luận văn
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo trường đại học nông nghiệp I
Người hướng dẫn khoa học: pgs.ts lê thị ngọc diệp
Hà Nội - 2006
Trang 2lời cam đoan
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các
số liệu và kết quả trình bày trong luận văn là trung thực và ch−a từng
đ−ợc ai công bố trong bất cứ công trình nào khác
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã đ−ợc cám ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã
đ−ợc chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả
Hoàng Văn Thắng
Trang 3Lời cảm ơn
Để hoàn thành luận văn này, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ quý báu và tận tình của các thầy cô giáo, gia đình, bạn bè và các đồng nghiệp Cho phép tôi bày tỏ lòng
biết ơn chân thành nhất tới:
Cô giáo hướng dẫn PTS.TS Lê Thị Ngọc Diệp đã quan tâm giúp
đỡ chỉ bảo tận tình, hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
Các thầy cô giáo và cán bộ công nhân viên khoa Sau đại học, khoa Chăn nuôi - Thú y; bộ môn Nội - Chẩn - Dược - Độc chất khoa Chăn nuôi - Thú y trường Đại học Nông nghiệp I - Hà Nội; các trang trại chăn nuôi lợn công nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội và tỉnh
Hà Tây đã tạo đIều kiện về tinh thần và vật chất trong quá trình nghiên cứu đề tài này
Sự động viên và tạo điều kiện tốt nhất của gia đình đã giúp tôi
hoàn thành luận văn này
Tác giả
Hoàng Văn Thắng
Trang 42.4 Một số hiểu biết về thuốc kháng sinh Enrofloxacin 25 2.5 Tình hình nghiên cứu về các thuốc kháng sinh nhóm quinolone 27 2.6 Một số hiểu biết về hội chứng ỉa chảy ở lợn 30
3 Nội dung, nguyên liệu, địa điểm và phương pháp nghiên cứu 38
Trang 54 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 45
4.1 Kết quả nghiên cứu sự hấp thu, phân bố của Enrofloxacin trong
4.1.1 Kết quả nghiên cứu sự hấp thu, phân bố của Enrofloxacin trong
huyết tương lợn cho theo đường tiêm bắp, liều 5 mg/kgP 45 4.1.2 Kết quả nghiên cứu sự hấp thu, phân bố của Enrofloxacin trong
huyết tương lợn cho theo đường tiêm bắp, liều 7,5 mg/kgP 48 4.2 Kết quả nghiên cứu sự hấp thu, phân bố của Enrofloxacin trong cơ
và một số cơ quan, nội tạng lợn cho theo đường tiêm bắp 53 4.2.1 Kết quả nghiên cứu sự hấp thu, phân bố Enrofloxacin trong cơ và
một số cơ quan, nội tạng lợn cho theo đường tiêm, liều 5 mg/kgP 53 4.2.2 Kết quả nghiên cứu sự hấp thu, phân bố Enrofloxacin trong cơ và một
số cơ quan, nội tạng lợn cho theo đường tiêm bắp, liều 7,5 mg/kgP 58 4.3 So sánh hàm lượng Enrofloxacin trong cơ và một số cơ quan, nội
tạng lợn cho theo đường tiêm bắp - liều 5 mg/kgP và 7,5 mg/kgP 62 4.4 Kết quả điều trị thử nghiệm trên lợn bị ỉa chảy bằng Enrofloxacin
cho theo đường tiêm bắp, liều 5 mg/kgP và 7,5 mg/kgP 65 4.4.1 ảnh hưởng của Enrofloxacin liều 5 mg/kgP - 2 lần/ngày tới một số
4.4.2 ảnh hưởng của Enrofloxacin liều 7,5 mg/kgP - 1 lần/ngày tới một
4.4.3 ảnh hưởng của Enrofloxacin liều 5 mg/kgP + điện giải - 2
lần/ngày tới một số chỉ tiêu lâm sàng lợn bị ỉa chảy 71 4.4.4 ảnh hưởng của Enrofloxacin liều 7,5 mg/kgP + điện giải -1
lần/ngày tới một số chỉ tiêu lâm sàng lợn bị ỉa chảy 74 4.4.5 Kết quả điều trị thử nghiệm của các phác đồ trên lợn bị ỉa chảy 76
Trang 6Danh môc c¸c b¶ng
B¶ng 4.1 Hµm l−îng Enrofloxacin trong huyÕt t−¬ng lîn cho theo
B¶ng 4.2 Hµm l−îng Enrofloxacin trong huyÕt t−¬ng lîn cho theo
B¶ng 4.3 Hµm l−îng Enrofloxacin trong c¬ vµ mét sè c¬ quan néi t¹ng
lîn cho theo ®−êng tiªm b¾p t¹i thêi ®iÓm 24 giê - liÒu 5 mg/kgP 54 B¶ng 4.4 Hµm l−îng Enrofloxacin trong c¬ vµ mét sè c¬ quan néi t¹ng
lîn cho theo ®−êng tiªm b¾p t¹i thêi ®iÓm 48 giê - liÒu 5 mg/kgP 55 B¶ng 4.5 Hµm l−îng Enrofloxacin trong c¬ vµ mét sè c¬ quan néi t¹ng
lîn cho theo ®−êng tiªm b¾p t¹i thêi ®iÓm 72 giê - liÒu 5 mg/kgP 57 B¶ng 4.6 Hµm l−îng Enrofloxacin trong c¬ vµ mét sè c¬ quan néi t¹ng lîn
cho theo ®−êng tiªm b¾p t¹i thêi ®iÓm 24 giê - liÒu 7,5 mg/kgP 58 B¶ng 4.7 Hµm l−îng Enrofloxacin trong c¬ vµ mét sè c¬ quan néi t¹ng lîn
cho theo ®−êng tiªm b¾p t¹i thêi ®iÓm 48 giê - liÒu 7,5 mg/kgP 60 B¶ng 4.8 Hµm l−îng Enrofloxacin trong c¬ vµ mét sè c¬ quan néi t¹ng lîn
cho theo ®−êng tiªm b¾p t¹i thêi ®iÓm 72 giê - liÒu 7,5 mg/kgP 61 B¶ng 4.9 So s¸nh hµm l−îng Enrofloxacin trong c¬ vµ mét sè c¬ quan, néi
t¹ng lîn cho theo ®−êng tiªm b¾p - liÒu 5 mg/kgP vµ 7,5 mg/kgP 63 B¶ng 4.10 ¶nh h−ëng cña tiªm Enrofloxacin - liÒu 5 mg/kgP, 2 lÇn/ngµy
tíi mét sè chØ tiªu l©m sµng lîn bÞ Øa ch¶y 67 B¶ng 4.11 ¶nh h−ëng cña tiªm Enrofloxacin - liÒu 7,5 mg/kgP, 1
lÇn/ngµy tíi mét sè chØ tiªu l©m sµng lîn bÞ Øa ch¶y 70 B¶ng 4.12 ¶nh h−ëng cña tiªm Enrofloxacin - liÒu 5 mg/kgP + ®iÖn gi¶i,
2 lÇn/ngµy tíi mét sè chØ tiªu l©m sµng lîn bÞ Øa ch¶y 72
Trang 7Bảng 4.13 ảnh hưởng của tiêm Enrofloxacin - liều 7,5 mg/kgP + điện
giải, 1 lần/ngày tới một số chỉ tiêu lâm sàng lợn bị ỉa chảy 75 Bảng 4.14 Kết quả điều trị thử nghiệm của các phác đồ trên lợn bị ỉa
chảy 77
Danh mục hình, đồ thị
Đồ thị 4.1 So sánh hàm lượng Enrofloxacin trong huyết tương lợn cho
theo đường tiêm - liều 5 mg/kgP và 7,5 mg/kgP 51
Trang 8
1 Mở đầu
1.1 Đặt vấn đề
Trong những năm gần đây, ngành chăn nuôi nước ta đã và đang phát triển với tốc độ nhanh, nhằm đáp ứng nhu cầu về thực phẩm ngày càng tăng của người tiêu dùng Tuy nhiên, khi chăn nuôi phát triển, số lượng đàn gia súc
và gia cầm tăng thì người chăn nuôi càng gặp nhiều khó khăn trong việc kiểm soát sự gia tăng của dịch bệnh Điển hình là từ năm 2003 đã xảy ra dịch cúm gia cầm, năm 2006 còn xảy ra dịch Lở Mồm Long Móng ở nhiều tỉnh thành trên cả nước Đến nay những dịch bệnh này vẫn còn là mối đe doạ đối với ngành chăn nuôi và đời sống của người dân Việt Nam
Ngành chăn nuôi lợn đang có những chuyển biến mạnh mẽ từ chăn nuôi nhỏ lẻ tại các hộ gia đình sang chăn nuôi tập trung thành các trang trại chăn nuôi công nghiệp Ngoài vaccin phòng bệnh, các loại thuốc kháng sinh và hoá học trị liệu cũng được sử dụng ngày càng nhiều nhằm: Phòng bệnh, trị bệnh và kích thích tăng trọng
Tuy nhiên, do thiếu hiểu biết, người chăn nuôi đã sử dụng thuốc kháng sinh trong điều trị chưa đúng nguyên tắc, không có cơ sở khoa học dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng như:
- Giảm hiệu lực của thuốc, tạo ra sự kháng thuốc của vi khuẩn gây bệnh, gây khó khăn cho công tác phòng và điều trị bệnh
- Ngoài việc có thể gây độc hại cho gia súc, thuốc kháng sinh còn tồn lưu trong thịt, trứng, sữa, ảnh hưởng đến chất lượng của sản phẩm chăn nuôi
và gây hại cho sức khoẻ người tiêu dùng
Xuất phát từ thực trạng trên, một trong những giải pháp là tăng cường công tác quản lí thú y và quan trọng nhất là nâng cao hiểu biết của người chăn nuôi và cán bộ thú y về thuốc kháng sinh
