1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và đề xuất sử dụng theo hướng sản xuất hàng hoá trên địa bàn huyện quảng xương tỉnh thanh hoá

108 720 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh giá Hiệu quả Sử dụng Đất Nông nghiệp và Đề xuất Sử dụng Theo Hướng Sản xuất Hàng hoá Trên Địa bàn Huyện Quảng Xương Tỉnh Thanh Hoá
Tác giả Nguyễn Thị Hằng
Người hướng dẫn PGS.TS. Vũ Thị Bình
Trường học Trường Đại học Nông nghiệp I Hà Nội
Chuyên ngành Quản lý đất đai
Thể loại Luận văn Thạc sĩ Nông nghiệp
Năm xuất bản 2006
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 1,17 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

luận văn

Trang 1

bộ giáo dục và đào tạo trường đạI học nông nghiệp I

nguyễn thị hằng

Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp

và đề xuất sử dụng theo hướng sản xuất hàng hoá trên địa bàn huyện Quảng Xương

Trang 2

lời cam đoan

Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu của tôi trong luận văn này là trung thực và ch−a hề đ−ợc sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Tôi cũng cam đoan rằng, các thông tin trích dẫn trong luận văn đều

đ4 đ−ợc chỉ rõ nguồn gốc và mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đ4 đ−ợc cảm ơn

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Hằng

Trang 3

Tôi xin trân trọng cảm ơn cô giáo PGS.TS Vũ Thị Bình đ tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Lnh đạo Trường TH Tài nguyên và Môi trường, đơn vị Khoa Quản lý

đất đai nơi tôi công tác đ tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi học tập nghiên cứu

Tôi xin cảm ơn các tập thể, cơ quan, ban, ngành đ tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong quá trình thu hập tài liệu và nghiên cứu

UBND huyện Quảng Xương và bà con nông dân trong huyện

Đặc biệt, tôi xin cảm ơn tập thể lớp cao học, gia đình, người thân đ quan tâm, giúp, cùng chia sẻ với tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn tất cả mọi sự giúp đỡ quý báu trên!

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Hằng

Trang 4

Môc lôc

Trang 5

4.1.1 Đặc điểm tự nhiên 41

4.2 Nghiên cứu thực trạng sử dụng đất nông nghiệp và phân bố hệ thống

4.2.2 Thực trạng sử dụng đất nông nghiệp theo các kiểu sử dụng đất trên

4.3.4 Một số đánh giá nhận xét chung về hiệu quả sử dụng đất nông

4.4 Định hướng và một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông

Trang 7

Danh mục các chữ viết tắt

Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ

Trang 8

Danh mục các bảng

Bảng 2.1 Biến động về diện tích đất nông nghiệp và diện tích đất canh tác

Trang 9

Danh mục các biểu đồ

Biểu đồ 4.4 Cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp ở huyện Quảng Xương

Trang 10

1 Mở đầu

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá, là tài sản quan trọng nhất đối với mỗi quốc gia, là điều kiện tồn tại và phát triển của con người và các sinh vật khác trên trái đất C.Mác viết rằng “Đất là tài sản mNi mNi đối với loài người,

là điều kiện cần để sinh tồn, là điều kiện không thể thiếu được để sản xuất, là tư liệu sản xuất cơ bản trong nông nghiệp Đất đai tham gia vào tất cả các ngành sản xuất vật chất của xN hội như là một tư liệu sản xuất đặc biệt Tuy nhiên, đối với từng ngành cụ thể trong nền kinh tế quốc dân, đất đai cũng có những vị trí vai trò khác nhau

Trong nông nghiệp đất đai đóng một vị trí đặc biệt quan trọng, là yếu tố hàng đầu của ngành sản xuất này Đất đai không chỉ là chỗ tựa, chỗ đứng để lao động mà còn là nguồn cung cấp thức ăn cho cây trồng, mọi tác động của con người vào cây trồng đều dựa vào đất và thông qua đất đai “Ruộng đất là tư liệu sản xuất chủ yếu và đặc biệt không thể thay thế được Ruộng đất vừa là

đối tượng lao động vừa là tư liệu lao động”[8] “Ruộng đất trong nông nghiệp

đóng một vai trò là sức sản xuất quan trọng nhất, thiếu nó thì không thể có quá trình sản xuất nông nghiệp” [23] Vì vậy, sử dụng đất là một phần hợp thành của chiến lược nông nghiệp sinh thái và phát triển bền vững [38] Nông nghiệp là hoạt động cổ nhất và cơ bản nhất của loài người [13] Hầu hết các nước trên thế giới đều phải xây dựng một nền kinh tế trên cơ sở phát triển nông nghiệp dựa vào khai thác tiềm năng của đất, lấy đó làm bàn đạp cho việc phát triển các ngành khác Là một sản phẩm tự nhiên nhưng đất đai không giống như nhiều tài nguyên khác bởi diện tích hạn chế và vị trí cố định Trong

Trang 11

quá trình sử dụng đất, con người đN tác động làm thay đổi đất đai theo cả hai chiều hướng xấu và tốt [35] Đây là kết quả của một thời gian dài do con người sản xuất, canh tác phiến diện không quan tâm đến sự bồi bổ đất đai hay nói cách khác, con người đN không coi đất đai như một cơ thể sống cần được chăm sóc để nó khoẻ mạnh và phục vụ con người tốt hơn Việt Nam là một nước nông nghiệp đất chật người đông, đất đai được sử dụng vào mục đích nông nghiệp lại chiếm tỷ lệ thấp (chỉ chiếm 28,38% tổng diện tích đất tự nhiên) nên chỉ số về đất nông nghiệp bình quân đầu người là 1162,64

cho xN hội là vấn đề hết sức quan trọng luôn được Đảng và nhà nước quan tâm Gần 20 năm đổi mới vừa qua, Đảng và nhà nước ta đN có nhiều chủ trương, chính sách khuyến khích phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn theo hướng sản xuất hàng hoá gắn với thị trường theo hướng phát triển mạnh; vững chắc; có hiệu quả [10] Đại hội đN quyết định đường lối, chiến lược phát triển kinh tế xN hội nước ta 10 năm (2001 - 2010), trong đó nông nghiệp được quan tâm đặc biệt “Đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp theo hướng hình thành nền nông nghiệp hàng hoá lớn, phù hợp với nhu cầu thị trường và điều kiện sinh thái của từng vùng, chuyển dịch cơ cấu ngành nghề, lao động, tạo việc làm thu hút nhiều lao động nông thôn" [10]

Quảng Xương, là huyện ven biển sản xuất nông nghiệp là mũi nhọn của huyện nhưng còn phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên, nên sản lượng ngành nông nghiệp chưa cao, chưa đáp ứng được yêu cầu của thị trường hiện nay Một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến tình trạng đó là việc

bố trí cơ cấu cây trồng vật nuôi chưa hợp lý, không tận dụng được lợi thế về

đất đai, khí hậu ở từng tiểu vùng của huyện Mặt khác, đất đai của huyện khá

đa dạng về loại hình thổ nhưỡng có những yếu tố thuận lợi nhưng cũng không

ít khó khăn cho việc khai thác sử dụng đất Trên thế giới và ở Việt Nam đN có nhiều công trình nghiên cứu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và đề

Trang 12

xuất sử dụng theo hướng sản xuất hàng hoá, nhưng ở tỉnh Thanh Hoá đề tài

nghiên cứu trong lĩnh vực này còn rất ít, riêng ở huyện Quảng Xương lĩnh vực

này chưa có công trình nghiên cứu nào

Từ những vấn đề khoa học và thực tiễn sản xuất đang diễn ra ở huyện

Quảng Xương như đN trình bày ở trên, để góp phần thực hiện thành công các

mục tiêu phát triển nông nghiệp của huyện đến năm 2010 và mục tiêu lâu dài

nhằm khai thác tốt nhất phát triển nền nông nghiệp hàng hoá Chúng tôi đN

tiến hành nghiên cứu đề tài "Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và

đề xuất sử dụng theo hướng sản xuất hàng hoá trên địa bàn huyện Quảng

Xương tỉnh Thanh Hoá"

1.2 Mục đích

- Nghiên cứu đánh giá tài nguyên đất đai và các điều kiện tự nhiên,

kinh tế, xN hội tác động đến việc phát triển nông nghiệp của huyện Quảng

Xương

- Đánh giá thực trạng hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp làm cơ sở cho

việc lựa chọn các loại hình sử dụng đất có triển vọng trong điều kiện cụ thể

của huyện

- Đề xuất sử dụng đất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá ở địa

phương

1.3 Yêu cầu

- Nghiên cứu các điều kiện tự nhiên, kinh tế, xN hội đầy đủ, đảm bảo số

liệu trung thực, chính xác, thống nhất

- Phương pháp và hệ thống chỉ tiêu vận dụng trong đánh giá hiệu quả

mang tính khoa học và thực tiễn

- Phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông

nghiệp đảm bảo tính khả thi

Trang 13

2 Tổng quan tài liệu

2.1 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp trên thế giới và Việt Nam

