1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn phát triển kinh tế gắn với xoá đói giảm nghèo ở huyện sơn động, tỉnh bắc giang

161 931 6
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phát triển kinh tế gắn với xoá đói giảm nghèo ở huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang
Tác giả Nông Hữu Tùng
Người hướng dẫn GS.TS. Tô Dũng Tiến
Trường học Trường Đại học Nông nghiệp I
Chuyên ngành Kinh tế nông nghiệp
Thể loại Luận văn thạc sĩ khoa học
Năm xuất bản 2006
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 161
Dung lượng 1,18 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

luận văn

Trang 1

Bộ giáo dục và đào tạo Trường đại học nông nghiệp i

Trang 2

Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và ch−a hề đ−ợc sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đ2 đ−ợc cám ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đ2 đ−ợc chỉ rõ nguồn gốc

Ngày 12 tháng 9 năm 2006 Tác giả luận văn

Nông Hữu Tùng

Trang 3

Lời cảm ơn

sự hướng dẫn, giúp đỡ, động viên của nhiều cá nhân, tập thể Tôi xin được bày tỏ sự cảm ơn sâu sắc nhất tới tất cả các cá nhân và tập thể đ2 tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong học tập và nghiên cứu

Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu nhà trường, khoa Sau đại học, khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn trường Đại học Nông nghiệp I, xin cảm ơn trường Cao đẳng Nông Lâm - nơi tôi đang công tác, đ2 tạo điều kiện giúp đỡ tôi về mọi mặt trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn này

Tôi xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ tận tình của thầy giáo hướng dẫn khoa học: GS.TS Tô Dũng Tiến - nguyên Trưởng khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn trường Đại học Nông nghiệp I

Tôi xin cảm ơn sự giúp đỡ, đóng góp nhiều ý kiến quý báu của các nhà khoa học, các thầy cô giáo trong khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn,

bộ môn Kinh tế lượng

Tôi xin cảm ơn sự giúp đỡ hết sức nhiệt tình của Huyện Uỷ, Uỷ ban nhân dân, phòng Thống kê, phòng Kinh tế, phòng Nội vụ - Lao động - TB&XH, phòng Dân tộc - Tôn giáo, phòng Tài nguyên - Môi trường, phòng Kinh tế Hạ tầng, Ban Dân tộc tỉnh… và các cán bộ, nhân dân địa phương huyện Sơn Động trong quá trình thực hiện đề tài này

Tôi xin cảm ơn sự động viên, giúp đỡ của bạn bè, đồng chí và gia

đình trong quá trình thực hiện đề tài

Tác giả luận văn: Nông Hữu Tùng

Trang 4

Mục lục

2 Cơ sở lý luận và thực tiễn phát triển kinh tế gắn với xoá đói

4.1 Tình hình phát triển kinh tế ở huyện Sơn Động giai đoạn

4.2 Thực trạng đói nghèo và kết quả xoá đói giảm nghèo ở huyện

Trang 5

4.3 Những giải pháp đM thực hiện nhằm phát triển kinh tế và xoá

4.4 Một số bài học kinh nghiệm về phát triển kinh tế gắn với xoá

4.5 Định hướng và những giải pháp chủ yếu thúc đẩy phát triển

kinh tế gắn với xoá đói giảm nghèo trên địa bàn huyện

Trang 6

Danh s¸ch nh÷ng tõ viÕt t¾t vµ ký hiÖu

Trang 7

Danh mục các bảng Bảng 4.1 Giá trị sản xuất của huyện Sơn Động (theo giá so sánh

Bảng 4.6 Thực trạng hộ nghèo và nguyên nhân đói nghèo của

Bảng 4.7 Tình hình giảm nghèo của huyện Sơn Động (theo chuẩn

Bảng 4.8 Cung cấp các dịch vụ hạ tầng thiết yếu cho các xM ĐBKK

Bảng 4.9 Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và giảm nghèo của

Danh mục các hình

Hình 4.4 Cơ cấu hộ nghèo năm 2005 của huyện Sơn Động (theo

Hình 4.5 Tốc độ tăng trưởng kinh tế và tỷ lệ hộ nghèo của huyện

Trang 8

1 mở đầu

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Phát triển kinh tế (PTKT) là việc làm thường xuyên, liên tục của mọi quốc gia Trong những năm qua Đảng, Nhà nước ta đM không ngừng tích cực

đổi mới cơ chế, chính sách, pháp luật nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho mọi thành viên trong xM hội cùng tham gia PTKT; nhiều chủ trương, đường lối, chương trình, dự án đM được xây dựng và triển khai trong thực tế góp phần tích cực vào sự PTKT của đất nước, với tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm cao và ổn định từ 7 - 8%, cơ cấu kinh tế - xM hội chuyển dịch theo hướng tiến bộ, đời sống vật chất - tinh thần của nhân dân ngày càng được cải thiện, từng bước góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế -

xM hội 10 năm 2001-2010 mà Nghị quyết Đại hội Đảng IX đM đề ra: “Đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao rõ rệt đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại Nguồn lực con người, năng lực khoa học và công nghệ, kết cấu hạ tầng, tiềm lực kinh tế, quốc phòng, an ninh được tăng cường; thể chế kinh tế thị trường định hướng chủ nghĩa xI hội

được hình thành về cơ bản; vị thế của nước ta trên trường quốc tế được nâng cao” [6]

Tuy nhiên, trong quá trình PTKT chúng ta đM và đang gặp phải những vấn đề xM hội như tình trạng nghèo nàn, lạc hậu, bảo thủ, trì trệ… còn tồn tại ở nhiều ngành, nhiều cấp, nhiều địa phương Đó chính là những rào cản lớn ảnh hướng xấu đến sự PTKT mà Đảng, Nhà nước và chính quyền các cấp đang tích cực quan tâm tìm hướng giải quyết, trong mục tiêu tổng quát kế hoạch 5 năm 2001 - 2005 của Đại hội Đảng IX cũng đM xác định: “Tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững; ổn đinh và cải thiện đời sống nhân dân… Tạo nhiều việc làm; cơ bản xoá đói, giảm số hộ nghèo; đẩy lùi các tệ nạn xI hội…” [6]

Trang 9

Nhận thức rõ điều đó, với một tỉnh miền núi, địa hình phức tạp có đông

đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống với kinh tế nông - lâm nghiệp là chủ yếu, Bắc Giang còn là một trong những tỉnh nghèo nhất cả nước Chính vì vậy,

Đảng bộ và chính quyền địa phương luôn luôn xác định nhiệm vụ trọng tâm trong phát triển kinh tế - xM hội của tỉnh là công tác XĐGN, giảm dần các xM

đặc biệt khó khăn (ĐBKK), trong đó Sơn Động là một trong những huyện điển hình nhất Để có được hệ thống kiến thức lý luận và thực tiễn làm cơ sở cho việc nghiêu cứu, phân tích, đánh giá thực trạng tình hình cũng như đưa ra được những giải pháp khả thi giúp đồng bào các dân tộc thiểu số tỉnh Bắc Giang nói chung, huyện Sơn Động nói riêng đẩy mạnh PTKT và sớm thoát ra khỏi tình trạng khó khăn, đói nghèo, việc triển khai nghiên cứu đề tài: “Phát triển kinh

tế gắn với với xoá đói giảm nghèo ở huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang” là vô cùng cấp thiết trong điều kiện hiện nay

1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

*Mục tiêu chung:

Nghiên cứu, phân tích, đánh giá được thực trạng, tình hình PTKT và XĐGN; đưa ra được các giải pháp chủ yếu, có căn cứ khoa học và phù hợp với

đặc điểm thực tiễn địa phương góp phần thúc đẩy PTKT gắn liền với đẩy nhanh XĐGN trên địa bàn huyện

*Mục tiêu cụ thể:

Hệ thống hoá được cơ sở lý luận và thực tiễn PTKT gắn với XĐGN làm cơ sở khoa học cho việc nghiên cứu, phân tích, đánh giá thực trạng, tình hình

và đưa ra các giải pháp PTKT địa phương gắn với XĐGN

Nghiên cứu, phân tích, đánh giá những kết quả, những tồn tại hạn chế trong thời gian qua và những vấn đề đặt ra cần được giải quyết trong quá trình PTKT và XĐGN ở địa phương thời gian tới

Xác định được định hướng PTKT và XĐGN, từ đó đề xuất các giải pháp phù hợp đẩy mạnh PTKT gắn với XĐGN ở địa phương thời gian tới

Trang 10

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

*Đối tượng nghiên cứu:

Đề tài tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn trong lĩnh vực PTKT, XĐGN và các mối quan hệ giữa PTKT với XĐGN

Đối tượng khảo sát là các ngành kinh tế trên địa bàn cùng các hộ gia

đình, nhất là các xM ĐBKK và các hộ nông dân nghèo

*Phạm vi nghiên cứu:

Phạm vi về nội dung: Tập trung điều tra, nghiên cứu các khía cạnh PTKT gắn với XĐGN trên địa bàn huyện, từ đó đề xuất các giải pháp hợp lý với thực trạng, tình hình của địa phương

Phạm vi về không gian: Đề tài tiến hành triển khai nghiên cứu trên phạm vi địa bàn huyện vùng cao Sơn Động tỉnh Bắc Giang mà đặc biệt là một

số xM ĐBKK

Phạm vi về thời gian: Các số liệu phục vụ phân tích, đánh giá thực trạng, tình hình chủ yếu trong giai đoạn 2001 - 2005 Đề ra giải pháp cho giai

đoạn 2006 - 2010

Trang 11

2 Cơ sở lý luận và thực tiễn PHáT TRIểN KINH Tế gắn với XOá Đói giảm nghèo

2.1 Những vấn đề chung về PHáT TRIểN KINH Tế

2.1.1 Khái niệm về phát triển kinh tế

Tăng trưởng và PTKT là mục tiêu đầu tiên của tất cả các nước trên thế giới, là thước đo chủ yếu về sự tiến bộ trong mỗi giai đoạn của các quốc gia

Điều này càng có ý nghĩa quan trọng đối với các nước đang phát triển trong quá trình theo đuổi mục tiêu tiến kịp và hội nhập với các nước phát triển

2.1.1.1 Tăng trưởng kinh tế

Tăng trưởng kinh tế được xem là một trong những vấn đề cốt lõi nhất của

lý luận kinh tế và ngày càng được hoàn thiện hơn Các nhà kinh tế đều thống nhất cho rằng, tăng trưởng kinh tế là sự tăng thêm hay gia tăng về thu nhập của nền kinh tế trong một khoảng thời gian nhất định (thường là 1 năm) [18]

Sự gia tăng ở đây được thể hiện ở quy mô và tốc độ Quy mô tăng trưởng phản ánh sự gia tăng nhiều hay ít, còn tốc độ tăng trưởng được sử dụng với ý nghĩa so sánh tương đối và phản ánh sự gia tăng nhanh chậm giữa các thời kỳ Thu nhập của nền kinh tế có thể biểu hiện dưới dạng hiện vật hoặc giá trị Thu nhập bằng giá trị phản ánh các chỉ tiêu GDP, GNP và được tính cho toàn thể nền kinh tế hoặc tính bình quân trên đầu người