Trang 9Trong số các loại thuốc kháng sinh đang được lưu hành trên thị trường hiện nay, thuốc kháng sinh thuộc nhóm Quinolon là khá phổ biến, đặc biệt Enrofloxacin Đây là thuốc có hoạt phổ kháng sinh rộng, được sử dụng rộng rãi trong chăn nuôi nói chung và trong chăn nuôi lợn nói riêng Việc nghiên cứu về loại kháng sinh này trên lợn chưa nhiều, đặc biệt là dược động học của thuốc vẫn là vấn đề cần thiết Để góp phần giúp người chăn nuôi sử dụng thuốc kháng sinh Enrofloxacin đúng, hợp lý, an toàn và hiệu quả, chúng tôi
tiến hành: "Nghiên cứu sự hấp thu, phân bố của Enrofloxacin trong huyết tương, cơ và một số cơ quan nội tạng lợn"
1.2 Mục đích
- Xác định mức độ an toàn của thuốc kháng sinh Enrofloxacin
- Nghiên cứu sự hấp thu phân bố của thuốc kháng sinh Enrofloxacin trong huyết tương, cơ và một số cơ quan nội tạng lợn để làm cơ sở khoa học cho việc sử dụng thuốc kháng sinh Enrofloxacin trong phòng chống dịch bệnh, điều trị thử nghiệm trên lợn bị tiêu chảy, từ đó đề xuất một số phác đồ
điều trị bệnh bằng Enrofloxacin
- Góp phần trong việc xác định thời hạn giết mổ sau khi dùng thuốc Enrofloxacin để bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm
1.3 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
- Phạm vi nghiên cứu của đề tài là trên lợn khỏe mạnh ở khu vực Hà Nội và Hà Tây
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là lợn có trọng lượng 30 - 40 kg/con (2 - 4 tháng tuổi), không mắc bệnh và chưa dùng thuốc kháng sinh
Trang 102 Tổng quan tài liệu
2.1 Các quá trình dược động học
Những hiểu biết về dược động học có vai trò rất quan trọng đối với những người làm công tác nghiên cứu về thuốc vì nó tạo cơ sở khoa học cho các nghiên cứu chuyên sâu trong lĩnh vực y, dược và thú y
Dược động học (Pharmacokinetics) nghiên cứu về tác động của cơ thể
đến thuốc, đó là động học của sự hấp thu, phân bố, chuyển hoá và thải trừ thuốc (Hoàng Tích Huyền và cộng sự, 2001 [13])
Trong nghiên cứu về thuốc cần phải nghiên cứu về dược động học và dược lực học của thuốc, để từ đó có cơ sở khoa học cho việc xác định liều lượng cần dùng, cách cho thuốc, khoảng cách giữa các lần cho thuốc Căn cứ vào việc đo nồng độ thuốc trong máu hoặc trong huyết tương (Phạm Khắc Hiếu, Lê Thị Ngọc Diệp, 1997 [9])
Thuốc sau khi đưa vào cơ thể, để có tác dụng tốt phải đạt được nồng độ nhất định tại các cơ quan tổ chức, điều này phụ thuộc vào liều lượng thuốc, sự hấp thu, phân bố, chuyển hoá và thải trừ của thuốc (Lê Thị Ngọc Diệp, 1997 [3])
2.1.1 Quá trình hấp thu
Quá trình hấp thu thuốc thực chất là một quá trình vận chuyển thuốc từ cục bộ nơi đưa thuốc vào máu rồi đến các tổ chức khác nhau của cơ thể để phát huy tác dụng chữa bệnh Quá trình này diễn ra rất phức tạp, vì thuốc muốn được hấp thu đến các cơ quan, thải ra khỏi cơ thể đều phải vượt qua nhiều hàng rào sinh học có bản chất và độ dày rất khác nhau của cơ thể, (Phạm Khắc Hiếu, Lê Thị Ngọc Diệp, 1997 [9])
Thuốc có thể được đưa vào cơ thể bằng nhiều đường khác nhau: qua
đường tiêu hóa, hô hấp, qua đường tĩnh mạch , mức độ và cách thức hấp thu
Trang 11thuốc cũng khác nhau Ngày nay, nhờ sự phát triển mạnh của nhiều ngành
khoa học, quá trình hấp thu thuốc đã được phân tích ở mức tế bào
* Hấp thu thuốc qua đường tiêm
- Hấp thu thuốc qua đường tiêm bắp và tiêm dưới da
ở tổ chức cơ và dưới da là nơi có hệ thống mạch quản và lâm ba rất phát triển Do đó thuốc được hấp thu nhanh, chỉ sau 5-6 phút đã phát huy tác dụng Tuy nhiên, so với tiêm bắp thì tiêm dưới da đau hơn vì dưới da có hệ thống đầu mút thần kinh cảm giác rất phát triển Nên khi đưa thuốc vào cơ thể qua đường dưới da thường chỉ tiêm với một lượng nhỏ hoặc vừa phải
- Hấp thu thuốc qua đường tiêm tĩnh mạch
Thuốc được đưa trực tiếp vào máu nên có tác dụng rất sớm, thuốc vào
đến đâu được theo tuần hoàn luôn, không chèn ép tổ chức nên không có cảm giác đau, do đó có thể đưa vào cơ thể một lượng thuốc khá lớn, nhưng nếu truyền nhiều thì phải ở dạng đẳng trương Có thể tiêm tĩnh mạch rất nhiều loại thuốc đặc biệt là các thuốc gây kích ứng tổ chức mạnh như (CaCl2, Chloralhydrat, Salvarsal), không tiêm tĩnh mạch các loại chất nhũ tương, dung dịch dầu, dịch thể không hoà tan, các thuốc gây huỷ huyết, làm đông máu, làm kết tủa albumin, làm tổn thương thành mạch (Donal C.Plumb, 1994 [36]; Gibaldi M., 1982 [38])
Ngoài ra còn rất nhiều đường tiêm nữa như: Tiêm vào tuỷ sống, tiêm vào cạnh dây thần kinh (phong bế), tiêm vào xương, tiêm vào xoang phúc mạc
nhưng ít được dùng trong điều trị lâm sàng
* Hấp thu thuốc qua đường tiêu hóa
Một số thuốc có thể được hấp thu rất tốt qua niêm mạc miệng, vì ở đây
có hệ thống mạch quản rất phát triển Tuy nhiên, do đặc điểm sinh lý của miệng là nhai nuốt nên thời gian thuốc ở trong xoang miệng thường không lâu, do đó lượng thuốc được hấp thu ở đây cũng không nhiều, trừ một số thuốc ngậm ở nhân y, còn trong thú y sự hấp thu thuốc ở miệng thường ít có ý nghĩa
Trang 12Khi xuống đến dạ dày, các thuốc có hệ số phân bố mỡ/nước lớn, có tính axit yếu sẽ ít phân ly hơn nên chúng tan tốt vào lipid và cùng với các thuốc có
hệ số phân bố mỡ/nước lớn được hấp thu tốt hơn Các phân tử thuốc có kích thước nhỏ được hấp thu vào máu qua các mao mạch của nhung mao ruột Phần thuốc này sẽ đi vào tĩnh mạch cửa về gan, ở đây một phần thuốc bị gan biến
đổi và thải trừ qua dịch mật tạo thành chu trình gan - ruột Phần còn lại sẽ hoà nhập vào tĩnh mạch chủ sau theo tuần hoàn đi đến các cơ quan, tổ chức khác của cơ thể Các phân tử thuốc có kích thước lớn, có bản chất là Lipid sẽ được hấp thu vào mạch lâm ba ở trung tâm nhung mao ruột Phần thuốc này được dồn vào ống lâm ba (ductus thoracius) rồi vào máu, không qua gan nên không
bị biến đổi Các ion hoá trị 1 dễ bị hấp thu hơn ion hoá trị 2, các ion hoá trị 3 thì không được hấp thu Các axit và kiềm mạnh ít được hấp thu ở ruột non
Cho thuốc qua trực tràng sẽ có các ưu điểm hơn hẳn cho uống như: Không bị tác động của các dịch tiêu hoá, một phần lớn thuốc được hấp thu ở phần sau, qua tĩnh mạch trực tràng rồi đổ thẳng vào tĩnh mạch chủ sau, không qua gan nên không bị biến đổi và giữ nguyên được tác dụng Trừ một lượng nhỏ thuốc được hấp thu ở phần trước trực tràng có bị biến đổi của gan
* Hấp thu thuốc qua đường hô hấp
Các thuốc dễ bay hơi thường được cho theo đường này, tiêu biểu là các thuốc gây mê Quá trình hấp thu xảy ra rất nhanh do các phân tử thuốc nhỏ, hệ
số phân bố mỡ/nước lớn nên chúng qua được hệ thống mao mạch của các phế nang một cách dễ dàng, nhanh chóng vào máu phát huy tác dụng
2.1.2 Quá trình phân bố thuốc trong cơ thể
Sau khi hấp thu, thuốc được phân phối vào trong các phần dịch thể của cơ thể (máu, dịch gian bào và dịch nội bào) theo sơ đồ tổng quát sau: Trong máu một phần thuốc ở dạng tự do, một phần kết hợp khả hồi với protein huyết thanh, tạo thành những phức hợp không thấm qua được mạch quản tổ chức
Nó có vai trò như một kho dự trữ thuốc lưu động trong cơ thể Quá trình kết
Trang 13hợp và phân ly luôn là một quá trình động nó diễn ra theo chiều hướng giảm dần nồng độ thuốc, do thuốc luôn bị khử hoạt tính và thải trừ Sự giảm này nhanh hay chậm tuỳ thuộc vào bản chất của thuốc và các enzym chuyển hoá