2.1.1 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp trên thế giới

Đất nông nghiệp là nhân tố vô cùng quan trọng đối với sản xuất nông nghiệp Trên thế giới, mặc dù nền sản xuất nông nghiệp của các nước phát triển không giống nhau nhưng tầm quan trọng đối với đời sống con người thì quốc gia nào cũng thừa nhận Hầu hết các nước coi sản xuất nông nghiệp là cơ

sở nền tảng của sự phát triển Tuy nhiên, khi dân số ngày một tăng nhanh thì nhu cầu lương thực, thực phẩm là một sức ép rất lớn Để đảm bảo an ninh lương thực loài người phải tăng cường các biện pháp khai hoang đất đai Do

đó, đN phá vỡ cân bằng sinh thái của nhiều vùng, đất đai bị khai thác triệt để

và không còn thời gian nghỉ, các biện pháp gìn giữ độ phì nhiêu cho đất chưa

được coi trọng Kết quả là hàng loạt diện tích đất bị thoái hoá trên phạm vi toàn thế giới qua các hình thức bị mất chất dinh dưỡng và chất hữu cơ, bị xói mòn, bị nhiễm mặn và bị phá hoại cấu trúc của tầng đất Người ta ước tính có tới 15% tổng diện tích đất trên trái đất bị thoái hoá do những hành động bất cẩn của con người gây ra [34] Theo P.Buringh [44], toàn bộ đất có khả năng nông nghiệp của thế giới chừng 3,3 tỷ ha (chiếm 22% tổng diện tích đất liền); khoảng 78% (xấp xỉ 11,7 tỷ ha) không dùng được vào nông nghiệp

Đất trồng trọt là đất đang sử dụng, cũng có loại đất hiện tại chưa sử dụng nhưng có khả năng trồng trọt Đất đang trồng trọt của thế giới có khoảng 1,5 tỷ

ha (chiếm xấp xỉ 10,8% tổng diện tích đất đai và 46% đất có khả năng trồng trọt) Như vậy, còn 54% đất có khả năng trồng trọt chưa được khai thác [44]

Đất đai trên thế giới phân bố ở các châu lục không đều Tuy có diện tích đất nông nghiệp khá cao so với các châu lục khác nhưng Châu á lại có tỷ

Trang 14

lệ diện tích đất nông nghiệp trên tổng diện tích đất tự nhiên thấp Mặt khác, Châu á là nơi tập trung phần lớn dân số thế giới, ở đây có các quốc gia dân số

đông nhất nhì thế giới là Trung Quốc, ấn Độ, Indonexia ở Châu á, đất đồi núi chiếm 35% tổng diện tích Tiềm năng đất trồng trọt nhờ nước trời nói chung là khá lớn khoảng 407 triệu ha, trong đó xấp xỉ 282 triệu ha đang được trồng trọt và khoảng 100 triệu ha chủ yếu nằm trong vùng nhiệt đới ẩm của

Đông Nam á Phần lớn diện tích này là đất dốc và chua; khoảng 40-60 triệu ha trước đây vốn là đất rừng tự nhiên che phủ, nhưng đến nay do bị khai thác khốc liệt nên rừng đN bị phá và thảm thực vật đN chuyển thành cây bụi và cỏ dại

Đất canh tác của thế giới có hạn và được dự đoán là ngày càng tăng do khai thác thêm những diện tích đất có khả năng nông nghiệp nhằm đáp ứng nhu cầu về lương thực thực phẩm cho loài người Tuy nhiên, do dân số ngày một tăng nhanh nên bình quân diện tích đất canh tác trên đầu người ngày một giảm

Đông Nam á là một khu vực đặc biệt Từ số liệu của UNDP năm 1995 [22] cho ta thấy đây là một khu vực có dân số khá đông trên thế giới nhưng diện tích

đất canh tác thấp, trong đó chỉ có Thái Lan là diện tích đất canh tác trên đầu người khá nhất, Việt Nam đứng hàng thấp nhất trong số các quốc gia ASEAN 2.1.2 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp của Việt Nam

Đất sản xuất nông nghiệp là đất được xác định chủ yếu để sử dụng vào sản xuất nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, hoặc nghiên cứu thí nghiệm về nông nghiệp… [30] Theo kết quả kiểm đất đai năm 2005, Việt Nam có tổng diện tích tự nhiên là 33.069.348 ha, trong đó đất sản xuất nông nghiệp chỉ có 9.415.568 ha, dân số là 82.018 nghìn người, bình quân diện tích đất sản xuất

Vì vậy, việc nâng cao hiệu quả sử dụng đất nhằm thoả mNn nhu cầu cho

xN hội về sản phẩm nông nghiệp đang trở thành vấn đề cấp bách luôn được các nhà quản lý và sử dụng đất quan tâm Thực tế cho thấy, trong những năm qua

Trang 15

do tốc độ công nghiệp hoá cũng như đô thị hoá diễn ra khá mạnh mẽ ở nhiều

địa phương trên phạm vi cả nước làm cho diện tích đất nông nghiệp ở Việt Nam có nhiều biến động, theo những tư liệu của Tổng cục Thống kê thì biến

động về số lượng đất nông nghiệp của nước ta trong 10 năm gần đây được thể hiện ở bảng 2.1

Bảng 2.1 Biến động về diện tích đất nông nghiệp và diện tích đất canh

tác hàng năm ở Việt Nam (1993-2003)

Năm

Tổng diện tích đất nông

nghiệp (1000ha)

Tổng diện tích đất canh tác hàng năm (1000ha)

Dân số (1000 người)

Bình quân diện tích đất canh tác hàng năm/người (m2)

Nguồn: Niên giám thống kê 1993- 2003 - [11]

Theo Nguyễn Đình Bồng (2002) [5], đất nông nghiệp của chúng ta chỉ chiếm 28,38% và gần tương đương với diện tích này là diện tích đất chưa sử dụng Đây là tỷ lệ cho thấy, cần có nhiều biện pháp thiết thực hơn để có thể khai thác được diện tích đất nói trên phục cho các mục đích khác nhau So với một số nước trên thế giới, nước ta có tỷ lệ đất dùng vào nông nghiệp rất thấp

Trang 16

Là một nước có đa phần dân số làm nghề nông thì bình quân diện tích

đất canh tác trên đầu người nông dân rất thấp là một trở ngại to lớn Để vượt qua, phát triển một nền nông nghiệp đủ sức cung cấp lương thực thực phẩm cho toàn dân và có một phần xuất khẩu cần biết cách khai thác hợp lý đất đai, cần triệt để tiết kiệm đất, sử dụng đất có hiệu quả cao trên cơ sở phát triển một nền nông nghiệp bền vững

2.2 Sử dụng đất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá

2.2.1 Bản chất của nông nghiệp hàng hoá

Nông nghiệp là một hoạt động mang tính chất cơ bản của mỗi quốc gia [25] Nhiều nước trên thế giới có nền kinh tế phát triển, tỉ trọng của sản xuất công nghiệp và dịch vụ trong thu nhập quốc dân chiếm phần lớn còn nông nghiệp chỉ chiếm một phần nhỏ Tuy nhiên, những khó khăn trong nông nghiệp đN gây ra không ít xáo động và ảnh hưởng sâu sắc đến tốc độ và tăng trưởng của nền kinh tế [13] Để ngành nông nghiệp có thể thực hiện được vai trò quan trọng của mình đối với nền kinh tế quốc dân đòi hỏi nông nghiệp phải được phát triển toàn diện, mạnh mẽ, vững chắc để đảm bảo an ninh lương

Theo Ngô Thế Dân [12] ở Việt Nam, kim ngạch xuất khẩu nông sản đN chiếm tới 30 - 40 % tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước, điển hình như cao su,

cà phê, hồ tiêu, chè, lúa Tuy nhiên, năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của nông sản hàng hoá Việt nam còn thấp so với các nước trong khu vực và các nước trên thế giới Điều đó làm cho các sản phẩm hàng hoá khó tiêu thụ,

ảnh hưởng đến thu nhập của người sản xuất Lượng nông sản đN xuất khẩu

được trong năm 1999 cao hơn năm 1998, nhưng hầu như đều bị giảm giá Theo Đặng Hữu (2001) [27], nguyên nhân sâu xa của tình trạng trên là do bố trí cây trồng, vật nuôi chủ yếu dựa vào tiềm năng tự nhiên mà chưa dựa vào

Trang 17

các luận cứ khoa học, chưa tổ chức tốt việc áp dụng các tiến bộ kỹ thuật Một trong những nguyên nhân của việc xuất khẩu hàng hoá sụt giảm là "chúng ta chưa có tập quán sản xuất nông nghiệp chất lượng cao để cạnh tranh với thị trường thế giới" Mặt khác, số đông nông dân còn thiếu những hiểu biết về kinh tế thị trường, thiếu năng lực, bản lĩnh và trình độ tổ chức sản xuất kinh doanh nông nghiệp hàng hoá Do dó, sản xuất hàng hoá còn mang tính tự phát, thiếu ổn định và thiếu định hướng thị trường Vì vậy, yêu cầu đặt ra đối với phát triển sản xuất nông nghiệp hiện nay là phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá có định hướng và thị trường ổn định [21]

