Tóm tắt khóa luận tốt nghiệp đại học Những chuyển biến trong kinh tế nông nghiệp ở đồng bằng Bắc Bộ từ năm 1883 đến năm 1945 giới thiệu đến các bạn những nội dung cơ sở dẫn đến những chuyển biến trong kinh tế nông nghiệp ở đồng bằng Bắc Bộ từ năm 1883 đến năm 1945, những chuyển biến trong kinh tế nông nghiệp ở đồng bằng Bắc Bộ từ năm 1883 đến năm 1945. Mời các bạn cùng tham khảo để nắm bắt nội dung chi tiết.
Trang 1
TRUONG DAI HOC SU PHAM HA NOI 2
KHOA LICH SU
PHAM THI LIEN
NHUNG CHUYEN BIEN TRONG
KINH TE NONG NGHIEP O DONG BANG BAC BO TU NAM 1983 DEN
NAM 1945
TOM TAT KHOA LUAN TOT NGHIEP DAI HOC
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học:
TH.S CHU THỊ THU THỦY
Trang 2LỜI CÁM ƠN
Khóa luận tốt nghiệp“Những chuyển biến trong kinh tế nông nghiệp ở đồng bằng Bắc Bộ từ năm 1883 đến năm 1945”được hoàn thành tại Khoa Lịch Sử - Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
Đề hoàn thành Khóa luận này, bên cạnh sự nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ, động viên và hướng dẫn của các thầy cô giáo, bạn bẻ và gia đình trong thời gian học tập và nghiên cứu
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô trong Trường Đại học Sư phạm Hà
Nội 2, đặc biệt là các thầy cô trong Khoa Lịch Sử đã giảng dạy tôi trong suốt
thời gian qua
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến Thạc sĩ Chu Thị Thu Thúy,
Cô đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và truyền đạt kinh nghiệm cho tôi trong quá trình chọn đề tài và hoàn thành Khóa luận Xin gửi lời tri ân của tôi với những điều mà Cô đã hướng dẫn và giúp đỡ cho tôi
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và lòng biết ơn sâu sắc tới những người thân trong gia đình và bạn bè — những người luôn động viên, cổ
vũ và sát cánh bên tôi trong suốt thời gian qua
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Ha Noi, ngay thang nam 2015
Người thực hiện đề tài
Phạm Thị Liên
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu
đã nêu trong Khóa luận có nguồn gốc rõ ràng, kết quả của Khóa luận là trung thực và chưa được ai công bố trong bắt kỳ công trình nào khác
Người thực hiện đề tài
Phạm Thị Liên
Trang 4MỤC LỤC
1 Lý do Chon 6 taic.ccceecceccscscsesssesssesssesssecssesssessseesssecssecsseesseessseesseesseeesseees 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề -2-©2+z+22+++EEE2EEEE2E1E271E.EEecrrrkee 2
3 Mục đích, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứỨu - 5s ++ss++sx+x+x>se 4
4 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu -. 2: 2 ©ss:eze+s 5
5 Đĩng gĩp của đề tài - 22s 22x21 2221122111221 eeeeree 6
6 Bố cục của khĩa luận tốt In 6
Chương 1 CƠ SỞ DẪN ĐẾN NHỮNG CHUYÊN BIẾN TRONG KINH TE
NƠNG NGHIỆP Ở ĐƠNG BẰNG BẮC BỘ TỪ NĂM 1883 ĐÉN 1945 6
1.1 Khái quát về Đồng bằng Bắc Bộ - 1.1.1 Điều kiện tự nhiên 222 2cccccxeccrrkerrrrcee 7
In 1.5 :ổ nha an Ả Ơ 10 1.2 Tình hình kinh tế nơng nghiệp ở Đồng bằng Bắc Bộ trước năm 1883 11 1.2.1 Sở hữu ruộng đất s5 ctcccxeeEEcEEkeErkerrtrrrrrerrtrerrrerrerree 11
1.2.2 Phương thứC CAHH FC - «cv ghe, 14 1.2.3 Cơ cấu cây trỗng, VẬ| THHƠỰ - SG KT TT nhi, 15 1.2.4 Chế độ tơ thuế nơng nghiệp ccscccscctcrrrsrterrrerrreerre 16
1.3 Cơ cấu nơng thơn và đời sống nơng dân ở Đồng bằng Bắc Bộ 18
1.4 Quá trình xâm lược và thống trị của thực dân Pháp ở Đồng bằng Bắc
Bộ
1.4.1 Quả trình xâm lược và thống trị của thực dân Pháp 20
1.4.2 Những chính sách của thực dân Pháp nhằm phát triển kinh tế
/19/158/14/12770 0077578788 sa 22
Tiểu kết chương L 2-222222++2EEE+2EE1122711222112711271122111 2.1 ccee 25
Trang 5Chương 2 NHỮNG CHUYỀN BIẾN TRONG KINH TẾ NÔNG NGHIỆP Ở
ĐÔNG BẰNG BẮC BỘ TỪ NĂM 1883 DEN NAM 1945 26
2.1 Chuyên biến về tình hình sở hữu ruộng đất -c¿ 5+ 26
2.1.1 Ruộng đất CÔng 5c ke ch eereeree 26
2.1.2 Ruộng đấất Hf -csccscctcEcth E212 eereeree 32
2.2 Chuyên biến về phương thức canh tác -. -:©c¿+c+z+cxee+crs 39
VN (10 0nđ Ò 39
Vy q 06 n8 an << 43 2.2.3 Ứng dụng khoa học kĩ thuật vào sản xuất nông nghiệp 44
2.3 Chuyên biến về cơ cấu cây trồng, vật nuôi -. c:ecccee+rscee 45 2.3.1 Cây trỖNg, css 5 S2 TtEEE HE 2112k 45
2.4 Kinh tế đồn điền - 22-2222 1212211271122211222112 2112111 49 2.5 Chế độ tô thuế nông nghiỆp . -¿- 2 2£ ©E+£x++E+evExerrrxerrreee 53
2.6 Đặc điểm và tác động của sự chuyên biến kinh tế nông nghiệp ở đồng
bằng Bắc Bộ từ năm 1883 đến năm 19445 -2-5ccccceccrecerkerrseee 55
2.6.1 Đặc điểm của sự chuyển biến kinh tế nông nghiệp ở đồng Bắc Bộ từ
năm 1883 đến năm 1945 2-csc2cteiScEiEEErirErkrrsrkrrerrrrrrrkrrrree 55
2.6.2 Tác động của những chuyển biến trong kinh tế nông nghiệp đối với
kinh tế-xã hội đồng bằng Bắc Bộ từ năm 1883 đến 1945 57 Tiểu kết chương 2 -22-©22++22EEE222E5227211227112711127111270112112.11E E1 ccre 60 KẾT LUẬN .-.-2 St tk SE EEEEEEEEEEESEEEEE1711111111171E11111111 11.1111 crkE 61 TÀI LIỆU THAM KHẢO -22:©22222CSz2CEES2EEEEEEEESEEEeErkrrrrkrrrrex 65
PHỤ LỤC
Trang 6đã thúc đây nông nghiệp thuộc địa có nhiều chuyền biến Việc nghiên cứu vấn
đề nông nghiệp Việt Nam thời cận đại không những làm sáng tỏ các vấn đề lịch
sử Việt Nam cận đại nói chung, mà còn có ý nghĩa trong việc tìm hiểu về lịch sử
kinh tế Việt Nam nói riêng
Tìm hiểu những chuyên biến mới về nông nghiệp đồng bằng Bắc Bộ thời
cận đại sẽ cho chúng ta những nhìn nhận, đánh giá khách quan về nông nghiệp
đồng bằng Bắc Bộ thời bấy giờ Đồng thời chúng ta có những lý giải hợp lý về
các vấn đề chính trị - xã hội đương thời và góp phần nhìn nhận những bước thăng trầm của nông nghiệp đồng bằng Bắc Bộ trong lịch sử dân tộc
Nghiên cứu vấn đề nông nghiệp thời thuộc địa góp phần bổ sung mảng kiến thức, tư liệu về kinh tế - xã hội nước ta giai đoạn này với các tỉnh Bắc
Bộ, việc làm đó càng cần thiết bởi nông nghiệp chiếm một vị trí quan trọng nhất trong cơ cấu kinh tế khu vực Đại bộ phận dân số ở nông thôn và chủ yếu sống nhờ vào nông nghiệp Trong điều kiện tư liệu về máng này còn thiếu thốn, công tác nghiên cứu còn chưa nhiều, việc bổ sung kiến thức về khu vực càng thêm ý nghĩa Từ đó, góp phần hiệu thêm tình hình kinh tế-xã hội Việt Nam thời Pháp thuộc
Xuất phát từ ý nghĩa khoa học và thực tiễn đó tôi đã mạnh dạn chọn vấn đề:“Những chuyến biến trong kinh tế nông nghiệp ở Đồng bằng Bắc Bộ
Trang 7từ năm 1883 đến năm 1945” làm dé tài khóa luận tốt nghiệp của mình
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Từ trước năm 1945 và nhất là sau khi ngày hòa bình lập lại trên miền
bắc (1954) đến nay, đã có một số công trình nghiên cứu về tình hình nông nghiệp Bắc Kỳ thời thuộc địa nói chung và đồng bằng Bắc Bộ nói riêng
Dưới thời thuộc địa, một số học giả, nhà quản lý kinh tế Pháp đã tiến
hành nghiên cứu thực trạng kinh tế nông nghiệp các tỉnh Bắc Kỳ từ những góc độ và chuyên môn khác nhau từ những góc độ và chuyên môn khác nhau Nhiều công trình khảo cứu công phu của các học giả Pháp về kinh tế nông nghiệp Đông Dương nói chung được công bố, đáng chú ý là Y.Herry với
