buốc, chải chuốc…
4
Trang 52 Nguyên nhân mắc lỗi:
a Về thanh điệu:
Theo các nhà ngữ âm học, người Việt từ Nghệ An trở vào không phân biệt
được 2 thanh hỏi, ngã Hay nói đúng hơn trong phương ngữ Trung và Nam không có thanh ngã Mặt khác, số lượng tiếng mang 2 thanh này khá lớn Do đó
lỗi về dấu câu rất phổ biến
Ví dụ: hướng dẩn, giử gìn, dổ dành, phủ phàng, …
b Về âm đầu:
Trong phương ngữ Bắc và Nam có sự lẫn lộn giữa các chữ ghi âm đầu
l/n; ch/tr, s/x ; r/d/gi Mặt khác, người Miền Nam còn lẫn lộn v và d Ngoài ra, trong quy ước về chữ quốc ngữ, một âm ghi bằng 2 hoặc 3 dạng (ví dụ: /k/ ghi bằng c,k,qu…) dĩ nhiên là có những quy định riêng cho mỗi dạng, nhưng đối với
học sinh tiểu học (nhất là học sinh yếu) thì rất dễ lẫn lộn
c Về âm chính:
Có 2 nguyên nhân gây ra sự lẫn lộn về âm chính trong các vần này:
- Nguyên nhân thứ nhất là do sự phức tạp của chữ quốc ngữ: Nguyên
âm /ă/ lại được ghi bằng chữ a trong các vần ay, au, các nguyên âm đôi /ie, ươ, uô/ lại được ghi bằng các dạng iê, yê, ia, ya; ươ, ưa; uô, ua (chia - khuya, liên
- tuyến, lửa - lương, đua - muôn); âm đệm /w/ lại được ghi bằng 2 con chữ u và
o (ví dụ: huệ, hoa).
- Nguyên nhân thứ hai là do cách phát âm lẫn lộn trong phương ngữ Nam
Bộ đối với các âm chính trong hầu hết các vần trên
d Về âm cuối:
Trang 6Người Miền Nam phát âm hoàn toàn không phân biệt các vần có âm cuối
n/ng/nh và t/c/ch ( Ví dụ: ăng cơm, chạy nhăn, …) Mà số từ mang các vần này không nhỏ Mặt khác hai bán âm cuối /i, u/ lại được ghi bằng 4 con chữ i/y (trong: lai/lây), u/o (trong: sau/sao) do đó lỗi về âm cuối là lỗi khó khắc phục
đối với học sinh khu vực phía Nam
3 Một số biện pháp khắc phục lỗi:
a Luyện phát âm:
- Muốn học sinh viết đúng chính tả, giáo viên phải chú ý luyện phát âmcho học sinh để phân biệt các thanh, các âm đầu, âm chính, âm cuối vì chữ quốcngữ là chữ ghi âm - âm thế nào, chữ ghi lại thế ấy
- Việc rèn phát âm không chỉ được thực hiện trong tiết Tập đọc mà đượcthực hiện thường xuyên, liên tục, lâu dài trong tất cả các tiết học như Chính tả,Luyện từ và câu, Tập làm văn…
- Với những học sinh có vấn đề về mặt phát âm (nói ngọng, nói lắp, …),giáo viên lưu ý học sinh chú ý nghe giáo viên phát âm để viết cho đúng Vì vậy,giáo viên phải cố gắng phát âm rõ ràng, tốc độ vừa phải mới có thể giúp họcsinh viết đúng được
b Phân tích, so sánh:
- Với những tiếng khó, giáo viên áp dụng biện pháp phân tích cấu tạotiếng, so sánh với những tiếng dễ lẫn lộn, nhấn mạnh những điểm khác nhau đểhọc sinh ghi nhớ
Ví dụ: Khi viết tiếng “muống” học sinh dễ lẫn lộn với tiếng “muốn”, giáo
viên yêu cầu học sinh phân tích cấu tạo hai tiếng này:
- muống = m + uông + thanh sắc
- muốn = m + uôn + thanh sắc.