Bên cạnh đó, sản xuất hàng hoá còn phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố tự nhiên, kinh tế - xN hội và môi trường, do đó khả năng rủi ro trong sản xuất là không thể tránh khỏi Mặt khác, chúng ta chưa hình thành một nền nông nghiệp hàng hoá theo đúng nghĩa cũng như chưa có công nghệ để giải quyết vấn đề này [21]

Chuyển sang nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá là sự phát triển hợp quy luật, đó là quá trình chuyển nền nông nghiệp truyền thống, lạc hậu sang nền nông nghiệp hiện đại phù hợp với cơ chế thị trường theo định hướng xN hội chủ nghĩa Sản xuất hàng hoá là quy luật khách quan của mọi hình thái kinh tế xN hội, nó phản ánh trình độ phát triển sản xuất của xN hội đó [40] Theo Lênin thì nguồn gốc sản xuất hàng hoá là sự phân công lao động xN hội [39] Vì thế, phân công lao động xN hội càng sâu sắc thì sản xuất hàng hoá càng phát triển Trước đây là nền kinh tế tự cung tự cấp gắn liền với nền kinh

tế đóng cửa và gần như tách biệt với thị trường làm cho nông dân có cuộc sống thấp do năng suất lao động thấp, thế vận động kinh tế hộ nông dân từ tự cấp tự túc lên sản xuất hàng hoá, kích thích sự phát triển kinh tế nông hộ lên sản xuất hàng hoá là đúng quy luật, nhằm tạo ra lực lượng sản xuất mới ở nông thôn, tạo nhiều sản phẩm hàng hoá [21]

Nền sản xuất hàng hoá có đặc trưng là cơ sở vật chất - kỹ thuật hiện đại,

Trang 18

trình độ khoa học kỹ thuật, trình độ văn hoá của người lao động cao Đó là nền sản xuất nông nghiệp có cơ cấu hợp lý, được hình thành trên cơ sở khai thác tối đa lợi thế, thế mạnh sản xuất nông nghiệp của từng vùng Đây là nền nông nghiệp có hiệu quả kinh tế cao, khối lượng hàng hoá nhiều với chủng loại phong phú, đa dạng [25]

Việc đưa nền nông nghiệp sang phát triển sản xuất hàng hoá là quá trình lâu dài và có nhiều khó khăn, phức tạp Do vậy, cần phải nhanh chóng hình thành các vùng sản xuất tập trung chuyên canh, thâm canh ngày càng cao phải gắn nông nghiệp với công nghệ chế biến được thực hiện thông qua việc phân công lại lao động, xN hội hoá sản xuất, ứng dụng các tiến bộ công nghệ mới vào sản xuất Vậy sản xuất hàng hoá là gì?

Đối với hộ nông dân, những sản phẩm được đưa ra bán thì gọi là sản phẩm hàng hoá [21] Đối với hệ thống trồng trọt, nếu mức sản xuất hàng hoá

được bán ra thị trường dưới 50 % thì gọi là hệ thống trồng trọt thương mại hoá một phần, nếu trên 50% gọi là hệ thống trồng trọt thương mại hoá tức sản xuất theo hướng hàng hoá (Hà Thị Thanh Bình, 2000) [4]

Hàng hoá là sản phẩm của lao động dùng để trao đổi [48] Sản xuất hàng hoá là sản xuất ra sản phẩm đem bán để thu về giá trị của nó trong đó phần giá trị thặng dư để tái sản xuất và mở rộng quy mô [21] Hàng hoá là sản phẩm do người lao động tạo ra, nhưng để trao đổi, sản xuất hàng hoá ra đời và phát triển dựa trên cơ sở phát triển các phương thức sản xuất và sự phân công lao động xN hội Sự phân công ấy càng cao, càng sâu sắc, sự phân công chuyên môn hoá cao thì sản xuất hàng hoá càng phát triển, đời sống người dân ngày một tăng lên, làm cho quá trình trao đổi hàng hoá diễn ra mạnh mẽ hơn, sản xuất hàng hoá phát triển ngày càng đa dạng hơn

Nền kinh tế thị trường ra đời làm nảy sinh mối quan hệ cung cầu trên thị trường Đối với sản xuất nông nghiệp thì khả năng cung cho thị trường là các loại nông sản phẩm còn cầu trong nông nghiệp là các yếu tố đầu vào

Trang 19

Hiện nay, nếu chủ hộ không chuyên môn hoá cao trong việc sản xuất kinh doanh, không thay đổi cơ cấu giống và thâm canh tăng vụ thì kết quả sản xuất sẽ thấp và không có sản phẩm để bán ra thị trường hoặc sản phẩm không

đáp ứng được nhu cầu của thị trường và sẽ không có tích luỹ để phòng rủi ro Trong đó, rủi ro về thị trường luôn là mối lo ngại nhất của người sản xuất

Theo Nguyễn Duy Bột (2001) [6], thị trường và hoạt động tiêu thụ nông sản phẩm ở nước ta nổi lên một số vấn đề sau:

- Hầu hết các sản phẩm nông nghiệp thường bị tồn đọng nhất là vào thời

vụ thu hoạch

- Trong tiêu thụ nông sản, cả các kênh phân phối liên quan đến sản xuất nông nghiệp đều có sự tham gia rất phổ biến của tư thương Phân phối qua nhiều khâu trung gian đN làm chậm quá trình lưu thông sản phẩm, thậm chí gây ách tắc dẫn đến tồn đọng giả tạo

- Hệ thống kinh doanh thương mại Nhà nước đang lâm vào thế lúng túng Thị trường đầu ra không ổn định gây khó khăn thường xuyên cho nông nghiệp trong việc bao tiêu mua sản phẩm và bao cung ứng tư liệu sản xuất

- Đối với nông dân, trong sản xuất nông nghiệp vẫn phổ biến là bán cái mình có chứ chưa phải bán cái thị trường cần Hoạt động sản xuất kinh doanh chủ yếu sử dụng cái sẵn có chứ chưa chủ động khái thác các yếu tố của nền kinh tế thị trường

Từ những vấn đề nghiên cứu trên cho thấy việc xây dựng nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá đang là hướng đi đúng dắn, là sự tiến hoá hợp quy luật Vì vậy, tìm kiếm thị trường, những giải pháp sản xuất và đầu tư hợp lý để sản xuất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá có hiệu quả cao, ổn định lâu dài đang là vấn đề rất cần thiết

2.2.2 Xu hướng phát triển nông nghiệp hàng hoá của một số nước

Đặng Kim Sơn và Trần Công Thắng (2001) [37], khi nghiên cứu sự chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp của một số nước Đông Nam á cho thấy: Các

Trang 20

nước đang chuyển đổi nhanh cơ cấu kinh tế và cơ cấu nông nghiệp Tập trung phát triển ngành hàng theo lợi thế và cải tổ để đương đầu với những thách thức mới của thế kỷ XXI

- Thái Lan: phát huy thế mạnh sẵn có, phát triển mạnh sản xuất nông nghiệp và xuất khẩu nông sản theo hướng đa dạng hoá sản phẩm, giảm bớt rủi

ro thị trường và tăng cường đầu tư công nghệ chế biến

- Malaixia: tập trung sản xuất hàng hoá có lợi thế cạnh tranh cao để xuất khẩu, phát triển nông nghiệp thành một lĩnh vực hiện đại và thương mại hoá cao Tăng cường phát triển ngành chế biến gắn với sản xuất nông nghiệp dựa vào tài nguyên của từng địa phương

- Inđônêxia: hướng mạnh vào sản xuất hàng hoá các mặt hàng có lợi thế như: hạt tiêu, hoa quả, gỗ và các sản phẩm từ gỗ, tôm đông lạnh và cá ngừ

- Philippin: phát huy thế mạnh sẵn có, xây dựng các vùng chuyên canh gắn với công nghiệp chế biến, hệ thống thông tin, tín dụng và tiếp thị Tăng cường đầu tư cho nghiên cứu chuyển giao, áp dụng công nghệ và khuyến nông, thay đổi chiến lược chính sách nông nghiệp từ bảo trợ sản xuất sang tăng cường cạnh tranh

2.2.3 Định hướng phát triển nông nghiệp hàng hoá của Việt Nam

ở Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX (2001) [16] đN chỉ rõ, " Định hướng phát triển ngành kinh tế nông- lâm - ngư nghiệp là: công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn theo hướng đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu ngành nghề, cơ cấu lao động, hình thành nền nông nghiệp hàng hoá lớn phù hợp với nhu cầu của thị trường và điều kiện sinh thái của từng vùng phát triển nền nông nghiệp hàng hoá đa dạng Cùng với lương thực đưa vụ đông thành một thế mạnh, hình thành các vùng chuyên canh rau, cây ăn quả, thịt "

Phan Sĩ Mẫn (2001) [31] đN đưa ra định hướng và tổ chức phát triển nền nông nghiệp hàng hoá như sau:

Trang 21

- Phát triển mạnh sản xuất kinh doanh hàng hoá theo chiều sâu trên cơ

sở đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và chuyển dịch cơ sở nông nghiệp, khai thác lợi thế so sánh của từng vùng, gắn với bảo về và tái tạo tài nguyên, môi trường sinh thái Đảm bảo an ninh lương thực, đáp ứng nhu cầu hàng nông sản và nguyên liệu cho thị trường trong nước đồng thời chuyển mạnh nền nông nghiệp sang sản xuất xuất khẩu

