1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn điều tra thành phần bọ trĩ hại lúa, đặc điểm hình thái, sinh vật học của loài gây hại chính trên lúa vụ xuân 2005 tại tỉnh bắc ninh

86 1,1K 8
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Luận văn Điều tra thành phần bọ trĩ hại lúa, đặc điểm hình thái, sinh vật học của loài gây hại chính trên lúa vụ xuân 2005 tại tỉnh Bắc Ninh
Tác giả Bùi Quang Thạo
Người hướng dẫn GS.TS Hà Quang Hùng
Trường học Trường đại học Nông nghiệp I
Chuyên ngành Bảo vệ thực vật
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2005
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 689,78 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

luận văn

Trang 1

Bộ giáo dục và đào tạo trường đại học nông nghiệp i

-

bùi quang thạo

Điều tra thành phần bọ trĩ hại lúa, đặc điểm hình thái sinh vật học của loài gây hại chính

trên lúa vụ xuân 2005 tại Bắc Ninh

Luận văn thạc sĩ nông nghiệp

Chuyên ngành : Bảo vệ thực vật Mã số : 60.62.10

Người hướng dẫn khoa học: Gs.tS hà quang hùng

Hà nội - 2005

Trang 2

lời cam đoan

Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và ch−a hề đ−ợc sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự gúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đ∙ đ−ợc cám ơn va các thông tin trích dẫn đ∙ đ−ợc chỉ rõ nguồn gốc

Bắc Ninh, tháng 8 năm 2005

Tác giả

Bùi Quang Thạo

Trang 3

Lời cám ơn

Tôi xin chân thành cám ơn Ban chủ nhiệm, các Thầy, cô giáo và cán

bộ khoa sau đại học Trường đại học nông nghiệp I- Hà Nội, đ∙ tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành báo cáo này

Với lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin chân thành cám ơn ban chủ nhiệm, các thầy các cô trong bộ môn côn trùng và bệnh cây khoa Nông học, đặc biệt là GS.TS Hà Quang Hùng, đ∙ tận tình hướng dẫn chỉ bảo và giúp đỡ tôi hoàn thành báo cáo này

Xin chân thành cảm ơn Chi uỷ, Chi bộ,Ban l∙nh đạo và cán bộ Chi cục bảo vệ thực vật tỉnh Bắc Ninh đ∙ tạo điều kiện về mọi mặt để tôi hoàn thành báo cáo này

Xin chân thành cám ơn tập thể lớp cao học bảo vệ tực vật K12, cùng toàn thể bạn bè, gia đình những người thân đ∙ trực tiếp và gián tiếp giúp

đỡ tôi, cùng chia sẻ khó khăn trong suốt quá trình học tập và rèn luyện tại trường

Xin trân trọng cám ơn!

Tác giả

Bùi Quang Thạo

Trang 4

2.1 Cơ sở khoa học của việc nghiên cứu bọ trĩ hại lúa 32.2 Những nghiên cứu trong nước 42.3 Những nghiên cứu ngoài nước 10

3 Địa điểm, vật liệu và phương pháp nghiên cứu 20

3.1 Địa điểm, thời gian, đối tượng nghiên cứu 20

4.2.2 Thành phần thiên địch của bọ trĩ 37

Trang 5

4.2.3 Một số đặc điểm hình thái các loài thiên địch của bọ trĩ 374.3 Đặc điểm hình thái và sinh vật học của bọ trĩ 39

4.3.2 Sự phân bố của bọ trĩ trên các tầng lá lúa 40

4.3.4 Đặc điểm sinh vật học của bọ trĩ 48

4.3.4.3 Sức đẻ trứng và thời gian sống của bọ trĩ 524.4 Diễn biến mật độ và tình hình gây hại… 56

4.4.2 Diễn biến mật độ bọ trĩ trên các giống lúa 594.4.3 Biến động mật độ bọ trĩ trên các trà lúa 624.5 Đánh giá hiệu lực một số loại thuốc trừ sâu 65

Trang 6

Danh mục các bảng

Bảng 3: Sự phân bố của bọ trĩ trên các tầng lá lúa 41Bảng 4: Kích thước các pha phát dục của bọ trĩ 47Bảng 5: Vòng đời và thời gian phát dục của bọ trĩ 50

Bảng 6: Sức đẻ trứng của bọ trĩ trưởng thành 53Bảng 7: Thời gian sống và sức đẻ trứng của bọ trĩ 56Bảng 8: Diễn biến mật độ bọ trĩ trên mạ xuân 57

Bảng 9: Diễn biến mật độ của bọ trĩ trên một số giống lúa ở Đại Phúc 59Bảng 10: Diễn biến mật độ của bọ trĩ trên một số giống lúa ở Trung Chính 60Bảng 11: Diễn biến mật độ của bọ trĩ trên giống Q5 qua các trà ở Đai Phúc 62Bảng 12: Diễn biến mật độ của bọ trĩ trên giống Q5 qua các trà ở Trung Chính 63

Bảng 13: Hiệu lực trong phòng của một số loại thuốc trừ sâu 66Bảng 14: Hiệu lực của một số loại thuốc trừ sâu ngoài đồng ruộng 67

Trang 7

Danh mục các hình

Hình 3: Mật độ bọ trĩ trên các tầng lá lúa 42

Trang 8

1 Mở đầu

1.1 Đặt vấn đề

Lúa là một trong những cây lương thực quan trọng trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng Tổng diện tích và sản lượng lúa cao hơn bất kì cây lương thực ăn hạt khác Diện tích trồng lúa nước ở nước ta khoảng hơn 6 triệu ha, năng suất bình quân đạt hơn 50 tạ/ha, được trồng 2 – 3 vụ/năm và

được luân canh với một số cây trồng khác Về giá trị kinh tế và giá trị dinh dưỡng, cây lúa là cây lương thực có hàm lượng tinh bột cao nhất (88%) Ngoài ra còn có các thành phần sinh hoá khác như đường, đạm, protein, chất béo rất cần cho con người và động vật nuôi Trong những năm cuối của thế kỉ

20 và đầu thế kỉ 21, Đảng ta khẳng định nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, giữ vai trò quyết định làm nền tảng cho công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước Để thực hiện nhiệm vụ này chúng ta đã đa dạng hoá các giống lúa mới

có năng suất, chất lượng cao thay thế các giống lúa bản địa có năng suất thấp nhưng chống chịu sâu bệnh tốt hơn, đồng thời áp dụng KHKT mới đầu tư thâm canh cao Song việc sử dụng lượng phân hoá học quá lớn đổ ra đồng ruộng không chỉ làm cho lúa xanh tốt mà còn thu hút nhiều loài sinh vật gây hại, kéo theo hàng trăm loại thuốc bảo vệ thực vật sử dụng tràn lan trên đồng ruộng gây nên những hậu quả khôn lường như: làm giảm quần thể sinh vật có ích trên đồng ruộng, đặc biệt là những loài thiên địch như ếch, nhái, cua đồng

và những loài có ích khác; do sâu bệnh gây ra lại tăng cao làm năng suất lúa giảm đáng kể

Điều đó làm thay đổi tập tính sinh sống của các loài dịch hại, tạo điều kiện cho một số loài sâu hại thứ yếu trở thành chủ yếu Đặc biệt trước đây bọ trĩ hại lúa là loài thứ yếu nay là loài sâu hại quan trọng trên cây lúa nói riêng

và nhiều cây trồng khác nói chung Chúng gây hại nghiêm trọng và làm giảm

Trang 9

năng suất lúa đáng kể

Cho tới nay, còn ít tác giả quan tâm nghiên cứu về bọ trĩ hại lúa, hơn

nữa trong thực tế rất ít tài liệu nói về bọ trĩ hại cây trồng nói chung, hại lúa

nói riêng Xuất phát từ những yêu cầu thực tế nói trên, đồng thời góp phần bổ

sung những dẫn liệu trong phòng chống , bọ trĩ hại lúa, góp phần bảo vệ thành

quả của sản xuất, nâng cao năng suất chất l−ợng sản phẩm cây lúa Chúng tôi

thực hiện đề tài:

“ Điều tra thành phần bọ trĩ hại lúa, đặc điểm hình thái, sinh vật học của

loài gây hại chính trên lúa, vụ xuân 2005 tại tỉnh Bắc Ninh

1.2 Mục đích, yêu cầu của đề tài

1.2.1 Mục đích

Điều tra xác định thành phần bọ trĩ hại lúa vụ xuân 2005 ở Bắc Ninh

Tìm hiểu đặc điểm hình thái, sinh vật học và tình hình biến động mật độ, gây

hại Từ đó đề xuất biện pháp phòng trừ chúng một cách hợp lý

1.2.2 Yêu cầu

- Điều tra xác định thành phần bọ trĩ hại lúa và thiên địch của chúng trên lúa xuân 2005 tại tỉnh Bắc Ninh

- Tìm hiểu đặc điểm hình thái, sinh vật học và tình hình biến động mật

độ, gây hại của loài bọ trĩ chính hại lúa xuân 2005, ở Bắc Ninh

- Thử hiệu lực một số loại thuốc hoá học trong phòng chống bọ trĩ hại

lúa tại vùng nghiên cứu

Trang 10

2 Cơ sở khoa học và Tổng quan nghiên cứu

2.1 Cơ sở khoa học của việc nghiên cứu bọ trĩ hại lúa

Trong thực tiễn sản xuất nông nghiệp của nước ta cho thấy dịch hại cây trồng là một trong những nguyên nhân cơ bản gây nên những thiệt hại to lớn

về năng suất và phẩm chất cây trồng Thiệt hại do sâu bệnh, cỏ dại gây ra chiếm 20 – 25 %, thậm chí trên 30 % tổng sản lượng cây trồng nói chung và lúa nói riêng Nếu tính trên diện tích đất nông nghiệp, trên thế giới có khoảng 1,5 triệu ha không kể đồng cỏ, bãi hoang…Thì tổn thất do dịch hại gây ra khoảng 47 –60 USD/ha (Fao, 1989; Fao, 1995)[44][45] Theo Bhatti JF (1982)[35] Thiệt hại do sâu gây ra hàng năm là 29,7 tỷ USD, chiếm khoảng 13,8 % năng suất mùa màng ( Hà Quang Hùng, 1998) [7] Còn ở Việt Nam, theo tính toán hàng năm có tới hơn 20 % sản lượng cây trồng bị thiệt hại do sâu, bệnh gây nên (Nguyễn Công Thuật, 1996)[24]