Như vậy, bản chất của tăng trưởng là phản ánh sự thay đổi về lượng của nền kinh tế Ngày nay, yêu cầu tăng trưởng kinh tế được gắn liền với tính bền vững hay việc bảo đảm chất lượng tăng trưởng ngày càng cao Từ khía cạnh này, điều được nhấn mạnh nhiều hơn là sự gia tăng liên tục, có hiệu quả của chỉ tiêu quy mô và tốc độ tăng thu nhập bình quân đầu người Hơn thế nữa, quá trình ấy phải được tạo nên bởi nhân tố đóng vai trò quyết định là khoa học, công nghệ và vốn nhân lực trong điều kiện một cơ cầu kinh tế hợp lý [18]

Trang 12

2.1.1.2 Phát triển kinh tế

Hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về sự phát triển, song nhìn chung các ý kiến đều nhất trí cho rằng, phạm trù của phát triển là phạm trù vật chất, phạm trù tinh thần, phạm trù về hệ thống giá trị trong cuộc sống con người Mục tiêu chung của phát triển là nâng cao các quyền lợi về kinh tế, chính trị, văn hoá, xM hội và quyền tự do của mọi công dân [dẫn theo 19, tr.5]

Hiểu theo cách chung nhất, PTKT là một quá trình lớn lên hay tăng tiến

về mọi mặt của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định Trong đó bao gồm cả

sự gia tăng về thu nhập và sự tiến bộ về cơ cấu kinh tế - xM hội Như vậy, PTKT được xem như là quá trình biến đổi cả về lượng và về chất, nó là sự kết hợp một cách chặt chẽ quá trình hoàn thiện của hai vấn đề về kinh tế và xM hội

ở mỗi quốc gia [18]

Theo cách hiểu như vậy, phát triển phải là một quá trình lâu dài và do các nhân tố nội tại của nền kinh tế quyết định Nội dung của PTKT được khái quát theo ba tiêu thức:

- Một là, sự gia tăng tổng mức thu nhập của nền kinh tế và mức gia tăng thu nhập bình quân trên một đầu người Đây là tiêu thức thể hiện quá trình biến đổi về lượng của nền kinh tế, là điều kiện cần để nâng cao mức sống vật chất của một quốc gia và thực hiện những mục tiêu khác của phát triển [18]

- Hai là, sự biến đổi theo đúng xu thế của cơ cấu kinh tế Đây là tiêu thức phản ánh sự biến đổi về chất của nền kinh tế một quốc gia Để phân biệt các giai

đoạn PTKT hay so sánh tốc độ PTKT giữa các nước với nhau, người ta thường dựa vào dấu hiệu về dạng cơ cấu ngành kinh tế mà quốc gia đạt được [18]

- Ba là, sự biến đổi ngày càng tốt hơn trong vấn đề xM hội Mục tiêu cuối cùng của sự PTKT trong các quốc gia không phải là tăng trưởng hay chuyển dịch cơ cấu kinh tế, mà là việc xoá bỏ nghèo đói, suy dinh hưỡng, sự tăng lên của tuổi thọ bình quân, khả năng tiếp cận đến các dịch vụ y tế, nước sạch, trình

độ dân trí giáo dục của quảng đại quần chúng nhân dân v.v… Hoàn thiện các tiêu chí trên là sự thay đổi về chất xM hội của quá trình phát triển [18]

Trang 13

2.1.1.3 Phát triển kinh tế bền vững

Từ những thập niên 70, 80 của thế kỷ trước, khi tăng trưởng kinh tế của nhiều nước trên thế giới đM đạt được một tốc độ khá cao, người ta bắt đầu có những lo nghĩ đến ảnh hưởng tiêu cực của sự tăng trưởng nhanh đó đến tương lai con người và vấn đề phát triển bền vững được đặt ra

Theo thời gian, quan niệm về phát triển bền vững ngày càng được hoàn thiện Năm 1987, vấn đề về phát triển bền vững được Ngân hàng Thế giới (WB)

đề cập lần đầu tiên, theo đó phát triển bền vững là sự phát triển đáp ứng các nhu cầu hiện tại mà không làm nguy hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế

hệ tương lai Quan niệm đầu tiên về phát triển bền vững của WB chủ yếu nhấn mạnh khía cạnh sử dụng có hiện quả nguồn tài nguyên thiên nhiên và bảo đảm môi trường sống cho con người trong quá trình phát triển [18]

Ngày nay, quan niệm về phát triển bền vững được đề cập một cách đầy

đủ hơn, bên cạnh yếu tố môi trường tài nguyên thiên nhiên, yếu tố môi trường

xM hội được đặt ra với ý nghĩa quan trọng Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới về Phát triển bền vững tổ chức ở Johannesbug (Cộng hoà Nam Phi) năm 2002 đM xác định: Phát triển bền vững là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý, hài hoà giữa giữa 3 mặt của sự phát triển, gồm tăng trưởng kinh tế, cải thiện các vấn đề xM hội và bảo vệ môi trường [18]

Tiêu chí để đánh giá sự phát triển bền vững là sự tăng trưởng kinh tế ổn

định; thực hiện tốt tiến bộ và công bằng xM hội; khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ và nâng cao chất lượng môi trường sống

Đảng Cộng sản Việt Nam đM thể hiện rõ quan điểm về phát triển bền vững trong Chiến lược phát triển kinh tế - xM hội của đất nước đến năm 2010: Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững Tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện công bằng xM hội và bảo vệ môi trường, gắn sự PTKT với giữ vững ổn định chính trị - xM hội, bảo đảm an ninh quốc phòng [18]

Trang 14

2.1.1.4 Lựa chọn con đường phát triển theo quan điểm tăng trưởng

và phát triển kinh tế

Lịch sử PTKT cho thấy, mỗi quốc gia, tùy theo quan niệm khác nhau của các nhà lMnh đạo đM lựa chọn những con đường phát triển khác nhau Nhìn một cách tổng thể, có thể hệ thống sự lựa chọn ấy theo ba con đường: Nhấn mạnh tăng trưởng nhanh; coi trọng vấn đề bình đẳng, công bằng xM hội và phát triển toàn diện [18]

Các nước phát triển theo khuynh hướng tư bản chủ nghĩa trước đây thường lựa chọn con đường nhấn mạnh tăng trưởng nhanh Theo cách lựa chọn này, Chính phủ đM tập trung chủ yếu vào các chính sách đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế mà bỏ qua các nội dung xM hội Các vấn đề về bình đẳng, công bằng xM hội và nâng cao chất lượng cuộc sống dân cư chỉ được đặt ra khi tăng trưởng thu nhập đM đạt được một trình độ khá cao [18] Thực tế cho thấy, nhiều quốc gia thực hiện theo mô hình này đM làm cho nền kinh tế rất nhanh khỏi sắc, tốc độ tăng trưởng thu nhập bình quân năm rất cao Tuy vậy theo sự lựa chọn này, những hệ quả xấu đM xảy ra:

- Một mặt, cùng với quá trình tăng trưởng nhanh, sự bất bình đẳng về kinh tế, chính trị, xM hội ngày càng găy gắt, các nội dung về nâng cao chất lượng cuộc sống thường không được quan tâm, một số giá trị văn hoá, lịch sử truyền thống của dân tộc và đạo đức, thuần phong mỹ tục tốt đẹp của nhân dân

bị phá huỷ [18]

- Mặt khác, việc chạy theo mục tiêu tăng trưởng nhanh trước mắt đM nhanh chóng dẫn đến sự cạn kiệt nguồn tài nguyên quốc gia, huỷ hoại môi trường sinh thái, chất lượng tăng trưởng kinh tế không bảo đảm và vi phạm những yêu cầu phát triển bền vững Chính những hạn chế này đM tạo ra lực cản cho sự PTKT ở giai đoạn sau Sự PTKT của các nước Braxin, Mehico, các nước OPEC và kể cả Philippin, Malaysia, Indonesia đi theo sự lựa chọn này [18]

Trang 15

Mô hình nhấn mạnh vào bình đẳng và công bằng xM hội lại đưa ra yêu cầu giải quyết các vấn đề xM hội ngay từ đầu trong điều kiện thực trạng tăng trưởng thu nhập ở mức độ thấp Các nguồn lực phát triển, phân phối thu nhập cũng như chăm sóc sức khoẻ, giáo dục, văn hoá được quan tâm và thực hiện theo phương thức dàn đều, bình quân cho mọi ngành, mọi vùng và các tầng lớp dân cư trong xM hội Đây là mô hình khá nội bật của các nước đi theo mô hình Chủ nghĩa xM hội (CNXH) trước đây, trong đó có cả Việt Nam Theo mô hình này, các nước đM đạt được một mức độ khá tốt về các chỉ tiêu xM hội Tuy vậy, nền kinh tế thiếu các động lực cần thiết cho sự tăng trưởng nhanh, mức thu nhập bình quân đầu người thấp, nền kinh tế lâu khởi sắc và ngày càng trở nên tụt hậu so với mức chung của thế giới Các chỉ tiêu xM hội thường chỉ đạt cao về mặt số lượng mà có thể không bảo đảm về chất lượng [18]

Hiện nay, nền kinh tế mở cửa, hội nhập cho phép nhiều nước đang phát triển tận dụng lợi thế lịch sử để thực hiện một sự lựa chọn tối ưu hơn bằng con

đường phát triển toàn diện Theo mô hình này:

- Một mặt, Chính phủ của các nước đưa ra các chính sách thúc đẩy tăng trưởng nhanh, khuyến khích dân cư làm giàu, PTKT tư nhân và thực hiện phân phối thu nhập theo sự đóng góp nguồn lực [18]

- Mặt khác, cũng đồng thời đặt ra vấn đề bình đẳng, công bằng và nâng cao chất lượng cuộc sống dân cư Hàn Quốc, Đài Loan là những nước đM thực hiện theo sự lựa chọn này [18]

Trong quá trình cải tổ nền kinh tế, Đảng và Chính phủ Việt Nam đM thực hiện sự lựa chọn theo hướng phát triển toàn diện Đi đôi với thực hiện mục tiêu tăng trưởng nhanh, chúng ta đM đưa ra mục tiêu giải quyết vấn đề công bằng xM hội ngay từ đầu và trong toàn tiến trình phát triển

Việc hệ thống hoá các con đường phát triển mặc dù mang nội dung tương

đối, những nó là cần thiết để giúp các nước căn cứ vào điều kiện kinh tế, chính trị trong và ngoài nước ở từng giai đoạn cụ thể có hướng đi thích hợp cho mình

Trang 16

2.1.2 Một số lý thuyết về tăng trưởng và phát triển kinh tế

2.1.2.1 Lý thuyết tăng trưởng của trường phái cổ điểm mới

Theo các chuyên gia kinh tế, lý thuyết tăng trưởng kinh tế cổ điểm là các học thuyết và mô hình lý luận về tăng trưởng kinh tế do các nhà kinh tế học cổ điểm nêu

ra mà đại diện tiêu biểu là Adam Smith và David Ricardo [dẫn theo 19, tr.7]

