1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn nghiên cứu ảnh hưởng của chất điều hoà sinh trưởng, vi lượng đến sự hình thành quả, năng suất và phẩm chất vải thiều tại an lão hải phòng

89 661 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu ảnh hưởng của chất điều hoà sinh trưởng, vi lượng đến sự hình thành quả, năng suất và phẩm chất vải thiều tại An Lão - Hải Phòng
Tác giả Đỗ Phương Chi
Người hướng dẫn GS.TS. Hoàng Minh Tấn
Trường học Trường Đại Học Nông Nghiệp I
Chuyên ngành Trồng trọt
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2005
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 365,78 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

luận văn

Trang 1

bộ giáo dục và đào tạo trường đạI học nông nghiệp I

-

đỗ phương chi

Nghiên cứu ảnh hưởng của chất điều hoà

sinh trưởng, vi lượng đến sự hình thành quả,

năng xuất và phẩm chất vải thiều

tại An L∙o - Hải Phòng

Trang 2

Lời cam đoan

- Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng được sử dụng để bảo vệ một học vị nào

- Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này

đã được cám ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn này đã được chỉ rõ nguồn gốc

Tác giả luận văn

Đỗ Phương Chi

Trang 3

Lời cảm ơn

Trong khi thực hiện đề tài nghiên cứu và hoàn thành bản luận văn này, tôi được sự giúp đỡ tận tình của các quý cơ quan: Bộ môn sinh lý thực vật - Trường đại học Nông nghiệp I, phòng nông nghiệp huyện An Lão - Hải Phòng, Uỷ ban nhân dân xã Bát Trang, cơ quan và các bạn bè đồng nghiệp

Với tình cảm chân thành và lòng biết ơn sâu sắc tới:

Thầy hướng dẫn: GS TS Hoàng Minh Tấn, là người trực tiếp hướng dẫn

và giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài này

Đã giúp đỡ và đóng góp nhiều ý kiến quý báu cho luận văn

Cảm ơn bạn bè đồng nghiệp và gia đình đã động viên và giúp đỡ mọi mặt để tôi hoàn thành luận văn này

Hà Nội, tháng 09 năm 2005

Tác giả

Đỗ Phương Chi

Trang 4

Mục lục

Trang

1.3 ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3

2.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ vải trên thế giới và trong nước 5

2.4 Tình hình nghiên cứu cây vải trong và ngoài nước 20

3 Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu 32

2.4.2 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi 34

4.1 Điều kiện khí hậu, đất đai khu thí nghiệm 36

Trang 5

4.2 ảnh hưởng của chất điều hoà sinh trưởng, vi lượng đến sự đậu quả,

4.2.1 ảnh hưởng của α-NAA đến sự đậu quả, năng suất và phẩm chất

3.2.2 ảnh hưởng của GA3 đến sự đậu quả, năng suất và phẩm chất của

4.2.3 ảnh hưởng của chế phẩm đậu quả đến sự đậu quả, năng suất và

4.2.4 ảnh hưởng của chế phẩm KIVIVA đến sự đậu quả, năng suất và

4.3 Hiệu quả kinh tế của việc sử dụng chất điều hoà sinh trưởng và vi

Trang 6

Danh môc c¸c ch÷ viÕt t¾t

2,4D : 2,4 Dichlophenoxy axetic axit 2,4,5 T : 2,4,5 Trichophenoxy axetic axit FAO : Tæ chøc l−¬ng thùc thÕ giíi

GA3 : Gibberellic axit C§HST : ChÊt ®iÒu hoµ sinh tr−ëng

α - NAA : α - Naphtyl axetic axit

CT : C«ng thøc

NS : N¨ng suÊt

Trang 7

Danh mục các bảng

Bảng 4.1: Điều kiện khí hậu trong thời gian bố trí thí nghiệm 36Bảng 4.2: ảnh hưởng xử lý α ư NAA đến động thái đậu quả vải 39Bảng 4.3 ảnh hưởng xử lý α-NAA đến thời gian chín và mẫu mã quả vải 43Bảng 4.4: ảnh hưởng xử lý α ư NAA đến các yếu tố cấu thành năng suất

Bảng 4.5: ảnh hưởng của α-NAA đến thành phần cơ giới quả vải 46Bảng 4.6: ảnh hưởng xử lý α - NAA đến phẩm chất của quả vải 48Bảng 4.7: ảnh hưởng xử lý GA3 đến động thái đậu quả 49Bảng 4.8: ảnh hưởng xử lý GA3 đến thời gian chín và mẫu mã của vải 51Bảng 4.9: ảnh hưởng xử lý GA3 đến các yếu tố cấu thành năng suất và

Bảng 4.10: ảnh hưởng xử lý GA3 đến thành phần cơ giới quả vải 54Bảng 4.11: ảnh hưởng xử lý GA3 tới phẩm chất quả vải 55Bảng 4.12: ảnh hưởng xử lý chế phẩm đậu quả đến động thái đậu quả 57Bảng 4.13: ảnh hưởng xử lý chế phẩm đậu quả đến thời gian chín và

Bảng 4.14: ảnh hưởng xử lý chế phẩm đậu quả đến các yếu tố cấu thành

Bảng 4.15: ảnh hưởng xử lý chế phẩm đậu quả đến thành phần cơ giới

Bảng 4.16: ảnh hưởng xử lý chế phẩm đậu quả tới phẩm chất quả vải 63Bảng 4.17: ảnh hưởng xử lý chế phẩm KIVIVA đến động thái đậu quả 65

Trang 8

Bảng 4.18: ảnh hưởng xử lý chế phẩm KIVIVA đến thời gian chín và

Bảng 4.19: ảnh hưởng xử lý chế phẩm KIVIA đến các yếu tố cấu thành

Trang 9

Danh mục các biểu đồ

Biểu đồ 4.1: ảnh hưởng a- NAA đến độngthái đậu quả vải 41Biểu đồ 4.2: ảnh hưởng phun a-NAA đến năng suất vải 45Biểu đồ 4.3: ảnh hưởng GA3 đến động thái đậu quả 50Biểu đồ 4.4: ảnh hưởng phun GA3 đến năng suất vải 53

Đồ thị 4.5: ảnh hưởng chế phẩm đậu quả đến động thái đậu quả vải 58Biểu đồ 4.6: ảnh hưởng chế phẩm đậu quả đến năng suất vải 61

Đồ thị 4.7: ảnh hưởng chế phẩm KIVIVA đến động thái đậu quả 66Biểu đồ 4.8: ảnh hưởng chế phẩm KIVIVA đến năng suất vải 69

Trang 10

1 Mở đầu

1.1 Đặt vấn đề

Cây ăn quả chiếm một vị trí quan trọng trong nền kinh tế nước ta Với

điều kiện sinh thái đa dạng, chế độ khí hậu nhiệt đới, á nhiệt đới và một phần tương tự ôn đới cùng với điều kiện đất đai phong phú, nước ta có khả năng phát triển nhiều loại cây ăn quả với quy mô lớn và tập trung nhằm giải quyết nhu cầu tiêu thụ trong nước và xuất khẩu

Việc phát triển các loại cây ăn quả được xem như một chiến lược chuyển dịch cơ cấu cây trồng, kinh tế, khai thác tiềm năng thế mạnh của mỗi

địa phương Từ khi Nhà nước có các chính sách đổi mới về nền kinh tế, đặc biệt trong lĩnh vực nông nghiệp thì diện tích trồng cây ăn quả đã phát triển một cách nhanh chóng

Vải (Litchi sinensis Sonn) là cây á nhiệt đới, một trong những cây ăn

quả đặc sản lâu năm của Việt Nam có giá trị dinh dưỡng và kinh tế cao Trên thị trường thế giới, quả vải được xếp sau dứa, chuối, cam, quýt, xoài, bơ Về chất lượng, vải là cây ăn quả á nhiệt đới, được đánh giá cao nhất với hương vị thơm ngon, nhiều chất bổ, được người tiêu dùng trong và ngoài nước ưa chuộng Quả vải ngoài ăn tươi còn được chế biến như sấy khô, làm rượu vang,

đồ hộp, nước giải khát …Ngoài ra, vải là cây có nguồn mật chất lượng, tán lá xum xuê quanh năm, có thể dùng làm cây cảnh, cây bóng mát, cây chắn gió, chống xói mòn

Vải có hàm lượng dinh dưỡng cao: đường dễ tiêu, các vitamin B, C , phốtpho, sắt, canxi Quả vải có tính cạnh tranh lớn, là mặt hàng xuất khẩu thu ngoại tệ cao đối với nhiều nước Sản lượng vải trên thế giới thấp, cung không đủ cầu, giá bán so với chuối tiêu cao gấp 5 lần, cam quýt gấp 2 – 3 lần

Trang 11

[35] Cây vải được trồng ở nhiều nước, phổ biến ở châu á Những nước trồng nhiều như Trung Quốc, Việt Nam (khu vực Miền Bắc), ấn Độ, Thái Lan…

ưu thế lớn của cây vải là tính thích ứng mạnh, dễ trồng, có thể chịu

được hạn nên có thể sinh trưởng tốt trên đất đồi Vải được trồng tập trung ở các tỉnh Bắc Giang (Lục Ngạn, Lục Nam, Yên Thế), Hải Dương (Thanh Hà,

Tứ Kỳ, Chí Linh), Quảng Ninh (Đông Triều, Hoành Bồ) Diện tích trồng vải của nước ta trong những năm gần đây đã tăng vọt Khi vấn đề lương thực cơ bản được giải quyết cùng với nhu cầu mọi mặt về đời sống của nhân dân ngày càng cao thì việc phát triển các loại cây trồng có giá trị hàng hóa như cây ăn quả (trong đó có cây vải) đã được các địa phương (có điều kiện thích hợp) trong cả nước rất chú trọng đầu tư

