1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thực trạng và một số giải pháp chủ yếu phát triển cây vụ đông huyện nam sách tỉnh hải dương

110 749 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng và một số giải pháp chủ yếu phát triển cây vụ đông huyện Nam Sách tỉnh Hải Dương
Tác giả Bùi Thị Dung
Người hướng dẫn TS. Trần Văn Đức
Trường học Trường Đại Học Nông Nghiệp I
Chuyên ngành Kinh tế nông nghiệp
Thể loại Luận văn thạc sỹ
Năm xuất bản 2005
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 110
Dung lượng 459,54 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

luận văn

Trang 1

Bộ giáo dục và đào tạo Trường đại học nông nghiệp I

-*** -

Bùi Thị Dung

Trực trạng và một số giải pháp chủ yếu phát triển

cây vụ đông huyện nam sách – tỉnh hải dương

Chuyên ngành: Kinh tế nông nghiệp Mã số : 5.02.01

Luận văn thạc sỹ kinh tế

Người hướng dẫn khoa học: TS Trần văn đức

Hà Nội – 2005

Trang 2

Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và ch−a hề đ−ợc

sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Tôi cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã đ−ợc cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã đ−ợc chỉ rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày 25 tháng 8 năm 2005

Tác giả

Bùi Thị Dung

Trang 3

Tác giả xin trân trọng tỏ lòng biết ơn đối với tất cả các thầy cô giáo khoa Kinh tế & PTNT, đặc biệt là các thầy cô giáo trong bộ môn Kinh tế

đã tận tình dạy bảo, giúp đỡ và có những ý kiến đóng góp quý báu cho tác giả trong quá trình thực hiện và hoàn thiện luận văn

Tác giả xin trân trọng cảm ơn tập thể cán bộ phòng Nông nghiệp & PTNT, phòng Thống kê huyện Nam Sách, các HTX Nam Trung, Nam Tân và Đồng Lạc đã giúp đỡ tác giả trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài

Tác giả xin tỏ lòng biết ơn đối với tất cả các đồng nghiệp, gia đình và bạn bè đã giúp đỡ, động viên và khích lệ tác giả trong suốt quá trình học tập

và nghiên cứu khoa học

Hà Nội, ngày 25 tháng 8 năm 2005

Người cảm ơn

Trang 4

Mục lục

Lời cam đoan ………

Lời cảm ơn ………

Mục lục ………

Danh mục các chữ viết tắt ………

Danh mục các bảng …… ………

1 Mở đầu ………

1.1 Tính cấp thiết của đề tài………

1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài ………

1.3 Đối tượng nghiên cứu ………

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu ………

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu ………

2 Nghiên cứu tổng quan ………

2.1 Cơ sở lý luận ………

2.1.1 Tăng trưởng và phát triển kinh tế ………

2.1.2 Những vấn đề cơ bản về phát triển sản xuất cây vụ đông ………

2.2 Cơ sở thực tiễn ………

2.2.1 Thực trạng phát triển sản xuất cây vụ đông ở Việt Nam ………

2.2.2 Kinh nghiệm sản xuất vụ đông của một số địa phương…………

2.2.3 Lược khảo các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài… 3 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu……

3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu ………

3.1.1 Điều kiện tự nhiên ………

3.1.2 Điều kiện kinh tế – xã hội ………

3.2 Phương pháp nghiên cứu………

3.2.1 Phương pháp nghiên cứu chung ………

i

ii iii

v

vi

1

1

2

3

3

3

4

4

4

8

21

21

24

26

28

28

28

29

34

34

Trang 5

3.2.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể ………

3.2.3 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu ………

4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận ………

4.1 Thực trạng phát triển cây vụ đông huyện Nam Sách …………

4.1.1 Khái quát tình hình phát triển cây vụ đông của huyện Nam Sách những năm qua ……… 4.1.2 Thực trạng phát triển cây vụ đông ở các hộ điều tra ………4.1.3 Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả và hiệu quả kinh tế sản xuất cây vụ đông ……… 4.1.4 Nhận xét chung về thực trạng phát triển sản xuất vụ đông huyện Nam Sách ………

4.2 Định hướng và một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển sản xuất cây vụ đông huyện Nam Sách………

4.2.1 Định hướng ……….… 4.2.2 Một số giải pháp chủ yếu ………4.2.3 Dự kiến kết quả và hiệu quả kinh tế sản xuất vụ đông huyện Nam Sách trong những năm tới

Trang 6

Danh mục các chữ viết tắt

BVTV Bảo vệ thực vật CNH-HĐH Công nghiệp hoá - hiện đại hoá DVNN Dịch vụ nông nghiệp

ĐBSH Đồng bằng sông Hồng

GO Giá trị sản xuất GTSX Giá trị sản xuất HQKT Hiệu quả kinh tế

VA Giá trị gia tăng VTNN Vật t− nông nghiệp

Trang 7

Danh mục bảng biểu

Tác động của cây trồng vụ đông đến độ màu mỡ của đất

Tác động của cây trồng vụ đông đến độ màu mỡ của đất

Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp huyện Nam Sách năm 2004

Tốc độ tăng trưởng kinh tế của huyện giai đoạn 2000 – 2004

Cơ cấu giá trị sản xuất ngành nông nghiệp

Số lượng mẫu của các điểm điều tra

Diện tích và cơ cấu diện tích cây vụ đông huyện Nam Sách giai

đoạn 2000 – 2004

Năng suất một số cây vụ đông huyện Nam Sách giai đoạn 2000–2004

Giá trị sản xuất cây vụ đông huyện Nam Sách giai đoạn 2000–2004

Điều kiện sản xuất của các nhóm hộ năm 2004

Chi phí sản xuất cây hành năm 2004

Chi phí sản xuất cây cà chua năm 2004

Chi phí sản xuất cây bí xanh năm 2004

So sánh mức đầu tư cho cây vụ đông huyện Nam Sách với mức đầu tư theo quy trình kỹ thuật

Kết quả và hiệu quả kinh tế của cây hành năm 2004

Kết quả và hiệu quả kinh tế của cây cà chua năm 2004

Kết quả và hiệu quả kinh tế của cây bí xanh năm 2004

So sánh năng suất cây vụ đông huyện Nam Sách với năng suất

tiềm năng

So sánh hiệu quả kinh tế của một số cây vụ đông

Các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả và hiệu quả sản xuất hành

Các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả và hiệu quả sản xuất bí xanh

111130323237

41424345474849

50515254

55565960

Trang 8

Tỷ lệ sản phẩm vụ đông theo các hình thức tiêu thụ

ảnh hưởng của hình thức tiêu thụ đến thu nhập của cây vụ đông

Chênh lệch giữa giá bán lẻ thấp nhất và giá bán lẻ cao nhất của

sản phẩm vụ đông

Giá một số vật tư nông nghiệp và giá sản phẩm vụ đông chủ yếu

Nhu cầu vay vốn phát triển sản xuất vụ đông của các hộ nông

dân năm 2004

Nhu cầu các hình thức chuyển giao KHKT sản xuất vụ đông

Mục tiêu phát triển cây vụ đông huyện Nam Sách đến năm 2010

Tổ chức chuyển giao KHKT sản xuất vụ đông

Dự kiến nhu cầu vốn sản xuất vụ đông huyện Nam Sách đến 2010

Thị trường tiêu thụ sản phẩm vụ đông huyện Nam Sách

Thay đổi thu nhập của cây hành theo các phương án

Thay đổi thu nhập của cây cà chua theo các phương án

Thay đổi thu nhập của cây bí xanh theo các phương án

656667

6869

697073757778808182

Trang 9

1 Mở đầu

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Vụ đông ngày càng đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển sản xuất kinh doanh của từng hộ nông dân Nếu như trước kia mục đích chính của

nó là đáp ứng nhu cầu lương thực trong những ngày giáp hạt và phục vụ chăn nuôi thì hiện nay vụ đông đang dần trở thành vụ sản xuất chính của các hộ nông dân Ngoài ra, vụ đông còn góp phần giải quyết công ăn việc làm cho lao động

đang dư thừa hiện nay ở nông thôn, tăng nguồn nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến và là biện pháp quan trọng để góp phần tăng độ phì nhiêu cho

đất Vì vậy, phát triển cây vụ đông là cơ hội để hộ nông dân tăng thêm thu nhập, cải thiện đời sống; góp phần tăng lượng nông sản hàng hoá xuất khẩu,

đặc biệt là một số loại nông sản có giá trị thương phẩm cao cho đất nước

Nam Sách là huyện có nhiều tiềm năng, thế mạnh và truyền thống sản xuất vụ đông của tỉnh Hải Dương Những năm qua cùng với những chuyển biến tích cực của sản xuất nông nghiệp, sản xuất vụ đông của huyện cũng đã

có những bước phát triển khả quan, dần dần khẳng định là một trong những lĩnh vực sản xuất quan trọng của ngành nông nghiệp Trong những năm gần

đây, quy mô diện tích vụ đông của huyện luôn đạt khoảng 3.000 ha, bình quân giá trị sản xuất trên một ha vụ đông tăng từ 18,6 triệu đồng năm 2000 lên 21,5 triệu đồng năm 2004, đưa giá trị sản xuất vụ đông từ 34,5% cơ cấu giá trị ngành trồng trọt năm 2000 lên 38,9% năm 2004 [23]