Adam Smith (1723 - 1790) - nhà kinh tế học người Anh, người đầu tiên nghiên cứu lý luận tăng trưởng kinh tế một cách tương đối và hệ thống Trong tác phẩm “Bàn về của cải”, ông cho rằng tăng trưởng kinh tế là tăng đầu ra tính theo bình quân đầu người [dẫn theo 19, tr.7] Ông mô tả các nhân tố tăng trưởng kinh tế thông qua phương trình sản xuất ở dạng chung nhất như sau

về tiền lương, lợi nhuận, địa tô; lý thuyết về tín dụng và tiền tệ Ông là người

kế thừa Adam Smith [dẫn theo 19, tr.8]

Thời kỳ này nhiều nhà kinh tế và toán học đM đề xuất nhiều phương trình sản xuất theo dạng trên, nổi tiến là phương trình Cobb - Douglas có dạng như sau

Y = ì ì

Trang 17

Cobb và Douglas (Cobb - nhà toán học, Douglas - nhà kinh tế học, đều

là người Mỹ) đM dùng công thức của mình để nghiên cứu mối quan hệ giữa khối lượng sản phẩm với những biến đổi về chi phí lao động và tư bản thời kỳ những năm 1899 - 1922 [dẫn theo 19, tr.8]

2.1.2.2 Lý thuyết tăng trưởng kinh tế của Harrod - Domar

Các trường phái Keynes thay thế trường phái cổ điển mới đM bổ sung thêm nhiều vấn đề lý thuyết kinh tế quan trọng Mô hình đầu tiên và nổi tiếng hơn cả của họ là mô hình Harrod - Domar Lý thuyết này đM trình bày mối quan hệ tăng trưởng kinh tế và nhu cầu về tư bản Hai ông cho rằng, khi nghiên cứu nền kinh tế đang mở rộng cần xem xét mối tương quan giữa ba nhân tố cơ bản là sức lao động, quy mô tư bản và lượng sản phẩm được sản xuất ra Việc xác định khối lượng tư bản cần thiết để làm cho hai yếu tố kia phát huy tác dụng là điều quan trọng bậc nhất [dẫn theo 19, tr.8-9]

2.1.2.3 Lý thuyết cất cánh

Nhà kinh tế Mỹ Walter W.Rostow đM đưa ra lý thuyết cất cánh nhằm nhấn mạnh những giai đoạn của tăng trưởng kinh tế [dẫn theo 19, tr.9] Theo

ông quá trình tăng trưởng kinh tế đối với một nước phải trải qua 5 giai đoạn:

- Giai đoạn xI hội truyền thống: Đặc trưng của giai đoạn này là năng suất lao động thấp, nông nghiệp giữ vị trí thống trị

- Giai đoạn chuẩn bị cất cánh: Trong thời kỳ này đM xuất hiện các nhân

tố tăng trưởng và một số khu vực có tác động thúc đẩy nền kinh tế

- Giai đoạn cất cánh: Để đạt tới giai đoạn này phải có 3 điều kiện: tỷ lệ

đầu tư tăng lên từ 5% - 10%; phải xây dựng được những ngành công nghiệp có khả năng phát triển nhanh, có hiệu quả và đóng vai trò thúc đẩy; phải xây dựng được bộ máy chính trị - xM hội, tạo điều kiện phát huy năng lực của các khu vực hiện đại, tăng cường quan hệ kinh tế đối ngoại

- Giai đoạn trưởng thành: Giai đoạn này xuất hiện nhiều ngành công nghiệp mới, hiện đại Tiền dành cho đầu tư chiếm từ 10% - 20% trong GNP

- Giai đoạn tiêu dùng cao: Giai đoạn quốc gia thịnh vượng, xM hội hoá sản xuất cao [18], [dẫn theo 19, tr.9]

Trang 18

2.1.2.4 Lý thuyết về “Cái vòng luẩn quẩn” và “ Cú huých từ bên ngoài”

Lý thuyết này do nhiều nhà kinh tế học tư sản đưa ra, trong đó có Samuelson - nhà kinh tế Mỹ Theo lý thuyết này, để tăng trưởng kinh tế nói chung phải bảo đảm 4 nhân tố là nhân lực, tài nguyên thiên nhiên, cơ cấu tư bản

và kỹ thuật Nhìn chung, ở các nước đang phát triển, 4 nhân tố trên đây là khan hiếm Việc kếp hợp chúng đang gặp trở ngại lớn Để phát triển phải có “Cú huých từ bên ngoài” nhằm phá “Cái vòng luẩn quẩn” Điều này có nghĩa là, phải có đầu tư của nước ngoài vào các nước đang phát triển [dẫn theo 19, tr.9]

2.1.2.5 Mô hình kinh tế nhị nguyên

Nhà kinh tế học Jamaica, Athur Lewis đM đưa ra mô hình kinh tế nhị nguyên Tư tưởng cơ bản của mô hình này là chuyển lao động từ khu vực nông nghiệp sang khu vực công nghiệp Quá trình này sẽ tạo điều kiện cho nền kinh

tế phát triển Bởi vì, chuyển bớt lao động ra khỏi lĩnh vực nông nghiệp, chỉ để lại lực lượng lao động đủ để tạo ra sản lượng cố định sẽ góp phần nâng cao sản lượng theo đầu người Mặt khác, việc di chuyển này sẽ làm tăng lợi nhuận trong lĩnh vực công nghiệp, tạo điều kiện nâng cao sức tăng trưởng và PTKT nói chung [dẫn theo 19, tr.10]

2.1.3 Mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và phát triển xã hội 2.1.3.1 Đánh giá mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và phát triển x2 hội Bên cạnh khái niệm về PTKT, phát triển xM hội có thể được hiểu là quá trình biến đổi về lượng và chất của đời sống con người Quá trình biến

đổi xM hội chủ yếu cũng thể hiện ở hai mặt: Sự tăng trưởng về mức sống, chất lượng điều kiện sống của con người và sự tiến bộ về mối quan hệ giữa các bộ phận được cấu trúc trong xM hội như quan hệ giữa các dân tộc, các tầng lớp dân cư, các vùng dân cư, đẳng cấp giới tính, gia đình và cộng

đồng, giữa văn hoá truyền thống với hiện đại, giữa con người với môi trường sống Tất cả những điều đó đều hướng tới mục tiêu xM hội giàu đẹp, công bằng, văn minh [1, tr.18-19]

Trang 19

PTKT và phát triển xM hội có mối quan hệ biện chứng, gắn bó hữu cơ với nhau Kinh tế - xM hội trong nghiên cứu, trong nhận thực, trong phương hướng và giải pháp phát triển có thể tách ra làm hai quá trình, song thực ra PTKT và xM hội gắn bó, hoà quyện vào nhau, như hai mặt của một chỉnh thể thống nhất PTKT và xM hội có thể xem như là quá trình nâng cao kinh tế và công bằng, tiến bộ xM hội Sự thống nhất giữa PTKT và giải quyết các vấn đề

xM hội đều có chung một mục tiêu chủ yếu là phát triển nhân tố con người, đó

là sự thống nhất giữa vấn đề kinh tế và vấn đề xM hội PTKT là tạo ra tiền đề vật chất để giải quyết các vấn đề xM hội và ngược lại giải quyết tốt các vấn đề

xM hội là sử dụng tốt nhất những điều kiện vật chất và tinh thần phục vụ con người, tạo ra động lực mới để phát triển sản xuất Chỉ chăm lo PTKT không giải quyết được mọi vấn đề của sự phát triển, vì vật chất không thể tự nó dẫn

đến tiến bộ và công bằng xM hội [dẫn theo 1, tr.30]

Mối quan hệ giữa PTKT và giải quyết các vấn đề xM hội trong điều kiện mới: Đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện đại hoá (CNH-HĐH) và xây dựng quan hệ sản xuất theo định hướng XHCN góp phần giải quyết nhiều vấn đề nhưng cũng làm nẩy sinh những vấn đề xM hội mà không thể không giải quyết như lao động, việc làm, tình trạng phân hoá giàu nghèo, phân tầng xM hội, sự chênh lệch giữa các vùng, cồng đồng Vấn đề đặt ra là thực hiện những giải pháp gì để kết hợp thật tốt giữa PTKT và giải quyết các vấn đề xM hội, để đẩy nhanh tốc độ PTKT nhưng giảm thiểu các mặt tiêu cực xM hội, thực hiện được tiến bộ và công bằng xM hội [dẫn theo 1, tr.30]

Phát triển kinh tế và xM hội là một hệ thống các phương thức và phương tiện đồng bộ mang tính chất kinh tế - xM hội nhằm phát triển một nước, một vùng, một địa phương, với hiệu quả cao, thực hiện mục tiêu ″dân giàu, nước mạnh, xM hội công bằng, văn minh″ và thực hiện được tư tưởng của Bác Hồ là

″làm cho người nghèo thì đủ ăn Người đủ ăn thì khá giàu Người khá giàu thì giàu thêm″ [dẫn theo 1, tr.31]

Trang 20

Phải đảm bảo sự phát triển gắn bó chặt chẽ giữa kinh tế và xM hội, lấy việc phục vụ cho lợi ích của con người làm mục tiêu cao nhất Bất kỳ sự phát triển nào tách rời kinh tế và xM hội, không đáp ứng được mục tiêu phục vụ cho lợi ích của con người đều không đúng đắn Phát triển xM hội phải dựa trên cơ

sở của sự PTKT, phát triển xM hội với một trình độ, quy mô nào vấn đề đầu tiên phải dựa vào trình độ và quy mô PTKT Tuy nhiên, phát triển xM hội sẽ lại tác động trở lại đến sự PTKT Kinh tế phát triển, số hộ giàu và khá tăng lên cho phép giải quyết tốt hơn các vấn đề xM hội như giải quyết việc làm cho lao

động, tăng thu nhập, bảo vệ sức khoẻ, phát triển giáo dục, văn hoá, nâng cao phúc lợi xM hội do đó tạo điều kiện cho PTKT

PTKT và phát triển xM hội có nhiều vấn đề có quan hệ hỗ trợ nhau và không thể thay thế nhau Sự phát triển này vừa mang tính chất độc lập, vừa mang tính chất xen kẽ với nhau, song nằm trong cùng một hệ thống Sự phát triển này không cố định mà biến đổi tuỳ theo những biến đổi của điều kiện kinh

tế - xM hội trong từng thời kỳ PTKT và phát triển xM hội có mối quan hệ biện chứng lẫn nhau nó được thể hiện thông qua sự PTKT và quá trình phát triển tiến

bộ, công bằng xM hội PTKT ở một mức độ nào đó có thể thúc đẩy phát triển xM hội, vì PTKT còn phải qua quá trình phân phối mới đưa các phúc lợi đến với con người, quá trình phân phối này thể hiện tính tiến bộ xM hội, có nghĩa là mặt chất lượng của phát triển xM hội, theo WB: ″Phát triển là nâng cao phúc lợi xM hội của nhân dân Nâng cao tiêu chuẩn sống và cải thiện giáo dục, sức khoẻ và bình đẳng về cơ hội là tất cả những thành phần cơ bản của PTKT Tăng trưởng kinh tế là một cách cơ bản để có thể có được phát triển, nhưng trong bản thân

nó là một đại diện rất không toàn vẹn trong tiến bộ″ [dẫn theo 1, tr31-32]

