luận văn
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo trường đại học nông nghiệp i
-
Nguyễn quang hậu
Thực trạng chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp nhà nước trực thuộc
Trang 2Lời cam đoan
- Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn
là trung thục và ch−a từng đ−ợc sử dụng để bảo vệ một học vị nào
- Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đ4 đ−ợc cám ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn này đ4 đ−ợc chỉ
rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Nguyễn Quang Hậu
Trang 3Lời cảm ơn
Trong quá trình thực hiện luận văn, tôi đ được sự giúp đỡ quý báu của GS TS Phạm Vân Đình - Giáo viên trực tiếp hướng dẫn tôi thực hiện hoàn thành bản luận văn này
Nhân dịp này tôi, tôi xin bày tỏ sự biết ơn đến Giáo sư, Tiến sỹ Phạm Vân Đình cùng các thầy cô giáo dạy các môn của chương trình đào tạo hệ cao học và nghiên cứu sinh của trường Đồng thời cảm ơn tập thể các thầy cô khoa Kinh tế và phát triển nông thôn, Bộ môn Phát triển nông thôn và các thầy cô Khoa Sau đại học Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội Tôi xin cảm ơn các cán bộ, công chức thường trực Ban Chỉ đạo đổi mới và phát triển doanh nghiệp Trung ương, Ban Đổi mới và phát triển doanh nghiệp tỉnh Phú Thọ, các doanh nghiệp Nhà nước trực thuộc UBND tỉnh Phú Thọ, các công
ty cổ phần của tỉnh đ giúp tôi học tập, điều tra thu thập số liệu để viết luận văn
Tôi cũng xin chân thành cám ơn các thầy cô giáo đồng nghiệp của trường Trung học kinh tế và kỹ nghệ thực hành Phú Thọ, bạn bè và gia đình
đ động viên, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập và làm luận văn này
Vì nhiều lý do khách quan và chủ quan luận văn còn có những hạn chế Tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các nhà khoa học, các thầy cô giáo và đồng nghiệp
Xin trân trọng cảm ơn!
Tác giả luận văn
Trang 4Nguyễn Quang Hậu Mục lục
2.1 Cơ sở khoa học về chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp Nhà nước 14
3.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hoá - x4 hội tỉnh PhúThọ 53
4.1 Thực trạng DNNN trực thuộc Uỷ ban nhân dân tỉnh Phú Phọ 614.1.1 Thực trạng chung về các DNNN trực thuộc UBND tỉnh Phú Thọ 614.1.2 Thực trạng DNNN sau chuyển đổi sở hữu qua khảo sát 784.1.3 Những kết quả đ4 đạt được của công tác chuyển đổi sở hữu các DNNN 944.1.4 Những tồn tại trong quá trình chuyển đổi sở hữu DNNN 984.1.5 Những tồn tại, vướng mắc phát sinh sau cổ phần hoá 100
Trang 54.1.6 Các nguyên nhân ảnh hưởng đến quá trình chuyển đổi sở hữu
doanh nghiệp Nhà nước trực thuộc UBND tỉnh Phú Thọ 1044.2 Một số giải pháp nhằm thực hiện đúng tiến độ quá trình chuyển đổi
Trang 6Danh mục các chữ viết tắt
BCH Ban chấp hành BCHTƯ Ban chấp hành Trung ương BHXH Bảo hiểm x4 hội
BQ Bình quân
CP Cổ phần CPH Cổ phần hoá
CPHDNNN Cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước CĐ Chuyển đổi
CTCP Công ty cổ phần
DN Doanh nghiệp DNCP Doanh nghiệp cổ phần DNNN Doanh nghiệp Nhà nước
DT Doanh thu HĐQT Hội đồng quản trị IFC Tập đoàn tài chính quốc tế
KD Kinh doanh KHHGĐ Kế hoạch hoá gia đình
LN Lợi nhuận
NH Ngân hàng NHTMNN Ngân hàng Thương mại Nhà nước PTNT Phát triển nông thôn
SC Sửa chữa
TU Tỉnh uỷ TƯ Trung ương
TS Tài sản
Trang 7TSCĐ Tài sản cố định TSLĐ Tài sản lưu động
XD Xây dựng
xuất khẩu Xuất khẩu
Trang 8BảNg 3.2: Mẫu điều tra các DNNN đ4 chuyển đổi thành các ctcp 58
Bảng 4.2 Tình hình tài sản của các DN hoạt động sản xuất kinh doanh
Bảng 4.11: Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế của DN năm 2004 77 Bảng 4.12 Tình hình phát triển vốn điều lệ của các DNNN sau chuyển đổi 79 Bảng 4.13 Tình hình vốn kinh doanh của các DNNN sau chuyển đổi 82
Bảng 4.15 Tình hình lợi nhuận của các DNNN sau chuyển đổi 86 Bảng 4.16 Tình hình nộp ngân sách Nhà nước của các công ty chuyển đổi 88 Bảng 4.17: Tình hình thu nhập của CB,CNV của các công ty sau chuyển đổi 89
Trang 9B¶ng 4.18 T×nh h×nh tû suÊt lîi nhuËn/vèn ®iÒu lÖ vµ cæ tøc cña c¸c
Trang 101 Mở đầu
1.1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
ở nước ta doanh nghiệp Nhà nước đóng vai trò chi phối các ngành, lĩnh vực then chốt và sản phẩm thiết yếu của nền kinh tế quốc dân, chiếm một
tỷ trọng lớn trong tổng sản phẩm trong nước, trong tổng thu ngân sách, kim ngạch xuất khẩu và công trình hợp tác đầu tư với nước ngoài; là lực lượng quan trọng thực hiện chính sách x4 hội, khắc phục hậu quả thiên tai và cung ứng nhiều sản phẩm, dịch vụ công ích thiết yếu cho x4 hội, quốc phòng an ninh, thực hiện vai trò chủ đạo, ổn định và phát trỉển kinh tế x4 hội, tăng thế và lực của đất nước DNNN ngày càng thích ứng với cơ chế thị trường; năng lực sản xuất tiếp tục tăng; cơ cấu ngày càng hợp lý hơn; trình độ công nghệ và quản lý
có nhiều tiến bộ; hiệu quả và sức cạnh tranh từng bước được nâng lên; đời sống của người lao động từng bước được cải thiện
Đạt được những kết quả trên là nhờ có đường lối đổi mới đúng đắn của
Đảng ta; sự chỉ đạo và thực hiện kiên trì của Chính phủ và các cấp, các ngành;
sự cố gắng phấn đấu vượt qua khó khăn, thử thách để vươn lên của các DNNN, của đội ngũ cán bộ quản lý và người lao động trong cơ chế mới
Trong những năm gần đây, công tác chuyển đổi DNNN đ4 được đẩy mạnh tạo nên chuyển biến cơ bản trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh Quá trình chuyển đổi, đa dạng hóa sở hữu DNNN đ4 đạt được một số kết quả tốt, tạo ra động lực thúc đẩy công tác đổi mới DNNN cho những năm tiếp theo
Tuy nhiên DNNN cũng còn những mặt hạn chế, yếu kém, trong đó có mặt rất nghiêm trọng như quy mô còn nhỏ, cơ cấu còn nhiều bất hợp lý, chưa tập trung vào những ngành lĩnh vực then chốt; nhìn chung công nghệ còn lạc
Trang 11hậu, quản lý còn yếu kém, chưa thực sự tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong sản xuất kinh doanh; kết quả sản xuất kinh doanh chưa tương xứng với các nguồn lực đ4 có và sự hỗ trợ của Nhà nước; hiệu quả và sức cạnh tranh còn thấp, nợ không có khả năng thanh toán tăng lên; lao động thiếu việc làm và dôi dư còn lớn Những hạn chế yếu kém của DNNN có nguyên nhân khách quan, nhưng chủ yếu là do nguyên nhân chủ quan như chưa có sự thống nhất cao trong nhận thức về vai trò, vị trí của kinh tế Nhà nước; về yêu cầu và giải pháp sắp xếp, đổi mới và phát triển nâng cao hiệu quả DNNN; nhiều vấn đề chưa rõ,
có nhiều ý kiến khác nhau nhưng chưa được tổng kết thực tiễn để kết luận; quản lý Nhà nước đối với doanh nghiệp còn nhiều yếu kém, vướng mắc; cải cách hành chính còn chậm; cơ chế chính sách còn nhiều bất cập, chưa đồng
bộ, còn nhiều điểm chưa phù hợp với kinh tế thị trường định hướng XHCN, chưa tạo ra động lực mạnh mẽ thúc đẩy người lao động trong doanh nghiệp nâng cao năng suất lao động và hiệu quả kinh doanh; một bộ phận cán bộ doanh nghiệp Nhà nước chưa đáp ứng yêu cầu về năng lực và phẩm chất; sự l4nh đạo của Đảng và Chính phủ đối với việc đổi mới và nâng cao hiệu quả DNNN chưa tương xứng với nhiệm vụ quan trọng và phức tạp này; tổ chức và phương pháp hoạt động của tổ chức Đảng tại doanh nghiệp Nhà nước chậm
