1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn khả năng phát triển sản phẩm bảo hiểm trên địa bàn nông thôn tỉnh đăk lăk

105 385 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Khả năng phát triển sản phẩm bảo hiểm trên địa bàn nông thôn tỉnh Đăk Lăk
Tác giả Nguyễn Văn Đạt
Người hướng dẫn PGS.TS Lê Hữu Ảnh
Trường học Trường Đại học Nông nghiệp 1
Chuyên ngành Kinh tế
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2006
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 714,91 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

luận văn

Trang 1

Bé GI¸O DôC §µO T¹O TR¦êNG §¹I HäC N¤NG NGHIÖP I

Trang 2

Các đồng chí trong ban lnh đạo công ty Bảo Minh Đăk Lăk, cùng tập thể CBCNV của công ty

Các đồng chí lnh đạo và nhân viên các công ty: Bảo hiểm Bảo Việt ĐăkLăk, Bảo hiểm Pjico tại Tây Nguyên, Bảo hiểm Bưu Điện tại Tây Nguyên

Các đồng chí trong ban lnh đạo huyện Eakar, phòng Kinh tế, phòng Thống kê, cùng toàn thể bà con của các đối tượng điều tra trên

địa bàn nghiên cứu đ giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn nghiên cứu của mình

Tác giả

Nguyễn Văn Đạt

Trang 3

Mục lục

Trang

2 Hoạt động kinh doanh bảo hiểm và bảo hiểm nông nghiệp,

2.1 Tổng quan về hoạt động kinh doanh bảo hiểm và bảo hiểm thương mại 10 2.1.1 Bảo hiểm và tác dụng của kinh doanh bảo hiểm 10 2.1.2 Bản chất và chức năng của bảo hiểm thương mại 12 2.1.3 Đối tượng và các tổ chức hoạt động kinh doanh bảo hiểm thương mại 15 2.1.4 Những nguyên tắc chung trong hoạt động bảo hiểm thương mại 16 2.2 Một số nội dung về bảo hiểm nông nghiệp 17 2.2.1 Sự cần thiết khách quan của bảo hiểm nông nghiệp 17 2.2.2 Nội dung của bảo hiểm nông nghiệp 23 2.2.3 Kinh nghiệm về hoạt động bảo hiểm nông nghiệp 32 2.3.1 Kinh nghiệm bảo hiểm nông nghiệp ở Việt Nam 43

3 Đặc điểm các tổ chức bảo hiểm trên địa bàn ĐĂKLĂK và phương

Trang 4

3.1.2 Tình hình dân số 50 3.2 Đặc điểm các tổ chức bảo hiểm trên địa bàn tỉnh Đăk Lăk 52 3.2.1 Tình hình chung các doanh nghiệp bảo hiểm và sản phẩm bảo hiểm 52 3.2.2 Doanh thu và thị phần của các tổ chức bảo hiểm 54 3.2.3 Năng lực và khả năng bảo hiểm nông nghiệp nông thôn của các tổ chức

3.3.1 Chọn điểm nghiên cứu và đặc điểm chung của điểm nghiên cứu 55

3.3.3 Phương pháp phân tích, xử lí số liệu 61

4.1 Các đối tượng có thể phát sinh nhu cầu bảo hiểm và các loại rủi ro trong các

Trang 5

c¸c ch÷ viÕt t¾t

BH B¶o hiÓm

BHNN B¶o hiÓm n«ng nghiÖp

DNBH Doanh nghiÖp b¶o hiÓm

Trang 6

Bảng 3.8: Tình hình đất đai của các nhóm hộ điều tra 61 Bảng 3.9: Tình hình lao động và nhân khẩu của các nhóm hộ điều tra 62 Bảng 3.10: Tài sản sản xuất của các nhóm hộ điều tra 62 Bảng 4.1: Tình hình đất đai của các nhóm hộ điều tra 64 Bảng 4.2: Tình hình lao động và nhân khẩu của các nhóm hộ điều tra 65 Bảng 4.3: Tài sản sản xuất của các nhóm hộ điều tra 67 Bảng 4.4: Tình hình biến động giá cả một số nông sản chính của vùng 69 Bảng 4.5: Mức độ xuất hiện của từng loại rủi ro ở các x_ điều tra 72 Bảng 4.6: Tác động của các loại rủi ro đối với hộ nông dân trong sản xuất 73 Bảng 4.7: Tổn thất về vật chất do rủi ro gây ra bình quân cho cácnhóm hộ điều tra 74 Bảng 4.8a: Cơ cấu các nguồn thu nhập của các nhóm hộ điều tra x_ EaĐar 81 Bảng 4.8b: Cơ cấu các nguồn thu nhập của các nhóm hộ điều tra x_ C− Ni 81 Bảng 4.8c: Cơ cấu các nguồn thu nhập của các nhóm hộ điều tra x_ EaÔ 82 Bảng 4.9: Xây dựng mức phí bảo hiểm cho 1 ha cây cà phê 86 Bảng 4.10: Xây dựng mức phí bảo hiểm cho 1 ha cây điều 88

Trang 7

1 Mở đầu

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Nông nghiệp là một ngành sản xuất đặc biệt của nền kinh tế quốc dân Cho

dù thế giới đ_ bước vào nền công nghiệp, nền kinh tế tri thức thì nông nghiệp muôn

đời vẫn giữ một vị trí quan trọng bởi lẽ nó duy trì sự sống cho cả hành tinh này Những nước đang phát triển như nước ta thì nông nghiệp nông thôn luôn được đặt lên hàng đầu

Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất, phân công lao động x_ hội ngày càng được nâng cao và ngày càng thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển theo hướng chuyên môn hóa, tập trung hóa và hiệp tác hóa Sự phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động x_ hội trong nông nghiệp đ_ đưa sản xuất nông nghiệp từ trình độ tự nhiên, tự cung tự cấp từng bước đi lên sản xuất hàng hóa Khi nền nông nghiệp chuyển sang sản xuất hàng hóa, hình thức tổ chức sản xuất chủ yếu trong nông nghiệp không còn là những hộ nông dân sản xuất nhằm mục

đích sinh tồn và tự cung tự cấp nữa mà chủ yếu là các hộ nông dân sản xuất hàng hóa và các loại hình tổ chức sản xuất kinh doanh nông nghiệp đa dạng Sự phát triển đó nảy sinh nhiều vấn đề rủi ro đối với người sản xuất nông nghiệp Trên thực

tế, rủi ro là điều có thể xảy ra với bất kỳ một ai và với người sản xuất nông nghiệp thì nó lại càng nghiêm trọng và thường xuyên hơn, có nhiều nguyên nhân gây ra rủi

ro như là rủi ro thiên nhiên, rủi ro môi trường x_ hội, rủi ro thị trường v.v Nhưng với bất kỳ nguyên nhân gì thì khi rủi ro xảy ra thường gây ra cho người sản xuất nông nghiệp những khó khăn trong cuộc sống như mất hoặc giảm thu nhập, phá hoại nhiều tài sản, làm ngưng trệ đến sản xuất và ảnh hưởng đến đời sống kinh tế x_ hội nói chung Như vậy có thể nói "sản xuất nông nghiệp không có bảo hiểm như cầu thang không có tay vịn"

Trong những năm vừa qua chúng ta luôn phải gánh chịu những tác động của thiên nhiên như các cơn đại hồng thủy, đại hạn hán ở Tây Nguyên, lũ ống lũ quét ở

Trang 8

Yên Bái vừa qua v.v và đặc biệt là dịch cúm gia cầm đ_ và đang hoành hành Chứng kiến người sản xuất nông nghiệp bị thiệt hại hàng ngàn hecta màu, hàng trăm hecta cà phê, khoảng 30 triệu đồng/ hộ/ ngày đối với những hộ chăn nuôi gia cầm mới thấy sự mất mát đó thật khôn lường Tây Nguyên nói chung và Đăk Lăk nói riêng là vùng sản xuất nông nghiệp chuyên canh mang tính hàng hóa tập trung

Để đưa các sản phẩm nông nghiệp có thế mạnh của vùng này như cao su, hồ tiêu,

điều, cà phê v.v có sức cạnh tranh và đứng vững trên thị trường trong nước cũng như trên thế giới, đồng thời tạo điều kiện cho người sản xuất nông nghiệp có cuộc sống ổn định hơn, tăng thu nhập, giảm bớt những rủi ro trong quá trình sản xuất của mình nhằm đảm bảo cho vùng phát triển nông nghiệp một cách bền vững Để làm được điều này thì việc nghiên cứu tìm ra một giải pháp nhằm cộng đồng hóa rủi ro cho người sản xuất nông nghiệp nông thôn ở Đăk Lăk là điều cực kỳ cấp thiết Đứng trước những yêu cầu như trên của thực tiễn tôi đ_ mạnh dạn đi sâu nghiên cứu đề tài: “Khả năng phát triển sản phẩm bảo hiểm trên địa bàn nông thôn tỉnh Đăk Lăk"

1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

Mục tiêu chung

Nghiên cứu, đánh giá khả năng phát triển sản phẩm bảo hiểm nông nghiệp nông thôn trên địa bàn tỉnh Đăk Lăk

Mục tiêu cụ thể

Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển sản phẩm bảo hiểm nông nghiệp nông thôn

Đánh giá thực trạng phát triển sản phẩm bảo hiểm nông nghiệp nông thôn trên địa bàn Đăk Lăk trong thời gian qua

Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển sản phẩm bảo hiểm nông nghiệp nông thôn ở Đăk Lăk

Trang 9

Đề xuất định hướng các giải pháp phát triển thị trường bảo hiểm nông nghiệp nông thôn trên địa bàn Đăk Lăk từ nay đến năm 2010

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng : Nghiên cứu nhu cầu về sản phẩm bảo hiểm nông nghiệp nông thôn của các hộ nông dân, trang trại, công ty sản xuất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh

Đăk Lăk

Phạm vi:

Phạm vi về nội dung: Đánh giá khả năng phát triển sản phẩm bảo hiểm nông nghiệp nông thôn trên địa bàn, từ đó đưa ra các giải pháp để phát triển loại hình dịch vụ này

Phạm vi không gian : Khu vực nông thôn trên địa bàn tỉnh Đăk Lăk

Phạm vi thời gian : Nghiên cứu số liệu 3 năm trở lại đây từ đó đưa ra các giải pháp cho định hướng nhằm áp dụng từ nay đến 2010

Trang 10

2 hoạt động kinh doanh bảo hiểm và bảo hiểm

• Các yếu tố dẫn đến sự ra đời và phát triển của bảo hiểm thương mại

Trong cuộc sống hàng ngày hay trong hoạt động kinh doanh, mỗi cá nhân mỗi doanh nghiệp thường gặp phải những rủi ro bất ngờ xảy ra mà không ai lường

được Có rất nhiều các loại rủi ro trong thực tế phát sinh, nó tác động trực tiếp vào con người, tài sản và trách nhiệm của con người Người ta thường chia ra làm ba nhóm rủi ro chính:

Một là rủi ro thiên nhiên Mặc dù con người đ_ và đang từng bước nhận thức

và vận dụng những quy luật thiên nhiên, chinh phục và cải tạo thiên nhiên nhưng con người vẫn phải chịu tác động của thiên nhiên và con người vẫn phải gánh chịu những hậu quả nặng nề từ thiên tai, b_o lũ, hạn hán