Sản xuất vụ đông huyện Nam Sách cũng đang có bước chuyển dịch tích cực theo hướng tăng dần diện tích các cây trồng có giá trị kinh tế cao và những cây trồng mà huyện có lợi thế Đặc biệt sản xuất vụ đông của huyện đã tạo ra một số sản phẩm có khối lượng hàng hoá khá lớn như sản phẩm hành ta,

Trang 10

năm 2004 sản lượng hành củ của huyện đạt xấp xỉ 18 ngàn tấn, chiếm 30,8% sản lượng toàn tỉnh [7]

Tuy nhiên quá trình phát triển sản xuất vụ đông của huyện Nam Sách cũng đã bộc lộ một số hạn chế như diện tích đất sản xuất vụ đông còn bị lãng

phí (35,8% diện tích chưa được sử dụng), năng suất cây trồng còn thấp, trình

độ thâm canh cây vụ đông của các hộ nông dân nhìn chung chưa cao Bên cạnh đó là tình trạng giá sản phẩm vụ đông không ổn định trong khi giá vật tư

đầu vào ngày càng tăng gây nhiều khó khăn cho sản xuất Những vấn đề trên chưa được giải quyết kịp thời đã làm cho hiệu quả kinh tế sản xuất vụ đông chưa cao và làm giảm động lực phát triển sản xuất

Xuất phát từ thực tiễn trên chúng tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài “Thực trạng và một số giải pháp chủ yếu phát triển sản xuất cây vụ đông huyện Nam Sách – tỉnh Hải Dương”

1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

- Mục tiêu chung

Nghiên cứu, đánh giá thực trạng phát triển sản xuất cây vụ đông của huyện Nam Sách, từ đó đưa ra các giải pháp phát triển thích hợp

- Mục tiêu cụ thể

+ Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn cơ bản về phát triển cây

Trang 11

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu

- Cây trồng vụ đông ở huyện Nam Sách

- Hộ nông dân trồng cây vụ đông

- Hộ thu mua sản phẩm vụ đông, cơ sở chế biến nông sản sử dụng sản phẩm vụ đông làm nguyên liệu

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi về thời gian: Tổng quan tài liệu được sử dụng các số liệu của

năm trước, khảo sát thực trạng tiến hành vào vụ đông năm 2004 - 2005 Các giải pháp dự kiến được áp dụng vào các vụ đông tiếp theo từ năm 2006

- Phạm vi về không gian: Tại địa bàn huyện Nam Sách tỉnh Hải Dương

- Phạm vi nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu nội dung phát triển sản

xuất của một số cây vụ đông chủ yếu là hành ta, cà chua và bí xanh

Trang 12

2 nghiên cứu tổng quan

2.1 Cơ sở lý luận

2.1.1 Tăng trưởng và phát triển kinh tế

2.1.1.1 Các khái niệm về tăng trưởng và phát triển

Những mục tiêu phát triển của các quốc gia đều dựa vào khả năng khai thác nguồn lực trong nước và nước ngoài Mỗi quốc gia trên thế giới đều có sự kết hợp và khả năng khai thác các nguồn lực khác nhau Song, quan niệm chung nhất là phải tạo ra được sự tiến bộ toàn diện cả về kinh tế, xã hội và môi trường, nhưng coi tăng trưởng là tiền đề cần thiết cho sự phát triển

Tăng trưởng kinh tế mới chỉ giới hạn trong khuôn khổ làm tăng thêm sản lượng bằng cách mở rộng quy mô, chứ chưa đề cập đến mối quan hệ của

nó đến các vấn đề xã hội

Vậy, tăng trưởng kinh tế là sự tăng thêm (hay gia tăng) về quy mô sản

lượng của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định [20, 15] Đó là kết quả của tất cả các hoạt động sản xuất và dịch vụ của nền kinh tế tạo ra

Để biểu thị sự tăng trưởng kinh tế, người ta thường dùng mức tăng lên của GNP, GDP Mức tăng đó thường đứng trên toàn bộ nền kinh tế quốc dân, hay tính bình quân theo đầu người của thời kỳ sau so với thời kỳ trước đó

Sự tăng trưởng được so sánh theo các thời điểm liên tục trong một giai

đoạn nhất định sẽ cho ta khái niệm tốc độ tăng trưởng Đó là sự tăng thêm sản lượng nhanh hay chậm so với thời điểm gốc

Phát triển kinh tế có thể hiểu là một quá trình lớn lên (hay tăng tiến) về

mọi mặt của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định Trong đó bao gồm cả sự

tăng thêm về quy mô sản lượng (tăng trưởng) và sự tiến bộ về cơ cấu kinh tế –

xã hội [20, 15]

Phát triển kinh tế phản ánh sự vận động của nền kinh tế từ trình độ thấp lên trình độ cao hơn

Trang 13

2.1.1.2 Các chỉ tiêu phản ánh sự phát triển kinh tế

Gồm có các chỉ tiêu phản ánh sự tăng trưởng kinh tế và cơ cấu kinh tế – xã hội

* Chỉ tiêu phản ánh sự tăng trưởng kinh tế, có 2 chỉ tiêu cơ bản:

- Tổng thu nhập: phản ánh một cách khái quát nhất quy mô sản lượng hàng hoá và dịch vụ đã làm ra trong năm gồm:

+ Tổng sản phẩm quốc dân (GNP) là tổng giá trị tính bằng tiền của toàn

bộ hàng hoá và dịch vụ mà tất cả công dân một nước sản xuất ra không phân biệt sản xuất được thực hiện ở trong nước hay ngoài nước trong một thời kỳ nhất định

+ Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) là tổng giá trị tính bằng tiền của toàn

bộ hàng hoá và dịch vụ mà một nước sản xuất ra trên lãnh thổ của nước đó (dù

nó thuộc về người trong nước hay người ngoài nước) trong một thời gian

nhất định

Tổng sản phẩm quốc dân được xác định theo phương trình kinh tế sau đây:

GNP = GDP + thu nhập tài sản ròng Thu nhập tài sản ròng bằng tổng thu về thu nhập nhân tố từ nước ngoài trừ đi tổng thu về thu nhập nhân tố cho nước ngoài

- Chỉ tiêu thu nhập bình quân đầu người: thông thường sử dụng chỉ tiêu GNP bình quân đầu người, GDP bình quân đầu người

* Các chỉ tiêu về cơ cấu kinh tế – xã hội gồm: một số chỉ tiêu như chỉ tiêu cơ cấu ngành trong GDP; chỉ tiêu về cơ cấu hoạt động ngoại thương; chỉ tiêu về sự liên kết kinh tế; chỉ tiêu về mức tiết kiệm

- đầu tư

Trang 14

2.1.1.3 Mối quan hệ giữa tăng trưởng và phát triển

Tăng trưởng là điều kiện, tiền đề cho phát triển Bởi vì, nền kinh tế có tăng trưởng thì mới có khả năng tăng ngân sách nhà nước; tăng thu nhập của dân cư Nhờ có tăng trưởng kinh tế, Nhà nước mới có thể tăng đầu tư cho giáo dục, chăm sóc sức khoẻ nhân dân, xây dựng kết cấu hạ tầng, giải phóng sức sản xuất và có điều kiện giải quyết các vấn đề xã hội Tăng trưởng kinh tế là

điều kiện cần để làm thay đổi mọi mặt đời sống xã hội và tác động trực tiếp

đến sự hình thành cơ cấu kinh tế Ngược lại sự tiến bộ về mọi mặt của nền kinh tế sẽ là động lực đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng

Tóm lại, tăng trưởng có thể là điều kiện cần đối với sự phát triển, nhưng

nó chưa phải là điều kiện đủ Tăng trưởng mà không phát triển sẽ dẫn đến suy thoái cả về kinh tế và xã hội, ngược lại phát triển mà không tăng trưởng là không tồn tại trong thực tế

2.1.1.4 Phát triển bền vững

Vào nửa cuối của thập kỷ 80 và đầu thập kỷ 90, loài người đã phải

đương đầu với những thách thức lớn do suy thoái về nguồn lực và giảm cấp môi trường Trong tình hình đó, quan niệm mới về sự phát triển đã được đặt

Trang 15

sách môi trường và thể chế vững chắc có thể tạo cơ sở cho việc giải quyết cả hai vấn đề môi trường và phát triển

Điều then chốt đối với phát triển bền vững không phải là sản xuất ít đi

mà là sản xuất khác đi, sản xuất phải đi đôi với tiết kiệm các nguồn tài nguyên

và bảo vệ môi trường Các chính sách môi trường có thể tăng cường hiệu suất trong sử dụng tài nguyên và đưa ra những đòn bẩy để tăng cường những công nghệ và phương pháp ít gây nguy hại và không gây giảm cấp môi trường và nguồn lực Các đầu tư tạo ra nhờ các chính sách môi trường sẽ làm thay đổi cách thức sản xuất các sản phẩm và dịch vụ, có thể có trường hợp đầu ra thấp hơn nhưng lại tạo ra những lợi ích làm tăng phúc lợi lâu dài của con người Trong thực tế khi thu nhập tăng lên, nhu cầu nâng cao chất lượng môi trường cũng sẽ tăng lên và các nguồn lực có thể sử dụng cho đầu tư sẽ tăng lên

Nhà nước ta đã đưa ra quan niệm chính thức về phát triển lâu bền là thoả mãn những nhu cầu cơ bản về vật chất, tinh thần và văn hoá cho thế hệ hiện tại và tương lai của Việt Nam thông qua việc quản lý một cách khôn khéo tài nguyên thiên nhiên Xây dựng và thực hiện các chính sách, kế hoạch hành