Phú Thọ là một tỉnh trung du miền núi, được tái lập từ tháng 1/1997 Trong tổng số 84 doanh nghiệp Nhà nước đóng trên địa bàn tỉnh Phú Thọ có
Trang 1227 doanh nghiệp thuộc Trung ương quản lý và 57 doanh nghiệp địa phương do UBND tỉnh Phú Thọ quản lý Nhìn chung, trong những năm vừa qua DNNN
do UBND tỉnh quản lý hoạt động hiệu quả chưa cao do công nghệ lạc hậu, không có sức cạnh tranh so với thị trường trong nước (chưa kể đến cạnh tranh trong khu vực và quốc tế) Về việc sắp xếp lại các DNNN, tỉnh uỷ đ4 có Nghị quyết 12-NQ/TU ngày 20/5/2002 về việc sắp xếp và đổi mới các doanh nghiệp Ngoài một số công ty Nhà nước có quy mô vừa, định hướng và mặt hàng sản xuất kinh doanh ổn định, các DN còn lại đều có quy mô nhỏ (vốn dưới 5 tỷ đồng là chủ yếu, trong đó có 10 DN có vốn dưới 1 tỷ đồng) Tình hình hoạt động kinh doanh của các DNNN phần lớn là khó khăn, chưa có mặt hàng dịch vụ, kinh doanh ổn định, thua lỗ kéo dài, nhiều DN lỗ liên tục từ 2- 5 năm Tổng lỗ luỹ kế chiếm 1/4 tổng vốn, khả năng mất vốn do thua lỗ, không thu hồi được công nợ là rất lớn; tài sản xuống cấp không phát huy được trong sản xuất kinh doanh ngày càng nhiều ở nhiều DN, quản lý, tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh yếu kém, một số doanh nghiệp có hướng kinh doanh rõ ràng nhưng lại thiếu vốn Chính vì vậy, yêu cầu chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp Nhà nước thuộc UBND tỉnh Phú Thọ quản lí là một nhiệm vụ trọng tâm, cần phải thực hiện trong một thời gian ngắn nhất, để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế của tỉnh, nhanh chóng đưa tỉnh Phú Thọ thoát khỏi tình trạng
đói nghèo và lạc hậu [37]
Xuất phát từ những lý do trên tôi lựa chọn đề tài: "Thực trạng chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp Nhà nước trực thuộc Uỷ ban nhân dân tỉnh Phú Thọ" làm đề tài luận văn tốt nghiệp của mình
1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
1.2.1 Mục tiêu chung
Từ việc nghiên cứu quá trình chuyển đổi sở hữu DNNN trực thuộc UBND tỉnh Phú Thọ, đề xuất những giải pháp chủ yếu góp phần đẩy nhanh
Trang 13quá trình chuyển đổi sở hữu các DNNN của tỉnh
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Góp phần hệ thống hoá những vấn đề lý luận cơ bản và thực tiễn về chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp Nhà nước
- Đánh giá thực trạng quá trình chuyển đổi sở hữu DNNN, phát hiện những nguyên nhân và những vấn đề nổi cộm trong quá trình chuyển đổi các DNNN trực thuộc UBND tỉnh Phú Thọ
- Đề xuất các giải pháp chủ yếu góp phần hoàn thành tiến độ chuyển đổi
sở hữu các DNNN trên địa bàn tỉnh Phú Thọ
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu các vấn đề kinh tế, tổ chức, quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh liên quan đến quá trình chuyển đổi sở hữu các DNNN với chủ thể là các DNNN trực thuộc UBND tỉnh Phú Thọ
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: các DNNN trực thuộc UBND tỉnh Phú Thọ, hoạt
động trên các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, hoạt động công ích
Đó là một số DN thuộc các sở: Xây dựng, Giao thông, Thương mại
Du lịch, Công nghiệp và một số DN ở các huyện trong tỉnh
- Về thời gian: Đánh giá thực trạng chuyển đổi sở hữu từ năm 1998 -
2005, được chia làm hai giai đoạn sau:
+ Giai đoạn 1 Từ năm 1998 đến năm 2002
+ Giai đoạn 2 Từ năm 2003 đến năm 2005
- Về nội dung nghiên cứu
+ Đánh giá thực trạng quá trình chuyển đổi sở hữu các DNNN trực thuộc UBND tỉnh Phú Thọ
+ Đối với những doanh nghiệp đ4 chuyển đổi sở hữu, nghiên cứu kết quả, hiệu quả sau chuyển đổi với các nội dung chủ yếu sau:
Trang 152 Tổng quan tàI liệu nghiên cứu
2.1 Cơ sở khoa học về chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp Nhà nước
Chuyển đổi sở hữu các DNNN thực chất là thay đổi hình thức sở hữu các DNNN đang trong tình trạng sản xuất kinh doanh không hiệu quả, từ đó thay đổi cách thức quản lý, thay đổi phương thức hoạt động sản xuất của doanh nghiệp, tạo cơ sở cho việc đổi mới các quan hệ phân phối, phân chia lợi nhuận, tạo động lực mới, phát huy quyền làm chủ kinh doanh, nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của doanh nghiệp, thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung vốn nhằm hiện đại hoá nền kinh tế
2.1.1 Doanh nghiệp và chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp Nhà nước
2.1.1.1 Khái niệm về doanh nghiệp và doanh nghiệp Nhà nước
a Khái niệm về doanh nghiệp
Theo luật DN Việt Nam thì: “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng kí kinh doanh theo quy
định pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh” [26]
Nằm trong nền kinh tế nhiều thành phần, các doanh nghiệp là những tế bào kinh tế x4 hội của nền kinh tế quốc dân, rất đa dạng về hình thức, quy mô, trình độ kỹ thuật và được đặt trong hệ thống phân công và hợp tác nhất định
Trong nền kinh tế quốc dân, các doanh nghiệp là nơi trực tiếp tạo ra sản phẩm và tích luỹ cho x4 hội; làm nhiệm vụ sản xuất, lưu thông, dịch vụ Sức mạnh kinh tế của mỗi quốc gia chính là sức mạnh từ các tế bào kinh tế này Công cuộc đổi mới kinh tế khuyến khích các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế phát triển sản xuất, kinh doanh hợp pháp với tư cách đơn
vị sản xuất hàng hoá và chế độ tự chủ cao
Trang 16b Khái niệm doanh nghiệp Nhà nước
“Doanh nghiệp Nhà nước là tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn
bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần vốn góp chi phối, được tổ chức dưới hình thức công ty Nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn
Doanh nghiệp Nhà nước có tư cách pháp nhân, có quyền và nghĩa vụ dân sự, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động kinh doanh trong phạm vi
số vốn do doanh nghiệp quản lý
Doanh nghiệp Nhà nước có tên gọi, con dấu riêng và có trụ sở chính trên l4nh thổ Việt Nam”[27]
2.1.1.2 DNNN trong nền kinh tế thị trường
Trong nền kinh tế thị trường, dưới sự tác động của các quy luật và các quan hệ thị trường, để có thể tồn tại và phát triển thì các doanh nghiệp dù ở loại hình nào cũng phải phát huy tối đa tính năng động sáng tạo của mình để
đáp ứng và thoả m4n một cách nhanh nhậy và đầy đủ nhất các nhu cầu hết sức phong phú, đa dạng và luôn thay đổi của thị trường
Hoạt động trong nền kinh tế thị trường, các DNNN được chủ động tổ chức sản xuất, kinh doanh, tổ chức bộ máy quản lý theo yêu cầu kinh doanh
và bảo đảm kinh doanh hiệu quả; kinh doanh những ngành nghề mà pháp luật không cấm; mở rộng quy mô kinh doanh theo khả năng của doanh nghiệp và nhu cầu của thị trường trong nước và nước ngoài Các DNNN được chủ động tìm kiếm thị trường, khách hàng trong nước, nước ngoài và ký kết hợp đồng các hợp đồng kinh tế nhằm đạt hiệu quả kinh doanh cao nhất
Các DNNN chủ động huy động vốn để kinh doanh dưới hình thức phát hành trái phiếu, tín phiếu, kỳ phiếu công ty; vay vốn của các tổ chức ngân hàng, tín dụng và các tổ chức tài chính khác, của cá nhân, tổ chức ngoài công ty; vay vốn của người lao động và các hình thức huy động vốn khác theo quy
định của pháp luật Việc huy động vốn kinh doanh thực hiện theo nguyên tắc
tự chịu trách nhiệm hoàn trả, bảo đảm hiệu quả vốn huy động