Hai là rủi ro kĩ thuật Trong quá trình đấu tranh với tự nhiên để tồn tại và phát triển, con người đ_ sáng tạo ra máy móc và các phương tiện kĩ thuật tạo điều kiện để năng suất lao đông tăng lên, tạo thêm nhiều của cải vật chất, nâng cao đời sống tinh thần cho con người Tuy nhiên, kĩ thuật nó cũng gây ra những tổn thất đối với con người trong quá trình sử dụng và vận hành

Ba là rủi ro x_ hội X_ hội càng phát triển thì càng xuất hiện thêm những tệ nạn mới như cướp giật, lừa đảo, trộm cắp làm cho tổn thất về rủi ro x_ hội

Trang 11

Ngay từ thời xa xưa có người đ_ biết áp dụng một số các biện pháp để khắc phục những tổn thất xảy ra:

- Tự tích luỹ (hay tự bảo hiểm)

- Đi vay

- Lập hội tương hỗ

Do khoa học kĩ thuật phát triển ngày càng cao, quy mô sản xuất ngày càng

mở rộng dẫn đến thu nhập của mỗi người đều tăng Mỗi cá nhân, mỗi doanh nghiệp

đều có nhiều tài sản có giá trị và nguy cơ găp rủi ro ngày càng cao Mặt khác, giá trị của con người thì không thể đo được bằng tiền nên những phương pháp trên ngày càng không thể đáp ứng được những đòi hỏi của con người cho nên tất yếu sẽ xuất hiện phương pháp để thoả m_n những yêu cầu này Bảo hiểm đ_ dần dần trở thành phương pháp tốt nhất khi nó khắc phục được những nhược điểm của những phương pháp trên và đáp ứng được những yêu cầu của x_ hội Nó góp phần ổn định kinh tế cho mọi thành phần kinh tế và nền kinh tế nói chung

• Tác dụng của bảo hiểm thương mại

Bảo hiểm thương mại có nhiều tác dụng trong đời sống kinh tế x_ hội :

Thứ nhất, bảo hiểm thương mại giúp nhiều thành viên trong x_ hội, nhiều cơ quan đơn vị ổn định cuộc sống, ổn định sản xuất kinh doanh khi họ gặp rủi ro Điều

đó có ý nghĩa là khi họ gặp rủi ro được bảo hiểm họ có thể được doanh nghiệp bảo hiểm chi trả tiền bảo hiểm

Thứ hai, bảo hiểm thương mại góp phần giữ gìn trật tự an ninh, an toàn x_ hội

và góp phần làm cho x_ hội văn minh hơn lành mạnh hơn Tác dụng này của bảo hiểm thương mại còn được thể hiện ở chỗ, khi con người gặp rủi ro nhất là những rủi ro gây ra những thiệt hại nghiêm trọng họ thường bị bất ổn về mặt tinh thần

Điều đó có thể dẫn đến sự bất ổn mang tính dây chuyền trong đời sống chính trị, kinh tế, x_ hội Do đó để tránh sự bất ổn, mọi người thường tìm đến những giải pháp an toàn Bảo hiểm chính là giải pháp tốt nhất để làm giảm sự bất ổn này thông

Trang 12

qua việc chi trả tiền bảo hiểm cho các khách hàng gặp rủi ro nhằm làm giảm bớt khó khăn về mặt tài chính và qua đó tinh thần họ sẽ ổn định hơn

Thứ ba, bảo hiểm thương mại góp phần đề phòng và hạn chế tổn thất qua việc các doanh nghiệp bảo hiểm làm đường tránh nạn, hướng dẫn, cung cấp các thiết bị phòng cháy chữa cháy Đây là tác dụng mang tính “phòng bệnh” hơn “chữa bệnh” của bảo hiểm thương mại Từ đó, doanh nghiệp bảo hiểm sẽ ít phải trả tiền hơn do mức độ rủi ro giảm xuống

Thứ tư, bảo hiểm thương mại còn góp phần vào việc đầu tư cho sự tăng trưởng

và phát triển kinh tế quốc gia Điều này thể hiện qua việc mỗi doanh nghiệp bảo hiểm là một nhà đầu tư tài chính cỡ lớn Nguồn tài chính của doanh nghiệp chủ yếu thu từ nguồn đóng phí bảo hiểm của người tham gia bảo hiểm và vốn tự có của công ty Đối tượng đầu tư của các doanh nghiệp chủ yếu là trái phiếu, cổ phiếu, bất

động sản, cho vay

Thứ năm, bảo hiểm thương mại ra đời góp phần làm giảm nhẹ gánh nặng cho ngân sách nhà nước đồng thời còn làm tăng thu ngân sách và ngoại tệ cho nhà nước Tác dụng này được thể hiện khi gặp rủi ro, người được bảo hiểm có thể được bồi thường mà không cần sự giúp đỡ từ ngân sách nhà nước Còn doanh nghiệp có trách nhiệm nộp thuế cho nhà nước

Cuối cùng, bảo hiểm thương mại góp phần mở rộng mối quan hệ kinh tế với nước ngoài Điều này được thể hiện chủ yếu qua hoạt động tái bảo hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm với các nhà tái bảo hiểm ở nước ngoài qua hoạt động bán bảo hiểm cho các tổ chức quốc tế

2.1.2 Bản chất và chức năng của bảo hiểm thương mại

2.1.2.1 Bản chất của bảo hiểm thương mại

Hiện nay trên thế giới không có một định nghĩa chính xác về bảo hiểm thương mại, đồng thời tên gọi của nó ở mỗi nước cũng có sự khác nhau Tuy nhiên

đại đa số các nước trên thế giới đều gọi nó là bảo hiểm thương mại Ngày nay, khái

Trang 13

niệm bảo hiểm thương mại đ_ được quan niệm như sau: "Bảo hiểm thương mại là biện pháp lập quỹ dự trữ bằng tiền do những người có cùng khả năng gặp một loại rủi ro nào đó đóng góp tạo nên và từ quỹ đó có thể bồi thường cho người tham gia khi họ gặp rủi ro bất ngờ gây hậu quả thiệt hại "[22]

Bản chất bảo hiểm thương mại được thể hiện ở những điểm sau đây:

Thứ nhất, thực chất bảo hiểm thương mại là sự cam kết giữa người tham gia bảo hiểm với doanh nghiệp bảo hiểm, đó là mối quan hệ vừa mang tính kinh tế vừa mang tính x_ hội, sự cam kết được thể hiện qua hợp đồng bảo hiểm Hợp đồng bảo hiểm là văn bản thể hiện quyền lợi và trách nhiệm của các bên tham gia Tính kinh

tế trong bảo hiểm thương mại được thể hiện khi một người mua bảo hiểm (đ_ đóng phí bảo hiểm) thì tức là người đó đ_ chuyển giao rủi ro của mình cho doanh nghiệp bảo hiểm và khi rủi ro được bảo hiểm xảy ra thì người đó có quyền được nhận số tiền bảo hiểm lớn hơn so với số phí bảo hiểm đ_ đóng Tính x_ hội được thể hiện qua quy luật “số đông bù số ít” của bảo hiểm, tức là trong bảo hiểm sẽ có sự san sẻ rủi ro giữa người gặp nhiều rủi ro và người gặp ít rủi ro Tính x_ hội của bảo hiểm còn được thể hiện qua hoạt động đề phòng và hạn chế tổn thất của doanh nghiệp bảo hiểm, mà nó có thể làm giảm bớt khả năng gặp rủi ro cho các đối tượng tham gia bảo hiểm

Thứ hai, bảo hiểm thương mại là một dịch vụ tài chính, một dịch vụ đặc biệt

dễ bắt chước, có kĩ thuật phức tạp Tính tài chính được thể hiện qua hoạt động thu chi tiền giữa doanh nghiệp bảo hiểm với khách hàng Tính đặc biệt được thể hiện ở cơ chế chuyển giao rủi ro, của hoạt động bảo hiểm, dịch vụ bảo hiểm là hoạt động

dễ bắt chước giữa các doanh nghiệp bảo hiểm Tính phức tạp của nghiệp vụ bảo hiểm được thể hiện qua ngôn từ có tính pháp lý cao, các thuật ngữ mang tính chuyên ngành cao Ngoài ra, bảo hiểm thương mại còn là một dịch vụ, do đó nó cũng có các tính chất, đặc điểm giống dịch vụ như:

Tính vô hình: Bảo hiểm là sản phẩm vô hình không sờ thấy, không nhìn thấy,

Trang 14

không ngửi thấy Đó chỉ là lời hứa sẽ bồi thường khi gặp tổn thất

Tính không tách rời khỏi nguồn gốc: Dịch vụ bảo hiểm không tách rời khỏi nhà bảo hiểm

Tính không ổn định về chất lượng : Chất lượng dịch vụ bảo hiểm phụ thuộc chủ yếu vào từng người cung ứng, tức là phụ thuộc vào tình trạng hiện tại của họ Thứ ba, bảo hiểm thương mại vì mục đích ổn định cuộc sống, ổn định sản xuất kinh doanh của nhiều thành viên trong x_ hội khi họ gặp rủi ro Ngoài ra nó còn

đáp ứng được một số mục đích khác của người tham gia bảo hiểm Chẳng hạn bảo hiểm nhân thọ đáp ứng mục đích tiết kiệm trong tương lai

Thứ tư, bảo hiểm thương mại qua quá trình thu phí bảo hiểm của các đối tượng tham gia bảo hiểm sẽ hình thành nên quỹ bảo hiểm thương mại Quỹ bảo hiểm thương mại chủ yếu dùng để bồi thường và đầu tư Vì vậy muốn có một nguồn quỹ

đủ lớn thì hoạt động bảo hiểm phải dựa trên cơ sở số đông bù số ít

2.1.2.2.Chức năng của bảo hiểm thương mại

Bảo hiểm thương mại có hai chức năng chủ yếu là chức năng phân phối và chức năng giám đốc

Chức năng phân phối thể hiện qua việc tạo lập và sử dụng quỹ bảo hiểm Việc sử dụng được thể hiện chủ yếu là phân phối lại, tức là người tham gia bảo hiểm đóng phí, hình thành nên quỹ bảo hiểm và quỹ bảo hiểm sẽ được sử dụng để chi trả tiền bảo hiểm cho người gặp rủi ro được bảo hiểm

Chức năng giám đốc của bảo hiểm thương mại được thể hiện thông qua việc kiểm tra, kiểm soát của nhà nước trong quá trình thực hiện các chính sách văn bản pháp quy và luật bảo hiểm thương mại Từ đó, nhà nước có thể kiểm soát tình hình hoạt động, tình hình tài chính của các doanh nghiệp bảo hiểm trên cơ sở những hành lang pháp lý