Nhiều nước trên thế giới có nền kinh tế rất phát triển và tăng trưởng mạnh nhưng xM hội còn nhiều bất công như thất nghiệp, nghèo đói, tệ nạn xM hội môi trường xM hội và môi trường sinh thái bị phá huỷ PTKT và phát triển xM hội phải có mối quan hệ với nhau thể hiện sự phát triển hợp lý, PTKT

Trang 21

phải mang tính chất xM hội và phát triển xM hội cũng phải dựa trên PTKT Nếu không xác định được sự phát triển hợp lý, sẽ dẫn đến xây dựng một hệ thống không phù hợp với khả năng và trình độ của nền kinh tế làm cho hiệu quả xM hội không cao, gây ra trì trệ xM hội Nếu chỉ tập trung PTKT, coi trọng yếu tố tăng trưởng kinh tế mà không chú ý đến các vấn đề xM hội, không đầu tư phát triển xM hội sẽ làm cho các vấn đề xM hội không ổn định và nó sẽ tác động trở lại sự phát triển của kinh tế, nó sẽ hạn chế sự phát triển và tăng trưởng kinh tế

Đồng thời kìm hMm sự phát triển chung của kinh tế và phát triển của xM hội

Phát triển xM hội hợp lý sẽ tạo động lực PTKT Giải quyết tốt các vấn

đề xM hội, các chính sách xM hội là thực hiện giải phóng sức lao động, hướng con người làm chủ xM hội, xây dựng một xM hội phát triển hợp lý sẽ tạo động lực PTKT Vì vậy, PTKT và phát triển xM hội phải được kết hợp một cách hài hoà và phải cùng phát triển trong một thể thống nhất, đảm bảo sự phát triển hài hoà giữa lợi ích trước mắt và lâu dài duy trì sự tăng trưởng và ổn định kinh tế [dẫn theo 1, tr.32]

PTKT và phát triển xM hội cũng có những tác động tạo nên những mâu thuẫn PTKT, nâng cao hiệu quả kinh tế, sản xuất kinh doanh với các chi phí ít nhất về nguồn lực, vì vậy mà ảnh hưởng đến các vấn đề xM hội như việc làm, thất nghiệp, tệ nạn xM hội Sự PTKT cũng ảnh hưởng đến môi trường sinh thái, làm ảnh hưởng đến cuộc sống của con người, đòi hỏi phát triển kinh tế - xM hội phải có những chiến lược, những định hướng, những mục tiêu, những giải pháp tối ưu phù hợp, để điều chỉnh quá trình phát triển đó mới có thể phát triển hợp

lý và hiệu quả Chính vì vậy, Đại hội VII của Đảng Cộng sản Việt Nam đM quyết định chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xM hội giai đoạn 1991 -

2000 Cùng với quá trình đổi mới cơ chế kinh tế, Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ IX đM đánh giá việc thực hiện chiến lược đó và quyết định Chiến lược phát triển kinh tế - xM hội 10 năm đầu của thế kỷ 21 (2001-2010) - Chiến lược đẩy mạnh CNH-HĐH theo định hướng XHCN, xây dựng nền tảng để đến

Trang 22

năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp [6] Bản chiến lược này có

sự hoàn thiện hơn về mặt phương pháp luận, đáp ứng được những đòi hỏi của thời kỳ mới là xây dựng nền tảng của một nước công nghiệp hoá, đưa đất nước

ta khỏi danh sách các nước nghèo và từng bước cạnh tranh hội nhập thắng lợi,

có vị trí xứng đáng trong khu vực và cộng đồng quốc tế

2.1.3.2 Quan điểm chiến lược phát triển kinh tế - x2 hội Việt Nam thời kỳ 2001 - 2010

Xuất phát từ thực trạng, tình hình thực tế đất nước với bối cảnh quốc tế, chiến lược phát triển kinh tế - xM hội giai đoạn 2001 - 2010 nhằm đẩy mạnh CNH-HĐH, tạo lập nền tảng cho việc xây dựng Việt Nam cơ bản thành một nước công nghiệp vào năm 2020, đM đưa ra 5 quan điểm cơ bản:

- Một là, phát triển nhanh, hiệu quả, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xM hội và bảo vệ môi trường

- Hai là, coi PTKT là nhiệm vụ trung tâm, xây dựng đồng bộ nền tảng cho một nước công nghiệp là yêu cầu cấp thiết

- Ba là, đẩy mạnh công cuộc đổi mới, tạo động lực giải phóng và phát huy mọi nguồn lực

- Bốn là, gắn chặt việc xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ với chủ

động hội nhập quốc tế

- Năm là, kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế - xM hội với quốc phòng - an ninh [6], [18]

2.2 Những vấn đề cơ bản về đói, nghèo

Có nhiều quan niệm khác nhau về đói nghèo Quan niệm chung cho rằng, đói nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không có đủ những nhu cầu cơ bản tối thiểu của cuộc sống như ăn, mặc, ở, vệ sinh, y tế, giáo dục, đi lại, giao tiếp xM hội… Tình trạng đói nghèo ở mỗi quốc gia đều có sự khác nhau

về mức độ và số lượng; thay đổi theo không gian và thời gian Người nghèo của quốc gia này có thể có mức sống cao hơn mức sống trung bình của quốc

Trang 23

gia khác Bởi vậy, để nhìn nhận và tổ chức thực hiện XĐGN một cách có căn

cứ cần tham khảo kinh nghiệm XĐGN của thế giới và nắm vững thực tế ở Việt Nam để có hệ thống giải pháp thích hợp với điều kiện và hoàn cảnh ở Việt Nam trong từng giai đoạn lịch sử nhất định [2]

2.2.1 Khái niệm, chuẩn mực đánh giá đói nghèo của thế giới

2.2.1.1 Khái niệm về đói nghèo của thế giới

Thế giới thường dùng khái niệm “nghèo khổ” và nhận định nghèo khổ theo 4 khía cạnh về thời gian, không gian, giới và môi trường [2]

- Về thời gian: Phần lớn người nghèo khổ là những người có mức sống dưới mức “chuẩn” trong một thời gian dài để phân biệt với số người nghèo khổ “tình thế”, chẳng hạn như những người thất nghiệp, những người mới nghèo do suy thoái kinh tế hoặc do thiên tai, địch hoạ, tệ nạn xM hội, rủi ro…

- Về không gian: Nghèo đói diễn ra chủ yếu ở nông thôn, nơi có đông dân số sinh sống, Tuy nhiên, tình trạng đói nghèo ở thành thị, trước hết là ở các nước đang phát triển cũng có xu hướng gia tăng

- Về giới: Người nghèo là phụ nữ đông hơn nam giới Những hộ gia

đình nghèo nhất là những hộ do phụ nữ là chủ hộ Trong các hộ nghèo đói do

đàn ông làm chủ hộ thì phụ nữ khổ hơn nam giới

- Về môi trường: Phần lớn người nghèo đều sống ở những vùng sinh thái khắc nghiệt mà ở đó tình trạng đói nghèo và sự xuống cấp về môi trường đều

đang ngày càng trầm trọng thêm

Từ đó, Liên hợp quốc đưa ra hai khái niệm chính về đói nghèo như sau

- Nghèo tuyệt đối: là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng những nhu cầu cơ bản tối thiểu Nhu cầu cơ bản tối thiểu cho cuộc sống là những bảo đảm ở mức tối thiểu về ăn, mặc, ở, giao tiếp xM hội, vệ sinh, y tế và giáo dục Ngoài những nhu cầu cơ bản nêu trên, cũng có ý kiến cho rằng, nhu cầu tối thiểu bao gồm có quyền được tham gia vào các quyết định của cộng đồng [2]

Tuỳ mức độ bảo đảm nhu cầu tối thiểu mà sự nghèo khổ của dân cư

được chia thành nghèo hoặc rất nghèo, hoặc nghèo bậc I, nghèo bậc II [2]

Trang 24

- Nghèo tương đối: là tình trạng một bộ phận dân cư có mức sống dưới mức sống trung bình của cộng động ở một thời kỳ nhất định Nghèo tương đối phát triển theo không gian và thời gian nhất định, tùy thuộc vào mức sống chung của xM hội Như vậy, nghèo tương đối gắn liền với sự chênh lệch về mức sống của một bộ phận dân cư so với mức sống trung bình của địa phương

ở một thời kỳ nhất định [2]

Từ những đánh giá trên, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng việc xoá dần nghèo tuyệt đối là công việc có thể làm, còn nghèo tương đối là hiện tượng thường có trong xM hội và vấn đề cần quan tâm là rút ngắn khoảng cách chênh lệch giàu nghèo, và hạn chế sự phân hoá giàu nghèo

2.2.1.2 Chuẩn mực đói nghèo của thế giới

Có 2 cách:

Cách thứ nhất: Nói chung quan niệm của nhiều nước cho rằng, hộ nghèo có mức thu nhập dưới 1/3 mức thu nhập trung bình của toàn xM hội Với quan niệm này, hiện nay trên thế giới có khoảng 1,12 tỷ người (20%)

đang sống trong tình trạng nghèo khổ, tức là sống dưới mức 420 USD/năm hoặc 35 USD/tháng mà WB đM ấn định ở từng nước khác nhau, có quy định khác nhau [2]

- Các nước phát triển: Lấy nước Mỹ làm đại diện cho các nước phát triển Năm 1992 Mỹ lấy chuẩn một người trong hộ có thu nhập bình quân tháng dưới 71 USD là nghèo khổ (285 USD/năm) [2]

- Các nước đang phát triển: Mỗi nước có một chuẩn mực khác nhau: Pakitsan từng lấy 6 USD/một tháng/một người, Indonexia 6 USD/một tháng/một người, Philipin 7 USD/một tháng/một người [2]

Cách thứ hai: Cũng có nước dùng chỉ tiêu Kalory/một người/một ngày như quy định bình quân một người trong gia đình ở Bănglađét dưới 1650 Kalory/một người/một ngày là hộ nghèo [2]

Trang 25

2.2.2 Khái niệm, chuẩn mực đánh giá hộ nghèo ở Việt Nam

ở Việt Nam đM có nhiều ý kiến khác nhau xung quanh khái niệm, chỉ tiêu và chuẩn mục đánh giá đói nghèo Song các ý kiến sau đây đáng lưu ý nhất

2.2.2.1 Khái niệm

Tách riêng đói và nghèo thành 2 khái niệm riêng:

a Nghèo: Là tình trạng một bộ phận dân cư chỉ có điều kiện thoả mMn một phần các nhu cầu tối thiểu cơ bản của cuộc sống và có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng xét trên mọi phương diện [2] Trong khái niệm nghèo, lại chia ra:

- Nghèo tuyệt đối: Là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng thoả mMn các nhu cầu tối thiểu nhằm duy trì cuộc sống Nhu cầu tối thiều là những bảo đảm ở mức tối thiểu, những nhu cầu thiết yếu về ăn, mặc, ở và nhu cầu sinh hoạt hàng ngày gồm văn hoá, y tế, giáo dục, đi lại, giao tiếp [2]