Trang 17Trong quá trình tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh, các DNNN phải kinh doanh có l4i, bảo đảm chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận trên vốn Nhà nước
đầu tư do đại diện chủ sở hữu giao; đăng ký, kê khai và nộp đủ thuế; thực hiện nghĩa vụ đối với chủ sở hữu và nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật [27]
2.1.1.3 Chuyển đổi sở hữu DNNN trong nền kinh tế thị trường
a Chuyển đổi sở hữu DNNN
Chuyển đổi sở hữu DNNN là quá trình tạo ra loại hình doanh nghiệp
có nhiều chủ sở hữu, trong đó có đông đảo người lao động; tạo động lực mạnh mẽ và cơ chế quản lý năng động cho doanh nghiệp để sử dụng có hiệu quả vốn, tài sản của Nhà nước và của doanh nghiệp; phát huy vai trò làm chủ thực sự của người lao động, của cổ đông; tăng cường sự giám sát của nhà đầu tư đối với doanh nghiệp; bảo đảm hài hoà lợi ích của Nhà nước, DN, nhà đầu tư và người lao động
b Nền kinh tế thị trường, đặc điểm và cơ chế vận động
Kinh tế thị trường là hình thức kinh tế ở trình độ và giai đoạn phát triển cao của kinh tế hàng hoá Với tư cách là một hệ thống kinh tế, kinh tế thị trường có những đặc điểm trong kết cấu và các liên hệ kinh tế của nó
Thứ nhất: Về mặt kết cấu, nền kinh tế thị trường gồm các bộ phận cơ bản sau:
- Bộ phận thứ nhất bao gồm các doanh nghiệp, công ty, những đơn vị kinh tế độc lập có tư cách pháp nhân, có quyền tự chủ trong sản xuất kinh doanh, bình đẳng với nhau về mặt pháp lý, nhưng lệ thuộc với nhau trong hệ thống phân công lao động x4 hội, tức là có sự tồn tại của các tổ chức, các đơn
vị kinh tế với tư cách là các chủ thể của nền kinh tế hàng hoá, các quan hệ hàng hoá tiền tệ
Trong nền kinh tế thị trường không chỉ có hình thức kinh tế tư nhân thuần tuý, mà đồng thời còn có nhiều hình thức kinh tế khác như kinh tế tập thể, kinh tế Nhà nước Tuy nhiên, dù thuộc thành phần kinh tế nào thì các
Trang 18đơn vị, các tổ chức kinh tế cũng đều độc lập với nhau, có quyền tự chủ trong SXKD và giữa các đơn vị, các tổ chức kinh tế này có mối liên hệ trao đổi với nhau để thoả m4n nhu cầu của mình Đây là điều kiện để có nền kinh tế hàng hoá, nền kinh tế thị trường
- Bộ phận thứ hai cấu thành nền kinh tế thị trường chính là hệ thống thị trường, các quan hệ thị trường, môi trường kinh tế cho sự tồn tại và vận
động của các chủ thể SXKD Trong nền kinh tế thị trường có cả một hệ thống thị trường, gồm thị trường hàng hoá tư liệu tiêu dùng, tư liệu sản xuất, thị trường sức lao động, thị trường tiền tệ, thị trường vốn, thị trường chứng khoán Đó là hệ thống thị trường thống nhất, không bị chia cắt theo
địa giới hành chính, hơn nữa về một số mặt, một số lĩnh vực nó còn mở rộng gắn liền với thị trường thế giới
- Bộ phận khác của nền kinh tế thị trường là kết cấu hạ tầng kinh tế x4 hội của đất nước Đây là bộ phận vừa là điều kiện vừa là biểu hiện của sự phát triển của nền kinh tế thị trường Đó chính là hệ thống giao thông vận tải, mạng lưới thương mại, du lịch, mạng thông tin liên lạc, hệ thống ngân hàng, các công ty tài chính, bảo hiểm và các tổ chức tư vấn
Thứ hai: ngoài những đặc trưng riêng về mặt kết cấu, nền kinh tế thị trường còn có những đặc trưng về hình thức của các quan hệ kinh tế, đó là tính phổ biến, tính bao trùm của các quan hệ hàng hoá tiền tệ
Cùng với việc biến tư liệu sản xuất, tư liệu tiêu dùng, sức lao động, tiền
tệ và các dịch vụ thành hàng hoá, hầu như mọi quan hệ kinh tế trong nền kinh
tế thị trường đều mang hình thức quan hệ tiền tệ Trong nền kinh tế thị trường tồn tại một hệ thống các quan hệ và quy luật kinh tế chi phối hoạt động của các chủ thể cũng như của toàn bộ nền kinh tế, trong đó nổi bật là các quan hệ
và quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh, quy luật giá trị và giá trị thặng dư, quy luật tích tụ tư bản Các quan hệ và quy luật này là những yếu tố trực tiếp
điều tiết hành vi của chủ thể kinh tế Các doanh nghiệp xuất phát từ nhu cầu
Trang 19và điều kiện của thị trường để xây dựng và lựa chọn phương án kinh doanh, lấy việc giành thế cạnh tranh, chiếm lĩnh thị trường, tối đa hoá lợi nhuận làm mục tiêu của việc sản xuất kinh doanh Thị trường điều tiết hoạt động của mọi chủ thể kinh tế và do đó cũng là yếu tố trực tiếp điều tiết hoạt động của toàn bộ nền kinh tế Đó chính là cơ chế vận động của nền kinh tế thị trường, cơ chế thị trường là cơ chế điều tiết tự phát, của “bàn tay vô hình”
Ưu thế của điều tiết thị trường bằng bàn tay vô hình đ4 phát huy tối đa việc sử dụng mọi nguồn lực của x4 hội, kích thích sự sáng tạo của mọi chủ thể kinh tế, nhạy bén linh hoạt trong việc đáp ứng nhu cầu đa dạng, phong phú và luôn biến đổi của thị trường
Cơ chế thị trường với sự điều tiết của bàn tay vô hình là cơ chế tự chọn lọc, đào thải những doanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả, tạo ra sức mạnh cho cả hệ thống doanh nghiệp phát triển
Cơ chế thị trường là một cơ chế kích thích và điều tiết có hiệu quả, nhưng cơ chế thị trường không phải là vạn năng, hoàn hảo, không có khuyết tật Trong khi kích thích tới mức cao độ tính năng động, sáng tạo vì mục tiêu lợi nhuận, cơ chế thị trường cũng kích thích đầu cơ, làm cho quan hệ cung cầu, giá cả thị trường không phải bao giờ cũng phản ánh đúng nhu cầu của x4 hội Trong khi kích thích sản xuất ở những khâu, những bộ phận riêng biệt nó
đ4 phá vỡ sự cân đối chung, những điều kiện sản xuất bình thường của nền kinh tế, gây nên những hậu quả cho nền kinh tế như khủng hoảng, thất nghiệp, ô nhiễm môi trường, mất cân bằng x4 hội, làm suy thoái đạo đức con người
Hạn chế những khuyết tật của cơ chế thị trường, bảo đảm cho nền kinh
tế phát triển ổn định, có hiệu quả, bảo vệ người lao động, bảo vệ môi trường sinh thái, hạn chế những phân cực của x4 hội chính là những yêu cầu, là cơ
sở khách quan của chức năng quản lý kinh tế của Nhà nước
Nghiên cứu đặc điểm về kết cấu, quan hệ kinh tế và cơ chế vận động
Trang 20của nền kinh tế thị trường, nhà nước thông qua hệ thống pháp luật và hệ thống chính sách kinh tế vĩ mô ưu tiên, lựa chọn những mô hình kinh tế, những loại hình doanh nghiệp phát triển phù hợp với kinh tế thị trường, phát huy tối đa những ưu thế của chúng để thúc đẩy nền kinh tế phát triển một cách vững chắc
đồng thời có các biện pháp ngăn ngừa, khắc phục những khuyết tật, những hậu quả mà kinh tế thị trường mang lại
2.1.2 Xu hướng vận động của doanh nghiệp Nhà nước trong nền kinh tế thị trường
2.1.2.1 Vai trò và đặc điểm của doanh nghiệp Nhà nước
DNNN với tư cách là tổ chức kinh tế do Nhà nước đầu tư vốn, thành lập và tổ chức quản lý hoạt động SXKD theo những mục tiêu kinh tế x4 hội của Nhà nước đề ra Sự ra đời và tồn tại của các DNNN ở mỗi nước trên thế giới đều do những yếu tố kinh tế, x4 hội khách quan chi phối Do vậy, vai trò của DNNN ở các nước khác nhau cũng khác nhau Vai trò quan trọng của DNNN trong nền kinh tế được thể hiện ở những vấn đề sau: Thứ nhất: DNNN là thực lực kinh tế quan trọng, là công cụ hữu hiệu trong tay Nhà nước để Nhà nước thực hiện chức năng điều chỉnh cho nền kinh tế