Trong những năm 1990, cây vải được xem là một trong những loại cây trồng có hiệu quả kinh tế cao nhất được đưa ra sản xuất ở vùng đồng bằng Bắc bộ, Trung du và miền núi phía Bắc Trồng vải trong vườn gia đình mang lại thu nhập khá cao so với các cây ăn quả khác (cam, chuối, hồng xiêm ),

đặc biệt là cây vải thiều Năm 1997, diện tích trồng vải đạt 25.114 ha Đến năm 2002, diện tích trồng vải đạt 65.545 ha với sản lượng 118.000 tấn

Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước về chuyển dịch cơ cấu cây trồng, Hải Phòng nói chung và huyện An Lão nói riêng trong những năm gần đây đã tích cực cải tạo vườn tạp đưa cây vải vào phát triển kinh tế hộ gia đình Cây vải trồng tập trung chủ yếu ở xã Bát Trang, Trường Thành, Trường Thọ, Quang Trung, Quang Hưng… Đến nay số lượng cây vải trồng đã lên tới 70.000 cây, sản lượng hàng năm đạt 1500 – 2000 tấn Tuy nhiên, trong quá trình phát triển, do thiếu định hướng quy hoạch, đặc biệt về bảo quản chế biến thiếu chiến lược cụ thể, chưa được đầu tư nghiên cứu và cải tiến thường xuyên, qui mô bảo quản chế biến chưa phù hợp với yêu cầu, đồng thời thị trường tiêu thụ không ổn định nhất là thị trường xuất khẩu kèm theo các yếu

Trang 12

tố bất lợi khác chi phối nên sản phẩm quả sản xuất ra nhiều khi không tiêu thụ

được, hoặc nếu có bán được thì giá rất rẻ, gây thiệt hại cho người sản xuất

Là loại cây xanh quanh năm, nhưng vải lại có tính cách niên khá rõ, mặt khác vải có số hoa lớn nhưng tỷ lệ đậu quả thấp, tỷ lệ rụng quả cao nên năng suất thường không cao và không ổn định Quả vải chín tập trung phải thu hoạch nhanh nên gây dư thừa cục bộ, bảo quản sau thu hoạch chưa có phương pháp hữu hiệu nên phẩm chất quả vải bị giảm đã ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế

Vì vậy, để tăng tỷ lệ đậu quả, rải vụ thu hoạch vải và nâng cao phẩm chất quả vải, việc tiến hành nghiên cứu ảnh hưởng của một số chất điều hoà sinh trưởng, vi lượng đến sự hình thành quả, năng suất và phẩm chất vải là một trong những đòi hỏi cấp thiết của sản xuất với hy vọng phần nào giải quyết những khó khăn trên và tăng hiệu quả kinh tế của trồng vải, tăng sức thuyết phục đối với người dân Xuất phát từ điều kiện thực tế phát triển cây vải ở Hải

Phòng chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của chất điều hoà sinh trưởng, vi lượng đến sự hình thành quả, năng xuất và phẩm chất vải thiều tại An L∙o - Hải Phòng"

1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

Trên cơ sở nghiên cứu ảnh hưởng của chất điều hoà sinh trưởng auxin, gibberellin (GA3), chế phẩm vi lượng đến khả năng đậu quả, chất lượng vải để

đề ra các biện pháp tác động làm tăng năng suất, phẩm chất và kéo dài thời

gian thu hoạch vải

1.3 ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

1.3.1 ý nghĩa khoa học

- Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp dẫn liệu khoa học về ảnh hưởng một

số chất điều hoà sinh trưởng và vi lượng đến sự hình thành quả, năng suất, phẩm chất cũng như thời gian thu hoạch vải

Trang 13

- Kết quả nghiên cứu sẽ làm tài liệu tham khảo góp phần bổ sung thêm những tài liệu khoa học về cây vải phục vụ cho công tác giảng dạy và nghiên

cứu cây ăn quả ở nước ta

1.3.2 ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu sẽ đề ra được quy trình xử lý vải thiều bằng một số chất điều hoà sinh trưởng và vi lượng để tăng hiệu quả sản xuất của cây vải, góp phần nâng cao phẩm chất và giá trị kinh tế cho các vùng trồng vải trên địa

bàn Hải Phòng

1.4 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài được tiến hành trên vải thiều có độ tuổi trung bình 8 - 10 năm

được trồng tại xã Bát Trang - An Lão - Hải phòng trong vụ vải năm 2005

Trang 14

2 Tổng quan tài liệu

2.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ vải trên thế giới và trong nước

2.1.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ vải trên thế giới

Ngày nay vải được trồng nhiều ở các nước nằm trong phạm vi 20 – 30

vĩ độ Bắc và Nam đường xích đạo Theo tài liệu “Litchi cultivation – FAO

(1983)” [ 52], năm 1983 sản lượng vải trên thế giới là 250.005 tấn và có hơn

20 nước trồng vải rải các ở Châu á, Châu Mỹ, Châu Phi và Châu Đại Dương Theo Trần Thế Tục (1998) [ 31], năm 1990 diện tích trồng vải trên toàn thế giới là 184.300 ha với tổng sản lượng 271.181 tấn trong đó Trung Quốc có sản lượng nhiều nhất (161.000 ha và 244.000 tấn), tiếp đến là Thái Lan và ấn Độ Năm 2001 diện tích trồng vải đạt 781.242 ha, sản lượng 1.954.975 tấn Như vậy, chỉ trong 10 năm diện tích trồng vải tăng lên gấp 4 lần (theo thống kê của FAO)

Trung Quốc là quê hương của vải và cũng là nước đứng đầu về diện tích

và sản lượng Theo thống kê năm 2001, diện tích trồng vải của Trung Quốc là 580.000 ha, sản lượng 1.260.000 tấn quả tươi Tiếp đến là ấn Độ với lịch sử trồng vải 200 năm, vùng trồng vải lớn nhất là tỉnh Bihar, một vùng đồng bằng rộng lớn chiếm 95% tổng diện tích trồng vải cả nước Năm 1991, diện tích trồng vải của ấn Độ là 11.410 ha với sản lượng 91.860 tấn Năm 2001, diện tích trồng vải là 56.000 ha, sản lượng 492.000 tấn Sản lượng vải của ấn Độ chưa cao, dân số lại đông nên chỉ cung cấp cho thị trường trong nước

Trang 15

Theo Sauco [53], năng suất vải trên thế giới đạt khoảng 60 – 70 kg/cây (2,5 – 5,4 tấn/ha), cây tốt có thể đạt tới 125 – 130 kg/cây (8 – 10 tấn/ha)

Vải được giới thiệu sang đảo Tây ấn, Châu Mỹ, Jamaica vào năm 1775,

đến Australia năm 1854, đến Nam Phi năm 1869 Hawai năm 1873 bởi một thương gia Trung Quốc tên Ching Check Từ ấn Độ, cây vải được giới thiệu vào Florida, California (năm 1897) và vào Israel khoảng năm 1930 – 1940 [20, 52]

Châu Phi có các nước trồng vải là Nam Phi, Madagasca, Công Gô Nam Phi có lịch sử trồng vải cách đây 100 năm Năm 1991, diện tích trồng vải 180

ha với sản lượng 1.800 tấn

Châu Đại Dương có các nước trồng vải là Australia, Newgilan Australia có lịch sử trồng vải cách đây trên 130 năm và phân bố ở hai bên bờ biển đông Nước này đã nhập trên 40 giống vải của Trung Quốc ở Châu Mỹ, Hoa Kỳ, Cuba, Braxin, Panama có trồng vải

Các nước xuất khẩu vải trên thế giới rất ít, chủ yếu là Trung Quốc (bao gồm Đài Loan) Hiện nay vải Trung Quốc vẫn chiếm ưu thế về diện tích và sản lượng, đặc biệt là các giống vải tốt đều tập trung ở Trung Quốc, bởi thế Trung Quốc chiếm ưu thế tuyệt đối về xuất khẩu vải

Hàng năm, có khoảng 16.000 tấn quả vải tươi hàng hoá được bán trên thị trường thế giới, chiếm khoảng 5,9% tổng sản lượng vải Những thị trường vải tươi trên thế giới hiện nay như Trung Quốc, Hồng Kông, Đài Loan, Thái Lan đang cạnh tranh gay gắt Các nước này đang đầu tư cải tiến các khâu quan trọng trong sản suất, cung ứng, thương mại để giành vị trí của mình về xuất khẩu vải tươi [ 30]

Theo tạp chí thông tin nhanh thị trường vải thế giới, số 6 (1994) [59] thì:

Trang 16

- Năm 1993, Đài Loan xuất khẩu quả vải tươi với tổng số 6.989 tấn và Hồng Kông là thị trường tiêu thụ vải lớn nhất của Đài Loan (1.925 tấn) Sau

đó là Canada (1.248 tấn), Nhật Bản (1.227 tấn), Philippine (1.061 tấn), Singapore (990 tấn), Thái Lan (295 tấn), Indonesia (215 tấn)

- Trung Quốc, năm 1993, xuất khẩu 533 tấn vải tươi Hồng Kông là thị trường tiêu thụ lớn nhất của Trung Quốc (476 tấn), Pháp (30 tấn), Malaysia (9 tấn), Phiippine (9 tấn), Macao (4 tấn), Singapore (3 tấn), Nhật Bản (2 tấn) Giá bán vải tươi bình quân (1980 – 1984) ở Hồng Kông là 7238,9 đôla Hồng Kông cho 1 tấn quả

- Thái Lan chủ yếu trồng các giống vải: HongHuay, O – Hia, Chakrapud Kom, Jean và Sampoaw Koew Năm 1993 Thái Lan suất khẩu 7.651 tấn vải đóng hộp (256.1 triệu Baht) cho các nước Malaysia (2.514 tấn), Singapore (1.1133 tấn), Mỹ (1.085 tấn) Hà Lan (472 Tấn), Indonesia (397 tấn), Anh (259 tấn), úc (226 tấn), Pháp (186 tấn) Canada (181 tấn), Thuỵ