Hàng năm dân số thế giới tăng thêm gần 100 triệu người (Lampe K (1994)[50] Dân số tăng nhanh nên nhu cầu về lương thực ngày càng nhiều Trong khi đó đất không sinh sôi mà còn ngày càng thu hẹp, nhường chỗ cho những khu công nghiệp , thị trấn , thị tứ mọc lên san sát Cho đến nay trên thế giới có khoảng hơn 600 ha đất nông nghiệp bị huỷ hoại do nhiều nguyên nhân (Vũ Ngọc Tuyên, 1994)[21] Do đó để thoả mãn nhu cầu về lương thực, thực phẩm, con người càng đầu tư thâm canh để tăng năng suất cây trồng Nhưng khi thâm canh không chỉ làm tăng năng suất cây trồng mà còn tăng cả sự thiệt hại do các dịch hại gây ra Theo Prakasa Rao PS (1985)[64] Thì những tính toán của FAO đã cho thấy sự gia tăng năng suất cây trồng nông nghiệp trên toàn thế giới chậm hơn sự gia tăng thiệt hại do dịch hại gay ra khoảng 1,5 lần (dẫn theo Phạm Văn Lầm , 1994)[14]

Lúa là một trong những cây lương thực quan trọng của loài người, nó là nguồn thức ăn chủ yếu, không thể thiếu được của hơn 3 tỷ dân sinh sống ở

Trang 11

Châu á và cung cấp 1/3 lượng calo cần thiết cho gần 1,5 tỷ dân Châu phi và Châu Mỹlatinh (FAO, 1995)[45] ở Việt Nam lúa là cây lương thực chính, quan trọng nhất, được trồng khắp nơi trên cả nước với tổng diện tích hơn 6 triệu ha mỗi năm

Bắc Ninh là tỉnh nông nghiệp với hơn 100.000 ha lúa mỗi năm, hai vụ lúa một vụ đông Thành phần sâu hại rất phong phú như rầy nâu, sâu cuốn lá nhỏ, sâu đục thân, tập đoàn ruồi, các loại bọ xít…Đặc biệt là bọ trĩ Chúng là một trong những trở ngại lớn nhất, đã, đang và sẽ gây khó khăn cho người nông dân trên con đường thâm canh sản xuất nông nghiệp của tỉnh Bắc Ninh Vì vậy, những nghiên cứu sâu hơn, đầy đủ hơn về đối tượng này là rất cần thiết để làm cơ sở cho việc dự tính dự báo và phòng trừ bọ trĩ hại lúa một cách có hiệu quả

2.2 Những nghiên cứu trong nước

Trong những năm gần đây bọ trĩ đang là một trong những loài sâu hại mới nổi lên và gây hại phổ biến trên nhiều loại cây trồng khác nhau Những công trình nghiên cứu về bọ trĩ hại lúa còn hạn chế, mới chỉ dừng lại ở mức ghi nhận và điều tra

Theo kết quả điều tra côn trùng 1967-1968 và kết quả điều tra côn trùng bệnh cây ở các tỉnh phía nam Việt Nam 1977-1978 của Viện Bảo vệ thực vật

đã xác định có một loài bọ trĩ, là Thrips oryzae Bagnall thuộc họ Thripidae bộ phụ Terebrantia bộ cánh tơ Thysanoptera

- Đặc điểm gây hại, hình thái sinh học của bọ trĩ Thrips oryzae

Bagnall:

+ Bọ trĩ thường gây hại mạ và cây lúa giai đoạn đẻ nhánh, cả sâu non

và trưởng thành dũa hút dịch lá lúa để lại những vết chấm màu trắng hoặc nâu vàng, sau đó chuyển mầu, mép lá cuốn cong, cây trở nên khô héo

Trang 12

+ Đặc điểm hình thái sinh học: Trứng có kích thước 0,25 x 0,1 mm, trứng được đẻ đơn độc vào trong mô lá lúa dưới lớp biểu bì, trứng nở sau 3 ngày Sâu non có mầu trắng hơi vàng, sâu non 2 tuổi, sâu non trú trong mép lá cuộn và thời gian phát dục của sâu non là 10 – 14 ngày, sau đó sâu non hoá tiền nhộng, nhộng Trưởng thành có cơ thể nhỏ khoảng 1mm, cơ thể mầu nâu tối, râu đầu 7 đốt, ở gốc của cánh trước có đốm nhỏ Trưởng thành có thể sống được 3 tuần nhưng vòng đời thường kéo dài 14-16 ngày

* Biện pháp phòng chống:

Có thể sử dụng thuốc Actara 25 WG, lượng thuốc dùng 25-50g/ha; Bifentox 30 ND, lượng thuốc dùng 1 lít/ha; Karate 2,5 EC, lượng thuốc dùng 0,25 – 0,5 lít/ha để phòng chống bọ trĩ có hiệu quả tốt Chú ý chỉ nên dùng thuốc hoá học khi bọ trĩ gây hại tới ngưỡng 15 %

Theo hà Quang Hùng (2005)[13] Bọ trĩ hại cây trồng và biện pháp phòng trừ, NXB nông nghiệp, Hà Nội có thể sử dụng thuốc Actara 25 WG,

lượng thuốc dùng 25- 50g/ ha, bifentox 30 ND, lượng thuốc dùng là 1lít/ha, Karate 2,5 EC, lượng thuốc dùng 0.25 – 0.5 lít/ha Phòng chống bọ trĩ có hiệu quả tốt chỉ dùng thuốc khi bọ trĩ gây hại tới ngưỡng 15% Phòng trừ bọ trĩ ở giai đoạn mạ nên dùng các loại thuốc để xử lý hạt mộng như: Actara, Cruser, Phirranin…Phun trên lúa ở giai đoạn đẻ nhánh nên dùng các thuốc có phổ tác

động hẹp như Regent để không ảnh hưởng tới thiên địch

+ Theo Nguyễn Đình Chi (2003) [2] Báo cáo luận án tiến sỹ Tại Yên

Thành ( Nghệ An), bọ trĩ là đối tượng gây hại thường xuyên ở các vụ lúa, đặc biệt lúa cấy ở thời vụ xuân muộn và hè thu Đối tượng này chưa được quan tâm nghiên cứu ở nước ta Bọ trĩ non có 3 tuổi, ở cuối tuổi 3 , bọ trĩ ngừng ăn

và hoạt động, nhưng nếu ta đụng vào chúng thì chúng bò đi chỗ khác Đây là giai đoạn phát dục mà nhiều tài liệu gọi là “nhộng” Thời gian ngừng ăn và bất động của bọ trĩ non tuổi 3 rát ngắn ( khoảng 1 ngày) Trong khi đó theo

Trang 13

Dale(1994)[41] Thì thời gian này kéo dài 3-4 ngày Mặt khác, thời gian ngừng ăn và bất động của bọ trĩ non khó tách riêng khỏi thời gian bọ trĩ non tuổi 3 Do vậy trong thi nghiệm của chúng tôi thời gian bọ trĩ non tuổi 3 bao gồm cả thời gian ngừng ăn và bất động Thời gian phát dục của bọ trĩ non tuổi 1 và tuổi 2 là như nhau Thời gian phát dục của bọ trĩ non tuổi 1 thay đổi trong khoảng 2,1-2,3 ngày và thời gian bọ trĩ non tuổi 2 là 2,0-2,2 ngày Thời gian phát dục của bọ trĩ non tuổi 3 dài nhất và thay đổi từ 2,9-3,1 ngày

Thời gian vòng đời của bọ trĩ hại lúa nuôi trong phòng thí nghiệm ở Yên Thành kéo dài từ 12,7-13,6 ngày Trong đó, thời gian trứng trung bình là 4,2-5,5 ngày, thời gian bọ trĩ non là 7,1-7,5 ngày và thời gian trước đẻ trứng

là 1 ngày Mỗi trưởng thành cái có khả năng đẻ trung bìmh 10,4-15,4 trứng trong vòng 5,4-7,0 ngày ở điều kiện nhiệt độ 27,9 độ C, ẩm độ 81,5 %, chúng

có thể sinh sản đơn tính mà không cần giao phối mà vẫn đẻ trứng và nở với tỷ

khắp Việt Nam, chúng gây hại trong suốt cả quá trình sinh trưởng phát triển của cây lúa

+ Theo Đinh Văn Thành và cộng sự (2005)[26] Cho rằng bọ trĩ hại lúa

là loài côn trùng có biến thái không hoàn toàn Pha ấu trùng có hai tuổi, trong

đó thời gian tuổi 1 thường dài hơn tuổi 2 còn giai đoạn tiền nhộng và nhộng thường ngắn hơn

Trang 14

Toàn bộ thời giai sâu non thường kéo dài 4-9 ngày tuỳ theo điều kiện nhiệt độ, thời gian nhộng từ 1,25-3 ngày Thời gian vòng đời từ 10-18 ngày tuỳ theo mùa ( phổ biến từ 10-14 ngày) Bọ trĩ hại lúa là loài côn trùng nhỏ có vòng đời ngắn, tuy nhiên khả năng sinh sản của một bọ trĩ trưởng thành không cao (9-12 trứng/ con cái), Thời sống của trưởng thành không dài (7-11 ngày) nhưng do số lượng quần thể lớn lại xuất hiện gây hại vào thời kỳ rất sớm của cây lúa vì vậy mức độ gây hại của nó rất nghiêm trọng nếu không

di chuyển đi đẻ trứng vào nơi khác có điều kiện thức ăn non hơn Mỗi vụ lúa,

từ lúc hồi xanh đến giai đoạn làm đòng, có thể xuất hiện 4 đỉnh cao bọ trĩ trưởng thành, 3 đỉnh cao của pha ấu trùng và 3 đỉnh cao của pha trứng Từ cuối giai đoạn làm đòng trở đi, cây lúa không thích hợp để bọ trĩ phát sinh phát triển Do đó đợt bọ trĩ thứ tư thường di chuyển đến nơi khác có điều kiện thức ăn phù hợp hơn Vào giữa vụ xuân và vụ mùa có một đợt bọ trĩ gây hại trên mạ mùa Mỗi năm ở Hà Nội có khoảng 7 – 8 đợt bọ trĩ phát sinh gây hại Các tháng trong vụ xuân có điều kiện nhiệt độ thấp hơn, các đỉnh cao mật độ quần thể của bọ trĩ cách nhau khoảng 18 – 20 ngày; ở các tháng trong vụ mùa

có nhiệt độ cao hơn, các đợt bọ trĩ chỉ cách nhau 10 – 12 ngày Bọ trĩ trưởng thành thường du nhập vào ruộng lúa mới cấy từ rất sớm và phát triển nhanh

