luận văn
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo
Trường đại học nông nghiệp 1
đỗ lân
Xác định tỷ lệ bột Whey trong thức ăn hỗn hợp cho lợn con sau cai sữa có bổ sung Enzym và hiệu quả của việc dùng kháng thể
cho lợn con theo mẹ luận văn thạc sĩ nông nghiệp
Chuyên ngành : chăn nuôi
Mã số : 60.62.40
Người hướng dẫn khoa học: gs.ts Vũ duy giảng
Hà Nội - 2006
Trang 2Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và ch−a hề đ−ợc sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã
đ−ợc cám ơn và các thông tin trích dẫn đã đ−ợc chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả
Đỗ Lân
Trang 3Lời cảm ơn
Trong quá trình học tập và thực hiện đề tài, ngoài sự nỗ lực của bản thân tôi còn nhận được rất nhiều sự quan tâm giúp đỡ của các tập thể, cá nhân trong và ngoài trường
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn GS.TS Vũ Duy Giảng thầy giáo đã trực tiếp hướng dẫn và chỉ bảo tận tình tôi trong suốt thời gian làm luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn các thày cô giáo trong Khoa Sau đại học, bộ môn Thức ăn - Vi sinh - Đồng cỏ - Trường Đại học Nông nghiệp I - Hà Nội đã góp ý và chỉ bảo để luận văn của tôi được hoàn thành
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới: Ban lãnh đạo, tập thể cán bộ công nhân viên Công ty sản xuất thức ăn nuôi thuỷ sản gia súc gia cầm Con Rồng - Tổng công ty thuỷ sản Hạ Long, Xí nghiệp gà giống công nghiệp Lạc Vệ- Bắc Ninh, cán bộ và công nhân viên trại giống lợn hạt nhân Danish - xã Tự Tân - huyện Vũ Thư - tỉnh Thái Bình và gia đình bà Nguyễn Thị Oanh, xã Sơn Dương- huyện Lâm Thao - tỉnh Phú Thọ đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành công việc trong quá trình thực tập
Để hoàn thành luận văn này, tôi còn nhận được sự động viên khích lệ của những người thân trong gia đình và bạn bè thân hữu Tôi xin chân thành cảm ơn những tình cảm cao quý đó
Tác giả
Đỗ Lân
Trang 4
Mục lục
1.3 ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài viii
2.3 Tiết sữa và thành phần dinh dưỡng sữa của lợn nái xxxiii2.4 Một số chất dinh dưỡng nâng cao tỷ lệ tiêu hoá thức ăn và tăng
2.5 Bệnh tiêu chảy ở lợn con và sau cai sữa xlii2.6 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước xliv
3.1 Đối tượng ,địa điểm và thời gian nghiên cứu xlix
4.1.1 ảnh hưởng của bổ sung kháng thể đến sinh trưởng của lợn con lx
Trang 54.1.2 ảnh hưởng của việc bổ sung kháng thể đến số lượng E.coli và
4.1.3 ảnh hưởng của bổ sung kháng thể đến khả năng phòng bệnh tiêu
4.2.1 ảnh hưởng của bổ sung enzym vào trong khẩu phần có tỷ lệ bột
whey khác nhau tới sinh trưởng của lợn lxvi4.2.2 ảnh hưởng của bổ sung enzym vào trong khẩu phần có tỷ lệ bột
whey khác nhau tới hiệu quả sử dụng thức ăn của lợn lxx4.2.3 ảnh hưởng của việc bổ sung enzym vào trong khẩu phần có tỷ lệ
whey khác nhau đến khả năng phòng bệnh tiêu chảy của lợn con sau
Trang 6Danh môc c¸c ch÷ viÕt t¾t
CS : cai s÷a CFU : Colony Forming Unit
§C : §èi chøng
KP : KhÈu phÇn
KL : Khèi l−îng
nb : nh− b¶ng thµnh phÇn dinh d−ìng TAHH : Thøc ¨n hçn hîp
TT : T¨ng träng
TN : ThÝ nghiÖm
Trang 7Danh mục các bảng
Bảng 2.1 Thành phần dinh dưỡng của sữa lợn (g/kg) xxxivBảng 2.2 Arabinoxylan và beta- glucan trong hạt (g/kg) xxxviiBảng 2.3 Các loại thức ăn có trên 100 đơn vị phytase/kg xl
Bảng 3.2 Chế độ nuôi dưỡng lii
Bảng 3.5 Tiêu chuẩn dinh dưỡng cho lợn từ 7-15 kg lvi
Bảng 3.7.Thành phần dinh dưỡng của khẩu phần lviiiBảng 4.1 ảnh hưởng của bổ sung kháng thể đến sinh trưởng của lợn con lx
Bảng 4.2 ảnh hưởng của việc bổ sung kháng thể đến số lượng E.coli và
Salmonella lxii
Bảng 4.3 ảnh hưởng của bổ sung kháng thể đến khả năng phòng bệnh tiêu
Bảng 4.4 ảnh hưởng của bổ sung enzym vào trong khẩu phần có tỷ lệ bột
whey khác nhau tới sinh trưởng của lợn lxviBảng 4.5 ảnh hưởng của bổ sung enzym vào khẩu phần có tỷ lệ bột whey
khác nhau tới hiệu quả sử dụng thức ăn của lợn lxxBảng 4.6 ảnh hưởng của việc bổ sung enzym vào trong khẩu phần đến khả
năng phòng bệnh tiêu chảy của lợn con sau cai sữa lxxiv
Trang 8Danh mục các biểu
Biểu 4.1 Khối lượng cơ thể lợn con qua các giai đoạn lxi
Biểu 4.2 Số lượng vi khuẩn E.coli ở các giai đoạn lxii
Biểu 4.3 Số lượng vi khuẩn Salmonella ở các giai đoạn lxivBiểu 4.4 Diễn biến khối lượng cơ thể lợn con từ 28 đến 60 ngày tuổi lxviiiBiểu 4.5 Diễn biến tăng trọng bình quân qua các giai đoạn lxix
Biểu 4.7 Tiêu tốn thức ăn của 4 lô qua các giai đoạn lxxiii
1 mở đầu
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Lợn con sau khi sinh kháng thể nhận từ sữa mẹ, tuy nhiên trong vòng một tuần tuổi đầu nếu được bổ sung kháng thể sản xuất từ bột trứng gà thì hàm lượng kháng thể trong máu sẽ cao giúp cho tỷ lệ nuôi sống đến cai sữa và khối lượng cai sữa cao
Khi cung cấp thức ăn cho lợn cai sữa không những phải cân bằng các chất dinh dưỡng mà còn phải có tỷ lệ tiêu hoá hấp thu cao
Trong thức ăn hỗn hợp cho lợn con sau cai sữa, người ta thường sử dụng bột whey Bột whey có hàm lượng protein thấp nhưng tiêu hoá hấp thu tốt, ngoài ra bột whey có hàm lượng lactose cao, là nguồn năng lượng quan trọng cho lợn con Tuy nhiên tỷ lệ bột whey trong công thức quá cao sẽ làm giảm chất lượng viên Vì vậy việc xác định tỷ lệ bột whey trong công thức thức ăn
Trang 9hỗn hợp cho loại lợn này là rất cần thiết
Để nâng cao tỷ lệ tiêu hoá hấp thu cao của thức ăn cho lợn sau cai sữa việc bổ sung enzym ngoại sinh cũng rất quan trọng Xuất phát từ những yêu cầu trên chúng tôi tiến hành đề tài:
“Xác định tỷ lệ bột whey trong thức ăn hỗn hợp cho lợn con sau cai sữa có
bổ sung enzym và hiệu quả của việc dùng kháng thể cho lợn con theo mẹ”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
- Tăng sức khoẻ, sức đề kháng bệnh của lợn con theo mẹ bằng bổ sung kháng thể
- Xây dựng công thức thức ăn hỗn hợp cho lợn con sau cai sữa trên cơ
sở bổ sung tỷ lệ bột whey thích hợp kết hợp với bổ sung enzym nhằm giúp lợn con sau cai sữa có sức khoẻ và tăng trưởng tốt
1.3 ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Trên cơ sở các kết quả nghiên cứu, luận án đưa ra được khuyến cáo về việc bổ sung kháng thể trong thức ăn cho lợn con giai đoạn theo mẹ và khuyến cáo việc sử dụng whey và enzym trong công thức thức ăn hỗn hợp cho lợn con sau cai sữa
Trang 112 Tổng quan tài liệu
2.1.Đặc điểm sinh lý của lợn con
2.1.1 Đặc điểm tiêu hoá
Lợn con sinh trưởng, phát dục nhanh song những tuần đầu bị hạn chế
do chức năng cơ quan tiêu hoá chưa thành thục
2.1.1.1 Tiêu hoá ở miệng
Lợn mới sinh những ngày đầu hoạt tính amilaza nước bọt cao Tách mẹ sớm, hoạt tính amilaza nước bọt cao nhất ở ngày thứ 14, còn lợn con do mẹ nuôi phải đến ngày thứ 21 Nước bọt ở tuyến mang tai chứa 0,6 - 2,6% vật chất khô Khả năng tiêu hoá 16 - 500 đơn vị Vogemut, pH = 7,6 - 8,1 [14] Tuỳ lượng thức ăn đưa vào mà lượng tiết khác nhau Thức ăn ở dạng khô thì nước bọt tiết ra mạnh, thức ăn ở dạng lỏng thì giảm hoặc ngừng tiết dịch