- Tiếp tục đổi mới thể chế chính sách và có các giải pháp đồng bộ về việc tổ chức quản lý quá trình phát triển Cụ thể:

+ Tăng cường công tác quy hoạch, tổ chức và quản lý phát triển Quy hoạch và định hướng phát triển nông nghiệp theo từng vùng, từng tiểu vùng kinh tế - sinh thái và theo nhóm sản phẩm hàng hoá Trước hết cần tập trung cho các vùng nông nghiệp trọng điểm, có điều kiện sản xuất hàng hoá tập trung quy mô lớn các loại cây trồng, vật nuôi tạo ra sản phẩm hàng hoá chủ lực có giá trị kinh tế cao, có lợi thế xuất khẩu và phù hợp với điều kiện cụ thể của từng vùng

+ Tăng cường đầu tư và điều chỉnh cơ cấu đầu tư thích ứng với yêu cầu thực tế phát triển nông nghiệp Tăng đầu tư và hộ trợ đầu tư cho công nghệ sau thu hoạch và phát triển công nghệ chế biến

+ Đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học, ứng dụng và chuyển giao công nghệ kỹ thuật, phát triển hệ thống khuyến nông và các dịch vụ hỗ trợ nông nghiệp

+ Hỗ trợ và thúc đẩy phát triển các hình thức kinh tế hợp tác, liên doanh, liên kết trong sản xuất kinh doanh nông nghiệp

+ Tiếp tục đổi mới và hoàn thiện thể chế, chính sách thị trường

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X (2006) [17] đN chỉ rõ

định hướng phát triển ngành nông nghiệp là "Tạo chuyển biến mạnh mẽ trong sản xuất nông nghiệp" Cụ thể:

- Coi trọng đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, xây

Trang 22

dựng một nền nông nghiệp hàng hoá đa dạng, phát triển nhanh bền vững, có năng suất, chất lượng và khả năng cạnh tranh cao, bảo đảm vững chắc an ninh lương thực và tạo điều kiện hình thành nền nông nghiệp sạch Phấn đấu giá trị tăng thêm ngành nông - lâm - ngư nghiệp tăng 3-3,2 %/năm

- Thực hiện các giải pháp đồng bộ, đặc biệt trú trọng các giải pháp có tính quyết định chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, đưa nhanh tiến bộ khoa học và công nghệ vào sản xuất nông nghiệp

- Thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, chuyển mạnh sang sản xuất các loại sản phẩm có thị trường và hiệu quả kinh tế cao, quy hoạch diện tích sản xuất lương thực ổn định và xây dựng các vùng sản xuất hàng hoá tập chung gắn với việc chuyển giao công nghệ sản xuất và chế biến, khắc phục tình trạng sản xuất manh mún, tự phát

- Phát triển nuôi trồng thuỷ sản theo hướng sản xuất hàng hoá lớn, phục

vụ xuất khẩu và thị trường nội địa đi đôi với bảo vệ môi trường sinh thái

- Đẩy mạnh nghiên cứu chuyển giao khoa học, công nghệ; tăng cường

hệ thống khuyến nông, tạo ra đột phá về năng suất, chất lượng, hiệu quả trong nông nghiệp

- Đẩy mạnh phát triển công nghiệp chế biến và dịch vụ nông nghiệp

- Tăng cường nguồn đầu tư từ ngân sách nhà nước và đa dạng các nguồn vốn để phát triển ngành nông nghiệp

2.3 Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp

2.3.1 Khái quát về hiệu quả sử dụng đất

2.3.1.1 Bản chất của hiệu quả

Bản chất của hiệu quả được xem là:

- Việc đáp ứng nhu cầu của con người trong đời sống xN hội

- Việc bảo tồn tài nguyên, nguồn lực để phát triển lâu bền

Do vậy, hiệu quả là một phạm trù trọng tâm rất cơ bản của khoa học kinh tế và quản lý Việc xác định hiệu quả là việc hết sức khó khăn và phức

Trang 23

tạp mà nhiều vấn đề về lý luận cũng như thực tiễn chưa giải đáp hết Bản chất của hiệu quả xuất phát từ mục đích của sản xuất và phát triển kinh tế xN hội là

đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về đời sống vật chất và tinh thần của mọi thành viên trong xN hội Muốn vậy, sản xuất phải không ngừng phát triển cả

về chiều rộng lẫn chiều sâu Việc nâng cao hiệu quả không chỉ là nhiệm vụ của mỗi doanh nghiệp, mỗi người sản xuất mà là của mội ngành mọi vùng

Đây còn là vấn đề mang tính toàn cầu, vì xu hướng chung của thế giới ngày nay là phát triển kinh tế theo chiều sâu, sao cho với nguồn nhân lực hạn chế

mà sản xuất ra một lượng sản phẩm hàng hoá có giá trị sử dụng cao nhất với mức hao phí ít nhất

Ngày nay, chúng ta đang sống trong một thời đại "một trái đất một gia

đình" nên con người ngày càng nhận thức được các quy luật tự nhiên, kinh tế-

xN hội và môi trường Trong điều kiện cụ thể của nền kinh tế mở như hiện nay thì mọi hoạt động sản xuất của con người không chỉ quan tâm đến vấn đề kinh tế- xN hội mà vấn đề môi trường ngày càng trở nên quan trọng, đòi hỏi phải

được quan tâm đúng mức Quan niệm về hiệu quả trong điều kiện hiện nay là phải thoN mNn về vấn đề tiết kiệm thời gian, tiết kiệm tài nguyên trong sản xuất, mang lại lợi ích xN hội và bảo vệ được môi trường

2.3.1.2 Phân loại hiệu quả

Mọi hoạt động sản xuất của con người đều có mục tiêu chủ yếu là kinh

tế Tuy nhiên, kết quả hoạt động đó không chỉ duy nhất đạt được về mặt kinh

tế mà đồng thời tạo ra nhiều kết quả liên quan đến đời sống kinh tế xN hội của con người [5] Những kết quả đó là:

- Cải thiện điều kiện sống và làm việc của con người, nâng cao thu nhập

- Cải tạo môi sinh, nâng cao đời sống tinh thần cho người lao động

- Cải tạo môi trường sinh thái, tạo ra một sự phát triển bền vững trong

sử dụng đất đai

Trang 24

Để phân loại hiệu quả thì có nhiều cách phân loại khác nhau, nếu căn

cứ vào nội dung và cách biểu hiện thì hiệu quả được phân thành 3 loại: hiệu

quả kinh tế, hiệu quả xN hội và hiệu quả môi trường

* Hiệu quả kinh tế

Theo Các Mác thì quy luật kinh tế đầu tiên trên cơ sở sản xuất tổng thể

là quy luật tiết kiệm thời gian và phân phối một cách có kế hoạch thời gian lao

động theo các ngành sản xuất khác nhau, theo các nhà khoa học Đức (Stenien,

Hanau, Rusteruyer, Simmerman- 1995): hiệu quả kinh tế là chỉ tiêu so sánh

mức độ tiết kiệm chi phí trong một đơn vị kết quả hữu ích và mức tăng kết quả

hữu ích của hoạt động sản xuất vật chất trong một thời kỳ, góp phần làm tăng

Như vậy, hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế chung nhất, là khâu

trung tâm của các loại hiệu quả Hiệu quả kinh tế có vai trò quyết định các

hiệu quả còn lại Bởi vì, trong mọi hoạt động sản xuất con người đều có mục

tiêu chủ yếu là khi có được hiệu quả kinh tế thì mới có các điều kiện vật chất

để đảm bảo cho các hiệu quả về xN hội và môi trường

Hiệu quả kinh tế có khả năng lượng hoá, tính toán chính xác trong mối

quan hệ so sánh giữa lượng kết quả đạt được và chi phí bỏ ra trong hoạt động

sản xuất Kết quả đạt được là phần giá trị thu được của sản phẩm đầu ra, lượng

chi phí bỏ ra là phần các nguồn lực đầu vào Mối tương quan đó cần xét cả về

phần so sánh tuyệt đối và so sánh tương đối cũng như xem xét mối quan hệ

chặt chẽ giữa hai đại lượng đó

Vì vậy, bản chất của phạm trù kinh tế sử dụng đất là: với một diện tích

đất đai nhất định sản xuất ra một khối lượng của cải vật chất nhiều nhất với

một lượng đầu tư chi phí về vật chất và lao động thấp nhất nhằm đáp ứng nhu

cầu ngày càng tăng về vật chất của xN hội [38]

* Hiệu quả x hội

Hiệu quả xN hội có liên quan mật thiết với hiệu quả kinh tế, nó thể hiện

Trang 25

mục tiêu hoạt động kinh tế của con người Hiệu quả xN hội là mối tương quan

so sánh giữa kết quả xN hội và lượng chi phí bỏ ra [39], [52] ở đây, hiệu quả

xN hội phản ánh những khía cạnh về mối quan hệ xN hội giữa con người với con người như vấn đề công ăn việc làm, xoá đói giảm nghèo, định canh, định cư, công bằng xN hội