đạt đỉnh cao nhất về mật độ ngay từ thế hệ đầu tiên sau khi trưởng thành du nhập vào đồng lúa Các thế hệ thứ 2 và thứ 3 có mật độ giảm dần đến trước khi lúa trỗ bông

Điều kiện mưa lớn cũng có thể ảnh hưởng đế mật độ bọ trĩ, sau những

Trang 15

trận mưa lớn mật độ bọ trĩ có thể giảm hơn 60 % số lượng cá thể trong quần thể của bọ trĩ trên đồng ruộng Những năm ấm, ít mưa hoặc hạn hán bọ trĩ thường phát sinh phát triển với số lượng lớn ở vụ xuân, trên lúa ở thời vụ xuân muộn có mật độ quần thể bọ trĩ cao hơn, khả năng gây hại lớn hơn so với lúa ở thời vụ xuân sớm và xuân chính vụ

Ngoài đồng ruộng bọ trĩ thường phân bố ở những bộ phận non của cây lúa, đặc biệt là ở lá nõn và các lá ngay dưới lá nõn Vì vậy để phát hiện bọ trĩ nên tập trung vào lá nõn và các lá ngay dưới lá nõn Bọ trĩ ít khi sống và gây hại ở các lá già phía dưới

Phòng trừ bọ trĩ hại lúa:

Bọ trĩ là đối tượng xuất hiện và gây hại ngay ở giai đoạn đầu vụ, Theo

Đinh Văn Thành và cộng sự (2005) [26] Cho rằng việc phòng trừ cần lưu ý

để bảo vệ khu hệ thiên địch trên đồng lúa đã thí nghiệm và cho kết quả khi

xử lý mộng mạ để trừ bọ trĩ trong giai đoạn mạ Thóc giống ngâm ủ bình thường Trước gieo, hạt mộng mạ được trộn đều với lượng thuốc cần xử lý để khoảng 12 giờ Các thuốc thí nghiệm gồm: Actara 25 WG ( 17 g/ 100 kg thóc), Phironin 50 SL (230 ml / 100 kg thóc), Confidor 100 SL (200 ml/100

kg thóc), Marshal 200 SC (200 ml/100 kg thóc),Cruiser 312.5 FS (64 ml/ 100

kg thóc) Nhìn chung các loại thuốc đều có hiệu lực kéo dài, vào thời điểm 19 ngày sau gieo hiệu lực vẫn còn đạt 74,6 – 80,6 5 ở vụ xuân và 64,5 – 80,0 % ở

Vụ Mùa Các loại thuốc hoá học đều có thể trừ được bọ trĩ hại lúa Hiệu lực

đối với bọ trĩ sau 3 ngày phun đều đạt 84,2 – 92,4 % trừ thuốc Basa Tuy nhiên vì phải phòng trừ ngay ở thời kỳ đẻ nhánh do đó chỉ sử dụng các loại thuốc có phổ tác động hẹp và ít ảnh hưởng đến thiên địch như Regent, Actara, Hopsan, Politrin… khi mật độ bọ trĩ đến ngưỡng phòng trừ

+ Theo Giáo sư Võ Tòng Xuân (1993)[27] Hướng dẫn biện pháp tổng

hợp phòng trừ dịch hại trên lúa ở châu á nhiệt đới, NXB Nông nghiệp - Hà

Trang 16

Nội cho rằng bọ trĩ Thrips oryzae Bagnall = Stenchaetothrips bifomis (Bagnall) = Baliothrips bifomis = Bù lạch … Là loài côn trùng nhỏ có thể

thấy bằng mắt thường

ấu trùng và thành trùng ăn phá trên lá làm lá bị cuốn lại theo trục dọc dùng làm nơi trú ẩn của chúng Thành trùng được tìm thấy ở bên trong những cụm lá ở những phần trên của cây lúa

Sự bùng phát của bù lạch thường nhỏ và lúa có thể hồi phục phần lớn sự thiệt hại Bù lạch được xử lý dễ dàng bằng thuốc sát trùng

Bù lạch hiện diện trên tất cả các ruộng lúa, nhưng chúng phổ biến nhất vào thời tiết khô ráo, mưa lớn có thể làm chúng trôi đi khỏi cây

Sự phát triển và kích thước của bọ trĩ Thrips oryzae

Bù lạch có vòng đời ngắn nên có thể tăng số lượng nhanh

Thành trùng có mầu nâu đậm, cánh có rìa mầu nâu sáng và nằm dọc trên lưng của chúng khi không hoạt động

Mặc dầu có kích thước nhỏ và hình dạng mỏng manh nhưng Bù lạch có thể di chuyển rất xa Chúng di chuyển suốt ngày để tìm ra những ruộng lúa mới hoặc cỏ kí chủ khác

mỗi con cái đẻ được 25 trúng trong suốt cuộc đời, dài hai tuần lễ của chúng Trứng được đẻ trên những lá lúa non nhất trên bề mặt lá đối diện với thân Con cái đục mô lá bằng kim đẻ trứng và đẻ riêng từng quả trứng một trứng có mầu kem, được chôn phần nửa trong mô lá, phần mô nửa còn lại nhô trên mặt lá

ấu trùng: ấu trùng mầu vàng ăn mô lá ở phần trên của cây Chúng

sống trên cùng của cây nơi chúng nở

Trang 17

Nhộng: Khi ấu trùng trưởng thành chúng ngừng ăn và chuyển sang giai

đoạn tiền nhộng mầu nâu đen được bảo vệ trong phiến lá cuốn lại, tiền nhộng

được biến thái thành nhộng có cánh dài mềm

ấu trùng và thành trùng có khẩu biện chích hút Chúng chỉ có một hàm dưới dùng để chích vào mô lá Hàm trên và vòi tạo thành một ống hút được sử dụng để hút nhựa cây

ấu trùng và thành trùng hút nhựa cây bằng những vết cắn thành trùng

ăn mạnh ở phiến lá Những lá bị hại có những đường sọc màu bạc khi bị nặng mô diệp lục tố bị mất chỉ còn lại màng biểu bì trong suốt

ở những lá bị hại hai mép lá cuộn vào trong theo chiều dọc tạo thành một nơi trú ẩn cho cả thành trùng và ấu trùng

Trường hợp cá biệt chóp lá bị khô lại khi lúa bị khô hạn

2.3 Những nghiên cứu ngoài nước

2.3.1 Phân loại bọ trĩ hại lúa

Thrips oryzae Bagnall, 1916

Thrips là một từ Latinh có nguồn gốc từ HyLạp có nghĩa là “ chầy gỗ’’

và dùng cho cả số nhiều và số ít

- Lớp: Côn trùng Isecta

- Bộ: Thysanoptera có nghĩa là cánh tơ, cánh của bọ trĩ trưởng thành có

dạng tua, có nhiều lông Hiện nay người ta biết được khoảng 5000 loài bọ trĩ, trong đó có 1 % số loài gây hại

- Họ: Thripidae

Lần đầu tiên đã mô tả ở Anh, gần vung Oxford, về sau loài này đã được

Trang 18

mô tả dưới tên Thrips oryzae là một dịch hại mới trên lúa ở ấn Độ (Williams, 1916)[77] Năm 1957, Priesner đã chỉ rõ Thrips oryzae là loài kiểu (loài

chuẩn) của một giống mới, Chloethrips nhưng Bhatti (1969)[33] Cho rằng

các giống Chloethrips Priesner, Stenothrips Uzel và Fulmekiola Karny là

đồng nghĩa của giống Baliothrips Uzel và hơn nữa Thrips oryzae cũng là

đồng nghĩa của Bagnalliella biformis Về sau, Bhatti và Mound (1980)[35]

Đã chuyển loài oryzae vào giống Stenchaetothrips Bagnall và đã công nhận các giống Stenothrips, Fulmekiolla và Baliothrips và những giống được định

lọai đúng là nhóm giống của những loài sống trên cây cỏ Giống

Stenchaetothrips ngày nay gồm khoảng 24 loài bọ trĩ sống trên cỏ chủ yến ở

vùng Phương Đông (Bhatti, 1982)[34]

Ngoài ra bọ trĩ hại lúa còn những tên khác

Baliothrips biformis Bagnall, 1913

Stenchaetỏthops bifarmis Bagnll,1913

Plesiothrips oh Girault, 1929

Thrips holorphnus Karny, 1926

Thrips dobrogensis Knechtel, 1964

Chloethrips blandus zur Strassen, 1975

Từ mã (dùng trong kiểm dịch thực vật): THRIPIDAE

Những tên phổ biến trong tiếng Anh

rice thrips: Bọ trĩ lúa

rice leaf thrips: Bọ trĩ hại lá lúa

oriental rice thrips: Bọ trĩ hại lúa phương Đông

paddy thrips: Bọ trĩ lúa

Trang 19

paddy, thrips: Bọ trĩ lúa

Thrips oryzae: Bọ trĩ lúa

2.3.2 Phạm vi ký chủ và phân bố của bọ trĩ Thrips oryzae

- Phạm vi ký chủ

Thrips oryzae là loài đa thực sống trên nhiều giống lúa, cỏ hoà thảo và

cỏ lác Thuốc lá và cây hoa hồng cũng được xếp vào trong danh mục ký chủ của chúng, nhưng có lẽ đây chỉ liên quan đến sự phát tán của trưởng thành mà thôi