Để điều chỉnh nền kinh tế, Nhà nước dùng hệ thống các chính sách pháp luật tạo hành lang và tạo ra sự kích thích, điều tiết quan trọng nhằm vừa phát huy thế mạnh vốn có, vừa bảo đảm hành lang pháp lý cần thiết hướng vào mục tiêu chung Đó là hướng quan trọng nhất, song chỉ riêng điều đó chưa đủ, Nhà nước cần phải có một thực lực kinh tế, một sức mạnh nằm ngay trong đời sống kinh tế x4 hội, thông qua điều hành trực tiếp các DNNN mà tác động gián tiếp vào các doanh nghiệp khác phát triển theo quỹ đạo của mình từ đó góp phần làm cho nền kinh tế ổn định và tăng trưởng
Thứ hai: DNNN là công cụ quan trọng để Nhà nước thực hiện các chức năng quản lý x4 hội của mình
Trang 21tiêu là kinh doanh mang lại lợi nhuận tối đa, do vậy thường đầu tư vào những ngành, những lĩnh vực mà có thể đạt được mục tiêu Còn các ngành, các lĩnh vực khó khăn mang lại lợi nhuận ít hoặc không có lợi nhuận thì không đầu tư, song chính các ngành, lĩnh vực này nếu được đầu tư thì nó rất có ý nghĩa hoặc có hiệu quả lớn về mặt x4 hội và không thể thiếu được khi x4 hội ngày càng phát triển Do đó, để thực hiện chức năng x4 hội của mình, Nhà nước buộc phải đầu tư vào các lĩnh vực trên, đó là các DNNN công ích, sản xuất và cung ứng các dịch vụ công cộng hoặc phục vụ quốc phòng an ninh
Thứ ba: thông qua các DNNN, Nhà nước tác động trực tiếp đến sự phân bố các nguồn lực Do kinh tế thị trường chạy theo lợi nhuận và tự do cạnh tranh, mặt khác các nguồn lực kinh tế của đất nước phân bố không đều, nên không phát huy được tổng thể các nguồn lực kinh tế Nhà nước thông qua các DNNN mà điều chỉnh và tác động trực tiếp đến việc phân bố trong x4 hội, bảo đảm phát huy tối đa các nguồn lực của đất nước
ở Việt Nam, DNNN còn giữ một vai trò đặc biệt quan trọng, là nhân
tố cơ bản mang đầy đủ bản chất của nền kinh tế quá độ lên chủ nghĩa x4 hội DNNN giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân Nó làm nền móng, làm nòng cốt cho sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước
2.1.2.2 Đặc trưng cơ bản của DNNN trong nền kinh tế thị trường
DNNN là một tổ chức kinh tế có đầy đủ tư cách pháp nhân, có quyền
tự chủ kinh doanh, tự chủ về tài chính Nhà nước không can thiệp trực tiếp và tuyệt đối bằng hệ thống chỉ tiêu pháp lệnh Nhà nước mà quản lý các doanh nghiệp thông qua hệ thống chính sách và pháp luật Các DNNN chịu trách nhiệm trước Nhà nước về việc bảo toàn và phát triển vốn giao, bảo đảm các chỉ tiêu về nộp ngân sách Nhà nước, Nhà nước xoá bỏ bao cấp đối với DNNN
Hoạt động trong nền kinh tế thị trường, các DNNN chịu sự chi phối hoàn toàn bởi các quy luật kinh tế khách quan của nền kinh tế thị trường
Trang 22DNNN được quyền tự huy động vốn và đầu tư vốn, cạnh tranh bình đẳng với các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác và có thể bị phá sản theo Luật phá sản nếu kinh doanh thua lỗ kéo dài
2.1.2.3 Xu hướng vận động của doanh nghiệp Nhà nước
Như trên chúng ta đ4 thấy, DNNN có vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế của mỗi nước Tuy vậy, thực tế cho thấy, các DNNN kinh doanh kém hiệu quả hơn doanh nghiệp tư nhân ngay cả trong điều kiện được Nhà nước
ưu đ4i Điều này cho thấy nếu Nhà nước vẫn duy trì nhiều DNNN thì sẽ dẫn
đến tình trạng nền kinh tế kém hiệu quả, ngân sách Nhà nước phải trợ cấp cho DNNN lớn và có thể dẫn đến khủng hoảng kinh tế Xét trên quan hệ quản lý đối với DNNN, có thể đưa ra các nguyên nhân dẫn đến sự hoạt động không hiệu quả như sau:
Thứ nhất: DNNN luôn được sự bảo vệ, trợ cấp của Nhà nước, không phải chịu sức ép kinh tế cao như các doanh nghiệp tư nhân, không có sự gắn
bó, ràng buộc lợi ích vật chất của cán bộ quản lý và công nhân với hiệu quả hoạt động của DNNN, không tìm biện pháp để nâng cao hiệu quả
Thứ hai: các DNNN thường hoạt động trong sự kiểm soát quá chặt chẽ và
sự áp đặt cứng nhắc về nhiều mặt của Nhà nước Điều đó làm giảm đi tính chủ
động, năng động sáng tạo trong sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Một số DNNN hoạt động sản xuất kinh doanh mang tính chất và vị trí độc quyền không có môi trường cạnh tranh làm mất động lực quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh
Thứ ba: các cán bộ quản lý của DNNN do sự bổ nhiệm, sắp xếp của Nhà nước nên thường thiếu những người cán bộ quản lý điều hành sản xuất kinh doanh có trình độ và năng lực thực sự
Thứ tư: các DNNN thường phải đảm nhiệm nhiều trách nhiệm x4 hội, thậm chí là những gánh nặng x4 hội
Trang 23Tình trạng kinh doanh thua lỗ, kém hiệu quả của các DNNN diễn ra ở hầu hết các nước trên thế giới Xuất phát từ thực trạng đó, trong khoảng giữa thập niên 80, trên thế giới đ4 có xu hướng khá phổ biến là từ bỏ các DNNN Hơn 60 nước đ4 tuyên bố “từ bỏ” DNNN, ở Pháp 200 DNNN, ở Hà Lan 75 DNNN, ở Thuỵ Điển 75 DNNN
ở Việt Nam, việc giải bài toán DNNN đang ngày càng bộc lộ những yếu điểm của nó, nên Nhà nước đ4 chỉ đạo việc sắp xếp và đổi mới DNNN để tăng cường hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp này, trong đó CPH là biện pháp phổ biến
ở các nước khác nhau, cách giải quyết vấn đề này là khác nhau Trên thế giới việc giải “bài toán” DNNN thực tế đ4 diễn ra theo 3 hướng sau đây:
Thứ nhất: bán tài sản của các DNNN nhằm thu về cho ngân sách của Chính phủ một khoản thu đáng kể Chẳng hạn ở Anh năm 1987 thu về 3,75
tỷ bảng Anh nhờ bán tài sản của các DNNN, ở Pháp, Italia cũng đ4 thu về hàng chục tỷ USD do bán các tài sản của các DNNN [38]
Thứ hai: áp dụng những những biện pháp chủ yếu nhằm cải tiến quản lý các DNNN Đó là những biện pháp nhằm đặt giám đốc doanh nghiệp vào các tình huống, điều kiện giống như giám đốc các doanh nghiệp tư nhân, giao cho
họ mục tiêu thương mại, thực hiện chế độ tự chủ rộng r4i, gắn thu nhập với kết quả hoạt động tài chính doanh nghiệp, tách các mục tiêu x4 hội khỏi các mục tiêu thương mại (ít nhất là trên phương diện tài chính), tức là Nhà nước bù đắp thiệt hại do DN phải đảm nhiệm những nhiệm vụ x4 hội do yêu cầu của Chính phủ
Thứ ba: giảm tỷ trọng các DNNN, Nhà nước chỉ giữ những ngành, những lĩnh vực thiết yếu để thực hiện có hiệu quả các chức năng của mình Các DNNN còn lại thì được tư nhân hoá hay cổ phần hoá (CPH), giao, bán, khoán kinh doanh, giải thể, phá sản
Trang 242.1.3 Tính tất yếu phải chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp Nhà nước
2.1.3.1 Chủ trương của Đảng và Nhà nước về chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp Nhà nước
a Những yếu tố bảo đảm cho việc chuyển đổi sở hữu DNNN
Thứ nhất: Đó là sự thống nhất cao về chủ trương sắp xếp, đổi mới và phát triển mạnh mẽ các doanh nghiệp Nhà nước để nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh Nghị quyết BCHTW 4 (khoá VIII) của Đảng đ4 dành một phần nội dung quan trọng cho mục tiêu này; Chính phủ đ4 có Chỉ thị số 20/TTg ngày 21-4-1998, trong đó đề ra chương trình kế hoạch cụ thể để triển khai thực hiện và quyết tâm thông qua đợt sắp xếp này để hình thành một cơ cấu doanh nghiệp Nhà nước hợp lý, mạnh, được quản lý tốt, là chỗ dựa thật sự của Nhà nước để thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Về chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp (một nội dung quan trọng của đổi mới kinh tế Nhà nước) Chính phủ đ4 có nhiều văn bản pháp lý quan trọng như:
- Thông báo 63-TB/TW của Ban chấp hành Trung ương ngày 4/4/1997
về tiếp tục triển khai tích cực và vững chắc cổ phần hoá doanh nghiệp;
- Quyết định 111/1998/QĐ-TTg ngày 29/6/1998 về việc thành lập Ban
Đổi mới và phát triển doanh nghiệp Trung ương;
- Nghị định 44/1998/NĐ-CP ngày 29/6/1998 về chuyển doanh nghiệp Nhà nước thành Công ty cổ phần;
- Các Thông tư hướng dẫn Nghị định 44 về các vấn đề liên quan của các Bộ, Ngành như Thông tư 104/1998/TT-BTC ngày 18/7/1998 của Bộ Tài chính; Thông tư 06/1998/TT-NHNN ngày15/8/1998 của Ngân hàng Nhà nước; Thông tư 11/1998/TT-LĐTBXH của Bộ Lao động-Thương binh
và X4 hội và các văn bản khác Có thể nói chưa một vấn đề nào về kinh tế Nhà nước được quan tâm và có một khung pháp lý vững chắc như công tác
Trang 25đổi mới doanh nghiệp Nhà nước như hiện nay[1]
Thứ hai: Chúng ta đ4 rút ra bài học từ thực tiễn sản xuất, kinh doanh, sắp xếp tổ chức, quản lý doanh nghiệp thời gian qua, có thêm kinh nghiệm góp phần định hướng chỉ đạo triển khai trong thời gian tới Các doanh nghiệp
đ4 bước đầu khơi dậy và phát huy năng lực nội sinh, kết hợp hài hoà giữa trách nhiệm và quyền lợi, gắn lợi ích của người lao động với kết quả sản xuất, kinh doanh Cùng với thực hiện các biện pháp nâng cao chất lượng sản phẩm, thời gian qua, nhiều doanh nghiệp đ4 cố gắng tăng cường công tác tiếp thị, tập trung và tìm kiếm thị trường xuất khẩu, và chú ý đến thị trường trong nước, nhất là thị trường nông thôn Nghiên cứu áp dụng các cơ chế chính sách hỗ trợ (như mua trả chậm đối với người tiêu dùng; hỗ trợ vốn đôí với cho các doanh nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng tại vùng sâu, vùng xa )
Thứ ba: Điều hành chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước đ4 bảo đảm cho môi trường kinh doanh được thuận lợi (chính sách giá cả thị trường, chính sách tài chính- tín dụng, thị trường vốn )
Thứ tư: Chính phủ có chính sách rõ ràng và công bằng về việc khen thưởng những doanh nghiệp, cá nhân có thành tích xuất sắc trong sản xuất, kinh doanh, trong đóng góp cho ngân sách nhà nước, trong hoạt động x4 hội
Sự cổ vũ kịp thời là một trong những biện pháp làm cho bầu không khí sản xuất, kinh doanh trong x4 hội lành mạnh, vừa tạo niềm hưng phấn cho các doanh nghiệp
Thứ năm: Việc phát triển cho khu vực kinh tế ngoài quốc doanh sẽ hỗ trợ khu vực kinh tế Nhà nước ở những lĩnh vực, địa bàn thích hợp, tạo điều kiện cho các DNNN giữ những vị trí quan trọng của nền kinh tế quốc dân Cần xác định những lĩnh vực cụ thể doanh nghiệp Nhà nước phải đi trước, rồi sau đó chuyển dần cho tư nhân áp dụng chế độ bảo hộ cho các doanh nghiệp Nhà nước ở mức độ thích hợp, nhằm tạo được môi trường cạnh tranh
Trang 26Thứ sáu: Việt Nam là một trong số 172 nước thành viên của Tập đoàn Tài chính quốc tế (IFC) mà kể từ năm 1994 IFC đóng vai trò lớn trong việc
hỗ trợ quá trình chuyển đổi kinh tế Việt Nam thông qua 21 dự án với tổng chi phí 1,5 tỷ USD nằm ở nhiều lĩnh vực quan trọng trong nền kinh tế IFC hoạt
động tích cực trong lĩnh vực trợ giúp các doanh nghiệp vừa và nhỏ , hỗ trợ kỹ thuật đối với việc phát triển thị trường vốn và thu hút đầu tư nước ngoài và nhất là tư vấn về cổ phần hoá doanh nghiệp về các mặt pháp lý, kỹ thuật cũng như các vấn đề nảy sinh sau cổ phần hoá
b Về chủ trương và chính sách của Đảng và Nhà nước
- Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VIII chỉ rõ chủ trương, chính sách
đối với kinh tế nhà nước: Tiếp tục đổi mới và phát triển có hiệu quả kinh tế Nhà nước để làm tốt vai trò chủ đạo, làm đòn bẩy tăng trưởng kinh tế và giải quyết những vấn đề x4 hội; mở đường, hướng dẫn, hỗ trợ các thành phần kinh
tế khác cùng phát triển; làm lực lượng vật chất để Nhà nước thực hiện chức năng điều tiết và quản lý vĩ mô; tạo nền tảng cho chế độ x4 hội mới Tập trung nguồn lực để phát triển kinh tế trong những ngành, những lĩnh vực trọng yếu như kết cấu hạ tầng kinh tế, x4 hội, hệ thống tài chính, ngân hàng, bảo hiểm; những cơ sở sản xuất và thương mại, dịch vụ quan trọng, một số doanh nghiệp thực hiện những nhiệm vụ có quan hệ đến quốc phòng - an ninh Doanh nghiệp Nhà nước nói chung có quy mô vừa và lớn, công nghệ tiến bộ, kinh doanh có hiệu quả, tạo nguồn thu lớn cho ngân sách Lấy suất sinh lời trên một đồng vốn làm một trong những tiêu chuẩn chủ yếu để đánh giá hiệu quả của doanh nghiệp kinh doanh; lấy kết quả thực hiện các chính sách x4 hội làm tiêu chuẩn chủ yếu để đánh giá hiệu quả của doanh nghiệp công ích
Đổi mới và tăng cường hoạt động của kinh tế Nhà nước trong lĩnh vực phân phối lưu thông Phát huy vai trò trung tâm kinh tế, khoa học - công nghệ, văn hoá-x4 hội của doanh nghiệp Nhà nước trong nông, lâm, ngư
Trang 27nghiệp, nhất là ở miền núi, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc ít người
Triển khai tích cực và vững chắc việc cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước để huy động thêm vốn, tạo thêm động lực thúc đẩy doanh nghiệp làm
ăn có hiệu quả, làm cho tài sản Nhà nước ngày càng tăng lên, không phải để tư nhân hoá Bên cạnh những doanh nghiệp có 100% vốn Nhà nước, sẽ có nhiều doanh nghiệp Nhà nước nắm đa số hay nắm tỷ lệ cổ phần chi phối Gọi thêm cổ phần hoặc bán cổ phần cho người lao động tại doanh nghiệp, cho các
tổ chức và cá nhân ngoài doanh nghiệp, tuỳ từng trường hợp cụ thể; vốn huy
động được phải dùng để đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh
Tổ chức hợp lý các tổng công ty, bảo đảm vừa tránh phân tán lực lượng, vừa chống độc quyền hoặc trở thành cấp hành chính trung gian
- Nghị quyết TƯ4: Tiếp tục đổi mới và phát triển khu vực DNNN Phân định loại doanh nghiệp công ích và doanh nghiệp kinh doanh; xác định loại doanh nghiệp cần giữ 100% vốn Nhà nước; loại doanh nghiệp cần nắm tỷ lệ cổ phần chi phối; loại doanh nghiệp Nhà nước chỉ cần giữ tỷ lệ
cổ phần ở mức thấp Trong khi sắp xếp, cần chú ý đến điều kiện đặc thù của các vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa
Các doanh nghiệp công ích và doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước hoạt
động có hiệu quả cần được kiện toàn về tổ chức, cán bộ, tài chính, xử lý lao
động dôi dư, ưu tiên bổ sung vốn lưu động, cho vay vốn ưu đ4i để đổi mới thiết bị, công nghệ
Đối với những DN mà Nhà nước không cần nắm 100% vốn, cần lập kế hoạch cổ phần hoá để tạo động lực phát triển, thúc đẩy làm ăn có hiệu quả Sửa đổi, bổ sung các quy định, kiện toàn tổ chức chỉ đạo cổ phần hoá các cấp Thí điểm việc bán cổ phần cho người nước ngoài Khuyến khích nông dân sản xuất nguyên liệu, tham gia mua cổ phần ở các doanh nghiệp chế biến nông sản
Đối với những doanh nghiệp nhỏ có vốn dưới 1 tỷ đồng, kinh doanh
Trang 28thua lỗ kéo dài mà không cần thiết duy trì sở hữu Nhà nước, cần áp dụng các hình thức xử lý thích hợp (như sát nhập; đấu thầu; công khai cho thuê; khoán kinh doanh hoặc bán; giao cho tập thể cán bộ, công nhân với điều kiện bảo
đảm công ăn việc làm cho người lao động và thực hiện đúng luật pháp của Nhà nước), áp dụng Luật phá sản ở vùng miền núi, kinh tế chưa phát triển, cần duy trì vai trò cần thiết và có hiệu quả của DNNN vừa và nhỏ