Hiệu quả xN hội trong sử dụng đất nông nghiệp chủ yếu được xác định bằng khả năng tạo việc làm trên một đơn vị diện tích đất nông nghiệp Trong giai đoạn hiện nay, việc đánh giá hiệu quả xN hội của các loại hình sử dụng

đất nông nghiệp là nội dung đang được nhiều nhà khoa học quan tâm [40]

* Hiệu quả môi trường

Hiệu quả môi trường là một vấn đề mang tính toàn cầu, ngày nay đang

được chú trọng quan tâm và không thể bỏ qua khi đánh giá hiệu quả Điều này

có ý nghĩa là mọi hoạt động sản xuất, mọi biện pháp khoa học kỹ thuật, mọi giải pháp về quản lý được coi là có hiệu quả khi chúng không gây tổn hại hay có những tác động xấu đến môi trường đất, môi trường nước và môi trường không khí cũng như không làm ảnh hưởng xấu đến môi sinh và đa dạng sinh học Có được điều đó mới đảm bảo cho một sự phát triển bền vững của mỗi vùng lNnh thổ, mỗi quốc gia cũng như cả cộng đồng quốc tế

Trong sản xuất nông nghiệp hiệu quả môi trường là hiệu quả mang tính lâu dài, vừa đảm bảo lợi ích hiện tại mà không làm ảnh hưởng xấu đến tương lai, nó gắn chặt với quá trình khai thác, sử dụng và bảo vệ tài nguyên đất và môi trường sinh thái [53]

Bên cạnh cách phân loại hiệu quả nói trên, người ta còn có thể căn cứ vào yêu cầu tổ chức và quản lý kinh tế, căn cứ vào các yếu tố cơ bản về sản xuất, phương hướng tác động vào sản xuất cả về mặt không gian và thời gian

Tuy nhiên, dù nghiên cứu ở bất cứ góc độ nào thì việc đánh giá hiệu quả cũng phải xem xét về mặt không gian và thời gian, trong mối liên hệ chung của toàn bộ nền kinh tế ở đó, hiệu quả bao gồm cả hiệu quả kinh tế - xN hội

Trang 26

và môi trường với một mối quan hệ mật thiết thống nhất và không thể tách rời nhau Có như vậy mới đảm bảo cho việc đánh giá hiệu quả được đầy đủ, chính xác và toàn diện

2.3.2 Đánh giá hiệu quả sử dụng đất theo hướng sinh thái bền vững

2.3.2.1 Quan điểm sử dụng đất bền vững

Để duy trì được sự bền vững của đất đai, Smith A.J và Julian Dumanski (1993) [54] đN xác định 5 nguyên tắc có liên quan đến sự sử dụng đất bền vững là:

- Duy trì hoặc nâng cao các hoạt động sản xuất

- Giảm mức độ rủi ro đối với sản xuất

- Bảo vệ tiềm năng của các nguồn tài nguyên tự nhiên, chống lại sự thoái hoá chất lượng đất và nước

- Khả thi về mặt kinh tế

- Được xN hội chấp nhận

Như vậy, theo các tác giả, sử dụng đất bền vững không chỉ thuần tuý về mặt tự nhiên mà còn cả về mặt môi trường, lợi ích kinh tế và xN hội Năm nguyên tắc trên đây là trụ cột của việc sử dụng đất bền vững, nếu trong thực tiễn đạt được cả 5 nguyên tắc trên thì sự bền vững sẽ thành công, ngược lại sẽ chỉ đạt được ở một vài bộ phận hay sự bền vững có điều kiện Tại Việt Nam, theo ý kiến của Đào Châu Thu và Nguyễn Khang (1998) [51], việc sử dụng

đất bền vững cũng dựa trên những nguyên tắc và được thể hiện trong 3 yêu cầu sau:

- Bền vững về mặt kinh tế: cây trồng cho hiệu quả kinh tế cao và được thị trường chấp nhận

- Bền vững về mặt môi trường: loại hình sử dụng đất bảo vệ được đất

đai, ngăn chặn sự thoái hoá đất, bảo vệ môi trường tự nhiên

- Bền vững về mặt xN hội: thu hút được nhiều lao động, đảm bảo đời sống người dân, góp phần thúc đẩy xN hội phát triển

Trang 27

Tóm lại, hoạt động sản xuất nông nghiệp của con người diễn ra hết sức

đa dạng trên nhiều vùng đất khác nhau và cũng vì thế khái niệm sử dụng đất bền vững thể hiện trong nhiều hoạt động sản xuất và quản lý đất đai trên từng vùng đất xác định theo nhu cầu và mục đích sử dụng của con người Đất đai trong sản xuất nông nghiệp chỉ được gọi là sử dụng bền vững trên cơ sở duy trì các chức năng chính của đất là đảm bảo khả năng sản xuất của cây trồng một cách ổn định, không làm suy giảm về chất lượng tài nguyên đất theo thời gian

và việc sử dụng đất không gây ảnh hưởng xấu đến môi trường sống của con người và sinh vật

2.3.2.2 Tiêu trí đánh giá tính bền vững

Vào năm 1991, ở Nairobi đN tổ chức Hội thảo về “Khung đánh giá quản

lý đất bền vững” đN đưa ra định nghĩa: “Quản lý bền vững đất đai bao gồm tổ hợp các công nghệ, chính sách và hoạt động nhằm liên hợp các nguyên lý kinh

tế xN hội với các quan tâm môi trường để đồng thời:

- Duy trì, nâng cao sản lượng (hiệu quả sản xuất);

- Giảm rủi ro sản xuất (an toàn)

- Bảo vệ tiềm năng nguồn lực tự nhiên và ngăn ngừa thoái hoá đất và nước (bảo vệ)

- Có hiệu quả lâu dài (lâu bền)

- Được xN hội chấp nhận (tính chấp nhận) [24]

Năm nguyên tắc trên được coi là trụ cột của sử dụng đất đai bền vững

và là những mục tiêu cần phải đạt được, nếu thực tế diễn ra đồng bộ, so với các mục tiêu cần phải đạt được Nếu chỉ đạt một hay một vài mục tiêu mà không phải tất cả thì khả năng bền vững chỉ mang tính bộ phận

Để đánh giá tính bền vững trong sử dụng đất cần dựa vào 3 tiêu chí sau đây:

* Bền vững về kinh tế

ở đây cây trồng cho hiệu quả kinh tế cao, được thị trường chấp nhận

Hệ thống sử dụng đất phải có mức năng suất sinh học cao trên mức bình

Trang 28

quân vùng có cùng điều kiện đất đai Năng suất sinh học bao gồm các sản phẩm chính và phụ (đối với cây trồng là gỗ, hạt, củ, quả và tàn dư để lại) Một hệ bền vững phải có năng suất trên mức bình quân vùng, nếu không sẽ không cạnh tranh được trong cơ chế thị trường

Về chất lượng: sản phẩm phải đạt tiêu chuẩn tiêu thụ tại địa phương, trong nước và xuất khẩu, tùy mục tiêu của từng vùng

Tổng giá trị sản phẩm trên đơn vị diện tích là thước đo quan trọng nhất của hiệu quả kinh tế đối với một hệ thống sử dụng đất Tổng giá trị trong một giai đoạn hay cả chu kỳ phải trên mức bình quân của vùng, nếu dưới mức đó thì nguy cơ người sử dụng đất sẽ không có lNi, hiệu quả vốn đầu tư phải lớn hơn lNi suất tiền vay vốn ngân hàng [24]

* Bền vững về x hội

Thu hút được lao động, đảm bảo đời sống và phát triển xN hội

Đáp ứng nhu cầu của nông hộ là điều quan tâm trước, nếu muốn họ quan tâm đến lợi ích lâu dài (bảo vệ đất, môi trường ) Sản phẩm thu được cần thoả mNn cái ăn, cái mặc, và nhu cầu sống hàng ngày của người nông dân

Nội lực và nguồn lực địa phương phải được phát huy Về đất đai, hệ thống sử dụng đất phải được tổ chức trên đất mà nông dân có quyền hưởng thụ lâu dài, đất đN được giao và rừng đN được khoán với lợi ích các bên cụ thể

Sử dụng đất sẽ bền vững nếu phù hợp với nền văn hoá dân tộc và tập quán địa phương, nếu ngược lại sẽ không được cộng đồng ủng hộ [24]

* Bền vững về môi trường

Loại hình sử dụng đất phải bảo vệ được độ màu mỡ của đất, ngăn chặn thoái hoá đất và bảo vệ môi trường sinh thái Giữ đất được thể hiện bằng giảm thiểu lượng

đất mất hàng năm dưới mức cho phép

Độ phì nhiêu đất tăng dần là yêu cầu bắt buộc đối với quản lý sử dụng bền vững

Độ che phủ tối thiểu phải đạt ngưỡng an toàn sinh thái (>35%)

Đa dạng sinh học biểu hiện qua thành phần loài (đa canh bền vững hơn

Trang 29

độc canh, cây lâu năm có khả năng bảo vệ đất tốt hơn cây hàng năm ).