Hình 2.1 Quá trình phân bố thuốc trong cơ thể
Phần thuốc tự do theo máu đi đến các cơ quan tổ chức của cơ thể ở đó một phần thuốc sẽ liên kết với các receptor và gây ra tác dụng dược lí Hiệu quả điều trị và tác dụng dược lí của thuốc cao hay thấp tuỳ thuộc vào liên kết này (Lê Thị Ngọc Diệp, 1997 [3]) Phần còn lại sẽ tiếp tục kết hợp với các thụ cảm và tồn tại dưới dạng dự trữ Thuốc dự trữ ở các cơ quan và ở protein huyết thanh sẽ được giải phóng dần trở lại máu Quá trình này nhanh hay chậm tuỳ
Huyết tương
Thuốc tự do
LK Chất chuyển hoá
hấp thu
Chuyển hoá
Trang 14thuộc vào hoạt tính của các men chuyển hoá thuốc và khả năng đào thải thuốc của cơ thể
2.1.3 Quá trình chuyển hoá thuốc trong cơ thể
Chuyển hoá thuốc thực chất là quá trình biến đổi thuốc sang các dạng
dễ đào thải ra khỏi cơ thể, từ dạng không hoặc ít phân cực sang dạng phân cực mạnh, không được tái hấp thu qua ống thận Có thể xem đây là quá trình giải
độc của cơ thể vì độc tính của thuốc bị giảm, hoặc mất tác dụng sinh học Tuy nhiên, cũng có trường hợp qua chuyển hoá lại tăng độc tính (Hoàng Tích Huyền và cộng sự, 2001 [13])
Quá trình chuyển hoá thuốc trong cơ thể gồm hai pha, được thể hiện ở sơ đồ tổng quát sau:
Pha 1 Pha 2
Các sản phẩm
chuyển hoá
Tiếp theo quá trình chuyển hoá thuốc là quá trình thải trừ thuốc
2.1.4 Quá trình thải trừ thuốc
Hầu hết các thuốc đều là chất lạ đối với cơ thể, nên thường bị đào thải
ra khỏi cơ thể theo nhiều đường khác nhau như đường tiết niệu, đường tiêu hoá, qua phổi, qua da, vv Các thuốc có thể bị thải trừ ở dạng không đổi hoặc ở dạng chuyển hoá (sản phẩm của quá trình chuyển hoá thuốc) Các cơ quan bài tiết (trừ phổi) dễ thải các chất phân cực Các chất tan trong dầu mỡ cần được chuyển thành chất phân cực mới dễ đào thải (Lâm Hồng Tường và cộng sự,
2000 [28])
2.1.4.1 Thải trừ thuốc qua thận
Đây là đường thải trừ thuốc quan trọng nhất, chiếm khoảng 90% và phụ thuộc vào ba quá trình: siêu lọc qua tiểu cầu thận, tái hấp thu ở ống thận và bài tiết tích cực qua ống thận Các quá trình này phụ thuộc rất nhiều vào áp
Phản ứng oxy hoá
Phản ứng khử
Phản ứng thuỷ phân
Phản ứng liên hợp
Các sản phẩm của phản ứng liên hợp Thuốc
Trang 15lực thuỷ tĩnh của máu ở tiểu cầu thận, tính thấm của màng đối với thuốc
2.1.4.2 Thải trừ thuốc qua đường tiêu hoá
Đây là đường thải trừ cơ bản của thuốc không hoặc khó hấp thu khi cho theo đường tiêu hoá như: Ganidan, Streptomycin, Furazolidon Các thuốc là Alcaloid có thể từ máu qua niêm mạc dạ dày, xuống ruột sau đó một phần
được tái hấp thu vào máu qua niêm mạc ruột tạo nên chu trình dạ dày - ruột Phần còn lại bị thải trừ ra ngoài theo phân
Các thuốc được thải trừ qua dịch mật thì có cơ chế tương tự như các Alcaloid, nhưng chúng tạo nên chu trình gan - ruột Các thuốc thải trừ nhiều
theo đường này gồm: một số chất màu, các muối kim loại nặng, iodua
2.1.4.3 Thải trừ thuốc qua phổi
Đây là đường thải trừ chủ yếu của các thuốc dễ bay hơi như: ete, fluotan, cồn, paraaldehyt, long não Chúng được đưa ra khỏi cơ thể cùng với quá trình trao đổi khí của cơ thể
2.1.4.4 Thải trừ thuốc qua tuyến sữa
ở các gia súc đang trong thời kỳ tiết sữa, rất nhiều loại thuốc có thể
được thải trừ theo đường này Đặc biệt là các thuốc tan tốt trong lipit Do đó, người ta có thể điều trị bệnh cho các gia súc sơ sinh bằng cách cho con mẹ dùng thuốc Tuy nhiên, đây cũng chính là cơ chế gây tồn dư kháng sinh trong sữa, nên phải tuân thủ nghiêm ngặt các hướng dẫn sử dụng thuốc trong các trường hợp này
2.1.4.5 Thải trừ thuốc qua da
Các muối halogen (Cl-, Br-, I- ), các axit hữu cơ và một số ít các chất
chứa N, phần lớn Carbamid thải trừ qua da
Trang 162.2 Một số hiểu biết về thuốc kháng sinh
2.2.1 Định nghĩa kháng sinh
Kháng sinh là thuật ngữ Việt Nam phiên âm từ danh từ Hán Việt (kháng sinh tố) Danh pháp quốc tế là antibiotic Trước kia danh từ này được dùng để chỉ một nhóm chất có nguồn gốc từ vi sinh vật, có tác dụng tiêu diệt hoặc kìm hãm vi khuẩn gây bệnh cho người hoặc gia súc, ở liều lượng nhỏ là không hoặc ít có hại cho vật chủ Như vậy, định nghĩa này đã loại trừ các hợp chất tổng hợp nhân tạo (sulfamide, nitrofurane ) mà người ta thường tập hợp dưới thuật ngữ chất kháng khuẩn tổng hợp (hoặc kháng khuẩn hay chống nhiễm trùng)
Waksman năm 1942, người tìm ra Streptomycine và nhận được giải Nobel đã định nghĩa kháng sinh như sau: "Một chất kháng sinh hay một hợp chất có tính kháng sinh là do các vi sinh vật sản xuất ra có khả năng ức chế sự phát triển hoặc tiêu diệt vi khuẩn khác"
Turpin Velu năm 1957, định nghĩa kháng sinh như sau: "Hợp chất do một cơ thể sống tạo ra hoặc chất tổng hợp có hệ số hoá học trị liệu cao, có tác dụng điều trị đặc hiệu với liều rất thấp do ức chế một số quá trình sống của virus, vi sinh vật và ngay cả một số tế bào của các cơ thể đa bào" Ngày nay, kháng sinh có khái niệm rộng hơn, ngoài các kháng sinh thiên nhiên còn gồm cả những chất có nguồn gốc từ thực vật thượng đẳng như phytocide và những chất kháng sinh khác có nguồn gốc tổng hợp hay bán tổng hợp dựa theo cấu trúc hoá học của các chất tự nhiên Các thuốc này không chỉ có tác dụng với vi khuẩn mà còn có tác dụng chống đơn bào ký sinh
Kháng sinh còn bao gồm cả những thuốc có tác dụng diệt nấm gây bệnh hoặc kìm hãm sự phát triển của tế bào ung thư Do vậy, theo định nghĩa thông thường đã được chấp nhận: Kháng sinh là chất do vi nấm hoặc do vi khuẩn tạo ra, hoặc do bán tổng hợp (như ampicilline, ampikacine ), có khi là chất tổng hợp (như chloramphenicol, isoniazid, các quinolon) có tác dụng điều
Trang 17trị đặc hiệu với liều thấp do ức chế một số quá trình sống của vi sinh vật (Lê Thị Ngọc Diệp, 1999 [4]; Hoàng Tích Huyền và cộng sự, 2001 [13])
2.2.2 Phân loại kháng sinh
Giúp cho việc định hướng lựa chọn cũng như sử dụng thuốc kháng sinh
có hiệu quả trong điều trị, các nhà khoa học đã phân loại thuốc kháng sinh dựa trên cơ sở sau: phân loại theo nguồn gốc, theo hoạt phổ kháng sinh, theo mức
độ tác dụng, theo cơ chế tác dụng, theo cấu trúc hoá học Cách phân loại theo cấu trúc hoá học thường được sử dụng nhiều nhất vì hoạt phổ, mức độ, cơ chế tác dụng và cấu trúc hoá học gắn bó chặt chẽ với nhau (Hoàng Tích Huyền,
1997 [12], Lê Thị Ngọc Diệp, 1999 [4]) Với cơ sở này, người ta đã phân loại thuốc kháng sinh ra thành các nhóm sau:
2.2.2.1 Nhóm β-lactamin
Nhóm thuốc kháng sinh này được gọi là nhóm β-lactamin vì trong
công thức phân tử của chúng có một liên kết β-lactamin Liên kết này rất yếu,
dễ bị đứt và từ đó hoạt tính kháng sinh cũng giảm theo Nhóm này gồm hai phân nhóm chính là: penicilline và cephalosporin (Hoàng Tích Huyền, 1997 [12]; Hoàng Thị Kim Huyền và cộng sự, 2001 [15])
2.2.2.2 Nhóm aminoglycozit (Aminozit)