Trang 15

2.1.3 Đối tượng và các tổ chức hoạt động kinh doanh bảo hiểm thương mại

2.1.3.1 Đối tượng của hoạt động bảo hiểm thương mại

Đối tượng của bảo hiểm thương mại rất phong phú và đa dạng, nó được thể hiện ở hầu hết các lĩnh vực bảo hiểm Bảo hiểm thương mại bao gồm bảo hiểm con người, bảo hiểm tài sản và bảo hiểm trách nhiệm Ngoài ra, bảo hiểm thương mại còn bảo hiểm cho các quyền lợi khác có thể tính được bằng tiền Bảo hiểm thương mại được tiến hành theo phương pháp tự nguyện là chủ yếu còn nếu bắt buộc thì thường áp dụng cho các đối tượng ở phạm vi rộng như trách nhiệm dân sự của chủ

xe cơ giới hay bảo hiểm x_ hội cho công nhân viên chức của nhà nước

2.1.3.2 Các tổ chức hoạt động kinh doanh bảo hiểm thương mại

Bảo hiểm thương mại là một hoạt động mang tính chất kinh doanh Vì vậy, các tổ chức hoạt động kinh doanh bảo hiểm thường được thực hiện dưới dạng công

ty, doanh nghiệp hoặc các tập đoàn bảo hiểm do các tổ chức, các cá nhân đứng ra sáng lập Mục đích chính của các tổ chức này là hoạt động kinh doanh lấy l_i Vì vậy nó rất đa dạng và phong phú, cụ thể trên thế giới hiên nay đ_ và đang hình thành những loại hình công ty, tập đoàn bảo hiểm như :

Công ty bảo hiểm nhà nước: Nhà nước là chủ sở hữu

Công ty bảo hiểm chuyên ngành: Kinh doanh bảo hiểm trong một ngành

Công ty bảo hiểm nước ngoài: Có chủ sở hữu là tập thể, cá nhân nước ngoài Công ty bảo hiểm liên doanh: Do hai hay nhiều chủ sở hữu trong nước và nước ngoài cùng tham gia góp vốn thành lập

Công ty bảo hiểm tổng hợp: Kinh doanh nhiều sản phẩm bảo hiểm

Công ty bảo hiểm tư nhân: Chỉ có một chủ sở hữu trong nước

Ngoài các công ty bảo hiểm nói trên thì còn có một số các loại hình khác như công ty bảo hiểm tương hỗ, công ty tái bảo hiểm Các công ty bảo hiểm đều phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ như chấp hành hiến pháp và luật pháp của quốc gia mình Mỗi một quốc gia đều có một luật bảo hiểm riêng nhằm tổ chức quản lý

Trang 16

các công ty bảo hiểm một cách chặt chẽ và để đảm bảo cho các công ty bảo hiểm duy trì và phát triển

2.1.4 Những nguyên tắc chung trong hoạt động bảo hiểm thương mại

Bảo hiểm thương mại cũng như một hoạt động kinh doanh, ngoài việc đáp ứng cho các nhu cầu an toàn của con người thì nó còn quan tâm tới mục tiêu lợi nhuận Bởi vậy, có một số nguyên tắc phải được tuân thủ trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm thương mại

ro được san sẻ cho nhiều người hơn[22]

2.1.4.2 Nguyên tắc lựa chọn rủi ro

Nguyên tắc lựa chọn rủi ro là một nguyên tắc quan trọng trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm Theo nguyên tắc này các rủi ro xảy ra, chắc chắn hoặc gần như chắc chắn, sẽ bị từ chối bảo hiểm: hao mòn vật chất tự nhiên, hao mòn thương mại

tự nhiên, xe vi phạm luật giao thông, cố ý tự tử để trục lợi bảo hiểm Nói cách khác những rủi ro có thể được bảo hiểm phải là những rủi ro bất ngờ không lường trước

Trang 17

2.1.4.3 Nguyên tắc phân tán rủi ro

Quỹ bảo hiểm là một quỹ tài chính lớn lập ra bởi sự đóng góp của nhiều người theo nguyên tắc số đông bù số ít Như vậy, với tư cách là người tập trung và quản lý quỹ, các công ty bảo hiểm có đủ khả năng thực hiện nhiệm vụ chi trả bảo hiểm Tuy nhiên không phải lúc nào công ty bảo hiểm cũng đảm bảo được khả năng này, nhất là trong những trường hợp quỹ bảo hiểm tập trung chưa được nhiều

mà giá trị bảo hiểm lớn hoặc trong những trường hợp có tổn thất lớn liên tiếp xảy

ra Để tránh lâm vào những tình trạng như vậy, nhà bảo hiểm phải phân tán bớt rủi

ro qua hai hình thức: đồng bảo hiểm và tái bảo hiểm[22] Qua đó công ty bảo hiểm vẫn nhận bảo hiểm những rủi ro có giá trị lớn mà vẫn đảm bảo khả năng chi trả,

đảm bảo hoạt động kinh doanh

2.1.4.4 Nguyên tắc trung thực tuyệt đối

Nguyên tắc trung thực tuyệt đối đòi hỏi người bảo hiểm phải có trách nhiệm cân nhắc các điều kiện, điều khoản để soạn thảo hợp đồng bảo hiểm để đảm bảo cho quyền lợi của hai bên Đồng thời nguyên tắc này cũng đặt ra một yêu cầu với người tham gia bảo hiểm là phải khai báo rủi ro trung thực khi tham gia bảo hiểm

để giúp người bảo hiểm xác định mức phí phù hợp với mức rủi ro mà họ đảm nhận[22]

Ngoài bốn nguyên tắc cơ bản trên, trong mỗi loại hình bảo hiểm thương mại

sẽ có thêm các nguyên tắc khác để phù hợp với đặc điểm của từng loại: nguyên tắc khoán, nguyên tắc bồi thường

2.2 Một số nội dung về bảo hiểm nông nghiệp

2.2.1 Sự cần thiết khách quan của bảo hiểm nông nghiệp

2.2.1.1 Vị trí của ngành nông nghiệp trong nền kinh tế quốc dân

Ngành nông nghiệp bao gồm hai lĩnh vực trồng trọt và chăn nuôi, nó có một vai trò đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế của bất kỳ một quốc gia nào, cụ thể:

- Sản xuất nông nghiệp cung cấp lương thực thực phẩm phục vụ thiết yếu

Trang 18

các nhu cầu của con người Đây là một lý do rất quan trọng khiến các nước càng phát triển thì sự hỗ trợ của Nhà nước càng lớn, nó liên quan đến an ninh của một quốc gia

- Sản xuất nông nghiệp cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp nhẹ, công nghiệp thực phẩm, công nghiệp chế biến và hàng hoá để xuất khẩu Điều này rất có

ý nghĩa đối với những nước muốn công nghiệp hoá, hiện đại hoá từ nền sản xuất nông nghiệp lạc hậu

- Nông nghiệp cũng là ngành thu hút nhiều lao động x_ hội góp phần giải quyết công ăn, việc làm đặc biệt tại các nước sản xuất nông nghiệp Đồng thời nó còn là một ngành đóng góp không nhỏ vào tổng sản phẩm quốc nội

2.2.1.2 Sự cần thiết phải tiến hành bảo hiểm nông nghiệp

Sản xuất nông nghiệp có một đặc điểm là thuờng hay gặp phải rủi ro gây tổn thất lớn ảnh hưởng đến đời sống kinh tế x_ hội Các nhóm rủi ro trong sản xuất nông nghiệp được chia thành ba nhóm sau[3]:

- Nhóm 1: Nhóm rủi ro do thiên nhiên

Đó là các rủi ro xảy ra do thiên tai: b_o, lũ lụt, hạn hán, sâu bệnh

Những năm xảy ra rủi ro này, kế hoạch tài chính của Chính phủ gặp nhiều

Trang 19

khó khăn, kinh tế x_ hội nông thôn không phát triển, nguồn vốn vay của ngân hàng

và của các tổ chức tài chính cũng phải gánh chịu rủi ro (do nông dân vay vốn không trả được tiền vay) Nhiều năm, Chính phủ phải khoanh nợ, xoá nợ cho ngân hàng hàng nghìn tỷ đồng

Vì vậy để chủ động đối phó và có quỹ dự trữ, dự phòng bồi thường kịp thời những tổn thất do thiên tai gây ra, biện pháp tốt nhất và hữu hiệu nhất là phải tiến hành bảo hiểm nông nghiệp Như vậy, bảo hiểm nông nghiệp là cần thiết, nhưng trong quá trình triển khai, các công ty bảo hiểm phải tính đến tất cả các đặc điểm của ngành này, có như vậy mới giúp cho công ty triển khai bảo hiểm được đúng hướng, tính phí bảo hiểm chính xác, dễ dàng đánh giá kiểm soát và quản lý được rủi ro Đồng thời đòi hỏi công ty bảo hiểm phải luôn chú ý và quản lý tốt nguồn quỹ dự trữ, dự phòng, bên cạnh đó phải luôn đặt ra vấn đề tái bảo hiểm để tránh phá sản

2.2.1.3 Những đặc điểm của sản xuất nông nghiệp ảnh hưởng tới hoạt động bảo hiểm nông nghiệp

Sản xuất nông nghiệp thường được tiến hành ngoài trời và trên phạm vi rộng,

dễ chịu tác động của ngoại cảnh, dễ gặp rủi ro và tổn thất và giá trị của tổn thất thường lớn

Mặc dù trình độ khoa học kĩ thuật ngày càng tiên tiến và hiện đại, con người càng chế ngự được những ảnh hưởng xấu của hiện tượng tự nhiên nhưng mâu thuẫn giữa con người và lực lượng tự nhiên vẫn tồn tại trong sản xuất nông nghiệp Chính vì vậy, việc tiến hành bảo hiểm nông nghiệp là cần thiết nhưng cũng gây khó khăn cho doanh nghiệp bảo hiểm trong việc hạch toán cân bằng thu chi và có l_i

Đối tượng của bảo hiểm nông nghiệp là cơ thể sống bao gồm cây trồng và vật nuôi

Đối tượng này không chỉ chịu tác động của ngoại cảnh mà còn chịu tác động của các quy luật sinh học như di truyền, đồng hoá, dị hoá Chính vì vậy đối tượng

Trang 20

của bảo hiểm nông nghiệp dễ gặp phải các dịch bệnh, xác suất rủi ro trong nông nghiệp đ_ lớn lại càng lớn Ngoài ra điều đó cũng đòi hỏi khi tiến hành bảo hiểm nông nghiêp, doanh nghiệp bảo hiểm phải kết hợp với người nông dân, với các cơ

sở nghiên cứu khoa học để tìm ra các biện pháp hạn chế tổn thất, để tạo ra những cây giống, con giống có năng suất cao, có khả năng chống chọi với bệnh tật

Trong sản xuất nông nghiệp lao động sống và lao động vật hoá không trùng nhau và cho kết quả khác nhau

Đặc điểm này có ảnh hưởng rất quan trọng đến bảo hiểm nông nghiệp trong việc xác định giá trị bảo hiểm của đối tượng bảo hiểm Trong thực tế, tuỳ thuộc vào

đối tượng bảo hiểm và nơi tiến hành sản xuất nông nghiệp mà giá trị bảo hiểm được tính theo sự hao phí lao động bỏ ra hay sản lượng thu hoạch bình quân