“Economie agricole de j’Indochine” (kinh tế nông nghiệp Đông Dương, Hà Nội, 1932); Paul Bernard với “Le Problem economique Indochinois” (Vấn đề kinh tế Đông Dương, Pari, 1934); P.Gourou với:L°Utilisation du sol en Indochine Francaise” (Sử dụng ruộng đất ở Đông Dương thuộc địa Pháp, Pari, 1940) Trong các công trình này, các tác giả tập trung phân tích tình hình sở hữu ruộng đất, canh tác nông nghiệp, sử dụng nhân công trong kinh tế nông nghiệp Đông Dương, trong đó đề cập tới các tỉnh Bắc Kỳ Đó là những khảo cứu nghiêm túc dựa trên các số liệu điều tra từ nguồn vốn đáng tin cậy báo cáo của Nha Nông Lâm Thương mại Đông Dương, báo cáo về kinh tế thường niền của các Công sứ các tỉnh.Tuy nhiên, các số liệu được công bố chỉ giới hạn trong những năm nhất định, thiếu đi sự biến đổi năm này qua năm khác
và sự chuyên biến giữa thời quân chủ và thời thuộc địa Do vậy thiếu đi sự so sánh lịch đại Bên cạnh đó, phương pháp tiếp cận của tác giả chưa làm nỗi bật được mối quan hệ giữa chính sách đầu tư, điều kiện cơ sở hạ tầng đề phát triển kinh tế nông nghiệp cũng như tác động của nó tới xã hội nông thôn Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, nhất là sau năm 1954, nhiều
công trình khảo cứu về tỉnh tế - xã hội Việt Nam thời thuộc Pháp, trong đó có
Trang 8đề cập tới các tỉnh Bắc Kỳ được công bố Đáng chú ý là các công trình Lịch
sử tắm mươi năm chống Pháp (Trần Huy Liệu, Hà Nội, 1957); Những thủ đoạn bóc lột của dé quốc Pháp ở Việt Nam ( Nguyễn Khắc Đạm, Hà Nội,1957); Thực trạng giới nông dân Việt Nam dưới thời Pháp thuộc (Phạm Cao Dương, Sài Gòn, 1965); Chủ nghĩa đế quốc Pháp và tình hình công nghiệp Việt Nam dưới thời Pháp thuộc (Phạm Đình Tân, Hà Nội, 1959) Một
số chuyên khảo về giai cấp công nhân Việt Nam cũng đề cập đến công nhân đồn điền Bắc Kỳ như: Giai cấp công nhân Việt Nam (Trần Văn Giàu, Hà Nội, 1961); Giai cấp công nhân Việt Nam trước khi thành lập Đảng (Ngô Văn Hòa, Dương Kinh Quốc, Hà Nội, 1978) Trong giáo trình lịch sử Việt Nam
cận đại của Trần Văn Giàu, Viện sử học, cũng ít nhiều đề cập đến tình hình
nông nghiệp của các tỉnh Bắc Kỳ Đó là những công trình nghiên cứu công phu
về lịch sử Việt Nam được thực hiện theo phương pháp luận sử học Mác-xít, cung cấp cho tôi những hiểu biết cơ bản về tình hình kinh tế-xã hội nước ta thời thuộc Pháp Tuy nhiên, các công trình này chỉ tập trung phân tích những hạn chế của chế độ thuộc địa mà chưa chú ý đến những tác động tích cực (nằm ngoài ý muốn chủ quan) của chính sách thực dân Theo tôi điều đó cần được bổ sung để có cái nhìn khách quan hơn về chế độ thuộc địa ở nước ta
Đặc biệt, một số công trình chuyên khảo về cơ cấu kinh tế - xã hội, tình
hình nông nghiệp, nông thôn thời Pháp thuộc được công bố như: Phác qua tình hình ruộng đất và đời sống nông dân trước Cách mạng tháng Tám (Nguyễn Kiến Giang, Hà Nội, 1958); Tình hình ruộng đất nông nghiệp và đời
sống nông dân dưới triều Nguyễn (Trương Hữu Quýnh, Đỗ Bang chủ biên, Huế , 1997); Cơ cấu kinh tế xã hội Việt Nam thời thuộc địa (1858-1945)
(Nguyễn Văn Khánh, Hà Nội, 1999, tái bản lần thứ 2 năm 2004) Đầu thập
niên 90 của thế kỷ trước, đã diễn ra cuộc thảo luận sôi nỗi về nông nghiệp và đời sống nông dân dưới thời thuộc Pháp và Nhà xuất bản Khoa học xã hội đã
Trang 9tập hợp trong ấn phâm “Một Nông dân và nông thôn Việt Nam thời cận đại”,
(Hà Nội, 1990-1992); Việc nhượng đất khẩn hoang ở Bắc Kì (1919-1945) (Tạ
Thị Thúy, Hà Nội 2001); Đồn điền của người Pháp ở Bắc Kì (1884-1918) (Tạ
Thị Thúy, Hà Nội 1996) Một số bài đăng trên Tạp chí nghiên cứu lịch sử cũng đề cập tới vấn đề ruộng đất Đáng chú ý là các bài viết về ruộng đất của các tác giả Nguyễn Đức Nghinh; Trương Hữu Quýnh; Vũ Huy Phúc; Phan
Văn Khánh Với nguồn tài liệu phong phú — nhất là tài liệu lưu trữ - các công
trình này phản ánh tương đối trung thực và khách quan về kinh tế Việt Nam
thời thuộc Pháp, kế thừa những hiểu biết về kinh tế nông nghiệp trên bình
diện chung của cả nước, tôi có điều kiện so sánh và cụ thể hóa ở khu vực đồng bằng Bắc Bộ
Trong số công trình trên chưa có công trình nào nghiên cứu về những
chuyền biến mới trong nông nghiệpở đồng bằng Bắc Bộ thời ki 1883 - 1945
Những công trình có trên tuy có ưu, nhược điểm khác nhau nhưng đều là bệ
đỡ tri thức, tạo điều kiện cho tôi học hỏi, tiếp tục nghiên cứu vấn đề này Trên
cơ sở đó, chúng ta sẽ có cái nhìn khách quan hơn về tác động của cuộc khai
thác thực dân ở một khu vực, góp phần hiểu thêm về lịch sử Việt Nam thời
thuộc Pháp
3 Mục đích, nhiệm vụ, phạm vỉ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu những chuyền biến trong kinh tế nông nghiệp ở đồng bằng
Bắc Bộ từ năm 1883 đến năm 1945 nhằm làm sáng tỏ tác động bởi quá trình
khai thác thuộc địa của thực dân Pháp đến tình hình kinh tế - xã hội khu vực,
rút ra những nhận xét khách quan về công cuộc thực dân hóa ở một khu vực, góp phần hiểu thêm về chế độ thuộc địa ở nước ta Khóa luận nhằm bổ sung nguồn tư liệu, góp phần nghiên cứu sâu hơn về lịch sử địa phương, đồng thời nêu lên những bài học kinh nghiệm, đề xuất những giải pháp nhằm phát triển
Trang 10nông nghiệp, nông thôn các tỉnh ở khu vực đồng bằng Bắc Bộ
3.2.Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài “Những chuyền biến trong kinh tế nông nghiệp ở Bắc
Kỳ từ năm 1883 đến 1945” nhằm giải quyết những nhiệm vụ sau:
Thứ nhất: Tìm hiểu những điều kiện tác động tới nông nghiệp đồng bằng
Bắc Bộ Từ đó có cái nhìn khái quát về kinh tế - xã hội đồng bằng Bắc Bộ
trước nam 1883
Thứ hai: Phải làm rõ được sự chuyên biến trong kinh tế nông nghiệp
đồng bằng Bắc Bộ từ năm 1883 đến năm 1945 Trên cơ sở tìm hiểu, phân tích
những chuyền biến đó, tác giả rút ra được những đặc điểm và tác động của nó
đối với kinh tế - xã hội đồng bằng Bắc Bộ
3.3 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi không gian: Khóa luận nghiên cứu những chuyên biến trong kinh tế nông nghiệp ở các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ
Phạm vi thời gian:Từ năm 1883 đến năm 1945
4 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1 Nguồn tư liệu
Đề hoàn thành khóa luận, tác giả đã khai thác các nguồn tài liệu sau: Nguồn tư liệu thứ nhất: Là giáo trình lịch sử, các công trình nghiên cứu
về kinh tế nông nghiệp Việt Nam của các học giả Việt Nam đang lưu trữ ở Thư viện Quốc Gia, Thư viện Khoa học xã hội, Viện sử học Việt Nam, Thư
viện Đại học Xã hội và Nhân văn, Thư viện Đại học Sư phạm Hà Nội 2
Nguồn tư liệu thứ hai: Tôi tham khảo thêm các sách, báo, tạp chí nghiên
cứu về nông nghiệp đồng bằng Bắc Bộ từ năm 1883 — 1945
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Cơ sở của phương pháp luận là lý luận của chủ nghĩa Mác — Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về hình thái
kinh tế xã hội, về lịch sử kinh tế nước ta thời thuộc Pháp
Để giải quyết các nhiệm vụ khoa học đặt ra, tôi sử dụng hai phương pháp
Trang 11nghiên cứu chuyên ngành cơ bản: phương pháp lịch sử và phương pháp logic Ngoài ra tôi còn sử dụng các phương pháp liên nghành như quan sát, phỏng vấn, thống kê xã hội học, đánh giá và so sánh các nguồn sử liệu để có kết luận
khoa học
5 Đóng góp của đề tài