- Nghèo tương đối: là tình trạng một bộ phận dân cư có mức sống dưới mức sống trung bình của cộng đồng tại địa phương đang xét [2]

b Đói: Là tình trạng một bộ phận dân cư nghèo có mức sống dưới mức tối thiểu và thu nhập không đủ bảo đảm nhu cầu về vật chất để duy trì cuộc sống Đó là những hộ dân cư hàng năm thiếu đứt bữa từ 1 đến 2 tháng, thường vay nợ của cộng đồng và thiếu khả năng chi trả [2]

2.2.2.2 Chuẩn mực xác định hộ đói nghèo của Việt Nam

- Hộ nghèo: Trước đây ở nước ta để đo tình trạng nghèo đói, có nhiều cách tính hộ nghèo Một số địa phương lấy tiêu chuẩn thu nhập bình quân một khẩu trong 1 năm Một số nhà kinh tế lấy tiêu thức lương thực bình quân nhân khẩu Gia đình nào có mức thu nhập bình quân dưới 30 kg gạo/một khẩu/một tháng được coi là nghèo Theo Tổng cục Thống kê, để xác định hộ nông dân nghèo căn cứ vào thu nhập tính bình quân đầu người, nếu đạt dưới 13 kg gạo/tháng (156 kg gạo/người/năm) sẽ là hộ nghèo Có ý kiến đề nghị lấy mức tối thiểu do Nhà nước quy định làm chuẩn Người có mức sống dưới mức

Trang 26

nghèo khổ là người có thu nhập bình quân một tháng thấp hơn mức tối thiểu Nhà nước quy định (hiện nay mức lương tối thiểu của Việt Nam là 350.000

đồng/tháng) Các chuẩn mực trên có thể đúng trên tổng thể song không thể áp dụng cho từng đối tượng, từng vùng cụ thể được Nếu lấy mức bình quân làm tiêu chuẩn xác định hộ nghèo ở thành phố Hồ Chí Minh thì có thể lại là hộ giàu ở các vùng nông thôn miền núi ở Việt Nam Vì vậy, để chọn và phân tích

hộ đói nghèo ở Việt Nam có thể phải xem xét các đặc trưng cơ bản của nó như thiếu ăn từ 3 tháng trở lên trong năm, nợ sản lượng khoán, nợ thuế triều miên, vay nặng lMi, con em không có điều kiện đến trường (mù chữ hoặc bỏ học), thậm chí phải cho con hoặc tự bản thân đi làm thuê cuốc mướn để kiếm sống qua ngày hoặc đi ăn xin… Nếu đưa chuẩn mực này ra để xác định thì rất dễ biết hộ đói nghèo ở nông thôn [2]

Năm 2005, Chính phủ đM có văn bản quy định chuẩn đói nghèo mới tại quyết định số: 170/2005/QĐ-TTg ngày 08/7/2005 của Thủ tướng Chính phủ

về việc ban hành chuẩn nghèo áo dụng cho giai đoạn 2006-2010 như sau

+ Khu vực nông thôn: Những hộ có thu nhập bình quân từ 200.000

đồng/người/tháng (2400.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo [25]

+ Khu vực thành thị: Những hộ có thu nhập bình quân từ 260.000

đồng/người/tháng (3.120.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo [25]

- Hộ đói: Theo Bộ Lao động Thương bình và XM hội trong giai đoạn hiện nay nếu thu nhập bình quân trong hộ đạt dưới (hoặc bằng) 13 kg gạo/người/tháng là đói Song, trên thực tế những hộ đó là hộ thiếu lương thực trong gia đình phải đứt bữa hoặc ăn bữa cơm bữa cháo, ăn độn khoai sắn… Như vậy, người đói là người không còn dự trữ lương thực trong nhà, song cũng không có tiền để mua lương thực trong ngày Mặc dù trên thị trường không thiếu lương thực [2]

Qua phân tích ở trên thấy rõ ràng rằng ở nông thôn Việt Nam, khái niệm đói nghèo phải phân làm 2 mức độ khác nhau, đó là nghèo và đói theo từng đơn vị hành chính cụ thể

Trang 27

2.2.3 Khái niệm, chuẩn mực đánh giá vùng nghèo

2.2.3.1 Khái niệm

Trên thế giới và ở nước ta tuy nói nhiều đến vùng nghèo nhưng đến nay chưa có một khái niệm chuẩn về vùng nghèo để giúp cho việc định ra các giải pháp có hiệu quả Do vậy, ở đây xin đưa ra một khái niệm được đúc rút từ kết qua nghiên cứu thực tiễn và tham khảo ý kiến của các chuyên gia khoa học trong và nước ngoài

Vùng nghèo là một vùng liên tục gồm nhiều làng, xM, huyện hoặc chỉ một làng, một xM, một huyện mà tại đó chứa đựng nhiều yếu tố khó khăn, bất lợi cho sự phát triển của cộng đồng, như đất đai khô cằn, thời tiết khí hậu khắc nghiệt, địa hình phức tạp, giao thông khó khăn, trình độ dân trí thấp, sản xuất

tự cung tự cấp và có mức sống dân cư trong vùng rất thấp so với mức sống chung của cả nước xét trong cùng một thời điểm [2]

- Mức trung bình điện năng, tiền vốn trên một lao động

- Tỷ lệ mù chữ cao hơn 1,5 lần mức trung bình của cả nước

- Tỷ lệ y, bác sĩ, giường bệnh trên 1000 dân thấp hơn 1/3 mức trung bình của cả nước [2]

Trang 28

2.2.4 Những nguyên nhân chính dẫn đến đói nghèo

2.2.4.1 Đối với vùng nghèo: Do nhiều nguyên nhân Đó là các nguyên nhân tổng hoà của các yếu tố thiên tai và nhân tạo

- Các yếu tố thiên tai gồm đất đai xấu, khô cằn, thường xuyên thiếu nước ngọt, địa hình thấp hoặc quá chũng, độ phì rất thấp, khí hậu thời tiết khắc nghiệt: mưa, bMo xảy ra thường xuyên, lũ lụt nhiều, nắng nóng, sương muối, băng giá… Các yếu tố trên diễn biến phức tạp, bất lợi cho sản xuất

- Các yếu tố nhân tạo (con người): Trình độ dân trí thấp, tập quán canh tác lạc hậu, hủ tục nặng nề, cơ sở hạ tầng thấp kém, thiếu cán bộ kỹ thuật và quản lý có năng lực, an ninh yếu kém… Trong nền kinh tế thị trường, vùng nghèo còn là vùng sản xuất tự cung tự cấp là phổ biến, kinh tế hàng hoá kém phát triển

Vùng nghèo cũng có thể được phân loại theo các cách:

+ Vùng có vị trí địa lý tự nhiên không thuận lợi

+ Vùng bị hậu quả chiến tranh nặng nề

+ Vùng có tập quán canh tác lạc hậu, hủ tục lạc hậu và tệ nạn xM hội phát triển

+ Vùng đất chật người đông (mật độ dân cư cao), ngành nghề không có

điều kiện phát triển, thu nhập và đời sống của nhân dân chủ yếu dựa vào nông nghiệp độc canh cây lúa

+ Vùng bị rằng buộc bởi những yếu tố và nguyên nhân chủ quan của cơ chế chính sách kinh tế - xM hội đang tồn tại trên địa bàn

khách quan và chủ quan sau đây

- Nguyên nhân khách quan:

+ Điều kiện tự nhiên: đất đai ít, cằn cỗi, xa xôi hẻo lánh

+ Sự quan tâm và các chính sách của chính quyền trung ương và địa phương không đầy đủ và không thích hợp

Trang 29

+ Khó khăn nhiều về thị trường cung cấp và tiêu thụ sản phẩm

+ Tập quán canh tác lạc hậu

+ Thiên tai nặng hoặc thường xuyên xảy ra các thiên tai

+ Hậu quả của chiến tranh: người tàn tật, người thuộc diện chính sách tập trung quá đông ở một vùng

- Nguyên nhân chủ quan:

+ Không có kinh nghiệm sản xuất kinh doanh

+ Không có hoặc thiếu vốn để sản xuất kinh doanh

+ Gia đình đông con, neo đơn, sinh đẻ không kế hoạch, ít lao động + Gặp rủi ro, đau ốm nặng

+ Ăn tiêu hoang phí, lười lao động, nghiện hút, cờ bạc

+ Gia đình không hoà thuận, chia lìa

2.3 Mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và xoá đói giảm nghèo

2.3.1 Mối quan hệ biện chứng giữa phát triển kinh tế và xoá đói giảm nghèo

Nghèo đói không chỉ thuần tuý là một vấn đề xM hội mà nó còn là vấn

đề kinh tế, vì vấn đề cơ bản nhất để XĐGN bền vững là vấn đề tạo môi trường cho vùng nghèo, hộ nghèo PTKT, đó là phương pháp tiếp cận theo hướng tự cứu, chủ động tấn công nghèo đói Nghiên cứu mối quan hệ giữa PTKT và XĐGN giúp chúng ta có cơ sở để tìm ra giới hạn giữa chúng PTKT

và XĐGN đều có mục tiêu chung là phát triển kinh tế - xM hội của mỗi quốc gia Làm rõ mối quan hệ giữa hai phạm trù này thực chất là làm rõ mục tiêu

xM hội trong PTKT, làm rõ điều kiện kinh tế ảnh hưởng đến việc thực hiện XĐGN Việc phân tích, đánh giá đúng những tác động tích cực, tiêu cực cũng như những điểm thống nhất, điểm mâu thuẫn giữa PTKT và XĐGN giúp chúng ta đề ra được các biện pháp kiểm soát, khống chế hoặc thúc đẩy một cách có hiệu quả

Trang 30

2.3.1.1 Điểm thống nhất

PTKT và XĐGN là hai phạm trù riêng rẽ nhưng không tách rời nhau, có mối quan hệ tương hỗ và thống nhất Sự đồng bộ giữa PTKT và XĐGN là điều kiện cần và đủ để bình ổn và phát triển của mỗi quốc gia Trình độ PTKT là điều kiện vật chất để thực hiện XĐGN và ngược lại, sự thành công trong việc thực hiện XĐGN lại tạo ra những động lực mạnh mẽ để thực hiện các mục tiêu kinh

tế, nhằm làm cho dân giàu, nước mạnh, xM hội công bằng, dân chủ, văn minh

Sự hài hòa, đồng thuận giữa PTKT và XĐGN bảo đảm PTKT nhanh, mạnh, bền vững nhưng không làm ảnh hưởng đến thực hiện công bằng xM hội, không dẫn đến sự gia tăng khoảng cách giàu nghèo giữa các tầng lớp dân cư, không làm mất ổn định xM hội, không gây xáo trộn và hủy hoại môi trường sinh thái

Bản thân vấn đề tăng trưởng và PTKT không thể giải quyết được tận gốc vấn đề nghèo đói, song nó lại tác động mạnh mẽ đến nâng cao mức sống dân cư và giảm tỷ lệ nghèo đói Tăng trưởng và PTKT chính là điều kiện tốt để tăng nguồn lực cho XĐGN Một nghiên cứu về các nhân tố tác động đến XĐGN ở Việt Nam đM áp dụng mô hình ước lượng cho rằng "kinh tế tăng lên