Điển (145 tấn), Đức (142 tấn), Nhật Bản (140 tấn), Bỉ (115 tấn), Philippin (106 tấn)

- Sản xuất vải ở Israel không được thuận lợi lắm Vải trồng ở đây chủ yếu

là giống Mauritius (chiếm 85% diện tích), Floridani (10%) Thị trường xuất khẩu vải của của Israel là Liên minh Châu Âu, với 53 – 192 tấn vải mỗi năm (từ năm 1990 – 1993) Vải ở Israel được thu hoạch từ tháng 7 đến tháng 10

- Nam Phi xuất khẩu vải cho Châu Âu từ 1.400 – 2.600 tấn mỗi năm (từ năm 1990 – 1993) Giống vải Tai So chiếm tới 75% sản lượng vải ở Nam Phi

và xuất khẩu vải hộp sang Châu Âu qua đường biển

- ở Mỹ, vải được trồng nhiều ở Forida Sản lượng vải năm 1992 đạt 39 tấn tại Hawai

- Sản xuất vải ở Mexico không thuận lợi nhưng đã xuất khẩu vải tươi cho Mỹ và Canada trong mùa thu hoạch từ tháng 6 đến tháng 7

Trang 17

- Tây Ban Nha sản xuất vải với số lượng nhỏ và bán cho các nước thành viên của Liên minh Châu Âu 140 tấn năm 1993

2.1.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ vải trong nước

ở Việt Nam, cây vải được trồng cách đây khoảng 2000 năm Vùng phân bố tự nhiên của cây vải ở Việt Nam từ 18 – 190 vĩ độ bắc trở ra Vải trồng chủ yếu ở vùng đồng bằng sông Hồng, Trung Du, miền núi Bắc Bộ và một phần khu bốn cũ Miền Bắc Việt Nam cũng được coi là một trong những nơi nguồn gốc vải [ 10,11] Theo C.Petlat (1952), cây vải dại được mọc ở Ba Vì, chân núi Tam Đảo Cũng có thể khẳng định Việt Nam là nơi thuần hoá và trồng vải sớm nhất, có điều kiện tự nhiên thích hợp để phát triển cây ăn quả này [ 6]

Cây vải được trồng ở các tỉnh phía Bắc Qua nhiều năm đã hình thành các vùng trồng vải có diện tích tương đối lớn Theo thống kê, Việt Nam là nước đứng thứ 4 trên thế giới về diện tích và sản lượng vải (sau Trung Quốc,

ấn Độ, Đài Loan) với diện tích trên 50.000 ha, sản lượng 100.000 tấn tập trung chủ yếu ở các vùng truyền thống như Hải Dương, Bắc Giang, Quảng Ninh, Hà Tây, Lạng Sơn Riêng Lục Ngạn, năm 1998 diện tích trồng vải là

7092 ha trong đó diện tích đang thu hoạch là 4000 ha, sản lượng 5.000 tấn [2] Vải được tiêu thụ chủ yếu dưới dạng quả tươi, tuy nhiên một số lượng nhỏ

được chế biến làm đồ hộp và sấy khô Việc chế biến và bảo quản vải sau thu hoạch chủ yếu do dân làm theo kinh nghiệm cổ truyền, quy mô nhỏ nên tổn thất sau thu hoạch vẫn còn nhiều

Trước năm 1990, vải được tiêu thụ chủ yếu trong nước Một số năm gần

đây, quả vải tươi được xuất khẩu sang thị trường Châu Âu và một số nước Trung Cận Đông, nhưng số lượng chưa nhiều do điều kiện bảo quản liên quan

đến kho lạnh từ khâu thu hoạch đến nơi tiêu thụ

Trang 18

Lượng tiêu thụ vải trong nhân dân mới đạt 0,1 – 0,8 kg/ người/năm, rất thấp so với các nước khác như Thuỵ Điển, Mỹ, úc Tiềm năng thị trường vải ở các thành phố lớn (Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh ) rất cao

Hiện nay nước ta đang trồng phổ biến nhiều loại giống vải khác nhau Theo Trần Thế Tục, có thể chia các giống vải ra như sau:

+ Căn cứ vào thời gian thu hoạch:

- Nhóm chín sớm: Chín vào khoảng đầu tháng 5 đến cuối tháng 5

- Nhóm chính vụ: Chín vào tháng 6

- Nhóm chín muộn: Chín vào khoảng cuối tháng 6 đầu tháng 7

+ Căn cứ vào đặc điểm sinh trưởng và phẩm chất quả:

- Nhóm vải chua: (vải ta, vải tu hú) giống địa phương trồng từ lâu đời bằng hạt nên đặc tính không ổn định Đặc điểm là cây cao lớn, mọc khoẻ, lá

to, phiến lá mỏng, khi già màu lục sẫm Từ cuống tới đài hoa phủ một lớp lông màu đen, quả to hình trái tim (nặng 20 – 50 g), vỏ quả đỏ, hạt to, tỷ lệ cùi thấp (50 – 60%) Loại này thường chín sớm (cuối tháng 4 đầu tháng 5) Các giống vải chua thường ăn có vị chua, nhưng có một số giống có ưu điểm là vỏ quả

đẹp, ăn ngon, quả to (vùng Thanh Oai có giống : Vàng anh, Hoa Hồng, Cùi Dừa…) là những giống đã được chọn lọc nhân tạo

- Nhóm vải nhỡ: (là vải lai giữa vải chua và vải thiều) Đặc điểm là cây

to hoặc trung bình, tán dựng đứng, lá to Chùm hoa có độ dài và lớn trung gian giữa vải chua và vải thiều, có lông màu đen nhưng thưa hơn vải chua Quả vải

có độ lớn vừa, hạt to, phẩm chất kém hơn vải thiều, quả chín giữa tháng 5 đầu tháng 6, khi chín vỏ quả còn xanh, đỉnh quả màu tím đỏ, ăn ngọt, ít chua

- Nhóm vải thiều: Do nhân giống bằng phương pháp vô tính nên vải thiều có đặc tính ổn định, độ đồng đều cao Tán cây hình tròn, bán cầu, lá nhỏ, phiến lá dày, bóng, phản quang, chịu hạn tốt Để ra hoa được cây cần rét hơn

Trang 19

vải chua Chùm và nụ hoa màu trắng, quả nhỏ, hạt nhỏ, chín muộn hơn và có hương vị ngon hơn vải chua Các giống vải thiều gồm vải thiều Thanh Hà và vải thiều Phú Hộ

Hiện nay trong sản xuất còn nhiều giống vải khác nhau nhưng chưa phổ biến bằng hai giống trên như giống Xuân Đỉnh ở phía tây bắc Hà Nội giống vải Thanh Hà nhưng màu quả đỏ đẹp hơn Các giống nhập nội từ Trung Quốc như: Quế Vị quả nhỏ (12 – 22 gam) gai nhọn, rất thơm ngon; giống Hoài Chi quả cũng nhỏ nhưng rất nhiều quả có hạt lưỡi gà; ngoài ra còn có các giống khác: Hắc Điệp, Nhu Mễ Tư, Tam Nguyệt Hồng, Phi Tử Tiếu, Đại Tào…

2.2 Yêu cầu sinh thái của cây vải

Sự ra hoa đậu quả được quyết định bởi đặc tính của giống, song chúng cũng chịu sự chi phối nhiều của yếu tố môi trường Mặc dù quả vải được xếp ở

vị trí cao trong các loại quả nhưng việc phát triển rộng còn bị hạn chế, chủ yếu

do nhu cầu khắt khe về điều kiện khí hậu đặc biệt là nhiệt độ, độ ẩm, ánh

sáng…

2.2.1 Nhiệt độ

Nhiệt độ là một trong những nhân tố ảnh hưởng đến sinh trưởng dinh dưỡng và sinh trưởng sinh thực của cây vải Để trồng vải có hiệu quả kinh tế, nhiệt độ bình quân năm là 21 – 230C, nhiệt độ không khí bình quân tháng 1 là

13 – 170C, nhiệt độ thấp nhất tuyệt đối mùa đông – 10C, tổng tích ôn năm ≥

100C là 7500 – 80000C Tháng 10 đến tháng 2 có nhiệt độ ≥ 100C, tổng tích

ôn là 2500 – 28000C [ 20]

Grofts (1921) cho rằng năng suất cây vải thường cao ở vùng lạnh nhiệt

độ thấp từ – 1,1 đến 4,40C nhưng không có sương muối và có thời gian ngủ nghỉ trước phân hoá mầm hoa Nhiệt độ thấp ức chế việc sản sinh ra hoóc môn sinh trưởng, làm giảm phát lộc và làm tăng sự ra hoa

Trang 20

Để hình thành nhiều hoa và có quả, vải cần có điều kiện thu đông hơi lạnh, dưới 130C khoảng 200 giờ trở lên Song phản ứng với nhiệt độ thấp nhất tuỳ thuộc vào giống Các giống vải chín sớm (giống vải nhỡ) có thể hình thành mầm hoa ở nhiệt độ cao hơn so với các giống vải thiều Thanh Hà, Phú Hộ Hoa vải nở ở nhiệt độ trên 100C, 18 – 240C hoa nở rộ , hạt phấn nảy mầm tốt ở nhiệt độ 25 – 270C [20, 23, 56]

Nhiệt độ còn ảnh hưởng đến hoạt động của bộ rễ và cành lá cây vải Khi nhiệt độ đất từ 10 – 200C, rễ hoạt động mạnh; từ 23 – 260C, rễ hoạt động thích hợp nhất Cành, lá vải hoạt động mạnh từ 24 – 320C Nhiệt độ quá cao hoặc quá thấp đều bất lợi cho mầm cành [ 34]