Khóa luận tốt nghiệp trình bày những chuyển biến của kinh tế nông
nghiệp ở đồng bằng Bắc Bộ thời thuộc Pháp trên các mặt: Chuyển biến về
tình hình sở hữu ruộng đất, Chuyển biến về phương thức canh tác, Chuyển biến về cơ cấu cây trồng, Vật nuôi
Phân tích những tác động của quá trình khai thác thuộc địa nói chung, của nông nghiệp nói riêng đối với tình hình kinh tế xã hội các tỉnh đồng bằng
Bắc Bộ thời thuộc Pháp
Cung cấp thêm những hiểu biết về đời sống của nông dân trong khu vực dưới chế độ thuộc địa Bổ sung tư liệu về lịch sử địa phương, nhất là mảng kinh tế, góp phần làm sáng tỏ tình hình kinh tế -xã hội khu vực Bắc Bộ nói riêng và Việt Nam nói chung thời can dai
Làm rõ những đặc điểm kinh tế nông nghiệp đồng bằng Bắc Bộ thời Pháp thuộc
6 Bố cục của khóa luận tốt nghiệp
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, khóa luận
CO SO DAN DEN NHUNG CHUYEN BIEN TRONG KINH TE
NONG NGHIEP Ở DONG BANG BAC BO TU NAM 1883 DEN 1945
Trang 1223°23’ Bac dén 8°27’ Bac véi chiéu đài là 1.650 km Chiều ngang Đông - Tây
là 500 km, rộng nhất so với Trung Bộ và Nam Bộ
Đồng bằng Bắc Bộ là một vùng đất rộng lớn nằm quanh khu vực hạ lưu sông thuộc miền Bắc Việt Nam, vùng đất bao gồm 10 tỉnh và thành phố như: Vĩnh Phúc, Hà Nội, Bắc Ninh, Hà Nam, Hưng Yên, Hải Dương, Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình Khu vực này có nhiều nét tương đồng về
địa lý tự nhiên — xã hội, có tiềm năng để phát triển kinh tế nông nghiệp, có
sức hấp dẫn tới các nhà canh nông
Địa hình Bắc Bộ đa dạng và phức tạp Bao gồm đồi núi, đồng bằng, bờ biển và thềm lục địa Có lịch sử phát triển địa hình và địa chất lâu dài, phong hóa mạnh mẽ Có bề mặt thấp dần, xuôi theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, được thể hiện thông qua hướng chảy của các dòng sông lớn Thuận lợi cho việc phát triển kinh tế nông nghiệp
Miền núi Bắc Bộ có tiềm năng phát triển lâm nghiệp trồng nguyên liệu
và hương liệu Miền trung du Bắc Bộ có tiềm năng đề trồng cây công nghiệp
và chăn nuôi đại gia súc Miền đồng bằng thuận lợi cho việc trồng cây lúa và
có tiềm năng trở thành vùng chuyên canh cây lúa Địa hình tương đối bằng
phẳng với hệ thống sông ngòi dày đặc đã tạo điều kiện thuận lợi dé phát triển
hệ thống giao thông thủy bộ và cơ sở hạ tầng của vùng
1.1.1.2 Dat dai
Dong bang Bắc Bộ có nhiều loại đất khác nhau: đất cái, đất cát, đất thịt, đất cát pha, đất chua
Trang 13“Đất cái” là thứ đất sét, chắc, đẻo, ói nước, kết thành tảng rất khó làm khi đất đã khô Loại đất này dính chặt với lưỡi cày và làm cho đường cày rất
vat va, chi cày bừa được khi ngập nước, khi khô rắn thi chỉ có cuốc bằng tay Lúa là loại cây duy nhất có thê trồng ở đất này
“Đất thịt” là loại đất phù sa tích tụ, hàm lượng đất sét ít hơn đất cái, độ cứng của đất vừa phải và việc canh tác đỡ vất vả hơn Ngoài lúa, đất này có thê trồng các loại khoai lang, thuốc lá, đậu, bông
“Đất thịt pha” còn gọi là đất màu, là loại đất phù sa khá tốc rất dễ cày bừa dù khô hay ngập nước Đất này có thể trồng lúa vào mùa thu và trồng cây hoa màu vào mùa xuân
Đất ở miền núi, trung du đồng bằng Bắc Bộ chiếm 2/3 diện tích tự nhiên
có nhiều loại đất khác nhau Dat feralit nâu đỏ phát triển trên di Bazan, đá vôi
có diện tích lớn
Đất đai vùng đồng bằng Bắc Bộ tương đối phong phú, nhiều loại đất khác nhau ở đồng bằng, miền núi và trung du, tạo điều kiện cho việc phát triển một nền nông nghiệp đa dạng Đồng bằng Bắc Bộ được xem là vùng rộng lớn và màu mỡ, thuận lợi cho việc trồng cây công nghiệp Đó là tiềm năng để đồng bằng Bắc Bộ có thể hình thành những vùng chuyên canh cây lúa và cây công nghiệp
1.1.1.3, Khi hdu và sông ngòi
Khí hậu cũng là một yếu tố tác động trực tiếp tới sự phát triển của nền
nông nghiệp đồng bằng Bắc Bộ Khí hậu nhiệt đới âm gió mùa (có nhiều biến
động) đã cung cấp cho nền nông nghiệp Bắc Bộ lượng nhiệt ẩm đồi dào (độ
ẩm luôn lớn hơn 80%), nhiệt độ trung bình là 25 °C Tạo điều kiện cho cây trồng đặc biệt là cây lúa và các cây hoa màu khác sinh trưởng và phát triển Thiên nhiên mang lại cho người nông dân đồng bằng Bắc Bộ nhiều thuận lợi, nhưng do sự phức tạp của địa hình kéo theo sự thất thường của khí
Trang 14hậu gây cho nền sản xuất nông nghiệp ở đây gặp nhiều khó khăn thách thức Lịch sử Việt Nam hiện đại đã từng chứng kiến 26 trận vỡ đê ở Hưng Yên từ
1806 — 1900 những trận bão lớn ở Nam Định năm 1929 và những trận hạn hán kéo dài (1875)
Lượng mưa lớn, có nhiều đồi núi khiến cho hệ thống sông ngòi ở đồng bằng Bắc Bộ có những nét đặc thù Phần lớn các con sông chảy theo hướng Tây Bắc-Đông Nam, qua nhiều miền địa hình, chủ yếu là đồi núi trên sông ngắn, dốc,
nước chảy xiết Lượng nước không nhiều, phụ thuộc vào chế độ mưa
Đồng bằng Bắc Bộ có hệ thống sông lớn như: sông Hồng, sông Thái Bình
Hệ thống sông Hồng gồm nhiều nhánh sông: sông Đà, sông Lô, sông Chảy Hệ thống sông Thái Bình với nhiều nhánh sông: sông Cầu, sông Thương, sông Lục Nam Hằng năm hệ thống sông ngòi đã mang lại lượng phù sa lớn tạo điều kiện cho việc phát triển kinh tế nông nghiệp ở đồng bằng Bắc Bộ
Tóm lại, đồng bằng Bắc Bộ có điều kiện tự nhiên rất phong phú và đa dạng, có thế mạnh đẻ phát triển một nền nông nghiệp đa dạng Tuy vậy, điều kiện tự nhiên ở đồng bằng Bắc Bộ cũng rất khắc nghiệt, phức tạp về địa hình
và thời tiết, thủy văn khiến cho canh tác nông nghiệp trên vùng đất này rất khó khăn cực nhọc
1.1.2 Điều kiện kinh tế
Đồng bằng Bắc Bộ là nơi có vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên rất thuận
lợi Tài nguyên thiên nhiên phong phú, đa dạng, dân cư đông đúc, mặt bằng dân trí cao Sự tập trung dân cư có mật độ cao liên quan đến nhu cầu và môi trường lao động, tính cộng đồng và truyền thống văn hoá dân tộc Một nơi có truyền thống lâu đời về thâm canh lúa nước, có những trung tâm công
nghiệp và hệ thống đô thị phát triển là điều kiện rất thuận lợi cho công cuộc
phát triển các ngành nghề lao động sản xuất từ phổ thông đến hiện đại, mang đến sự thuận lợi cho công cuộc định cư lâu dài của con người
Là vựa lúa lớn thứ hai của Việt Nam (sau Đồng bằng sông Cửu Long) có
Trang 15được đất đai màu mỡ do phù sa của sông Hồng và sông Thái Bình bồi đắp Số đất đai để phát triển nông nghiệp trên 70 vạn ha, chiếm 56% tổng điện tích tự nhiên toàn vùng Ngoài lúa nước, các địa phương nông nghiệp ở đồng bằng sông Hồng đều chú trọng phát triển loại cây ưa lạnh có hiệu quả kinh tế cao như ngô, khoai tây, su hào, cải bắp, cà chua, những loại cây này đa phần được trồng hoa xen canh giữa các mùa vụ
Bắc Bộ là vùng có đường bờ biển dài, có cửa ngõ lớn và quan trọng thông thương với các khu vực lân cận và thế giới qua cảng biển Hải
Phòng (thuộc thành phố Hải Phòng) Tài nguyên thiên nhiên gồm có các mỏ
da (6 Hai Phong, Ha Nam, Ninh Binh), sét cao lanh o Hai Duong, than
nâu ở Hưng Yên và mỏ khí đốt ở Tiền Hải đã được tiến hành khai thác từ
nhiều năm nay
Đặc biệt, trong lòng đồng bằng Bắc Bộ đang ton tại hàng chục vỉa than lớn nhỏ có tổng trữ lượng vào khoảng 210 tỷ tấn (theo dự đoán qua số liệu khảo sát vào những năm 70 của thế kỷ trước) Trải rộng trên diện tích