Ba yêu cầu bền vững trên là để xem xét và đánh giá các loại hình sử dụng đất hiện tại Thông qua việc xem xét và đánh giá các yêu cầu trên để giúp cho việc định hướng phát triển nông nghiệp ở vùng sinh thái [24]

Tóm lại: Khái niệm sử dụng đất đai bền vững do con người đưa ra được thể hiện trong nhiều hoạt động sử dụng và quản lý đất đai theo các mục đích

mà con người đN lựa chọn cho từng vùng đất xác định Đối với sản xuất nông nghiệp việc sử dụng đất bền vững phải đạt được trên cơ sở đảm bảo khả năng sản xuất ổn định của cây trồng, chất lượng tài nguyên đất không suy giảm theo thời gian và việc sử dụng đất không ảnh hưởng xấu đến môi trường sống của con người, của các sinh vật

2.4 Những nghiên cứu về hiệu quả sử dụng đất trên thế giới và Việt Nam

2.4.1 Những nghiên cứu trên thế giới

Cho tới nay, trên thế giới đN có nhiều nhà khoa học nghiên cứu, đề ra nhiều phương pháp đánh giá để tìm ra giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp theo hướng phát triển hàng hoá Nhưng tuỳ thuộc vào điều kiện, trình độ và phương thức sử dụng đất ở mỗi nước mà có sự đánh giá khác nhau

Hàng năm các viện nghiên cứu nông nghiệp ở các nước trên thế giới

đều nghiên cứu và đưa ra được một số giống cây trồng mới, giúp cho việc tạo

ra được một số loại hình sử dụng đất mới ngày càng có hiệu quả hơn Viện lúa quốc tế IRRI đN có nhiều thành tựu về lĩnh vực giống lúa và hệ thống cây trồng trên đất canh tác Tạp chí " Farming Japan" của Nhật Bản ra hàng tháng

đN giới thiệu nhiều công trình ở các nước trên thế giới về các hình thức sử dụng đất, điển hình là của Nhật Nhà Khoa học Nhật Bản Otak Tanakad đN nêu lên những vấn đề cơ bản về sự hình thành của sinh thái đồng ruộng và từ

đó cho rằng yếu tố quyết định của hệ thống nông nghiệp là sự thay đổi về kỹ

Trang 30

thuật, kinh tế- xN hội Các nhà khoa học Nhật Bản đN hệ thống hoá tiêu chuẩn hiệu quả sử dụng đất thông qua hệ thống cây trồng trên đất canh tác là sự phối hợp giữa các cây trồng và gia súc, các phương pháp trồng trọt và chăn nuôi, cường độ lao động, vốn đầu tư, tổ chức sản xuất, sản phẩm làm ra, tính chất hàng hoá của sản phẩm [40]

Theo kinh nghiệm của Trung Quốc thì việc khai thác và sử dụng đất là yếu tố quyết định để phát triển kinh tế - xN hội nông thôn toàn diện Chính phủ Trung Quốc đN đưa ra các chính sách quản lý sử dụng đất đai ổn định chế độ

sở hữu, giao đất cho nông dân sử dụng, thiết lập hệ thống trách nhiệm và tính chủ động sáng tạo của nông dân trong sản xuất đN thúc đẩy kinh tế xN hội nông thôn phát triển toàn diện về mọi mặt và nâng cao được hiệu quả sử dụng

đất nông nghiệp [39]

ở Thái Lan, Uỷ ban chính sách Quốc gia đN có nhiều quy chế mới ngoài hợp đồng cho tư nhân thuê đất dài hạn, cấm trồng những cây không thích hợp với đất nhằm quản lý và bảo vệ đất tốt hơn [55]

Một trong những chính sách tập trung vào hỗ trợ phát triển nông nghiệp quan trọng nhất là chính sách đầu tư vào sản xuất nông nghiệp, ở Mỹ tổng số tiền trợ cấp là 66,2 tỉ USD (chiếm 28,3% trong tổng thu nhập nông nghiệp), Canada tương ứng là 5,7 tỉ USD (chiếm 39,1%), Otraylia 1,7 tỉ USD (chiếm 14,5%), Nhật Bản là 42,3 tỉ USD (chiếm 68,9%), Cộng đồng Châu Âu 67,2 tỉ USD (chiếm 40,1%), áo là 1,6 tỉ USD (chiếm 35,3%) [39]

Các nhà khoa học trên thế giới đều cho rằng: đối với các vùng nhiệt đới

có thể thực hiện các công thức luân canh cây trồng hàng năm, có thể chuyển

từ chế độ canh tác cũ sang chế độ canh tác mới tiến bộ hơn mang lại hiệu quả cao hơn Nghiên cứu bố trí luân canh các cây trồng hợp lý hơn bằng cách đưa các giống cây trồng mới vào hệ thống canh tác nhằm tăng sản lượng lương thực, thực phẩm/1đơn vị diện tích đất canh tác trong một năm ở Châu á có

Trang 31

nhiều nước cũng tìm ra giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất canh tác luân phiên cây lúa với cây trồng cạn đN thu được hiệu quả cao hơn

Trong những năm gần đây, cơ cấu kinh tế nông nghiệp của các nước đN gắn phương thức sử dụng đất truyền thống với phương thức hiện đại và chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá nông nghiệp Các nước Châu á trong quá trình sử dụng đất canh tác đN rất chú trọng đẩy mạnh công tác thuỷ lợi, ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật về giống, phân bón, các công thức luân canh tiến bộ

để ngày càng nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp Nhưng để đạt được hiệu quả thì một phần phải nhờ vào công nghiệp chế biến, gắn sự phát triển công nghiệp với bảo vệ môi sinh- môi trường

Xuất phát từ những vấn đề này, nhiều nước trong khu vực đN có sự chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp theo hướng kết hợp hiệu quả kinh tế, hiệu quả xN hội với việc bảo vệ môi trường tự nhiên, môi trường sinh thái, tiến tới xây dựng nền nông nghiệp sinh thái bền vững

2.4.2 Những nghiên cứu trong nước

Trong những năm qua, ở Việt Nam nhiều tác giả đN có những công trình nghiên cứu về sử dụng đất, vì đây là một vấn đề có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong phát triển sản xuất nông nghiệp Các nhà khoa học đN chú trọng đến công tác lai tạo và chọn lọc giống cây trông mới năng suất cao, chất lượng tốt hơn để đưa vào sản xuất Làm phong phú hơn hệ thống cây trồng, góp phần

đáng kể vào việc tăng năng suất cây trồng, nâng cao hiệu quả sử dụng đất Các công trình nghiên cứu đánh giá tài nguyên đất đai Việt Nam của Nguyễn Khang và Phạm Dương Ưng (1995) [28]; đánh giá hiện trạng sử dụng đất theo quan điểm sinh thái và phát triển lâu bền [50]; phân vùng sinh thái nông nghiệp vùng đồng bằng Sông Hồng [29]; Lê Hồng Sơn (1995) [36] với nghiên cứu

"ứng dụng kết quả đánh giá đất vào đa dạng hoá cây trồng đồng bằng Sông

Trang 32

Hồng" hay hiệu quả kinh tế sử dụng đất canh tác trên đất phù sa Sông Hồng huyện Mỹ Văn, tỉnh Hải Dương của tác giả Vũ Thị Bình (1993) [3]; Đánh giá kinh tế đất lúa vùng đồng băng Sông Hồng, Quyền Đình Hà, (1993) [19]

ở nước ta, khi trình độ sản xuất nông nghiệp còn thấp, phần lớn diện tích đất nông nghiệp đều tập trung vào sản xuất lương thực, thực phẩm Song song với việc nâng cao mức sống, đòi hỏi phát triển các cây thức ăn cao cấp hơn như cây họ đạm (đậu, đỗ ), cây có dầu (lạc, vừng ), rau củ và các loại cây ăn quả có giá trị phát triển sản xuất hàng hoá có hiệu quả kinh tế cao đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của xN hội, có tác dụng bảo vệ, cải tạo môi trường đất

Bên cạnh việc nghiên cứu đưa ra các giống cây trồng mới vào sản xuất thì các nhà khoa học còn tìm các biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp dựa vào việc nghiên cứu đưa ra các công thức luân canh mới bằng các phương pháp đánh giá hiệu quả của từng giống cây trồng, từng công thức luân canh Từ đó, các công thức luân canh mới tiến bộ hơn được cải tiến

để khai thác ngày một tốt hơn tiềm năng đất đai

Từ đầu thập kỷ 90, chương trình quy hoạch tổng thể đang được tiến hành nghiên cứu đề xuất dự án phát triển đa dạng hoá nông nghiệp, nội dung quan trọng nhất là phát triển hệ thống cây trồng để nâng cao hiệu quả sử dụng

đất nông nghiệp Những công trình nghiên cứu mô phỏng chiến lược phát triển nông nghiệp vùng đồng bằng Sông Hồng của GS.VS Đào Thế Tuấn (1992) cũng đề cập việc phát triển hệ thống cây trồng, nâng cao hiệu quả sử dụng đất trong điều kiện Việt Nam Công trình nghiên cứu phân vùng sinh thái, hệ thống giống lúa, hệ thống cây trồng vùng đồng bằng Sông Hồng do GS.VS