Lượng nước bọt thay đổi tuỳ theo số lần cho ăn, chất lượng thức ăn Ăn chỉ 1 loại thức ăn kéo dài sẽ làm tăng nhiệm vụ cho 1 tuyến, gây ức chế, lợn ít thèm ăn Ăn nhiều loại thức ăn khác nhau, cả 2 tuyến hoạt động, không gây ức chế, cho ăn nhiều loại thức ăn đổi bữa thì lợn sẽ thèm ăn, tiết nước bọt liên tục, giúp tiêu hoá tốt thức ăn
Do hoạt tính của men amilaza và maltaza có ở trong nước bọt của lợn con mới đẻ ra nhưng dưới 3 tuần tuổi, hoạt tính còn thấp, do đó khả năng tiêu hoá tinh bột của lợn con còn kém, chỉ tiêu hoá được khoảng 50% lượng tinh bột ăn vào
Đối với tinh bột sống, lợn con tiêu hoá càng kém cho nên các loại thức
ăn cần được nấu chín trước khi cho lợn con ăn Sau 3 tuần tuổi, men amilaza
và maltaza mới có hoạt tính mạnh nên khả năng tiêu hoá tinh bột của lợn con tốt hơn (Kitss, 1956)( dẫn qua [10])
Trang 122.1.1.2 Tiêu hoá ở dạ dày
Lợn con 10 ngày tuổi dung tích gấp 3 lần lúc sơ sinh, lúc 20 ngày gấp 8 lần và lúc 60 ngày tuổi gấp 60 lần (dung tích dạ dày lúc sơ sinh khoảng 0,03 l) Sau đó tăng chậm đến tuổi trưởng thành đạt 3,5 - 4 lít.[10]
Dịch vị tiết ra tương ứng với sự phát triển của dung tích dạ dày, tăng mạnh nhất ở 3 - 4 tháng tuổi sau đó kém hơn
Lợn con 20 ngày tuổi, phản xạ tiết dịch vị chưa rõ Ban đêm, lợn mẹ nhiều sữa, kích thích sự tiết dịch vị ở lợn con Khi cai sữa, lượng dịch vị tiết ra ngày đêm gần bằng nhau
Enzym trong dịch vị đã có từ khi lợn con mới đẻ nhưng trước 20 ngày tuổi chưa thấy khả năng tiêu hoá thực tế vì dịch vị thiếu HCl Sau 25 ngày tuổi, trong dịch vị lợn con mới có HCl ở dạng tự do và men pepsinogen không hoạt động mới được HCl hoạt hoá thành men pepsin hoạt động và men này mới có khả năng tiêu hoá
Hoạt lực của enzym pepsin tăng lên theo tuổi một cách rõ rệt ở 9 ngày tuổi tiêu hoá 30 mg fibrin trong 19 giờ, 28 ngày tuổi chỉ cần 2- 3 giờ đến 50 ngày tuổi chỉ cần 1 giờ [23]
Do thiếu HCl ở dạng tự do nên lợn con dưới 25 ngày tuổi rất dễ bị vi khuẩn có hại xâm nhập vào đường tiêu hoá Chúng ta có thể kích thích tế bào vách dạ dày lợn con tiết ra HCl ở dạng tự do sớm hơn bằng cách bổ sung thức
ăn sớm cho lợn con
Số lượng, chất lượng thức ăn khác nhau làm tăng tính ngon miệng, dịch
vị tiết ra nhiều, tiêu hoá cao Ban đêm tiêu hoá cao hơn ban ngày Ban ngày,
sự tiết dịch vị lại nhiều hơn Những axít chính trong dạ dày là axit lactic, axetic, propionic, còn axít butiric thì ít hơn
Axít lactic có liên quan đến vi khuẩn lactic Lợn con 60 ngày tuổi vi khuẩn lactic nhiều hơn ở lợn 120 ngày tuổi Nó giảm khi cân bằng dinh dưỡng
Trang 13hoàn toàn, trực khuẩn E.coli cũng giảm khi cân bằng dinh dưỡng hoàn toàn
2.1.1.3 Tiêu hoá ở ruột
Sơ sinh dung tích ruột non lợn con 100 ml, 20 ngày tuổi tăng 7 lần, tháng thứ 3 đạt 6 lít, 12 tháng đạt 20 lít
Ruột già sơ sinh dung tích 40 - 50 ml, 20 ngày 100 ml, tháng thứ 3 khoảng 2,1 lít, tháng thứ 4 là 7 lít, tháng thứ 7 là 11 - 12 lít [14]
Tiêu hoá ở ruột nhờ tuyến tuỵ, tuyến tuỵ tiết ra dịch tuỵ theo ống dẫn tuỵ Wirsung đổ vào tá tràng (chức năng ngoại tiết)
Dịch tuỵ có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự tiêu hoá: dịch tuỵ có tác dụng phân giải từ 60 - 80% protein, gluxit và lipit của thức ăn Trong dịch tuỵ
có chứa các enzym phân giải protein, phân giải bột đường và enzym phân giải
mỡ Hoạt tính của các enzym thay đổi từ sơ sinh đến trưởng thành
* Hoạt tính của nhóm enzym
+ Tripsin: Enzym tripsin trong dịch tuỵ thuỷ phân protein thành axit amin
ở trong thai 2 tháng tuổi chất chiết đã có men tripsin, thai càng lớn hoạt tính của men tripsin càng cao Khi lợn con mới đẻ ra, hoạt tính của men tripsin dịch tuỵ rất cao để bù đắp lại khả năng tiêu hoá kém của men pepsin dạ dày
+ Men Catepsin là men tiêu hoá protein trong sữa Đối với lợn con ở 3 tuần tuổi đầu, men catepsin có hoạt tính mạnh sau đó giảm dần
+ Men Lactaza: có tác dụng tiêu hoá đường lacto trong sữa Men này có hoạt tính mạnh ngay từ khi lợn con mới đẻ ra và tăng cao nhất ở tuần tuổi thứ
2 sau đó hoạt tính của men giảm dần
+ Men Amilaza và Maltaza: Hai enzym này có trong dịch tuỵ từ khi lợn con mới đẻ ra nhưng dưới 3 tuần hoạt tính còn thấp, do đó khả năng tiêu hoá tinh bột còn kém Sau 3 tuần tuổi enzym amilaza và maltaza mới có hoạt tính mạnh nên khả năng tiêu hoá tinh bột của lợn con tốt hơn (Kitss, 1956)
Trang 142.1.1.4 Khả năng hấp thụ các chất dinh dưỡng
Hệ thống tiêu hoá của lợn con trong những ngày đầu sau sơ sinh cả về cấu trúc hình thái học và hoạt động của hệ enzym tiêu hoá chỉ thích hợp với việc tiếp nhận và tiêu hoá sữa như là một nguồn dinh dưỡng duy nhất (Whitemore, 1993) [77]
Lợn sơ sinh, quá trình hấp thụ immuglobulin và những tiểu phần protein khác của sữa mẹ bằng con đường chủ động chọn lọc hoặc bằng ẩm bào Nhờ
đó immuglobulin ngay những giờ đầu sau khi đẻ, đã tăng trong máu (từ 3,5- 4- 6 -7%) Những tiểu phần protein sữa tuần hoàn trong máu không gây nguy hiểm với lợn con vì trong thời gian này, lợn không hình thành kháng thể bản thân và protein đối với chúng không phải là kháng nguyên
Sự thành thục về miễn dịch học xuất hiện sau 1 tháng tuổi Đến thời gian này, khả năng thấm qua màng ruột các hợp chất đại phân tử hầu như bị ngừng hoàn toàn Tiêu hoá và hấp thụ chất dinh dưỡng tiến hành chủ yếu ở dạ
Trang 15dày, ruột non Trong một ngày đêm, dạ dày phân giải 45% gluxit, 50% protein, 20 - 25% đường Cả dạ dày và ruột non phân giải và hấp thu 85%
đường, 87% protein, ruột già chỉ còn không quá 10 - 15%
2.1.1.5 ảnh hưởng của sự cai sữa đến sự thay đổi hình thái học của niêm mạc ruột non ở lợn con
A Sự thay đổi hình thái học của niêm mạc ruột non ở lợn con cai sữa
Cấu trúc đặc trưng nhất của niêm mạc ruột non ở động vật có vú nói chung và lợn con nói riêng là sự tồn tại của các lông nhung, đơn vị hấp thu nhỏ nhất của cơ quan tiêu hoá Vùng niêm mạc giữa các lông nhung tồn tại các hốc nhỏ, nơi mà từ đó dịch ruột và các chất lỏng khác được tiết vào khoang ruột ở những lợn con khoẻ mạnh, chiều cao của lông nhung dài gấp 3
- 4 lần so với chiều sâu của các hốc giữa chúng (Ruth Miclat Sonaco, 1996)
Tương quan giữa chiều cao lông nhung và độ sâu của các hốc phản ánh tình trạng lành mạnh và khả năng hấp thu của niêm mạc ruột non Nhiều công trình nghiên cứu đã chứng tỏ giữa chiều cao lông nhung và độ sâu của các hốc phản ánh tình trạng lành mạnh và khả năng hấp thu của niêm mạc ruột non Nhiều công trình nghiên cứu đã chứng tỏ giữa chiều cao của lông nhung và tốc độ sinh trưởng của lợn con giai đoạn sau cai sữa có tương quan rất chặt chẽ Theo Li và CTV (1990) [52], hệ số tương quan giữa tốc độ sinh trưởng và chiều cao của lông nhung niêm mạc ruột non ở lợn con cai sữa là : r = 0,63; p