3500km2, trải đài từ Hà Nội đến Thái Bình rồi ra đến bờ biển Đông Các vỉa
than này có chiều dày từ 2 đến 3m, có nơi tới 20m Là những vỉa than có độ
ôn định địa chất và chất lượng TẤt tỐI
Như vậy,vùng đồng bằng Bắc Bộ có nhiều điều kiện thuận lợi phát triển
kinh tế, và là điều kiện đề phát triển một nền nông nghiệp đa dạng Tuy nhiên,
đồng bằng sông Hồng vẫn là một khu vực thiếu nguyên liệu phục vụ cho các ngành công nghiệp đang phát triên và luôn phải nhập từ các vùng khác
1.1.3 Điều kiện xã hội
Thời cận đại, 90% dân số đồng bằng Bắc Bộ sống ở nông thôn, hầu hết
họ quần tụ trên một phần lãnh thổ
Với số lượng và tình hình phân bố dân cư như vậy, đồng bằng Bắc Bộ có
nguồn lao động đôi dào Đó là điều kiện thuận lợi để phát triển nông nghiệp ở
một xứ nhiệt đới trong khi kĩ thuật sản xuất còn lạc hậu Hơn nữa nông dân đồng bằng Bắc Bộ vốn chăm chỉ, thông minh, kiên nhẫn và rất có kinh
Trang 16nghiệm trong sản xuất nông nghiệp, nhất là việc trồng lúa
Vì thế, tuy có những hạn chế về tác phong lao động sức ép về tình trạng canh tác, ruộng đất manh mún do dân số quá đông gây ra, nông dân đồng bằng Bắc Bộ vẫn là một lực lượng lao động quan trọng, có vai trò quyết định tới nền sản xuất nông nghiệp Với một nguồn lao động dồi dào, người nông dân có kinh nghiệm sản xuất lâu đời, đồng bằng Bắc Bộ có ưu thế để phát triển kinh tế nông nghiệp hơn so với các vùng khác trong cả nước
Nhìn chung, đồng bằng Bắc Bộ có đủ các điều kiện cơ bản, thuận lợi cho
sự hình thành và phát triển của một nền nông nghiệp nhiệt đới Nguồn tài
nguyên tự nhiên xã hội giàu có là một trong những thế mạnh của vùng này, tạo ra ưu thế vượt trội, thúc đây sự phát triển nền nông nghiệp đồng bằng Bắc
Bộ Song đây cũng là mảnh đất màu mỡ mà thực dân Pháp sớm nhận ra trong công cuộc khai thác và bóc lột thuộc địa của mình Những yếu tố tự nhiên xã hội trên sau này sẽ tác động trực tiếp tới nền nông nghiệp đồng bằng Bắc Bộ thời kì 1883-1945
1.2 Tình hình kinh tế nông nghiệp ở Đồng bằng Bắc Bộ trước năm 1883 1.2.1 Sở hữu ruộng đất
Nhìn chung, sở hữu ruộng đất tồn tại hai phương thức chủ yếu là Nhà nước và tư nhân Ruộng đất sở hữu Nhà nước gồm 2 loại: Nhà nước trực tiếp quan ly và ruộng đất công làng xã
*Ruộng đất do Nhà nước trực tiếp quản lý
Bộ phận ruộng đất thuộc quản lý trực tiếp của nhà nước ở đầu thế kỷ XIX gồm tịch điền, quan điền quan trại và đồn điền
Tịch điển là loại ruộng đất có tính chất lễ nghi thể hiện sự quan tâm của Nhà nước đối với kinh tế nông nghiệp, số lượng không nhiều (cả nước ước
khoảng vài trăm mẫu) Năm 1832, Minh Mạng quy định mỗi tỉnh lấy 3 mẫu 3
sào và 15 người phu tịch điền Năm 1878 nhà Nguyễn quyết định tăng thêm
Trang 17ruộng tịch điền cho các tỉnh [1; Tr.29]
Quan điển quan trại là loại ruộng đất vốn có từ các thời kỳ trước (các loại ruộng ngụ lộc, thưởng lộc, chế lộc, quan điền, quan điền trang, quan đồn điền, quan trại) thuộc sở hữu trực tiếp của Nhà nước.Nhà Tây Sơn đã dùng một phần trong số đó ban cấp cho các quan lại Sau này nhà Nguyễn thu hồi lại và gọi chung là quan điền quan trại, đặt dưới sự quản lý trực tiếp của nhà nước Địa bàn phân bố quan điền quan trại chủ yếu là khu vực Bắc và Trung Trung Bộ, với diện tích khoảng vài ngàn mẫu Một phần quan điền quan trại dùng để ban cấp cho một số đối tượng làm tự điền, phần còn lại dùng phát
canh thu tô cho đân sở tại Từ năm 1822, Minh Mệnh cho chuyên đần quan
điền quan trại thành ruộng đất công làng xã và đến giữa thế kỷ XIX thì co ban quan điền quan trại không còn tồn tại nữa [1; Tr.29]
Đồn điền là loại ruộng đất kết hợp kinh tế với quốc phòng Từ cuối thé
ky XVII, Nguyễn Ánh đã cho lập đồn điền ở Nam Bộ dưới hai hình thức: đồn điền do binh lính khai khẩn gọi là trại đồn điền và đồn điền do dân khai
khẩn gọi là hậu đồn điền Nhà Nguyễn từng bước quân sự hoá hậu đồn điền
và đến năm 1822 thì quyết định chuyên toàn bộ hậu đồn điền thành trại đồn
điền Địa điểm chọn xây dựng đồn điền thường là những nơi xung yếu về quân sự và có tiềm năng đất đai Nhà nước chủ yếu sử đụng lực lượng binh lính, bên cạnh đó còn có một số tù phạm đi khai khẩn, canh tác ruộng đất trong các đồn điền Sản phẩm thu hoạch từ ruộng đất đồn điền phần lớn nộp kho nước, chủ yếu để đáp ứng nhu cầu tại chỗ của binh lính Diện tích đồn điền ở thời điểm cao nhất ước khoảng vài chục ngàn mẫu Nhìn chung, các loại ruộng đất thuộc quán lý trực tiếp của Nhà nước chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ trong cơ cấu ruộng dat [1; Tr.30]
Dinh điển là hình thức khai hoang ở Bắc Bộ dưới thời Minh Mạng và Nam Bộ dưới thời Tự Đức Ở Bắc Bộ có 2 huyện được thành lập dưới hình
Trang 18thức này là Tiền Hải( Thái Bình), và Kim Sơn (Ninh Bình) bằng tất ca sự cố gắng của Dinh điền sứ Nguyễn Công Trứ Từ tháng 3-1828 đến tháng 3-1929,
diện tích đã khai khẩn được ở 2 huyện này là 33.590 mẫu [5; Tr.12]
*Ruộng đất công làng xã
Đối với ruộng đất công làng xã, nhà Nguyễn đã có chủ trương biện pháp nhằm duy trì, bảo vệ và mở rộng Năm 1803, nhà nước ra lệnh cấm các làng
xã không được bán đứt hay cầm cố ruộng đất công
Chính sách của vương triều Nguyễn cố gắng duy trì ruộng đất công nhưng bất lực Xu hướng kiêm tỉnh ruộng đất của địa chủ khiến ruộng đất công làng xã bị thu hẹp Theo sách Sĩ hoạn tri lục của Nguyễn Công Tiệp, đầu thé ki XIX, tổng diện tích ruộng đất công, tư cả nước là 3.396.584 mẫu Trong đó ruộng công là 580.363 mẫu (chiếm 17,08%), ruộng tư là 2.816.221
mẫu (chiếm tỉ lệ 82,98 %) đất công các loại còn tồn tại đến đầu thế kỷ XIX,
phần lớn là loại ruộng đất này Tuy nhiên, sự phân bồ rất không đều giữa các địa phương Phan Huy Chú nhận xét: “Nước ta duy có trấn Sơn Nam Hạ là rất nhiều ruộng và đất bãi công, phép quân cấp chỉ nên làm ở xứ ấy là phải, còn các xứ khác thì các hạng ruộng công có không máy” [1; Tr.30]
Sự phân bó không đều thể hiện trong phạm vi từng miền, từng tỉnh, có
khi từng huyện, từng tổng Tại Bắc Bộ, trong khi tỷ lệ công điền thổ ở Thái
Bình còn tới 31,43% thì ở Hà Đông chỉ còn 22,12% (thời điểm 1805) Giữa các huyện của hai địa phương này cũng có sự khác biệt Ở Thái Bình, tỷ lệ công điền thổ huyện Thanh Quan còn 7,2%, huyện Quỳnh Côi còn 17,32%, huyện Đông Quan còn 20,75%, thì tỷ lệ đó ở huyện Vũ Tiên là 56,85% Tỷ lệ ruộng đất công khu vực Bắc Bộ còn khoảng 25% Một số địa phương cụ thé,
phủ Khoái Châu (Hưng Yên) còn 59% Sự thu hẹp và phân bố không đều
ruộng đất công giữa các vùng, các tỉnh chứng tỏ rằng ruộng đất công làm xã mắt dần vai trò trong đời sống kinh tế nông nghiệp của nông dân Việt Nam,
Trang 19từng bước nhường đường cho một loại hình sở hữu khác là ruộng đất tư [1; Tr.31]
* Ruong đất thuộc sở hữu tư nhân
Dau thé ky XIX, ruộng đất thuộc sở hữu tư nhân là 2.816.221 mẫu chiếm
tỷ lệ 82,92% [L; Tr.35]
Ruộng tư phân bố không đều giữa các miền, các vùng, trong từng tỉnh Ở Thái Bình, tỷ lệ ruộng tư giữa các huyện có sự chênh lệch rõ rệt Khu vực phía Tây huyện Thụy Anh ruộng tư chiếm 75,2% trong khi đo ở Kiến Xương
là 37,67% [1; Tr.35]