Tổng kết mô hình tổng công ty Nhà nước, trên cơ sở đó có phương án xây dựng các tổng công ty thực sự trở thành những tập đoàn kinh tế mạnh, có hiệu quả và sức cạnh tranh cao, thực sự là xương sống của nền kinh tế Xem xét sắp xếp lại các tổng công ty không phù hợp, hoạt động kém hiệu quả Nghiên cứu chuyển cơ chế quản lý vốn theo phương thức hành chính sang cơ chế công ty tài chính
Báo cáo chính trị của BCH Trung ương Đảng Khoá IX tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng có ghi :"Tiếp tục đổi mới và nâng cao hiệu quả DNNN"
Hoàn thiện cơ chế, chính sách để các DNNN thực hiện hoạt động trong môi trường cạnh tranh, công khai, minh bạch, nâng cao hiệu quả Xoá bỏ độc quyền và đặc quyền sản xuất kinh doanh của DNNN Doanh nghiệp Nhà nước có quyền tài sản, thực sự tự chủ, tự chịu trách nhiệm trên thị trường và trước pháp luật Gắn trách nhiệm, quyền hạn và lợi ích của người quản lý doanh nghiệp với kết quả hoạt động của doanh nghiệp Chăm lo đào tạo đội ngũ quản trị giỏi, đáp ứng tốt yêu cầu quản lý công ty theo chế độ hiện đại
Đẩy mạnh việc sắp xếp, đổi mới và nâng cao hiệu quả DNNN, trọng tâm là cổ phần hoá Cơ cấu lại DNNN, tập trung chủ yếu vào một số lĩnh vực kết cấu hạ tầng, sản xuất tư liệu sản xuất và dịch vụ quan trọng của nền kinh
tế, vào một số lĩnh vực công ích Đẩy mạnh và mở rộng diện cổ phần hoá DNNN, kể cả các tổng công ty Nhà nước Việc xác định giá trị DNNN được
cổ phần hoá, kể cả giá trị quyền sử dụng đất, phải theo cơ chế thị trường Đề
Trang 29phòng và khắc phục những lệch lạc trong quá trình cổ phần hoá DNNN
Thúc đẩy việc hình thành một số tập đoàn kinh tế mạnh, tầm cỡ khu vực, có sự tham gia cổ phần của Nhà nước, của tư nhân trong và ngoài nước, các công ty bảo hiểm, các quỹ đầu tư , trong đó Nhà nước giữ cổ phần chi phối [42] 2.1.3.2 Tính tất yếu của chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp Nhà nước
Khi bước sang nền kinh tế thị trường đặc biệt vào những thập niên cuối thế kỷ XX, khu vực hoá và toàn cầu hoá là xu thế phát triển tất yếu của nền kinh
tế thế giới Việc gia nhập các tổ chức kinh tế của khu vực và thế giới như: AFTA, NAFTA, EU và WTO luôn là mong muốn của bất cứ quốc gia nào Xu thế hoà nhập tạo cơ hội cạnh tranh bình đẳng cho tất cả các doanh nghiệp song cũng đặt các doanh nghiệp vào một cuộc chơi khắc nghiệt với quy luật " mạnh thắng, yếu thua” Hàng rào thuế quan mà Chính phủ các nước sử dụng để bảo vệ các sản phẩm trong nước sản xuất mất tác dụng Vì vậy, biện pháp duy nhất để các doanh nghiệp không bị loại khỏi cuộc chơi là phải tăng cường khả năng cạnh tranh của chính mình để tạo chỗ đứng vững trên thương trường Trong khi
đó theo báo cáo của Bộ Tài chính, những thập niên 90, các DNNN Việt Nam chủ yếu trong tình trạng trang thiết bị lạc hậu từ 3 - 5 thế hệ Cơ cấu kinh tế chưa phù hợp, chủ yếu là ngành nông nghiệp chiếm 27%, thương mại 43%, công nghiệp và xây dựng chiếm 30% (trong khi các nước phát triển là 70 - 80%); cơ cấu của vốn chưa hợp lý (81% vốn cố định, 19% vốn lưu động) Quy mô của doanh nghiệp nhỏ (dưới 1 tỷ đồng) chiếm 68% Thực tế trên đ4 khiến hiệu quả sử dụng vốn của các DNNN rất thấp Mỗi đồng vốn chỉ tạo ra 2,3 đồng doanh thu và 0,1 đồng lợi nhuận Tài sản cố định trong các DNNN chiếm từ 70 - 80% nhưng chỉ cung cấp được 44% tổng sản phẩm x4 hội Với thực trạng này các DNNN của Việt Nam không đủ sức cạnh tranh khi gia nhập các tổ chức khu vực và thế giới Vì vậy, để tạo được chỗ đứng trên thương trường, Việt Nam cần phải chuyển đổi sở hữu DNNN để tìm con đường cho sự phát triển Nhiều giải pháp đ4 được đưa ra như cơ cấu lại vốn và lĩnh vực hoạt động của các doanh
Trang 30nghiệp; sáp nhập các doanh nghiệp có vốn nhỏ, hoạt động trong các lĩnh vực tương đối giống nhau; liên doanh, liên kết với nước ngoài để tận dụng nguồn vốn nước ngoài, nâng cấp các trang thiết bị lạc hậu, tiếp cận phương thức quản
lý tiên tiến Tuy nhiên những giải pháp này vẫn chưa tạo được sự thay đổi về chất, hiệu quả sản xuất, kinh doanh của đa số các doanh nghiệp vẫn thấp, sức cạnh tranh vẫn còn yếu, chưa có sự thay đổi mang tính bước ngoặt
Trước thực trạng này, cùng với sự nhận thức về tính cấp thiết của của tổ chức chuyển đổi sở hữu DNNN như đ4 phân tích trên, do vậy tại báo cáo chính trị của Ban chấp hành TƯ Đảng khoá IX tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ
X của Đảng có ghi "Tiếp tục đổi mới và nâng cao hiệu quả DNNN"[42] Đây là một nhiệm vụ trọng tâm và cấp bách khi chuyển sang nền kinh tế thị trường
2.1.4 Nội dung chuyển đổi sở hữu và phân nhóm doanh nghiệp Nhà nước
2.1.4.1 Nội dung chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp Nhà nước
Mục đích chuyển đổi sở hữu các DNNN là tạo ra loại hình doanh nghiệp có nhiều chủ sở hữu, trong đó có đông đảo người lao động; cùng tạo
ra động lực mạnh mẽ để đổi mới và phát triển doanh nghiệp
Nội dung chuyển đổi sở hữu các DNNN là cổ phần hoá; giao DNNN cho tập thể người lao động và chuyển thành công ty cổ phần; giao DNNN cho tập thể người lao động; bán DNNN cho tập thể, hoặc cá nhân; khoán kinh doanh; cho thuê doanh nghiêp Nhà nước
a Nội dung chuyển đổi sở hữu các DNNN thành các công ty cổ phần
• Xử lý tài chính và xác định giá trị doanh nghiệp trước khi chuyển đổi sở hữu
- Xử lý những vấn đề tài chính đối với các DNNN khi chuyển đổi sở hữu gồm:
+ Kiểm kê, phân loại tài sản của doanh nghiệp đang quản lý, sử dụng
ở thời điểm lập báo cáo tài chính ở quý gần nhất trước ngày có quyết định CPH
Trang 31lý các khoản nợ phải thu khó đòi; xử lý các khoản nợ phải trả; các khoản dự phòng và l4i chưa phân phối
- Xác định giá trị doanh nghiệp theo 2 phương pháp sau:
+ Xác đinh giá trị doanh nghiệp theo giá trị tài sản
+ Xác định giá trị doanh nghiệp theo dòng tiền chiết khấu
• Tổ chức bán cổ phần và quản lý, sử dụng tiền thu từ bán phần vốn Nhà nước tại DN CPH
- Các doanh nghiệp có trách nhiệm xây dụng phương án bán cổ phần theo trình tự ưu tiên như sau:
+ Cổ phần Nhà nước tham gia tại công ty công ty cổ phần (không bán) + Cổ phần ưu đ4i bán cho người lao động trong doanh nghiệp
+ Số lượng cổ phần dự kiến bán cho người sản xuất và cung cấp nguyên vật liệu
+ Số cổ phần bán ra ngoài cho các đối tượng (không quá 30% số vốn
điều lệ)
- Tiền thu từ bán cổ phần do DN phát hành để huy động thêm vốn
được để lại công ty và quản lý sử dụng theo quy định của pháp luật và điều lệ
tổ chức hoạt động của công ty cổ phần
• Thực hiện chính sách đối với người lao động trong các doanh nghiệp CPH Khi có quyết định của cơ quan có thẩm quyền về việc cổ phần hoá DNNN, Giám đốc DNNN cùng Ban đổi mới và phát triển DN của DN lập phương án về lao động và giải quyết chính sách đối với người lao động trình cơ quan có thẩm quyền phê duyệt và tổ chức thực hiện
b Nội dung chuyển đổi sở hữu các DNNN theo hình thức giao, bán, khoán kinh doanh, cho thuê DNNN
• Một số khái niệm
- Giao doanh nghiệp Nhà nước cho tập thể người lao động và chuyển
Trang 32thành công ty cổ phần là việc chuyển DNNN và tài sản Nhà nước tại doanh nghiệp sang sở hữu tập thể, dưới hình thức bán toàn bộ tài sản của DNNN cho tập thể cán bộ, công nhân viên của công ty bằng cổ phần và thông qua phát hành cổ phiếu Các cán bộ, công nhân viên của công ty là các cổ đông