< 0,05 Trong một công trình nghiên cứu khác của Pluske và CTV (1996) [63] cho thấy hệ số tương quan này là r = 0,78; p < 0,05 Điều này dễ hiểu vì sự giảm chiều cao lông nhung dẫn đến giảm diện tích bề mặt hấp thu, giảm hàm lượng enzym trong mỗi tế bào niêm mạc ruột Đã có rất nhiều những công trình nghiên cứu khẳng định cai sữa làm giảm chiều cao của lông nhung và tăng độ sâu của các hốc niêm mạc ruột ở lợn con trong những ngày đầu cai sữa (Gay và CTV, 1976 [39]; Kenworthy, 1976 [48]; Smith, 1984 [71];
Trang 16Hampson, 1986 [41]; Dunsford và CTV, 1989 [35]; Cera và CTV, 1990 [31];
Mc Carcken, 1993 [55] và Pluske, 1996 [63]) Theo Mc Carcken và Kelly (1984) [47], chiều cao của các lông nhung và tăng độ sâu của các hốc nhỏ giữa chúng trong niêm mạc ruột non, giải thích cho hiện tượng giảm khả năng tiêu thụ thức ăn, giảm khả năng hấp thu chất dinh dưỡng, tăng tỷ lệ mắc bệnh tiêu chảy sau cai sữa và dẫn đến giảm thậm chí ngừng tốc độ sinh trưởng của lợn con trong giai đoạn sau cai sữa (hiện tượng ức chế sau cai sữa)
B Những yếu tố ảnh hưởng đến sự thay đổi hình thái của niêm mạc ruột non ở lợn con cai sữa
Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự thay đổi về cấu trúc và hình thái của hệ thống dạ dày ruột của lợn con
Tuổi cai sữa
Cai sữa càng sớm, càng đột ngột, tốc độ giảm chiều cao lông nhung và tăng chiều sâu của các hốc niêm mạc ruột càng cao và như vậy những rối loạn tiêu hoá và hấp thu diễn ra càng trầm trọng
Theo Windmusller (1982) [76], Souba (1993) [73], Wu và Knabe (1993) [78], trong sữa lợn nái tồn tại một loại axit amin là L-glutamin có ý nghĩa rất quan trọng trong việc bảo vệ, kích thích sự phát triển và duy trì các chức năng sinh lý bình thường của các tế bào biểu mô ruột non Sự ngừng cung cấp sữa làm mất đi vai trò của L-glutamin và đó cũng là một trong những nguyên nhân cơ bản làm giảm chiều cao lông nhung và tăng độ sâu của các crypt trong niêm mạc ruột non Theo Lindemann và CTV(1986) [53], chiều cao của lông nhung giảm 30 - 65% ở lợn con cai sữa 21 ngày và 27% ở lợn con cai sữa 35 ngày
Sự thay đổi thức ăn, giảm khả năng tiêu thụ thức ăn
Chuyển trạng thái vật lý của thức ăn (từ lỏng thành đặc) Byne và Hall(1984), dẫn đến làm giảm chiều cao của các lông nhung trong những ngày
Trang 17đầu sau khi cai sữa Theo Kelly và Mc Carcken (1984) [47], Robertson và CTV (1985) [66], Bark và CTV (1986) [28], có một giai đoạn đói tạm thời trong những ngày đầu sau cai sữa trong đó sức tiêu thụ thức ăn của lợn con giảm đi rõ rệt và vì vậy lợn con không hấp thu đủ các chất dinh dưỡng để đáp ứng nhu cầu duy trì đồng thời sự giảm mức tiêu thụ thức ăn dẫn đến thiếu sự cung cấp dưỡng chất liên tục trong đường dạ dày ruột cũng là một trong những nguyên nhân làm tăng chiều sâu của các hốc niêm mạc và chiều cao lông nhung
Nguồn protein trong khẩu phần
Protein sữa ít ảnh hưởng tới sự thay đổi hình thái của niêm mạc ruột, trái lại những protein có nguồn gốc thực vật và động vật có ảnh hưởng rõ rệt
đến sự thay đổi hình thái các lông nhung cũng như các hốc niêm mạc Các nghiên cứu cho thấy chiều cao của lông nhung niêm mạc ruột non của lợn con
được ăn khẩu phần có protein sữa cao hơn so với ở lợn con được tập ăn khẩu phần có protein đậu tương Nguyên nhân của sự khác biệt này là do sự khác biệt về cấu trúc kháng nguyên của các loại protein trong thức ăn (Miller và CTV, 1984 [56]; Dunsford và CTV, 1989)[35])
Sự có mặt của các chất kháng dinh dưỡng trong thức ăn
Đó là những chất kháng dinh dưỡng có trong các loại hạt, đặc biệt là các hạt họ đậu như glycinin…
Sự xâm nhập của các mầm bệnh
Đặc biệt là sự có mặt của Rotavins và các chủng E.coli (Miller và CTV,
1984) [56]
2.1.2 Đặc điểm sinh trưởng và phát dục
Lợn con ở giai đoạn nay có tốc độ sinh trưởng, phát dục rất nhanh Theo dõi tốc độ tăng trưởng của lợn con thấy rằng: khối lượng lợn con lúc10 ngày tuổi gấp 2 lần lúc sơ sinh, lúc 21 ngày tuổi gấp 4 lần, lúc 30 ngày tuổi gấp 5-6 lần, lúc 40 ngày tuổi gấp 7-8 lần, lúc 50 ngày tuổi gấp 10 lần và lúc 60 ngày
Trang 18tuổi gấp 12-14 lần lúc sơ sinh
Lợn con lúc bú sữa có sự phát triển nhanh nhưng không đều qua các giai đoạn nhanh 21 ngày đầu sau đó giảm, có sự giảm này do nhiều nguyên nhân nhưng chủ yếu là do lượng sữa của lợn mẹ bắt đầu giảm Thời gian bị giảm sinh trưởng thường kéo dài 1 tuần, còn gọi là giai đoạn khủng hoảng của lợn con Chúng ta có thể hạn chế sự khủng hoảng này bằng cách tập ăn cho lợn con ăn sớm
Sau 8 ngày tuổi lợn con tăng khối lượng lên 1,2-1,5 lần, 21 ngày tuổi lợn con tăng khối lượng lên 4 lần so với lúc sơ sinh, đến lúc 21 ngày tuổi lợn ngoại đạt 3,5 - 5 kg/con, cả ổ đạt 45 - 50 kg Nếu đạt như vậy là sinh trưởng của đàn lợn phát triển tốt
2.1.3 Đặc điểm về cơ năng điều tiết nhiệt
Cơ năng điều tiết thân nhiệt của lợn con chưa ổn định, nghĩa là sự sinh nhiệt và thải nhiệt chưa được cân bằng
Cơ thể lợn con mới sinh có tới 82 % là nước, sau 30 phút nước giảm 12% thân nhiệt giảm 5 0C Do vậy lợn con bị lạnh, hoạt động chức năng của các bộ phận trong cơ thể bị rối loạn, đòi hỏi phải sưởi ấm cho lợn con nhất là trong 7 ngày đầu đảm bảo cho sự trao đổi năng lượng và trao đổi vật chất cao Nếu chuồng có độn rơm , dăm bào, đèn sưởi để có nhiệt độ 32 - 34 0C trong tuần đầu, 29-30 0C trong tuần sau, từ ngày tuổi thứ 10 lợn con mới tự điều chỉnh cân bằng được thân nhiệt
Nghiên cứu khác cho thấy ở lợn sơ sinh, tỷ lệ nước trong cơ thể chiếm
82 %, vì có nhiều nước, nhiệt độ cơ thể giảm nhiều, 30 giây sau đẻ, nước trong cơ thể giảm 1,5-2 % kèm theo thân nhiệt giảm 5-10 0C lợn con bị lạnh, các chức năng hoạt động bị rối loạn dẫn đến lợn con bị chết non Yêu cầu nhiệt độ của lợn con sơ sinh đến 7 ngày tuổi: 32 - 34 0C, sau 7 ngày tuổi : 29-30 0C [11] Theo Nguyễn Khắc Tích (2005) [23] nhiệt độ thích hợp cho lợn con:
Trang 19Sơ sinh đến 7 ngày tuổi : 30 - 32 0C
Từ 8-21 ngày tuổi: 28 - 29 0C
Từ 22 - 56 ngày tuổi : 27 - 280C
Có thể nói, khả năng điều tiết nhiệt của lợn con dưới 3 tuần tuổi còn kém, nhất là trong tuần đầu mới đẻ ra Cho nên nếu nuôi lợn con trong chuồng
có nhiệt độ thấp và ẩm độ cao thì thân nhiệt hạ xuống càng nhiều Nếu nhiệt
độ chuồng nuôi là 18 0C thì thân nhiệt lợn con giảm xuống 20C so với thân nhiệt ban đầu nếu nhiệt độ chuồng nuôi xuống tới 00C thì thân nhiệt của lợn con giảm xuống 4 0C
Hovorka (1983) theo dõi khả năng điều tiết thân nhiệt của lợn con ở những ngày khác nhau cho thấy: lợn con ở 6 ngày tuổi sau khi hết lạnh thân nhiệt vẫn tiếp tục giảm khoảng 4 giây nữa, nhưng ở lợn 20 ngày tuổi sau khi hết bị lạnh thì thân nhiệt tăng lên ngay