Nếu như sở hữu lớn được duy trì ở Nam Bộ thì ở Bắc Bộ sở hữu nhỏ
(những người có sở hữu dưới 3 mẫu ruộng) vẫn chiếm ưu thế về tỷ lệ 96,32%
Những người sở hữu trên 20 mẫu chiếm tỷ lệ nhỏ là 0,87% Loại sở hữu vừa (từ 3-20 mẫu) (bao gồm tầng lớp trung nông và địa chủ nhỏ) phố biến ở Bắc
Bộ với 36,8%, số chủ và nắm giữ 69,7% ruộng đất
Nhìn chung tình hình sở hữu ruộng đất ở Việt Nam nửa đầu thế kỷ XIX
vẫn đang ở chặng đường đầu của quá trình phát triển và phân hóa (tuy chưa
có mức sâu sắc) Tư hữu hóa vẫn còn là một xu thế đù nó đã ở những bước đi cuối cùng Phân hóa và tập trung ruộng đất, đù nơi này nơi khác đã đạt trình
độ khá cao nhưng chưa đến mức triệt để và sâu sắc Sự phân hóa ruộng đất này đã tác động và có ảnh hưởng nhất định đối với sự phát triển của nền nông nghiệp Việt Nam nói chung và nông nghiệp đồng bằng Bắc Bộ trước năm
1883 nói riêng
1.2.2.Phương thức canh tác
Phương thức canh tác và kỹ thuật trồng lúa những năm trước 1883 vẫn không có gì thay đổi nhiều Sản xuất nông nghiệp trước năm 1883 chủ yếu là độc canh cây lúa nước “Cày sâu bừa kĩ” là khâu chủ yếu trong việc lam dat Sức kéo của trâu, bò tất nhiên “yếu trâu còn hơn khỏe bò” nhưng dùng trâu hay bò là từng địa phương Mùa gặt người nông dân phải dùng liềm hoặc hái
Trang 20để cắt, gặt lúa Cuốc xẻng là công cụ phục vụ cho chăm sóc lúa giữa hai mùa cấy và gặt Họ cũng dùng gàu tát nước
Thế kỷ XIX, nhà Nguyễn chú ý đến vấn đề thủy lợi ở Nam Bộ nhiều hơn
còn ở đồng bằng Bắc Bộ thì ít hơn, người dân đồng bằng Bắc Bộ thường phải chứng kiến cảnh đê vỡ năm 1871 ở Hưng Yên; Nam Định Trong đó tập trung
lớn nhất ở vùng đê Văn Giang từ năm 1872 đến năm 1882 dưới triều vua Tự
Đức, liên tục năm nào cũng xảy ra tình trạng vỡ đê Và theo thống kê thì đê Văn Giang vỡ 18 lần Vì thế cũng có thể nói van đề trị thủy đặt ra rất gay gắt
cho đồng bằng Bắc Bộ vào thế kỷ XIX thì Hưng Yên (Phủ Khoái Châu) lại là
trung tâm điểm [2: Tr.79] Những trận vỡ đê với dịch bệnh và sưu thuế cao đã dẫn tới tình trạng ruộng đất bị bỏ hoang Việc bỏ làng đi tha phương cầu thực
đã báo hiệu một thời kỳ đài cuộc sống bần cùng, đói khổ của nông dân Việt
Nam trong các giai đoạn lịch sử tiếp theo
Nền nông nghiệp Việt Nam dưới triều Nguyễn là một nền nông nghiệp độc canh cây lúa, tự cung tự cấp, khép kín, những yếu tố đó đã là cản trở sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa trong nông nghiệp, nông thôn nước ta nói chung và đồng bằng Bắc Bộ nói riêng
1.2.3.Cơ cấu cây trằng, vật nuôi
* Cơ cấu cây trong
Lúa vẫn là cây trồng chủ yếu trên diện tích đất canh tác của cả nước, lúa
chiếm 70% diện tích canh tác ở các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ, 30% còn lại
được giành cho một số cây trồng khác
Có nhiều loại lúa khác nhau được sử dụng: lúa chiêm có chiêm ri, chiêm
dự, chiêm vang ; lúa mùa có tám xoan, tám lùn, lúa hiên, ; lúa nếp có nếp
hương, nếp hoa vàng, nếp lùn Trong sách Đại Nam nhất thống chí của Quốc
sử quán triều Nguyễn có ghi lại hơn 65 giống lúa tẻ và 27 giống lúa nếp được gieo trồng [1; Tr.128]
Trang 21Bên cạnh việc trồng lúa, tùy từng địa phương và thế đất, người nông dân còn trồng các loại cây lương thực khác như: sắn, khoai lang, khoai môn, củ
từ, củ mài, trồng ngô Ngoài ra họ còn trồng đều 17 loại đậu khác nhau Tuy nhiên, kỹ thuật canh tác lạc hậu nên năng suất và sản lượng lúa không cao, tương đối thất thường nên chưa đủ đáp ứng nhu cầu của người nông dân trong khu vực Vì vậy lúa chưa trở thành hàng hóa, có chăng là sản
vật để trao đổi mà thôi
*Cơ cầu vật nuôi
Nghề chăn nuôi kém phát triển và chưa thể tách ra khỏi nông nghiệp Các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ vốn có thế mạnh để chăn nuôi gia súc (nhất là trâu, bò) Ngoài ra còn có truyền thống chăn nuôi gia cầm (gà, vịt) Nhưng do kinh tế khó khăn, những hạn chế về điều kiện sống và những quy định nghiêm ngặt của Nhà nước trong việc giết mô trâu, bò, nền chăn nuôi Việt Nam cho đến thế kỷ XIX không phát triển quy mô lớn trong những trang hay đồn điền Hoạt động chăn nuôi, nhất là lợn, trâu, bò chỉ dừng lại trong phạm vi gia đình,
khiến các hộ tiểu nông không có điều kiện phát triển nghề này
1.2.4 Chế độ tô thuế nông nghiệp
Cùng với thuế thân, thuế ruộng đất cũng là nguồn thu chính của ngân sách địa phương, nhưng so với thuế thân, sự bất công của thuế ruộng biểu hiện không rõ rệt nên ít bị nhân dân ca thán hơn
Vua Nguyễn cũng đã quy định tương đối cụ thể về tô thuế ruộng đất công tư Năm 1803, Gia Long chính thức định lại “Phép tô thuế, dung”, chia
cả nước làm 4 khu vực để thu thuế ruộng đất, chia tô thuế ra làm 3 loại lớn có
chế độ tô thuế khác nhau Với quy định này thì thuế ruộng đất công cao hơn ruộng đất tư Những loại thuế nói trên, phần lớn thu bằng hiện vật thóc gạo và bằng sức lao động, chỉ có thuế thân là thu bằng tiền song vẫn giữ một phần hiện vật Thuế ruộng đất thời nguyễn cũng đã cho phép nộp bằng tiền như trẻ
Trang 22chê, khoán mỗ, điền mẫu Song giá trị đồng tiền bấp bênh, lại thay đổi từng
vùng, nên người nông dân nộp thuế chủ yếu bằng thóc gạo Tình trạng trên phản ánh một nền sản xuất thấp kém, công nghiệp chưa phát triển, kinh tế hàng hóa chưa có vị trí quan trọng
Tô thuế đất công, tr: Thời Gia Long, theo chế độ cũ, các đất bãi phù sa công được lấy lúa phải nạp 120 bát/mẫu, còn các loại đất khác thì phải nộp tiền Đến thời Tự Đức thuế đã được quy định khá tỉ mi
Thuế định: là một bộ phận quan trọng của nhà nước Chế độ tô thuế của
triều Nguyễn khá chặt chẽ, phân chia khu vực, phân chia ba miền và không nặng hơn các thời đại trước Có thê họ Nguyễn chấp nhận sự hợp lý của thời đại trước hoặc bất lực, chưa đủ sức đưa ra một chế độ tô thuế trong cả nước
Tô được thu bằng hiện vật là cơ sở cho hình thức phát canh thu tô trong mối quan hệ giữa địa chủ và tá điền
Trong phương thức thu thuế, nhà nước lại gần như giao hắn cho đơn vị
làng xã, mà không có biện pháp cần thiết để kiểm tra, phát hiện những gian
lận của chính quyền xã Do đó, nguồn thu nhập về tài chính của nhà nước, chủ yếu qua thuế má, không ổn định không mở rộng được, gây nên sự nghèo nàn
về ngân sách của quốc gia và hạn chế khả năng tác động của nhà nước đối với
sự phát triển của sản xuất và đời sống của nhân dan
Ruộng đất được chia làm 2 loại: đất (thổ) và ruộng (điền) Đất được chia làm 12 hạng tùy theo từng loại cây trồng Ruộng cày cấy được chia thành 3 hạng xếp theo độ phì truyền thống của ruộng Giá biểu thuế ruộng thay đổi theo từng vùng và trong từng vùng, thuế ruộng công và ruộng tư cũng khác nhau.[1; Tr.41].Thuế ruộng đất thời nhà Nguyễn chủ yếu thu bằng hiện vật
cộng thêm mỗi ngày 3 tiền thập vật, thời Pháp thu hoàn toàn bằng tiền mới là
đồng bạc trắng (tức bạc Mễ-tây-cơ) rồi sau đó là đồng bạc Đông Dương Vì vậy người dân phải chịu thiệt rất nhiều khi phải đổi tiền kẽm sang bạc trắng,
Trang 23qua tay bọn lái bạc Hoa Kiều Đến khi đồng bạc Đông Dương đã được tiêu phổ biến, người nông dân vẫn cứ chịu thiệt vì giá bạc bắp bênh Cùng với việc
bỏ thuế hiện vật, Pháp bỏ các kho thóc tỉnh, bỏ luôn cả kho thóc cứu tẾ