Gọi là nhóm aminoglycozit vì trong phân tử của chúng có đường đính theo nhóm amin Các phân tử của nhóm này khá lớn do đó khó hấp thụ được qua niêm mạc ruột vào máu Bởi vậy cho uống có tác dụng điều trị bệnh nhiễm trùng đường ruột rất tốt nhưng nhiễm trùng máu hoặc các bộ phận khác trong cơ thể thì phải tiêm Thuốc được dùng nhiều nhất của nhóm này là streptomycine, dihydro streptomycine, gentamycine, kanamycine
2.2.2.3 Nhóm chloramphenicol
Lần đầu tiên, chloramphenicol được chiết ra từ môi trường nuôi cấy streptomyces venezuelae Do có công thức tương đối đơn giản, hiện nay đã
Trang 18được tổng hợp toàn phần Nhóm này gồm các thuốc có tính kìm khuẩn, hoạt phổ kháng sinh rộng, có tác dụng kìm hãm sự phát triển của cầu khuẩn, ricketsia và mycoplasma
2.2.2.4 Nhóm tetracycline
Là những chất có cấu tạo bằng 4 vòng 6 cạnh nối liền nhau (tetra là 4, cycline là vòng), chỉ khác nhau ở các gốc gắn vào vòng Thuốc đầu tiên của nhóm được tìm ra từ stroptomyces aureopfaciens là chlotetrecycline (năm 1947) Sau đó là các loại:
+ Tác dụng ngắn: Tetracycline, Oxytetracycline
+ Tác dụng trung bình: Dimethylchlotetrecycline, Methacycline
+ Tác dụng dài: Doxycycline, Mynocycline
Nhóm này có tính kìm khuẩn, hoạt phổ kháng sinh rộng nhất trong các nhóm kháng sinh được biết hiện nay, nhưng là những chất khá độc đối với gan, thận và thần kinh
2.2.2.5 Nhóm polipeptide
Trong phân tử chúng có nhiều liên kết peptit, bao gồm các chất: bacxitraxin, subtilis, tyrothricin, colistin, polymicin B Các chất này có tính phân cực, tích điện dương ở pH trung tính, có tác dụng diệt khuẩn, hoạt phổ kháng sinh hẹp Bacxitraxin, subtilis, tyrothricin tác dụng chủ yếu với vi khuẩn gram (+), Polymixin tác dụng với vi khuẩn gram (-) Chúng có tác dụng với cả vi khuẩn đang phát triển và các dạng ngừng phát triển Bacxitraxin và Tyrothricin có tác dụng gần giống các chất tẩy bột (detergent) đối với các màng tế bào nên không dùng toàn thân Khi sử dụng cần đề phòng độc với thận và suy hô hấp (Hoàng Tích Huyền và cộng sự, 2001 [13])
Cho uống, nhóm thuốc này dễ bị phá huỷ bởi các men tiêu hoá Bằng cách tiêm, thuốc hấp thu chậm và gây độc đối với thận
Trang 192.2.2.6 Nhóm macrolide
Là những chất đại phân tử, trong cấu trúc có chứa một vòng lacton lớn
Được chiết suất từ các chủng Streptomyces khác nhau như: Spiramycine, Erythromycine, Tylosin, Oleandomycine có tính kìm khuẩn đối với cầu khuẩn gram (+) cũng như đối với mycoplasma, đào thải chủ yếu qua mật Lượng spiramycine cố định trên các tổ chức lớn hơn từ 10-50 lần hoà tan trong máu,
ở nồng độ đó, trở thành một kháng sinh diệt khuẩn
Nhóm thuốc này đối kháng với nhóm β-lactamin, nhưng lại hiệp đồng với nhóm tetracycline và rifamycine Nhóm này có tác dụng tốt khi điều trị các bệnh nhiễm khuẩn đường hô hấp
2.2.2.7 Nhóm kháng sinh chống nấm
Các thuốc thuộc nhóm này chỉ tác dụng đặc hiệu với các nấm ký sinh (các bệnh do nấm) mà không tác dụng đối với các vi trùng, gồm các loại sau: amphotericin B, nystatin, griseofulvin, flucytosine, ketoconazole Nystatin có tác dụng tốt trên các loại nấm men: candida, histoplasma capsulatum, cryptococcus, coccidioides Thuốc gắn vào sterol của màng, làm rối loạn tính thấm và hủy hoại màng nên có tác dụng kìm và diệt nấm
2.2.2.8 Các nhóm khác
Ngày nay dưới sự phát triển mạnh mẽ của ngành khoa học phân tử, ngành hoá dược tổng hợp được rất nhiều chất mới có cấu trúc hoá học đa dạng nhưng chúng lại có cơ chế tác dụng như các thuốc kháng sinh Do đó chúng cũng được sử dụng như là thuốc kháng sinh thông thường hoặc làm bổ trợ cho các thuốc khác Theo (Hoàng Thị Kim Huyền và cộng sự, 2001 [15]) nhóm này gồm các thuốc sau:
a Các Quinolone
+ Quinolone kinh điển (thế hệ I) gồm các thuốc sau: axit nalidixic, axit oxolinic, axit piromidic, axit pipemidic, và flumequin
Trang 20+ Quinolone thế hệ II ( Fluroquinolone) trong cấu trúc của các thuốc này có chứa Flo và nhân piperazin gồm: norfloxacin, ofloxacin, ciprofloxacin, rosoxacin, enrofloxacin, pefloxacin
+ Quinolone thế hệ III gồm: grepafloxacin, sparfloxacin, tosufloxacin, gatifloxacin, và pazufoxacin
+ Quinolone thế hệ IV gồm: trovalfloxacin, moxifloxacin, gemifloxacin, clinafloxacin
b Các dẫn xuất của sulfanilamide
Các sulfamide được đặc trưng bởi một cấu trúc đơn giản thuộc nhóm sulfonamide Dựa theo khả năng thải trừ được chia thành:
+ Thải trừ nhanh: sulfafurazol, sulfamethizol
+ Thải trừ hơi chậm: sulfadiazine, sulfamethoxazol
+ Thải trừ chậm: sulfamethoxypyridazin (SMP), sulfamethoixydiazin + Thải trừ rất chậm: sulfadoxine
+ Khi uống khó hấp thu qua đường tiêu hóa: sulfaguanidin (ganidan), phtanyl, sulfathiazol dùng điều trị một số bệnh đường ruột
c Các nitro - imidazole
Nhóm này có tác dụng tại chỗ (đường tiêu hóa, da) hoặc toàn thân gồm: metromidazole, omidazole, tinidazole, niridazole, senidazole, thuốc nhóm này thường ít tan trong nước, không ion hóa ở pH sinh lí, khuếch tán rất nhanh qua màng sinh học Được dùng chống đơn bào từ năm 1960 và dùng chống vi khuẩn kị khí từ năm 1970
d Các dẫn suất nitrofuran
Thuốc thuộc nhóm này không bị phá huỷ bởi pH của dịch vị, nhưng khi gặp ánh sáng sẽ giải phóng gốc nitrit (-NO2) gây độc Tiêu biểu là các thuốc:
+ Loại I: nitrofurantoin, hydroxymethyl-nitrofurantoin, nifurfolin
+ Loại II: furazolidon, nifuratel
+ Loại III: nitrofural, nifuroxazid
Trang 21Cơ chế tác dụng là: ức chế chu trình Krebs và quá trình sinh tổng hợp ADN, ARN vi khuẩn
2.2.3 Nguyên tắc sử dụng thuốc kháng sinh
Muốn phát huy tác dụng tối đa của thuốc, hạn chế các tác hại, ngăn cản khả năng kháng thuốc, cần phải tuân thủ theo đúng các nguyên tắc sau: (Goodman and Gilman, 1992 [41]; Eistein R, 1994 [37]; Lê Thị Ngọc Diệp,
1999 [4]; Hoàng Tích Huyền, 1997 [12]; Hoàng Thị Kim Huyền và cộng sự,
2000 [14])
- Chỉ sử dụng kháng sinh khi có kết luận chắc chắn là bệnh nhiễm khuẩn hoặc khi có kết quả làm kháng sinh đồ Đối với mầm bệnh đã biết, nên dùng các kháng sinh có hiệu lực nhất, ít độc và có phổ tác dụng hợp nhất
- Lựa chọn đúng thuốc, đúng bệnh, dùng liều công kích ngay từ đầu, vì
ở liều thuốc đầu tiên một phần thuốc tự do cần kết hợp bão hoà với protein huyết tương Tránh dùng liều thấp hay tăng dần liều trong quá trình điều trị sẽ gây hiện tượng quen thuốc, kháng thuốc
- Dùng thuốc kháng sinh càng sớm càng tốt vì lúc này vi khuẩn đang phát triển và chịu tác dụng của thuốc nhiều nhất
- Chọn đường đưa thuốc thích hợp, đủ liều lượng, đủ liệu trình để luôn giữ nồng độ thuốc kháng sinh có tác dụng điều trị trong cơ thể Nếu cần thiết phải thay kháng sinh khác
- Nên phối hợp thuốc khi điều trị để làm tăng khả năng diệt khuẩn, hạn chế hiện tượng nhờn thuốc, kháng thuốc của vi khuẩn dẫn tới tăng hiệu quả
điều trị
- Trong thời gian dùng thuốc nên kết hợp bổ sung các loại vitamin và
điều tiết khẩu phần ăn hợp lí nhằm nâng cao sức đề kháng của cơ thể
Trang 222.3 Thuốc kháng sinh nhóm quinolon
2.3.1 Lịch sử phát triển
Thuốc đầu tiên trong nhóm được phát hiện năm 1962 là axit Nalidixic