động, cơ chế tổ chức, nhằm đảm bảo cho khả năng sử dụng lâu bền các tài nguyên thiên nhiên được nhất thể hoá và liên kết chặt chẽ với tất cả các khía cạnh của quá trình phát triển kinh tế và xã hội của đất nước [13]

Như vậy, phát triển bền vững là sự phát triển hài hoà giữa đời sống vật chất và đời sống tinh thần, giữa thiên nhiên và con người, giữa tự nhiên và nhân tạo, giữa hiện tại và tương lai Sự phát triển đó nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hội hiện tại nhưng không làm phương hại đến phát triển của xã hội tương lai

Chương trình Môi trường của Liên hợp quốc [26] đã đề xuất 5 nội dung của phát triển bền vững gồm:

Trang 16

- Tập trung phát triển ở những vùng nghèo đói, nhất là những vùng rất nghèo mà ở đó con người không có lựa chọn nào khác ngoài làm giảm cấp nguồn lực và môi trường

- Tạo ra sự phát triển cao về tính tự lập của cộng đồng trong điều kiện

có hạn về nguồn lực, nhất là tài nguyên thiên nhiên

- Nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực dựa trên các kỹ thuật và công nghệ thích hợp, kết hợp với khai thác tối đa kỹ thuật truyền thống

- Thực hiện các chiến lược phát triển nhằm đảm bảo tự lực về lương thực, cung cấp nước sạch và nhà ở, giữ gìn sức khoẻ, chống suy dinh dưỡng thông qua các công nghệ thích hợp

- Xây dựng và thực hiện các chiến lược có người dân tham gia

2.1.2 Những vấn đề cơ bản về phát triển sản xuất cây vụ đông

2.1.2.1 Đặc điểm sản xuất cây vụ đông

Theo nghiên cứu của các nhà khoa học, cây vụ đông có mặt ở nước ta từ

hàng ngàn năm nay, ban đầu là các cây bản địa như khoai lang, ngô, đậu,

đỗ… Ngày nay, cùng với sự phát triển của khoa học nông nghiệp trong việc lai tạo, tuyển chọn các giống cây mới cũng như sự mở rộng giao lưu với các nước trên thế giới đã có nhiều giống cây mới được đưa vào sản xuất ở nước ta tạo nên tập đoàn cây vụ đông phong phú như hiện nay

Từ những năm 70 của thế kỷ trước, ở nước ta nhờ thành công tiến bộ khoa học kỹ thuật (KHKT) nên đã rút ngắn được thời gian sinh trưởng của một số loại cây trồng tạo điều kiện cơ cấu lại mùa vụ Từ đó trong nông nghiệp nước ta chính thức hình thành thêm một vụ sản xuất mới: vụ đông

Do đặc điểm thời tiết, khí hậu nên ở nước ta duy nhất các tỉnh phía Bắc

từ Mục Nam Quan đến bắc đèo Hải Vân có điều kiện thuận lợi cho việc sản xuất cây vụ đông ngoài hai vụ lúa

Trang 17

Tuy nhiên để nghiên cứu phát triển cây vụ đông cần chú ý một số đặc

điểm chủ yếu sau:

- Cây trồng vụ đông chủ yếu là các loại cây cạn và ngắn ngày có đặc tính sinh lý và sinh hoá khác nhau Hầu hết những loại cây trồng này có yêu cầu về thời vụ tương đối nghiêm ngặt và rất dễ bị các loại sâu bệnh hại Do đó, việc lựa chọn giống cây trồng cho phù hợp với chất đất của từng vùng và thích nghi với sự biến động về điều kiện tự nhiên, thời tiết, khí hậu là hết sức cần thiết Bên cạnh đó, các hộ nông dân cần đầu tư thích đáng cho khâu lựa chọn giống tạo ra một tập đoàn giống đa dạng và phong phú đảm bảo cho nâng cao năng suất cũng như chất lượng của sản phẩm khi thu hoạch, đồng thời các khâu sản xuất phải làm đúng và kịp thời để không ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng và phát triển của cây trồng vụ đông, không ảnh hưởng đến vụ sản xuất kế tiếp

- Vụ đông là vụ trồng nhiều loại cây khác nhau, do vậy, các hộ nông dân cần bố trí cơ cấu cây trồng sao cho phù hợp với sự đầu tư của mình nhằm tạo ra năng suất cao đáp ứng tốt cho nhu cầu tiêu dùng và có sản phẩm cung ứng cho nhu cầu thị trường Đây là vấn đề quan trọng đối với các nông hộ sản xuất cây vụ đông Có như vậy hiệu quả sản xuất mới được tăng lên, do đó việc tăng tỷ trọng hàng hoá trong cơ cấu sản phẩm có ý nghĩa to lớn trong chiến lược phát triển ngành nông nghiệp thành ngành sản xuất hàng hoá

- Sản xuất vụ đông được tiến hành trong điều kiện thời tiết khí hậu lạnh, khô và diễn biến phức tạp Khí hậu lạnh và khô là điều kiện thuận lợi cho sản xuất vụ đông do hạn chế được sự phát triển của sâu bệnh hại, nhưng sự diễn biến phức tạp của thời tiết lại gây ra những rủi ro lớn cho sản xuất vụ đông Vì vậy, từng vùng, từng địa phương cần nắm rõ được quy luật thay đổi của khí

Trang 18

hậu để có những giải pháp tốt, khắc phục một cách hữu hiệu nhất nhằm tránh

được những thiệt hại khôn lường có thể xảy ra

- Sản phẩm cây vụ đông có hàm lượng dinh dưỡng, hàm lượng nước cao nên rất khó bảo quản Cũng do đặc điểm trên mà sản phẩm vụ đông sản xuất

ra phải bán ngay làm cho tỷ suất hàng hoá của sản phẩm vụ đông cao Do đó cần có biện pháp thu hoạch, bảo quản, chế biến và tiêu thụ kịp thời để vừa

đảm bảo chất lượng sản phẩm, vừa tránh được rủi ro thị trường

- Cây trồng vụ đông đòi hỏi đầu tư lớn về lao động, chi phí vật chất Do vậy, để cây vụ đông đạt năng suất, chất lượng cao, các hộ nông dân phải bố trí hợp lý tiền vốn, lao động cho vụ sản xuất này

2.1.2.2 Vai trò của sản xuất vụ đông

- Khai thác có hiệu quả hơn các nguồn lực

Việc tăng thêm vụ đông đã góp phần làm tăng hệ số sử dụng ruộng đất, tận dụng được nguồn lao động nông nhàn Năm 1998 cả nước đã sử dụng tương đương 1,997 triệu lao động cho ba tháng sản xuất vụ đông [11] Ngoài

ra, sản xuất vụ đông còn cho phép sử dụng có hiệu quả các tư liệu sản xuất khác và các cơ sở vật chất phục vụ sản xuất nông nghiệp của địa phương

- Tăng thu nhập, góp phần cải thiện đời sống của nông dân

Với việc phát triển các cây trồng có giá trị kinh tế cao, tỷ suất hàng hoá lớn, vụ đông đang dần trở thành vụ sản xuất chính và có vị trí quan trọng trong sản xuất nông nghiệp Vụ đông đã cung cấp cho thị trường một lượng nông sản hàng hoá có giá trị tiêu dùng cao, góp phần nâng cao thu nhập cho người nông dân

- Sản xuất vụ đông là nguồn cung cấp các loại thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao cho con người mà hiếm có các sản phẩm thay thế Sản phẩm vụ đông còn làm nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và công nghiệp dược phẩm

Trang 19

- Góp phần thúc đẩy quá trình cải tạo và bồi dưỡng đất

Bảng 1a: Tác động của cây trồng vụ đông đến độ màu mỡ của đất

Đất sau khi thu hoạch vụ đông Chỉ tiêu

Đất trước khi thu hoạch

Khoai lang

Khoai tây

Ngô

gié

Đậu Côbơ

N dễ tiêu (mg/100g đất) 2,36 4,10 4,25 2,54 4,80

P2O5 dễ tiêu (mg/100g đất) 6,00 7,90 8,26 6,10 5,90 Nguồn: Tạp chí khoa học và kỹ thuật nông nghiệp số 293 năm 1978 [16] Sản xuất cây vụ đông một mặt làm tiêu hao dinh dưỡng đất, mặt khác do

đặc tính sinh học và đặc tính canh tác của cây vụ đông đã tạo nên sự kết hợp hài hoà giữa việc sử dụng đất với bồi dưỡng cải tạo đất lâu dài Cây vụ đông thường là cây trồng cạn và được ứng dụng kỹ thuật canh tác của nghề làm vườn nên đã góp phần cải thiện chế độ dinh dưỡng của đất Các nghiên cứu đã chỉ ra tác động này của cây vụ đông (xem bảng 1a, 1b):

Bảng 1b: Tác động của cây trồng vụ đông đến độ màu mỡ của đất

Chỉ tiêu Đất bỏ hoá

P2O5 dễ tiêu (mg/100g đất) 3,75 3,75

Nguồn: Tạp chí khoa học và kỹ thuật nông nghiệp số 293 năm 1978 [16]

Trang 20

Tóm lại: sản xuất vụ đông mang lại hiệu quả trên nhiều mặt: cung cấp

lương thực, thực phẩm cho người và làm thức ăn cho gia súc, làm nguyên liệu cho chế biến, góp phần cải tạo và bồi dưỡng đất Đặc biệt, sản xuất vụ đông làm tăng thu nhập bằng tiền, tăng tích luỹ và nâng cao mức sống của nông dân