Khối lượng sơ sinh không ảnh hưởng nhiều đến sự tăng giảm thân nhiệt của lợn con Khối lượng sơ sinh cao nhưng nuôi ở chuồng có nhiệt độ thấp thì thân nhiệt bị giảm nhiều hơn so với lợn con có khối lượng sơ sinh thấp nhưng
được nuôi dưỡng ở môi trường nhiệt độ cao Kết quả theo dõi của Newland(1975) cho rằng: khối lượng sơ sinh trung bình của lợn con là 1,13 kg
được nuôi trong chuồng có nhiệt độ 16-210C thì sau 30 giây thân nhiệt bị giảm khoảng 1,60C Nhưng những lợn con có khối lượng sơ sinh trung binh là 2,4
kg nuôi ở chuồng có nhiệt độ - 40C thì thân nhiệt giảm tới 16,60C[10]
Lợn con mới sinh 20 giây đầu hạ nhiệt độ rất nhanh từ 2-30C, nhất là những con có trọng lượng dưới 0,5 kg cho nên phải ủ ấm cho lợn con, sưởi ấm nhất là vào lúc nhiệt độ không khí thấp
2.1.4 Đặc điểm miễn dịch của lợn con
Lợn con mới đẻ ra trong máu hầu như chưa có kháng thể Lượng kháng thể tăng rất nhanh sau khi lợn con được bú sữa đầu cho nên khả năng miễn
Trang 20dịch của lợn con hoàn toàn là thụ động, phụ thuộc vào lượng kháng thể hấp thụ được là nhiều hay ít từ sữa mẹ
Trong sữa đầu của lợn nái hàm lượng protein rất cao Những ngày đầu mới đẻ hàm lượng protein sữa chiếm tới 18-19% trong đó lượng γ globulin chiếm số lượng khá lớn(34-45%) γ globulin có tác dụng tạo sức đề kháng cho nên sữa đầu có tác dụng quan trọng đối với khả năng miễn dịch của lợn con
Lợn con hấp thu γ globulin bằng con đường ẩm bào Quá trình hấp thu nguyên vẹn phân tử γ globulin giảm đi rất nhanh theo thời gian Phân tử γ globulin chỉ có khả năng thẩm thấu qua thành ruột lợn con tốt nhất trong vòng
24 giờ đầu sau khi đẻ ra nhờ trong sữa đầu có kháng men anti trypsin làm mất hoạt lực của enzym trypsin tuyến tuỵ và nhờ khoảng cách giữa các tế bào vách ruột của lợn con khá rộng cho nên 24 giờ sau khi được bú sữa đầu hàm lượng
γ globulin trong máu đạt tới 20.3 mg/100ml máu Sau 24 giờ lượng kháng men trong sữa giảm dần và khoảng cách giữa các tế bào vách ruột của lợn con hẹp dần lại nên sự hấp thu γ globulin kém hơn, hàm lượng γ globulin trong máu lợn con tăng lên chậm hơn Đến 3 tuần tuổi chỉ đạt khoảng 24 mg/100ml máu( máu bình thường của lợn có khoảng 65 mg γ globulin /100ml), do đó lợn con cần được bú sữa đầu càng sớm càng tốt
Nếu lợn con không được bú sữa đầu thì từ 20-25 ngày tuổi mới có khả năng tự tổng hợp kháng thể Do đó những lợn con không được bú sữa đầu thì
sức đề kháng rất kém, tỷ lệ chết rất cao
2.1.5.Vấn đề tập ăn sớm cho lợn con
Lợn con sinh trưởng nhanh, tốc độ tăng trưởng cao, đòi hỏi nhu cầu sữa càng nhiều, nhưng lượng sữa của lợn mẹ lại giảm từ tuần thứ 3, đây là giai
đoạn khủng hoảng thứ nhất, sau cai sữa lợn con lại rơi vào tình trạng khủng hoảng thứ hai Để khắc phục các tình trạng khủng hoảng của lợn con cần bổ sung thêm chất dinh dưỡng vào khẩu phần của chúng vừa có tác dụng kích
Trang 21thích tăng tiết dịch vị, tăng hàm lượng axit chlohydric (HCl) và enzym Đồng thời để hoàn thiện bộ máy tiêu hoá, tăng sự thích ứng kịp thời với chế độ ăn sau cai sữa cần tập cho lợn con ăn sớm từ 7 - 21 ngày
Tập cho lợn con ăn sớm sẽ giúp cho đường tiêu hoá phát triển nhanh, tạo điều kiện cho dịch tiêu hoá làm việc tốt hơn nhanh hơn (Nguyễn Văn Thưởng, 1993) [25]
Theo Oslage, (1927) lợn nuôi bằng sữa nhân tạo thay thế có tích luỹ nitơ lớn nhất Lợn cho ăn sữa một cách thoả mãn tối đa (bú cả ở hai lợn nái mỗi ngày 1300g sữa), tích luỹ nitơ khác nhau Tích luỹ nitơ theo phương pháp truyền thống (sữa mẹ cùng với thức ăn bổ sung) thấp hơn, chỉ tiêu này đạt thấp nhất ở nhóm chỉ cung cấp sữa mẹ (700 - 800g/ngày) Điều đó chứng tỏ sữa mẹ chưa đáp ứng được tiềm năng sinh trưởng của lợn con Vì vậy, cần phải bổ sung thức ăn cho lợn con ngay từ khi còn đang bú sữa mẹ
2.1.5.1 Cai sữa cho lợn con
ở nước ta trước đây do kỹ thuật chăn nuôi còn hạn chế nên phần lớn lợn con cai sữa nuôi tới 45 - 50 ngày tuổi Những năm gần đây để tăng năng suất sinh sản lợn nái (Tăng số lứa đẻ/nái/năm, nhằm tăng số lợn con cai sữa/nái/năm) đã cai sữa lợn con sớm hơn
Hiện nay, cai sữa lợn con sớm vào lúc 21 hoặc 28 ngày tuổi Việc cai sữa lợn con sớm hơn cũng làm cho nái khó động dục sớm và cũng không rút ngắn chu kỳ sinh sản của nái bao nhiêu, nhưng lợn con khó nuôi hơn, tốn kém hơn nếu cai sữa quá sớm (Võ Văn Ninh, 2001)[17]
Theo Hovorka, 1983 [10] nếu cai sữa lợn con vào 21 ngày tuổi thì giảm chi phí cho thời gian sản xuất 1 kg lợn con xuống 20% so với cai sữa ở 56 ngày tuổi Nhiều nhà chăn nuôi đề nghị nên cai sữa lợn con trong khoảng 21 -
28 ngày tuổi là cho hiệu quả kinh tế cao nhất Cai sữa lợn con trên 28 ngày tuổi cũng như dưới 10 ngày tuổi đã làm giảm số con cai sữa/nái/năm và đây
Trang 22cũng là chỉ tiêu quan trọng nhằm nâng cao năng suất lợn nái
Mặc dù vậy cai sữa ở lứa tuổi nào cũng phải đảm bảo lợn con nuôi tiếp
đến 2 tháng tuổi đạt 14 - 15kg ở lợn lai và lợn ngoại và nuôi đến 3 tháng tuổi
đạt đến 18 - 20kg, có trường hợp đạt 25kg
2.1.5.2 Số lượng thức ăn ăn vào và số lần cho ăn trong ngày
Cho ăn với một lượng nhỏ với khoảng cách đều đặn đã nâng cao được năng suất của lợn con Với phương pháp nuôi dưỡng này có thể khắc phục
được 2 vấn đề, một là tránh tồn dư lâu thức ăn trong máng, tránh rơi vãi thức
ăn, hai là tăng khả năng tiêu hoá hấp thu của lợn con
Sau khi cai sữa lợn con thường bị khủng hoảng, tránh tình trạng đó cần giảm lượng thức ăn hàng ngày
Ngày cai sữa giảm 1/2 lượng thức ăn so với ngày trước cai sữa
Ngày tiếp theo giảm 1/3 lượng thức ăn so với ngày trước cai sữa
Ngày tiếp theo giảm 1/4 lượng thức ăn so với ngày trước cai sữa
Sau đó nếu quan sát thấy lợn không có vấn đề về tiêu hoá cho ăn bình thường như trước ngày cai sữa rồi tăng dần theo nhu cầu của lợn con
Theo Lê Hồng Mận [15] mức ăn hằng ngày cho lợn con từ 10 - 45 ngày tuổi
Tuổi lợn con (ngày) Khối lượng thức ăn (kg)
Theo Ball và Aherne, (1982) những lợn con được ăn một bữa trong ngày bị
ỉa chảy nhiều hơn so với nhóm lợn đựơc ăn tự do, trái lại những lợn con cho ăn hạn chế năng suất lại khá nhất Sự ăn quá nhiều có thể dẫn đến ứ máu trong dạ dày, ruột Việc cho ăn hạn chế trong thời gian sau cai sữa có hiệu quả rõ rệt
Trang 23đối với việc phòng tránh bệnh ỉa chảy (Palm và Hulland, 1965; Smith và Hall, 1968) Số lần cho ăn ảnh hưởng đến khả năng tiêu hoá của lợn: Khi cho lợn ăn
3 lần/ngày thì sẽ tiêu hoá được 13,5% nhưng khi cho ăn 5 lần/ngày thì sẽ tiêu hoá được 19,7%
2.2 Nhu cầu dinh dưỡng của lợn con
2.2.1 Nhu cầu về năng lượng của lợn con và lợn đang sinh trưởng
2.2.1.1 Nhu cầu về năng lượng và phương pháp xác định nhu cầu năng lượng cho lợn con và lợn đang sinh trưởng
Theo NRC (1998) [12], nhu cầu năng lượng trao đổi cần cho tích luỹ 1
kg protein ở lợn đang sinh trưởng dao động từ 6,8 đến 14,0 Mcal/kg , trung bình 10,6 Mcal/kg Trong khi đó, nhu cầu năng lượng trao đổi dành cho tích luỹ mỡ từ 9,5 đến 16,3 Mcal/kg, trung bình 12,5 Mcal/kg