Từ đó đến nay, nhờ sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, rất nhiều thuốc mới
đã được ra đời Quinolone là nhóm kháng sinh thế hệ mới, có hoạt phổ kháng sinh rộng, có tác dụng diệt khuẩn tốt đối với một số loại vi khuẩn, đặc biệt chống các vi khuẩn ưa khí gram (-)
Hiện nay nhiều quinolone mới được tổng hợp, một số có ưu điểm so với các chất trước Những quinolone mới hiện nay có bán, và thời gian được duyệt
để sử dụng trong lâm sàng ở Mỹ gồm: norfloxacin (1986), ciprofloxacin (1987), ofloxacin (1991), tenafloxacin (1992)
Một số thuốc bị thu hồi trong năm 1992 vì có độc tính: clinaxacin (1992), sperfloxacin (1996), grepafloxacin (1997) và trovafloxacin (1997) Các quinolone không được duyệt sử dụng trong lâm sàng ở Mỹ nhưng có bán
ở những nước khác gồm: pefloxacin, fleroxacin (1997) và tusofloxacin
Ngoài ra có một số quinolone mới đang trong giai đoạn nghiên cứu lâm sàng là: rufloxacin, parufloxacin, gatifloxacin, clinafloxacin, sitafloxacin và oxifloxacin Cũng có một số quinolone mới đang trong giai đoạn triển khai ban đầu như pralifloxacin (pd - 140288), nadifloxacin, nalofloxacin, CFC -
222, CS - 940, HSR - 903, CG 5501 và DW - 116 Một phân nhóm mới của quinolone cũng đang được khảo sát bao gồm MBS - 284756 (T - 3811) và một
số chất khác bị khử fluo, ở đó Flo ở C-6 bị thay bằng một gốc amino để tạo nên một nhóm aminoquinolon
Hiện nay đã có nhiều tiến bộ đáng kể trong việc triển khai những thuốc quinolone mới, về cơ chế tác động ở mức độ phân tử của quinolone và những yếu tố dẫn tới kháng quinolone đang ngày càng được làm sáng tỏ hơn Phát hiện chủ chốt đầu tiên được Gillertert và cộng sự, 1995 [39] tìm ra đó là sự ức chế của quinolone đối với enzym DNA-gyrase (Topoisomeraza II) Đây là một
Trang 23enzyme quan trọng tham gia vào quá trình tổng hợp các axit nhân của vi khuẩn Sự phát hiện này đã đưa đến những hiểu biết rõ hơn về cơ chế tác dụng kháng khuẩn của các quinolone mới Phát hiện chủ chốt thứ hai góp phần phát triển nhanh chóng các quinolone mới là khả năng xử lí hoá học nhân 4 quinolone Phân tử cơ bản đã được thay đổi vị trí N-1 có thêm nhiều nhóm khác nhau ở các vị trí C-6, C-7, C-8 Những biến đổi này đưa đến nhiều thay
đổi lớn về hoạt tính kháng khuẩn, dược động học và chuyển hoá các quinolone
2.3.2 Phân loại
Để thuận tiện cho việc sử dụng, người ta đã phân loại quinolone thành các thế hệ khác nhau theo độ mạnh và hoạt phổ kháng khuẩn (Huỳnh Thị Kim Thoa, 1996 [27]; Vicent T.Andriole, 1998 [50])
Bảng phân loại quinolone của Vicent T.Andriole, 1998 [50]
Thế hệ I Thế hệ II Thế hệ III Thế hệ IV
Acid nalidisic Norfloxacin Sparfloxacin Trovafloxacin
Acid oxolonic Ciprofloxacin Tosufloxacin Clinafloxacin
Cimoxacin Enrofloxacin Gatifloxacin Sitafloxacin Acid piromedic Fleroxacin Pazufloxacin Moxifloxacin
Acid pipemedic Lomefloxacin Grepafloxacin Gemifloxacin
Flumequin Ofloxacin
Levofloxacin
Rufloxacin
2.3.3 Cơ chế tác dụng của quinolone
Cho đến nay người ta đã xác định được cơ chế tác dụng của quinolone như sau:
a Tác dụng ức chế DNA Topoisomerase (Gyrase)
Trang 24Đây là enzym quan trọng tham gia vào quá trình tổng hợp axit nhân của
tế bào vi khuẩn Bình thường tuỳ thuộc vào từng giai đoạn, các DNA của tế bào vi khuẩn tồn tại dưới hai dạng: dạng thả lỏng và dạng xoắn Khi tiến hành sao chép chúng sẽ tồn tại ở dạng thả lỏng nhờ DNA - Gyrase (Topoisomerase) (có nhiệm vụ duỗi xoắn tạm thời DNA để thực hiện quá trình tổng hợp DNA mới và sau đó đóng lại) Enzym là một đích tác dụng của quinolone, khi bị các quinolone gắn vào chúng sẽ bị vô hoạt Do đó quá trình tổng hợp DNA của vi khuẩn bị ức chế làm cho vi khuẩn bị tiêu diệt
b Tạo chelat
Do trong cấu trúc có chứa axit β-cetonic nên các quinolone có thể tạo chelat với các cation hoá trị II (Mg++, Cu++, nhất là Fe++) Vì vậy các metal-protein có thể là những mục tiêu tiềm tàng thu hút các quinolone
Người ta cho rằng: các chelat tương ứng với những phức hợp đẳng phân
tử điện dương (những phức hợp mà số phân tử quinolone/số cation là 1/1 thì
sẽ thể hiện tác dụng diệt khuẩn, nếu tỷ số đó là 2/1 thì không có tác dụng Do
đó với nồng độ quinolone tăng dần (trên 100àg/ml), thì tác dụng diệt khuẩn lại chuyển thành kìm khuẩn, có lẽ do ức chế tổng hợp ARN (Huỳnh Thị Kim Thoa, 1996 [27])
2.3.4 Dược động học của quinolone
2.3.4.1 Sự hấp thu
Quinolone thường dùng theo đường uống, tuy nhiên Enrofloxacin, Ciprofloxacin có thể dùng theo các đường: tiêm ven (IV), tiêm bắp (IM), tiêm dưới da (SC) Sự hấp thu vào máu sau khi tiêm IM, SC rất nhanh, sau khi cho uống nồng độ đạt tối đa trong máu sau 1-3 giờ Hoạt tính sinh học thường lớn hơn 80% cho hầu hết các quinolone, loại trừ loài nhai lại do tác dụng của dạ dày trước nên hoạt tính sinh học chỉ còn 20% Thức ăn có thể làm chậm hấp
Trang 25thu quinolone ở loài dạ dày đơn Hoạt tính sinh học của Enrofloxacin sau khi uống trên chó khoảng 40%
2.3.4.2 Sự phân bố
Quinolone (ngoại trừ cinoxacin) có khả năng thâm nhập hầu hết các mô rất nhanh Đặc biệt hàm lượng rất cao ở thận, gan, túi mật cũng như hệ thần kinh trung ương, tuyến prostate, nội tâm mạc Hàm lượng bị kết hợp với protein huyết tương cũng rất khác nhau 10% với Norfloxacin, lớn hơn 90%
với acid Nalidixic
2.3.5 Tác dụng phụ của quinolone
Đặc tính của những quinolone đầu tiên rất thấp, so với các tác nhân kháng khuẩn thông dụng khác, các Fluoroquinolon có thể được coi là dung nạp tương đối tốt Tác dụng phụ thường gặp nhất là về tiêu hoá và hệ thần kinh trung ương Rối loạn tiêu hoá (biếng ăn, buồn nôn, ỉa chảy, khó tiêu, đầy bụng) là những tác dụng phụ được thông báo nhiều nhất (từ 2-11%), các phản ứng ở hệ thần kinh (1-7%) có thể xảy ra như nhức đầu, choáng váng, mệt nhọc, chóng mặt, ngất, mất ngủ, ù tai và thay đổi cảm giác Những phản ứng nặng gây độc thần kinh hiếm gặp (<0,5%) gồm phản ứng tâm thần, ảo giác, trầm cảm, động kinh, đều hồi phục khi ngừng thuốc Các tác dụng trên hệ thần kinh trực tiếp liên quan đến sự gắn quinolone vào các thụ thể GABA dẫn đến kích thích hệ thần kinh trung ương Phản ứng tăng cảm giác chiếm (0,4-2%) bao gồm ban, đỏ, ngứa, mày đay, cũng hiếm gặp các đợt hạ huyết áp, tim đập nhanh, phản ứng độc với thận (tinh thể niệu), tăng creatinin huyết thanh, giảm tiểu cầu, giảm bạch cầu, thiếu máu Như trên đã nói nhóm quinolone là một nhóm kháng sinh thế hệ mới và trong thập kỷ vừa qua đã tổng hợp được rất nhiều quinolone (quinolone thế hệ I, thế hệ II, thế hệ III) nhưng trong giới hạn của đề tài, chúng tôi chỉ đi sâu vào nghiên cứu thuốc Enrofloxacin
Trang 262.4 Một số hiểu biết về thuốc kháng sinh ENROFLOXACIN 2.4.1 Tính chất và cấu trúc hoá học của Enrofloxacin
Enrofloxacin là thuốc kháng sinh, có hoạt phổ kháng khuẩn rộng, tác động
lên rất nhiều loại vi khuẩn nh−: E.coli, Salmonella, Klebsiella, Enterobacter, Pasteurella, Hemophylus, Pseudomonas, Brucella, Corynebacterium, Chlamydia, Streptococcus faecalis, S.pyogenes, S.pneumoniae và Mycoplasma