2.1.2.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến sản xuất cây vụ đông

* Nhóm yếu tố về điều kiện tự nhiên

- Thời tiết: Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa là điều kiện thuận lợi để phát triển sản xuất đa dạng các giống cây trồng Cây vụ đông chủ yếu được sản xuất ở miền bắc, thời tiết vụ đông của khu vực miền bắc thường

ít mưa ở đầu vụ, nhiệt độ thấp, không khí khô, gió bắc nhiều thuận lợi cho các

cây rau vụ đông ưa nhiệt độ thấp phát triển (nhiệt độ thích hợp là khoảng 15 0 C – 20 0 C) Nếu thời tiết vụ đông ít rét và độ ẩm cao thì đó là điều kiện có tác

động không tốt đến cây trồng vụ đông Trong vài năm gần đây diễn biến thời tiết có nhiều bất thường, rét thường đến muộn hơn, mưa đầu mùa khi ít khi nhiều, có những năm hầu như không có rét, nhiệt độ cao, thời tiết nắng nóng nhưng cũng có năm khô hạn, rét đậm kéo dài, sương muối cây dễ chết, dễ bị quăn lá, rụng hoa, thối quả làm ảnh hưởng tới khối lượng và chất lượng cây vụ

đông Chính vì vậy yếu tố về thời tiết đã có tác động rất lớn đến năng suất và chất lượng cây vụ đông

- Đất đai: Đối với sản xuất cây vụ đông, đất là yếu tố quan trọng tác

động trực tiếp đến năng suất cũng như chất lượng cây vụ đông Mỗi chủng loại cây thích hợp với loại đất có thành phần cơ, lý, hoá học khác nhau Nắm bắt

được từng loại đất, hộ nông dân sẽ sử dụng đầy đủ và hợp lý, khai thác triệt để tiềm năng của đất đai

* Nhóm yếu tố về điều kiện kinh tế – xã hội

Sản xuất vụ đông cũng như các loại cây trồng khác nó chịu sự chi phối của các quy luật như quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh, các chính sách của nhà nước và chịu tác động của rất nhiều các yếu tố đầu vào, quy mô sản

Trang 21

xuất, các nguồn lực như đất đai, lao động, vốn sản xuất, thị trường, kinh nghiệm sản xuất, tiến bộ KHKT áp dụng vào sản xuất

- Nguồn lực: Nguồn lực hiểu theo nghĩa rộng là tiềm năng phục vụ cho sản xuất: vốn, lao động, tri thức, khả năng tổ chức, điều kiện tự nhiên Trong sản xuất kinh doanh, các nguồn lực được hiểu đó là giá trị đầu vào, là điều kiện vật chất cần thiết để tiến hành sản xuất kinh doanh Người sản xuất chủ

động về nguồn lực sẽ thực hiện tốt hơn quá trình sản xuất

+ Về lao động: Lao động là hoạt động có mục đích của con người thông qua công cụ lao động tác động lên đối tượng lao động Tuy nhiên, lao động của các nông hộ có đông về số lượng nhưng về cơ bản vẫn là lao động thủ công, năng suất lao động thấp, trình độ văn hoá, khoa học kỹ thuật và kiến thức kinh doanh theo cơ chế thị trường còn hạn chế Để phát triển sản xuất cây

vụ đông yêu cầu trước mắt và lâu dài là phải bồi dưỡng một đội ngũ lao động

có chất lượng cao phù hợp với tình hình mới

+ Trình độ, kinh nghiệm của người nông dân trong việc sản xuất cây vụ

đông: Cây vụ đông đòi hỏi sự chăm sóc kịp thời và đúng quy trình kỹ thuật mới làm cho năng suất tăng, chất lượng tốt Nếu chủ hộ có trình độ văn hoá cao, có kinh nghiệm trồng và chăm sóc cây vụ đông sẽ lựa chọn giống cây trồng, biện pháp canh tác, sử dụng thuốc bảo vệ thực vật và phân bón một cách hợp lý Từ đó cây sinh trưởng, phát triển tốt tạo ra năng suất cao, chất lượng tốt Ngược lại, chủ hộ có trình độ văn hoá thấp, thiếu kinh nghiệm trong sản xuất cây vụ đông sẽ không nắm bắt được kỹ thuật thâm canh, chăm sóc không đúng quy trình kỹ thuật sẽ cho kết quả và hiệu quả thấp

+ Chính sách của Nhà nước: Trong cơ chế phát triển của nền kinh tế thị trường, dưới tác động từ nhiều phía các hoạt động kinh tế và các chính sách Nhà nước ban hành nhằm đáp ứng nhu cầu cụ thể cho mỗi đối tượng trong mọi lĩnh vực Trong những năm gần đây Nhà nước đã ban hành rất nhiều chính sách phát triển sản xuất nông nghiệp, khuyến khích nông dân tích cực

Trang 22

sản xuất, đưa tiến bộ KHKT mới vào để tăng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất Nhiều chính sách khi áp dụng đã thực sự góp phần thúc đẩy nền sản xuất phát triển

- Thời vụ gieo trồng: Các loại cây trồng đều có đặc điểm sinh trưởng và quy luật phát triển riêng Đối với cây vụ đông, thời vụ gieo trồng được tính từ khi đặt giống, gieo hạt, qua quá trình sinh trưởng, phát triển và đến thời kỳ thu hoạch Do vậy cũng giống như các loại cây trồng khác, nếu cây vụ đông gieo trồng không đúng thời vụ thì sẽ gặp khó khăn về thời tiết, sâu bệnh… làm cây sinh trưởng chậm, phát triển kém, năng suất thấp

Thời vụ gieo trồng được xác định trong quá trình sản xuất Lịch gieo trồng được nghiên cứu trên cơ sở kết hợp giữa quy luật sinh trưởng và phát triển của cây trồng Như vậy, để nâng cao hiệu quả sản xuất cây vụ đông, người nông dân không chỉ biết có chăm sóc đầy đủ, hợp lý mà còn phải biết

bố trí cơ cấu giống cây trồng mùa vụ thích hợp

- Kỹ thuật chăm sóc: Đối với sản xuất cây vụ đông thì kỹ thuật chăm sóc là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng sản phẩm Người sản xuất phải tuân thủ nghiêm quy trình kỹ thuật từ làm đất, xử lý giống, trồng, chăm bón và phòng trừ sâu bệnh

Trang 23

So với các cây trồng khác, cây vụ đông thường bị nhiều loài sâu bệnh gây hại Sâu bệnh hại cây vụ đông nhiều về chủng loại, thường sinh

ra với số lượng lớn, mật độ cao, hầu như quanh năm và phát triển ở khắp mọi vùng trồng cây vụ đông với mức độ gây hại thường là rất lớn Để bảo

vệ cây vụ đông chống các loại sâu bệnh gây hại một cách có hiệu quả cần

áp dụng hệ thống phòng trừ tổng hợp Hệ thống này bao gồm những yếu tố cơ bản sau:

+ Tìm kiếm và sử dụng các giống cây vụ đông chống chịu sâu bệnh Cần nắm được những thông tin cần thiết và kịp thời về các giống cây vụ đông

+ Sử dụng các biện pháp phòng trừ sâu bệnh một cách thận trọng và hợp lý

2.1.2.4 Phát triển cây vụ đông

Dựa trên cơ sở lý luận về phát triển kinh tế, chúng ta có thể quan niệm phát triển cây vụ đông là sự tăng tiến về quy mô, sản lượng và sự tiến bộ về cơ cấu cây trồng, cơ cấu chất lượng sản phẩm Như vậy, phát triển cây vụ đông bao hàm cả sự biến đổi về số lượng và chất lượng Sự thay đổi về lượng đó là

sự tăng lên về quy mô diện tích, khối lượng sản phẩm và tổng giá trị sản xuất

vụ đông Sự thay đổi về chất bao gồm sự chuyển dịch cơ cấu diện tích cây vụ

đông theo hướng tăng tỷ trọng diện tích những cây có hiệu quả kinh tế cao, sự tăng lên về năng suất, chất lượng sản phẩm và tăng thu nhập/ đơn vị diện tích cây vụ đông

Ngoài ra, trong sản xuất cây vụ đông những thay đổi tích cực về mặt xã hội như tạo việc làm cho lao động nông thôn, làm tăng lợi ích của cộng đồng,

Trang 24

hay những lợi ích về môi trường như không làm suy thoái, ô nhiễm các nguồn tài nguyên đất, nước, không khí… cũng là những biểu hiện của sự phát triển

Theo chúng tôi, phát triển cây vụ đông cần tuân theo những nguyên tắc sau:

- Phát triển bền vững: phát triển cây vụ đông phải đảm bảo cả hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và bảo vệ môi trường

- Phát triển cây vụ đông phải theo hướng sản xuất hàng hoá: sản xuất hàng hoá đối với cây vụ đông không có nghĩa là tạo ra với khối lượng lớn mà cần căn cứ vào nhu cầu của người tiêu dùng để ra các quyết định sản xuất: mở rộng diện tích, thay đổi cơ cấu cây trồng…