Giá thuế ruộng đất thời Nguyễn nhìn chung không quá cao so với thu nhập của nông dân Ở Bắc Bộ, có nơi có mức thuế ruộng cao nhất cũng chỉ
là 7,3 quan/mẫu nhất đăng, tương đương với 0,dd87 Ngoài thuế điền chính
ngạch, nông dân phải nộp thêm thuế bách phân phụ thu, nói là tiền chuộc 10 ngày lao dịch, thường là 15% thuế chính ngạch, tức là mỗi mẫu ruộng nhất đẳng phải nộp thêm khoảng 0dd30 nữa Thuế bách phân phụ thu này do công sứ quyết định tỷ lệ hàng năm để đáp ứng được chỉ tiêu cần thiết cho ngân sách
Tóm lại, đưới thời Nguyễn mức thuế đã tăng vọt lên Những thay đổi chỉ tiết không đem lại một sự công bằng nào, trái lại đó chỉ là những biện pháp nhằm thu được nhiều nhất loại thuế này Đồng thời, sự tùy tiện trong cách
phan bé va thu thué da lam nay sinh không biết bao nhiêu tệ nạn cho người
nông dân [3; Tr.99]
1.3 Cơ cấu nông thôn và đời sống nông dân ở Đồng bằng Bắc Bộ
Về dân số, theo tác giả P.Borocheux và D.Hesmery thì Bắc Kỳ có 6.000.000 người [12; Tr.33]
Theo số liệu này, đồng thời căn cứ vào mức độ phân hóa xã hội, có thê thấy lực lượng nông dân lao động còn chiếm hơn 90% Họ là những người gánh chịu tất cả những gì đo con người và tự nhiên đưa lại Đời sống của người nông dân lao động không được cải thiện mà trái lại càng làm cho họ nhanh chóng bị ban cùng hóa
Lực lượng địa chủ chiếm khoảng 3% dân số, nhưng lại nắm trong tay khoảng 40% diện tích ruộng đất canh tác Nhóm xã hội lớn thứ ba là tầng lớp quan lại và văn thân (nhân sĩ và thân hào) Đây là bộ phận “rường cột” của chế
Trang 24độ phong kiến, bởi vì nó gắn liền với Nhà nước trên các mặt chính trị, xã hội và
kinh tế Sau khi đỗ đạt, những người được bồ làm quan (quan lại) làm việc trong các bộ máy chính quyền; nhân sĩ làm công việc dạy học, chuyên chú truyền bá đạo Không — Mạnh: còn các thân hào ở xã thôn có trách nhiệm thu thuế, tuyến
mộ binh lính theo sự phân bổ của Nhà nước [12; Tr.34]
Xã hội nông thôn bị phân hóa thành nhiều tầng lớp khác nhau Đã đây
người nông dân vào cảnh sống khổ cực, không có ruộng đất cày bừa buộc họ phải đi làm thuê Một số ít đi ở cho địa chủ không công, địa chủ nuôi ăn nhưng
cơm không đủ “ở đó có ít gạo, nhiều khoai sắn” Người đầy tớ ít biết đến khái
niệm tự do và thời gian nghỉ ngơi Bộ phận làm thuê cho địa chủ, tiền công bị xê dịch rất nhiều, tùy từng vùng và theo phương thức sử dụng (làm khoán, công nhật theo tháng, theo năm)
Để hình dung cuộc sống đói nghèo của nông dân đồng bằng Bắc Bộ, cần phải xem xét nguồn thu nhập của họ Về tổng thể người dân chủ yếu sống bằng nông nghiệp, mọi thu nhập đều trông chờ từ miếng ruộng, mảnh vườn Kết quả trông thấy của sự bóc lột thực dân và phong kiến là thu nhập của quảng đại quần chúng lao động ngày càng sụt xuống với một tốc độ khá nhanh Thực dân Pháp đã dùng một chính sách bóp nghẹt quá sức tưởng tượng đối với nhân dân các nước thuộc địa của chúng
Số thu nhập của của mỗi người dân lại càng thảm hại hơn Theo số liệu của Lốt-dơ, cựu công sứ Pháp ở Nam Định đã nêu lên một vào con số về thu nhập và đời sống của nông dân tỉnh này [6; Tr 194]
+ 900.000 dân Nam Định đều là những người thiếu ăn, sống bằng thu
nhập hằng năm không đầy một mẫu ruộng và sản phâm lao động thủ công hoặc của tiền công đi làm thuê rẻ mạt Mức sống của đại đa số trong đám
quần chúng ấy, mỗi tháng và cho mỗi gia đình 5 người không vượt quá 5$ (50
Trang 25phờ - răng) Trong nhiều trường hợp còn thấp hơn số tiền ấy nữa
+ Tiền công rất thấp (mỗi ngày làm việc 12h với số tién cong 0$10, 0$07
và 0$65 Trẻ con làm việc 10h mỗi ngày với 0$03 hoặc 0$04)
Theo con số này, thì thu nhập của mỗi người dân trung bình ở Nam Định trong một năm chỉ 12$ Và chắc chắn rằng ở các tỉnh khác ở đồng bằng Bắc
Bộ cũng không thể cao hơn con số ấy bao nhiêu
Bộ phận tá điền, lĩnh canh ruộng đất của địa chủ đưới nhiều hình thức
cấy rẽ hoặc thuê ruộng, thu nhập của họ cũng chăng cải thiện được bao nhiêu Thu nhập của tá điền không cao hơn công nhân làm thuê, lại tương đối thất thường, phụ thuộc vào điều kiện khí hậu Một bộ phận nhân công vào làm việc trong các cơ sở công nghiệp của người Pháp, đồng lương cũng không khá hơn
Khi tính thu nhập của một gia đình phải tính cả mức thu nhập từ vườn
tược, từ khai thác nguồn lợi lâm, thủy sản hay từ nghề thủ công, ước tính từ
10 đến 15$/năm Thu nhập của công nhân xưởng và người làm công tháng
tương đối ổn định thi thu nhập hàng năm chỉ độ 90 đến 96$ Theo tài liệu của
Phòng Canh nông Bắc Kỳ, thu nhập của một gia đình nông dân ở Thái Bình chỉ ở mức 75%/năm, chủ ruộng nhỏ là 115$/năm [6; Tr.202]
Khoản thu nhập của gia đình nông dân đồng bằng Bắc Bộ tương đối thấp, mà đù có cao lên 100$ thì gia đình ấy vẫn còn nghèo khổ Và đời sống nông dân vô cùng khổ cực, đó là chưa kê tới những khó khăn mà nông dân phải chịu đựng như: chế độ lao dịch, nhũng nhiễu của quan lại, cường hào, đói kém, dịch bệnh và đặc biệt là nạn giặc giã
1.4 Quá trình xâm lược và thống trị của thực dân Pháp ở Đồng bằng Bắc
Bộ từ năm 1883 đến 1945
1.4.1 Quá trình xâm lược và thống trị của thực dân Pháp
Trang 26Sau khi chiếm xong Nam Kì, từ năm 1873 đến 1884 thực dân Pháp đã
hai lần tiến quân đánh Bắc Ki
+ Ngày 15/3/1874 một hiệp ước mới đã được kí kết gồm có 22 điều
khoản Với hàng ước 1874, tuy Pháp phải trả lại Hà Nội, nhưng chúng đặt được
cơ sở chính trị, kinh tế, quân sự ở khắp các nơi quan trọng ở Bắc Ky [6; Tr.514]
*Thực dân Pháp đánh chiếm Bắc Kỳ lần thứ 2 (1882-1884)
+ Để có cớ vũ trang can thiệp, năm 1882 thực dân Pháp lấy cớ triều đình Huế vi phạm Hiệp ước năm 1874 đã kéo quân đánh chiếm Bắc Kỳ Ngày 3
tháng 4 năm 3 năm 1882 quân Pháp bắt ngờ đồ bộ lên Hà Nội Thấy rõ âm
mưu của Pháp muốn nuốt hết Bắc Kỳ, nhân dân miền Bắc khắp nơi sôi nổi
kháng chiến Với chiến thắng trận Cầu Giấy lần thứ 2 (19-5-1883)chỉ dién ra
chớp nhoáng trong hai giờ (từ 5 giờ đến 7 giờ) và kết thúc bằng sự thảm bại
của quân đội xâm lược [15; Tr.523]
Chiến thắng Cầu Giấy lần thứ 2 đã làm cho nhân dân cả nước vô cùng phần khởi, giặc Pháp vô cùng hoang mang, lo sợ Ngày 26-6-1883 bọn thực
dân Pháp chớp ngay tin thất trận Cầy Giấy lớn tiếng kêu gọi “trả thù” buộc dư
luận trong và ngoài Nghị viện ủng hộ cuộc viễn chinh lớn Triều đình Huế tỏ
ra ling ting va đã phản bội lại nhân dân cả nước bằng việc kí hai bản Hiệp ước Hacmang (25-8-1883) và Hiệp ước Patonot (6-6-1884)
Hòa ước Hacmang (1883) và Hòa ước Patonot (1884) được ký kết, thực
dân Pháp đặt ách thống trị trên toàn bộ đất nước ta Theo điều khoản của 2
Trang 27hòa ước, Việt Nam bị chia làm 3 xứ, Bắc Kỳ trở thành xứ “nửa bảo hộ” do
chính phủ Thống sứ, đứng đầu là viên Thống sứ quản lý
Hai hiệp ước được ký kết dưới áp lực quân sự của tư bản Pháp đã đánh dấu sự đầu hàng hoàn toàn của Nhà nước phong kiến Việt Nam trước chủ nghĩa tư bản Pháp Khi bị kẻ thù xâm phạm bờ cõi, phong trào đấu tranh của văn thân, sĩ phu và nhân dân đồng bằng Bắc Bộ bùng lên mạnh mẽ trong phong trào “Cần Vương” chống Pháp của cả nước Phong trào chống lại các
hiệp ước năm 1883 và 1884 phát triển sôi nổi ở Bắc Ninh Ở nhiều huyện