Vũ Công Hậu (1982) khi nghiên cứu ảnh hưởng của thời tiết đến sự ra hoa kết quả của giống vải thiều Phú Hộ đã nhận xét: Những giống chín sớm,

từ giữa tháng 11 và giữa tháng 12 đã bắt đầu phân hoá mầm hoa còn các giống chín muộn và chính vụ thì phân hoá mầm hoa chậm hơn từ giữa tháng 12 đến tháng 2 Nhìn chung cả tháng 11, 12 có nhiệt độ thấp, không có mưa thì vải hy vọng được mùa

Trần Thế Tục, Vũ Mạnh Hải (1995) cho biết: Điều kiện cần thiết cho vải phân hoá mầm hoa là phải có nhiệt độ thấp trong thời gian nhất định Song

sự phản ứng giữa các giống khác nhau với nhiệt độ là khác nhau, thông thường không quá ngưỡng 160C ban ngày và 120C ban đêm

Trần Thế Tục (1993 – 1996) cành lá vải bắt đầu hoạt động từ 100C trở lên; 240 – 320C là thích hợp nhất Nhiệt độ quá cao hoặc quá thấp đều bất lợi cho sinh trưởng của mầm cành

G.M Menzel và các cộng sự (1996) đã so sánh các yếu tố khí hậu tại các vùng trồng vải ở Trung Quốc, Thái Lan, Hawai, Nam Phi, đã tổng hợp quan hệ khí hậu lý tưởng cho cây vải ở 5 thời kỳ sinh trưởng hàng năm đó là cần khí hậu lạnh, một ít mưa vào thời kỳ ngủ nghỉ, phân hoá hoa 3 tháng

Trang 21

trước khi ra hoa nhiệt độ cần xuống trung bình 150C, lượng mưa dưới 10 mm/tháng

2.2.2 ánh sáng

Vải là cây ưa sáng Tổng số giờ chiếu sáng/năm thích hợp là 1800 giờ trở lên Cây vải cần có ánh sáng quanh năm, nhất là vào tháng 11, 12, nắng càng nhiều càng thuận lợi cho sự hình thành và phân hoá mầm hoa còn tháng

2, 3 có nắng thì quá trình thụ phấn, thụ tinh thuận lợi, làm cho mã quả đẹp, nâng cao chất lượng [ 20, 23]

Theo Trần Thế Tục, cây vải phải được trồng ở nơi có ánh sáng trực xạ Các vùng trồng vải ở nước ta số giờ chiếu sáng trong năm 1400 – 1600 giờ

ánh sáng đầy đủ làm tăng khả năng đồng hoá của cây, xúc tiến quá trình phân hoá mầm hoa, làm tăng màu sắc của vỏ quả và làm tăng phẩm chất quả Nếu không đủ ánh sáng hoặc trồng quá dày sẽ ảnh hưởng tới quá trình quang hợp,

ra hoa, đậu quả của cây [ 34]

Người Trung Quốc nói “ Đương nhật Lệ chi, bối nhật long nhã” tức là nhãn quay lưng lại với mặt trời (ở chỗ râm một chút) cón vải thì phải ở chỗ đối diện với mặt trời (ở nơi ánh sáng toàn phần) Cây vải cần ánh sáng chiếu quanh năm đặc biệt là thời kỳ hình thành phân hoá mầm hoa, hoa nở và quả phát triển [23]

2.2.3 Mưa và độ ẩm

Vải có nguồn gốc ở các vùng có lượng mưa hàng năm trong khoảng

1250 – 1700 mm, lượng mưa thích hợp nhất là 1500 mm mỗi năm [20, 23] Cây vải yêu cầu lượng mưa khác nhau qua các thời kỳ sinh trưởng Những tháng mưa nhiều bọ lá cây vải vẫn xanh tốt, không bị nấm phá hoại Tuy vậy, vải không chịu được úng Vào thời điểm phân hoá mầm hoa, gặp hạn nhẹ sẽ

Trang 22

hoa thuận lợi Nhưng khi chùm hoa phát triển thì cần một lượng mưa nhất

định

Trong thời kỳ nở hoa, mưa nhiều ngày, trời âm u làm đầu nhuỵ bị ướt và

bị thối, không thụ phấn được, tỷ lệ đậu quả kém Thời kỳ quả lớn cần nhiều nước, nhưng khi quả lớn nếu có mưa đột ngột thì sẽ bị nứt quả [9, 34]

Lượng mưa phân bố đều sẽ tốt hơn lượng mưa đủ mà tập trung Nếu mưa không cung cấp đủ nước cho cây thì việc tưới nước bổ sung cho cây là rất cần thiết

Theo Trần Thế Tục cây vải yêu cầu nước qua các thời kỳ:

- Thời kỳ phân hoá mầm hoa: Yêu cầu đất khô, không có mưa để ức chế sinh trưởng dinh dưỡng, thúc đẩy sinh trưởng sinh thực

- Thời kỳ ra hoa: Đất đủ ẩm, gặp hạn thời gian ra hoa chậm nếu hạn nặng thì phải tưới

- Thời kỳ tăng trưởng quả: Cung cấp đủ nước, nếu gặp hạn phải tưới

Để có vườn vải sinh trưởng tốt, ra hoa đậu quả cho năng suất cao, phẩm chất tốt cần phải đảm bảo đúng và đủ chế độ nước cho vải từng thời kỳ

2.2.4 Yêu cầu về đất

Theo các nhà nghiên cứu của Trung Quốc, cây vải có thể trồng trên nhiều loại đất, kể cả đất chua, độ phì nhiêu kém vải vẫn sinh trưởng và phát triển tốt vì vải có thể cộng sinh với một loại vi khuẩn rễ (Mycorhize) sống ở

đất chua, gọi là "khuẩn căn" có thể phân giải dinh dưỡng khoáng trong đất để

rễ hút nuôi cây [21]

Cây vải thuộc loại không kén đất nhưng thích hợp nhất là đất phù sa có tầng dầy, chua nhẹ (pH: 6 – 6,5) Vải khi trồng trên đất bồi sông suối, đất ven

đê, đất đỏ vàng vùng đồi núi, đều có thể sinh trưởng được [20, 23] Đất ruộng

Trang 23

trước đây trồng lúa ở đồng bằng Bắc Bộ có độ màu mỡ khá nhưng mực nước ngầm cao nên phải tiến hành trồng vải trên luống như Thanh Hà - Hải Dương,

Đông Hưng – Thái Bình

Bộ rễ của cây vải to có thể ăn sâu và rộng với diện tích gấp 1 – 2 lần tán,

có sức hút nước rất mạnh, nhưng phần lớn rễ tập trung ở tần đất 0 – 50 cm [ 23]

Theo Grofts (1921) cây vải phát triển tốt nhất trên luống đất trũng, ở đó

rễ của chúng luôn đảm bảo để hút nước

Trần Thế Tục [ 29], ở nước ta cây vải có thể trồng được trên nhiều loại

đất bãi ven sông, đất ruộng đến đất gò đồi

Theo Trần Thế tục và Vũ Thiện Chính [ 35], mức độ thích nghi của cây vải thiều đối với đất đại, thời tiết như sau:

Mức độ thích nghi Chỉ tiêu

Trang 24

2.2.5 Gió

Gió có tác dụng điều hoà nhiệt độ không khí, nâng cao hiệu quả quang hợp, giảm bớt sâu bệnh Mùa hoa ngày nắng, ẩm độ thấp, gió có tác dụng hỗ trợ cho truyền phấn thụ tinh Mùa hoa kỵ gió tây bắc và gió nam qua đêm Gió tây dễ làm cho đầu nhị khô ảnh hưởng thụ phấn; gió nam qua đêm oi, nóng

ẩm ướt dễ làm cho hoa héo dẫn đến rụng hoa Gió mạnh và bão không có lợi cho sinh trưởng và ảnh hưởng đến quá trình thụ phấn, thụ tinh, tổn thương bộ

rễ, ảnh hưởng đến sự hút nước và dinh dưỡng khoáng [ 8, 20]

Yêu cầu chung: Thời kỳ sinh trưởng dinh dưỡng cần ánh sáng đầy đủ, nhiệt độ cao, mưa nhiều; thời gian phân hoá mầm hoa cần nhiệt độ thấp và khô; thời gian quả tăng trưởng cần thời tiết nắng ấm, cách mấy ngày có một trận mưa là tốt [ 20]

2.3 Yêu cầu về dinh dưỡng của cây vải

Phân bón là một trong những yếu tố rất quan trọng để nâng cao năng suất, phẩm chất, làm tăng khả năng sinh trưởng và phát triển của cây vải

+ Đạm là yếu tố cơ bản của quá trình đồng hoá cacbon, kích thích sự phát triển của bộ rễ và hút các yếu tố dinh dưỡng khác Đạm có tác dụng nâng cao năng suất và phẩm chất quả Bón đủ đạm cành quả phát triển nhiều, là cơ

sở để đạt năng suất cao Nhưng nếu bón thừa đạm sẽ làm cho cánh lá phát triển mạnh, ảnh hưởng đến phân hoá mầm hoa, gây nên rụng hoa, rụng quả, sản lượng thấp và phẩm chất quả kém, sức chống chịu sâu bệnh giảm

Thiếu đạm: lộc non không phát sinh đúng lúc hoặc ra ít, lá nhỏ, màu vàng, mép lá hơi cong, lá mới và lá già dễ rụng, rễ ít, sinh trưởng kém Cây vải tơ bón nhiều đạm thì sinh trưởng quá mạnh rất khó ra hoa Cây vải già bón tăng tỷ lệ đạm sẽ kéo dài thời gian cỗi [ 20]

Để khắc phục cần bón nhiều phân hữu cơ (bón lót) và bổ sung các

Trang 25

phân đạm hoá học vào các giai đoạn cần cho cây như lúc ra cành lộc, ra hoa kết quả, đợt lộc cành mùa thu,… có thể dùng urê 0,3 – 0,5% để phun lên lá

+ Lân thúc đẩy quá trình phân hoá mầm hoa, sự phát dục của quả, sự thnàh thục của hạt, thúc đẩy ra rễ đặc biệt là rễ bên và lông hút, tăng cường khả năng chống hạn, rét cho cây, nâng cao phẩm chất quả, hạn chế tác hại của bón thừa đạm