- Phát triển cây vụ đông phải dựa trên cơ sở phát huy những tiềm năng

về đất đai, lao động, điều kiện tự nhiên, thị trường… của từng vùng Trên phạm vi xã hội sản phẩm vụ đông nên phát triển đa dạng nhưng ở mỗi địa phương, mỗi vùng chỉ nên chọn phát triển một vài loại sản phẩm mà địa phương có lợi thế

2.1.2.5 Các chủ trương của Đảng và chính sách của Nhà nước liên quan

đến phát triển cây vụ đông

* Các chủ trương của Đảng

Cây vụ đông được đảng và Nhà nước hết sức quan tâm, điều đó được thể hiện

ở các Nghị quyết của Đảng Nghị quyết 6 của Ban chấp hành Trung ương Đảng

cộng sản Việt Nam đã chỉ rõ: “Nhiệm vụ quan trọng nhất hiện nay là động viên cao

độ và tổ chức toàn dân, toàn quân, đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, nhằm trước hết bảo đảm vững chắc lương thực và thực phẩm, công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng và tăng nhanh nguồn hàng xuất khẩu…Ra sức đẩy mạnh sản xuất lúa bằng thâm canh tăng vụ và sử dụng hết diện tích, nhất là vùng

đồng bằng sông Cửu Long và ĐBSH Tập trung đầu tư về thuỷ lợi, phân bón, thuốc trừ sâu, sức kéo để đưa năng suất lên nhanh ở những vùng có khối lượng lớn về lương thực Phải hết sức đẩy mạnh sản xuất vụ đông ở các tỉnh miền bắc” [1] Từ

Trang 25

khi có những nghị quyết, chỉ thị của Đảng và Nhà nước về phát triển sản xuất cây vụ

đông, diện tích, năng suất và sản lượng được tăng nhanh, kể cả hàng hoá nội vùng

và ngoại vùng Đặc biệt hội nghị triển khai nghị quyết 6 của Bộ Chính trị ngày 12 và

13/3/1999 “về một số vấn đề phát triển nông nghiệp và nông thôn” là cột mốc đánh

dấu sự quan tâm đặc biệt của Đảng và Chính phủ tới phát triển nông nghiệp hàng hoá Ngoài ra Nhà nước còn ban hành nhiều chủ trương, chính sách hỗ trợ nông nghiệp hàng hoá phát triển Trong thời gian qua Nhà nước đã hướng dẫn nông dân

“sản xuất phải gắn với thị trường, làm ra những mặt hàng với số lượng, chất lượng

và thời gian mà thị trường cần để có thể tiêu thụ và đạt hiệu quả”

Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII khẳng định: “phát triển sản xuất cây thực phẩm, sản xuất thành những vùng chuyên canh hoá, những vành đai quanh các thành phố, các khu công nghiệp, đồng thời phát triển mạnh kinh tế các nông hộ” Đại hội IX lần nữa khẳng định việc tăng vụ,

tăng sản lượng lương thực, thực phẩm nâng cao giá trị sản xuất, nâng cao hiệu quả sử dụng đất đai với một số định hướng phát triển sản xuất cây vụ đông như sau: Thực tế trong những năm qua tuy sản lượng lương thực, thực phẩm không ngừng tăng nhanh nhưng giá trị sản phẩm lại liên tục giảm, vì vậy cần thiết phải xây dựng, phát triển sản xuất một số cây vụ đông có giá trị kinh tế cao, đặc biệt là những cây xuất khẩu; phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn nhằm nâng cao khả năng phục vụ sản xuất, nâng cao giá trị thương phẩm, qua đó mở rộng thị trường tại chỗ và tích cực mở rộng thị trường mới, hướng vào thị trường xuất khẩu; đưa công nghệ sinh học, các giống lúa ngắn ngày có chất lượng cao vào sản xuất, kết hợp và bố trí mùa vụ thích hợp tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất vụ đông; quy hoạch vùng sản xuất theo hướng chuyên môn hoá, kết hợp với chế biến, tiêu thụ sản phẩm, từng bước nâng cao chất lượng sản phẩm cây vụ đông [2]

Trang 26

* Các chính sách của Nhà nước về phát triển cây rau quả nói chung và cây vụ đông nói riêng

- Chính sách thuế

+ Quyết định số 09/2000/QĐ-TTg ngày 15/06/2000 của Thủ tướng Chính phủ [15] về “một số chính sách và biện pháp khuyến khích tiêu thụ sản phẩm công nghiệp” quy định ngoài diện miễn giảm theo chính sách đã ban hành, kể từ năm 2001, còn được xét miễn giảm khi gặp rủi ro về thị trường và giá cả, cắt giảm thuế đối với nhiều mặt hàng vật tư, phân bón, giống cây trồng khi thị trường những mặt hàng này có những biến động lớn bất lợi cho người nông dân Cụ thể là nếu giá các loại phân bón trên thế giới tăng quá cao Chính phủ sẽ giảm thuế nhập khẩu phân bón xuống 0% để ổn định giá phân bón trong nước Qua đó chi phí sản xuất cùng giảm nếu thị trường đầu vào cho sản xuất nông nghiệp có những biến động quá lớn

+ Thông tư số 95/2004/TT-BTC [15] cũng quy định các tổ chức, cá nhân thuê đất đầu tư phát triển vùng nguyên liệu rau quả được miễn, giảm thuế sử dụng đất nông nghiệp theo quy định tại Thông tư số 112/2003/TT-BTC ngày 19/11/2003 hướng dẫn việc miễn, giảm thuế sử dụng đất nông nghiệp từ năm 2003 đến năm 2010 theo Nghị định số 129/2003/NĐ-Chính phủ ngày 3/11/2003 của Chính phủ

- Chính sách phát triển khoa học, chuyển giao công nghệ sản xuất mới Nhận thức rõ vai trò của khoa học công nghệ, Chính phủ đã chủ trương: tăng cường, nghiên cứu, áp dụng những thành quả mới nhất của khoa học công nghệ; nâng cao dân trí, đào tạo bồi dưỡng nhân lực tại chỗ, cung cấp kịp thời các tri thức khoa học và công nghệ hiện đại, các quy trình sản xuất tiên tiến, các thông tin về thị trường tiêu thụ; cơ cấu lại sản xuất nông nghiệp, phát triển ngành nghề ở nông thôn; tạo lập, phát triển thị trường và xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội nông thôn; hoàn thiện quan hệ sản xuất, đổi mới

tổ chức quản lý, tạo nhiều việc làm, tăng thu nhập, tích luỹ cho nông dân [15]

Trang 27

+ Quyết định số 09/2003/QĐ-TTg đã đưa ra nhiều chính sách về hỗ trợ phát triển công nghệ về giống, chăm sóc bảo vệ cây trồng vật nuôi, bảo quản, chế biến…, theo đó:

Về giống, đảm bảo trên 70% giống được dùng trong sản xuất là giống

tiến bộ kỹ thuật Phần lớn giống tốt phải được sản xuất trong nước Khuyến khích việc nghiên cứu lai tạo và ứng dụng giống ưu thế lai Đầu tư đảm bảo yêu cầu xây dựng cơ sở vật chất cho công tác nghiên cứu tạo giống mới và sản xuất giống gốc Giành đủ kinh phí cần thiết để nhập khẩu nguồn gien và giống tiến bộ kỹ thuật phục vụ công tác nghiên cứu, lai tạo giống mới và để nhân nhanh giống tốt phục vụ sản xuất đại trà

Mở rộng từng bước việc áp dụng kỹ thuật di truyền trong công tác tạo giống cây trồng, vật nuôi có hiệu quả kinh tế cao, song phải đảm bảo tính đa dạng sinh học và bảo vệ môi trường

Tuy nhiên, giống hiện nay vẫn là khâu yếu nhất, chưa có đủ các loại giống tốt và giá rẻ, đảm bảo chất lượng để cung cấp cho người sản xuất, việc kiểm tra chất lượng giống còn nhiều yếu kém đã tác động xấu đến năng suất và chất lượng

Về chăm sóc và bảo vệ cây trồng, vật nuôi

Đẩy mạnh việc nghiên cứu và áp dụng công nghệ sinh học trong chăm sóc và bảo vệ cây trồng, vật nuôi, trong đó cần đặc biệt quan tâm phát triển các loại phân bón và thuốc bảo vệ thực vật sinh học, các loại hình công nghệ phục vụ sản xuất các sản phẩm nông nghiệp sạch

Đẩy mạnh nghiên cứu và áp dụng các biện pháp tổng hợp, có hiệu quả

về phòng trừ sâu bệnh, dịch bệnh gây hại nguy hiểm đối với chăn nuôi và nuôi trồng thuỷ sản

Về bảo quản, chế biến

Nghiên cứu và áp dụng công nghệ hiện đại để bảo quản, sơ chế, chế biến nông sản nhằm giảm được tổn thất sau thu hoạch, nâng cao giá trị hàng hoá, đảm bảo tiêu chuẩn chất lượng quốc tế và đa dạng hoá các sản phẩm

Trang 28

phục vụ tiêu dùng nội địa và xuất khẩu Trước mắt phải đẩy nhanh quá trình

đổi mới công nghệ đối với các cơ sở sản xuất hiện có và sử dụng công nghệ mới tiên tiến đối với các cơ sở sản xuất xây dựng mới, phù hợp nhu cầu thị hiếu của từng thị trường xuất khẩu hàng hoá