- Giao doanh nghiệp Nhà nước cho tập thể người lao động là việc chuyển DNNN và tài sản Nhà nước tại doanh nghiệp sang sở hữu tập thể, cá nhân hoặc pháp nhân khác
- Bán doanh nghiệp Nhà nước là việc chuyển đổi sở hữu có thu tiền toàn bộ tài sản của DNNN sang sở hữu tập thể, cá nhân hoặc pháp nhân khác
- Khoán kinh doanh đối với DNNN là phương thức quản lý doanh nghiệp Nhà nước mà bên nhận khoán được giao quyền quản lý doanh nghiệp,
có nghĩa vụ thực hiện một số chỉ tiêu, bảo đảm các điều kiện và được hưởng các quyền lợi theo hợp đồng khoán
- Cho thuê DNNN là hình thức chuyển giao cho người nhận thuê quyền sử dụng tài sản và lao động trong doanh nghiệp theo các điều kiện ghi trong hợp đồng thuê
• Nội dung giao, bán, khoán kinh doanh, cho thuê DNNN
Giao, bán, khoán kinh doanh, cho thuê DNNN để tiếp tục sản xuất kinh doanh; người nhận giao, người nhận mua không được bán lại doanh nghiệp trong thời gian quy định của hợp đồng
Nội dung, thủ tục giao nhận DNNN
- Tiền hành phân loại tài sản, định giá tài sản; phân loại công nợ; lập báo cáo tài chính; xử lí các vấn đề về tài sản, tài chính và công nợ
- Tổ chức kí hợp đồng giao, nhận DNNN
2.1.4.2 Nội dung phân nhóm DNNN
Doanh nghiệp Nhà nước được chia làm 3 nhóm:
Nhóm1: Gồm những doanh nghiệp quan trọng cần được Nhà nước duy
Trang 33mô hoạt động Đó là những doanh nghiệp Nhà nước công ích quan trọng, trong những lĩnh vực Nhà nước độc quyền kinh doanh và một số doanh nghiệp Nhà nước đang có đóng góp lớn cho Ngân sách Nhà nước hoặc có vị trí quan trọng trong cân đối xuất, nhập khẩu, trong đổi mới công nghệ và phục vụ vùng sâu, vùng xa
Các doanh nghiệp này được bảo đảm các điều kiện tối thiểu để chủ
động tích luỹ và mở rộng phát triển sản xuất, kinh doanh; kiện toàn về tổ chức, ưu tiên bổ sung vốn lưu động, cho vay một phần l4i suất ưu đ4i để đầu tư chiều sâu, nâng cao khả năng cạnh tranh
Nhóm 2: Gồm những doanh nghiệp Nhà nước cần tiến hành cổ phần hoá
là những đơn vị không cần duy trì 100% vốn Nhà nước, chưa lâm vào tình trạng phải giải thể hoặc phá sản; đề án sản xuất, kinh doanh có hiệu quả; hoạt động kinh doanh trong những lĩnh vực Nhà nước chỉ cần giữ cổ phần chi phối hoặc cổ phần đặc biệt Riêng đối với những doanh nghiệp khác, nếu việc sáp nhập mang lại hiệu quả cao hơn; khoán kinh doanh; bán chịu cho tập thể người lao động để
họ tự lựa chọn hình thức hoạt động cho phù hợp; hoặc bán cho các thành phần kinh tế khác
Nhóm 3: Gồm những doanh nghiệp bị thua lỗ kéo dài, không trả được
nợ đến hạn, không nộp đủ thuế cho Nhà nước Những doanh nghiệp này được
2.1.4.3 Một số loại hình doanh nghiệp ở nước ta hiện nay
a Công ty Nhà nước là doanh nghiệp do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn
điều lệ, thành lập, tổ chức quản lý, đăng ký hoạt động theo quy định của Luật DNNN Công ty Nhà nước được tổ chức dưới hình thức công ty Nhà nước
Trang 34d Công ty TNHH Nhà nước hai thành viên trở lên là công ty TNHH trong đó tất cả các thành viên đều là công ty Nhà nước hoặc có thành viên là công ty Nhà nước và thành viên khác là tổ chức được Nhà nước uỷ quyền góp vốn, được tổ chức hoạt động theo quy định của Luật Doanh nghiệp
e Doanh nghiệp có cổ phần vốn góp chi phối của Nhà nước là doanh nghiệp mà cổ phần hoặc vốn góp của Nhà nước chiếm trên 50% vốn điều lệ, Nhà nước giữ quyền chi phối đối với doanh nghiệp đó
f Doanh nghiệp có một phần vốn của Nhà nước là DN mà phần vốn góp của Nhà nước trong vốn điều lệ chiếm từ 50% trở xuống
h Sáp nhập DN là một hình thức giao dịch, trong đó một doanh nghiệp nhận được toàn bộ tài sản và các khoản nợ của một doanh nghiệp khác với một giá trả nhất định Doanh nghiệp bán không còn tư cách pháp nhân riêng rẽ mà sử dụng pháp nhân của doanh nghiệp mua để hoạt động Doanh nghiệp mua phải trả cho chủ sở hữu của doanh nghiệp bán giá mua bằng tiền mặt hoặc bằng chứng khoán của chính doanh nghiệp mua
2.2 Cơ sở thực tiễn
2.2.1 Thực tiễn chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp Nhà nước ở một số nước trên thế giới
2.2.1.1 Chuyển đổi sở hữu DNNN ở nước Anh
Nước Anh được coi là nước đầu tiên cải cách DNNN, công cuộc đổi
Trang 35mới DNNN được tiến hành thông qua tư nhân hoá và cổ phần hoá với “bàn tay sắt của bà That Chơ” Đó là việc vận dụng học thuyết M.J Keynes nhằm tăng cường vai trò can thiệp của Nhà nước trong việc ổn định và phát triển nền kinh
tế thị trường
Quá trình cổ phần hoá ở nước Anh có thể chia làm 3 giai đoạn Giai
đoạn đầu tập trung vào cổ phần các xí nghiệp quốc doanh vừa và nhỏ trong các công ty quốc doanh lớn thuộc các ngành có sự cạnh tranh trên thị trường
để có nguồn bù đắp các khoản vay nợ của khu vực quốc doanh Giai đoạn tiếp theo tập trung vào bán cổ phiếu cho công chúng, đối với các công ty công cộng có tính chất độc quyền để nâng cao hiệu quả hoạt động của chúng Giai đoạn 3 bán đấu giá rộng r4i các doanh nghiệp kinh tế công cộng, chuyển chúng sang hoạt động theo cơ chế cạnh tranh Cổ phần hoá ở nước Anh được thực hiện bằng những cách như tổ chức bán đấu giá các cổ phần của DN cho tất cả những ai muốn mua nó thông qua sở giao dịch chứng khoán, bán một phần vốn cố định cho một nhóm cá nhân hoặc công ty tư nhân, bán cổ phiếu cho một nhóm ngưới nhất định
Nhà nước có ưu đ4i với những người mua nhỏ như cho phép trả tiền dần dần, nhiều lần Mua nhiều và giữ lại cổ phiếu không bán lại trong một thời gian nhất định thì được hưởng tỷ lệ cổ phiếu hiện có, đối với cán bộ công nhân viên khi mua cổ phiếu thì được mua cổ phiếu ưu đ4i [38]
2.2.1.2 Chuyển đổi sở hữu DNNN ở cộng hòa Liên bang Nga
Trung tâm của cuộc chuyển đổi nền kinh tế từ kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường là việc cải cách DNNN theo hướng tư nhân hoá Tháng 1/ 1991 Luật Tư nhân hoà được ban hành Thực hiện sác luật này, Chính phủ Nga chủ trương đẩy nhanh kinh tế kế hoạch hoá sang vận hành theo cơ chế thị trường Họ kiên quyết chuyển đổi căn bản các DNNN (đang chiếm độc tôn 100% trong nền kinh tế) sang vận hành theo cơ chế tư nhân (trừ những lĩnh vực cấm tư nhân hoá như tài nguyên trong lòng đất; rừng;
Trang 36biển và các di sản văn hoá, lịch sử) Họ chọn một chương trình tư nhân hoá nhanh trong thời gian 3- 4 năm, chương trình này chia làm hai giai đoạn:
- Giai đoạn đầu (còn gọi là giai đoạn tư nhân hoá nhỏ) bắt đầu thực hiện từ cuối năm 1991 đầu năm 1992, tiến hành tư nhân hoá nhanh những DNNN thuộc các lĩnh vực thương nghiệp và dịch vụ, các DN vừa và nhỏ trong ngành xây dựng và công nghiệp
Giai đoạn sau (còn gọi là giai đoạn tư nhân hoá lớn) kể từ cuối năm 1992-1993, tiến hành tư nhân hoá hàng loạt những DN lớn thuộc các ngành xây dựng, công nghiệp và các ngành khác Kế hoạch đề ra là năm 1993 tư nhân hoá trên 30% tổng giá trị tài sản thuộc sở hữu Nhà nước, năm 1994 thêm 20% để đạt 50% tổng số và đến hết năm 1994, đầu năm 1995 tổng số 60% tổng giá trị tài sản thuộc sở hữu Nhà nước tư nhân hoá Dự định đến cuối năm 1995 đạt 65- 70% là hoàn thành cơ bản chương trình tư nhân hoá