Tuy nhiên, trong thực tế nuôi dưỡng lợn con và lợn thịt giai đoạn đang sinh trưởng, chế độ nuôi dưỡng được áp dụng phổ biến nhất ở hầu hết các trang trại là cho ăn tự do Với phương thức nuôi dưỡng này, việc tính toán nhu cầu năng lượng tỏ ra không thực tế bởi lẽ khi nuôi bằng chế độ ăn không hạn chế, bản thân con vật có khả năng tự điều chỉnh lượng thức ăn ăn vào để thoả mãn nhu cầu năng lượng của mình
Theo NRC (1998), để điều chỉnh được lượng thức ăn ăn vào của lợn con
và lợn đang sinh trưởng cần lưu ý tới ba nhóm những nhân tố ảnh hưởng sau:
Nhóm những nhân tố sinh lý: bao gồm di truyền, điều hoà hooc môn
các yếu tố cảm giác (vị giác, khứu giác)
Nhóm các yếu tố môi trường: nhiệt độ và ẩm độ môi trường, tốc độ lưu
thông không khí, cấu trúc máng ăn, mật độ đàn
Nhóm các yếu tố khẩu phần: sự thiếu và thừa các chất dinh dưỡng, mật
độ năng lượng các thức ăn bổ sung khác như kháng sinh, chất kích thích ngon miệng, chế độ cung cấp nước Trên cơ sở các kết quả nghiên cứu NRC (1998)
Trang 24[12] đã đưa ra công thức ước tính khả năng ăn vào của lợn con tập ăn và sau cai sữa như sau:
Đối với lợn con tập ăn:
DE intake (Kcal/ngày) = - 151,7 + (11,2 x day)
R2 = 0,72
Đối với lợn con sau cai sữa:
DE intake (Kcal/ngày) = 1,531 + (455,5 x Bw) - (9,46 x Bw2)
R2 = 0,92
Trong đó, DE intake: NLTH ăn vào
Day: ngày tuổi lợn con (không tính cho lợn con dưới 13 ngày tuổi) BW: khối lượng cơ thể
2.2.1.2 Mối quan hệ giữa năng lượng ăn vào (energy intake) và tốc độ tích luỹ prôtêin và mỡ của lợn con và lợn vỗ béo
Ngày nay, việc khảo sát tốc độ tích luỹ thịt nạc và thịt mỡ của lợn khi
được nuôi dưỡng bằng khẩu phần có các mức năng lượng khác nhau nhằm ước
đoán nhu cầu năng lượng của lợn ở các giai đoạn sinh trưởng khác nhau đang
được áp dụng khá phổ biến ở nhiều nước Những kết quả nghiên cứu trên lợn con từ sơ sinh đến 20 kg của Cole và CTV (1988) [33] đã chứng tỏ rằng tốc độ tích luỹ protein của lợn con từ sơ sinh đến 35 ngày tuổi có quan hệ tuyến tính với lượng năng lượng ăn vào Campell và Dunkin (1982) [29] cũng quan sát thấy kết quả tương tự ở lợn con từ sơ sinh đến 17 kg
Từ những kết quả nghiên cứu trên, Campell và Dunkin (1982) [29] đã
đưa ra phương trình hồi quy biểu thị mối quan hệ giữa năng lượng ăn vào và tốc độ sinh trưởng:
Đối với lợn con (từ sơ sinh đến 20 kg): ADG = 50,2 (± 1,40) DEI - 67,5
Đối với lợn con giai đoạn 20 - 50 kg: ADG = 39,9 (±0,8) DEI - 335
Trang 25Trong đó: DEI là năng lượng tiêu hoá tiếp thu được hàng ngày (MJ)
2.2.2 Nhu cầu protein và axit amin cho lợn con và lợn đang sinh trưởng
2.2.2.1 Quá trình sinh trưởng của lợn
Sinh trưởng được coi là một quá trình tăng khối lượng cơ thể do sự nhân lên về số lượng và lớn lên (to ra) của các tế bào trong các cơ quan và tổ chức
Đối với cơ thể động vật,mục đích của sinh trưởng là đạt tới sự thành thục, còn
đối với người chăn nuôi, sinh trưởng là một quá trình tích luỹ liên tục của các mô nạc và mô mỡ
Căn cứ vào sự khác biệt về tốc độ tích luỹ thịt nạc, thịt mỡ và chất khoáng trong cơ thể lợn trong các giai đoạn sinh trưởng mà trong việc xác
định nhu cầu dinh dưỡng người ta chia quá trình sinh trưởng của lợn làm 2 giai đoạn chính Giai đoạn đầu từ sơ sinh đến 5 tháng tuổi ( tương ứng với khối lượng 60 -70 kg) Trong giai đoạn này, quá trình sinh trưởng của lợn chủ yếu do tốc độ tích luỹ protein và khoáng quyết định và giai đoạn cuối từ 65 -
70 kg trở đi , tốc độ tích luỹ protein chậm lại và tốc độ tích luỹ mỡ tăng lên rất nhanh do đó hiệu quả chuyển hoá thức ăn cũng giảm nhanh chóng(Hitoshi Mikami, 1994) [43]
Trong thực tế nuôi dưỡng và trong quá trình xác định nhu cầu các chất dinh dưỡng cho lợn con và lợn đang sinh trưởng, ngoài sự khác biệt về tốc độ tích luỹ thịt nạc, thịt mỡ còn có sự khác biệt khá lớn về các đặc điểm sinh lý, đặc biệt
là sinh lý tiêu hoá, nên thực tế nuôi dưỡng người ta còn chia quá trình sinh trưởng của lợn thành các giai đoạn nhỏ hơn như giai đoạn khởi động ( 10 - 20kg), giai
đoạn sinh trưởng (21-50kg) và giai đoạn vỗ béo (50-120kg) NRC (1998)
2.2.2.2 Quá trình trao đổi protein trong cơ thể lợn
Khi động vật ăn thức ăn chứa protein, dưới tác dụng của các men tiêu hoá, protein được phân giải thành các axit amin hoặc chuỗi axit amin liên kết Các phần tử nhỏ này được hấp thu qua ruột vào máu tới gan và tuần hoàn qua
Trang 26các mô bào để tổng hợp albumin của huyết tương Một phần các axit amin
được đưa đi xa hơn vào các mô và tế bào để được sử dụng tổng hợp nên các protein đặc hiệu của mô và tế bào Chẳng hạn tổng hợp tyroxin trong tuyến giáp, các globulin miễn dịch trong các tế bào, tương bào, các enzim tiêu hoá Một phần các axit amin đó được dùng làm nguyên liệu năng lượng Khi các axit amin trong máu không đúng với tỷ lệ mà các mô đòi hỏi, phần dư thừa sẽ
bị bài xuất ra ngoài cơ thể
2.2.2.3 Nhu cầu protein và axit amin cho lợn con và lợn đang sinh trưởng
Khái niệm protein lý tưởng cũng được tiểu ban dinh dưỡng lợn thuộc Hội đồng nghiên cứu khoa học quốc gia Mỹ (NRC) áp dụng để ước tính nhu cầu protein và các axit amin cho lợn nói chung và lợn con, lợn đang sinh trưởng nói riêng Trong lần xuất bản lần thứ 10 (1998), bên cạnh các khuyến cáo về nhu cầu axit min tổng số, NRC còn có những khuyến cáo rất cụ thể và chi tiết về nhu cầu axit amin tiêu hoá thực và tiêu hoá biểu kiến Quan hệ tỷ lệ giữa các axit amin trong tính toán của NRC trong lần xuất bản này cũng dựa trên cơ sở khái niệm protein lý tưởng nhưng những tính toán cụ thể cho từng loại axit amin lại tính toán theo phương pháp nhân tố, tức là có tỷ lệ axit amin cân bằng theo hình mẫu protein lý tưởng cho duy trì, cho tích luỹ protein Để tính toán nhu cầu lysine cho tích luỹ protein, NRC (1998) đã giới thiệu công thức tính nhu cầu lysine tiêu hoá thực dựa trên cơ sở lượng protein tích luỹ
được của cơ thể đối với lợn con và lợn đang sinh trưởng như sau:
TIDL (g) = 0,12 x PD Trong đó: TIDL là nhu cầu lysine tiêu hoá thực
PD là lượng protein tích luỹ được (g/ngày)
Tuy nhiên, để tính toán được nhu cầu lysine cho lợn con và lợn đang sinh trưởng theo công thức trên, cần biết được trị số PD Để thuận tiện hơn cho việc tính toán, NRC giới thiệu công thức tính nhu cầu lysine cho lợn con và
Trang 27lợn đang sinh trưởng theo công thức:
Đã có nhiều công trình nghiên cứu đã chứng tỏ rằng tốc độ tích luỹ protein của lợn có thể bị kìm hãm do trong quá trình nuôi dưỡng, chúng không
được cung cấp đầy đủ năng lượng và protein Tuy nhiên, trong những điều kiện nhất định, tốc độ tích luỹ protein có thể chịu ảnh hưởng tương đối độc lập vào hàm lượng năng lượng hoặc protein mà con vật thu nhận được hàng ngày qua thức ăn