+ Ngày 3/11/2003 Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và PTNT đã ra quyết định thành lập trung tâm khuyến nông quốc gia Trung tâm Khuyến nông quốc gia hiện nay là đầu mối cho các hoạt động khuyến nông với kinh phí năm 2004 lên đến 90 tỷ đồng Trong lĩnh vực sản xuất và xuất khẩu cây vụ đông, chính sách khuyến nông có tác dụng tạo giống mới có năng suất cao, chất lượng thích ứng với nhu cầu thị trường Nghiên cứu và hướng dẫn áp dụng các biện pháp sản xuất có hiệu quả cho người dân như: chọn giống, xử lý đất, phòng trừ sâu bệnh tổng hợp… để nâng cao chất lượng sản phẩm vụ đông Mặc dù vậy, hoạt động khuyến nông còn nhiều hạn chế do chưa được triển khai trên diện rộng, chậm triển khai tới các vùng sản xuất hàng hoá hoặc triển khai với hiệu quả chưa cao

+ Thủ tướng Chính phủ đã ra quyết định số 80/2002/QĐ-TTg ngày 24/6/2002 về chính sách khuyến khích tiêu thụ nông sản hàng hoá thông qua hợp đồng, theo đó Nhà nước khuyến khích các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế ký kết hợp đồng tiêu thụ nông sản hàng hoá với người sản xuất, hợp tác xã, hộ nông dân, trang trại, đại diện hộ nông dân nhằm gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ nông sản hàng hoá để phát triển sản xuất ổn định và bền vững Hợp đồng sau khi đã ký kết là cơ sở pháp lý để gắn trách nhiệm và nghĩa vụ của các bên, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp giữa người sản xuất nguyên liệu và các doanh nghiệp xuất, kinh doanh, chế biến và xuất khẩu theo các quy định của hợp đồng

+ Ngày 14/1/2003, Chính phủ đã ban hành Nghị định số

02/2003/NĐ-CP về phát triển và quản lý chợ, đây là một trong những quyết định quan trọng liên quan đến phát triển thị trường

Trang 29

2.2 Cơ sở thực tiễn

2.2.1 Thực trạng phát triển sản xuất cây vụ đông ở Việt Nam

* Giai đoạn trước đổi mới

Vụ đông nước ta phát triển từ rất lâu, nhưng từ thập kỷ 60, nhất là từ thập kỷ 70 trở lại đây, do tác động tiến bộ KHKT làm thay đổi cơ cấu mùa vụ nên các cây trồng vụ đông mới được phát triển mạnh trở thành sản phẩm hàng hoá Sản xuất cây vụ đông đã đem lại nhiều sản phẩm trao đổi giữa các vùng trong nước và trên thế giới Năm 1975 diện tích cây vụ đông đạt 122.985 ha,

đến năm 1979 đạt 253.710 ha, tăng 2,06 lần so với năm 1975 Trong đó, nếu

so sánh các cây năm 1978 với năm 1975 thì cây khoai tây (103.980 ha) tăng hơn 4,11 lần và cây khoai lang (83.014 ha) tăng 1,96 lần, ngô (21.076 ha) tăng 0,6 lần Rau đậu (43.720ha) tăng 1,37 lần Trong vùng đồng bằng thì cơ cấu diện tích khoai tây chiếm 69,2% (83.469 ha) Cây khoai lang chiếm 13% (16.946 ha) Cây ngô chiếm 3,6%, rau đậu chiếm 13,8% và cây khác chiếm

0,4% Như vậy cây khoai tây vụ đông thời kỳ này chiếm độc tôn, đã cung cấp sản phẩm cho nhu cầu trong nước và xuất khẩu sang thị trường Đông Âu [11]

Trong tổng diện tích cây vụ đông cả nước năm 1979 thì vùng Đồng

* Giai đoạn sau đổi mới

Trải qua hơn 20 năm sản xuất vụ đông đã phát triển mạnh và rộng khắp

ở các vùng, tính đến vụ đông năm 1999, diện tích các tỉnh phía bắc đạt

452.461 ha (tăng 187,7% so với vụ đông năm 1979) ĐBSH vẫn là vùng có

diện tích lớn nhất: 205.597ha chiếm 45,4%, sau đó đến khu 4 cũ chiếm

Trang 30

24,3%, trung du chiếm 21,6% và miền núi chiếm 8,1% Thời kỳ này cây ngô

là cây chủ lực ở các tỉnh phía bắc, chiếm 36,62%, năng suất bình quân đạt 29,5 tạ/ha, tiềm năng về năng suất có thể cao hơn nếu thâm canh cao hơn [10] Vì vậy, cây ngô còn là cây lấp vụ rất tốt khi vụ mùa bị thiên tai không còn khả năng cấy tái giá Có thể nói đưa cây ngô lai vào kết hợp với các yếu tố kỹ thuật đã làm thay đổi cả nếp nghĩ, tập quán canh tác của nông dân miền bắc, năm 1998 tỷ lệ ngô lai là 77%, năng suất đạt tới 36,4 tạ/ha, cao hơn ngô thường là 6,6 tạ/ha [11]

Thời kỳ này, cây khoai lang là cây có diện tích lớn sau cây ngô (chiếm 26,02% tổng diện tích cây vụ đông cả nước) Đã có năm diện tích khoai lang

vụ đông đạt trên 190 nghìn ha (1992), nhưng mấy năm gần đây diện tích

khoai lang giảm mạnh do giá trị sản xuất thấp (năm 1999 còn 125 nghìn ha, năm 2004 còn 86 nghìn ha) Nhìn chung khoai lang là cây dễ trồng, đầu tư

thâm canh không lớn, hệ số sử dụng sản phẩm cao, là nguồn cung cấp thức ăn quan trọng cho gia súc [11]

Rau đậu là cây vụ đông có vị trí quan trọng ở đồng bằng và trung du bắc bộ nhất là vào những năm úng lụt mất mùa Diện tích rau đậu chiếm 26,02% tổng diện tích cây vụ đông cả nước và hàng năm tăng khoảng 65 –

100 nghìn ha, khối lượng sản phẩm đạt trên dưới 1 triệu tấn [11] Nếu được tổ chức tốt khâu tiêu thụ từ thu gom, lưu thông và chế biến, xuất khẩu thì chắc chắn rau đậu sẽ là một trong những cây trồng có triển vọng cho thu nhập cao nhất trong vụ đông

Đầu những năm 1980 đã có thời kỳ cây khoai tây phát triển mạnh, diện tích lên tới 11 – 12 vạn ha/năm Nhưng đến vụ đông năm 2000 diện tích khoai tây giảm chỉ còn 3 nghìn ha [11] Nguyên nhân chính do thị trường tiêu thụ khoai tây trong nước có hạn, việc xuất khẩu khoai tây phức tạp, chi phí quá tốn kém, hiệu quả kinh tế lại thấp Về năng suất cũng không có sự thay đổi lớn, ổn định trong khoảng 10 tấn/ha Tuy nhiên, nhu cầu sử dụng khoai tây

Trang 31

trong bữa ăn ở nước ta đang tăng dần, nhất là ở thành phố và khu công nghiệp tập trung Đồng thời, nhờ tiến bộ kỹ thuật mới về khoai tây hạt lai đã làm thử nghiệm thành công ở Thái Bình, Hà Nam, năng suất tăng gấp 1,5 – 2 lần, tạo

ra những khả năng mới về thâm canh nâng cao năng suất, tăng sản lượng khoai tây Đó là những cơ sở có thể từng bước khôi phục vụ trí cây khoai tây trong sản xuất vụ đông ở nước ta

Đậu tương là cây có giá trị về mặt cải tạo đất và tăng thu nhập cho nông dân Tuy nhiên khung thời vụ của cây đậu tương đông quá hẹp, lại chịu ảnh hưởng của mưa đầu vụ và hạn cuối vụ nên việc mở rộng diện tích gặp khó khăn Diện tích đậu tương đông năm 1995 đạt 17 nghìn ha, năm 1999-2000 diện tích đậu tương tăng khá nhanh lên tới 20.352 ha, sản lượng đạt 23.140 tấn nhưng vẫn chưa đáp ứng đủ cho thị trường hiện nay [11] Vấn đề đặt ra là tìm cách mở rộng diện tích, tìm giống cho năng suất cao, chất lượng tốt phù hợp với thị hiếu của khách hàng để đáp ứng đủ cho thị trường đang khan hiếm này

2.2.2 Kinh nghiệm sản xuất vụ đông của một số địa phương

• Tỉnh Bắc Giang

Bắc Giang là vùng bán sơn địa nên có rất nhiều điều kiện thuận lợi cho sản xuất cây vụ đông như địa hình dốc, dễ thoát nước, có hệ thống sông ngòi,

ao hồ phong phú, thuận lợi về điều kiện khí hậu, thời tiết Do đó cây vụ đông

được đưa vào sản xuất ở Bắc Giang từ rất lâu Nhưng sản xuất cây vụ đông ở tỉnh Bắc Giang những năm trước đổi mới vẫn kém phát triển, sản xuất manh mún và theo phương thức quảng canh, do đó năng suất thấp Cây vụ đông

được trồng chủ yếu là khoai lang, cây thuốc lá và một số loại rau Năng suất các cây trồng vẫn còn thấp như khoai lang đạt 3-4 tạ/sào năm 1981

Những năm gần đây, Bắc Giang đã đưa các giống cây trồng có khả năng thích ứng cao và có giá trị kinh tế vào sản xuất như: Lạc đông, đậu đỗ, rau sạch Về diện tích, năng suất cây vụ đông đều liên tục tăng Năm 1995 diện tích vụ đông là 19.400 ha, đến năm 2004 diện tích là 38.600 ha Về năng