Danh mục ký chủ của Thrips oryzae đã được các tác giả

Ananthakrishnan và Kandasamy (1977)[30 Nath và Sen (1978)[60] Thomas

et al (1979)[73] Jaswant-Singh et al (1983)[47] và Madan et al (1989)[53]

ấn Độ Zhuge (1981)[78] Và Anon (1976a, 1976b)[29][31] ở Trung Quốc; Nakashima Y Hirose Y (1977)[59] Nhật Bản; Bhatti (1969)[33] ở Rômani; Pitkin (1976)[63] ở Anh ; and Reyes and Rillon (1994)[67] ở Philippines nghiên cứu, công bố

- Danh mục ký chủ

Ký chủ chính: Lúa (Oryza sativa)

Ký chủ phụ: Ngô (Zea mays), mía dại (Saccharum spontaneum)

Các ký chủ là cỏ dại: Cỏ lúa mỳ (Agropyron), cỏ đuôi cáo (Alopecurus

aequalis), cỏ lồng vực nước (Echinochloa colonum), cỏ cựa gà (Echinochloa crus-galli), Eragrostis, cỏ đuôi trâu (Festuca), cỏ tranh (Imperata cylindrica), Leersia, cỏ gừng (Panicum repens), Paspalum scrobiculatum, cỏ lông chim

(Pennisetum), cây thóc chim (Phalaris arundinacea), cỏ gai Nhật (Japanese lawngrass), Cyperus iria, cỏ gấu (Cyperus rotundus), cỏ chân nhện nhiệt đới (Digitaria ciliaris), và cây sậy (Phragmites australis).,

Trang 20

- Phạm vi phân bố

Bọ trĩ Thrips oryzae có mặt ở Châu á, Châu Phi, Nam Mỹ, Châu Âu,

Châu Đại dương và Châu úc, Malaysia, Thailan… Dale (1994) [41]

2.3.3 Đặc tính sinh học và sinh thái

- Phương thức gây hại:

Cả sâu non và trưởng thành bọ trĩ hại lúa đều dùng phần phụ miệng dũa hút hoặc 1 hàm trên của chúng để xé rách mô cây và dùng hàm dưới và thóp miệng để chích hút dịch cây

Bọ trĩ lúa là dịch hại rất nặng trong thời kỳ mùa khô chúng nhiễm ruộng lúa ở giai đoạn cây con hoặc 2 tuần sau khi mới cấy

- Đặc điểm của bọ trĩ hại lúa:

Khi nghiên cứu đặc tính sinh thái học bọ trĩ, Bhatti JS Bournier(1980)[35] Cho biết ở bộ cánh tơ (Thysanoptera) có hai bộ phụ lớn,

bộ phụ Tubuliferan con cái không có máng đẻ trứng, mà có đốt bụng thứ 10 biến thành lớp màng bảo vệ trứng được đẻ thành từng nhóm 3 - 5 trứng Còn

bộ phụ Terebrantian con cái lại có máng đẻ trứng, trứng được đẻ thành từng quả một dưới biểu bì, mỗi con đẻ từ 2 - 5 trứng/ngày và mỗi con đẻ 60- 100 quả Trong đó thời gian phát dục pha trứng 3 - 20 ngày tuỳ thuộc vào điều kiện thời tiết khí hậu Sâu non có hai tuổi sâu non tuổi 1, sâu non tuổi 2 có thời gian phát dục 3 - 4 ngày, sự hóa nhộng diễn ra ở đỉnh sinh trưởng hay ở trong khe hở ở trên cây hoặc hoá nhộng trong đất Độ sâu từ 2 - 25 cm Tuỳ thuộc loại đất thời gian phát dục của nhộng 5 - 12 ngày ở Trưởng thành có thể sống từ 8 - 25 ngày

Trứng, sâu non hai tuổi(sâu non tuổi 1, tuổi 2), tiền nhộng và nhộng, trưởng thành

Trang 21

ở ấn Độ, người ta thấy Thrips oryzae Bagnall thích đẻ trứng trên cây lúa non giống TN1 được 10 ngày tuổi: Mỗi con cái bọ trĩ đẻ 21,4 quả trứng

và tổng thời gian sống là 20,1 ngày (Madhusudhan and Gopalan, 1989)[54]

Trên cỏ dại Echinochloa colonum ( cỏ lồng vực nước) bọ trĩ đẻ trung bình 15,1 quả/con cái và thời gian phát dục là 32,5 ngày, (E colonum đã trở thành

ký chủ tự nhiên sau gặt lúa, khi mà ký chủ chính không còn)

ở Philippines, mỗi một bọ trĩ cái Thrips oryzae Bagnall đẻ trứng trung bình 27 quả trên phiến lá non của cây lúa (Nugaliyadde and Heinrichs, 1984)[61] Cả sâu non và trưởng thành đều bị tiếp giáp trong lá bị cuốn, ăn trên mô lá Giai đoạn trứng và sâu non trải qua 6,8 ngày và nhộng trải qua 8 ngày Con đực sống từ 3 đến 12 ngày và con cái sống từ 3 đến 20 ngày ở ấn

Độ, Thrips oryzae thích đẻ trứng trên cây con giống TN1 được 10 ngày tuổi

hơn: mỗi cá thể cái bọ trĩ đẻ 21,4 quả trứng và tổng thời gian sống là 20,1

ngày (Madhusudhan and Gopalan, 1989)[54] Trên cỏ dại, Echinochloa

colonu ( cỏ lồng vực nước) một số lượng nhỏ (15,1) quả trứng được đẻ và thời

gian phát dục là 32,5 ngày (E colonum trở thành ký chủ tự nhiên sau lúa khi

mà ký chủ chính không còn)

Theo Alam S.(1975)[28] Trưởng thành bọ trĩ Thrips oryzae Bagnall hại

lúa Có cơ thể thon màu nâu đậm dài từ 1 - 2 mm Chúng có 2 dạng có cánh

và không có cánh Dạng có cánh có 2 đôi cánh thon kéo dài tua có lông tơ dài, nhộng có mầm cánh vươn dài tới 2/3 chiều dài của bụng Chúng cũng có 4 mỏm nhọn trên lưng bụng đốt thứ IX Tiền nhộng có màu nâu Bốn mỏm nhọn nằm trên mép sau của lưng bụng đốt thứ IX Sâu non mới nở cho đến khi lột xác lần thứ II, chúng chuyển sang màu vàng nhạt Chân đầu và râu đầu của sâu non tuổi 2 màu hơi tối hơn sâu non tuổi 1 Trứng rất nhỏ bé và dài 0.25 mm

Vòng đời của bọ trĩ Thrips oryzae Bagnall trung bình 2 tuần Trưởng

thành dài khoảng 1 mm, rộng 0,4mm, có thể sống tới 3 tuần Trứng được đẻ

Trang 22

rời rạc từng quả trong mô lá, trứng nở trong 3 ngày

- ảnh hưởng của điều kiện ngoại cảnh đến sự phát sinh phát triển của bọ trĩ:

Theo Chiu (1984)[38] Các loài bọ trĩ thuộc bộ cánh tơ rất mẫm cảm với sự thay đổi của yêu tố môi trường và chỉ có thể phát sinh phát triển dưới những điều kiện khí hậu hay tiểu khí hậu đặc thù Do bản chất ăn thực vật của

bọ trĩ, sự xuất hiện gây hại có liên quan đến hình dạng cây, đặc biệt những loài bọ trĩ gây hại trên hoa Biến động số lượng của bọ trĩ có sự tương quan với điều kiện tiểu khí hậu như nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng và tốc độ gió Các yếu tố thổ nhưỡng, cũng có liên quan đến sự hoá tiền nhộng và nhộng xảy ra

ở trong đất để hoàn thành chu kỳ biến thái của chúng để qua đông Quần thể

bọ trĩ thường đạt cao nhất trong các tháng mùa xuân và mùa hè giảm trong mùa mưa và mùa đông biến động số lượng của chúng chịu ảnh hưởng của

điều kiện tiểu khí hậu thời tiết đặc biệt nhiệt độ và lượng mưa Thời tiết ẩm

ướt kéo dài không thuận lợi cho sự phát triển của bọ trĩ hại lúa Chúng xuất hiện ở tất cả các môi trường trồng lúa ở vùng nhiệt đới Bọ trĩ hại lúa có số lượng đông đúc, trong thời kỳ từ tháng 7 - 9 và từ tháng 1 - 3 Còn vùng ôn

đới chúng qua đông trên cỏ thuộc họ hoà thảo Trưởng thành bọ trĩ hoạt động ban ngày và tìm ruộng lúa mới cấy và các cây ký chủ khác để trú ngụ, gây

hại

Theo Dale (1994)[41] Thời gian phát dục của pha trứng, bọ trĩ non và nhộng tương ứng là 3,6,8 và3-4 ngày, thời gian từ trứng đến trưởng thành vũ hoá là 12-15 ngày Mỗi trưởng thành cái có thể đẻ được 25 trứng

Vòng đời gồm có giai đoạn trứng, hai tuổi sâu non, tiền nhộng và nhộng, và trưởng thành

ở các nước ôn đới như Trung Quốc thì nhiệt độ thích hợp cho trứng phát triển là 25-30 0C và sâu non là 26,4 0C ở nhiệt độ 27,4 0C thì một cá thể

Trang 23

cái đẻ 93 quả trứng Giai đoạn sâu non là 9 ngày ở nhiệt 23,3 0C và 4 ngày ở nhiệt độ 35,9 0C Tổng thời gian sống của trưởng thành trung bình là 15 ngày (Ding and Chen, 1985)[43] ở nhiệt độ trong phòng, thời gian phát dục của trứng từ 3-6 ngày, thời gian phát dục của sâu non tuổi I và II là 3,7 và 6,4

ngày tương ứng Trưởng thành bọ trĩ Thrips oryzae sống từ 17,8 đến 30,5

ngày (Zhuge, 1981)[78]

- Thiên địch của bọ trĩ:

Mammen - Nair (1977)[55] và Ananthakrishnan and Sureshkumar (1985)[30] Đã ghi vào danh sách những động vật bắt mồi trên bọ trĩ ở ấn Độ; Luo và cộng sự (1989)[52] ở Trung Quốc; và Reyes và Rillon (1994[ơ67] Ơ

Philippines Danh sách thiên địch của Thrips oryzae Bagnall như sau:

+ Ký sinh:

- Orius maxidentex, tấn công: sâu non, trưởng thành, ở ấn Độ

- Orius tantillus, tấn công: sâu non, trưởng thành, ở ấn Độ

+ Động vật bắt mồi:

- Antillothrips cingulatus, tấn công: sâu non, trưởng thành , ở Philippines

- Haplothrips euphorbiae, tấn công: sâu non, trưởng thành, ở Philippines

- Haplothrips ganglbaueri, tấn công: sâu non, trưởng thành, ở Philippines

- Harmonia octomaculata, tấn công: sâu non, trưởng thành, ở ấn Độ

- Paederus fuscipes, tấn công: sâu non, trưởng thành, ở Trung quốc

- Podothrips lucasseni, tấn công: sâu non, trưởng thành, ở Philippines

Theo Shepard et al (1995)[70] Bọ trĩ Thrips oryzae Bagnall là một loài

dịch hại không thường xuyên trên cây lúa, đặc biệt trong thời kỳ khô ráo Nói chung cây bị hại nặng ở ruộng nhiều nước

Trang 24

Bọ trĩ Thrips oryzae Bagnall được tìm thấy ở tất các môi trường có lúa

Chúng có số lượng nhiều, phần lớn trong thời kỳ thời tiết khô ở giai đoạn cây con (giai đoạn mạ, đẻ nhánh) và ra hoa (giai đoạn trỗ bông)

Trứng được đẻ đơn lẻ trong các khe nhỏ, trong nhu mô của lá, một nửa trên của trứng nhô lên

Kiểm tra trực tiếp trên các lá bị cuốn sẽ thấy sâu non và trưởng thành

trừ có hiệu quả đối với bọ trĩ hại lúa Thrips oryzae

+Biện pháp dùng giống chống chịu:

Theo Nugaliyadde and Heinrichs, (1984)[61] ở Philippines, một phương pháp đã được phát triển để đánh giá về khả năng chống của giống lúa

với bọ trĩ hại lúa Thrips oryzae Bagnall trong nhà kính, khả năng có được ở các giống Dahanala 2220, BJ 1, và các loài lúa dại như Oryza officinalis, O

eichingeri, O punctata và O minuta…

ở ấn Độ, các giống lúa dưới đây được tìm thấy là có tính chống với bọ

trĩ hại lúa Thrips oryzae Bagnall: Ptb 33, BG379-1 và Kalubalawee Sudurvi

305 (Velusamy và cộng sự 1981)[75] IET 8200, IET 8258 và IET 8283 (Jaswant và cộng sự., 1983)[47] B441B126-3-2-1 và BG367-7 (Dhaliwal và cộng sự., 1984)[42] IET9705, IET9709, IET9719, IET9711, IET9727, IET9725, IET9723, IET9720, và IET9710 (Rajendran, 1986)[66] TM4506 (Logiswaran và cộng sự., 1987)[51] AS13744, RAU4071-57-13 và RP2430-103-56-51 (Subramanian and Velusamy, 1987)[71]

Trang 25

Tất cả 800 giống đã nghiên cứu ở Sri Lanka thì giống lúa Dahanala

2220, Dahanala 682 và Kaluheenati 547 là có tính chống đối với bọ trĩ hại lúa

Thrips oryzae (Kandasamy C, 1977)[48]

Thayumanawan và cộng sự (1990)[72] Đã tìm thấy rằng các giống lúa chống bọ trĩ có hàm lượng Phenol, chlorgenic và axids cao ở mức có ý nghĩa làm chúng không bị nhiễm bọ trĩ

+ Biện pháp hoá học:

Cho dù bọ trĩ hại lúa Thrips oryzae là dịch hại thứ yếu trên lúa nhưng

nhiều nông nhân ở ấn Độ, Trung quốc, Hàn quốc và Bangladesh đã theo dõi

sử dụng các loại thuốc trừ sâu khác nhau để chống dịch hại này

Theo Mohanasundaran et al (1978)[57] ở ấn Độ, các hợp chất hoá học như: Chlorpyriphos, chlorfenvinphos, dimethoate, và leptophos có hiệu quả khi xử lý bằng cách rắc vào gốc

Theo Barwal and Rao, (1991)[36] Các hợp chất như: Quinalphos, phosalone and carbaryl có thể phun lên cây Hơn nũa, việc xử lý hạt giống và rắc carbofuran vào đất trước và sau khi gieo đã phòng trừ bọ trĩ một cách có hiệu quả

Theo Uthamasamy et al (1985)[74] Sathiyanandam et al (1987)[68] Dầu Neem được phát hiện là có hiệu quả như hợp chất phosphamidon và

fenthion phòng trừ bọ trĩ hại lúa Thrips oryzae Bagnall

ở Trung Quốc, hợp chất thiocyclam và hydrogen oxalate, một công thức được phát triển từ giun đốt, có hiệu quả khi sử dụng để phun hoặc xử lý vùng gốc để phòng chống bọ trĩ (Shang and Chiu, 1981; Chiu, 1985)[69][39] Các hột nhỏ của carbofuran sử dụng trên ruộng sạ có thể phòng trừ tất cả các

giai đoạn của bọ trĩ hại lúa Thrips oryzae (Zhuge, 1981)[78]

ở Nam Triều tiên, sử dụng các hột carbofuran cũng có hiệu quả trong

Trang 26

phòng chòng bọ trĩ hại lúa (Kim et al., 1984)[49]

ở In Bangladesh, sự sử dụng rộng rãi carbofuran diazinon, cartap và disulfoton dạng hột sau khi cấy có hiệu quả để phòng trừ sâu non và trưởng thành bọ trĩ hại lúa (Husain and Begum, 1984)[46]

Trang 27

3 Địa điểm, vật liệu

và phương pháp nghiên cứu

3.1 Địa điểm, thời gian, đối tượng nghiên cứu

3.1.1 Địa điểm nghiên cứu

- Tại phường Đại phúc - Thị xã Bắc Ninh - Tỉnh Bắc Ninh

- Tại xã Trung Chính - Lương Tài - Bắc Ninh

- Thí nghiệm trong phòng tại Chi cục bảo vệ thực vật và phòng nuôi sâu sinh học - Bộ môn Côn trùng - Trường Đại học Nông nghiệp I

3.1.2 Thời gian nghiên cứu

Từ tháng 12/2004 đến tháng 06/2005

3.1.3 Đối tượng nghiên cứu

- Bọ trĩ hại lúa vụ xuân 2005 trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh và thiên địch của chúng

- Giống lúa Q5, Khang Dân, Nếp PD2 …

3.2 Vật liệu nghiên cứu

3.2.1 Các dụng cụ thí nghiệm

- Hộp nhựa đựng mẫu

- ống tuýp, lọ thuỷ tinh đựng mẫu

- Bút lông, giấy thấm, panh, kéo

- Túi nylon đựng mẫu

- Kính hiển vi , kính lúp soi nổi, kính lúp tay

- Cồn 70 % để bảo quản mẫu

Trang 28

- Bát nhựa để trồng lúa có đường kính miệng 20 cm, sâu 10 cm

- Nhựa pôlyêtylen chụp lồng hình trụ có đường kính 18 cm, cao 40 cm

Trang 29

3.3 nội dung nghiên cứu

1 Điều tra thành phần bọ trĩ hại lúa trên các giống nghiên cứu trồng ở vụ xuân 2005 tại Bắc Ninh

2 Nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh vật học của loài bọ trĩ chính hại lúa xuân 2005 ở Bắc Ninh

3 Điều tra diễn biến, mật độ, tình hình gây hại và khảo nghiệm phòng chống bọ trĩ hại lúa xuân bằng một số loại thuốc hoá học Từ đó rút ra biện pháp phòng chống bọ trĩ tốt nhất

3.4 phương pháp nghiên cứu

3.4.1 Phương pháp điều tra thành phần bọ trĩ chính hại lúa

Để thực hiện được yêu cầu 1, chúng tôi tiến hành điều tra tự do 5 ngày một lần trên các giống lúa chính trồng trong vụ xuân tại địa bàn Bắc Ninh Thu trưởng thành bằng vợt, bút lông hoặc ngắt các lá bị hại bởi bọ trĩ ( dựa vào triệu chứng dũa hút của bọ trĩ làm mép lá khô, để lại những chấm trắng ở mặt dưới của phiến lá úa, mép lá cong) rồi cho vào túi nylon mang về phòng

đổ cồn 70 % vào hoặc dùng bút lông ướt thu những con bọ trĩ trưởng thành vào lọ đựng mẫu, có nhãn ghi

Mẫu vật thu được trên vợt và trong túi nylon có chứa lá lúa bị hại do bọ trĩ được ngâm trong lọ đựng mẫu chứa lá lúa bị hại bởi bọ trĩ được ngâm trong

lọ đựng mẫu chứa cồn 70 % ngoài lọ có nhãn ghi:

- Ngày thu mẫu

- Địa điểm thu mẫu

- Giống lúa

- Bộ phận bị hại

- Mẫu vật được tiến hành định loại theo tài liệu phân loại của Anh, Nhật, Trung Quốc và Philippines, đo đếm, mô tả hình thái, kích thước dưới kính lúp 2 mắt soi nổi côn trùng, từ đó phân loại thành phần các loài

bọ trĩ hại lúa thường gặp ở vùng nghiên cứu

Trang 30

3.4.2 Phương pháp nghiên cứu đặc điểm sinh học của loài bọ trĩ chính gây hại lúa

Để nghiên cứu đặc điểm sinh học của bọ trĩ chúng tôi tiến hành thu bắt

bọ trĩ trưởng thành trên đồng ruộng rồi đem về nhân nuôi theo phương pháp nuôi cá thể bằng cách thả vào ống nghiệm đã có sẵn một rảnh mạ sạch (rảnh mạ là giống Khang Dân, được gieo trong chậu có chụp lồng mica đảm bảo rảnh mạ sạch không nhiễm bọ trĩ) có tẩm bông ướt dưới gốc mạ để cho cây mạ tươi, trên miệng ống nghiệm có bít bông để bọ trĩ không bò đi (Theo phương pháp của Cục bảo vệ thực vật 2001 Viện Bảo vệ thực vật 1998) Sau khi bọ trĩ tiếp xúc với cây mạ một ngày thì chuyển những con bọ trĩ trưởng thành sang ống nghiệm khác có sẵn rảnh mạ sạch Lấy cây mạ đã tiếp xúc với

bọ trĩ đem soi dưới kính quan sát, theo dõi, đo đếm kích thước các pha phát dục, đồng thời tính thời gian của các pha phát dục từ sâu non tuổi 1- 2 - tiền nhộng-nhộng- trưởng thành theo sơ đồ sau:

Sơ đồ: Quy trình nuôi bọ trĩ Thrips oryzae Bagnall bằng mạ khang dân sạch

tại phòng thí nghiệm Chi cục BVTV Bắc Ninh

Trưởng thành thu ngoài ruộng lúa

hoặc thu sau khi nuôi trong phòng

Trang 31

- Thời gian phát dục của pha trứng:

Để nghiên cứu pha trứng của bọ trĩ chúng tôi bắt trưởng thành thả vào ống nghiệm đã có sẵn rảnh mạ sạch (rảnh mạ là giống Khang Dân, được gieo trong chậu có chụp lồng mica đảm bảo rảnh mạ sạch không nhiễm bọ trĩ) có tẩm bông ướt dưới gốc mạ để cho cây mạ tươi, trên miệng ống nghiệm có bít bông để bọ trĩ không bò đi Sau khi bọ trĩ tiếp xúc với cây mạ một ngày thì chuyển những con bọ trĩ trưởng thành sang ống nghiệm có cây mạ sạch khác

và lấy rảnh mạ cũ đi soi dưới kính lúp hai mắt, nếu thấy có trứng bọ trĩ thì hàng ngày dùng kính quan sát xem mấy ngày thì quả trứng đó nở thành sâu non.Thời gian phát dục của pha trứng được tính từ khi trứng đẻ đến khi trứng

nở thành sâu non, thí nghiệm tiếp tục cho tới khi trứng thành bọ trĩ chết

- Thời gian phát dục của pha sâu non:

Để nghiên cứu pha phát dục của bọ trĩ non chúng tôi phải theo dõi từ khi trứng mới nở xuất hiện bọ trĩ non, lập tức chúng tôi chuyển sang ống nghiệm đã có sẵn rảnh mạ có tẩm bông ướt dưới gốc cây mạ để cho cây mạ tươi rồi tiến hành theo dõi Đối với bọ trĩ non tuổi 1, chúng tôi dùng phương pháp đo kích thước của bọ trĩ non hàng ngày và quan sát hình thái bọ trĩ non tuổi 1 có cùng ngày tuổi thì chúng có kích cỡ tương đương nhau mà ít chênh lệch về kích cỡ.Cùng với việc tìm thấy xác lột của chúng, từ đó chúng tôi xác

định được thời gian phát dục của bọ trĩ non tuổi 1

Tương tự đối với thời gian phát dục của bọ trĩ non tuổi 2, chúng tôi tiếp tục theo dõi, quan sát và đo kích thước Thời gian phát dục của bọ trĩ non tuổi

2 được tính từ khi bọ trĩ non tuổi 1 lột xác chuyển thành tuổi 2 cho tới khi bọ trĩ non tuổi 2 bắt đầu hoá tiền nhộng

- Thời gian phát dục của pha nhộng:

Khi sâu non tuổi 2 đẫy sức để bước sang pha nhộng Pha nhộng gồm

Trang 32

2 giai đoạn là tiền nhộng và nhộng Cả tiền nhộng và nhộng đều ít hoạt động, không ăn thêm Vì vậy, chỉ quan sát hàng ngày ghi chép vào sổ không cần thay cây mạ Để phân biệt giai đoạn tiền nhộng và nhộng nhờ hai mầm cánh trước và râu đầu Đối với tiền nhộng mầm cánh trước kéo dài đến đốt bụng thứ ba, hai râu đầu chĩa về phía trước Còn nhộng thì mầm cánh kéo dài đến

đốt bụng thứ tám, râu đầu quặp sát vào cơ thể, mắt kép màu đỏ

- Thời gian phát dục của pha trưởng thành:

Khi nhộng vũ hoá trưởng thành chúng tôi tiến hành ghép đôi cá thể cái và cá thể đực Trưởng thành cái khác với trưởng thành đực là có máng đẻ trứng và kích thước cơ thể lớn hơn Sau khi giao phối tiến hành tách trưởng thành đực đồng thời quan sát hàng ngày từ khi trưởng thành cái đẻ quả trứng

đầu tiên và đến kết thúc thời gian đẻ trứng và chết sinh lý

Thời gian từ vũ hóa trưởng thành đến khi trưởng thành cái bắt đầu đẻ quả trứng đầu tiên gọi là thời gian trước đẻ trứng

Thời gian từ vũ hóa trưởng thành đến khi trưởng thành chết sinh lý gọi

là thời gian sống của trưởng thành

Vòng đời của bọ trĩ được tính từ khi trứng đẻ ra đến khi trưởng thành bắt

đầu đẻ quả trứng đầu tiên

3.4.3 Phương pháp điều tra diễn biến mật độ, tình hình gây hại và khảo nghiệm thuốc hoá học phòng chống bọ trĩ:

Để điều tra tình hình gây hại của bọ trĩ: Chúng tôi tiến hành điều tra

định kỳ 5 ngày 1 lần trên 3 ruộng cho mỗi giống khác nhau và trà khác nhau Mỗi ruộng điều tra 5 điểm chéo góc không lặp lại Mỗi điểm điều tra 10 khóm, mỗi khóm 2 lá bị hại bởi bọ trĩ Điều tra ở cả 3 tầng (ngọn, giữa, gốc) Như vậy mỗi điểm 20 lá và mỗi ruộng là 100 lá Số lá bị hại của từng điểm cho riêng vào túi nylon, như vậy mỗi ruộng 5 túi nylon đựng lá bị hại, 3 ruộng

Trang 33

là 15 túi nylon mang về phòng đổ cồn lắc nhẹ rồi đếm số bọ trĩ trong mỗi túi (ta chỉ đếm 1 loài bọ trĩ chính) Từ đó ta tính được mật độ con/20 lá, con/ lá, con/khóm và tình hình diễn biến số lượng, mức độ gây hại và mật độ bọ trĩ trên các ruộng lúa

Phương pháp đếm bọ trĩ: dùng mắt thường hoặc kính lúp tay đếm trực tiếp trên lá lúa và xác định mức độ gây hại của bọ trĩ hại lúa theo thang bậc 4 cấp của Cục bảo vệ thực vật tập I- 1997

3.4.4 Thí nghiệm hiệu lực của một số thuốc bảo vệ thực vật đối với bọ trĩ

Thrips oryzae bagnall:

3.4.4.1 Thí nghiệm trong phòng:

Chúng tôi tiến hành gieo mạ trong chậu (gieo thưa, giống Khang dân)

có chụp lồng mica trên có đậy vải màn Để bọ trĩ từ bên ngoài không bay vào

được, khi cây mạ 4 - 5 lá chúng tôi nhổ cây mạ trồng vào các chậu có chụp lồng mica, đậy vải màn phía trên Sau khi cây mạ hồi phục chúng tôi bắt bọ trĩ thả lên cây mạ trong lồng (35 con/lồng)

Tiến hành thử nghiệm với 3 loại thuốc được phép sử dụng đang lưu hành trên thị trường, sử dụng bình bơm tay (1,5 lít) để phun, phun với nồng độ

và liều lượng theo khuyến cáo của nhà sản xuất ghi trên nhãn đó là các thuốc: Regent 800WG, Antaphos 25 EC, Bassa 50 EC Chúng tôi thử nghiệm với 4 công thức mỗi chậu 1 công thức, mỗi công thức nhắc lại 3 lần

Công thức 1 xử lý bằng Bassa 50EC nồng độ khuyến cáo 2 lít thuốc/ha Công thức 2 xử lý bằng Antaphos 25EC nồng độ khuyến cáo 0,33 - 0,42 lít thuốc/ha

Công thức 3 xử lý bằng Regent 800WG nồng độ khuyến cáo 0,028kg thuốc/ha

Công thức 4 đối chứng không phun

Trang 34

Theo dõi đếm số bị trĩ sống sau phun 1, 3, 5 ngày và tính toán hiệu lực của thuốc theo công thức ABBOTT, Theo TCN Cục BVTV 1998 và 2001

3.4.4.2 Thí nghiệm ngoài đồng:

Tương tự thí nghiệm trong phòng chúng tôi tiến hành thử nghiệm với 3 loại thuốc được phép sử dụng đang lưu hành trên thị trường, sử dụng bình bơm tay (15 lít) để phun, phun với nồng độ và liều lượng theo khuyến cáo của nhà sản xuất ghi trên nhãn đó là các thuốc: Regent 800WG, Antaphos 25 EC, Bassa 50 EC

Chúng tôi thí nghiệm với 4 công thức, mỗi công thức nhắc lại 3 lần và

được bố trí theo kiểu RCB

Công thức 1 xử lý bằng Bassa 50EC nồng độ khuyến cáo 2 lít thuốc/ha Công thức 2 xử lý bằng Antaphos 25EC nồng độ khuyến cáo 0,33 - 0,42 lít thuốc/ha

Công thức 3 xử lý bằng Regent 800WG nồng độ khuyến cáo 0,028kg thuốc/ha

Công thức 4 đối chứng không phun

Mỗi ô thí nghiệm 30 m2, phun vào giai đoạn lúa đẻ nhánh

Trước khi phun chúng tôi tiến hành điều tra mật độ bọ trĩ ở các ô thí nghiệm và sau khi phun 1, 3, 5 ngày điều tra theo dõi số bọ trĩ sống ở mỗi ô thí nghiệm rồi tính hiệu lực của thuốc theo công thức Henderson - Tilton