6
Trang 7“muốn” có âm cuối là “n” Học sinh ghi nhớ điều này, khi viết, các em sẽ
không viết sai
c Giải nghĩa từ:
- Biện pháp thứ ba để khắc phục lỗi chính tả cho học sinh là giải nghĩa từ.Việc giải nghĩa từ thường được thực hiện trong tiết Luyện từ và câu, Tập đọc,Tập làm văn… nhưng nó cũng là viêc làm rất cần thiết trong tiết Chính tả, khi
mà học sinh không thể phân biệt từ khó dựa vào phát âm hay phân tích cấu tạotiếng
- Có nhiều cách để giải nghĩa từ cho học sinh: Giáo viên có thể cho học sinhđọc chú giải, đặt câu (nếu học sinh đặt câu đúng tức là học sinh đã hiểu nghĩatừ), tìm từ đồng nghĩa, trái nghĩa, miêu tả đặc điểm hoặc sử dụng vật thật, môhình, tranh ảnh, …
Ví dụ: Phân biệt chiêng và chiên
+ Giải nghĩa từ chiêng: Giáo viên có thể cho học sinh quan sát tranh ảnh cái chiêng hoặc miêu tả đặc điểm (chiêng là nhạc cụ bằng đồng, hình tròn, đánh
bằng dùi, âm thanh vang dội)
+ Giải nghĩa từ chiên: Giáo viên có thể cho học sinh đặt câu với từ chiên hoặc giải thích bằng định nghĩa (chiên là làm chín thức ăn bằng cách cho thức
ăn vào chảo dầu, mỡ, đun trực tiếp trên bếp lửa)
- Với những từ nhiều nghĩa, giáo viên phải đặt từ đó trong văn cảnh cụ thể
để giải nghĩa từ
d Ghi nhớ mẹo luật chính tả:
- Mẹo luật chính tả là các hiện tượng chính tả mang tính quy luật chi phốihàng loạt từ, giúp giáo viên khắc phục lỗi chính tả cho học sinh một cách rất hữuhiệu Ngay từ lớp 1, các em đã được làm quen với luật chính tả đơn giản như:
các âm đầu k,gh,ngh chỉ kết hợp với các nguyên âm i, e, ê, iê, ie Ngoài ra, giáo
Trang 8viên có thể cung cấp thêm cho học sinh một số mẹo luật khác như:
+ Để phân biệt âm đầu tr/ch: Đa số các từ chỉ đồ vật trong nhà và tên con vật đều bắt đầu bằng ch, ví dụ: chăn, chiếu, chảo, chổi, chai, chày, chén, chum, chạn, chõ, chĩnh, chuông, chiêng, choé,… chồn, chí, chuột, chó, chuồn chuồn, châu chấu, chào mào, chiền chiện, chẫu chàng, chèo bẻo, chìa vôi, … + Để phân biệt âm đầu s/x: Đa số các từ chỉ tên cây và tên con vật đều bắt đầu bằng s: Sả, si, sồi, sứ, sung, sắn, sim, sao, su su, sầu đâu, sa nhân, sơn trà, sặt, sậy, sấu, sến, săng lẻ, sầu riêng, so đũa… sam, sán, sáo, sâu, sên, sếu,
sò, sóc, sói, sứa, sáo sậu, săn sắt, sư tử, sơn dương, san hô…
+ Để phân biệt dấu thanh hỏi/ngã: Các từ gộp âm chỉ mang thanh hỏi không
nhớ được 2 nhóm này, giáo viên chỉ cần dạy cho học sinh thuộc 2 câu thơ:
Em Huyền mang nặng, ngã đau
Anh Ngang sắc thuốc, hỏi đau chỗ nào.
Nghĩa là đa số các từ láy âm đầu, nếu yếu tố đứng trước mang thanh
huyền, nặng, ngã thì yếu tố đứng sau sẽ mang thanh ngã, nếu yếu tố đứng trước
8
Trang 9Ví dụ: Bổng
• Ngang + hỏi: Nho nhỏ, lẻ loi, trong trẻo, vui vẻ…
• Sắc + hỏi: Nhắc nhở, trắng trẻo, sắc sảo, vắng vẻ…
• Hỏi + hỏi: Lỏng lẻo, thỏ thẻ, hổn hển, thủ thỉ, rủ rỉ…
Hầu hết các từ tượng thanh có tận cùng là ng hoặc nh: oang oang, đùng đoàng, loảng xoảng, đoàng đoàng, sang sảng, rổn rảng, ùng oàng, quang quác, ăng ẳng, ằng ặc, oăng oẳng, răng rắc, sằng sặc, pằng pằng, eng éc, beng beng, chập cheng, leng keng, reng reng, phèng phèng, lẻng kẻng, lẻng xẻng, ùng ùng, đùng đùng, thùng thùng, bình bịch, thình thịch, thình thình, rập rình, xập xình, huỳnh huỵch…
Vần uyu chỉ xuất hiện trong các từ: khuỷu tay, khúc khuỷu, ngã khuỵu, khuỵu chân; vần oeo chỉ xuất hiện trong các từ ngoằn ngoèo, khoèo chân
e Làm các bài tập chính tả:
Giáo viên có thể đưa ra các dạng bài tập chính tả khác nhau để giúp họcsinh tập vận dụng các kiến thức đã học, làm quen với việc sử dụng từ trong văncảnh cụ thể Sau mỗi bài tập, giáo viên giúp học sinh rút ra các quy tắc chính tả
Trang 10để các em ghi nhớ.