2.2.1.5 Các quan điểm đối với rủi ro và phân tích tình trạng rủi ro trong nông nghiệp

Các quan điểm đối với rủi ro

* Quan điểm thận trọng

Về phía nông dân, phần lớn họ có thái độ ứng xử không thích rủi ro, tức là tìm cách né tránh rủi ro vì họ cho rằng rủi ro làm giảm thu nhập của họ[22] Phần lớn nông dân họ đều ý thức được mức độ rủi ro gây mất mùa, trắng tay xong không

dễ gì họ chịu bỏ tiền ra để bảo hiểm rủi ro cho tài sản của mình Khi chưa tận mắt nhìn thấy tài sản của mình gặp rủi ro, tổn thất thì ý nghĩ coi thường vẫn chiếm phần lớn trong các hộ nông dân sản xuất nhỏ Và việc không tham gia bảo hiểm cho tài sản của mình không phải tất cả là lỗi của người nông dân Vì họ được ít thông tin

về dịch vụ bảo hiểm rủi ro, ít được tư vấn về các lợi ích, về cơ hội có được thu nhập lớn hơn khi tham gia bảo hiểm Lỗi này cũng do các doanh nghiệp bảo hiểm nông nghiệp chưa cập nhập thông tin thường xuyên đến từng hộ nông dân Trên thực tế hiện nay, số doanh nghiệp bảo hiểm hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp là rất ít

ỏi Là các doanh nghiệp, họ cũng hoạt động vì lợi ích, các lĩnh vực như bảo hiểm y

Trang 21

tế, bảo hiểm x_ hội, bảo hiểm các hoạt động kinh doanh trong công nghiệp đều mang lại lợi nhuận rất cao cho các doanh nghiệp bảo hiểm, các lĩnh vực đó có nhiều người tham gia, phạm vi hoạt động rộng khắp từ thành thị đến nông thôn, từ miền xuôi cho đến miền ngược Do vậy, bị thu hút vào đó mà gần như quên l_ng rằng sản xuất nông nghiệp có lợi nhuận ít trong khi độ rủi ro rất cao, phạm vi tham gia hạn hẹp, đa số là trong chăn nuôi Trong khi đó, bảo hiểm trong nông nghiệp vẫn chưa thực sự được quan tâm, ưu tiên của Đảng và Nhà nước

Vì thiếu thông tin của phần lớn hộ nông dân và sức hút của nông nghiệp đối với các doanh nghiệp bảo hiểm không lớn, nên cho đến nay cả hai bên rất thận trọng trong các quyết định của mình, làm cho thị trường bảo hiểm nông nghiệp càng “tẻ nhạt” vắng bóng các nhà đầu tư

* Quan điểm mạo hiểm

Trong khi một số người thận trọng đối với rủi ro thì một số khác lại có thái

độ ứng xử tìm kiếm rủi ro, tức là dám chấp nhận rủi ro mạo hiểm[22] Trong số những người thành đạt, giàu có từ sản xuất nông nghiệp, đa số họ đều rất mạo hiểm khi đem toàn bộ tài sản của mình, thậm chí thế chấp đất đai nhà cửa để vay vốn từ các ngân hàng với l_i suất cao để đầu tư thâm canh các loại cây trồng, cây công nghiệp ngắn ngày và dài ngày, cây ăn quả và đặc biệt là trong chăn nuôi với những

ao hồ nuôi tôm cần nhiều vốn, cần đầu tư khoa học công nghệ, cần những hiểu biết

để chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng ngừa dịch bệnh hay những đàn gia cầm (gà ,vịt) với số lượng lên tới hàng nghìn con để ngăn ngừa dịch bệnh họ cũng phải đầu tư chuồng trại khoa học, kiến thức về thú y… Trong khi dịch bệnh cúm gia súc gia cầm vẫn xảy ra đâu đó trên đất nước chúng ta và một số quốc gia khác, dịch bệnh cúm sẽ có thể cướp đi toàn bộ đàn gia súc gia cầm, cướp đi nhà cửa đất đai Nhưng

họ thực sự là con người có ý chí làm giàu từ nông nghiệp Và họ sẵn sàng tham gia bảo hiểm cho cây trồng và vật nuôi của mình Và vì những lý do nêu trên của các doanh nghiệp bảo hiểm nên nhu cầu cần được bảo hiểm vẫn không đựơc đáp ứng một cách tốt nhất

Trang 22

Như vậy, sự thận trọng đặt ra khi rủi ro đủ lớn để gây ra những nguy hiểm cho tình trạng tài chính của người nông dân cũng như của các doanh nghiệp bảo hiểm Tâm lý của người nông dân là họ sẽ không đầu tư toàn bộ vốn liếng tự có hoặc đi vay vào sản xuất nông nghiệp vì nó có độ rủi ro cao, có thể bị phá sản khi gặp khó khăn nhỏ Ngược lại, mặc dù hạn chế rủi ro là nguyên tắc quan trọng của kinh doanh nói chung, kinh doanh trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp nói riêng

Trang 23

không nên quá thận trọng tới mức hoàn toàn chỉ biết tìm cách chống lại rủi ro để có lợi nhuận tăng thêm nhằm đạt được các mục tiêu đ_ định Đôi khi, kinh doanh phải chấp nhận mạo hiểm để tạo cơ hội có lợi nhuận cao

2.2.2 Nội dung của bảo hiểm nông nghiệp

Nông nghiệp bao gồm hai lĩnh vực trồng trọt và chăn nuôi Nó rất đa dạng và phong phú về chủng loại Có nhiều tiêu thức để phân loại cây trồng và vật nuôi khác nhau Tuy nhiên để tạo điều kiện thuận lợi cho người tham gia bảo hiểm khi

ký kết hợp đồng, giúp công tác tính phí bảo hiểm, đánh giá và quản lý rủi ro được

dễ dàng thuận lợi, căn cứ vào đặc điểm sinh trưởng cây trồng được chia ra:

Cây vườn ươm (cây giống): là loại cây trồng có chu kì sinh trưởng rất ngắn, sản phẩm của chúng được coi là chi phí sản xuất cho những quá trình tiếp theo Đặc điểm của cây vườn ươm là giá trị thường rất thấp, nhưng kĩ thuật đòi hỏi rất cao và nhạy cảm với thời tiết khí hậu

Cây hàng năm: là những loại cây trồng có chu kì sinh trưởng và cho sản phẩm trong vòng dưới một năm Cây hàng năm bao gồm rất nhiều loại: lúa, ngô, khoai, sắn, đậu đỗ các loại Đặc điểm của nhóm cây này là thời gian sinh trưởng ngắn, gieo trồng mang tính thời vụ, mỗi loại cây thích ứng với một thời kì nhất

định Trong năm, đầu tư gieo trồng không lớn nhưng việc kiểm soát và quản lý rủi

ro rất khó

Cây lâu năm: là loại cây trồng có chu kì sinh trưởng và cho sản phẩm từ một năm trở lên như cà phê, chè, cao su, hồ tiêu, điều Đặc điểm của cây lâu năm là chu kì sinh trưởng kéo dài, có loại hai mươi đến ba mươi năm như cà phê, cũng có loại từ

30 đến 50 năm như cây cao su, việc gieo trồng các loại cây lâu năm đòi hỏi phải có

kỹ thuật cao, chi phí đầu tư rất lớn Cây lâu năm là một trong những tài sản cố định

có giá trị ban đầu rất lớn so với các loại tài sản cố định khác trong nông nghiệp Trong chăn nuôi người ta chia ra làm hai loại:

Vật nuôi là tài sản cố định: là những vật nuôi có thời gian nuôi dưỡng khá lâu,

Trang 24

giá trị và được chuyển dịch dần vào sản phẩm thu được qua các năm

Vật nuôi là tài sản luu động: là những vật nuôi được nuôi dưỡng trong thời gian ngắn, quá trình thu sản phẩm gắn liền với quá trình giết mổ hoặc chuyển chúng sang làm chức năng tài sản cố định

Như vậy căn cứ vào cách phân loại trên, khi tiến hành lập phương án triển khai bảo hiểm cây trồng, cần phải giải quyết các vấn đề cơ bản sau đây:

2.2.2.1 Đối tượng và phạm vi bảo hiểm

a Đối tượng và phạm vi bảo hiểm cây trồng

- Đối tượng bảo hiểm cây trồng có thể là bản thân cây trồng trong suốt quá trình sinh trưởng và phát triển hoặc cũng có thể là sản phẩm cuối cùng do cây trồng

đem lại tuỳ theo mục đích trồng trọt Vì thế, đối tượng của bảo hiểm cây trồng

được chia ra:

+ Đối với cây vườn ươm: Đối tượng bảo hiểm là giá trị cây giống trong suốt thời gian ươm giống đến khi nhổ đi trồng nơi khác

+ Đối với cây hàng năm: Đối tượng bảo hiểm là sản lượng thu hoạch

+ Đối với cây lâu năm: Đối tượng bảo hiểm là giá trị của các loại cây đó hoặc sản lượng từng năm của mỗi loại cây

Nhưng do thời gian sinh trưởng khác nhau, cho nên mỗi loại đối tượng nêu trên đều có thời gian bảo hiểm khác nhau Thời gian bảo hiểm cây vườn ươm bắt

đầu từ lúc gieo trồng đến khi đủ tuổi nhổ đi trồng nơi khác Thời gian bảo hiểm của cây hàng năm thường tính từ lúc gieo trồng đến khi thu hoạch xong sản phẩm Còn cây lâu năm, thời gian bảo hiểm có thể kéo dài một năm, sau đó được tái tục qua các năm Đối với tất cả các loại cây trồng, đơn bảo hiểm thường là đơn vị tính tự nhiên để tính năng suất cây trồng như ha, mẫu, sào Tuy nhiên, đối với cây lâu năm, do giá trị lớn và chu kì sinh trưởng kéo dài cho nên còn có thể bảo hiểm đến từng cây hoặc lô

- Phạm vi bảo hiểm: trong quá trình sinh trưởng và phát triển, cây trồng

Trang 25

thường gặp rất nhiều rủi ro khác nhau (cùng một lúc có thể gặp một hoặc một số loại rủi ro gây thiệt hại)

Các hiện tượng gió b_o, thường làm cho cây trồng bị đổ, bị gẫy, khả năng thụ phấn của hoa kém, làm mất toàn bộ giá trị hoặc sản lượng, năng suất thu hoạch

bị giảm Còn hiện tượng úng lụt, lũ thường làm cho cây bị chết hoặc chậm phát triển, đất đai bị rửa trôi, độ màu mỡ giảm, gieo trồng không kịp thời vụ

Những hiện tượng này cũng gây ra hậu quả lớn và rất khó lường Hạn hán, gió Lào thường làm cho cây bị khô héo, chậm phát triển thậm chí bị chết Các rủi

ro sâu bệnh lại làm cho cây bị nhiễm khuẩn, vàng lá, nấm mốc, từ đó dẫn đến chất lượng sản phẩm kém, năng suất thấp

Khi triển khai bảo hiểm các công ty thường tiến hành bảo hiểm cho một hoặc một số loại rủi ro nhất định thường chỉ tiến hành bảo hiểm cho nhóm rủi ro 1 vì nhóm rủi ro này là thường gặp phải trong sản xuất nông nghiệp và là nhóm rủi ro thuần tuý Thậm chí một số nước chỉ chọn bảo hiểm cho một hoặc hai rủi ro trong nhóm các rủi ro do thiên tai Ví dụ như Giamaica xuất khẩu chuối lớn nhất thế giới,

họ chỉ bảo hiểm cho nhóm rủi ro do b_o gây ra hoặc chỉ bảo hiểm cho những đối

t-ượng có vị trí đặc biệt trong nền kinh tế quốc dân còn những rủi ro đặc biệt mang tính kinh tế x_ hội sẽ được giải quyết bằng các chính sách kinh tế x_ hội của Nhà nước