Thiếu lân: Lá vải to hơn, màu xanh tối, mức độ nặng thì chót lá và mép lá màu nâu, viền lá có đốm khô và loang ra gân chính [ 20] Dùng phân hữu cơ bón cho cây, đất đồi chua cần bón vôi trước khi trồng, mỗi hố 1 kg vôi bột, có thể dùng 2 – 3% supe lân hay 0,3% Biphotphat kali (KH2PO4) hoà với nước

để phun lên lá

+ Kali trong các mô thực vật tồn tại dưới dạng ion ngậm nước, làm cho cây vững chắc, chống đổ, năng suất cao, chống rét tốt, làm tăng khả năng hút nước của bộ rễ, điều khiển hoạt động đóng mở khí khổng giúp cho cây chống hạn, vận chuyển các sản phẩm quang hợp đến các tổ chức của cây thuận lợi, giúp cho quả nhanh thành thục, tăng khả năng cất giữ tăng khả năng bảo vệ của vỏ quả [ 46]

Thiếu kali: kích cỡ lá gần như bình thường, màu hơi nhạt, chót lá màu trắng xám, khô cháy, mép lá màu nâu dần dần mở rộng từ rìa lá nhỏ sang gốc lá nhỏ, rễ ít [ 20]

Khác phục: Bón phân hữu cơ, không dùng đơn độc phân đạm hoá học

mà phải phối hợp với kali, dùng tro bếp, cần thiết thì dùng nước tro bếp 2 – 3% để phun lên lá

Canxi là một bộ phận cấu tạo quan trọng của vách tế bào

Thiếu canxi thì lá nhỏ lại, mép lá có những đốm khô làm cho mép lá uốn cong, rễ sinh trưởng kém và ít, thậm chí lộc non sau khi sinh trưởng thì

Trang 26

rụng lá [ 20]

Magiê là nguyên tố tạo thành của diệp lục tố, thúc đẩy quả tăng trưởng, nâng cao chất lượng Thiếu magiê thì lá nhỏ lại, mép lá có những đốm khô nhỏ gần như phân bố song song với nhau, nếu thiếu nhiều thì đốm khô loang

Thời gian và số lần bón phụ thuộc vào điều kiện đất đai chủ yếu là tính chất vật lý, Đất có kết cấu trung bình đến nặng (đất thịt pha sét, v.v ) thường bón hai lần: Bón vào lúc xuất hiện mầm hoa và sau khi đậu quả, lượng bón cho mỗi lần là 50% tổng số phân cả năm Nếu đất nhẹ như đất cát pha, đất thịt nhẹ khả năng hấp thụ và giữ phân kém hơn nên bón 3 lần vào lúc xuất hiện mầm hoa, đậu quả và sau thu hoạch quả 2 tuần Mỗi lần bón 1/3 tổng số lượng cả năm [ 34]

Theo Trần Thế Tục cây vải cần nhiều đạm tuy nhiên sử dụng phải chú ý

đến liều lượng và phương pháp bón Việc cung cấp nhiều đạm làm cây sinh trưởng khoẻ ảnh hưởng đến phân hoá mầm hoa Đối với cây vải đang ra quả và cho năng suất cao phân bón nhằm mục đích bổ sung dinh dưỡng tiêu hao, làm cho cành thu thêm sung sức để năm sau trở thành cành mẹ, xúc tiến quá trình phân hoá mầm hoa Bón phân vào các thời kỳ:

- Bón trước lúc ra hoa: Nhằm xúc tiến quá trình phân hoá mầm hoa, bón trước sau tiểu hàn đến trước và sau đại hàn Lượng N và K2O là 25% lượng bón cả năm, P2O5 bón 1/3 lượng cả năm

Trang 27

- Bón thúc quả: Sau khi ra hoa đến trước khi rụng quả sinh lý đợt 2 bổ sung dinh dưỡng kịp thời giúp quả phát triển tốt K2O được bón 50% lượng bón cả năm, còn N được bón 25%, P2O5 1/3 lượng bón cả năm

- Bón sau thu hoạch: Năm được mùa lấy đi nhiều dinh dưỡng trong

đất Để phục hồi sinh trưởng cho cây, lần bón này rất quan trọng và việc bón

đạm là chủ yếu Lượng bón N là 50%, P2O5 1/3, K2O 25% lượng bón cả năm

Bên cạnh sử dụng phân bón vào đất thì sử dụng phân bón lá cho cây để

bổ sung dinh dưỡng kịp thời cho cây và cung cấp đầy đủ các nguyên tố vi lượng cũng rất cần thiết Khi dùng một lượng nhỏ nếu bón vào đất ít hiệu quả hơn so với phun lên lá vì lượng phân được hấp thụ nhanh và tiết kiệm hơn

Các nguyên tố vi lượng chỉ chiếm khoảng 0,05% chất sống của cây nhưng lại đóng vai trò sinh lý rất quan trọng Trong các nguyên tố vi lượng quan trọng nhất là B, Mn, Zn, Mo, Cu… chúng chứa trong cây chỉ bằng phần nghìn, thậm chí phần triệu

Nhiều kim loại, trong đó có các nguyên tố vi lượng cần cho cây (B, Mn,

Zn, Cu, Fe, Mo, Co) có biểu hiện rất rõ ràng khả năng tạo thành các phức chất với các chất hữu cơ khác nhau Bởi vậy có cơ sở để kết luận rằng các nguyên

tố vi lượng ở trong tế bào thực vật chủ yếu nằm trong thành phần của các phức chất hữu cơ [ 24]

Các nguyên tố vi lượng đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển của thực vật, trước hết là giai đoạn xuân hoá, đặc biệt ở những cây dài ngày

Cũng có nhiều tác giả xác định rằng, một số nguyên tố vi lượng cũng có tác động tích cực đến tính chống chịu của cây đối với các tác nhân bất lợi của môi trường như hạn hán, nhiệt độ thấp, nhiệt độ cao của đất…

Trang 28

Theo Trần Thế Tục, các loại phân bón lá và nồng độ thường dùng cho cây vải là: Komix, Antonic, Pomior, Master – Gro, SF900

Khi phun vi lượng phải chú ý lượng sử dụng và nồng độ để tránh gây ra độc hại Với cây sinh trưởng khoẻ, nồng độ phun cao hơn cây sinh trưởng yếu, vào mùa xuân hoặc sau mưa phùn, nồng độ cao hơn mùa hè và ngày khô ráo [20]

Vai trò của Bo: Theo Trần Thế Tục [30] Bo đóng vai trò quan trọng trong sự hình thành phấn hoa, tăng cường tổng hợp và vận chuyển hydrat cacbon, các chất sinh trưởng và axit ascobic từ lá đến cơ quan tạo quả Vải thiếu Bo phấn hoa không hình thành được, rụng hoa, không tạo được hạt phấn,

sự trao đổi hydrat cacbon và protein giảm Đường và tinh bột bị tích luỹ ở lá,

Trang 29

dụng chống rụng quả và làm cho cây ít hình thành tầng rời

- Bo: dùng 50ppm axit boric phun cho vải làm tăng tỷ lệ đậu quả lên 2,4 – 4 lần so với đối chứng Khi hoa vải tàn, nhằm bổ sung kịp thời dinh dưỡng cho cây để bớt rụng quả sinh lý, có thể phun 0,2% ure thêm 0,1% sunfat magiê

ở cây có quả nhiều hay ít, có thể phun 2 – 3 lần vào buổi sáng hoặc chiều mát, phun mặt dưới lá để cây hấp thụ vì mặt dưới có nhiều khí khổng [29]

Ngoài những loại phân bón lá còn có thể sử dụng các chất điều tiết sinh trưởng để điều khiển sự sinh trưởng phát triển của cây vải như: NAA; 2,4D;

GA3; ethrel

2.4 Tình hình nghiên cứu cây vải trong và ngoài nước

2.4.1 Nghiên cứu về sinh thái cây vải

Theo Trần Thế Tục [ 30] thì thời tiết thuận lợi cho việc ra hoa, thụ phấn, thụ tinh của cây vải là trong thời kỳ ra hoa có nhiều ngày nắng ráo, sau đó lại

có mưa rào, rồi trời lại quang

Vũ Công Hậu [ 8] khi nghiên cứu ảnh hưởng của thời tiết đến sự ra hoa, kết quả của vải thiều Phú Hộ cũng có nhận xét: Tháng 11 và 12 nếu nhiệt độ thấp, không mưa, nhiều nắng thì cây vải có khả năng được mùa

Nhiều nghiên cứu cho rằng thời tiết khí hậu tháng 1 có tương quan chặt chẽ đến năng suất vải Trong tháng 1, nhiệt độ thấp (11- 150C), trời quang từ

15 – 22 ngày trở lên, thời gian chiếu sáng 117 giờ/tháng, số ngày mưa ít (1- 10 ngày), lượng mưa ít (dưới 50 mm), độ ẩm không khí thấp (< 73%) thì vải sẽ

được mùa và ngược lại thì mất mùa [ 9]

Theo nghiên cứu của trường Đại học Hoa Nam [ 23], muốn được mùa vải phải qua hai cửa ải: ra được hoa và đậu được quả Nếu thời kỳ hình thành hoa (tháng 11, 12) vải gặp trời lạnh và khô, hoa ra thoát được Ngược lại nếu

Trang 30

tháng 2, 3, khi nở hoa, hình thành quả, nếu trời tốt, không có gió bấc mưa phùn thì sự thụ phấn thụ tinh thuận lợi, quả đậu nhiều

Theo Young [ 23] khi nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ đến việc ra hoa của vải nhận thấy: Để hình thành được nhiều hoa và có quả cần phải có

điều kiện thu đông hơi lạnh với nhiệt độ dưới 7,20C trong khoảng 200 giờ

Theo Sauco [ 52], điều kiện sinh thái đảm bảo cho việc trồng vải phải là:

- Khi quả chín thì cần ẩm độ và nhiệt độ vừa phải

- Đất sâu, chua, thoát nước tốt, không mặn, kết cấu và độ phì tuỳ theo giống vải

- Đất có nhiều mùn ở thời gian mới trồng

2.4.2 Nghiên cứu về kỹ thuật trồng và chăm sóc vải

Theo Vũ Công Hậu [ 9] thì cây vải có nhu cầu dinh dưỡng cao nhất là

đạm và kali Hàm lượng các chất dinh dưỡng trong lá vải phản ánh tình hình dinh dưỡng của cây Do vậy, người ta thường phân tích thành phần dinh dưỡng trong lá vải làm căn cứ để có biện pháp bổ sung dinh dưỡng cho cây Việc phân tích lá vải cho thấy tỷ lệ N : P2O5 : K2O : CaO : MgO ở trong lá 7,8 : 1 : 4,6 : 2,3 : 2,5 Như vậy cây vải cần nhiều đạm và kali

Bón phân cho vải tuỳ thuộc vào điều kiện đất đai, tuổi cây và tình trạng sinh trưởng thể hiện qua số đo đường kính tán cây để bón với lượng phân thích

Trang 31

hợp Bón phân cho vải thường vào các thời kỳ: trước lúc ra hoa, bón thúc quả

và sau thu hoạch quả Có thể áp dụng phương pháp bón phân vào đất hoặc bón qua lá [ 30]

Tỉa cành, tạo hình là biện pháp kỹ thuật giúp cho cây vải có được bộ khung cân đối, tán hợp lý, tăng khả năng quang hợp, chống chịu gió bão, giảm bớt sâu bệnh, chóng ra hoa kết quả, cho năng suất cao và có chu kỳ kinh tế dài [30]

Một số công trình nghiên cứu cho thấy khoanh cành có tác dụng thúc

đẩy ra hoa đến 4 năm sau khi thu hoạch miễn là sức khoẻ cây được duy trì tốt

ảnh hưởng chính của quá trình khoanh vỏ cành là ức chế quá trình sinh trưởng dinh dưỡng, làm tăng tỷ lệ C/N, do đó khả năng ra hoa sẽ tốt hơn nghĩa là có mối quan hệ chặt chẽ giữa ức chế sinh trưởng trong mùa đông và sự ra hoa trong mùa xuân của cây vải [58]

Theo các nhà nghiên cứu trường Đại học Nông nghiệp Hoa Nam Trung Quốc [ 23], khoanh cành vải hình xoắn ốc có tác dụng:

- Nâng cao sự tích luỹ chất hữu cơ ở bộ phận trên mặt đất và chất lượng cành quả

Brial Cull cho rằng khoanh cành sẽ làm ngừng di chuyển cacbon hydrat

từ lá tới các bộ phận của cây, kết quả là tác động tới sự ngủ nghỉ và kích thích

Trang 32

sự xuất hiện chồi hoa [48]

ở nước ta biện pháp khoanh cành cũng được áp dụng để khống chế lộc

đông nhưng chỉ áp dụng ở những cây khoẻ, điều kiện chăm sóc và nước đầy

đủ, không áp dụng đối với cây già yếu

ở Florida người ta trồng vải với khoảng cách 5 x 8 m sau đó loại bỏ đi một nửa số cây Các cây này sẽ được sử dụng để làm vật liệu nhân giống [ 49]

ở Trung Quốc, vùng trồng vải truyền thống (Quảng Tây, Phúc Kiến, Quảng Châu) có tập quán bón phân cho vải bằng nước phân chuồng [53] Còn kinh nghiệm bón phân cho vải ở tỉnh Quảng Đông đối với vải chính vụ và chín muộn, với cây từ 30 tuổi trở lên, cứ thu 100 kg vải tươi thì bón 3 kg sunfat

đạm, 2,3 kg supe lân, và 1,5 kg kali clorua [ 52]

ở ấn Độ, ngoài việc bón phân hữu cơ người ta còn kết hợp bón phân vô cơ theo độ tuổi của cây Cây 10 tuổi người ta bón 60 kg phân hữu cơ; 3,5 kg

đạm; 2,25 kg lân và 0,6 kg kali [ 47]

ở Florida phân N: P:K bón cho vải với tỷ lệ 1: 1: 1 hoặc 2: 1: 1 được coi là thích hợp [ 49] Nhưng ở vùng Queenslan [ 50], lượng phân bón cho 1 cây vải được tính:

- Năm 1: 30 g ure + 30 g hỗn hợp 15-4-11, 3 tháng bón 1 lần

- Năm 2: 40 g ure/tháng + 40 g hỗn hợp 15-4-11, 3 tháng bón 1 lần

- Năm 4 – 5: Bón 4 tuần trước thu hoạch và 2 tuần sau thu hoạch với

150 g ure + 300 g supe lân + 150 – 200 g kali sunfat 1 lần

- Năm 6 – 15: Lượng phân hàng năm tăng 20 – 30% đến năn thứ 15

đạt 1200g ure + 1200 g supe lân + 1200 g kali clorua

ở Israel người ta sử dụng dạng phân bón đã hoà tan trong nước (dung

Trang 33

dịch dinh dưỡng) với tỷ lệ N:P:K nguyên chất 12: 2: 8 [ 51]

Về tưới nước cho vải, ở Israel người ta sử dụng hai kiểu tưới: Tưới nhỏ giọt và tưới theo đầu xoay ở thời kỳ cây còn nhỏ (1 năm tuổi), tưới 4 – 7 lít nước/cây/ngày, mỗi tuần tưới 2 – 3 lần tuỳ theo điều kiện cụ thể ở thời kỳ cây mang quả, tưới 40 – 80 lít nước/cây/ngày, 2 – 3 lần 1 tuần tuỳ kích thước cây và cấu tượng đất [ 51]

2.4.3 Nghiên cứu về sử dụng chất điều hoà sinh trưởng cho cây vải

Vai trò sinh lý của các chất điều hoà sinh trưởng đối với cây trồng đã

được các nhà hoa học nghiên cứu Nó có vai trò hết sức quan trọng trong đời sống của cây vì nó kiểm tra hầu hết các quá trình sinh trưởng phát triển: quá trình ra hoa, thụ phấn thụ tinh, hình thành quả, hạt, nẩymầm, quá trình lớn lên của cây, sự sinh trưởng, phát triển của các tế bào Các chất điều hoà sinh trưởng do cây tạo ra gọi là các phytohocmon Các nhà khoa học đã tổng hợp

được hàng loạt các chất có bản chất hoá học khác nhau nhưng có hoạt chất giống photohocmon để điều khiển sự sinh trưởng và phát triển của cây gọi là chất điều hoà sinh trưởng nhân tạo

Sau thụ phấn, thụ tinh là quá trình đậu quả Tuy nhiên sự đậu quả phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố nội tại và ngoại cảnh Hàm lượng auxin và các chất kích thích sinh trưởng thấp là nguyên nhân dẫn đến sự rụng sau khi hoa

nở Để tăng cường quá trình đậu quả, người ta bổ sung auxin và gibberellin ngoại sinh cho hoa và quả non Auxin và gibberellin là nguồn bổ sung thêm cho nguồn phytohocmon có trong phôi hạt vốn không đủ Chính vì vậy mà sự sinh trưởng của quả được tăng lên và không rụng ngay được

Auxin có vai trò quan trọng trong quá trình sinh trưởng phát triển của cây đặc biệt là quá trình đậu quả và sự sinh trưởng của quả Nó được sử dụng khá rộng rãi trong sản xuất nhất là với ngành ăn quả

Trang 34

Auxin chống lại sự rụng lá, hoa, quả vì chúng ngăn cản sự hình thành tầng rời Sự cân bằng giữa auxin và các chất ức chế sinh trưởng có ý nghĩa quyết định trong việc điều chỉnh sự rụng lá, hoa, quả Sự rụng là do sự hình thành tầng rời ở cuống lá, hoa, quả Các chất ức chế sinh trưởng thì cảm ứng

sự rụng, còn auxin thì kìm hãm sự rụng Chính vì vậy xử lý auxin cho cây và quả non có thể làm cho quả non bớt rụng như phun α - NAA nồng độ 10 – 20 ppm cho lá hoặc quả non có thể làm cho lá và quả non tồn tại lâu hơn trên cây

Năm 1993, Laibach đã chỉ ra rằng, có một số chất chứa trong dịch chiết hạt phấn phong lan có thể kìm hãm sự rụng Chất đó là IAA và nó được xem như là nhân tố quan trọng kiểm tra sự rụng của cơ quan

Nghiên cứu hàm lượng auxin liên quan đến sự hình thành tầng rời đã chỉ ra rằng, lá non có hàm lượng auxin cao hơn lá già, bản lá có hàm lượng auxin cao hơn cuống lá Khi hàm lượng auxin cao sẽ ngăn chặn sự hình thành tầng rời Vì vậy, nếu xử lý auxin sẽ làm tăng hàm lượng auxin trong lá có thể ngăn gừa được sự rụng

ở Hawai nhiều cánh đồng dứa được phun dung dịch muối natri của NAA ở nồng độ 25 ppm làm cho dứa ra hoa sớm hơn 2 – 3 tuần Auxin kích thích sự hình thành quả, sự lớn lên của quả và tạo nên quả không hạt Một số loại cây trồng như cà chua, bầu bí, cam chanh… nồng độ α - NAA 10 – 20 ppm, 2,4D nồng độ 5 – 10 ppm Auxin kìm hãm sự rụng của lá, hoa và quả Nồng độ sử dụng tuỳ thuộc vào từng loại quả Ví dụ như đối với lê nồng độ α

- NAA là 10 ppm, với táo nồng độ là 20 ppm [ 25, 27]