- Bài tập trắc nghiệm:
* Khoanh tròn vào chữ cái trước những chữ viết đúng chính tả:
* Điền chữ Đ vào ô trống trước những chữ viết đúng chính tả và chữ
S vào ô trống trước những chữ viết sai chính tả:
giặc quần áo giặt quần áo
* Nối các tiếng ở cột A với các tiếng ở cột B để tạo thành những từ viết đúng chính tả:
* Chọn từ thích hợp trong ngoặc điền vào chỗ trống trong câu sau:
• Cháu bé đang uống ……… (sửa, sữa)
• Học sinh … mũ chào thầy giáo (ngả, ngã).
• Đôi …… này đế rất …… (giày, dày)
10
Trang 11* Chọn từ thích hợp trong ngoặc điền vào chỗ trống trong câu sau:
• Học sinh … đèn học bài… đêm khuya (trong, chong)
• Lan thích nghe kể……….hơn đọc……… (truyện, chuyện)
• Trời nhiều …… , gió heo ………lại về (mây, may)
- Bài tập phát hiện:
* Tìm từ sai chính tả trong câu sau và sửa lại cho đúng:
• Xuân diệu là một nhà thơ trử tình nổi tiếng
• iêt/ iêc: đi biền b…. , thấy tiêng t……, xanh biêng b…/
* Điền tiếng láy thích hợp vào chỗ trống:
• Hắn bỡ…… trước cuộc sống mới lạ
• Buổi trưa hè, trời nắng chói ……
• Dây leo chằng………, chắn cả lối đi
• Tiếng gà kêu quang ………
Trang 12- Bài tập tìm từ:
Học sinh tìm từ ngữ chứa âm, vần dễ lẫn qua gợi ý nghĩa của từ, qua gợi ý
từ đồng âm, từ trái nghĩa…
* Tìm các từ chứa tiếng bắt đầu bằng ươt hoặc ươc có nghĩa như sau:
• Dụng cụ để đo, vẽ, kẻ:
• Thi không đỗ:
• Người chuyên nghiên cứu, bào chế thuốc chữa bệnh:
* Tìm các từ chỉ hoạt động:
• Chứa tiếng bắt đầu bằng r:
• Chứa tiếng bắt đầu bằng d:
• Chứa tiếng bắt đầu bằng gi:
• Chứa tiếng có vần ươt:
• Chứa tiếng có vần ươc:
* Tìm từ ngữ có thanh hỏi hoặc thanh ngã có ý nghĩa như sau:
• Trái nghĩa với từ thật thà:
• Đoạn đường nhỏ hẹp trong thành phố:
• Cây trồng để làm đẹp:
• Khung gỗ để dệt vải:
- Bài tập phân biệt:
Đặt câu để phân biệt từng cặp từ sau:
• nồi - lồi
• no - lo
• chúc - chút
12
Trang 13• ngả - ngã
- Bài tập giải câu đố
* Em chọn tr hay ch để điền vào chỗ trống rồi giải câu đố sau:
Mặt… òn, mặt lại đỏ gay
Ai nhìn cũng phải nhíu mày vì saoSuốt ngày lơ lửng… ên caoĐêm về đi ngủ, ….ui vào nơi đâu?
(là gì?)
* Em chọn dấu hỏi hay dấu ngã để đặt trên những chữ in đậm rồi giải câu đố sau:
Cánh gì cánh chăng biết bay
Chim hay sà xuống nơi đây kiếm mồi
Đôi ngàn vạn giọt mồ hôi Bát cơm trắng deo, đia xôi thơm bùi.
(là gi ?)