3.4.5 Chỉ tiêu theo dõi Phương pháp tính toán kết quả và xử lý số liệu:

* Chỉ tiêu theo dõi:

Tổng số bọ trĩ điều tra Mật độ bọ trĩ (con/lá) =

Tổng số lá điều tra

Trang 35

- Tỷ lệ hại của bọ trĩ đ−ợc tính theo công thức:

X, X2 ,…, Xn: Thời gian phát triển của từng cá thể

N x n

Trong đó:

N1: số lá bị hại ở cấp 1

N3: số lá bị hại ở cấp 3

Trang 36

Nn: số lá bị hại ở cấp n

N: số cấp bị hại cao nhất

Đối với bọ trĩ, cấp bị hại được phân thành 3 cấp như sau:

+ Cấp 1: nhẹ(các vết hại xuất hiện rải rác trên lá)

+ Cấp 2: trung bình (các vết hại phân bố dưới 1/3 diện tích lá)

+ Cấp 3: nặng (các vết hại phân bố trên 1/3 diện tích lá)

- Tính hiệu lực của thuốc trừ bọ trĩ trong phòng thí nghiệp áp dụng công thức ABBOTT

Số liệu sẽ được tính toán và xử lý theo chương trình Exel, X ± ∆

Khoảng xác định, độ tin cậy 95 %, ∆ =

n

t

S . α

, trong đó ∆ là sai số ước lượng, S là độ lệch chuẩn, t = 1,96 (giá trị tra bảng Student ở mức ý nghĩa

Trang 37

α =0,05); n lµ dung l−îng mÉu thÝ nghiÖm vµ c¸c chØ tiªu kh¸c ®−îc xö lý theo ch−¬ng tr×nh IRRISTAT vµ Statitica dïng cho khèi trång trät, b¶o vÖ thùc vËt

Dïng ph−¬ng ph¸p thèng kª so s¸nh Duncan gi÷a c¸c c«ng thøc thÝ nghiÖm ë x¸c suÊt P≡0,05 vµ P≡0,01

Trang 38

4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận

4.1.Tình hình sản xuất vụ xuân 2005 ở Bắc Ninh

4.1.1 Tình hình chung của Bắc Ninh:

Bắc Ninh là tỉnh đồng bằng, nông nghiệp chiếm 80% với tổng diện tích

tự nhiên là 796,26 km2 Hơn 900 ngàn người, hơn 100.000 ha đất phù sa châu thổ sông Hồng bạc mầu, địa hình tương đối bằng phẳng được sử dụng để trồng lúa và các cây mầu khác như ngô, rau quả, đậu đỗ các loại…Với 3 vụ sản xuất trong năm là 2 vụ lúa 1 vụ đông, hơn nữa Bắc Ninh là đầu mối giao thông với các tỉnh có biên giới Việt Trung nên hàng năm xuất ra ngoài tỉnh hàng ngàn tấn rau quả, lương thực và nhập về hàng vạn tấn nông sản khác

Mặt khác nền nông nghiệp của Bắc Ninh phát triển ở trình độ cao do việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất như: sử dụng các loại giống mới có năng suất cao, thâm canh cao, tăng vụ, tăng hệ số sử dụng đất… Chính vì vậy giúp cho kinh tế Bắc Ninh không ngừng tăng trưởng Bên cạnh những lợi ích kinh tế đó cũng là những điều kiện thuận lợi để các loại sâu bệnh phát triển

Khí hậu ở Bắc Ninh nói chung mang đặc tính của khí hậu nhiệt đới gió mùa với đặc điểm nóng ẩm và mưa nhiều theo mùa Nhiệt độ không khí trung bình nhiều năm là 21-23 độ C, ẩm độ không khí là 86 %, lượng mưa trung bình cả năm dao động từ 1.400 mm đến 1.500 mm Trong năm có 2 mùa rõ rệt : Mùa khô, lạnh kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau và mùa mưa, nóng kéo dài từ tháng 4 đến tháng 10 , nhìn chung là thuận lợi cho cây lúa sinh trưởng phát triển đồng thời cũng tạo điều kiện cho sâu bệnh phát triển

4.1.2 Tình hình công tác bảo vệ thực vật (BVTV)

Sau khi tỉnh Bắc Ninh được tái lập lại và bắt đầu đi vào hoạt động tù

Trang 39

những ngày đầu của năm 1997, theo quyết định của UBND tỉnh Bắc Ninh Hệ thống BVTV được tổ chức lại Chi cục BVTV được thành lập bao gồm 8 trạm BVTV nằm trên 8 huyện, thị Trên văn phòng Chi cục BVTV có 1 trạm kiểm dịch thưc vật, 1 phòng kỹ thuật, 1 phòng thanh tra, 1 phòng hành chính tổ chức

Công tác bảo vệ thực vật cũng rất được chú trọng Cán bộ Trạm bảo vệ thực vật thường xuyên điều tra phát hiện sâu bệnh kịp thời để đưa ra dự báo phòng trừ cho nông dân nên thuốc bảo vệ thực vật cũng thường được phun

đúng thời điểm và những thuốc có tác dụng diệt trừ tốt cho hiệu quả cao như: Regent, Folicua, Tilsuper, Padan là những thuốc được cán bộ trạm Bảo vệ thực vật khuyến cáo nên sử dụng Một số nông dân còn có kinh nghiệm trong sản xuất như phun thuốc trừ sâu kết hợp với thuốc trừ bệnh cho lúa khi trỗ thấp thoi để phòng trừ sâu bệnh đạt hiệu quả tốt và kích thích lúa trỗ tập trung Hay để trừ sâu đục thân dựa vào kinh nghiệm cứ sau khi bướm rộ 7 ngày thì phun Nói chung nông dân ở đây tiếp thu tiến bộ kỹ thuật rất tốt, có kinh nghiệm trong sản xuất Với mức bình quân đầu người 1,4 sào/người, năng suất đạt 2,5 - 3 tạ/ha người dân chi phí cho thuốc bảo vệ thực vật trừ cỏ

và chuột khoảng 10% và các chi phí chăm sóc khác 20 - 25%, tổng chi phí là

30 - 35%, sản xuất nông nghiệp góp phần thu nhập của nông dân và ổn định lương thực của vùng

Thành phần sâu bệnh hại rất đa dạng gây tác hại rất lớn những loài sâu hại mang tính phổ biến và nguy hiểm trong những năm gần đây: Sâu cuốn lá, sâu đục thân, rầy nâu, đạo ôn, bệnh khô vằn, bạc lá… trong đó đạo ôn gây hại mạnh trong vụ xuân, bạc lá gây hại mạnh sau các trận mưa, khô văn bạc lá nặng hơn vụ xuân năm 2004 (khô văn năm 2004 bị hại là 11.200ha, năm 2005

là 15.000 ha), sâu cuốn lá gây hại tương đương năm 2003, diễn biến bệnh đạo

ôn rất phức tạp, đạo ôn phát triển mạnh hơn năm 2003 - 2004 (vụ xuân năm

2003 có 140ha đạo ôn lá, vụ xuân 2004 có 820 ha nhiễm đạo ôn, năm 2005 có

Trang 40

khoảng 2000 ha nhiễm đạo ôn)

4.1.2 Cơ cấu trà và giống lúa xuân 2005 ở Bắc Ninh:

Tính đến ngày 10/3 toàn tỉnh Bắc Ninh mới cấy đ−ợc 38.133 ha bằng 95,3 % kế hoạch (KH) và giảm 1.506 ha Nguyên nhân là do một số diện tích

đất nông nghiệp đ−ợc chuyển sang các mục đích sử dụng khác

Bảng 1: Cơ cấu trà vụ và một số giống lúa vụ xuân 2005 tại tỉnh Bắc Ninh

Giống

Trà vụ

DT (ha)

DT

KH (%)

Q5 (ha)

KD (ha)

Nếp (ha)

Lúa Lai (ha)

DT10 (ha)

Giống khác (ha) Trà xuân

Qua bảng 1 và hình 1 chúng tôi thấy :

- Trà xuân sớm 705 ha chiếm 1,8 % chủ yếu là cấy các giống dài ngày nh− Xi 23, DT10, C70 cấy trên chân ruộng trũng