Đào Thế Tuấn (1998) [45] chủ trì và hệ thống cây trồng vùng đồng bằng sông Cửu Long do GS.VS Nguyễn Văn Luật chủ trì cũng đưa ra một kết luận về phân vùng sinh thái và hướng áp dụng những giống cây trồng trên các vùng sinh thái khác nhau nhằm khai thác sử dụng đât mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn

Trang 33

Các đề tài nghiên cứu do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì đN tiến hành nghiên cứu hệ thống cây trồng trên các vùng sinh thái khác nhau như vùng miền nui, vùng trung du và vùng đồng bằng nhằm đánh giá hiệu quả cây trồng trên từng vùng đất đó Từ đó định hướng cho việc khai thác tiềm năng đất đai của từng vùng sao cho phù hợp với quy hoạch chung của nền nông nghiệp cả nước, phát huy tối đa lợi thế so sánh của từng vùng

Vấn đề luân canh tăng vụ, trồng gối, trồng xen nhằm sử dụng nguồn lợi

đất đai, khí hậu để bố trí hệ thống cây trồng thích hợp cũng được nhiều nhà nghiên cứu đề cập như Bùi Huy Đáp [45], Ngô Thế Dân [12]

Trong những năm gần đây, chương trình quy hoạch tổng thể vùng Đồng bằng Sông Hồng (1994) [15]; quy hoạch sử dụng đất vùng Đồng bằng Sông Hồng (Phùng Văn Phúc,1996) [33]; phân bón cho lúa ngắn ngày trên đất phù

sa Sông Hồng (Nguyễn Như Hà, 2000) [20]; đánh giá hiệu quả một số mô hình đa dạng hoá cây trồng vùng Đồng bằng sông Hồng của Vũ Năng Dũng (1997) [14] cho thấy đN xuất hiện nhiều mô hình luân canh 3- 4 vụ trong một năm đạt hiệu quả kinh tế cao, đặc biệt ở các vùng sinh thái ven đô, vùng có

điều kiện tưới tiêu chủ động đN có những điển hình về sử dụng đất đai đạt hiệu quả kinh tế cao Nhiều loại cây trồng có giá trị kinh tế cao đN được bố trí trong các phương thức luân canh như cây ăn quả, hoa, cây thực phẩm cao cấp

Tại Thanh Hoá, những nghiên cứu về đánh giá hiệu quả sử dụng đất và nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên quan điểm sử dụng đất bền vững hay theo hướng sản xuất hàng hoá còn chưa nhiều Năm 2000 tác giả Trịnh Văn Chiến [9] đN tiến hành nghiên cứu xây dựng mô hình canh tác thích hợp trên cơ sở đánh giá tài nguyên đất đai ở huyện Yên Định, kết quả đN xây dựng được những mô hình chuyển đổi cơ cấu cây trồng đạt hiệu quả cao Năm

2002 tác giả Lê Xuân Cao [7] đN có đề tài nghiên cứu về đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và đề xuất một số biện pháp sử dụng đất thích hợp ở Nông trường quốc doanh Sao Vàng làm cho diện tích đất nông nghiệp ngày

Trang 34

càng được mở rộng, năng suất các cây trồng đều được tăng lên, các loại hình

sử dụng đất được áp dụng tại nông trường hiện nay phù hợp hơn với điều kiện

tự nhiên, kinh tế - xN hội Môi trường sinh thái ngày càng được cải thiện tốt hơn Tác giả cũng đN tìm được cây trồng trọng điểm của nông trường chính là cây mía và các loại cây ăn quả

Tuy nhiên, các đánh giá về phát triển nông nghiệp hàng hoá ở các địa phương còn chưa nhiều Vì vậy, nghiên cứu phát triển nông nghiệp của huyện Quảng Xương trong những năm tới theo hướng sản xuất hàng hoá là rất cần thiết, có ý nghĩa trong phát triển kinh tế xN hội của huyện và có thể thực hiện

được Đây chính là lý do thúc đẩy chúng tôi đi sâu vào nghiên cứu đề tài "Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và đề xuất sử dụng theo hướng sản xuất hàng hoá trên địa bàn huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hoá" góp phần vào việc phát triển nông nghiệp bền vững của huyện nói riêng và tỉnh Thanh Hoá nói chung

Trang 35

3 Đối tượng, phạm vi, nội dung

và phương pháp nghiên cứu

3.1 Đối tượng

- Điều kiện tự nhiên, kinh tế xN hội có liên quan đến sản xuất nông nghiệp của huyện Quảng Xương

- Đất sản xuất nông nghiệp của huyện

- Các loại hình sử dụng đất nông nghiệp chủ yếu trong huyện

XN Quảng Thịnh và xN Quảng Trung được lựa chọn là hai điểm nghiên cứu đại diện cho tiểu vùng này

+ Tiểu vùng II (Phía Đông tỉnh lộ 4): gồm 9 xN có địa hình phức tạp, dạng sóng xen kẽ những cồn cát, là những dải đất trũng hình lòng máng theo hướng Bắc Nam thuận lợi cho việc trồng lúa, hoa màu, cây hoa quả…

XN Quảng Hùng và xN Quảng Thái được lựa chọn là hai điểm nghiên cứu đại diện cho tiểu vùng này

3.3 Nội dung nghiên cứu

3.3.1 Điều tra, nghiên cứu, đánh giá các điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội có liên quan đến đất đai và sản xuất nông nghiệp hàng hoá của huyện

- Nghiên cứu đánh giá điều kiện tự nhiên (như vị trí địa lý, địa hình, khí

Trang 36

hậu, thời tiết, thuỷ văn tài nguyên đất và nước ) ảnh hưởng đến sử dụng đất của huyện Quảng Xương

- Nghiên cứu các điều kiện kinh tế - xN hội như (thực trạng phát triển kinh tế của huyện, tình hình dân số, lao động, tình hình sử dụng đất, thực trạng cơ sở hạ tầng, thị trường tiêu thụ nông sản ) ảnh hưởng đến sử dụng đất của huyện Quảng Xương Từ đó rút ra những thuận lợi và khó khăn trong sản xuất nông nghiệp nói chung và trong việc phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá nói riêng

3.3.2 Nghiên cứu thực trạng sử dụng đất nông nghiệp và phân bố hệ thống cây trồng

Nghiên cứu các kiểu sử dụng đất hiện trạng, diện tích và sự phân bố kiểu sử dụng đất trên mỗi vùng, đặc điểm sản xuất nông nghiệp hàng hoá 3.3.3 Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp

+ Đánh giá hiệu quả kinh tế của các cây trồng, vật nuôi, các kiểu sử dụng đất trên các tiểu vùng sinh thái

+ Phân tích hiệu quả về mặt xN hội của các kiểu sử dụng đất

+ Đánh giá tác động môi trường của hệ thống sử dụng đất

3.3.4 Định hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp theo hướng phát triển sản xuất hàng hoá

- Định hướng sử dụng đất nông nghiệp phát triển sản xuất hàng hoá

- Một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp

3.4 Phương pháp nghiên cứu

3.4.1 Phương pháp điều tra, thu thập số liệu thứ cấp

- Phương pháp điều tra thu thập tài liệu, số liệu thứ cấp: các tài liệu, số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế xN hội được thu thập thông qua các cơ quan nghiên cứu, các cơ quan chuyên ngành trong xN, huyện và tỉnh Các số liệu, tài liệu chưa thống nhất đều được kiểm tra trên thực địa Thực hiện sự kế thừa có

Trang 37

chọn lọc các tài liệu điều tra cơ bản, tài liệu điều tra thổ nhưỡng, đặc điểm và tính chất đất đai

3.4.2 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu

Chúng tôi tiến hành chọn điểm điều tra, trên cơ sở kết quả điều tra điểm

để đánh giá chung cho toàn huyện Để có thể sử dụng kết quả điều tra điểm thì nguồn số liệu để đánh giá hiệu quả phải tiến hành điều tra, thu thập từ thực

tế sản xuất, điều tra chọn mẫu từ các hộ nông dân Các điểm nghiên cứu phải

đại diện cho các vùng sinh thái và vùng kinh tế trong huyện

3.4.3 Phương pháp điều tra thu thập tài liệu, số liệu sơ cấp

Điều tra tình hình sử dụng đất bằng phương pháp đánh giá nhanh nông thôn (RRA) để điều tra hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp của huyện theo yêu cầu của đề tài "Điều tra phỏng vấn nông hộ theo phương pháp PRA" có sự tham gia của người dân

Sau khi đN xác định được các xN làm điểm điều tra cho các tiểu vùng sinh thái, chúng tôi tiến hành chọn mẫu điều tra Căn cứ vào mục đích, yêu cầu của đề tài chúng tôi xác định mẫu điều tra là các hộ nông dân Căn cứ vào tình hình thực tế và thời gian cho phép để tiến hành nghiên cứu đề tài, chúng tôi tiến hành điều tra, phỏng vấn 200 hộ tại 4 xN của huyện Số hộ điều tra