PTKT sẽ là tiền đề quan trọng cho XĐGN Sự trợ giúp của Nhà nước và xM hội cho vùng nghèo, hộ nghèo chỉ mang tính chất kích thích, không thể thay thế nhân tố chủ quan quyết tâm và năng lực của chính hộ nghèo, xM nghèo

Từ những nghiên cứu như vậy, có thể khẳng định PTKT và XĐGN là một thể thống nhất biện chứng, nương tựa vào nhau, ràng buộc lẫn nhau Sự kết hợp tối ưu giữa PTKT và XĐGN có tác động thúc đẩy nhanh sự PTKT và tiến bộ xM hội Nguyên tắc chung cho sự kết hợp đó là PTKT phải tạo được

động lực trong xM hội, bảo đảm cho xM hội ổn định; đến lượt nó, XĐGN phải thúc đẩy nền kinh tế phát triển vừa phải phù hợp với điều kiện kinh tế cho phép, vừa đặt ra những thách thức mới, hướng tới sự phát triển bền vững

Trang 31

2.3.1.2 Điểm mâu thuẫn

Đói nghèo là một trong những vấn nạn mang tính toàn cầu mà hiện nhân loại đang phải đối mặt Hơn nữa, đói nghèo ở một bộ phận dân cư là cơ

sở tiềm ẩn những hiểm họa to lớn, nhiều mặt, không chỉ đối với người đói nghèo, nhóm cư dân đói nghèo, mà còn đối với cộng đồng nhân loại nói chung Vì lẽ đó, nhiều tổ chức quốc tế mà trước hết là Liên hợp quốc đM đưa ra những cảnh báo về tình trạng đói nghèo cũng như các nguy cơ mà nó đưa lại Kinh nghiệm từ nhiều nước cho thấy, sự PTKT cũng đồng thời kéo theo một loạt các vấn đề về xM hội, như nạn thất nghiệp, sự phân hóa giàu nghèo, mất cân bằng sinh thái, các chứng bệnh nan y và cả sự thay đổi về các giá trị đạo

đức, giá trị tinh thần Theo quan điểm hiện đại, mục tiêu phát triển bền vững không chỉ dựa trên những thành quả của PTKT mà còn bao hàm cả các chỉ tiêu về phát triển giáo dục, y tế, XĐGN, các chỉ tiêu về phát triển con người, phát triển khoa học, công nghệ và chỉ tiêu về bảo vệ môi trường Chính vì vậy bên cạnh việc PTKT, XĐGN cũng đóng vai trò như một bộ phận của cán cân điều tiết, đem lại đời sống tốt đẹp, sự công bằng, dân chủ cho mỗi thành viên trong xM hội

Tăng trưởng kinh tế không thể giải quyết được tất cả các vấn đề xM hội vì sự tác động của các quy luật kinh tế đM làm cho PTKT không chứa đựng

được hết các vấn đề xM hội vốn rất phức tạp Vì vậy, cần có các chính sách, chương trình, dự án XĐGN riêng để giải quyết các vấn đề xM hội cụ thể, nổi lên trong từng thời điểm nhất định, do những tác động từ mặt trái của kinh tế thị trường

Qua nghiên cứu đói nghèo cũng cho thấy, nó luôn đi cùng một hiện tượng xM hội khác, đó là sự phân tầng xM hội Sự phân tầng xM hội là một trong những lý do trực tiếp dẫn đến các bất ổn xM hội Điều này có nghĩa, một khi giảm thiểu được sự chênh lệch về mức độ hưởng thụ, về cơ hội thể hiện nhu cầu

và cơ hội phát triển thì bất ổn xM hội cũng sẽ giảm thiểu Do đó, XĐGN phải

Trang 32

được thực hiện đồng thời hoặc lồng ghép với PTKT để tạo sức mạnh tổng hợp cho sự phát triển, đảm bảo công bằng và ổn định trật tự an toàn xM hội Việc tập trung quá lớn nguồn lực cho PTKT ở những vùng, miền, địa phương trọng điểm nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh mà thiếu chú trọng tới các vùng nghèo, vùng khó khăn sẽ có thể dẫn tới sự phát triển mất cân đối và phân hoá giàu nghèo giữa các vùng lMnh thổ gây bất ổn xM hội, ảnh hưởng xấu tới môi trường sinh thái, tới cuộc sống của con người và mục tiêu phát triển bền vững Ngược lại, nếu dồn quá nhiều công sức thực hiện mục tiêu XĐGN cho các vùng nghèo, vùng ĐBKK nhằm góp phần cải thiện điều kiện sinh hoạt và sản xuất, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người dân đảm bảo công bằng xM hội

mà thiếu sự quan tâm đầu tư hợp lý cho PTKT có thể dẫn tới kìm hMm sự PTKT

và có tác động xấu trở lại làm giảm hiệu quả thực hiện công tác XĐGN

Diễn biến tình hình trong nước và trên thế giới những năm qua cho thấy, một khi kinh tế có sự phát triển nhưng sự phát triển đó không đưa lại lợi ích công bằng cho các cư dân, các nhóm xM hội, hay nói cách khác phân hóa giàu nghèo, phân tầng xM hội không được hạn chế cũng là nguy cơ tạo nên xung đột, bất ổn xM hội

Tuy nhiên, giải quyết tình trạng đói nghèo tồn tại ở một bộ phân dân cư không phải là công việc dễ dàng và nhanh chóng Nó đòi hỏi phải thực thi nhiều giải pháp rất đồng bộ, đòi hỏi sự nỗ lực không chỉ từ phía Nhà nước mà còn từ phía người dân Do vậy, khi thực hiện công tác XĐGN phải làm sao cho những tác động của Nhà nước thông qua các chủ trương, định hướng, chính sách PTKT phải tạo ra động lực nhằm thúc đẩy khả năng tự vận động, tự giải quyết của người dân Có như vậy, kết quả thực hiện công tác XĐGN mới vững chắc

và nguồn lực quốc gia dành cho XĐGN mới được sử dụng có hiệu quả

*Tóm lại: PTKT cần phải được thực hiện đồng thời hoặc lồng ghép với XĐGN Nếu XĐGN đi sau PTKT thì sẽ bị mục tiêu kinh tế lấn át, tính bền vững trong phát triển bị phá vỡ; nhưng nếu XĐGN đi trước PTKT sẽ dễ rơi

Trang 33

vào chủ quan, duy ý chí Giải pháp có thể hay nhưng không khả thi, thiếu điều kiện thực hiện, cuối cùng trở thành hứa suông, làm mất lòng tin của quần chúng Cách lựa chọn đúng đắn là kết hợp ngay từ đầu giữa tăng trưởng kinh

tế với tiến bộ và công bằng xM hội Điều đó khẳng định rằng, khi xác định mục tiêu, định hướng chiến lược cho một thời kỳ dài hay xây dựng thể chế luật pháp đều cần kết hợp đúng đắn giữa PTKT với XĐGN Có thể khái quát hoá vòng luẩn quẩn của đói nghèo và mối quan hệ của nó với tăng trưởng kinh tế

và phát triển xM hội qua sơ đồ sau

2.3.2 Yêu cầu phát triển và xóa đói giảm nghèo

Bước sang thế kỷ 21, trong những thập kỷ đầu, trên thế giới với sự phát triển nhảy vọt của khoa học, công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin và sinh học, sự hình thành nền kinh tế tri thức và trong xu thế hội nhập khu vực

và toàn cầu hoá Các nước phát triển càng có lợi thế trong quá trình hội nhập

và toàn cầu hoá làm cho khoảng cách giữa các nước phát triển và đang phát triển ngày càng xa hơn

- Nguy cơ mất ổn định xM hội và phát triển bền vững [8]

Trang 34

XĐGN mang tính toàn cầu, đặc biệt đối với các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam càng trở thành vấn đề bức xúc, thánh thức gay gắt Do vậy, XĐGN được coi là một sự nghiệp cách mạng xM hội mang tính nhân văn sâu sắc, là một chiến lược lâu dài, một quyết sách và một chương trình hành

động quan trọng Do vậy, đối với quốc gia cần phải có một chiến lược toàn diện để giải quyết vấn đề nghèo đói, chiến lược đó cần thoả mMn yêu cầu:

- Kết hợp hài hoà giữa XĐGN với tăng trưởng kinh tế, kinh tế tăng trưởng là tiền đề cho XĐGN, song sự tăng trưởng ấy phải hướng lợi ích đến người nghèo, vùng nghèo nhiều hơn, đó là sự tăng trưởng trên diện rộng; ngược lại XĐGN sẽ tạo nên sự ổn định và thúc đẩy kinh tế tăng trưởng, thông qua việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực một cách toàn diện, sự đoàn kết của khối đại đoàn kết toàn dân Trong quá trình phát triển và nâng cao chất lượng cuộc sống cho toàn dân, chúng ta phải mở rộng nội dung XĐGN: Không chỉ quan tâm đến nhu cầu ăn, ở, mặc của người nghèo mà phải phấn

đấu tương đối toàn diện hơn, bảo đảm đáp ứng một cách tốt nhất các nhu cầu cơ bản về y tế, giáo dục - dạy nghề, văn hoá thông tin, đi lại, giao tiếp Đồng thời cũng phải quan tâm hơn đến vị thế xM hội của người nghèo, vốn xM hội của người nghèo, tiếng nói của người nghèo trong việc hoạch định chính sách, chương trình phát triển kinh tế - xM hội, sự tham gia và quyết định đến những vấn đề có liên quan đến người nghèo và cộng đồng dân cư nghèo [8]

- XĐGN phải bảo đảm tính bền vững, chống tái nghèo kể cả khi có rủi

ro ở cấp hộ gia đình như khi gia đình có người ốm đau, bệnh tật, cưới xin, ma chay; rủi ro ở cấp cộng đồng như khi xẩy ra thiên tai, bMo lụt hạn hán, mất mùa biến động giá cả (rớt giá) trên phạm vi rộng Yêu cầu đó đặt ra nhiệm vụ bảo đảm an ninh lương thực tại chỗ là rất quan trọng kể cả vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa [8]

- Từng bước tiếp cận và vận dụng hợp lý phương pháp tiếp cận giải quyết vấn đề nghèo đói cũng như chuẩn quốc tế về XĐGN Thông qua đó tìm

Trang 35

kiếm sự ủng hộ, giúp đỡ, trợ giúp kỹ thuật và tài chính của các tổ chức quốc

tế, cả đa phương, song phương và các tổ chức phi Chính phủ, từng bước thực hiện lộ trình hoà nhập khu vực và toàn cầu hoá [8]

- Tập trung mọi nguồn lực vào các mục tiêu ưu tiên, làm chuyển biến rõ rệt tình trạng nghèo đói ở các vùng trọng điểm, các xM ĐBKK, xM nghèo và cải thiện đời sống dân cư, coi đó là nhiệm vụ hàng đầu của Chính phủ, của các địa phương, của các tổ chức chính trị - xM hội, tổ chức đoàn thể và mọi người dân Tuy nhiên, phải cân nhắc một cách thận trọng giữa hiệu quả kinh tế và hiệu quả xM hội trong đầu tư Không phải đầu tư bất cứ giá nào, mà phải kết hợp hài hoà mục tiêu kinh tế - xM hội - an ninh quốc phòng [8]