Ngày đăng: 28/11/2013, 10:04

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Tạ Thu Cúc (1980), Giáo trình trồng rau, Nhà xuất bản (NXB) nông nghiệp. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình trồng rau
Tác giả: Tạ Thu Cúc
Nhà XB: Nhà xuất bản (NXB) nông nghiệp. Hà Nội
Năm: 1980
2. Nguyễn Đình Chi (2003), Nghiên cứu tình hình phát sinh, biến động số l−ợng của một số sâu bệnh chính và biện pháp phòng chống chúng tại Yên Thành-Nghệ An, Luận án tiến sỹ, Viện khoa học kỹ thuật nông nghiệp Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tình hình phát sinh, biến động số l−ợng của một số sâu bệnh chính và biện pháp phòng chống chúng
Tác giả: Nguyễn Đình Chi
Năm: 2003
3. Cục Bảo vệ thực vật (BVTV) (1985), Ph−ơng pháp điều tra và phát hiện sâu bệnh hại cây trồng, NXB nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ph−ơng pháp điều tra và phát hiện sâu bệnh hại cây trồng
Tác giả: Cục Bảo vệ thực vật (BVTV)
Nhà XB: NXB nông nghiệp
Năm: 1985
4. Cục Trồng trọt và BVTV (1992), Danh lục thiên địch của sâu hại cây trồng , NXB nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Danh lục thiên địch của sâu hại cây trồng
Tác giả: Cục Trồng trọt và BVTV
Nhà XB: NXB nông nghiệp
Năm: 1992
5. Đặng Thị Dung (2001), Giáo trình dự tính dự báo sâu bệnh hại cây trồng nông nghiệp, NXB nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình dự tính dự báo sâu bệnh hại cây trồng nông nghiệp
Tác giả: Đặng Thị Dung
Nhà XB: NXB nông nghiệp
Năm: 2001
7. Hà Quang Hùng (1998), Giáo trình phòng trừ tổng hợp dịch hại cây trồng nông nghiệp, NXB nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: phòng trừ tổng hợp dịch hại cây trồng nông nghiệp
Tác giả: Hà Quang Hùng
Nhà XB: NXB nông nghiệp
Năm: 1998
8. Hà Quang Hùng (1992),”Đánh giá hiệu quả của phòng trừ tổng hợp IPM sâu hại lúa vùng Gia Lâm Hà Nội”, Tuyển tập báo cáo khoa học- Tr−ờngĐại học Nông nghiệp I. NXBNN , Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập báo cáo khoa học- Tr−ờng "Đại học Nông nghiệp I
Tác giả: Hà Quang Hùng
Nhà XB: NXBNN
Năm: 1992
9. Hà Quang Hùng (1991), “Thực trạng nghiên cứu khoa học và sử dụng biện pháp đấu tranh sinh học trong sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam”, truyển tập báo cáo khoa học tại hội nghị giáo dục và phát triển nông thôn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hà Quang Hùng (1991), “Thực trạng nghiên cứu khoa học và sử dụng biện pháp đấu tranh sinh học trong sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam”
Tác giả: Hà Quang Hùng
Năm: 1991
10. Hà Quang Hùng (1984), Thành phần ong ký sinh trứng sâu hại lúa vùng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thành phần ong ký sinh trứng sâu hại lúa vùng
Tác giả: Hà Quang Hùng
Năm: 1984
11. Hà Quang Hùng (5/1992), Biện pháp phòng trừ tổng hợp trong công tác BVTV, Uỷ ban khoa học Nhà N−ớc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biện pháp phòng trừ tổng hợp trong công tác BVTV
12. Hà Quang Hùng (27/2/1992) , “Phòng trừ tổng hợpmột số biện pháp phối hợp tốt nhất để phòng chống sâu bệnh hại lúa,” Báo Nhân Dân số 13572 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hà Quang Hùng (27/2/1992) , “Phòng trừ tổng hợpmột số biện pháp phối hợp tốt nhất để phòng chống sâu bệnh hại lú"a",”
13. Hà Quang Hùng (2/2005), Bọ trĩ hại cây trồng và biện pháp phòng chống chúng, NXBNN, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bọ trĩ hại cây trồng và biện pháp phòng chống chúng
Nhà XB: NXBNN
14. Phạm văn Lầm (1994), Nhận dạng và bảo vệ những thiên địch trên lúa, Viện BVTV, NXB nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhận dạng và bảo vệ những thiên địch trên lúa, Viện BVTV
Tác giả: Phạm văn Lầm
Nhà XB: NXB nông nghiệp
Năm: 1994
15. Trần Văn Lợi (2001), Nghiên cứu tình hình gây hại, đặc tính sinh vật học, sinh thái học của bọ trĩ Thrips Palmi Karny hại khoai tây vụ đông xuân 2000 – 2001 tại tỉnh Bắc Ninh, Luận văn thạc sỹ, ĐHNNI, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tình hình gây hại, đặc tính sinh vật học, sinh thái học của bọ trĩ Thrips Palmi Karny hại khoai tây vụ đông xuân 2000 – 2001 tại tỉnh Bắc Ninh
Tác giả: Trần Văn Lợi
Nhà XB: ĐHNNI
Năm: 2001
16. Hoàng Đức Nhuận (1997), Đấu tranh sinh học và ứng dụng, NXB kỹ thuật,Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đấu tranh sinh học và ứng dụng
Tác giả: Hoàng Đức Nhuận
Nhà XB: NXB kỹ thuật
Năm: 1997
19. IPM/PAO (1995), Tài liệu h−ớng dẫn quản lý dịch hại trên lúa, Cục BVTV, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu h−ớng dẫn quản lý dịch hại trên lúa
Tác giả: IPM/PAO
Năm: 1995
20. Phạm Bình Quyền (1994), Sinh thái học côn trùng, NXB Giáo dục, Hà Néi Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Sinh thái học côn trùng
Tác giả: Phạm Bình Quyền
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1994
21. Vũ Ngọc Tuyên (1994), Bảo vệ môi trường đất đai, NXB Nông nghiệp, Hà Nội, 122 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo vệ môi tr−ờng đất đai
Tác giả: Vũ Ngọc Tuyên
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1994
22. Phạm Trí Thành (1997), Giáo trình phương pháp thí nghiệm đồng ruộng, NXB nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Giáo trình ph−ơng pháp thí nghiệm đồng ruộng
Tác giả: Phạm Trí Thành
Nhà XB: NXB nông nghiệp
Năm: 1997
23. Hồ Khắc Tín (1982), Giáo trình côn trùng nông nghiệp I, NXB nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình côn trùng nông nghiệp I
Tác giả: Hồ Khắc Tín
Nhà XB: NXB nông nghiệp
Năm: 1982

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Cơ cấu trà vụ và một số giống lúa vụ xuân 2005 tại tỉnh Bắc Ninh - Luận văn điều tra thành phần bọ trĩ hại lúa, đặc điểm hình thái, sinh vật học của loài gây hại chính trên lúa vụ xuân 2005 tại tỉnh bắc ninh
Bảng 1 Cơ cấu trà vụ và một số giống lúa vụ xuân 2005 tại tỉnh Bắc Ninh (Trang 40)
Hình 2 : Triệu chứng lá bị hại - Luận văn điều tra thành phần bọ trĩ hại lúa, đặc điểm hình thái, sinh vật học của loài gây hại chính trên lúa vụ xuân 2005 tại tỉnh bắc ninh
Hình 2 Triệu chứng lá bị hại (Trang 47)
Bảng 3 : Sự phân bố của bọ trĩ Thrips oryzae Bagnall  trên các tầng lá lúa - Luận văn điều tra thành phần bọ trĩ hại lúa, đặc điểm hình thái, sinh vật học của loài gây hại chính trên lúa vụ xuân 2005 tại tỉnh bắc ninh
Bảng 3 Sự phân bố của bọ trĩ Thrips oryzae Bagnall trên các tầng lá lúa (Trang 48)
Hình 3: Mật độ bọ trĩ trên các tầng lúa - Luận văn điều tra thành phần bọ trĩ hại lúa, đặc điểm hình thái, sinh vật học của loài gây hại chính trên lúa vụ xuân 2005 tại tỉnh bắc ninh
Hình 3 Mật độ bọ trĩ trên các tầng lúa (Trang 49)
Hình 4: Trứng bọ trĩ - Luận văn điều tra thành phần bọ trĩ hại lúa, đặc điểm hình thái, sinh vật học của loài gây hại chính trên lúa vụ xuân 2005 tại tỉnh bắc ninh
Hình 4 Trứng bọ trĩ (Trang 50)
Hình 5: Sâu non tuổi 1 - Luận văn điều tra thành phần bọ trĩ hại lúa, đặc điểm hình thái, sinh vật học của loài gây hại chính trên lúa vụ xuân 2005 tại tỉnh bắc ninh
Hình 5 Sâu non tuổi 1 (Trang 51)
Hình 9: Bọ trĩ tr−ởng thành - Luận văn điều tra thành phần bọ trĩ hại lúa, đặc điểm hình thái, sinh vật học của loài gây hại chính trên lúa vụ xuân 2005 tại tỉnh bắc ninh
Hình 9 Bọ trĩ tr−ởng thành (Trang 54)
Bảng 6 : Sức  đẻ trứng của bọ trĩ trởng thành Thips oryzae Bagnall - Luận văn điều tra thành phần bọ trĩ hại lúa, đặc điểm hình thái, sinh vật học của loài gây hại chính trên lúa vụ xuân 2005 tại tỉnh bắc ninh
Bảng 6 Sức đẻ trứng của bọ trĩ trởng thành Thips oryzae Bagnall (Trang 60)
Hình 10:  Sức đẻ trứng của bọ trĩ Thrips oryzae Bagnall - Luận văn điều tra thành phần bọ trĩ hại lúa, đặc điểm hình thái, sinh vật học của loài gây hại chính trên lúa vụ xuân 2005 tại tỉnh bắc ninh
Hình 10 Sức đẻ trứng của bọ trĩ Thrips oryzae Bagnall (Trang 61)
Bảng 7 : Thời gian sống và sức đẻ trứng   của bọ trĩ tr−ởng thành Thrips oryzae - Luận văn điều tra thành phần bọ trĩ hại lúa, đặc điểm hình thái, sinh vật học của loài gây hại chính trên lúa vụ xuân 2005 tại tỉnh bắc ninh
Bảng 7 Thời gian sống và sức đẻ trứng của bọ trĩ tr−ởng thành Thrips oryzae (Trang 62)
Bảng 9: Diễn biến mật độ của bọ trĩ trên một số giống lúa vụ xuân 2005 - Luận văn điều tra thành phần bọ trĩ hại lúa, đặc điểm hình thái, sinh vật học của loài gây hại chính trên lúa vụ xuân 2005 tại tỉnh bắc ninh
Bảng 9 Diễn biến mật độ của bọ trĩ trên một số giống lúa vụ xuân 2005 (Trang 66)
Bảng 10: Diễn biến mật độ của bọ trĩ trên một số giống lúa vụ xuân 2005 - Luận văn điều tra thành phần bọ trĩ hại lúa, đặc điểm hình thái, sinh vật học của loài gây hại chính trên lúa vụ xuân 2005 tại tỉnh bắc ninh
Bảng 10 Diễn biến mật độ của bọ trĩ trên một số giống lúa vụ xuân 2005 (Trang 67)
Bảng 11 và bảng 12 - Luận văn điều tra thành phần bọ trĩ hại lúa, đặc điểm hình thái, sinh vật học của loài gây hại chính trên lúa vụ xuân 2005 tại tỉnh bắc ninh
Bảng 11 và bảng 12 (Trang 69)
Hình 13: Mật độ bọ trĩ trên giống Q5 ở các trà lúa - Luận văn điều tra thành phần bọ trĩ hại lúa, đặc điểm hình thái, sinh vật học của loài gây hại chính trên lúa vụ xuân 2005 tại tỉnh bắc ninh
Hình 13 Mật độ bọ trĩ trên giống Q5 ở các trà lúa (Trang 71)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w