được phân bố đều cho mỗi xN là 50 hộ Hộ nông dân được chọn điều tra theo phương pháp chọn ngẫu nhiên, bộ câu hỏi phỏng vấn được soạn thảo trên cơ

sở mẫu phiếu điều tra đánh giá đất của Viện Quy hoạch và Thiết kế nông nghiệp có bổ sung điều chỉnh cho phù hợp với đề tài nghiên cứu Các thông tin thu thập được qua cuộc điều tra bao gồm:

+ Điều kiện kinh tế xN hội: số nhân khẩu, thu nhập hàng năm từ các ngành sản xuất chính và phụ, quản lý và sử dụng đất, mức đầu tư chi phí sản xuất, khả năng tiêu thụ nông sản hàng hoá trên thị trường Đặc bịêt chúng tôi chú ý đến yếu tố nguyện vọng của người nông dân trong việc lựa chọn các loại hình sử dụng đất theo phương thức sản xuất hàng hoá

Trang 38

+ Điều kiện tự nhiên: đặc tính đất đai, địa hình, chế độ tưới tiêu và một

số yếu tố khác có liên quan đến quá trình sử dụng đất

+ Sản xuất và kết quả sử dụng đất: các loại hình sử dụng đất, mức đầu tư cho các yếu tố đầu vào, năng suất các loại cây trồng, các yếu tố thuận lợi và hạn chế trong sản xuất

Từ đó phân tích, thống kê các điểm nghiên cứu và nội suy toàn huyện 3.4.4 Phương pháp thống kê xử lý số liệu

Phương pháp này được sử dụng trong việc tập hợp, xử lý số liệu, tài liệu

đN thu thập được về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xN hội và xử lý các phiếu điều tra nông hộ theo từng tiểu vùng sinh thái như số lượng mẫu đN xác định

3.4.5 Các phương pháp khác

Ngoài ra còn có một số phương pháp khác như: phương pháp chuyên gia, phương pháp chuyên khảo, phương pháp dự báo, phương pháp tính toán theo định mức, phương pháp thống kê kinh tế

3.5 Lựa chọn hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp

3.5.1 Đánh giá hiệu quả kinh tế

Để đánh giá hiệu quả kinh tế sử dụng đất nông nghiệp chúng tôi áp dụng một số chỉ tiêu chính sau đây:

Hiệu quả tính trên 1 ha đất nông nghiệp

1- Giá trị sản xuất trên 1 ha đất nông nghiệp (GTSX/1ha)

+ Giá trị sản xuất (GTSX): là toàn bộ giá trị sản phẩm vật chất và dịch

vụ được tạo ra trong một thời kỳ nhất định (thường là 1 năm)

2- Chi phí trung gian trên 1 ha đất nông nghiệp (CPTG/1ha)

+ CPTG là toàn bộ các khoản chi phí vật chất thường xuyên bằng tiền

mà chủ thể bỏ ra để thuê và mua các yếu tố đầu vào và dịch vụ sử dụng trong quá trình sản xuất

Trang 39

3- Giá trị gia tăng trên một ha đất nông nghiệp (GTGT/1ha)

+ Giá trị gia tăng (GTGT): là hiệu số giữa giá trị sản xuất và chi phí trung gian (CPTG), là giá trị sản phẩm xN hội được tạo ra thêm trong thời kỳ sản xuất đó

GTGT = GTSX - CPTG

4- Thu nhập hỗn hợp trên 1ha đất nông nghiệp (TNHH/1ha)

Trong đó: T: thuế sử dụng đất và thuế khác

A: khấu hao tài sản cố định

5- Thu nhập hỗn hợp trên 1 đơn vị CPTG (TNHH/CPTG)

6- Thu nhập hỗn hợp trên 1 công lao động (TNHH/1CLĐ)

3.5.2 Đánh giá hiệu quả xã hội

Đánh giá hiệu quả xN hội là chỉ tiêu khó định lượng, trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này, do thời gian có hạn, chúng tôi chỉ đề cập đến một

số chỉ tiêu sau:

+ Mức độ chấp nhận của người dân thể hiện ở mức độ đầu tư, khả năng chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi của hộ theo hướng sản xuất nông sản hàng hoá

+ Mức độ giải quyết công ăn việc làm thể hiện ở số công lao động cần thiết của loại hình sử dụng đất trong một chu kỳ kinh tế

+ Khả năng ổn định thị trường đối với các chủng loại sản phẩm, số lượng tiêu thụ, giá cả, mức độ cung ứng đầu vào, đầu ra của sản xuất

+ Đảm bảo an toàn lương thực, gia tăng lợi ích của người nông dân + Đáp ứng được mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế - xN hội của vùng 3.5.3 Đánh giá tác động môi trường của các loại hình sử dụng đất

Đánh giá tác động môi trường của các loại hình sử dụng đất là việc xem xét thực trạng và nguyên nhân gây ra sự suy thoái môi trường nhằm loại trừ

Trang 40

các loại hình sử dụng đất có khả năng gây ra tác động xấu về môi trường sinh thái Các tác động ảnh hưởng tới môi trường cần phân tích tập trung vào một

số vấn đề sau:

+ Khả năng duy trì và cải thiện độ phì đất như khả năng che phủ đất, trả lại cho đất tàn dư cây trồng có chất lượng…

+ Chế độ luân canh ảnh hưởng đến việc cải tạo đất

+ Mức độ sử dụng phân bón và các loại thuốc BVTV

Việc xác định hiệu quả về mặt môi trường của quá trình sử dụng đất nông nghiệp là rất phức tạp, rất khó định lượng đòi hỏi phải được nghiên cứu, phân tích trong một thời gian dài Vì vậy, đề tài nghiên cứu chúng tôi chỉ dừng lại ở việc đánh giá hiệu quả môi trường thông qua việc đánh giá thích hợp của các cây trồng đối với đất đai hiện tại, thông qua kết quả điều tra về đầu tư phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và kết quả phỏng vấn nông hộ về nhận xét của

họ đối với các loại hình sử dụng đất hiện tại

Ngày đăng: 28/11/2013, 10:04

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1 Biến động về diện tích đất nông nghiệp và diện tích đất canh - Luận văn đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và đề xuất sử dụng theo hướng sản xuất hàng hoá trên địa bàn huyện quảng xương tỉnh thanh hoá
Bảng 2.1 Biến động về diện tích đất nông nghiệp và diện tích đất canh (Trang 15)
Bảng 4.1 Các loại đất chính của huyện Quảng Xương - Luận văn đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và đề xuất sử dụng theo hướng sản xuất hàng hoá trên địa bàn huyện quảng xương tỉnh thanh hoá
Bảng 4.1 Các loại đất chính của huyện Quảng Xương (Trang 44)
Bảng 4.3 Tỷ lệ diện tích các công thức luân canh của vùng đồng bằng - Luận văn đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và đề xuất sử dụng theo hướng sản xuất hàng hoá trên địa bàn huyện quảng xương tỉnh thanh hoá
Bảng 4.3 Tỷ lệ diện tích các công thức luân canh của vùng đồng bằng (Trang 57)
Bảng 4.4 Tỷ lệ diện tích các công thức luân canh của vùng ven biển - Luận văn đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và đề xuất sử dụng theo hướng sản xuất hàng hoá trên địa bàn huyện quảng xương tỉnh thanh hoá
Bảng 4.4 Tỷ lệ diện tích các công thức luân canh của vùng ven biển (Trang 61)
Bảng 4.5 Hiệu quả kinh tế các công thức luân canh vùng đồng bằng  Công thức luân canh - Luận văn đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và đề xuất sử dụng theo hướng sản xuất hàng hoá trên địa bàn huyện quảng xương tỉnh thanh hoá
Bảng 4.5 Hiệu quả kinh tế các công thức luân canh vùng đồng bằng Công thức luân canh (Trang 63)
Bảng 4.6 Hiệu quả kinh tế từ các công thức luân canh của vùng ven biển Công thức luân canh - Luận văn đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và đề xuất sử dụng theo hướng sản xuất hàng hoá trên địa bàn huyện quảng xương tỉnh thanh hoá
Bảng 4.6 Hiệu quả kinh tế từ các công thức luân canh của vùng ven biển Công thức luân canh (Trang 66)
Bảng 4.7 Tỷ lệ diện tích các công thức luân canh của vùng đồng bằng  Hiện trạng Dự kiến Loại hình sử dụng đấtCông thức luân canhDiện tích(ha) - Luận văn đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và đề xuất sử dụng theo hướng sản xuất hàng hoá trên địa bàn huyện quảng xương tỉnh thanh hoá
Bảng 4.7 Tỷ lệ diện tích các công thức luân canh của vùng đồng bằng Hiện trạng Dự kiến Loại hình sử dụng đấtCông thức luân canhDiện tích(ha) (Trang 76)
Bảng 4.8 Tỷ lệ diện tích các công thức luân canh của vùng ven biển Hiện trạng Dự kiến Loại hình  sử dụng đấtCông thức luân canh - Luận văn đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và đề xuất sử dụng theo hướng sản xuất hàng hoá trên địa bàn huyện quảng xương tỉnh thanh hoá
Bảng 4.8 Tỷ lệ diện tích các công thức luân canh của vùng ven biển Hiện trạng Dự kiến Loại hình sử dụng đấtCông thức luân canh (Trang 78)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w