Trang 272.4.3 Cơ chế tác dụng của Enrofloxacin
Cũng như cơ chế tác dụng chung của nhóm, Enrofloxacin phát huy tác dụng diệt khuẩn bằng cách ức chế men ADN-Gyrase Từ đó ngăn cản quá trình sinh tổng hợp axit nhân của vi khuẩn và làm cho vi khuẩn mất khả năng sinh sản và nhanh chóng bị tiêu diệt
2.4.6 ứng dụng điều trị của Enrofloxacin
Enrofloxacin được chỉ định chữa các bệnh nhiễm khuẩn đường hô hấp,
đường tiêu hóa hay kết hợp bệnh hô hấp và tiêu hoá ở gia súc gia cầm như: CRD, nhiễm E.coli huyết ở gà, viêm xoang ở gà tây, bệnh khẹc vịt, bệnh thương hàn, bạch lị, bệnh phân trắng phân xanh (colisepticaemia); bệnh tụ huyết trùng (pasteurellosis)
Đối với gia súc: bệnh viêm phổi truyền nhiễm mãn tính do Mycoplasma (suyễn lợn), các bệnh ỉa chảy nói chung, các bệnh phân trắng ở lợn con và bê nghé, các bệnh ỉa chảy không rõ nguyên nhân, nhiễm khuẩn huyết, E.coli phù
đầu, hậu phẫu hay các bệnh nhiễm khuẩn kết hợp
Trang 282.5 Tình hình nghiên cứu về các thuốc kháng sinh nhóm quinolone
2.5.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Các kháng sinh nhóm quinolone hiện nay đang được ứng dụng rộng rãi trong điều trị nhân y cũng như trong thú y Quinolone có tác dụng với nhiều loại vi khuẩn gây bệnh, đặc biệt là tác nhân gây bệnh đường hô hấp (kịch phát nhiễm khuẩn viêm phế quản và viêm phổi) (Richard Adam H., 1995 [46],
đường tiết niệu (biến chứng và không biến chứng), da, mô mềm, xương, khớp,
đáp ứng tốt với quinolone uống (Allan Ronald, 1998 [31]; Danil P et all, 1998 [35]) Nhiễm khuẩn đường tiêu hoá, đặc biệt là ỉa chảy do E.coli gây độc, Salmonella (Charlotta E Et all, 1998 [34]) Ngoài ra một số gây bệnh lây nhiễm qua đường sinh dục, nhiễm khuẩn chậu hông cũng có thể chữa trị bằng quinolone uống (Margaret R., 1998 [44]) Một số công trình nghiên cứu gần
đây với một số quinolone mới nhất đã chứng minh hiệu quả rất tốt với các nhiễm khuẩn trong ổ bụng, nhiễm khuẩn sau phẫu thuật bụng và cả trong một
số nhiễm khuẩn phụ khoa do thuốc có phổ tác dụng chống vi khuẩn kị khí
Kết quả nghiên cứu của Add el - Aziz MI và cộng sự, 1997 [30] về dược
động học và sinh khả dụng của Enrofloxacin trên gà cho theo đường tiêm tĩnh mạch, tiêm bắp, tiêm dưới da, đường uống liều 10 mg/kgP cho thấy thuốc Enrofloxacin phân bố nhanh, thải trừ chậm, thể tích phân bố là 2,2 l/kg, thời gian thuốc hấp thu 1/2 tương ứng với đường tiêm bắp, tiêm dưới da, và đường uống lần lượt là: 0,37 giờ, 0,36 giờ, 0,92 giờ; thời gian thuốc bán thải là: 4,06 giờ, 4,48 giờ, và 4,29 giờ; sinh khả dụng là: 87,5%, 80,8%, 59,6% Sau khi uống 3 ngày thuốc Enrofloxacin được giải phóng hoàn toàn ra khỏi cơ thể
Theo Vicent T Andriole, 1998 [50], nhóm kháng sinh quinolone hấp thu tốt qua đường tiêu hoá và các đường sinh học khác Sự hấp thu nhanh và
đạt nồng độ tối đa sau khi cho thuốc từ 1-2 giờ Trong đường tiêu hoá, thuốc
Trang 29hấp thu tốt ở khu không có thức ăn, nhưng bị giảm khi có mặt của các cation:
Al3+, Mg2+, Ca2+, Fe2+ Đây là những ion thường xuyên tìm thấy trong các muối axit và các thuốc khác Sau khi được hấp thu thuốc tập trung cao trong các mô, dịch kẽ và nguyên sinh chất
Kết quả nghiên cứu của các tác giả Randinitis E.F., 1998 [45]; Turnidge T., 1998 [49] về dược động học một số thuốc kháng sinh trong nhóm này cho vào cơ thể theo đường uống, đường tiêm đều hấp thu và dung nạp tốt, không gây phản ứng phụ cho cơ thể
Cũng như các fluroquinolon khác Enrofloxacin được dung nạp và hấp thu tốt cả bằng đường tiêm và đường uống Tỉ lệ thuốc gắn với protein huyết tương là 20,7% (Bugei, Kawasi, 1999 [33]) Hàm lượng thuốc phân bố trong các mô và trong huyết tương đạt tối đa sau 1-2 giờ Nồng độ này giảm xuống nhưng vẫn duy trì hiệu lực trong 24 giờ Thuốc được thải trừ nhanh chóng chủ yếu dưới dạng không còn hoạt tính trong nước tiểu và trong phân Do đó thời gian thải trừ của thuốc rất ngắn
ở Ai Cập, tác giả Soliman, 2000 [48] đã nghiên cứu sự hấp thu và phân
bố Enrofloxacin trong mô lợn khoẻ với lợn mắc bệnh do E.coli với liều 5 mg/kgP cho theo đường tiêm: nồng độ thuốc trong huyết tương lợn ốm thấp hơn trong lợn khoẻ Thời gian bán thải của thuốc trong lợn khoẻ là 3,24 giờ, ở lợn ốm là 2,96 giờ Thời gian thuốc hấp thu 1/2 ở lợn bệnh dài hơn lợn khoẻ Thuốc sau khi được hấp thu tập trung nhiều ở các bộ phận: Gan, thận, cơ ngực, tim
Các tác giả Trung Quốc: Hu, Gonzheng, Feng, Qihui, 2000 [43] đã nghiên cứu dược động học của kháng sinh Enrofloxacin trên gà mắc bệnh Cozyra Kết quả cho thấy: khi dùng thuốc theo đường tiêm bắp thời gian hấp thu 1/2 là 0,25 giờ, thời gian phân bố 1/2 là 5,46 giờ Khi dùng thuốc theo
đường uống thời gian hấp thu 1/2 là 1,7 giờ, thời gian phân bố 1/2 là 9,24 giờ Các tác giả này kết luận Enrofloxacin ở cơ thể gà mắc bệnh được hấp thu
Trang 30nhanh và thải trừ chậm
Theo Booth DM., 2002 [32] kháng sinh Enrofloxacin thí nghiệm trên chó cho theo đường uống kết quả cho thấy nồng độ Enrofloxacin đạt tối đa trong huyết tương tương ứng với các liều 7,5; 10 và 20 àg/ml là 2,12; 2,1 và 4,74 àg/ml Thời gian bán thải của thuốc từ 4,6 - 5,2 giờ
Theo Ramesh S và cộng sự, 2002 [47] nồng độ Enrofloxacin trong huyết tương đạt 0,3 ± 0,13àg/ml tại thời điểm 5 phút và đạt nồng độ tối đa là 2,91± 0,39àg/ml tại 2,9 ± 0,51 giờ sau khi tiêm dưới da trên dê với liều 7,5 mg/kgP Thời gian bán thải của thuốc là 2,84 ± 0,57 giờ Các tác giả kết luận Enrofloxacin có thể tiêm dưới da để điều trị bệnh nhiễm khuẩn ở dê
Enrofloxacin có tác dụng điều trị gà bị bệnh và chết do nguyên nhân E.coli tốt hơn oxytetrecyclin và sulfadimethoxine (Glisson JR và cộng sự,
2004 [40])
Theo Helmick KE., 2004 [42] nghiên cứu so sánh dược động học của Enrofloxacin trên cá sấu Mỹ cho theo đường tiêm tĩnh mạch và đường uống liều 5mg/kgP, kết quả cho thấy:
+ Enrofloxacin cho theo đường tiêm tĩnh mạch có nồng độ thuốc trong huyết tương là 4,19 àg/ml tại 0 giờ và thuốc duy trì nồng độ trên 1àg/ml trong suốt 36 giờ; thể tích thuốc phân bố là 1,88 ± 0,96 l/kg; thời gian bán thải là 21,05 giờ
+ Enrofloxacin cho theo đường uống có nồng độ thuốc trong huyết tương đạt từ 0,08 đến 0,5 àg/ml tại các thời điểm lấy mẫu kiểm tra Thời gian bán thải là 77,73 giờ
Các tác giả kết luận với liều trên Enrofloxacin chỉ có tác dụng điều trị bệnh cho cá sấu Mỹ khi cho theo đường tiêm tĩnh mạch còn khi cho theo
đường uống thì không có tác dụng điều trị
Trang 312.5.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Nghiên cứu của Lê Thị Ngọc Diệp và cộng sự về dược động học của Norfloxacin và Enrofloxacin trên thỏ, 2001 Kết quả cho thấy:
- Kháng sinh Enrofloxacin khi cho theo đường tiêm, thuốc đạt nồng độ tối đa trong huyết tương lúc 2 giờ, còn đối với lô uống là 6 giờ
- Norfloxacin cho theo đường tiêm đạt nồng độ cao nhất trong huyết tương sau 2 giờ, khi cho theo đường uống đạt nồng độ tối đa trong huyết tương lúc 4 giờ Cả hai thuốc Enrofloxacin và Norfloxacin cho theo đường uống đều giải phóng khỏi huyết tương thỏ sau 96 giờ