Đánh giá chung chương trình tư nhân hoá ở Cộng hoà Liên bang Nga cho thấy, thành công của chương trình này là đ4 hình thành một x4 hội đa dạng hoá các hình thức sở hữu, chuyển sở hữu từ chủ yếu là Nhà nước sang chủ yếu là tư nhân trong một thời gian ngắn, một khối lượng lớn DNNN đ4
được tư nhân hoá ào ạt, nhanh chóng Tuy có chậm và thấp một chút so với chương trình kế hoạch, tính đến đầu năm 1996 đ4 tư nhân hoá được 122.000
DN (53% trong tổng DNNN) trong số đó có 79.093 DN nhỏ (65% số DNNN loại này) và 27.040 DN vừa và lớn (chiếm 22,3%)
Bên cạnh những thành công đó, quá trình tư nhân hoá ở Cộng hoà Liên bang Nga còn bộc lộ những hạn chế và những mục tiêu lớn, đó là:
- Sự không ổn định về chính trị đ4 ảnh hưởng rất lớn đến kết quả của chuyển đổi về kinh tế Đầu năm 1990, chính trường ở Nga rất căng thẳng khiến cho tâm lý một số người giàu có trong nước và các nhà tư bản nước ngoài rất ngại bỏ vốn ra đầu tư Mặt khác, người dân Nga nói chung còn nghèo trong khi khối lượng giá trị tài sản mà Nhà nước cần chuyển đổi lại rất
Trang 37lớn nên dân không có tiền mua, các DNNN của Nga có quy mô lớn nhưng công nghệ và kỹ thuật lạc hậu, trình độ quản lý theo cơ chế thị trường còn rất lúng túng nên các nhà tư bản nước ngoài cũng kém hấp dẫn môi trường kinh doanh này Do đó trên thực tế, Nhà nước cũng không thu được nhiều vốn để tái đầu tư trở lại
- Quá trình tư nhân hoá đ4 làm thất thoát một khối lượng lớn tài sản của Nhà nước Số tài sản này lại rơi vào một số tư nhân nên đẩy nhanh sự phân chia giàu nghèo, đại bộ phận công nhân và nông dân vẫn thua thiệt [38]
2.2.1.3 Chuyển đổi sở hữu DNNN ở Trung Quốc
Trung Quốc là nước có nhiều nét tương đồng mà Việt Nam mong muốn tìm kiếm kinh nghiệm có thể vận dụng vào việc thúc đẩy tổ chức, sắp xếp và chuyển đổi sở hữu DNNN ở nước ta
Tính đến năm 1995, Trung Quốc có khoảng 18.800 DNNN, chiếm trên 50% tổng mức tài sản và chiếm 41% GDP Bức tranh khái quát chung cho thấy các DNNN hoạt động hiệu quả chưa cao, các doanh nghiệp làm ăn thua lỗ tăng
từ 31,8% năm 1993 lên 43% năm 1996 Sự kinh doanh kém hiệu quả của các doanh nghiệp đ4 làm trầm trọng gánh nặng của ngân hàng thương mại Quốc doanh Trong năm 1995 ngân sách phải bù lỗ cho các doanh nghiệp nhà nước 5,2% tổng số tiền chi ngân sách và 70% tín dụng của ngân hàng thương mại quốc doanh, phải dành cho các doanh nghiệp với l4i suất ưu đ4i Trong bối cảnh
đó việc đổi mới DNNN là một trong những vấn đề quan trọng nhằm củng cố Nhà nước XHCN ở Trung Quốc Quá trình tổ chức, sắp xếp DNNN ở Trung Quốc chia ra làm các giai đoạn sau:
Giai đoạn 1992 - 1993: Giai đoạn này chấp nhận kinh tế thị trường Mục tiêu của giai đoạn nay là thay đổi cơ cấu sở hữu và tách quyền sở hữu Nhà nước khỏi vấn đề quản lý trong các DNNN Chính phủ đ4 cho phép cổ phần hoá các doanh nghiệp vừa và nhỏ Kết quả số lượng DNNN được cổ phần hoá tăng từ 700DN (năm 1991) lên 2540 DN (năm 1993)
Trang 38Giai đoạn sau Đại hội Đảng Cộng sản lần thứ 14: Giai đoạn xây dựng
- Chính phủ thành lập công ty quản lý và biến công ty cổ phần thành công ty con của công ty quản lý, công ty quản lý sẽ quản lý các công ty con
và sử dụng lợi nhuận của công ty con như người đại diện của Chính phủ
- Tách các hoạt động quan trọng ra khỏi DNNN và thành lập lại công ty cổ phần - Chuyển đổi nợ nần thành cổ phiếu
Trang 39- Tạm thời cho nghỉ việc một số lao động dư thừa và cấp một ít vốn để
họ có thể có việc làm mới Mở một số doanh nghiệp loại nhỏ để tạo thêm việc làm; mở trung tâm tái tạo việc làm nhằm đào tạo những lao động dư thừa
đồng thời cung cấp cho những lao động này một khoản lương tối thiểu để họ
đi đào tạo lại và bồi dưỡng thị trường lao động[38]
2.2.1.4 Chuyển đổi sở hữu các doanh nghiệp ở Hàn Quốc
Cũng như các nước khác, cải cách kinh tế khu vực quốc doanh nhằm nâng cao hiệu quả chi phí và hiệu quả quản lý sản xuất kinh doanh của các xí nghiệp quốc doanh Cải cách kinh tế khu vực quốc doanh chia làm hai đợt:
Đợt đầu tiên, được thực hiện trong thời kỳ 1968 - 1973 trong số 7 xí nghiệp quốc doanh đ4 được bán cho khu vực tư nhân và cho các tổ chức tài chính hoặc tổ chức lại thành các xí nghiệp mới
Đợt thứ 2, cải cách khu vực quốc doanh, thực hiện hai biện pháp chính như sau:
+ Cổ phần hoá những doanh nghiệp quốc doanh chủ yếu, bao gồm các ngân hàng thương mại
+ Đối với những xí nghiệp không cổ phần hoá cần nâng cao hiệu quả chi phí, phù hợp với Luật quản lý xí nghiệp quốc doanh được thông qua tháng 12/1993 Luật này nhấn mạnh việc đánh giá kết quả, gắn tiền thưởng với kết quả kinh doanh, tính chất bắt buộc của hệ thống thúc đẩy cắt giảm chi phí, nâng cao lợi nhuận và các chỉ tiêu khác Cuối cùng, vào tháng 4/1987, chính phủ Hàn Quốc thông qua một kế hoạch bán cổ phần một phần hoặc toàn bộ xí nghiệp quốc doanh trong thời kỳ 1988-1992 Trong thời gian này, các xí nghiệp lớn của Hàn Quốc đ4 được bán như công ty điện Triều Tiên, công ty viễn thông Triều Tiên, công ty quặng thép Po Hang
Việc xem xét quá trình cải cách khu vực kinh tế quốc doanh ở Hàn Quốc không thể đầy đủ nếu không kể tới chương trình cổ phần hoá nhân dân, thông qua ưu tiên phân phối 95% cổ phần cho những người có thu nhập thấp, trong đó 20% bán cho công nhân của xí nghiệp cổ phần hoá, số còn lại bán
Trang 40cho thợ thuyền, tiểu thủ công, nông dân và ngư dân
Bán rẻ và thanh toán dần là biện pháp giúp người nghèo, những người
có thu nhập thấp có thể mua được cổ phiếu Chủ trương cổ phần hoá nhân dân của Hàn Quốc được thực hiện năm 1987, hơn 49% cổ phần đ4 được bán cho công chúng Tư tưởng chủ đạo ở đây là trong khi việc phân phối thu nhập cần được cải tiến thông qua bán cổ phiếu, thì việc kiểm soát cần Chính phủ duy trì Do vậy, tài sản được bán một phần chứ không bán toàn bộ [38]
* Những bài học kinh nghiệm rút ra đối với Việt Nam
Qua quá trình thực hiện chuyển đổi sở hữu các DNNN của các nước trên thế giới, chúng ta rút ra những bài học kinh nghiệm đối với quá trình chuyển đổi sở hữu DNNN ở nước ta như sau:
Một là: Hầu hết các nước đều cho rằng mục tiêu chính của chương trình chuyển đổi sở hữu các DNNN là nhằm nâng cao năng lực sản xuất kinh doanh của DN, góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển Đồng thời giảm thiểu số doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, tối đa hoá các đơn vị làm ăn có l4i và các khoản thu cho ngân sách Nhà nước, tạo nguồn để giải quyết các vấn đề kinh tế - x4 hội khác Ngoài ra, qua công tác chuyển đổi sở hữu, hầu hết Chính phủ các nước đều muốn chuyển một số lĩnh vực ngành nghề mà các khu vực kinh tế khác có thể đảm nhận, giảm bớt gánh nặng và thâm hụt cho ngân sách, cân
đối khả năng thanh toán nợ nước ngoài; phát triển thị trường vốn trong nước
Hai là: Trên cơ sở mục tiêu đ4 đề ra, việc chuyển đổi sở hữu các DNNN cần thực hiện theo đúng các mục tiêu, không ôm đồm nhiều mục tiêu Phương pháp tiến hành cần phân chia thành các giai đoạn cụ thể như sau:
Giai đoạn 1: Đánh giá, phân loại DNNN
- Các DNNN quan trọng, Nhà nước cần nắm giữ 100% vốn chi phối, doanh nghiệp hoạt động công ích
- Các DNNN quan trọng Nhà nước cần giữ cổ phần chi phối (51% vốn Nhà nước)
- Các DNNN có quy mô nhỏ, không quan trọng Nhà nước giữ cổ phần