Malik (2000), đã bổ sung thêm α- NAA với nồng độ 10 – 20 ppm để làm giảm sự rụng trái táo Đối với giống xoài Langra và Ewais, phun α-NAA ở nồng độ 40 ppm vào tháng 4 làm giảm có ý nghĩa sự rụng quả so với chứng (Rawash và et al , 1983) Sử dụng α-NAA 40 ppm hay phun kết hợp

Trang 35

với GA3 40 ppm đã làm giảm sự rụng quả, gia tăng có ý nghĩa số quả khi thu hoạch so với đối chứng, làm cho năng suất của giống xoài Tommy Atkins ở Nam Phi (Oosthuyse, 1993)

Theo Bùi Thị Mỹ Hồng, Trần Minh Trí, Nguyễn Minh Châu [ 42] khi phun α-NAA riêng lẻ ở nồng độ 20, 40 ppm hay phun kết hợp với GA3 20 ppm bước đầu cho thấy có tác dụng làm hạn chế phần lớn sự rụng của quả nhãn xuồng cơm vàng, duy trì được số quả/chùm cao khi thu hoạch

Theo Nguyễn Văn Hiền, Vũ Thị Hiền [ 44], phun 100mg/l α - NAA tăng tỷ lệ đậu quả và năng suất đáng kể so với đối chứng

Đối với cây ăn quả GA3 có tác dụng đối với sự sinh trưởng của cây con, thúc đẩy các lộc cành phát triển, tăng tỷ lệ đậu quả, làm quả nhanh lớn, giúp cho quả chín muộn, ức chế quá trình phân hoá mầm hoa Các giống cây ăn quả khác nhau có phản ứng không giống nhau đối với GA3 Khi phun GA3 cho vải ở thời kỳ hoa cái và thời kỳ quả non nồng độ 50 ppm có tác dụng tăng tỷ lệ

đậu quả và thúc quả lớn Nồng độ 50 – 100ppm (phun 1 lần) khi hoa nở nâng cao tỷ lệ đậu quả, tăng trọng lượng quả Phun vào thời kỳ quả lớn với nồng độ

25 – 50 ppm có tác dụng thúc quả lớn Nồng độ cao 250 – 300 ppm lúc hoa nở

và quả non cũng có tác dụng bảo vệ quả và thúc quả lớn (Tổ hợp tác khoa học

kỹ thuật Quảng Đông, 1997) [ 23]

GA3 có tác dụng làm cho quả vải lớn nhanh, quả to, ít rụng Nồng độ

GA3 thường dùng là 25 – 50 – 100 ppm, thậm chí có nơi dùng 250 – 300 ppm

Thời kỳ phun: sau khi hoa nở rộ hoặc thời kỳ quả non

Tuy sử dụng GA3 có tác dụng tăng đậu quả, kích thích cho quả vải lớn nhanh, quả to… song cần khảo nghiệm đối với từng giống cụ thể, ở các địa phương khác nhau Ngoài ra cần nắm vững nồng độ, thời kỳ phun, liều lượng

và kỹ thuật phun thích hợp, trong đó nồng độ và thời kỳ phun có tác dụng làm

Trang 36

tăng tỷ lệ đậu quả và quả phát triển tốt Khi có tác dụng chắc chắn mới áp dụng vào sản xuất [ 32]

Theo Trần Thế Tục, phun các nguyên tố vi lượng như sunfat kẽm (0,5 – 1,0%), axit boric (50 ppm), molipdat amon (5 ppm) cho cây để giữ hoa quả tốt Có thể dùng chất điều tiết sinh trưởng để phun cho vải nhằm giảm tỷ

lệ rụng quả Phun chất kích thích sinh trưởng không những thúc đẩy quá trình sinh trưởng phát triển của cây, mà còn làm giảm việc hình thành tầng rời, bảo

đảm cho vận chuyển các chất dinh dưỡng vào nuôi quả, do đó giảm được tỷ lệ rụng quả Có thể dùng 4-CPA (hay Rabkon = Pentachlorophenyl axetat) nồng

độ 20 – 30 ppm hoặc GA3 nồng độ 25 – 50 – 100 ppm sau lúc hoa nở rộ hoặc thời kỳ quả non có tác dụng làm tăng tỷ lệ đậu quả, giảm tỷ lệ rụng quả non và kích thích cho quả lớn nhanh [ 30]

Cũng theo Trần Thế Tục [ 29], để tăng tỷ lệ đậu hoa, đậu quả cần phun các chất dinh dưỡng cho vải lúc hoa tàn với lý do sau:

- Mùa hoa nở cây huy động nhiều dinh dưỡng, sau khi hoa tàn là lúc cây khủng hoảng về mặt dinh dưỡng bởi vậy cần bổ sung kịp thời

- Lúc này ở dưới đất, bộ rễ hoạt động yếu vì bị ức chế do hoa nở rộ, đất thiếu nước, nêu bón phân vào đất, rễ cũng chưa có điều kiện hấp để thu

Phun lên lá lúc này nhằm bổ sung kịp thời dinh dưỡng cho cây giảm bớt rụng quả sinh lý

Theo Trần Thế Tục, biện pháp làm tăng tỷ lệ đậu hoa, đậu quả của nhãn, vải tốt nhất là phun thuốc đậu quả đó là các chất kích thích sinh trưởng như NAA, GA3, axit boric, CuSO4 Có thể dùng riêng rẽ hay dùng hỗn hợp giữa các nguyên tố vi lượng với các chất điều hoà sinh trưởng Xử lý hoá chất vào thời điểm hoa bắt đầu nở và khi hoa nở rộ có tác dụng làm tăng tỷ lệ đậu quả, giảm tỷ lệ rụng quả non [ 29]

Trang 37

Phạm Minh Cương [ 4] khi phun một số nguyên tố vi lượng và chất điều hoà sinh trưởng đã cho kết luận: Bo, kẽm, GA3, IAA có tác dụng tăng tỷ lệ

đậu quả, tăng khối lượng quả và hàm lượng vitamin C trong quả vải

Vũ Mạnh Hải và cộng sự (1986) cho biết: phun ure kép 1%, α-NAA 20 ppm cho vải có tác dụng làm giảm tỷ lệ rụng quả [ 7]

Cũng theo Vũ Mạnh Hải (1988), khi bổ sung dinh dưỡng, phun chất

điều hoà sinh trưởng và tác động cơ giới chưa tạo tiền đề cho sự ra hoa, nhưng

có ảnh hưởng đến động thái dinh dưỡng cành lá theo chiều hướng có lợi [ 6]

Viện nghiên cứu Rau Quả đã thành công trong việc dùng chế phẩm đạm ure – H3BO3 làm tăng tỷ lệ đậu quả (11,01% so với đối chứng), tăng khối lượng quả (15,78% so với đối chứng) và tăng hàm lượng vitamin C trong quả vải [ 1]

Nhiều thí nghiệm cho thấy có thể dùng ethrel làm cho quả chín sớm bằng cách phun dung dịch có nồng độ 100 ppm trước thu hoạch 10 – 20 ngày thì sẽ thu hái sớm hơn 4 – 5 ngày Hoặc dùng B9 nồng độ 1200 – 2000 ppm phun cho vải sẽ cho thu hoạch chậm hơn bình thường 5 – 7 ngày [ 30]

Theo Hoàng Minh Tấn, Nguyễn Quang Thạch [ 25], ethrel giúp cho cây tăng cường tổng hợp antoxyanin làm cho mã quả đẹp hơn và tăng hàm lượng

đường trong quả

Theo Nguyễn Duy Lâm, Nguyễn Kim Vũ [ 12], có thể sử dụng một số chất điều hoà sinh trưởng trước thu hoạch như α-NAA để làm tăng chất lượng quả, tăng trọng lượng cùi quả, giảm tỷ lệ hạt và vỏ Hoặc dùng ethephon kích thích quả chín sớm để trải dài thời vụ thu quả

Theo Nguyễn Khắc Thái Sơn [ 22], phun GA3 cho vải thiều Thanh Hà làm tăng tỷ lệ đậu quả, tăng năng suất và phẩm cấp quả vải nhưng không làm

Trang 38

Phạm Minh Cương, Nguyễn Thị Thanh [ 5], sử dụng một số chất điều tiết sinh trưởng như GA3, IAA, Ethrel, và một số nguyên tố vi lượng cho vải

đều làm cho vải ra hoa đậu quả tốt hơn, tăng năng suất rõ rệt và không ảnh hưởng nhiều đến chất lượng quả vải

Phạm Minh Cương [ 4] khi sử dụng các chất điều hòa sinh trưởng: Antonik 1/3000, IAA 20 ppm, GA3 50 ppm, hỗn hợp NAA 20 ppm + 2,4D 10 ppm phun cho vải thiều Phú Hộ và vải thiều Thanh Hà trên đồi Phú Hộ làm tăng tỷ lệ đậu quả ở các thời kỳ 15 ngày, 40 ngày cao hơn công thức đối chứng Phun chất điều hoà sinh trưởng lên vải thiều Phú Hộ có xu hướng làm tăng chất lượng quả như tăng độ Brix, hàm lượng đường tổng số nhưng làm giảm hàm lượng axit

Bộ môn Sinh lý thực vật - Trường đại học Nông nghiệp I đã nghiên cứu

và tạo được chế phẩm đậu hoa, đậu quả cho nhiều loại cây trồng và sử dụng có hiệu quả trong sản xuất Chế phẩm dạng bột α - NAA dưới dạng hoà tan được trong nước là nguồn auxin bổ sung cho nguồn nội sinh , một số nguyên tố vi lượng cần thiết như B, Cu và còn có thêm một lượng nhỏ nguyên tố đa lượng (N, P, K) Phun chế phẩm này đã làm tăng quá trình đậu quả, hiệu quả này

được tăng lên khi cung cấp đủ nước và các chất dinh dưỡng cho cây trồng [27]