2.6 Một số hiểu biết về hội chứng ỉa chảy ở lợn
ỉa chảy là từ để chỉ hiện tượng đại tiện phân lỏng hoặc toé nước, đi 3-4 lần trong một ngày ỉa chảy dẫn đến động vật bị chết với tỉ lệ cao, hậu quả đầu tiên của ỉa chảy là suy dinh dưỡng, thiệt hại to lớn về kinh tế, lí do là bệnh súc
ăn ít lúc ỉa chảy và khả năng hấp thu chất dinh dưỡng giảm
2.6.1 Nguyên nhân gây ỉa chảy ở lợn
ỉa chảy của lợn xuất hiện ở khắp nơi trên thế giới, tỉ lệ mắc bệnh cao và
ở nhiều lứa tuổi lợn khác nhau Cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về nguyên nhân gây bệnh, các tác giả đã chứng minh rằng ở các lứa tuổi khác nhau thì nguyên nhân gây bệnh cũng khác nhau
Theo Lê Minh Chí, 1996 [1] ngày nay người ta thống nhất rằng: ỉa chảy
là một hiện tượng bệnh lí có liên quan đến rất nhiều nguyên nhân và nhiều yếu
tố Việc phân chia nguyên nhân chỉ có ý nghĩa tương đối, chỉ nêu nên yếu tố nào là chính, yếu tố nào là phụ để đưa ra phác đồ điều trị
Theo Đào Trọng Đạt, Phan Thanh Phượng, Lê Thị Ngọc Mỹ, Huỳnh Văn Kháng, 1996 [6] cũng như các tác giả khác, chia nguyên nhân gây ỉa chảy thành các nhóm sau:
- Nguyên nhân gây ỉa chảy do vi khuẩn
Trang 32- Nguyên nhân gây ỉa chảy do virus
- Nguyên nhân gây ỉa chảy do ký sinh trùng
- Nguyên nhân gây ỉa chảy do môi trường, chăm sóc, quản lí
Do phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng tôi chỉ điều trị thử nghiệm tiêm Enrofloxacin trên lợn bị ỉa chảy do vi khuẩn hoặc do môi trường, chăm sóc, quản
lí yếu kém làm cho lợn bị giảm sức đề kháng dẫn đến bội nhiễm vi khuẩn gây ỉa chảy Các nguyên nhân do virus hay kí sinh trùng đã được loại bỏ
2.6.1.1 Nguyên nhân gây ỉa chảy do vi khuẩn
Hầu hết các tác giả nghiên cứu về hội chứng ỉa chảy của lợn đều kết luận: trong bất cứ trường hợp nào đều có sự tác động của vi khuẩn
Hồ Văn Nam, Trương Quang và cộng sự, 1997 [17] cho biết có những tác nhân đầu tiên gây viêm ruột như: virus dịch tả lợn, phó lao, muối ăn gây rối loạn hấp thu và nhu động ruột Hậu quả là viêm ruột, các vi khuẩn đường ruột tiếp tục tác động làm cho bệnh nặng thêm
Nguyễn Vĩnh Phước và cộng sự, 1974 [23] cho biết khi sức đề kháng của cơ thể giảm sút, vi khuẩn gây thối là nguồn gây bệnh đường ruột, vi khuẩn gây thối hoạt động phân giải các chất trong ruột sinh CO2, H2S, NH3, CH4 hợp chất Indol, Scatol làm niêm mạc đường tiêu hoá bị tổn thương tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập và gây bệnh
Theo Nguyễn Thị Nội và cộng sự, 1989 [22] điều tra tình hình nhiễm vi khuẩn đường ruột tại một số cơ sở chăn nuôi ở miền Bắc Việt Nam cho thấy: 82,2 - 100% lợn bị ỉa chảy do nhiễm Salmonella, kèm theo E.coli
Nguyễn Khả Ngự, 1996 [20] theo dõi ở 6 tỉnh đồng bằng sông Cửu Long đã kết luận: tỉ lệ mắc ỉa chảy là 58,78% Trong đó tỉ lệ chết là 53,54%,
vi khuẩn gây bệnh chủ yếu là Salmonella và E.coli
Hồ Văn Nam và cộng sự, 1997 [18] cho biết số lượng vi khuẩn E.coli trong phân lợn ỉa chảy tăng rõ rệt theo lứa tuổi: 1-21 ngày tuổi: 128,8 triệu; từ 22-60 ngày tuổi : 133,85 triệu; trên 60 ngày tuổi: 147,9 triệu
Trang 33Hồ Văn Nam, Trương Quang và cộng sự, 1997 [17] khi xét nghiệm hàng trăm mẫu phân lợn khoẻ và lợn bị viêm ruột ỉa chảy đã nhận thấy trong phân lợn thường có các loại vi khuẩn hiếu khí: E.coli, Salmonella, Streptococcus, Klebsiella, Bacillus subtilis Khi lợn bị ỉa chảy E.coli và Salmonella tăng lên một cách bội nhiễm
Ngoài ra nhiều tài liệu còn cho thấy nguyên nhân gây hội chứng ỉa chảy
ở lợn còn có sự tham gia của vi khuẩn Serpulina, Hyodysenteriae, Lawsonia
2.6.1.2 Nguyên nhân gây ỉa chảy do môi trường, chăm sóc, quản lí
Ngoại cảnh là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sức đề kháng của cơ thể gia súc Khi có sự thay đổi về thời tiết, khí hậu, khẩu phần thức ăn thì cơ thể gia súc sẽ biến đổi theo, khi nhiệt độ quá lạnh, thân nhiệt giảm xuống làm mạch máu ngoại vi co lại, máu dồn về các cơ quan nội tạng, lúc đó máu thành ruột bị xuất huyết làm trở ngại cho việc tiêu hoá
Theo Phạm Khắc Hiếu, Lê Thị Ngọc Diệp, Trần Thị Lộc, 1998 [10] thời tiết không thuận lợi, thay đổi thất thường, chuồng trại không đảm bảo vệ sinh, không thoáng mát về mùa hè, ấm áp về mùa đông, mật độ đàn/diện tích chuồng nuôi không thích hợp, chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng kém đều là các tác nhân gây stress bất lợi dẫn đến viêm dạ dày, ruột, gây ỉa chảy
Hồ Văn Nam và cộng sự, 1997 [19] cho biết thức ăn kém chất lượng, thức ăn thừa, chất thải trong chuồng nuôi là nguồn tàng trữ và lây lan mầm bệnh Thức ăn thiếu khoáng (Daniels, 1996) đồng thời ô nhiễm nặng các vi sinh vật, đặc biệt là các vi sinh vật có khả năng gây bệnh đường tiêu hoá như E.coli, Salmonella cùng với phương thức cho ăn không phù hợp là những nguyên nhân quan trọng gây ỉa chảy ở lợn
Khi cho lợn ăn quá nhiều, thức ăn quá nóng, quá lạnh, chất lượng kém,
ôi thiu, ẩm mốc, cho lợn ăn không đúng giờ giấc, khẩu phần ăn không hợp lí
đều dễ dẫn đến tiêu chảy ở lợn
Trang 34Theo Phạm Quân, Nguyễn Đình Chí, 1983 [25] nếu nuôi lợn thiếu nước, thường uống nước bẩn ở nền chuồng, hố rãnh dễ bị nhiễm khuẩn gây viêm ruột ỉa chảy
Theo Phạm Khắc Hiếu 1985 và tiếp đó là Sử An Ninh, 1995 [21] nghiên cứu tác nhân Stress lạnh, ẩm và tác dụng của ACTH đối với bệnh phân trắng lợn con đã kết luận: Stress lạnh, ẩm làm cho lợn con không giữ được cân bằng hoạt động của trục Hypothalamus - Hyprophysis - Hyponephra làm biến
đổi hàm lượng ion Fe2+, Na+, K+ trong máu dẫn đến giảm sức đề kháng của cơ thể lợn dễ gây viêm ruột ỉa phân trắng
Thực tế tiêu chảy ở lợn thường xảy ra rầm rộ sau những trận mưa dầm vào những tháng có độ ẩm cao trong năm Khi nuôi lợn có nền chuồng thường xuyên ẩm ướt thì lợn cũng dễ bị tiêu chảy Trong thực tế cũng đã có những con lợn mắc tiêu chảy không cần điều trị chỉ cần thay đổi điều kiện sống cho phù hợp là khỏi bệnh, bệnh hay xảy ra khi có sự thay đổi lớn về thời tiết, khẩu phần ăn hay thức ăn thay đổi đột ngột
2.6.2 Cơ chế gây ỉa chảy
Trong mọi trường hợp ỉa chảy là phản ứng tự vệ của cơ thể nhằm loại thải các chất độc ra khỏi đường tiêu hoá mà đặc điểm là nhu động ruột mạnh, làm tăng tiết dịch và các chất điện giải, đồng thời làm giảm khả năng hấp thu của ruột
Khi những tác nhân bất lợi (Stress) tác động làm rối loạn tiêu hoá, thức
ăn không được tiêu hoá, tạo điều kiện cho các vi khuẩn gây thối rũa phát triển Quá trình lên men tạo ra các chất độc, kích thích thần kinh, thành ruột gây nên hưng phấn làm cho ruột co bóp đẩy thức ăn ra ngoài Đồng thời mạch quản giãn làm tính thấm thành mạch tăng lên, dịch thấm vào và làm chất chứa trong ruột nhão ra
Trang 352.6.3 Triệu chứng, bệnh tích của hội chứng ỉa chảy
2.6.3.1 Triệu chứng
Khi bị ỉa chảy, làm cho con vật mất nước, mất chất điện giải gây toan huyết (do mất Bicarbonat Natri), giảm lưu lượng tuần hoàn