2.3.3 Đặc điểm phát triển kinh tế gắn với xoá đói giảm nghèo trong

điều kiện vùng Núi và Trung du Bắc Bộ nước ta

Vùng núi và Trung du Bắc Bộ bao gồm các tỉnh ở vùng Đông Bắc và Tây Bắc Vùng có đặc điểm:

- Địa hình núi đá hiển trở Hầu hết vùng Núi và Trung du Bắc Bộ là đồi

và núi thấp từ 500 đến 1000m so với mặt nước biển

- Hạ tầng thấp kém Theo số liệu điều tra giao thông năm 1994 trong chiều dài rải nhựa ở vùng Núi và Trung du Bắc Bộ là 3.271 km, mật độ đường

- Mật độ dân cư thưa thớt Mật độ dân cư vùng Núi và Trung du Bắc Bộ

- Có đông người dân tốc thiểu số sinh sống Theo số liệu điều tra mức sống dân cư năm 1998, có tới 47% số chủ hộ ở nông thôn vùng Núi và Trung

du Bắc Bộ là người dân tộc thiểu số trong khi đó bình quân chung của cả nước chỉ có 12%

- Mức độ đô thị hoá thấp Theo ước tính của Tổng cục Thống kê năm

2000, chỉ có 16% dân số vùng Núi và Trung du Bắc Bộ sống ở khu vực thành thị so với bình quân chung của cả nước là 23%

Trang 36

- Tầm quan trọng của nông nghiệp Nông - lâm và ngư nghiệp chiếm khoảng 42% tổng sản phẩm quốc nội của vùng Núi và Trung du Bắc Bộ trong khi bình quân chung của cả nước là 24%

- Tỷ lệ nghèo cao Theo số liệu điều tra mức sống hộ gia đình năm 1999 của Tổng cục Thống kê thì tỷ lệ nghèo của vùng Đông Bắc và Tây Bắc là 41%, cao hơn bất kỳ vùng nào khác, mặc dù chỉ cao hơn vùng Bắc Trung Bộ

và Tây Nguyên chút ít Tương tự, số liệu điều tra mức sống dân cư Việt Nam

1998 cũng ước tính tỷ lệ nghèo ở vùng Núi và Trung du Bắc Bộ là 59%, cao nhất cả nước [16]

Tuy nhiên, ngoài những đặc điển chung này vẫn còn mức độ đa dạng

đáng kể tồn tại trong vùng Ví dụ, giữa các tỉnh mật độ dân số dao động từ 36

1,4 triệu đồng đến 3,7 triệu đồng và tỷ lệ nông nghiệp trong GDP dao động từ dưới 10% đến 60% Một điểm quan trọng khác nữa là mặc dù hầu như cả vùng còn nghèo, nông thôn và địa lý cách biệt nhưng điều này không có nghĩa là kinh tế nông thôn trì trệ hay vùng bị tụt hậu Thực tế là vùng Núi và Trung du Bắc Bộ đang chuyển dịch (tăng trưởng kinh tế, đô thị hoá, thương mại hoá, giảm nghèo ) giống như bất cứ nơi nào trong cả nước và trong nhiều trường hợp với cùng một tốc độ [16]

Trong vùng Núi và Trung du Bắc Bộ, địa hình cao nhất và hiểu trở nhất

là Lai Châu, Lào Cai và Sơn La trong khi những tỉnh gần kề đồng bằng sông Hồng có những diện tích đất thấp đáng kể Hạ tầng cơ sở tốt hơn và mật độ dân cư đông hơn ở những tỉnh gần châu thổ sông Hồng như Thái Nguyên, Bắc Giang và Phú Thọ Mặc dù người dân tộc thiểu số chiếm ưu thế ở hầu hết vùng Núi và Trung du Bắc Bộ song người Kinh là nhóm dân tộc chủ yếu ở phần lớn tỉnh Thái Nguyên, Bắc Giang, Phú Thọ và Quảng Ninh Mật độ đô thị hoá biến động từ 7% ở Bắc Giang đến 44% ở Quảng Ninh Tương tự, tỷ lệ nghèo biến động mạnh, cao nhất ở các tỉnh biên giới như Lai Châu, Hà Giang và Sơn

La, thấp nhất ở Quảng Ninh và các tỉnh liền kề châu thổ sông Hồng

Trang 37

Số liệu về tài khoản quốc gia của Tổng cục Thống kê cho thấy GDP thực tế trên đầu người tăng 7% trong thời kỳ 1995 - 2000 So sánh ba cuộc

điều tra cho thấy, thu nhập và chi tiêu tăng đáng kể trong giai đoạn 1993 -

2002 Hộ nông thôn ở tất cả các nhóm thu nhập và các vùng đều được hưởng lợi ở vùng Núi và Trung bu Bắc Bộ chi tiêu theo đầu người tăng 32% trong thời kỳ 1993 - 1998 và 11% trong thời kỳ 1998 - 2002, gần bằng mức bình quân chung đối với hộ nông thôn trong cả nước Khoảng cách giàu nghèo trong nông thôn đM doMng ra đôi chút kể từ 1993 mặc dù ngay cả nhóm nghèo nhất cũng có mức tăng đáng kể chi tiêu trên đầu người [16]

Trồng trọt tiếp tục đóng vai trò là nguồn thu nhập quan trọng nhất đối với hộ gia đình nông thôn, chiếm 38% thu nhập ròng ở vùng Núi và Trung du Bắc Bộ Hộ nghèo trong nông thôn phụ thuộc và thu nhập từ trồng trọt nhiều hơn hộ gia đình nông thôn khác Cây lương thực chính, đặc biệt là lúa vẫn tiếp tục đóng vai trò chủ chốt trong trồng trọt Lúa chiếm 46% giá trị sản phẩm ròng của ngành trồng trọt [16]

2.4 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá phát triển kinh tế và

đói nghèo

2.4.1 Nhóm chỉ tiêu đánh giá phát triển kinh tế

PTKT thường được đánh giá theo 3 tiêu thức cơ bản: tăng trưởng kinh

tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và sự thay đổi trong các chỉ tiêu xM hội [18]

2.4.1.1 Đánh giá tăng trưởng kinh tế

Theo mô hình kinh tế thị trường, thước đo tăng trưởng kinh tế được xác

định theo các chỉ tiêu của hệ thống tài sản quốc gia (SNA) Khái quát qua các chỉ tiêu chủ yếu sau

1- Tốc độ phát triển: Giúp phản ánh xu hướng phát triển của hiện tượng nghiên cứu qua thời gian [12]

y

y t

Trang 38

3 , 2 ( (%) 100

1

1 1

1 3

y

y T

t t

t t

t bq =nn =n− ∏ i =nn =nn ⋅ =

bàn cấp huyện nên đề tài chủ yếu sử dụng giá trị sản xuất (GO) trong tính toán

2- L−ợng tăng (hoặc giảm) tuyệt đối: Giúp phản ánh những thay đổi về l−ợng tuyệt đối của chỉ tiêu giữa hai thời gian nghiên cứu [12]

- L−ợng tăng(hoặc giảm) tuyệt đối bình quân:

- Tốc độ tăng (hoặc giảm) liên hoàn:

y

y y y

a

i

i i i

i

1 1

- Tốc độ tăng (hoặc giảm) định gốc:

( )% 100( )% ( 2 , 3 ) 100

1 1

1

n i

y

y y y

Trang 39

5- Dự đoán sự phát triển của hiện tượng trong ngắn hạn:

- Dự đoán dựa vào lượng tăng (hoặc giảm) tuyệt đối bình quân:

L y

y n+L = n+ δbq

- Dự đoán dựa vào tốc độ phát triển bình quân:

L bq n L

2.4.1.2 Đánh giá cơ cấu kinh tế

Cơ cấu kinh tế được hiểu là tương quan giữa các bộ phận trong tổng thể nền kinh tế, thể hiện mối quan hệ hữu cơ và sự tác động qua lại cả về số và chất lượng giữa các bộ phận với nhau Các mối quan hệ này được hình thành trong điều kiện kinh tế - xM hội nhất định, luôn luôn vận động và hướng vào những mục tiêu cụ thể Nếu các thước đo tăng trưởng phản ánh sự thay đổi về lượng thì xu thế chuyển dịch cơ cấu kinh tế là thể hiện mặt chất kinh tế trong quá trình phát triển [18]

Để phân tích đặc điểm cấu thành của hiện tượng và nghiên cứu sự thay

đổi kết cấu nhằm thấy được xu hướng phát triển và sự ảnh hưởng của điều kiện liên quan cần sử dụng số tương đối kết cấu:

( )% 100

ì

= thể tổng

phận bộ y

y

Đánh giá sự PTKT cần xem xét một cách toàn diện các góc độ của cơ cấu theo ngành kinh tế, vùng kinh tế, thành phần kinh tế, khu vực thể chế, tái sản xuất, thương mại quốc tế

- Hoàn thiện cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động theo thời gian theo hướng việc giảm dần tỷ trọng giá trị nông - lâm - ngư nghiệp, tăng dần tỷ trọng giá trị dịch vụ và công nghiệp - xây dựng qua các năm gắn liền với quan điểm tăng dần hàm lượng lao động trí óc, giảm dần hàm lượng lao động chân tay trong cấu thành giá trị sản phẩm hàng hoá, tăng năng suất lao động và sản lượng; chuyển dịch lao động nông nghiệp, nông thôn sang lĩnh vực công nghiệp - xây dựng và dịch vụ

Trang 40

- Hoàn thiện cơ cấu ngành, lĩnh vực kinh tế, bao gồm

+ Đối với ngành nông - lâm - ngư nghiệp: Tăng dần tỷ trọng chăn nuôi - thuỷ sản và dịch vụ nông nghiệp, giảm dần tỷ trọng trồng trọt…

+ Đối với ngành công nghiệp: Tăng dần tỷ trọng hàng công nghiệp phục

vụ sản xuất và sinh hoạt như hàng điện tử - tự động - kỹ thuật cao trên nguyên tắc sản xuất phù hợp với khả năng và điều kiện hiện có của địa phương

và đất nước, mở rộng được thị trường tiêu thụ và hướng ra xuất khẩu

+ Đối với lĩnh vực dịch vụ: Tăng dần tỷ trọng giá trị trao đổi trong lĩnh vực thương mại quốc tế, dịch vụ, du lịch…

- Hoàn thiện cơ cấu vùng kinh tế, thành phần kinh tế, khu vực thể chế, tái sản xuất bằng việc quy hoạch khu công nghiệp, khu chế xuất, vùng kinh tế gắn liền với vùng nguyên liệu và lợi thế so sánh của địa phương, đa dạng hoá các loại hình kinh doanh và ngành nghề nông thôn, khuyến khích và tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế phát triển trong đó kinh tế Nhà nước luôn giữ vai trò chủ

đạo nắm giữ những lĩnh vực kinh tế then chốt của địa phương và đất nước…

2.4.2 Nhóm chỉ tiêu đánh giá đói nghèo

2.4.2.1 Chỉ tiêu đánh giá đói nghèo của thế giới

Chỉ tiêu đánh giá sự đói nghèo trong một quốc gia bắt đầu từ việc vạch

ra giới hạn nước giàu và nước nghèo

Khi đánh giá nước giàu, nước nghèo trên thế giới, giới hạn đói nghèo được biểu hiện bằng chỉ tiêu chính là thu nhập quốc dân bình quân đầu người [2] Từ căn cứ đó, đM thống kê được 10 quốc gia giàu nhất và nghèo nhất hàng năm