thuộc tỉnh Hải Dương như Nam Sách, Ninh Giang vẫn thường xuyên xảy ra những trận mai phục tấn công các đội quân Pháp trên đường hành quân Có một số quan lại không chịu theo lệnh Triều đình ra làm việc với Pháp Có người uất ức trước sự đầu hàng của triều đình đã tử tiết Quan trọng hơn là một số người đã đứng ra mộ quân khởi nghĩa như: Tạ Hiện (Nam Định); Phan
Vụ Mẫn (Thái Bình); Hoàng Văn Hòe (Tri phủ Kiến Xương, tỉnh Thái Bình); Nguyễn Cao (Bắc Ninh) chính phong trào chống xâm lược của nhân dân các địa phương ngay sau khi nhà Nguyễn đầu hàng là cơ sở và nguồn cổ vũ cho
phái chủ chiến ở Huế hành động [8; Tr.64]
1.4.2.Những chính sách của thực dân Pháp nhầm phát triễn kinh tế
nông nghiệp
1.4.2.1 Chính sách ruộng đất của thực dân Pháp
Chính sách về ruộng đất của thực dân Pháp trong thời kì này được cụ thể hóa bằng các Nghị định, Sắc luật Và thông qua các Nghị định và Thông tư, thực dân Pháp thê hiện rõ thái độ của Pháp đối với vấn đề ruộng đất ở Việt Nam
Trước hết chúng tìm cách biến những “đất hoang”, “đất sở hữu” (đất bị bỏ
hoang) trở thành tài sản cấp xứ, có quyền sở hữu Nhà nước bảo hộ Sau đó,
chính quyền thực dân sẽ đem cấp không hoặc bán đấu giá cho thực đân làm đồn điền Chính sách đó một mặt thiết lập quyền sở hữu của thực dân Pháp đối với
Trang 28ruộng đất Việt Nam, đồng thời thông qua đó cướp đất và các nguồn tài nguyên nông nghiệp khác của nhân dân Việt Nam Đó là một chính sách ăn cướp trắng trợn của thực dân Pháp ở Việt Nam, đã được hợp pháo hóa bằng Nghị định, Thông tư mà chúng đưa ra
1.4.2.2 Cải tạo, củng có hệ thống thủy nông
Nhận thấy sự thất thường của khí hậu đồng bằng Bắc Bộ lũ lụt, hạn hán luôn là mối đê dọa với canh tác nông nghiệp, chính quyền thuộc địa đã chú ý đến
công tác thủy lợi Chính quyền Đông Dương tập trung đầu tư cho những công
trình chống úng ở Bắc Kỳ Công việc thủy lợi chủ yếu là cải tạo hệ thống thủy
nông, cải tạo đê điều, chống úng Tuy nhiên cho đến hết Thế chiến I, “song van chảy vô ích đưới mắt nhưng người nông dân kiên trì” Theo báo cáo của công xứ các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ hạn hán vẫn xảy ra nghiêm trọng vào các năm 1902,
1904 Cố gắng lớn nhất của chính quyền là các hoạt động khảo sát, thăm dò, xây
dựng các dự án thủy nông
1.4.2.3 Lập trạm thí nghiệm giống
Tại đồng bằng Bắc Bộ có Trạm Thí Nghiệm của Sở Nông Nghiệp Hà Nội
được thành lập vào 1904 ở Phú Thy (tỉnh Hưng Yên) cho vùng Châu Thổ Viện Khoa học Đông Dương được thành lập và sau đó trở thành Viện Khảo Cứu Nông Học vào năm 1919 Nhằm nghiên cứu, cải tiến chất lượng giống cây trồng, phổ biến các loại giống có chất lượng cũng như kĩ thuật cah tác.Trạm thí nghiệm
đã thu nhập và phân loại hầu hết các giống lúa trong các tỉnh Hưng Yên Từ thực
tế canh tác ruộng lúa ở Hưng Yên, trạm thí nghiệm đã đưa ra những khuyến cáo
về giống lúa, kĩ thuật chăm sóc lúa, vai trò của các bờ thửa trong việc giữ nước Trạm phổ biến cách thả vịt trong các ruộng lúa để hạn chế sâu bọ
Bên cạnh khảo sát trồng lúa, trạm thí nghiệm còn nghiên cứu và thử nghiệm một số cây trồng khác như: bông, ngô bắp tẻ, đậu tương
Sự ra đời của trạm thí nghiệm giống ở Hưng Yên đã có ý nghĩa trong việc chọn, cải tạo giống, khuyến cáo các biện pháp kĩ thuật Lúa là cây trồng có hiệu
Trang 29quả nhất trong kinh doanh nông nghiệp Trạm giống hoạt động không vì mục đích lợi nhuận, “phát ra những loại lúa đã chọn lọc làm giống mới, nó là người chỉ dẫn không lấy tiền”, góp phần thay đổi thói quen canh tác dựa vào kinh nghiệm của người nông dân trong khu vực
1.4.2.4 Chính sách khuyến khích lập đôn điền
Khi tiến hành công cuộc khai thác thuộc địa, thực dân Pháp đã chú trọng đến mở mang đồn điền kinh doanh nông nghiệp Ngoài mục đích kinh tế (tim kiếm lợi nhuận), đồn điền còn mang sứ mệnh chính trị (đảm bảo sự yên ổn ở những vùng dối loạn) và xã hội (đưa các loại cây mới vào trồng đề thu hút bớt cư dân ra khỏi đồng bằng đông đúc Đồn điền ở đồng bằng Bắc Bộ được mở rộng trở thành của nền kinh tế nông nghiệp Việt Nam cuối thế kỉ XIX
Bên cạnh các nghị định về việc cấp phát, chuyển nhượng đất đai, chính quyền thuộc địa cũng có nhiều biện pháp để khuyến khích khai thác đồn điền Ngày 20/7/1898 Toàn quyền Đông Dương ra nghị định đặt giải thưởng hàng
năm cho các đồn điền trồng cà phê, chè, cây có sợi, đay, ga, thuốc lá
Chính sách khuyến khích lập đồn điền của chính quyền thuộc địa khiến
cho loại hình kinh tế này phát triển mạnh Tuy có hơi muộn hơn những nơi khác nhưng kinh tế đồn điền xuất hiện và phát triển ở khu vực đồng bằng Bắc
Bộ đã trở thành một nhân tố thúc đây sự chuyền biến của kinh tế nông nghiệp truyền thống
Trang 30Tiểu kết chương 1
Đồng bằng Bắc bộ là khu vực có nhiều khả năng đề phát triển một nền
nông nghiệp đa dạng Tài nguyên thiên nhiên phong phú, tiềm năng lao động dồi dào, đồng bằng Bắc bộ có thế mạnh trog việc trồng lúa nước, cây công nghiệp và chăn nuôi đại gia súc Bắc bộ là vùng trung tâm kinh tế nên thu hút được sự quan tâm của các nhà canh nông Pháp trong quá trình khai thác thuộc địa
Nông nghiệp đồng bằng Bắc bộ đưới thời Nguyễn vẫn nằm trong tình trạng lạc hậu, độc canh, tự cung tự cấp Triều Nguyễn đã có nhiều biện pháp khuyến nông nhưng hiệu quả thấp, tình trạng hoang hóa diễn ra trầm trọng, thiên tai thường xuyên xảy ra Về sở hữu ruộng đất, triều Nguyễn cô gắng bảo
vệ ruộng đất công làng xã và coi đó là cơ sở quan trọng của nhà nước, nhưng
xu hướng “Biến công vi tư” vẫn phát triển Ruộng đất tư đã chiếm tỉ lệ trên
dưới 80% diện tích canh tác, ruộng đất công chiếm tỷ lệ trên dưới 20%
Trình độ canh tác nông nghiệp còn phân tán, lạc hậu, chủ yếu dựa vào kinh nghiệm, phụ thuộc vào tự nhiên, thủy lợi không đáng kể, nông cụ thô sơ Nông nghiệp ở thế độc canh, cây lúa là cây trồng chủ đạo Diện tích trồng lúa
thất thường, phụ thuộc vào thời tiết Bình quân ruộng đất theo nhân khẩu giảm một nửa tính từ triều Gia Long đến thời Tự Đức Điều kiện canh tác lạc hậu khiến năng suất lúa thấp, ở mức 8 đến 9 tạ/ha Địa tô chủ yếu bằng hiện
vật Tín dụng gần như không có, thương nghiệp bị hạn chế Yếu tố kinh tế
hàng hóa không có điều kiện phát triền
Về mặt xã hội: Sự phân hóa giai cấp xã hội nông thôn, nông dân bị chia thành nhiều tầng lớp khác nhau Đời sống nông dân vô cùng khổ cực đây họ vào làm công nhân ở các công xưởng và chỉ nhận được những đồng lương
chết đói
Trang 31Chương 2
NHUNG CHUYEN BIEN TRONG KINH TE NONG NGHIEP
O DONG BANG BAC BOTU NAM 1883 DEN NAM 1945
2.1 Chuyén bién vé tinh hinh sé hiru ruéng dat
2.1.1 Ruộng đất công
Cùng với việc phát triển chế độ sở hữu lớn về ruộng đất ở Nam Kỳ, thực dân Pháp còn thực hiện chủ chương bảo lưu chế độ công điền công thổ, nhằm qua đó duy trì sự tồn tại của chế độ sở hữu nhỏ về ruộng đất ở Bắc Kỳ, nhằm tạo ra nguồn nhân lực dồi dào sẵn sàng cung ứng cho cuộc khai thác và bóc lột của tư bản Pháp trên quy mô lớn ở nước ta Do đó một đặc điểm nổi bật trong nông nghiệp đồng bằng Bắc Bộ trong giai đoạn này là sự tập trung công điền công thổ