Trang 32

suất: lạc năm 1998 là 9,5 tạ/ha, đến năm 2004 đạt 14,3 tạ/ha; ngô năm 1990

đạt 19 tạ/ha, đến 2004 đạt 28 tạ/ha (Niên giám thống kê tỉnh Bắc Giang) Như

vậy, Bắc Giang không chỉ chú trọng phát triển vụ đông về diện tích mà đã chuyển sang phát triển những cây rau cao cấp đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng

• Thành phố Hà Nội

Những năm gần đây diện tích các loại cây vụ đông biến động không

đều do quá trình đô thị hoá đã thu hẹp một phần diện tích đất nông nghiệp Tuy nhiên, năng suất và sản lượng cây vụ đông nói chung lại có xu hướng tăng dần Năm 2000 năng suất đạt 170 tạ/ha, đến năm 2003 đạt 185 tạ/ha Năng suất không ngừng tăng lên là do Hà Nội có lợi thế tiếp cận nhanh với các tiến

bộ KHKT Bên cạnh đó, ngày càng có nhiều các công trình KH nghiên cứu nhằm giúp cho nông dân nâng cao năng suất và sản lượng cây vụ đông [25]

Để đáp ứng nhu cầu về thực phẩm sạch và an toàn của người dân thủ đô ngày càng cao, Hà Nội đã chú trọng đầu tư mạnh vào lĩnh vực này Sản xuất rau an toàn được tiến hành theo một số mô hình: sản xuất tập trung, hoặc các

hộ sản xuất chịu sự quản lý của các HTX theo các quy trình kỹ thuật đã được hướng dẫn qua các đợt tập huấn kỹ thuật tại địa phương Theo thống kê của Sở Nông nghiệp Hà Nội năm 2003 toàn thành phố Hà Nội có 816 ha rau an toàn tập trung chủ yếu ở các huyện Gia Lâm, Đông Anh, Thanh Trì, Từ Liêm [23]

Đa số các cây vụ đông đều cho giá trị cao Giá trị thu được của cải bắp

là 37,27 triệu đồng/ha, của cà chua là 75,17 triệu đồng/ha, giá trị thu được của cải củ là 26,1 triệu đồng/ha Chính vì thế mà ngày nay cây vụ đông đã chiếm một tỷ lệ đáng kể trong cơ cấu cây trồng của nhân dân

ở Hà Nội, chương trình sản xuất rau hữu cơ đã được đưa vào trồng thử nghiệm ở một số xã thuộc huyện Từ Liêm Tuy năng suất thấp do không sử

Trang 33

dụng phân bón hoá học, mẫu mã không đẹp, giá cả sản phẩm lại cao hơn rau thường 1,5 đến 2 lần nhưng chúng tôi thấy đây là loại hình sản xuất có thể phát triển mạnh trong tương lai

• Huyện Gia Lộc - tỉnh Hải Dương

Gia Lộc là huyện có nhiều điều kiện thuận lợi cho phát triển sản xuất cây rau màu, đặc biệt là cây vụ đông

Việc phát triển sản xuất cây vụ đông của huyện không chỉ có ý nghĩa tăng vụ, mà đã trở thành sản xuất hàng hoá Cây vụ đông đã được trồng phổ biến ở tất cả các xã trong huyện Trong những năm gần đây, tổng diện tích cây

vụ đông hàng năm đều đạt trên 60% diện tích đất nông nghiệp [7]

Các chủng loại rau được sản xuất rất đa dạng, phong phú Tuy nhiên, do

đặc tính của cây rau và thói quen của người dân nên phổ biến vẫn là một số loại rau quen thuộc như bắp cải, su hào, cải xanh, súp lơ… và gần đây, cây dưa hấu – một loại cây được coi là có giá trị kinh tế cao cũng đã được đưa vào sản xuất trên địa bàn huyện

Bên cạnh việc chú ý phát triển sản xuất cây rau thường truyền thống, những năm gần đây, cùng với xu hướng phát triển chung của xã hội, thực hiện chủ trương phát triển vùng sản xuất rau an toàn và chất lượng cao của Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh, huyện Gia Lộc cũng đã và đang tiến hành từng bước mở rộng diện tích trồng rau an toàn Năm 2003, tổng diện tích trồng rau an toàn của huyện là 86 ha (chủ yếu là bắp cải chiếm 71,44%); năng suất đạt 2.620 kg/sào; giá trị sản xuất đạt 2.772 nghìn đồng; thu nhập hỗn hợp là 2.340 nghìn

đồng, cao rất nhiều so với thu nhập của cây lúa Đây là việc làm mang tính quy mô chiến lược, nó vừa có ý nghĩa về mặt xã hội lại vừa có ý nghĩa kinh tế cao, góp phần tăng thêm thu nhập cho nông dân, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng [8]

Trang 34

2.2.3 Lược khảo các công trình nghiên cứu có liên quan

+ Ngay từ năm 1960, Đào Thế Tuấn đã nghiên cứu đưa cây lúa xuân giống ngắn ngày và tập đoàn cây vụ đông đã tạo nên sự chuyển biến rõ nét trong SXNN vùng ĐBSH Cũng trong thời gian này có nhiều tác giả như Bùi Huy Đáp 1974, Ngô Thế Dân 1982, Vũ Tuyên Hoàng 1987 đã nghiên cứu và

đề cập đến vấn đề luân canh cây trồng, bố trí cây trồng để tăng vụ Công trình nghiên cứu của Đào Thế Tuấn và chương trình tổng thể vùng ĐBSH VIE/89/032 đã mô phỏng và đề xuất dự án phát triển đa dạng hoá vùng ĐBSH, trong đó nội dung quan trọng nhất là phát triển hệ thống cây trồng để nâng cao hiệu quả kinh tế sử dụng đất nông nghiệp từ năm 1993 đến năm 2010

+ Một số suy nghĩ về phát triển cây vụ đông theo hướng sản xuất hàng hoá trong nông hộ ở vùng ĐBSH và bắc Trung bộ Tập san kinh tế nông nghiệp và PTNT tháng 12/1995, số 4, NXB Nông nghiệp của Hoàng Văn Khẩn và Đinh Văn

Đãn Các tác giả đã nêu lên vị trí của SXHH cây vụ đông ở ĐBSH và bắc Trung bộ,

đồng thời các tác giả cũng nêu những khó khăn và vướng mắc cần giải quyết ở tầm

vĩ mô và vi mô nhằm phát triển SXHH cây vụ đông đạt kết quả cao ở cả hai vùng

+ Phát triển cây vụ đông theo hướng sản xuất hàng hoá ở vùng Đồng bằng sông Hồng Luận án tiến sỹ kinh tế, năm 2002 của Đinh Văn Đãn Tác giả chọn 3 tiểu vùng đại diện cho 3 vùng sinh thái khác nhau ở ĐBSH để nghiên cứu Tác giả đã hệ thống hoá cơ sở lý luận về phát triển sản xuất vụ

đông vùng ĐBSH; đánh giá hiệu quả và kết quả sản xuất một số cây trồng vụ

đông; khẳng định phát triển sản xuất vụ đông là cần thiết; phân tích những nhân tố ảnh hưởng tới kết quả và hiệu quả sản xuất vụ đông và đề ra các giải pháp Theo nhận định của chúng tôi, đây là đề tài lớn nhất nghiên cứu về phát triển sản xuất cây vụ đông từ trước đến nay

+ Đánh giá hiệu quả kinh tế một số cây rau vụ đông chủ yếu tại huyện Gia Lộc – tỉnh Hải Dương Luận văn thạc sỹ kinh tế, năm 2004 của Nguyễn Văn Cường Đề tài đã chỉ ra cây rau vụ đông thực sự mang lại một nguồn thu

Trang 35

nhập lớn cho hộ sản xuất (TNHH bình quân 1 sào dưa hấu đạt 2.211.000

đồng) Cơ cấu mùa vụ có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả kinh tế của cây rau

vụ đông Khả năng về tài chính của hộ trồng rau quyết định nhiều đến định hướng sản xuất và HQKT của cây rau và tác giả đã khẳng định huyện Gia Lộc hoàn toàn có khả năng mở rộng diện tích trồng rau

+ Hoàn thiện kỹ thuật trồng, chăm sóc và bảo quản hành Đề tài khoa học, năm 2004 của Trung tâm nghiên cứu và chuyển giao KHKT - Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Hải Dương Đề tài đã nghiên cứu và đưa ra các định mức phân bón thích hợp cho cây hành ở từng giai đoạn sinh trưởng, kỹ thuật chăm sóc và bảo quản hành

Trang 36

3 đặc điểm địa bàn nghiên cứu và

phương pháp nghiên cứu

Những đặc điểm kinh tế – tự nhiên – xã hội có ảnh hưởng lớn đến quá trình phát triển kinh tế, xã hội Vì vậy việc nghiên cứu những đặc điểm của mỗi địa phương có ý nghĩa rất quan trọng trong các chương trình phát triển kinh tế của mỗi địa phương, từ đó người ta có thể tìm thấy những thuận lợi và khó khăn chung để có những hướng đi thích hợp Dưới đây là một số đặc điểm

tự nhiên – kinh tế – xã hội của huyện Nam Sách có liên quan đến quá trình phát triển kinh tế nói chung và phát triển sản xuất cây vụ đông nói riêng