Thế nhưng, về nguyên tắc những rủi ro được bảo hiểm phải đảm bảo các

điều kiện sau:

+ Là hiện tượng bất ngờ mà con người chưa lường trước được hoặc hoàn toàn chưa khống chế và loại trừ được

+ Dù đ_ áp dụng các biện pháp đề phòng và hạn chế tổn thất nhưng không có kết quả hoặc không tránh khỏi tổn thất

+ Là hiện tượng bất ngờ đối với nơi xảy ra, có cường độ phá hoại, huỷ hoại lớn hơn hoặc xảy ra sớm hơn hay muộn hơn bình thường hàng năm

Trang 26

b Đối tượng và phạm vi bảo hiểm của bảo hiểm vật nuôi

Đối tượng bảo hiểm trong chăn nuôi là các sản phẩm chăn nuôi và các loại vật nuôi Đối với vật nuôi là tài sản cố định thường được bảo hiểm đến từng con, còn đối với vật nuôi là tài sản lưu động có thể bảo hiểm cả đàn

Đối với vật nuôi là tài sản lưu động thời hạn bảo hiểm loại này bắt đầu từ khi con giống tách mẹ nuôi độc lập đến khi vật nuôi được xuất chuồng Còn thời hạn bảo hiểm của vật nuôi là tài sản cố định thường là một năm hoặc toàn bộ chu kỳ sản xuất Nếu thời hạn bảo hiểm là toàn bộ chu kỳ sản xuất thì nó sẽ bắt đầu từ khi vật nuôi được chuyển thành chức năng tài sản cố định đến khi kết thúc chu kỳ sản xuất (khi đ_ khấu hao xong)

Phạm vi bảo hiểm: Trong chăn nuôi cũng thường gặp rất nhiều rủi ro khác nhau gây tổn thất, có cả những rủi ro khách quan có cả những rủi ro chủ quan như chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng, thí nghiệm Tuy nhiên, các rủi ro sau đây thông thường được bảo hiểm

+ Thiên tai, b_o, lũ, mưa đá, nóng lạnh thất thường, khô cạn nguồn nước + Bệnh dịch bao gồm cả bệnh truyền nhiễm và bệnh không truyền nhiễm + Buộc phải giết mổ để phòng trừ dịch bệnh lây lan Hoặc khi vật nuôi bị

ốm, bị tai nạn, bị thương tật không còn tiếp tục nuôi dưỡng và sử dụng được

+ Các rủi ro khác như động vật ăn thịt, hoặc phá hoại, đánh cắn lẫn nhau, tai nạn giao thông, hoả hoạn

2.2.2.2 Giá trị bảo hiểm, số tiền bảo hiểm và chế độ bảo hiểm

a Giá trị, số tiền và chế độ của bảo hiểm cây trồng

Bảo hiểm cây trồng cũng là loại hình bảo hiểm tài sản, vì thế để xác định

được phí bảo hiểm và số tiền bảo hiểm nếu gặp phải rủi ro gây thiệt hại phải xác

định chính xác giá trị bảo hiểm hay số tiền bảo hiểm Giá trị bảo hiểm cây trồng là giá trị của bản thân cây trồng hoặc giá trị sản lượng cây trồng trên một đơn vị bảo hiểm Tuy nhiên người tham gia bảo hiểm có thể đăng ký bảo hiểm với số tiền lớn

Trang 27

hơn hoặc nhỏ hơn giá trị thực tế, số tiền này được gọi là số tiền bảo hiểm cụ thể:

+ Giá trị bảo hiểm cây vườn ươm được tính bằng toàn bộ chi phí bỏ ra từ lúc gieo hạt cho đến lúc đem cây đi trồng nơi khác Hoặc được xác định bằng cách lấy giá của một cây nhân với số cây trên một đơn vị bảo hiểm Hoặc giá trị của một mét vuông cây giống nhân với số mét vuông trên một đơn vị bảo hiểm

+ Giá trị bảo hiểm cây hàng năm được xác định căn cứ vào sản lượng thu hoạch trung bình của một số năm trước đó Thông thường, số năm được lựa chọn để xác định giá trị bảo hiểm khoảng từ 3 đến 5 năm là phù hợp với thực tế

+ Giá trị bảo hiểm cây lâu năm là giá trị của từng cây, từng lô hoặc từng đơn

vị bảo hiểm Nó được tính bằng giá trị của cây khi trưởng thành trừ đi khấu hao

Chế độ bảo hiểm: trong sản xuất nông nghiệp, năng suất, chất lượng sản phẩm và ngay cả giá trị của bản thân cây trồng phụ thuộc rất nhiều vào sự cố gắng chủ quan của người trồng trọt Sự cố gắng chủ quan này bảo gồm cả việc đầu tư thâm canh, trình độ áp dụng các biện pháp kỹ thuật canh tác và cả ý thức bảo vệ cây khi gặp rủi ro, vì thế các công ty bảo hiểm thường áp dụng một số chế độ bảo hiểm sau:

+ Chế độ bảo hiểm bồi thường theo tỷ lệ: có nghĩa là khi tổn thất xảy ra, người bảo hiểm chỉ bồi thường cho người trồng trọt theo một tỷ lệ nhất định so với toàn bộ giá trị tổn thất Mục đích áp dụng chế độ này là nhằm nâng cao tinh thần trách nhiệm của người tham gia bảo hiểm Tỷ lệ được bồi thường do các bên thoả thuận, nhưng tỷ lệ này cao hay thấp phụ thuộc vào:

Trình độ phát triển của sản xuất nông nghiệp

Trình độ thâm canh tăng năng suất cây trồng

Khả năng tổ chức và quản lý của công ty bảo hiểm

Khả năng tài chính của người tham gia bảo hiểm

Trình độ dân trí và sự tiến bộ của x_ hội

Thông thường ở nhiều nước, tỷ lệ bồi thường trong khoảng từ 60% đến 80%

Trang 28

so với giá trị tổn thất thuộc phạm vi bảo hiểm

+ Chế độ bảo hiểm trên mức miễn thường: có nghĩa là khi ký kết hợp đồng bảo hiểm, các bên tham gia thoả thuận với nhau về mức miễn thường (mức không

được bồi thường) Nếu tổn thất xảy ra bằng mức miễn thường trở xuống, người bảo hiểm không chịu trách nhiệm bồi thường, mà người trồng trọt sẽ phải tự gánh chịu tổn thất đó Nếu tổn thất xảy ra lớn hơn mức miễn thường, người bảo hiểm sẽ bồi thường phần vượt quá hoặc bồi thường toàn bộ tổn thất Chế độ này thường áp dụng cho cây hàng năm và mức miễn thường có thể bằng 10% đến 15% giá trị bảo hiểm

áp dụng chế độ này nhằm:

Nâng cao tinh thần trách nhiệm của người trồng trọt

Làm phí bảo hiểm giảm đi để phù hợp với khả năng tài chính của người trồng trọt

Đáp ứng yêu cầu tổ chức và quản lý của các công ty bảo hiểm

Mức miễn thường cao hay thấp cũng do các bên tham gia thoả thuận để đáp ứng được những mục đích đặt ra ở trên

b Giá trị bảo hiểm và chế độ bảo hiểm trong bảo hiểm chăn nuôi

Đối tượng bảo hiểm của bảo hiểm chăn nuôi được chia làm 3 loại:

- Vật nuôi để lấy thịt

Giá trị bảo hiểm = Giá trị bình quân của vật nuôi khi xuất chuồng

- Vật nuôi để lấy sản phẩm chăn nuôi

Giá trị bảo hiểm = Giá trị sản lượng thực tế thu được bình quân của một số năm trước đó (thường từ 3 đến 5 năm)

- Vật nuôi là tài sản cố định

Giá trị bảo hiểm = Giá trị vật nuôi khi trưởng thành – khấu hao

Cũng như trong trồng trọt, trong chăn nuôi khi tiến hành bảo hiểm cũng có thể áp dụng các chế độ bảo hiểm khác nhau nhằm nâng cao tinh thần trách nhiệm của người tham gia bảo hiểm, làm giảm phí bảo hiểm và phù hợp với tình hình tổ

Trang 29

chức và quản lý của công ty bảo hiểm Chế độ bảo hiểm bồi thường theo tỷ lệ thường được áp dụng khi bảo hiểm cho súc vật vỗ béo và lấy thịt Chế độ bảo hiểm miễn thường có khấu trừ thường hay áp dụng khi bảo hiểm các sản phẩm chăn nuôi Còn chế độ bảo hiểm miễn thường không khấu trừ lại được áp dụng khi bảo hiểm cho từng đầu con trong một đàn gia súc tham gia bảo hiểm Những tổn thất làm chết ít, một vài con trong một đàn lớn, giá trị thiệt hại nhỏ áp dụng chế độ bảo hiểm này sẽ giảm được thủ tục đòi bồi thường, giảm được phiền hà giữa các bên tham gia bảo hiểm

2.2.2.3 Giám định và bồi thường tổn thất

a Giám định và bồi thường tổn thất trong bảo hiểm cây trồng

Sau khi nhận được thông báo rủi ro tổn thất của người tham gia bảo hiểm, công ty bảo hiểm phải cử ngay cán bộ hoặc nhân viên giám định đến hiện trường

để giám định tổn thất trước khi xuống hiện trường cần tính toán và dự kiến trước một số vấn đề: số lượng người giám định, các cơ quan cần mời để tham gia giám

định như chính quyền địa phương, cơ quan bảo vệ thực vật Yêu cầu công tác giám định là kiểm tra hiện trường nơi xảy ra tổn thất; nguyên nhân tổn thất có thuộc phạm vi bảo hiểm hay không, tính toán và xác định quy mô, mức độ tổn thất phải theo những phương pháp khoa học phù hợp với đối tượng bảo hiểm và tình hình thực tế Lập biên bản giám định tổn thất phải có đầy đủ các bên hữu quan tham gia và phải ký vào biên bản để xác nhận Phương pháp xác định tổn thất được chia ra:

- Đối với cây hàng năm:

Giá trị tổn thất

được bồi thường =

Giá trị sản lượng tổn thất thực tế -

Giá trị tận thu (nếu có) -

Giá trị tổn thất không được bồi thường (nếu có) Trong nông nghiệp, tổn thất xảy ra trớc khi thu hoạch là phổ biến Lúc này, chưa thể xác định được giá trị tổn thất thực tế, mà chỉ là tổn thất ước tính để xác

định được số tiền bồi thường phải chia ra các trường hợp:

Trang 30

+ Đối với những diện tích mất trắng trước khi cây trồng cho thu hoạch, giá trị tổn thất là toàn bộ chi phí thực tế chi ra từ thời điểm gieo trồng đến thời điểm xảy ra tổn thất Các khoản chi phí này thường bao gồm chi phí cây giống, phân bón, vật tư, lao động

+ Đối với những diện tích chưa bị huỷ hoại toàn bộ, có thể chăm sóc tiếp, vẫn cho thu hoạch sản phẩm, giá trị tổn thất tính theo tỷ lệ phần trăm tổn thất so với toàn bộ chi phí đến thời điểm xảy ra tổn thất

- Đối với cây lâu năm:

Số tháng đ_ bảo hiểm

Giá trị tổn

thất được

bồi thường

= Giá trị tổn thất thực tế -

Giá trị tổn thất thực tế x

Tỷ lệ khấu hao x

12 tháng Giá trị tổn thất thực tế được tính đến từng cây lâu năm hoặc diện tích gieo trồng cây đó Chỉ có những cây, những diện tích bị chết hoặc g_y hẳn mới được coi

là tổn thất Tổn thất xảy ra vào tháng nào thì tính khấu hao cả tháng đó

b Giám định và bồi thường tổn thất trong bảo hiểm chăn nuôi

Việc giám định cũng tương tự như giám định trong bảo hiểm cây trồng Căn

cứ vào biên bản giám định tổn thất, công ty bảo hiểm phải trả lời là chấp thuận hay

từ chối bồi thường một phần hay toàn bộ tổn thất cho người tham gia bảo hiểm trong thời gian quy định theo như hợp đồng bảo hiểm đ_ ký

-

Giá trị tận thu (nếu có)

-

Giá trị khấu hao (nếu có)

-

Giá trị tổn thất không được bồi thường (nếu có)

Về nguyên tắc, bảo hiểm chỉ bồi thường tổn thất thuộc phạm vi bảo hiểm và trong thời hạn hợp đồng còn hiệu lực Mọi chi phí đề phòng hạn chế tổn thất, chi phí giám định và xử lý vật nuôi sau khi chết không được trừ vào số tiền bồi thường Nếu tổn thất do người thứ ba gây ra, bảo hiểm vẫn bồi thường nhưng giành quyền

Trang 31

đòi người thứ ba phải trả lại Nếu quá hạn thanh toán, công ty bảo hiểm cũng phải chịu phạt “nợ quá hạn” như ngân hàng quy định

Những trường hợp cụ thể sau đây, công ty bảo hiểm không chịu trách nhiệm bồi thường:

+ Không gửi thông báo kịp thời về tình hình tổn thất cho công ty bảo hiểm theo như hợp đồng đ_ ký

+ Người chăn nuôi không làm hết trách nhiệm khi đề phòng và hạn chế tổn thất + Vật nuôi bị chết do lỗi của người chăn nuôi

Trong mỗi hợp đồng bảo hiểm cây trồng cũng như vật nuôi, đều phải quy

định về trách nhiệm và quyền lợi của các bên tham gia bảo hiểm Cũng như các loại hợp đồng bảo hiểm khác, hợp đồng bảo hiểm trong nông nghiệp thông thường có hai bên tham gia, đó là người tham gia và người bảo hiểm:

Người tham gia bảo hiểm phải có trách nhiệm gieo trồng, nuôi dưỡng và chăm sóc theo đúng quy trình kỹ thuật chăn nuôi cũng như trồng trọt Xây dựng nội quy, kế hoạch phòng trừ sâu bệnh, dịch bệnh, phòng chống thiên tai Khi thiên tai, tai nạn xẩy ra, phải kịp thời phòng chống để hạn chế tổn thất và phải thông báo ngay cho người bảo hiểm biết Ngoài ra, người tham gia bảo hiểm còn phải thực hiện đầy đủ những thủ tục giấy tờ có tính chất pháp lý như ký vào biên bản giám

định và xác nhận lỗi do bên thứ ba Đồng thời, phải phối hợp với người bảo hiểm

và những đơn vị liên quan để có phương án tối ưu đề phòng và hạn chế tổn thất và phải nộp phí đầy đủ đúng hạn

Người bảo hiểm phải có trách nhiệm bồi thường kịp thời, đầy đủ đúng hạn cho người tham gia bảo hiểm khi có tổn thất xảy ra thuộc phạm vi bảo hiểm Phải chi phí kịp thời, thoả đáng cho công tác đề phòng và hạn chế tổn thất, khắc phục thiên tai, sâu bệnh và dịch bệnh Khi nhận được thông báo tổn thất phải cử ngay nhân viên giám định hoặc người có thẩm quyền đến hiện trường làm thủ tục giám

định Nếu chấp nhận hay từ chối bồi thường cũng phải thông báo và giải thích ngay

Trang 32

để người tham gia bảo hiểm biết Nếu quá hạn, không thông báo thì coi như họ đ_ chấp nhận bồi thường toàn bộ thiệt hại Còn quyền lợi của các bên tham gia bảo hiểm cũng giống như những hợp đồng bảo hiểm tài sản thông thường khác

2.2.3 Kinh nghiệm về hoạt động bảo hiểm nông nghiệp

2.2.3.1 Kinh nghiệm bảo hiểm nông nghiệp ở Philippine

Philippine là một nước có điều kiện tự nhiên, kinh tế tương tự như Việt Nam, đ_ thực hiện thành công bảo hiểm nông nghiệp, đó là [8]:

Tổng công ty bảo hiểm nông nghiệp Philippine (PCIC) một doanh nghiệp Nhà nước có số vốn 750 triệu pêsô trong đó 500 triệu pêsô được bán cho công chúng

Thực hiện chương trình bảo hiểm mùa màng toàn diện, thời gian đầu bảo hiểm cho người nông dân trồng lúa, các loại cây trồng, bảo hiểm cho các ngành sản xuất nông nghiệp như máy móc, thiết bị, phương tiện vận chuyển và cơ sở hạ tầng có liên quan Các chương trình đ_ được cung cấp:

1 Chương trình bảo hiểm mùa màng 1981

a) lúa

b) ngô

2 Chương trình bảo hiểm vật nuôi 1998

3 Chương trình bảo hiểm bảo vệ 1987

Chương trình bảo vệ vốn vay cho sản xuất nông nghiệp

Chương trình bảo vệ dự án nuôi cá

4 Chương trình bảo hiểm mùa màng có giá trị cao 1993

5 Bảo hiểm tài sản 1996

Những vấn đề của bảo hiểm nông nghiệp ở Philippine

1 Bảo hiểm nông nghiệp là loại dịch vụ được ưu tiên, Nhà nước ủng hộ công tác thông tin tuyên truyền, khuyến khích các tổ chức quần chúng và tổ chức x_ hội

Trang 33

thông qua hình thức dịch vụ này để thu được lợi ích cao hơn

2 Những người nông dân được xác định thuộc diện trợ cấp là những người

có cuộc sống và sản xuất chủ yếu phụ thuộc vào ruộng đất của họ với diện tích không quá 7 hécta

3 Vốn huy động trong nước của PCIC thông qua các hình thức trái phiếu bằng 5 lần so với vốn pháp định

4 Hội đồng quản trị sẽ xác định trợ cấp phí bảo hiểm hoặc lợi nhuận bảo hiểm khi quỹ dự phòng được trích lập cao Tuy nhiên, PCIC được thành lập không vì mục đích lợi nhuận mà là giúp đỡ nông dân

5 Quỹ phòng chống thiên tai của Chính phủ bao gồm cả bảo hiểm mùa màng

6 Số tiền trợ cấp phí bảo hiểm của Chính phủ cho PCIC sẽ được huy động từ 10% lợi nhuận thu được hàng năm do các hoạt động xổ số

7 Tăng vốn cổ phần nhưng không tăng số nhân lực hiện có của PCIC

8 Quỹ dự trữ thiên tai của Nhà nước được cung cấp 500 triệu pêsô để đáp ứng khi tình hình tổn thất vượt quá tổng phí bảo hiểm thu được Quỹ này do Bộ Tài chính quản lý

9 PCIC được quyền thu xếp tái bảo hiểm khi có điều kiện thích hợp

10 Khiếu nại bồi thường được xem xét và giải quyết trong vòng 60 ngày/1 khiếu nại, kể từ ngày PCIC nhận được đầy đủ hồ sơ

11 Khiếu nại bồi thường sẽ do giám đốc vùng hoặc cơ quan được uỷ quyền giải quyết Trong trường hợp có khiếu nại, Tổng Giám đốc PCIC hoặc Hội đồng quản trị có thể xem xét lại bồi thường trong vòng 30 ngày

12 Trường hợp người nông dân trong 3 mùa vụ liên tiếp không có khiếu nại lên đến 10% tổng số phí bảo hiểm thì có thể được tính giảm chi phí bảo hiểm hoặc

có thể miễn phí bảo hiểm cho vụ sau

Trang 34

13 áp dụng hình phạt tù từ 1– 6 năm hoặc phạt tiền từ 50.000 pêsô (khoảng 17,3 triệu VND) đến 500.000 pêsô và có thể áp dụng cả hai hình thức phạt tù và phạt tiền đối với trường hợp khiếu nại gian lận Đối với những vi phạm của các cán bộ PCIC thì sẽ tăng thêm mức hình phạt như đuổi việc hoặc tước bỏ toàn bộ quyền lợi

PCIC sẽ kiểm điểm lại toàn bộ quá trình hoạt động và đệ trình các báo cáo lên Đại hội được tổ chức hai năm một lần bao gồm cả những khuyến nghị cải tiến

và phát triển dịch vụ

Xác định số tiền bảo hiểm và phí bảo hiểm:

ở đây phần trình bày chỉ liên quan đến bảo bảo hiểm cây lúa và cây ngô là loại bảo hiểm truyền thống của PCIC với doanh số khoảng 80% tổng phí thu được Năm 1996, PCIC đ_ bảo hiểm được 270.000 hecta, chiếm khoảng 10% tổng diện tích canh tác

Phân loại người tham gia bảo hiểm gồm:

- Người nông dân vay vốn ngân hàng là người vay vốn của các tổ chức tín dụng cho mục đích sản xuất

- Người nông dân không vay vốn là người sử dụng chính nguồn vốn của mình cho mục đích sản xuất

Những người nông dân vay vốn ngân hàng bắt buộc phải tham gia bảo hiểm còn những người nông dân không phải vay vốn thì tham gia bảo hiểm theo hình thức tự nguyện

Mạng lưới marketing: Người nông dân muốn tham gia bảo hiểm có thể đến trực tiếp cơ quan quản lý vùng, các văn phòng và các đại lý bảo hiểm được quyền cấp đơn và thu phí bảo hiểm Tuy nhiên họ có thể liên hệ với cán bộ bảo hiểm của PCIC hoặc mạng lưới cộng tác viên bảo hiểm

Số tiền bảo hiểm và tỷ lệ phí bảo hiểm: số tiền bảo hiểm cao nhất đối với sản xuất lúa là 16.000 pêsô/hecta (khoảng 5,5 triệu VND), nhưng với sản xuất lúa gieo thẳng thì số tiền bảo hiểm là 24.000 pêsô/hecta (khoảng 8,3 triệu VND) do chi phí

Trang 35

sản xuất lúa cao hơn Số tiền bảo hiểm sản xuất ngô là 14.000 pêsô (khoảng 4,8 triệu VND)