“Công điền công thổ không phải là ruộng đất của tư nhân hay thuộc quyền làng xã Công điền cũng phải là ruộng đất của nhà nước do quan chức nhà nước trực tiếp quản lý như: quan điền, dinh điền, đồn điền” [14; Tr.51]
“Công điền là loại ruộng đất thuộc sở hữu hoặc coi như sở hữu của nhà nước, trao cho xã thôn để cấp và cho xã dân cùng cày cấy theo đúng định lệ chung” [14; Tr.51]
Vào đầu thế kỉ XIX, mức độ tập trung ruộng đất ở Việt Nam đã phát
triển khá cao Theo Nguyễn Công Tiệp trong Sĩ hoạn tu tri thì ruộng tư vào
đầu thế ki XIX chiếm 81% còn ruộng công và các loại ruộng khác chiếm
19% Tính đến những năm 1830 trên phạm vi cả nước ruộng công chỉ còn chiếm 17% diện tích canh tác Thậm chí có tỷ lệ ruộng công còn không đáng
kể, như làng Mộ Trạch (Hải Dương) hay Đa Ngưu (Hưng Yên) Tuy nhiên
vào đầu thế ki XX, tỷ lệ công điền lại đột ngột tăng lên Theo thống kê của
Tổng Thanh Tra nông nghiệp Đông Dương Yves henry thì vào đầu nhũng
năm 1930, điện tích công điền ở Bắc Kỳ còn 20% [14; Tr.51]
Trang 32*Sự phân bố công điền công thổ
Hầu hết công điền tập trung ở các tỉnh đồng bằng, nhất là các tỉnh ven
biển như: Nam Định; Thái Bình
Bảng 1: Tỷ lệ công điền của một số tính đồng bằng Bắc Bộ
Qua thống kê trên, Nam Định là tỉnh có tỷ lệ công điền chiếm 39,0%;
Hà Nam chiếm 37,7% cao hơn so với Ninh Bình chỉ chiếm có 27,7% Ta
nhận thấy sự phân bố công điền giữa các tỉnh là không giống nhau Và nếu đem so công điền với diện tích canh tác của từng tỉnh, từng vùng cụ thể thì tỷ
lệ công điền còn tăng lên rất nhiều
Bảng 2: Tý lệ công điền so với diện tích canh tác trong một số phú,
huyện của đồng bằng Bắc Bộ đầu thế kỷ XX
tác (%) Phủ Lý — Ha Nam 46,0
Huyện Kim Bảng — Ha Nam 54,0
Huyén Ý Yên — Nam Định 53,0
Huyện Trực Ninh — Nam Định 59
Trang 33
Nguồn: Vũ Huy Phúc, Chế độ cơng điền cơng thổ Bắc Kỳ dưới thời Pháp thống trị,
Tạp chí Nghiên cứu Lịch sửTr 51
Ở Thái Bình, nhất là vùng Kiến Xương và Thái Ninh, 95,93 % các làng
xã đều cĩ ruộng đất cơng (118/123 đơn vị) Cĩ nơi tồn bộ đất đai làng xã Hạ
Phán (Quỳnh Cợi), Phú Xuân Trường (Nam Định), tỷ lệ cơng điền chiếm 77% diện tích canh tác đất của cả Phủ Thậm chí cĩ những làng chỉ cĩ cơng điền,
khơng cĩ tư tư điền như làng Lạc Nam (Kiên Trung-Hải Hậu)
Tuy nhiên, ngay cả trong những tỉnh cĩ nhiều cơng điền cơng thổ thì giữa các làng, sự phân bộ cơng điền cơng thổ khơng đều nhau cĩ làng cĩ, cĩ làng khơng
*Tình hình phát triển cơng điền cơng thổ
Cơng điền cơng thổ ở đồng bằng Bắc Bộ cĩ xu hướng tăng dần từ cuối
thế kỉ XIX đến đầu thế kỷ XX Làng Mộ Trạch - Hải Dương ruộng cơng tăng tir 0,93 (thế kỉ XIX) `lên 33,5% ( đầu thé ky XX), (tite dau thế kỉ XX, ruộng
cơng của Mộ Trạch là 245 ha trên tổng số 730 ha đất canh tác cả làng)
Sự gia tăng về diện tích ruộng cơng là một hiện tượng phổ biến trong các làng xã của đồng bằng Bắc Bộ thời Pháp thuộc Hiện tượng này “là I chủ trương đối phĩ của làng xã đối với chính quyền Trung ương Do chính sách tăng cường thuế khĩa của nhà nước thực dân, các làng xã đã tìm cách kê khai một số ruộng tư hoặc ruộng bán cơng bán tư thành ruộng cơng đề giảm mức đĩng thuế”
Nhưng một trong những nguyên nhân chủ yếu là đo chính sách ruộng đất của thực dân Pháp Kể từ đầu thế ki XX, trong Nghị định ngày 27-8-1904 áp dụng đối với các làng xã Nam Kỳ và Nghị định ngày 8-3-1906 đề cập đến
Trang 34việc quản lý tài sản của các làng xã Bắc Kỳ Chính quyền liên bang Đông Dương đã ra lệnh cắm kỳ mục các làng xã không được bán công điền công thổ (như luật lệ Gia Long đã quy định từ năm 1803) VỀ sau trong các văn bản
“cải lương hương chính” thực dân Pháp còn cho phép thuê, lĩnh canh, thậm chí cho bán ruộng đất công của làng xã để chỉ dùng vào công việc của làng, nhưng chỉ được thực hiện trong những trường hợp đặc biệt và phải được sự đồng ý của chính quyền cấp tỉnh hoặc xứ [13; Tr.7]
Không chỉ tìm cách duy trì mà thực dân Pháp còn muốn phát triển chế độ
công điền công thổ Ngày 23-11-1923, Thống sứ Bắc Kỳ ban hành Thông tư
dành cho các ruộng bãi ở những làng ven sông đề làm công điền Tiếp đó văn bản ngày 4-11-1928 cho phép chính quyền địa phương có quyền cấp cho các làng một diện tích dưới 500 ha làm ruộng công của làng Đặc biệt, ngày 23-7-
1930, chính quyền Pháp ra Nghị định cho các làng đã khai phá đất hoang mới
bồi không được biến thành tài sản riêng mà phải đặt thành công điền Thực
hiện Nghị định này, từ tháng 4-1933 đến tháng 8-1936 cả một vùng đất khai hoang rộng lớn (gồm 4.794 mẫu) của 12 làng ven biển Nam Định Sở dĩ thực dân Pháp chủ trương duy trì chế độ công điền vì chúng hiểu rằng công điền là
cơ sở kinh tế của tổ chức làng xã Sự tồn tại của công điền chủ yếu là do yêu cầu của thôn xã
*Việc chia công điển
Đối tượng được chia
Theo quy định của nhà nước phong kiến, tất cả những người dân trong làng đều được chia công điền, kế cả đàn bà góa, trẻ mồ côi, những người tàn
tật Đến thời thuộc Pháp, đối tượng được hưởng công điền bị thu hẹp lại chỉ
có những người được ghi trong số đỉnh hoàn toàn được chia công điền Ngoài
ra, ở một số nơi công điền còn được chia cho cả lính, mõ, những người đi
phu, đi đồn ở Nam Kỳ Có những nơi (làng Đông Lạc - Ninh Giang - Hải
Trang 35Dương) một người chết lính đến lúc chưa hết tang, cũng vẫn được hưởng quân cấp quan điền Cũng có những ngoại tệ như: Kiến An vẫn chia công điền cho người thương tật, cho người già, trẻ mồ côi và đàn bà góa
Thời hạn chia công điền
Điểm đầu tiên trong thời hạn chia công điền ở Bắc Kỳ ở giai đoạn này đó
là sự không thống nhất giữa tất cả các làng Nhà Nguyễn ấn định cứ 3 năm chia công điền 1 lần Thời hạn đó lại tiếp tục được áp dụng trong thời thuộc
Pháp vì rằng nếu đề thời hạn hưởng ruộng kéo dài từ 4-5 năm trở lên thì dễ có
khuynh hướng “Biến công vi tư” và các điều lạm dụng có điều kiện xảy ra do
đó, thời hạn 3 năm đã trở thành lệ chung cho toàn Bắc Kỳ
Nhưng trên thực tế việc thực hiện luật lệ ấy không hoàn toàn triệt dé va
đồng nhất giữa các làng Có những làng chia 5-6 năm/lần, có những làng chia
1 năm/lần (52 làng trong tỉnh Bắc Ninh) có những làng chia 10 năm/lần hoặc vĩnh viễn suốt đời như Tân Kim — Hân Giang — Cảm Giang — Hai Duong hoặc công điền không theo thời hạn nhất định như làng Hàm Nghỉ — Tứ Kỳ - Hải Dương Bao gồm những người chót đi hay lên lão, đồng thời có nhiều người thành đỉnh các bộ kỳ mục nghe dư luận thấy cần phải chia, lúc đó mới chịu chia lại
Ta thấy tình hình phân hóa ruộng đất ở các tỉnh Bắc Bộ cũng khá khác
nhau Ở vùng Hải Dương, Hưng Yên, mức độ phân hóa ruộng đất mạnh mẽ
và triệt đẻ hơn Số ruộng công ở vùng vào đầu thế ki XIX chỉ còn dưới 1% Trong khi đó ở khu vực Bắc Ninh, Thái Bình, ruộng đất công còn chiếm một
tỉ lệ khá cao, từ 14,59% đến 17,08 % Cá biệt có những nơi ở Kiến Xương,
Thái Ninh (Thái Bình), tỷ lệ ruộng đất công đạt mức trên 50% thậm chí trên 60% Nhìn chung số ruộng đất công thường chiếm tỷ lệ cao ở những vùng mới khai phá nằm cạnh sông, ven biển Tại các khu vực đất cũ, tình hình dân
cư ổn định thì tốc độ tư hữu hóa ruộng đất mạnh hơn, tỷ lệ ruộng tư cũng cao hơn so với các vùng ven biển, có đất bãi bồi [5: Tr.30]