4 Kiểm nghiệm - Tự nhận xét kết quả:
Trong quá trình đứng lớp, tôi đã áp dụng các biện pháp trên và nhận thấy họcsinh có tiến bộ rõ rệt Bản thân các em cũng ý thức hơn khi viết bài nên bài viết
ít mắc lỗi chính tả Những em đầu năm học thường sai 9, 10 lỗi thì nay chỉ còn
3, 4 lỗi, những em trước kia sai 5, 6 lỗi thì nay chỉ còn 1, 2 lỗi… Tuy rằng đây
mới chỉ là kết quả hết sức khiêm tốn và việc “giúp học sinh giảm bớt lỗi chính tả” là một quá trình lâu dài song tôi vẫn cảm thấy rất vui vì công việc mình làm
đã bước đầu có hiệu quả
Trang 14III BÀI HỌC KINH NGHIỆM:
- Việc phát hiện lỗi chính tả, thống kê, tìm nguyên nhân gây lỗi, từ đó đưa
ra các biện pháp khắc phục là rất cần thiết, không thể thiếu trong quá trình dạy học Tiếng Việt Nhưng không phải chỉ đưa ra các biện pháp khắc phục là có thểthực hiện một cách có hiệu quả Sửa chữa, khắc phục lỗi chính tả là cả một quátrình lâu dài, đòi hỏi người giáo viên phải kiên trì, bền bỉ, không được nóng vội.Bởi vì có những học sinh tiến bộ ngay trong vài tuần nhưng cũng có những họcsinh thì sự tiến bộ diễn ra rất chậm, không phải vài tuần, có khi vài tháng, thậmchí cả một học kỳ Nếu giáo viên không biết chờ đợi, nôn nóng thì chắc chắn sẽthất bại
- Ngay từ khi các em mới bắt đầu “làm quen” với Tiếng Việt, giáo viên nênhướng dẫn các em thật tỉ mỉ về các quy tắc chính tả, quy tắc kết hợp từ, quy tắcghi âm chữ quốc ngữ… tránh trường hợp học sinh vì thiếu hiểu biết dẫn đến saisót
- Trong quá trình giảng dạy, giáo viên luôn quan sát, kiểm tra, … từ đó pháthiện ra những khó khăn, vướng mắc, hoặc những lỗi mà học sinh hay mắc phải
để kịp thời sửa chữa, uốn nắn
- “Ở đâu có thầy giỏi, ở đó có trò giỏi” Vì vậy người giáo viên cần phảikhông ngừng học hỏi, tự tìm hiểu, nghiên cứu để nâng cao trình độ, tay nghề Cónắm chắc kiến thức, giáo viên mới có thể giúp học sinh chữa lỗi và khắc phụclỗi một cách có hiệu quả
B KẾT LUẬN:
Với kết quả nghiên cứu của mình, tôi không có tham vọng đưa ra các biện pháp nhằm giải quyết vấn đề một cách tổng thể mà chỉ xin nêu một số kinh nghiệm ít ỏi của cá nhân tôi tích luỹ được trong quá trình giảng dạy, mong 14
Trang 15Do thời gian và trình độ còn hạn chế Vì vậy không tránh khỏi còn có thiếu sót.
Rất mong được nhận ý kiến đóng góp của ban lãnh đạo, các bạn đồng nghiệp Tôi xin chân thành cảm ơn!
Minh Hòa, ngày 4 tháng 2 năm 2009
Người viết
Phạm Văn Chẩn
NHẬN XÉT ĐÁNH GIÁ CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG
Trang 1616
Trang 1818
Trang 2020
Trang 21
Trang 22
NHẬN XÉT ĐÁNH GIÁ CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC CẤP HUYỆN
22
Trang 2424
Trang 2626
Trang 27Trang 28
NHẬN XÉT ĐÁNH GIÁ CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC CẤP SỞ
28
Trang 3030
Trang 3232
Trang 3434
Trang 3636
Trang 3838
Trang 4040
Trang 4242
Trang 4444
Trang 4646
Trang 4848
Trang 5050
Trang 5252
Trang 5454
Trang 5656
Trang 5858
Trang 6060
Trang 6262
Trang 6464
Trang 6666
Trang 6868
Trang 7070
Trang 7272
Trang 7474
Trang 7676
Trang 7878
Trang 8080
Trang 8282
Trang 8484
Trang 8686
Trang 8888
Trang 9090
Trang 9292
Trang 9494
Trang 9696
Trang 97