Kết quả nghiên cứu của Campbell (1985) [ 30] trên lợn cho thấy khi lượng nitơ tiếp nhận được từ thức ăn thấp hơn so với nhu cầu, sự tích luỹ protein tăng một cách tuyến tính với sự tăng của lượng nitơ ăn vào hàng ngày
mà không phụ thuộc vào mức năng lượng tiếp thu được nhiều hay ít
Trang 282.2.2.5 ảnh hưởng của sự cung cấp quá thừa axit amin trong nuôi dưỡng lợn con và lợn đang sinh trưởng
Những ảnh hưởng chính của sự cung cấp thừa các axit amin đến sinh trưởng và chuyển hoá thức ăn của lợn thể hiện trên các khía cạnh sau:
Trước hết sự cung cấp quá thừa hoặc nhiều axit amin trong khẩu phần thường dẫn tới làm giảm khả năng tiêu thụ thức ăn, giảm tốc độ sinh trưởng hoặc giảm hiệu quả sử dụng thức ăn của lợn Một trường hợp khác cũng thường
được quan sát thấy là sự cân bằng trong quan hệ tỷ lệ giữa các axit amin đặc biệt là các axit amin không thay thế trong khẩu phần bị phá vỡ do cung cấp quá dư thừa một hay nhiều axit amin làm tăng thêm nhu cầu của gia súc đối với một số loại axit amin khác, như trường hợp cung cấp quá thừa lysine ở lợn
đang sinh trưởng làm tăng nhu cầu của chúng đối với argrinine( Edmonds và CTV,1987) [ 36]
2.2.3 Nhu cầu khoáng chất
Đối với vật nuôi, chất khoáng cũng quan trọng như prôtêin Ngoài chức năng cấu tạo mô cơ thể, chất khoáng còn tham gia vào nhiều quá trình chuyển hoá của mô cơ thể Trong thành phần cấu tạo của nhiều enzym có mặt các nguyên tố khoáng khác nhau Chính vì thế, thiếu khoáng con vật sẽ bị rối loạn trao đổi chất, sinh trưởng, sinh sản bị ngừng trệ
2.2.3.1 Các khoáng đa lượng
+ Canxi (Ca) và Phốt pho (P)
Ca và P giữ vai trò chính trong việc phát triển và duy trì bộ xương và thực hiện nhiều chức năng sinh lý khác
Peo (1991) [61] đã chỉ ra rằng lượng Ca và P phù hợp trong dinh dưỡng cho mọi loại lợn phụ thuộc vào:
1/ Việc cung cấp đủ các khoáng chất ở dạng tiêu hoá được trong khẩu phần, 2/ Một tỷ lệ thích hợp Ca và P tiêu hoá trong khẩu phần, 3/ Một
Trang 29lượng vitamin D phù hợp
Nhiều công trình nghiên cứu đã được thực hiện để xác định nhu cầu Ca,
P của lợn cai sữa, lợn choai, lợn vỗ béo Theo NRC 1998 [12], nhu cầu khẩu phần ước tính của Ca và P để đạt tỷ lệ tăng trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn tối
đa đối với lợn từ 3- 5 kg là Ca: 0,9%, P tổng số 0,7%, đối với lợn từ 5 - 10 kg, Ca
là 0,8% và P là 0,65%, lợn từ 10 - 20 kg, nhu cầu Ca, P là 0,7% và 0,6%
+ Natri (Na) và Kali (K)
Natri và Kali được sử dụng với hiệu suất cao trên 70% đối với lợn Natri
và Kali có tầm quan trọng đặc biệt trong dịch cơ thể
Natri, Kali và Clo là các ion chính ảnh hưởng đến cân bằng chất điện phân và trạng thái Axit - Bazơ của con vật
Nhu cầu Na trong khẩu phần ở lợn từ 3 - 5 kg là 0,25%, lợn từ 5 - 10 kg
Thiếu Cu dẫn đến di động sắt kém, phù tạo huyết bất thường, sừng hoá
và tổng hợp collagen, elastin, myelin kém Các triệu chứng thiếu Cu đối với lợn thì tứ chi sẽ biến dạng, lớp vỏ xương ống chân bị mỏng đi, các đầu sụn bị sưng to
Hàm lượng sắt trong cơ thể lợn rất thấp, theo các tác giả Widdowson, Dickerson và Henning thì ở giai đoạn sơ sinh có 28 mg Fe/kg chất khử mỡ trong cơ thể
Sắt cần như một thành phần của hemoglobin trong hồng cầu Sắt cũng
có trong myoglobin ở cơ, trong transferrin của huyết thanh, trong uteroferrin
Trang 30của nhau thai, trong lactoerin của sữa và ferritin hemosiderin của gan (Zimmerman, 1980 [80]; Ducsay và CTV, 1984) [34]
Bổ sung Fe chủ yếu ở giai đoạn lợn con bú sữa, ở giai đoạn trưởng thành ít khi thiếu đối với lợn
Nhu cầu của Cu và Fe trong khẩu phần theo NRC 1998 [12]
Lợn ở giai đoạn 3-10 kg: Cu: 6 mg/kg TA
+ Kẽm
Kẽm là một thành phần của nhiều enzym chứa kim loại, bao gồm synthetase và transferase DNA và RNA, các enzym tiêu hoá và được liên kết với hooc môn, insulin Vì vậy, chất này đóng vai trò quan trọng trong trao đổi chất của protein, carbohydrate và lipit
Các triệu chứng cổ điển của thiếu kẽm ở lợn choai là sừng hoá da (Kern kamp và Ferrin,1953[49]; Tucker và Salmon,1955[74]) Thiếu kẽm làm giảm tốc độ và hiệu quả tăng trưởng (Hoekstra và CTV, 1967) [44]
Nhu cầu kẽm ở lợn con ăn khẩu phần casein - glucose thấp (15 ppm) vì thức ăn không có phytate thực vật (Smith và CTV, 1962[72]; Shanklin và CTV,1968) [72]
Một thông báo cho rằng khi khẩu phần lợn tập ăn được bổ sung 3000 ppm kẽm từ ZnO trong 14 ngày thì tiêu chảy sau cai sữa giảm và tăng trọng cao (Poulsen, 1989) [62] đã kích thích việc dùng kẽm trong thực phẩm
Một nghiên cứu lớn mới đây cho rằng bổ sung mức kẽm cao (3000 ppm) từ ZnO và Cu (250 ppm từ CuSO4) đều hiệu quả, song không phải là bổ sung để kích thích tăng trọng khi chúng được phối hợp vào khẩu phần cho lợn cai sữa (Hill và CTV, 1986) [42]
2.2.4 Nhu cầu các vitamin của lợn
Vitamin tham gia vào hầu hết quá trình trao đổi chất và hoạt động của
Trang 31cơ thể như nó là chất xúc tác sinh học, xúc tiến việc tổng hợp, phân giải các chất dinh dưỡng (trong cơ thể có tới 850 loại men trong đó có khoảng 120 loại
có thành phần của vitamin tham gia) Vitamin còn có trong các tế bào vào cơ thể và giúp cho lợn sinh trưởng phát dục cũng như sinh sản bình thường Cơ thể lợn thường xuyên nhận được nguồn vitamin từ thức ăn Tuy nhiên, với đối tượng lợn khác nhau sẽ có nhu cầu vitamin khác nhau
2.2.4.1 Nhóm vitamin hoà tan trong mỡ
+ Vitamin A: Vitamin A có tác dụng bảo vệ lớp tế bào biểu mô cũng như hình thành nên lớp ngoài của màng nhày của nhiều hệ cơ quan như hệ hô hấp, cơ quan sinh sản và hệ thần kinh, đồng thời nó có chức năng rất quan trọng đối với hoạt động thị giác, nếu thiếu có thể dẫn đến mù
Nhu cầu của vitamin A ở lợn trong 8 tuần tuổi đầu tiên cần 75- 605 mg retinol acetate/kg thức ăn tuỳ thuộc vào chỉ tiêu đáp ứng được sử dụng (Sheffy
và CTV,1954 [68]; Frape và CTV 1959[38]) Theo NRC, nhu cầu vitamin A của lợn từ 3-10 kg là 2200 UI/1 kg khẩu phần)
+ Vitamin D: có nhiều loại vitamin D song có 2 loại có giá trị đối với lợn đó là vitamin D2 và D3
Vitamin D tham gia vào chuyển hoá Ca, P tăng sự hấp thu Ca, P ở vách ruột thông qua việc tạo pH thích hợp và tổng hợp nên proein vật mang
Nếu thiếu vitamin D dẫn đến chức năng của cơ không được bình thường
do sự méo mó của các xương đang phát triển ở lợn con dẫn đến còi xương
Nhu cầu vitamin D của lợn con dùng khẩu phần casein- glucose là 100 UI/kg TA (Miller và CTV, 1964 ) [59] Theo NRC (1998) [12], nhu cầu vitamin D ở lợn con là 220 UI/kg khẩu phần
+ Vitamin E: là một trong những vitamin quan trọng đối với lợn Chức năng của vitamin E là chống ôxy hoá màng tế bào Thiếu vitamin E dẫn đến hàng loạt các điều kiện bệnh lý như suy thoái khung xương, cơ tim, tắc nghẽn
Trang 32mạch, sừng hoá dạ dày, thiếu máu, hoại tử gan và chết bất ngờ
Nhu cầu vitamin E của lợn con theo NRC (1998) là 16 UI/kg