A.Prasad và O.S.Jauhari (1963), V Survnarayana và R.C Dac (1971), S.Veera và R.C Dac (1972, 1973), U.S Singh và R.K Lal (1980) [ 62] cho biết: phun Zn và một số chất điều hoà sinh trưởng như 2,4-D, NAA, GA3 và 2,4,5-T có thể làm tăng tỷ lệ đậu quả, chống nứt quả, tăng khối lượng và chất lượng quả vải

Theo S.V Galan, 1989 [ 52], sự rụng hoa quả thường do hạn, thiếu dinh dưỡng, đặc biệt thiếu N, K, Ca, đôi khi thiếu P Phun các hoóc môn sinh trưởng như IAA 20 mg/l trước khi ra hoa sẽ làm tăng tỷ lệ đậu quả

Trang 39

Singh (1969), phun GA3 nồng độ 25 và 50 mg/l vào tuần thứ 4 sau khi quả đậu làm tăng kích thước quả vải

Theo R.C Das (1971), những cụm hoa riêng biệt trên cây vải trưởng thành được phun một trong các chất điều hoà sinh trưởng ở nồng độ 10 – 40 mg/l vào 4 giai đoạn sinh trưởng khác nhau đã cho quả to và thịt quả nhiều hơn đối chứng, ở nồng độ 40 mg/l có hiệu quả tốt nhất [ 59]

Theo Thụ Chương, Nghệ Diệu Nguyên [ 20], đối với giống vải chín sớm, chín trung bình khi cành hoa dài 10 cm phun 200 - 300 ppm ethrel tăng

tỷ lệ đậu quả

H.S Singh và R.K.Lal (1980) cho rằng việc sử dụng chất điều hoà sinh trưởng nhìn chung có ảnh hưởng tốt đến đậu quả, khối lượng quả vải:

- Tăng khối lượng quả: GA3 100 mg/l

- Tăng đậu quả: IAA 20 mg/l

- Duy trì quả (chống rụng quả): GA3 50 mg/l

ở Israel người ta sử dụng một số hoá chất để kích thích sự ra hoa như Paclobutrazol hoặc “ Mgic” nồng độ 0,7% kết hợp với ureaphotphat nồng độ 1,5 phun vào lúc mầm sinh trưởng đã thuần thục (dài 15 cm) với liều lượng

500 – 700 lít 1 ha tuỳ theo tuổi và kích thước cây Những hoá chất này có khả năng làm chậm quá trình sinh trưởng của cây và làm cho cây có thể ra hoa từ lúc còn trẻ (từ 4 tuổi) [ 26]

ở Hawai [25] để kích thích ra hoa của vải người ta phun 4 lần Na-NAA

ở nồng độ 100 ppm vào tháng 11, 12 Kết quả là làm tăng 20 lần số hoa nở Còn ở Florida [49] phun Na-NAA đã kìm hãm được sự đâm lộc, ra lá

ở ấn Độ [55], phun NAA 20 ppm và 2,4D 10 ppm sau thời kỳ đậu quả

6 tuần và trước thu hoạch quả 2 tuần cho vải sẽ làm tăng đậu quả và giảm bớt

Trang 40

rụng quả Phun 100 ppm GA3 hay 10 ppm 2,4,5T và 250 ppm clormequat khi quả đã lớn, hoặc phun IAA 20 ppm làm quả nặng hơn nhưng làm giảm hàm lượng đường ở quả

Theo kết quả nghiên cứu của Học viện Nông nghiệp Dholi ấn Độ (1995) [20], trước khi vải chín 3 tuần, dùng GA3, B9 và ure phun lên chùm quả vải và các lá lân cận có tác dụng kéo dài thời gian chín của quả rõ nhất Phun dung dịch B9 thu hoạch chậm lại 11 ngày, còn ure chậm lại 12 ngày

Ngày đăng: 28/11/2013, 10:04

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 4.2: ảnh hưởng xử lý α ư NAA đến động thái đậu quả vải - Luận văn nghiên cứu ảnh hưởng của chất điều hoà sinh trưởng, vi lượng đến sự hình thành quả, năng suất và phẩm chất vải thiều tại an lão   hải phòng
Bảng 4.2 ảnh hưởng xử lý α ư NAA đến động thái đậu quả vải (Trang 48)
Bảng 4.4: ảnh hưởng xử lý α ư NAA đến các yếu tố cấu thành năng suất - Luận văn nghiên cứu ảnh hưởng của chất điều hoà sinh trưởng, vi lượng đến sự hình thành quả, năng suất và phẩm chất vải thiều tại an lão   hải phòng
Bảng 4.4 ảnh hưởng xử lý α ư NAA đến các yếu tố cấu thành năng suất (Trang 53)
Bảng 4.6: ảnh hưởng xử lý α - NAA đến phẩm chất của quả vải - Luận văn nghiên cứu ảnh hưởng của chất điều hoà sinh trưởng, vi lượng đến sự hình thành quả, năng suất và phẩm chất vải thiều tại an lão   hải phòng
Bảng 4.6 ảnh hưởng xử lý α - NAA đến phẩm chất của quả vải (Trang 57)
Bảng 4.7: ảnh hưởng xử lý GA 3  đến động thái đậu quả - Luận văn nghiên cứu ảnh hưởng của chất điều hoà sinh trưởng, vi lượng đến sự hình thành quả, năng suất và phẩm chất vải thiều tại an lão   hải phòng
Bảng 4.7 ảnh hưởng xử lý GA 3 đến động thái đậu quả (Trang 58)
Bảng 4.9: ảnh hưởng xử lý GA 3  đến các yếu tố cấu thành năng suất - Luận văn nghiên cứu ảnh hưởng của chất điều hoà sinh trưởng, vi lượng đến sự hình thành quả, năng suất và phẩm chất vải thiều tại an lão   hải phòng
Bảng 4.9 ảnh hưởng xử lý GA 3 đến các yếu tố cấu thành năng suất (Trang 61)
Bảng 4.12: ảnh hưởng xử lý chế phẩm đậu quả đến động thái đậu quả - Luận văn nghiên cứu ảnh hưởng của chất điều hoà sinh trưởng, vi lượng đến sự hình thành quả, năng suất và phẩm chất vải thiều tại an lão   hải phòng
Bảng 4.12 ảnh hưởng xử lý chế phẩm đậu quả đến động thái đậu quả (Trang 66)
Đồ thị 4.5: ảnh hưởng chế phẩm đậu quả đến động thái đậu quả vải - Luận văn nghiên cứu ảnh hưởng của chất điều hoà sinh trưởng, vi lượng đến sự hình thành quả, năng suất và phẩm chất vải thiều tại an lão   hải phòng
th ị 4.5: ảnh hưởng chế phẩm đậu quả đến động thái đậu quả vải (Trang 67)
Bảng 4.14: ảnh hưởng xử lý chế phẩm đậu quả đến các yếu tố cấu thành - Luận văn nghiên cứu ảnh hưởng của chất điều hoà sinh trưởng, vi lượng đến sự hình thành quả, năng suất và phẩm chất vải thiều tại an lão   hải phòng
Bảng 4.14 ảnh hưởng xử lý chế phẩm đậu quả đến các yếu tố cấu thành (Trang 69)
Bảng 4.15: ảnh h−ởng xử lý chế phẩm đậu quả - Luận văn nghiên cứu ảnh hưởng của chất điều hoà sinh trưởng, vi lượng đến sự hình thành quả, năng suất và phẩm chất vải thiều tại an lão   hải phòng
Bảng 4.15 ảnh h−ởng xử lý chế phẩm đậu quả (Trang 71)
Bảng 4.16: ảnh h−ởng xử lý chế phẩm đậu quả tới phẩm chất quả vải - Luận văn nghiên cứu ảnh hưởng của chất điều hoà sinh trưởng, vi lượng đến sự hình thành quả, năng suất và phẩm chất vải thiều tại an lão   hải phòng
Bảng 4.16 ảnh h−ởng xử lý chế phẩm đậu quả tới phẩm chất quả vải (Trang 72)
Bảng 4.17: ảnh hưởng xử lý chế phẩm KIVIVA đến động thái đậu quả - Luận văn nghiên cứu ảnh hưởng của chất điều hoà sinh trưởng, vi lượng đến sự hình thành quả, năng suất và phẩm chất vải thiều tại an lão   hải phòng
Bảng 4.17 ảnh hưởng xử lý chế phẩm KIVIVA đến động thái đậu quả (Trang 74)
Đồ thị 4.7: ảnh hưởng chế phẩm KIVIVA đến động thái đậu quả - Luận văn nghiên cứu ảnh hưởng của chất điều hoà sinh trưởng, vi lượng đến sự hình thành quả, năng suất và phẩm chất vải thiều tại an lão   hải phòng
th ị 4.7: ảnh hưởng chế phẩm KIVIVA đến động thái đậu quả (Trang 75)
Bảng 4.19: ảnh hưởng xử lý chế phẩm KIVIA đến các yếu tố cấu thành - Luận văn nghiên cứu ảnh hưởng của chất điều hoà sinh trưởng, vi lượng đến sự hình thành quả, năng suất và phẩm chất vải thiều tại an lão   hải phòng
Bảng 4.19 ảnh hưởng xử lý chế phẩm KIVIA đến các yếu tố cấu thành (Trang 77)
Bảng 4.20: ảnh h−ởng xử lý chế phẩm KIVIA - Luận văn nghiên cứu ảnh hưởng của chất điều hoà sinh trưởng, vi lượng đến sự hình thành quả, năng suất và phẩm chất vải thiều tại an lão   hải phòng
Bảng 4.20 ảnh h−ởng xử lý chế phẩm KIVIA (Trang 79)
Bảng 4.21: ảnh hưởng xử lý chế phẩm KIVIVA đến phẩm chất quả vải - Luận văn nghiên cứu ảnh hưởng của chất điều hoà sinh trưởng, vi lượng đến sự hình thành quả, năng suất và phẩm chất vải thiều tại an lão   hải phòng
Bảng 4.21 ảnh hưởng xử lý chế phẩm KIVIVA đến phẩm chất quả vải (Trang 80)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w