Triệu chứng điển hình: con vật khát nước, tính đàn hồi của da giảm, da
và niêm mạc nhợt nhạt, khô, mắt lõm sâu, thở nhanh và sâu, nhịp tim nhanh, ít
đái (Hồ Văn Nam, 1982 [16]) Lợn đi ỉa nhiều, ỉa toé loe, ỉa vọt cần câu, phân nát thối khắm, dính bết ở đuôi và khoeo, trong phân có lẫn thức ăn chưa tiêu
2.6.4 Các biện pháp phòng và trị hội chứng tiêu chảy
2.6.4.1 Phòng bệnh
Các tác giả trong và ngoài nước cho biết, để phòng hội chứng ỉa chảy ở lợn cần phải tiến hành theo phương pháp tổng hợp: vệ sinh phòng bệnh, chăm sóc nuôi dưỡng, quản lí tốt, khẩu phần ăn hợp lí, thức ăn, nước uống sạch sẽ, dụng cụ chăn nuôi, chuồng trại được vệ sinh sát trùng định kỳ
2.6.4.1.1 Phòng bệnh bằng chế phẩm sinh học
Nguyễn Như Viên, 1996 sử dụng chế phẩm vi sinh vật Subcolac để
Trang 36phòng hội chứng tiêu chảy Subcolac là một hỗn hợp gồm 3 loại vi khuẩn sống là: Bacillus subtilis, Colibacterium và Lactobacillus Chế phẩm Subcolac được
đưa vào đường tiêu hoá để cung cấp một số men cần thiết, một số vi khuẩn có ích để lập lại sự cân bằng hệ vi sinh vật đường ruột Nguyễn Như Viên đã sản xuất thành công chế phẩm Bacillus subtilis bằng cách cấy vi khuẩn Bacillus subtilis vào môi trường đậu tương, nước cám gạo, thậm chí cả nước râu ngô để
được một chế phẩm sinh học mà theo tác giả trong đó có hàm lượng vi khuẩn Bacillus subtilis đủ hạn chế được các vi khuẩn gram (-), gram (+) gây bệnh Chế phẩm này không những phòng bệnh mà còn có thể chữa bệnh viêm ruột ở gia súc
Đào Trọng Đạt, Vũ Đình Thuỳ, 1962 đã dùng Yaout và canh trùng Bacillus subtilis phòng bệnh phân trắng lợn con
Những năm gần đây ở Nhật Bản đã đưa ra chế phẩm E.M (Effective Microorganism) trong đó sử dụng các vi khuẩn có ích, đặc biệt là nhóm vi khuẩn lactic để phòng hội chứng tiêu chảy
2.6.4.1.2 Phòng bệnh bằng thuốc hoá học trị liệu
ở lợn con giai đoạn bú sữa thường có triệu chứng thiếu sắt, do đó lợn con thường rối loạn tiêu hoá và ỉa chảy Trần Minh Hùng, 1978 [11]; Hoàng Danh Dự, 1993 [5] đã nghiên cứu chế phẩm Dextran - Fe để bổ sung cho lợn con, phòng bệnh thiếu máu, suy dinh dưỡng và các bệnh đường ruột, tăng sức
đề kháng cho lợn
Trong một thời gian dài trước đây các nhà chăn nuôi thú y chủ trương cho thuốc hoá học trị liệu (kháng sinh hoặc các Sulfamide) vào thức ăn, nước uống hàng ngày của lợn để phòng hội chứng tiêu chảy, thí dụ: dùng Biovit 40, Viton 70 Tuy nhiên để lại hậu quả là các vi khuẩn nhờn thuốc, tồn dư kháng sinh trong thịt và thực phẩm gây ảnh hưởng đến quá trình chế biến, sức khoẻ người tiêu dùng
Trang 372.6.4.1.3 Phòng bệnh bằng biện pháp nuôi dưỡng, chăm sóc, quản lý
Nhiều tác giả nhấn mạnh về chế độ ăn uống tốt cho lợn, chống nóng ẩm
và quá lạnh cho lợn, thường xuyên cho lợn vận động
Theo Phạm Khắc Hiếu, Lê Thị Ngọc Diệp và Trần Thị Lộc, 1998 [10] lợn con đẻ ra phải được sưởi ấm ở nhiệt độ 340C trong suốt tuần lễ đầu Sau đó giảm xuống nhưng cũng không được thấp hơn 300C Như vậy lợn sẽ tránh
được những Stress lạnh ẩm
Hồ Văn Nam và cộng sự, 1997 [17]; Đào Trọng Đạt, 1996 [6] khẳng
định: chăm sóc, nuôi dưỡng tốt cho lợn, chú ý đến các thành phần dinh dưỡng quan trọng trong khẩu phần ăn như khoáng, vitamin, acid amin sẽ hạn chế
được hội chứng viêm ruột ỉa chảy
2.6.4.2 Điều trị tiêu chảy ở lợn
Việc điều trị hội chứng tiêu chảy ở lợn, các nhà thú y đều thống nhất cho rằng: bệnh lí của hội chứng tiêu chảy gồm hai quá trình là rối loạn tiêu hoá và nhiễm khuẩn Mọi biện pháp điều trị đều nhằm khôi phục rối loạn tiêu hoá và chống nhiễm khuẩn: E.coli, Salmonella và các vi khuẩn bội nhiễm khác
2.6.4.2.1 Điều trị bằng kháng sinh
Những năm gần đây, biện pháp kháng sinh tỏ ra kém hiệu lực do vi khuẩn gây bệnh chủ yếu là E.coli và Salmonella đã kháng thuốc cao (Phạm Khắc Hiếu, Bùi Thị Tho, 1995 [8]) Song hiệu lực của các thuốc trong việc phòng và trị hội chứng tiêu chảy ở mọi nơi, mọi lúc khác nhau, đặc biệt hiệu quả điều trị của thuốc giảm theo thời gian
Theo Phan Thanh Phượng, 1998 [24] tuỳ theo điều kiện có thể sử dụng Streptomycin, Oxytetracyclin, Sulfadimerazin, Sulfaguanidin, Penicillin Những kháng sinh trên khi sử dụng nên kèm theo các chất điện giải và vitamin
C, B1, B12 thì hiệu quả điều trị mới cao
Theo Phùng Quốc Chướng, 1995 [2] khi nghiên cứu tình hình bệnh
Trang 38viêm ruột ỉa chảy lợn ở Tây Nguyên cho biết: thuốc có khả năng điều trị viêm ruột ỉa chảy là Gentamycin liều 2mg/10kgP, tiêm bắp liên tục trong vòng 6 ngày liền, kết hợp với vitamin B1 - 250 mg/con/ngày, vitamin C - 500mg/con/ngày đã chữa khỏi 86,70%
2.6.4.2.2 Điều trị bằng đông d−ợc
Theo Phạm Khắc Hiếu và Bùi Thị Tho, 1994 [7] khi nghiên cứu tác dụng của một số Phytoncid và thuốc hoá học trị liệu với E.coli phân lập từ bệnh lợn con phân trắng cho biết: Tỏi và Hẹ là hai d−ợc liệu có tác dụng tốt với E.coli, còn Nghệ và cây Vàng đắng là hai d−ợc liệu có tác dụng trung bình
Trang 393 Nội dung, nguyên liệu, địa điểm
và phương pháp nghiên cứu
3.1 Nội dung nghiên cứu
3.1.1 Nghiên cứu sự hấp thu, phân bố của Enrofloxacin trong huyết tương lợn cho theo đường tiêm bắp
- Nghiên cứu sự hấp thu, phân bố của Enrofloxacin trong huyết tương lợn cho theo đường tiêm bắp, liều 5 mg/kgP
- Nghiên cứu sự hấp thu, phân bố của Enrofloxacin trong huyết tương lợn cho theo đường tiêm bắp, liều 7,5 mg/kgP
3.1.2 Nghiên cứu sự hấp thu, phân bố của Enrofloxacin trong cơ và một
số cơ quan nội tạng lợn cho theo đường tiêm bắp
- Nghiên cứu sự hấp thu, phân bố của Enrofloxacin trong cơ và một số cơ quan nội tạng lợn cho theo đường tiêm bắp, liều 5 mg/kgP
- Nghiên cứu sự hấp thu, phân bố của Enrofloxacin trong cơ và một số cơ quan nội tạng lợn cho theo đường tiêm bắp, liều 7,5 mg/kgP
3.1.3 Điều trị thử nghiệm trên lợn bị tiêu chảy
3.2 Nguyên liệu
3.2.1 Động vật thí nghiệm
Lợn sử dụng trong nghiên cứu có trọng lượng từ 30 - 40kg (2-4 tháng tuổi) Lợn dùng trong thí nghiệm là lợn khoẻ mạnh, đồng đều về tuổi, chưa sử dụng thuốc kháng sinh và được chăm sóc, nuôi dưỡng trong điều kiện như nhau
Thức ăn cho lợn thí nghiệm là thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh của Công ty CP-Group, nước uống và thức ăn được cung cấp tự do cho lợn ăn hàng ngày
Trang 403.2.2 Giống vi khuẩn thí nghiệm
Giống vi khuẩn thực hiện trong đề tài là Baccillus subtilis, dùng canh khuẩn 18-24 giờ để làm thí nghiệm
3.2.3 Thuốc dùng trong thí nghiệm
Thuốc kháng sinh Enrofloxacin được dùng dưới dạng chế phẩm ENROTRIL - 50 và dạng bột tinh khiết do Công ty Dược và vật tư thú y Hanvet cung cấp
3.2.4 Các môi trường nuôi cấy vi khuẩn (Nguyễn Như Thanh, 1974 [26])
* Môi trường nước thịt pepton
3.2.5 Dụng cụ thí nghiệm
Hộp lồng petri trong suốt, đáy bằng phẳng, có đường kính 100mm Cao 15mm; ống li tâm bằng thuỷ tinh; cốc đong loại 100ml có chia độ; ống trụ bằng nhôm cao 10mm, đường kính trong 8mm, đường kính ngoài 9mm; chày cối sứ; Syringe loại 5ml, 10ml; que cấy vi khuẩn, giấy khói, trụ quay để tiến