2.2.4.2 Nhóm vitamin hoà tan trong nước
Các vitamin hoà tan trong nước bao gồm các vitamin nhóm B và vitamin C có vai trò quan trọng trong sự trao đổi chất trong cơ thể Nhiều vitamin thuộc nhóm này trong nguồn thức ăn tự nhiên có nồng độ đủ để ngăn ngừa hiện tượng thiếu trong điều kiện bình thường
Thiếu các vitamin nhóm này dẫn đến giảm toàn bộ hoạt động trao đổi chất, giảm tốc độ sinh trưởng và hiệu quả chuyển hoá thức ăn cũng như khả năng thu nhận thức ăn
+ Vitamin B1 (Thiamin)
Vitamin B1 tham gia vào quá trình trao đổi chất chống viêm dây thần kinh, khử carboxyl của axit pyruvic
Miller và CTV (1955) [58], ước tính nhu cầu thiamin của lợn nuôi từ 2
đến 10 kg là 1,5 mg/kg thức ăn Lợn cai sữa lúc 3 tuần tuổi nuôi tới 40 kg cần khoảng 1,0 mg thiamin/kg thức ăn (Van Etten và CTV,1940)[75] NRC (1998 )đưa ra nhu cầu thiamin cho lợn từ 5 -10 kg là 1,0 mg/kg TA
+ Vitamin B2 (Riboflavin)
Tham gia vào quá trình ôxy hoá hoàn nguyên, vào sự hô hấp của mô bào, vận chuyển hyđrô Ngoài ra, vitamin B2 còn tham gia vào quá trình tạo hemoglubin để phòng bệnh thiếu máu, tham gia vào sự hình thành axit chlohydric dịch vị và muối mật Thiếu B2 dẫn đến giảm tốc độ sinh trưởng, viêm da, rụng lông, ỉa chảy, nôn mửa Nhu cầu vitamin B2 của lợn con từ 3 - 5
kg là 4 mg/kg khẩu phần, từ 5 - 10 kg là 3,5 mg/kg khẩu phần
+ Vitamin C là một chất lượng ôxy hoá tan trong nước, tham dự trong quá trình ôxy hoá các axit amin có hương vị, vitamin C tăng cường sự tạo khung xương và ngà răng Thiếu vitamin C, xuất huyết lấm tấm toàn thân
Trang 33+ Choline: Choline cần cho tổng hợp phospho lipit (Lecithin), tạo axetyl choline và methyl hoá homocysteine thành methionine xảy ra qua betaine, sản phẩm ôxy hoá của choline
Lợn thiếu choline giảm tăng trọng, lông xù, giảm số lượng tế bào hồng cầu và nồng độ hematocrit và giảm nồng độ hemoglobin, phosphatase kiềm, huyết tương tăng, đi loạng choạng và mất cân bằng
Bổ sung 260 mg choline/kg thức ăn có 30% casein không chứa vitamin, 37% glucose, 26,6% mỡ, 2% sulfatha ladine có chứa 0,8% methionine đã phòng thiếu được triệu chứng thiếu hụt choline ở lợn sơ sinh (Johnson và James, 1948) [46] Nhu cầu choline của lợn từ 3- 5 kg là 0,6 g/kg khẩu phần, lợn từ 5-10 kg là 0,5 g/kg (NRC, 1998) [12]
2.2.5 Nhu cầu nước
Nước không phải là nguồn cung cấp năng lượng hay vật liệu xây dựng cơ thể nhưng lại rất cần thiết cho sự sống Nước trong cơ thể động vật vừa là dung môi, vừa là phương tiện vận chuyển
Lợn con từ 5 ngày tuổi hàng ngày cần cung cấp lượng nước khoảng 10% so với khối lượng cơ thể Cách duy nhất để cung cấp nước tốt nhất cho lợn con là cho tiếp xúc tự do với nguồn nước và uống tự do
Theo K.Wllian và Preston (1991) nhu cầu nước uống cho từng loại lợn như sau:
Loại lợn Lít/con/ngày Lít/kg thức ăn
Trang 342.3 Tiết sữa và thành phần dinh dưỡng sữa của lợn nái 2.3.1 Sự tiết sữa
2.3.1.1 Quá trình hình thành sữa
Có liên quan đến sự phát triển tuyến vú Trong thời kỳ chửa, sự phát triển tuyến vú chịu tác động của các hoóc môn tuyến nội tiết sinh dục, tuyến yên, tuyến thận Sau khi đẻ, nó phụ thuộc vào số lượng con
Lợn nái cho lượng sữa cao trong 21 - 22 ngày đầu, sau đó giảm dần [4] Lợn nái có thể tiết 300 lít sữa trong 60 ngày Lợn con có thể bú 30 kg sữa, bình quân ngày 550 g và mỗi lần bú là 20 -25 g [14]
Lượng sữa của các vú khác nhau, mỗi một tuyến vú là một đơn vị độc lập hoàn chỉnh Vú phía trước, lượng sữa nhiều hơn Lượng sữa bình quân của một vú là 32 - 39 kg trong chu kỳ sữa thì các vú trước cho 36- 45 kg
2.3.1.2 Quá trình tiết sữa
Lợn con thúc vú mẹ, xung động hưng phấn thần kinh truyền vào vỏ não, truyền dẫn đến thuỳ sau tuyến yên làm tiết ra oxitoxin Oxitoxin theo máu truyền đến tuyến vú làm co bóp tế bào biểu mô và bao tuyến trong tuyến vú
Oxitoxin đến các vú phía trước sớm hơn, có tác dụng kéo dài tế bào biểu mô nên các vú trước lượng sữa nhiều hơn Thời gian tiết sữa phụ thuộc vào oxitoxin trong máu
Phẩm chất sữa trong mỗi vú cũng khác nhau, kinh nghiệm để đàn lợn con đồng đều phải cố định vú ngay từ những ngày đầu mới sinh cho những con lợn có khối lượng kém bú vú trước
2.3.2 Thành phần dinh dưỡng của sữa lợn
Sữa đầu là sữa lợn mẹ tiết 2-3 ngày đầu sau khi đẻ Sữa đầu có đủ chất dinh dưỡng và kháng thể chống bệnh cho lợn con do mẹ truyền qua sữa.Trong sữa đầu có 11,29% protein huyết thanh và 5% cazein, protein huyết thanh có pre-
Trang 35anbumin(protein đặc biệt của sữa) 13,17% ; anbumin 11,48%; α globulin 12,74% ;
β gluobulin 11,29% và γ globulin 45,29%(thực hiện chức năng miễn dịch) [14]
Lipit trong cơ thể lợn dùng để tạo thành mỡ sữa của tuyến vú Nhiệt
lượng thu vào trong thời kỳ chửa và tiết sữa ảnh hưởng đến hàm lượng lipit
trong sữa
Hàm lượng khoáng trong sữa lợn ít biến đổi, có khuynh hướng hơi tăng
vào cuối kỳ tiết sữa gồm 709g/kg sữa Sữa đầu chứa nhiều vitamin A,D,B12
gấp 5 lần sữa thường, khoáng chất gấp 2 lần
Sữa đầu rất quan trọng đối với lợn con, chứa nhiều globulin miễn dịch,
các vitamin hoà tan trong dầu, cả những chất bảo vệ lợn con mới đẻ chống
nhiễm bệnh Hai giờ sau khi đẻ lợn con phải được bú sữa đầu Nó hấp thu
được nhiều globulin miễn dịch từ sữa đầu vào máu trong thời gian 24-36 giờ,
nhờ đó đủ kháng thể trong 5 tuần đầu tiên của cuộc sống
Bảng 2.1 Thành phần dinh dưỡng của sữa lợn (g/kg)
Ngày tiết sữa Chất khô Chất hữu cơ Protein Lipit Lacto
Trang 362.4 Một số chất dinh dưỡng nâng cao tỷ lệ tiêu hoá thức ăn và tăng cường sức đề kháng cho lợn con
2.4.1 Kháng thể từ lòng đỏ trứng gà
Trứng phun sấy khô có tên thương mại là Pig Doser được làm từ trứng của gà mái khoẻ mạnh, dựa trên cơ sở khoa học truyền kháng thể qua lòng đỏ trứng của loài chim nói chung và gà nói riêng , gà mái được tiêm bằng vacxin bất hoạt điều chế từ những týp vi khuẩn và vi sinh đặc chủng để tạo ra kháng thể giúp vật nuôi phòng vệ chống lại bệnh do các tác nhân này gây ra Kháng thể đặc hiệu sẽ truyền qua trứng với hàm lượng 93-94% so với hàm lượng kháng thể trong máu Trứng được chọn làm phải là trứng nguyên chất, không pha tạp, trứng đã được khử trùng và không có phôi thai, thường được chế biến ngay trong vòng 48 giờ sau khi đẻ Trứng được phun sấy khô không làm tổn hại
đến kháng thể quý giá Nó cung cấp kháng thể giúp cho lợn con sơ sinh và sau cai sữa phòng vệ chống lại các yếu tố gây bệnh, nâng cao hiệu quả dinh dưỡng
Trứng phun sấy rất giàu protein (≥ 50%), giàu năng lượng 5040 Kcal/kg, và đặc biệt giàu globulin miễn dịch( IgY), trong trứng phun sấy có khoảng 12000 ppm IgY Trứng phun sấy không phải là dược phẩm hoặc trụ sinh và nó không kích hoạt hệ miễn nhiễm của lợn con Đây là chất bổ trợ thức ăn hoàn toàn tự nhiên
*Cơ chế tác dụng của IgY trong trứng phun sấy
Các nghiên cứu cho thấy vi khuẩn E.coli đường ruột tích tụ trong ruột