Một số nhà nghiêu cứu cho rằng, chỉ căn cứ vào chỉ tiêu thu nhập thì chưa đủ để đánh giá Vì vậy, bên cạnh chỉ tiêu ấy, Tổ chức Hội đồng Phát triển hải ngoại (ODC) đM đưa ta chỉ tiêu chất lượng vật chất cuộc sống (PQLI) Căn cứ để đánh giá chỉ số PQLI bao gồm 3 chỉ tiêu cơ bản:

- Tuổi thọ;

- Tỷ lệ tử vong của trẻ sơ sinh;

- Tỷ lệ xoá mù chữ [2]

Ngày đăng: 28/11/2013, 10:05

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Võ Duy Chất và Phạm Hiệp (2005), Kinh nghiệm XĐGN ở huyện miền núi Nam Đông, http://www.tapchicongsan.org.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm XĐGN ở huyện miền núi Nam Đông
Tác giả: Võ Duy Chất, Phạm Hiệp
Nhà XB: Tạp chí Cộng sản
Năm: 2005
7. Nguyễn Thị Hà (2005), Bài học thành công trong việc thực hiện mục tiêu thiên niên kỷ về XĐGN ở n−ớc ta, http://www.tapchicongsan.org.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài học thành công trong việc thực hiện mục tiêu thiên niên kỷ về XĐGN ở n−ớc ta
Tác giả: Nguyễn Thị Hà
Nhà XB: Tạp chí Cộng sản
Năm: 2005
10. Ngọc Hồ (2005), Sóc Trăng xoá đói nghèo theo hướng phát triển bền v÷ng, http://www.tapchicongsan.org.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sóc Trăng xoá đói nghèo theo hướng phát triển bền vững
Tác giả: Ngọc Hồ
Nhà XB: Tạp chí Cộng sản
Năm: 2005
11. Đinh Văn Hùng (2006), Ninh Bình PTKT gắn với xoá đói, giảm nghèo, http://www.tapchicongsan.org.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ninh Bình PTKT gắn với xoá đói, giảm nghèo
Tác giả: Đinh Văn Hùng
Nhà XB: Tạp chí Cộng sản
Năm: 2006
1. Đỗ Thị Bắc (2001), Những giải pháp chủ yếu nhằm phát triển kinh tế - xI hội nông thôn huyện Đồng Hỷ, Luận án tiến sĩ kinh tế, Đại học Nông nghiệp I, Hà Nội Khác
2. Mai Quốc Chánh, Phạm Đức Thành (chủ biên) (1998), Kinh tế lao động, NXB Giáo dục, Hà Nội Khác
4. Nguyễn Nhân Chiến (2004), Những giải pháp chủ yếu nhằm XĐGN bền vững ở huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Đại học Nông nghiệp I, Hà Nội Khác
5. Cục Thống kê tỉnh Bắc Giang (2005), Niêm giám thống kê 2004, Bắc Giang Khác
6. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Khác
8. Nguyễn Hữu Hải (2005), Cuộc chiến chống đói nghèo - Thực trạng và giải pháp, Đề tài khoa học, Bộ Lao động - Thương bình & XM hội, Hà Nội Khác
9. Hoàng Thị Hảo (2004), Những giải pháp chủ yếu nhằm XĐGN cho nông dân ở huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Đại học Nông nghiệp I, Hà Nội Khác
12. Kim Ngọc Huynh (1995), Lý thuyết thống kê, NXB Thống kê, Hà Nội Khác
13. Huyện Uỷ Sơn Động (2000), Báo cáo Chính trị trình tại Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện lần thứ XVIII (Nhiệm kỳ 2000 - 2005), Sơn Động Khác
14. Huyện Uỷ Sơn Động (2005), Báo cáo Chính trị trình tại Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện lần thứ XXIII (Nhiệm kỳ 2005 - 2010), Sơn Động Khác
15. Huyện Uỷ Sơn Động (2006), Các ch−ơng trình phát triển kinh tế - xI hội trọng tâm của huyện Sơn Động giai đoạn 2006 - 2010, Sơn Động Khác
16. Japan Bank for International Cooperation (2004), Đa dạng hoá thu nhập và nghèo ở vùng núi và trung du Bắc bộ Việt Nam, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Khác
17. Phòng Thống kê Sơn Động (2006), Số liệu thống kê của phòng Thống kê Sơn Động, Sơn Động Khác
18. Vũ Thị Ngọc Phụng (chủ biên) (2005), Kinh tế phát triển, NXB Lao động - XM hội, Hà Nội Khác
19. Phạm Xuân Ph−ơng (2003), Thực trạng và giải pháp chủ yếu phát triển vùng nguyên liệu gỗ trụ mỏ Đông Bắc bộ, Luận án tiến sĩ kinh tế, Đại học Nông nghiệp I, Hà Nội Khác
20. Lê Thị Hồng T−ơi (2004), Thực trạng và các giải pháp chủ yếu nhằm XĐGN ở huyện huyện Sóc Sơn - Thành phố Hà Nội, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Đại học Nông nghiệp I, Hà Nội Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 4.1. Cơ cấu giá trị sản xuất của huyện Sơn Động - Luận văn phát triển kinh tế gắn với xoá đói giảm nghèo ở huyện sơn động, tỉnh bắc giang
Hình 4.1. Cơ cấu giá trị sản xuất của huyện Sơn Động (Trang 64)
Bảng 4.2. tình hình sản xuất nông - lâm nghiệp của huyện Sơn Động (Theo giá so sánh năm 1994) Tốc độ tăng(%)  Chỉ tiêuĐơn vị  tính 2001  2002  2003  2004  2005 2002/  20012003/ 20022004/ 20032005/ 2004BQ      2001-2005  SX nông - lâm nghiệptr.đ76.19281.54 - Luận văn phát triển kinh tế gắn với xoá đói giảm nghèo ở huyện sơn động, tỉnh bắc giang
Bảng 4.2. tình hình sản xuất nông - lâm nghiệp của huyện Sơn Động (Theo giá so sánh năm 1994) Tốc độ tăng(%) Chỉ tiêuĐơn vị tính 2001 2002 2003 2004 2005 2002/ 20012003/ 20022004/ 20032005/ 2004BQ 2001-2005 SX nông - lâm nghiệptr.đ76.19281.54 (Trang 66)
Bảng 4.3. Tình hình sản xuất công nghiệp của huyện Sơn Động (Theo giá so sánh năm 1994) Tốc độ tăng(%)  Chỉ tiêuĐơn vị  tính 2001  2002  2003  2004  2005 2002/  20012003/ 20022004/ 20032005/ 2004BQ      2001-2005  SX công nghiệptr.đ5.631 6.110 8.881 10.81 - Luận văn phát triển kinh tế gắn với xoá đói giảm nghèo ở huyện sơn động, tỉnh bắc giang
Bảng 4.3. Tình hình sản xuất công nghiệp của huyện Sơn Động (Theo giá so sánh năm 1994) Tốc độ tăng(%) Chỉ tiêuĐơn vị tính 2001 2002 2003 2004 2005 2002/ 20012003/ 20022004/ 20032005/ 2004BQ 2001-2005 SX công nghiệptr.đ5.631 6.110 8.881 10.81 (Trang 74)
Bảng 4.4. Tình hình hoạt động thương mại - dịch vụ của huyện Sơn Động Tốc độ tăng(%)  Chỉ tiêuĐơn vị  tính 2001  2002  2003  2004  2005 2002/  20012003/ 20022004/ 20032005/ 2004BQ      2001-2005  g mại mức bán lẻ và doanh thu dịch ùng tr.đ39.52044.41550.6 - Luận văn phát triển kinh tế gắn với xoá đói giảm nghèo ở huyện sơn động, tỉnh bắc giang
Bảng 4.4. Tình hình hoạt động thương mại - dịch vụ của huyện Sơn Động Tốc độ tăng(%) Chỉ tiêuĐơn vị tính 2001 2002 2003 2004 2005 2002/ 20012003/ 20022004/ 20032005/ 2004BQ 2001-2005 g mại mức bán lẻ và doanh thu dịch ùng tr.đ39.52044.41550.6 (Trang 81)
Bảng 4.5. Tình hình hộ nghèo của huyện Sơn Động - Luận văn phát triển kinh tế gắn với xoá đói giảm nghèo ở huyện sơn động, tỉnh bắc giang
Bảng 4.5. Tình hình hộ nghèo của huyện Sơn Động (Trang 84)
Bảng 4.6. thực trạng hộ nghèo và nguyên nhân đói nghèo - Luận văn phát triển kinh tế gắn với xoá đói giảm nghèo ở huyện sơn động, tỉnh bắc giang
Bảng 4.6. thực trạng hộ nghèo và nguyên nhân đói nghèo (Trang 87)
Hình 4.4. Cơ cấu hộ nghèo năm 2005 của huyện Sơn Động - Luận văn phát triển kinh tế gắn với xoá đói giảm nghèo ở huyện sơn động, tỉnh bắc giang
Hình 4.4. Cơ cấu hộ nghèo năm 2005 của huyện Sơn Động (Trang 87)
Bảng 4.7. Tình hình giảm nghèo của huyện Sơn Động - Luận văn phát triển kinh tế gắn với xoá đói giảm nghèo ở huyện sơn động, tỉnh bắc giang
Bảng 4.7. Tình hình giảm nghèo của huyện Sơn Động (Trang 90)
Bảng 4.8. Cung cấp các dịch vụ cơ sở hạ tầng thiết yếu   cho các x_ ĐBKK và ng−ời nghèo huyện Sơn Động - Luận văn phát triển kinh tế gắn với xoá đói giảm nghèo ở huyện sơn động, tỉnh bắc giang
Bảng 4.8. Cung cấp các dịch vụ cơ sở hạ tầng thiết yếu cho các x_ ĐBKK và ng−ời nghèo huyện Sơn Động (Trang 103)
Bảng 4.7 thể hiện các điều kiện cơ sở vật chất, kết cấu hạ tầng phục vụ  phát triển kinh tế - xM hội đ−ợc quan tâm đầu t− nên bộ mặt nông thôn đM có sự  thay đổi lớn - Luận văn phát triển kinh tế gắn với xoá đói giảm nghèo ở huyện sơn động, tỉnh bắc giang
Bảng 4.7 thể hiện các điều kiện cơ sở vật chất, kết cấu hạ tầng phục vụ phát triển kinh tế - xM hội đ−ợc quan tâm đầu t− nên bộ mặt nông thôn đM có sự thay đổi lớn (Trang 104)
Bảng 4.10. Chỉ tiêu cụ thể giảm nghèo của huyện sơn Động - Luận văn phát triển kinh tế gắn với xoá đói giảm nghèo ở huyện sơn động, tỉnh bắc giang
Bảng 4.10. Chỉ tiêu cụ thể giảm nghèo của huyện sơn Động (Trang 121)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w