Vào năm 1981, tỷ lệ phí bảo hiểm của lúa và ngô là giống nhau trên toàn bộ

đất nước Năm 1991, tỷ lệ phí bảo hiểm gốc đối với cây lúa là 8% của số tiền bảo hiểm đối với tất cả các loại ruộng đất ở Philippine Trong đó, người nông dân phải trả 2%, phần còn lại do Chính phủ và các tổ chức tín dụng trợ cấp Trong những năm 1991 –1995 Chính phủ thực hiện chương trình điều chỉnh lại mức trợ cấp phí bảo hiểm theo hướng chuyển dần cho người nông dân tự gánh chịu Trong đó, tổ chức tín dụng sẽ gánh chịu 2% phí bảo hiểm với những đối tượng là người nông dân vay vốn tín dụng Từ đầu năm 1993, đ_ có phong trào đấu tranh mạnh mẽ của các ngành liên quan đối với chương trình hạ mức trợ cấp phí bảo hiểm của Chính phủ cho nông dân Vào tháng 5 năm 1995 PCIC bắt đầu thực hiện điều chỉnh phạm

vi bảo hiểm theo hình thức phân nhóm rủi ro thiên tai cho đơn bảo hiểm tiêu chuẩn

và mở rộng các điều khoản bổ sung đối với một số rủi ro sâu và dịch bệnh Tỷ lệ phí bảo hiểm gồm hai phần là phí thuần và chi phí quản lý Phí bảo hiểm sẽ được chia sẻ giữa nông dân, Chính phủ và tổ chức tín dụng Đối với những người vay vốn ngân hàng, tổ chức tín dụng có trách nhiệm trợ giúp 2% phí bảo hiểm đối với trồng lúa và 3% đối với trồng ngô Phần phí bảo hiểm còn lại sẽ được chia sẻ theo tỷ lệ 40/60, nông dân 40% và Chính phủ 60% xem Bảng 2.1

Thủ tục đánh giá thiệt hại và thanh toán bồi thường:

Đánh giá tổn thất: khi tổn thất do những rủi ro được bảo hiểm xảy ra, trong vòng 10 ngày người được bảo hiểm phải gửi thông báo tổn thất bằng văn bản tới văn phòng gần nhất của PCIC với những nội dung: rủi ro gây tổn thất, mức độ thiệt hại Những tổn thất từ 90% trở lên được coi là tổn thất toàn bộ Những tổn thất từ 10% trở xuống sẽ coi là không có tổn thất

Thủ tục đánh giá thiệt hại và thanh toán bồi thường:

Đánh giá tổn thất: khi tổn thất do những rủi ro được bảo hiểm xảy ra, trong

Trang 36

vòng 10 ngày người được bảo hiểm phải gửi thông báo tổn thất bằng văn bản tới văn phòng gần nhất của PCIC với những nội dung: rủi ro gây tổn thất, mức độ thiệt hại Những tổn thất từ 90% trở lên được coi là tổn thất toàn bộ Những tổn thất từ 10% trở xuống sẽ coi là không có tổn thất

Bảng 2.1: Tỷ lệ phí bảo hiểm cây lúa và mức độ chia sẻ đối với

bảo hiểm rủi ro trong năm 2000

ĐVT: triệu pêsô

Nông dân Ngân hàng Chính phủ Nông dân vay vốn

Tổng phí

3,39 2,34 6,88 12,61

2,06 1,44 4,26 7,73

2,91 2,00 5,90 10,81 Nông dân

Chính phủ

5,37 6,86

3,53 4,25

4,91 5,90 Nông dân không vay vốn

(Nguồn : Crop Insurance, the Philippine Experience)

Tính toán bồi thường: số tiền bồi thường sẽ được xác định trên cơ sở quy

định bồi thường trong từng giai đoạn của ban giám đốc

Tỷ lệ tổn thất sẽ được xác định trên cơ sở phạm vi và mức độ tổn thất

Ngoài ra, Philippine còn có các chương trình cải tiến kỹ thuật: khuyến cáo trồng các giống cây trồng có năng suất cao, có khả năng chống chịu sâu bệnh và thích nghi với điều kiện canh tác của địa phương, có hệ thống hoàn chỉnh, đầu tư tín dụng cho sản xuất giúp người nông dân mua sắm đầy đủ các tư liệu cho sản xuất như: giống, phân, thuốc trừ sâu, trợ giúp kỹ thuật cho nông dân, thực hiện bảo hiểm mùa màng

2.2.3.2 Bảo hiểm chăn nuôi ở Trung Quốc

Kể từ năm 1982 đ_ khôi phục lại làm thử nghiệp vụ bảo hiểm chăn nuôi, nhiều địa phương ở Trung Quốc đ_ tích cực tìm hiểu về phương thức kinh doanh

Trang 37

bảo hiểm chăn nuôi Hiện nay, ở Trung Quốc đ_ hình thành 6 loại phương thức kinh doanh chủ yếu sau [8]:

1 Công ty bảo hiểm độc quyền, chấp nhận bảo hiểm mọi rủi ro về bệnh tật, thiên tai và tai nạn bất ngờ Phương thức bảo hiểm này có rủi ro rất lớn vì người bảo hiểm thiếu đội ngũ cán bộ kỹ thuật phòng bệnh và chữa bệnh súc vật

2 Công ty bảo hiểm tự thực hiện một hai loại rủi ro chủ yếu, như bệnh truyền nhiễm, thiên tai và tai nạn bất ngờ Đặc điểm của phương thức bảo hiểm này

là chỉ bảo hiểm rủi ro có giới hạn về bệnh tật

3 Bảo hiểm rủi ro bất ngờ: Công ty bảo hiểm chỉ chịu trách nhiệm về những tổn thất vì thiên tai và tai nạn bất ngờ Người được bảo hiểm tự chịu trách nhiệm về rủi ro ốm đau và chết hoặc chuyển rủi ro sang công ty khác

4 Kinh doanh trọn gói “phòng dịch bệnh, chữa bệnh, bồi thường”, cụ thể là tập trung giao cho người bảo hiểm thống nhất chịu trách nhiệm về quyền lợi trong các khâu phòng dịch bệnh, chữa bệnh, bồi thường trong thời hạn bảo hiểm

5 Hợp tác cùng bảo hiểm, kết hợp phòng dịch bệnh với bồi thường Ngành thú y chịu trách nhiệm công tác phòng dịch bệnh và chữa bệnh có hậu thuẫn là ng-

ười bảo hiểm chịu trách nhiệm bồi thường, hai bên đều chịu trách nhiệm bảo hiểm với những tỷ lệ khác nhau

6 Hình thức làm đại lý bảo hiểm: Công ty bảo hiểm nhận làm đại lý cho chính quyền và các ngành có liên quan tại địa phương về nghiệp vụ bảo hiểm chăn nuôi và được hưởng hoa hồng

Đối với 6 loại phương thức kinh doanh bảo hiểm chăn nuôi kể trên, mỗi loại bảo hiểm đều có mặt tốt, mặt xấu và không hoàn chỉnh Nhưng xét về mặt định hướng chủ yếu phát triển bảo hiểm chăn nuôi Phương thức áp dụng tương đối tốt là phương thức bảo hiểm thiên tai, tai nạn bất ngờ và rủi ro về bệnh tật và cũng có thể lựa chọn phương thức bảo hiểm tai nạn bất ngờ

Trang 38

2.2.3.3 Bảo hiểm nông nghiệp tại Nhật Bản

Hệ thống bảo hiểm nông nghiệp ở Nhật Bản thực hiện bảo hiểm hầu hết các loại cây trồng và vật nuôi, trừ rau, hoa và gia cầm Không những thế, các tổ chức bảo hiểm tương hỗ ở nước này còn nhận bảo hiểm cho cả nhà cửa và tài sản của nông dân

Chính phủ Nhật Bản quy định bảo hiểm bắt buộc trên toàn quốc đối với lúa gạo, lúa mì và lúa mạch vì đây là những cây trồng quan trọng đối với sản xuất nông nghiệp Nhật Bản Quy định bắt buộc có tác dụng ngăn ngừa sự lựa chọn bất lợi và giúp nông dân ổn định sản xuất, đời sống khi rủi ro xảy ra trên diện rộng [9]

Về bảo hiểm vật nuôi : Các chương trình bảo hiểm không chỉ bồi thường cho các tổn thất mà còn bù đắp các chi phí chữa bệnh và tiêm phòng

Chính phủ là người nhận tái bảo hiểm cuối cùng đối với tất cả các sản phẩm bảo hiểm nông nghiệp, trừ bảo hiểm nhà cho nông dân

Mặc dù các chương trình bảo hiểm đ_ được Nhà nước quan tâm và triển khai trên quy mô lớn song không phải lúc nào cũng đáp ứng được nhu cầu của nông dân

Đối với những người làm nghề nông bán thời gian với quy mô sản xuất nhỏ lẻ thì thu nhập từ nông nghiệp chỉ là một khoản thu nhập bổ sung, vì thế họ có đủ khả năng tự bảo hiểm cho các rủi ro trong nông nghiệp Do đó, việc tham gia bảo hiểm của đối tượng này là khá miễn cưỡng Ngược lại, những người sản xuất lớn cảm thấy khoản phí bảo hiểm phải đóng không phản ánh đúng mức độ rủi ro trong sản xuất, và họ cho rằng chỉ những người sản xuất nhỏ mới có lợi từ hệ thống này Một tồn tại khác của hệ thống bảo hiểm này là chúng chỉ thật sự có ích trong trường hợp tổn thất vượt quá mức độ nhất định còn những rủi ro nhỏ hơn thì nông dân phải chịu

Những năm vừa qua, bảo hiểm nông nghiệp tại Nhật Bản đ_ thu được rất nhiều thành công, không chỉ về số lượng người tham gia bảo hiểm, số lượng đối tượng được bảo hiểm mà cả về doanh số phí thu được Đồng thời, kết quả thực hiện bảo hiểm nông nghiệp tại Nhật Bản cũng chứng tỏ sự hỗ trợ rất tích cực của Nhà

Trang 39

nước Chỉ riêng trong lĩnh vực tài trợ phí bảo hiểm và chi bồi thường, Chính phủ nước này hàng năm đ_ đóng góp trên dưới 50% phí bảo hiểm và 50% tiền bồi thường cho bảo hiểm nông nghiệp

2.2.3.4 Bảo hiểm nông nghiệp tại ấn Độ

Bảo hiểm mùa màng toàn diện (Comprihensive Crop Insurance Scheme CCIS) Chương trình bảo hiểm mùa màng toàn diện được giới thiệu lần đầu tiên vào năm 1985 do chính phủ trung ương và chính quyền một số bang phối hợp tổ chức Chương trình bảo hiểm này được kết hợp với tín dụng mùa màng ngắn hạn Căn cứ tính phí bảo hiểm được xây dựng dựa trên cơ sở diện tích canh tác có điều kiện tương tự (nghĩa là trong trường hợp người được bảo hiểm thiếu những số liệu thống

kê tin cậy về thửa ruộng của mình, hoặc có nhiều khả năng dẫn tới nguy cơ đạo đức thì nhà bảo hiểm sẽ không tính phí trên cơ sở thửa ruộng đó mà sẽ căn cứ vào các diện tích canh tác có điều kiện tương tự) Ngoài ra, CCIS còn có những đặc điểm nổi bật dưới đây[9]:

Những nông dân vay vốn từ các tổ chức trung gian tài chính để sản xuất đều bắt buộc phải tham gia CCIS Số tiền bảo hiểm tối đa bằng 100% giá trị khoản vay

và không vượt quá 10.000 ru pi cho một người

Tỷ lệ phí bảo hiểm là 2% cho ngũ cốc và kê, 1% cho cây họ đậu và cây lấy dầu Đối với những hộ nông dân có quy mô sản xuất trung bình và nhỏ, chính phủ trung ương và chính quyền bang sẽ đồng tài trợ cho 50% phí bảo hiểm (Hộ nông dân có có quy mô sản xuất trung bình : diện tích canh tác từ 2 ha trở xuống; hộ nông dân sản xuất nhỏ : diện tích canh tác từ 1 ha trở xuống)