non của lợn con, chúng bám dính vào biểu bì ruột nhờ các receptor và tăng sinh rất nhanh Chúng bài xuất độc tố mạnh làm rối loạn trao đổi nước kích thích niêm mạc ruột tiết dịch vô độ , sự tiết dịch là nguyên nhân gây ra hiện tượng tiêu chảy ở lợn con Đây là phản ứng của cơ thể để bài thải chất độc ra Lợn con bị tiêu chảy sẽ mất nước, da nhăn và xù lông, cơ thể bị lạnh do thiếu
năng lượng, tỷ lệ chết từ 0 - 100% Các vi khuẩn E.coli ngưng kết với kháng
Trang 37nguyên K88, K99 và 987P có rất nhiều trong đường ruột
Bổ sung trứng phun sấy cho lợn, tức là đã bổ sung một lượng kháng thể
cho lợn con Hoạt động của kháng thể chống lại vi khuẩn E.coli IgY có thể ngăn cản sự liên kết của vi khuẩn E.coli với màng nhày ruột non,một bước
cần thiết cho vi khuẩn xâm nhập sâu vào biểu mô ruột non để gây bệnh (Yokoyama và CTV, 1992 ) [79] Kháng thể còn trung hoà các độc tố và láng một lớp vỏ vật lý bảo vệ lớp màng nhày của ruột non theo cơ chế phi kháng thể ( non- antibody- mediated mechanism) (Farrelly và CTV, 1992) [37]
Kết quả của hoạt động này là giảm tiêu chảy, lượng ăn vào tăng nhiều, hiệu quả thức ăn tăng mạnh, tăng trọng / ngày tăng 12% và cung cấp nguồn IgY ổn định cho dạ dày và ruột (Harmon, 2001) [21]
tỷ lệ tiêu hoá thức ăn và năng suất động vật theo 2 cơ chế:
Một là kết hợp với enzym nội sinh phân giải các hợp chất thành những chất có kích thước đủ nhỏ để hấp thụ Như vậy, việc lựa chọn enzym thức ăn sao cho có tác dụng hỗ trợ cho enzym nội sinh trong việc phân giải chất dinh dưỡng của thức ăn là cần thiết
Hai là enzym thức ăn phải giảm được độ nhớt sinh ra trong quá trình tiêu hoá thức ăn vì chính độ nhớt sinh ra trong quá trình tiêu hoá (digesta viscosity) cản trở sự hấp thu thức ăn Một vài hợp chất khi giải phóng khỏi vách tế bào đã hình thành các gen làm tăng độ nhớt trong ruột Thường các khẩu phần chứa nhiều polysacharide không phải tinh bột (non-starch polysac
Trang 38charides - NSP) gây ra hiện tượng này Động vật non, đặc biệt là gia cầm rất nhạy cảm với sự biến đổi độ nhớt sinh ra trong quá trình tiêu hoá
Để tăng cường 2 cơ chế trên, enzym thức ăn thường được sản xuất dưới dạng những chế phẩm đa enzym (multienzym) để phân giải đồng thời nhiều hợp chất Ngoài ra, phải đặc biệt quan tâm đến mối quan hệ tương tác giữa enzym với các thực liệu khác nhau trong khẩu phần
2.4.2.2 Vai trò của enzym thức ăn
* Vai trò của các enzym phân giải NSP
NSP ở dưới dạng khác nhau chính là nguyên nhân cản trở sự tiêu hoá thức ăn, nhất là đối với động vật non NSP có nhiều trong hạt ngũ cốc và phụ phẩm của nó, các loại hạt ngũ cốc khác nhau có các loại NSP khác nhau với những số lượng khác nhau Hai dạng NSP thấy chính trong hạt ngũ cốc là arabinoxylan ( hay pentosan) và beta- glucan Arabinoxylan là một polymer tạo nên bởi đường xylose và arabinose (đường pentose) Beta- glucan là một polymer tạo bởi đường hexose nối với nhau bởi dây nối mà tạo cho lúa mạch
có đặc tính kháng dinh dưỡng ( xem bảng 2.2)
Bảng 2.2 Arabinoxylan và beta- glucan trong hạt (g/kg)
Toàn bộ hạt
Phần hạt hoà tan trong nước
Nội nhũ (% so với tổng số)
Toàn bộ hạt
Phần hạt hoà tan trong nước
Nội nhũ ( % so với tổng số)
Trang 39Phần arabinoxylan và beta- glucan của thức ăn hoà tan trong nước là phần quan trọng, gây độ nhớt trong ruột ( đặc biệt là gia cầm) Tăng độ nhớt trong ruột làm chậm tốc độ tiêu hoá và hấp thu, tăng hoạt động của vi khuẩn, giảm thu nhận thức ăn, đặc biệt ở gia cầm làm tăng độ ẩm của phân
Enzym xylanase và beta- glucanase làm giảm kích thước phân tử của arabinoxylan và beta- glucan, nhờ vậy giảm độ nhớt Tuy nhiên, hiệu quả của việc bổ sung enzym tuỳ thuộc vào loại thức ăn trong khẩu phần Khẩu phần lúa mỳ nếu được bổ sung enzym xylanase (hay pentosanase) thì hiệu quả hơn
bổ sung enzym này vào khẩu phần lúa mạch, vì lúa mỳ có nhiều arabinoxylan hơn lúa mạch Ngược lại, khẩu phần lúa mạch nếu được bổ sung beta- glucanase thì hiệu quả hơn bổ sung enzym này vào khẩu phần lúa mỳ, vì lúa mạch nhiều beta - glucan hơn lúa mỳ
Như vậy, khi bổ sung enzym cần phải lựa chọn enzym sao cho phù hợp với thành phần nguyên liệu trong khẩu phần
* Vai trò của protease:
Hạt đậu thường chứa nhiều chất kháng dinh dưỡng như các chất ức chế enzym phân giải protein, lectins và tannis mà làm giảm thành tích chăn nuôi
Để loại bỏ những chất kháng dinh dưỡng, hạt đậu thường được xử lý nhiệt Cách chế biến này có thể làm giảm độ lợi dụng của axit amin Thay cho phương pháp xử lý nhiệt, người ta đã bổ sung enzym để vô hoạt các chất kháng dinh dưỡng của hạt đậu Ví dụ, bổ sung protease cho khô dầu canola (khô cải dầu) không xử lý nhiệt đã cải thiện sinh trưởng của gà broiler (Simbaya et al, 1996) [7] Nếu enzym protease được kết hợp với những enzym khác thì kết quả sẽ tốt hơn nhiều
Còn cần nhiều nghiên cứu nữa đối với việc bổ sung enzym protease cho hạt họ đậu không xử lý nhiệt
Trang 40* Vai trò của phytase
Phospho dự trữ trong thực vật ở dưới dạng axit phytic, axit phytic không
có thể phân giải trong đường ruột của động vật dạ dày đơn
Enzym phytase phân giải axit phytic cho ra 6 phân tử phosphat, enzym này đã được đưa vào sử dụng từ giữa năm 1990 Bổ sung phytase vào khẩu phần có thể làm giảm lượng phospho vô cơ và từ đây giảm lượng phospho thải tiết ở phân Giảm thấp lượng phospho phế thải là một lợi thế đặc biệt của các cơ sở chăn nuôi thâm canh vì nó là một chất gây ô nhiễm
Phytase được dùng trên 80% trong thức ăn của lợn ở Hà Lan và giảm
được 60% photpho thải tiết trong phân của lợn (theo Jongboed, 1997)
Ngoài việc giải phóng dây nối photpho, phytase còn có vai trò cải thiện giá trị năng lượng trao đổi của các loại thức ăn giàu protein Rojas và Scott (1969) [7] , bằng các thí nghiệm invitro cho biết cả khô dầu bông và khô đỗ tương ủ với phytase đã cải thiện giá trị năng lượng trao đổi của cả hai loại khô dầu trên Các tác giả này cũng chứng minh rằng thêm phytase làm giảm gossypol trong khô dầu bông cũng như giảm phytate tổng số Các tác giả này cho rằng phytase đã phân giải cả dây nối giữa phytate và những hợp chất khác như protein, nhờ vậy tỷ lệ tiêu hoá của protein thức ăn tăng lên và làm tăng giá trị
ME của thức ăn
Vi sinh vật dạ cỏ có khả năng sản sinh phytase, nhưng phytase cũng có trong thức ăn tự nhiên Những loại hạt có hoạt tính phytase cao là lúa mì, cám lúa mì, lúa mạch và triticale, còn những loại hạt có hoạt tính phytase thấp là ngô và hạt đậu đã xử lý nhiệt (Eeckout et al., 1994, Schroder et al., 1996) [7] Trong số 285 mẫu của 51 loại thức ăn mà Eeckout khảo sát chỉ có 13 mẫu có hoạt tính phytase > 100 U/kg; tất cả những mẫu khác có rất ít hoặc không thấy
có phytase (xem bảng 2.3)
Han et al., 1998 đã thấy rằng tấm lúa mì là một nguồn phytase quan