Phí bảo hiểm và tiền bồi thường được chính phủ trung ương và chính quyền bang chia sẻ tương ứng là 2:1

Chương trình bảo hiểm nông nghiệp quốc gia (Nationa Agriculture Insurance Scheme : NAIS)

Đây là chương trình bảo hiểm được cải tiến trên cơ sở của CCIS với mức độ

và phạm vi bảo hiểm rộng hơn NAIS do Bộ Nông nghiệp, mà đại diện là Tổng

Trang 40

công ty mùa màng ấn Độ trực tiếp thực hiện Đồng thời, trong chương trình này, phần đóng góp của chính quyền bang đ_ ngang bằng với sự trợ cấp của chính phủ (1:1) Dưới đây là một số đặc điểm chính của NAIS:

• Đối tượng tham gia : Tất cả nông dân đều có thể tham gia

• Hình thức tham gia:

- Bắt buộc đối với những người vay vốn của các tổ chức tín dụng

- Tự nguyện đối với những nông dân không vay vốn

• Phạm vi địa lý: Tất cả các bang và hạt đều có thể tham, gia bảo hiểm

• Đối tượng bảo hiểm : Tất cả các loại cây trồng đều có thể được bảo hiểm Bên cạnh đó các loại hoa, cây ăn quả, cây cảnh cũng có thể được bảo hiểm với điều kiện là có các số liệu thống kê về sản lượng thu hoạch trong quá khứ

• Rủi ro được bảo hiểm: Cháy tự nhiên, sét, b_o, lốc, tố, mưa đá, lũ, lụt, lở đất, hạn hán, sâu bệnh

• Số tiền bảo hiểm :

- Số tiền bảo hiểm có thể mở rộng đến mức bằng giá trị thu hoạch Thậm chí, nông dân có thể tham gia bảo hiểm ở mức cao hơn tới 150% giá trị thu hoạch của vùng với điều kiện phải đóng phí bổ sung

- Đối với nông dân vay vốn : Số tiền bảo hiểm ít nhất phải bằng số tiền vay

• Trợ cấp phí bảo hiểm :

- Các hộ nông dân có quy mô sản xuất nhỏ và trung bình được hỗ trợ 50% phí bảo hiểm từ chính phủ và chính quyền bang (đồng tài trợ)

- Việc hỗ trợ sẽ đựơc hủy bỏ dần trong vòng 3 đến 5 năm, căn cứ vào kết quả tài chính của nông dân ở cuối năm thứ nhất chương trình này

• Chia sẻ rủi ro:

Những tổn thất thấp hơn hay bằng 150% phí bảo hiểm Đơn vị quản lý chương trình (hiện là Tổng công ty bảo hiểm mùa màng) sẽ tiến hành bồi thường

- Những tổn thất vượt quá 150% phí bảo hiểm, tổn thất sẽ được bồi thường

Ngày đăng: 28/11/2013, 10:02

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
14. Nguyễn Văn Kỷ (2005), “Tập đoàn kinh tế theo mô hình công ty mẹ - Công ty con”, Tạp chí nghiên cứu tài chính kế toán, số 11/2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tập đoàn kinh tế theo mô hình công ty mẹ - Công ty con
Tác giả: Nguyễn Văn Kỷ
Năm: 2005
15. Chử Văn Lâm, Nguyễn Văn Huân (2002), “Rủi ro và quản lý rủi ro trong nông nghiệp”. Tạp chí Nghiên cứu kinh tế, số 07/2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rủi ro và quản lý rủi ro trong nông nghiệp
Tác giả: Chử Văn Lâm, Nguyễn Văn Huân
Năm: 2002
17. Từ Tiến Mỹ (1994), “Bảo hiểm mùa màng - Một số biện pháp tích cực góp phần xoá đói giảm nghèo ở nông thôn”, Tạp chí Lao động và xp hội, sè 04/2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo hiểm mùa màng - Một số biện pháp tích cực góp phần xoá đói giảm nghèo ở nông thôn
Tác giả: Từ Tiến Mỹ
Năm: 1994
23. Nguyễn Thị Tằm (2005), “Kinh tế trang trại ở Tây Nguyên sau 5 năm thực hiện nghị quyết số 03/2000/NQ - CP của Chính phủ”. Tạp chí Nghiên cứu tài chính kế toán, số 11/2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế trang trại ở Tây Nguyên sau 5 năm thực hiện nghị quyết số 03/2000/NQ - CP của Chính phủ
Tác giả: Nguyễn Thị Tằm
Năm: 2005
25. Phạm Thị T−ờng Vân (2005), “Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của DNBH Việt Nam trong đầu t− tài chính”, Tạp chí Nghiên cứu tài chính kế toán, số 12/2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của DNBH Việt Nam trong đầu t− tài chính
Tác giả: Phạm Thị T−ờng Vân
Năm: 2005
26. Vũ Văn Vinh (2005), Bảo hiểm nông nghiệp Việt Nam những vấn đề cần phải làm, http:/www.Vnexpress.com.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo hiểm nông nghiệp Việt Nam những vấn đề cần phải làm
Tác giả: Vũ Văn Vinh
Năm: 2005
16. Luật kinh doanh bảo hiểm (2002), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Khác
18. Niên giám thống kê Đăk Lăk (2005), Nxb Thống kê, Hà Nội Khác
19. Niên giám thống kê Huyện Eakar (2005), Nxb Thống kê, Hà Nội Khác
20. Niên giám thống kê Việt Nam(2004), Tổng cục thống kê, Nxb Thống kê, Hà Nội Khác
21. Nguyễn Thế Nh_ - Vũ Đình Thắng (2004), Giáo trình kinh tế nông nghiệp, Nxb Thống kê, Hà nội Khác
22. Hồ Sỹ Sà (2002), Giáo trình kinh tế bảo hiểm, Nxb Thống kê, Hà Nội Khác
24. Đoàn Thị Hồng Vân (2002), Quản trị rủi ro và khủng hoảng, NXB Thống kê, Hà Nội Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Tỷ lệ phí bảo hiểm cây lúa và mức độ chia sẻ đối với - Luận văn khả năng phát triển sản phẩm bảo hiểm trên địa bàn nông thôn tỉnh đăk lăk
Bảng 2.1 Tỷ lệ phí bảo hiểm cây lúa và mức độ chia sẻ đối với (Trang 36)
Bảng 2.3: Kết quả bảo hiểm mùa màng tại Canada giai đoạn - Luận văn khả năng phát triển sản phẩm bảo hiểm trên địa bàn nông thôn tỉnh đăk lăk
Bảng 2.3 Kết quả bảo hiểm mùa màng tại Canada giai đoạn (Trang 43)
Bảng 3.1: Dân số tỉnh ĐăkLăk theo đơn vị hành chính - Luận văn khả năng phát triển sản phẩm bảo hiểm trên địa bàn nông thôn tỉnh đăk lăk
Bảng 3.1 Dân số tỉnh ĐăkLăk theo đơn vị hành chính (Trang 51)
Bảng 3.6: Cơ sở vật chất phục vụ sản xuất của huyện - Luận văn khả năng phát triển sản phẩm bảo hiểm trên địa bàn nông thôn tỉnh đăk lăk
Bảng 3.6 Cơ sở vật chất phục vụ sản xuất của huyện (Trang 59)
Bảng 3.7: Cơ cấu đất đai của 03 xã điều tra - Luận văn khả năng phát triển sản phẩm bảo hiểm trên địa bàn nông thôn tỉnh đăk lăk
Bảng 3.7 Cơ cấu đất đai của 03 xã điều tra (Trang 60)
Bảng 3.10: Tài sản sản xuất của các nhóm hộ điều tra - Luận văn khả năng phát triển sản phẩm bảo hiểm trên địa bàn nông thôn tỉnh đăk lăk
Bảng 3.10 Tài sản sản xuất của các nhóm hộ điều tra (Trang 62)
Bảng 4.1: Tình hình đất đai của các nhóm hộ điều tra - Luận văn khả năng phát triển sản phẩm bảo hiểm trên địa bàn nông thôn tỉnh đăk lăk
Bảng 4.1 Tình hình đất đai của các nhóm hộ điều tra (Trang 64)
Bảng 4.3: Tài sản sản xuất của các nhóm hộ điều tra - Luận văn khả năng phát triển sản phẩm bảo hiểm trên địa bàn nông thôn tỉnh đăk lăk
Bảng 4.3 Tài sản sản xuất của các nhóm hộ điều tra (Trang 67)
Hình 4.1: Mô tả các loại rủi ro đối với các hộ nông dân trong vùng - Luận văn khả năng phát triển sản phẩm bảo hiểm trên địa bàn nông thôn tỉnh đăk lăk
Hình 4.1 Mô tả các loại rủi ro đối với các hộ nông dân trong vùng (Trang 68)
Bảng 4.4: Tình hình biến động giá cả một số nông sản chính của vùng - Luận văn khả năng phát triển sản phẩm bảo hiểm trên địa bàn nông thôn tỉnh đăk lăk
Bảng 4.4 Tình hình biến động giá cả một số nông sản chính của vùng (Trang 69)
Bảng 4.6: Tác động của các loại rủi ro đối với hộ nông dân trong  sản xuất - Luận văn khả năng phát triển sản phẩm bảo hiểm trên địa bàn nông thôn tỉnh đăk lăk
Bảng 4.6 Tác động của các loại rủi ro đối với hộ nông dân trong sản xuất (Trang 73)
Bảng 4.8b: Cơ cấu các nguồn thu nhập của các nhóm hộ điều tra xã C− Ni                                                                                                            ĐVT:1.000 đồng - Luận văn khả năng phát triển sản phẩm bảo hiểm trên địa bàn nông thôn tỉnh đăk lăk
Bảng 4.8b Cơ cấu các nguồn thu nhập của các nhóm hộ điều tra xã C− Ni ĐVT:1.000 đồng (Trang 81)
Bảng 4.8a: Cơ cấu các nguồn thu nhập của các nhóm hộ điều tra xã EaĐar                                                                                                            ĐVT:1.000 đồng - Luận văn khả năng phát triển sản phẩm bảo hiểm trên địa bàn nông thôn tỉnh đăk lăk
Bảng 4.8a Cơ cấu các nguồn thu nhập của các nhóm hộ điều tra xã EaĐar ĐVT:1.000 đồng (Trang 81)
Bảng 4.8c: Cơ cấu các nguồn thu nhập của các nhóm hộ điều tra xã EaÔ                                                                                                            ĐVT:1.000 đồng - Luận văn khả năng phát triển sản phẩm bảo hiểm trên địa bàn nông thôn tỉnh đăk lăk
Bảng 4.8c Cơ cấu các nguồn thu nhập của các nhóm hộ điều tra xã EaÔ ĐVT:1.000 đồng (Trang 82)
Bảng 4.10: Xây dựng mức phí bảo hiểm cho 1 ha cây điều                                                                                                          ĐVT: đồng - Luận văn khả năng phát triển sản phẩm bảo hiểm trên địa bàn nông thôn tỉnh đăk lăk
Bảng 4.10 Xây dựng mức phí bảo hiểm cho 1 ha cây điều ĐVT: đồng (Trang 88)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w