3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu

3.1.1 Điều kiện tự nhiên

Huyện Nam Sách tiếp giáp và là cửa ngõ phía Đông Bắc của thành phố Hải Dương, phía đông giáp huyện Kinh Môn, phía tây giáp huyện Lương Tài tỉnh Bắc Ninh, bắc giáp huyện Chí Linh, đông nam giáp huyện Thanh Hà Nam Sách cách thủ đô Hà Nội 60km, cách thành phố Hải Phòng 39km và cách thành phố Hạ Long 90km Trên địa bàn huyện có các trục đường giao thông quan trọng như quốc lộ 5A, quốc lộ 183, tuyến đường sắt Hà Nội – Hải Phòng và các tuyến đường thuỷ Trong bối cảnh nền kinh tế mở, đây là lợi thế quan trọng trong hoạt động trao đổi hàng hoá, công nghệ, lao động kỹ thuật với các đô thị lớn

Là huyện nằm giữa vùng Đồng bằng châu thổ sông Hồng, được bao bọc bởi 3 con sông lớn: Thái Bình, Kinh Thầy, Lai Vu Do vậy, địa hình thổ nhưỡng của huyện mang đặc tính điển hình của đất phù sa, tầng đất canh tác dày thuận lợi cho thâm canh lúa nước, cây ăn quả và các loại rau màu Diện tích sông ngòi tự nhiên và trên 50km đê bao quanh là điều kiện thuận lợi cho phát triển chăn nuôi gia súc lớn và nuôi trồng thuỷ sản

Trang 37

Bên cạnh đó, Nam Sách còn giành diện tích đất đáng kể cho phát triển công nghiệp và xây dựng 2 khu công nghiệp tập trung Vì thế Nam Sách đã trở thành địa chỉ hấp dẫn cho các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài, là một trong những địa bàn sôi động trong xây dựng hạ tầng kỹ thuật công nghiệp hiện nay Những năm qua, thực hiện định hướng phát triển kinh tế – xã hội của Tỉnh uỷ, Uỷ ban nhân dân tỉnh Hải Dương, huyện Nam Sách là một trong

6 vùng kinh tế công nghiệp của tỉnh Nếu nông nghiệp được xác định là ngành kinh tế chủ đạo, thì công nghiệp, xây dựng và tiểu thủ công nghiệp là những ngành kinh tế động lực góp phần đẩy nhanh quá trình phát triển nông nghiệp theo hướng CNH [6]

Nam Sách nằm trong vùng khí hậu gió mùa nóng ẩm miền Bắc, có 2 mùa rõ rệt: Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 và mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 Nhiệt độ trung bình trong năm là 23,70C Độ ẩm không khí trung bình từ 75 – 85% và có tính ổn định tương đối giữa các tháng trong năm Số giờ nắng trung bình trong năm là 1.600 – 2.000 giờ Lượng mưa trung bình hàng năm là 1.500 – 1.600 mm, tập trung vào tháng 6, 7, 8

Với điều kiện tự nhiên như vậy rất thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, nhất là cây trồng vụ đông

3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

bộ khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển, đất đai được khai thác, sử dụng có hiệu quả hơn thể hiện ở diện tích đất gieo trồng ngày một cao (16.035ha) đưa

hệ số sử dụng ruộng đất lên 2,64 lần cao hơn mức bình quân chung của tỉnh

Trang 38

Bảng 2: Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp

huyện Nam Sách năm 2004 Diễn giải Diện tích (ha) Cơ cấu (%)

Tổng diện tích đất nông nghiệp 8.802,0 100,00

- Diện tích đất chuyên dùng tăng liên tục từ năm 2000 đến nay, chiếm 9,62% tổng diện tích đất tự nhiên do xây dựng các công trình thuỷ lợi, giao thông và dành diện tích cho 2 khu công nghiệp mới của huyện (phần diện tích này lấy từ đất nông nghiệp và đất chưa sử dụng)

- Diện tích đất thổ cư hầu như không biến động trong những năm gần

đây: 942,9ha, chiếm 8,57% diện tích đất tự nhiên

- Diện tích đất chưa sử dụng giảm xuống còn 203,1ha, chiếm cơ cấu rất nhỏ (1,85%) trong tổng diện tích đất tự nhiên

Về diện tích đất sản xuất vụ đông

Mặc dù những năm vừa qua diện tích cây vụ đông ở Nam Sách có xu hướng tăng nhưng hiện vẫn còn 35,76% diện tích có khả năng trồng cây vụ

Trang 39

đông chưa được đưa vào sử dụng Theo chiến lược phát triển kinh tế – xã hội huyện Nam Sách đến năm 2010, ngoài diện tích đất canh tác chuyển sang đào

ao lập vườn và các mục đích phi nông nghiệp thì diện tích đất trồng lúa của huyện sẽ ổn định ở con số khoảng 6.200 ha, trong đó có 80,6% diện tích có khả năng phát triển vụ đông Như vậy với hiện trạng sử dụng đất sản xuất vụ

đông như hiện nay huyện Nam Sách vẫn còn khả năng tăng thêm 1.800 ha cây

vụ đông nữa Đây là một tiềm năng to lớn mà huyện Nam Sách cần khai thác tối đa để nâng cao thu nhập trên mỗi ha canh tác

Nam Sách đã hoàn thành chương trình dồn ô đổi thửa nên đã từng bước

được xoá bỏ tình trạng đất canh tác manh mún, mỗi hộ tối đa chỉ còn 5 thửa so với 11 thửa trước đây [4]

3.1.2.2 Dân số, lao động và nguồn nhân lực của huyện Nam Sách

Dân số của huyện năm 2004 là 139.184 người, trong đó nữ chiếm 52,3%, mật độ dân số là 1.045 người/km2, tỷ lệ tăng dân số bình quân của huyện năm 2004 là 7,8 0/00

Năm 2004, số người trong độ tuổi lao động là 76.328 người, chiếm 54,87% tổng số dân Lao động nông nghiệp chiếm 85% tổng số lao động, giảm dần trong giai đoạn từ 1998 đến nay do chuyển sang làm dịch vụ và công nghiệp Huyện Nam Sách mỗi năm có khoảng 2000 người hết độ tuổi lao

động và khoảng 3000 người bước vào độ tuổi lao động Như vậy mỗi năm huyện có thêm khoảng 1000 lao động Thế nhưng tỷ lệ lao động không qua

đào tạo rất lớn (khoảng 90%), năng suất lao động thấp, tỷ lệ thiếu việc làm thời vụ ở mức cao (khoảng 20%) Do vậy, phát triển cây vụ đông là một trong những hướng đi thích hợp để giải quyết số lao động dôi dư này

3.1.2.3 Tình hình phát triển kinh tế của huyện giai đoạn 2000 - 2004

Số liệu bảng 3 cho ta thấy những năm qua, nền kinh tế của huyện tiếp tục

được phát triển, đạt giá trị sản xuất năm sau cao hơn năm trước, tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh Năm 2001 giá trị sản xuất là 522 tỷ đồng, tốc độ tăng trưởng kinh tế

Trang 40

8,1% Trong đó giá trị sản xuất nông nghiệp là 281 tỷ đồng Đến năm 2004, giá trị sản xuất đạt 714,5 tỷ đồng, trong đó giá trị sản xuất nông nghiệp đạt 327 tỷ đồng Cơ cấu kinh tế trên địa bàn năm 2004: NN – CN, XD – DV tương ứng là 40,3% - 26,8% - 32,9%

Bảng 3: Tốc độ tăng trưởng kinh tế của huyện giai đoạn 2001-2004

3.1.2.4 Tình hình sản xuất nông nghiệp của huyện

Bảng 4: Cơ cấu giá trị sản xuất ngành nông nghiệp

Ngày đăng: 28/11/2013, 09:58

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 5: Số l−ợng mẫu của các điểm điều tra - Luận văn thực trạng và một số giải pháp chủ yếu phát triển cây vụ đông huyện nam sách tỉnh hải dương
Bảng 5 Số l−ợng mẫu của các điểm điều tra (Trang 45)
Bảng 6: Diện tích và cơ cấu diện tích cây vụ  đông huyện Nam Sách - Luận văn thực trạng và một số giải pháp chủ yếu phát triển cây vụ đông huyện nam sách tỉnh hải dương
Bảng 6 Diện tích và cơ cấu diện tích cây vụ đông huyện Nam Sách (Trang 49)
Bảng 9: Điều kiện sản xuất của các nhóm hộ năm 2004 - Luận văn thực trạng và một số giải pháp chủ yếu phát triển cây vụ đông huyện nam sách tỉnh hải dương
Bảng 9 Điều kiện sản xuất của các nhóm hộ năm 2004 (Trang 53)
Bảng 10: Chi phí sản xuất cây hành năm 2004 - Luận văn thực trạng và một số giải pháp chủ yếu phát triển cây vụ đông huyện nam sách tỉnh hải dương
Bảng 10 Chi phí sản xuất cây hành năm 2004 (Trang 55)
Bảng 11: Chi phí sản xuất cây cà chua năm 2004 - Luận văn thực trạng và một số giải pháp chủ yếu phát triển cây vụ đông huyện nam sách tỉnh hải dương
Bảng 11 Chi phí sản xuất cây cà chua năm 2004 (Trang 56)
Bảng 12: Chi phí sản xuất cây bí xanh năm 2004 - Luận văn thực trạng và một số giải pháp chủ yếu phát triển cây vụ đông huyện nam sách tỉnh hải dương
Bảng 12 Chi phí sản xuất cây bí xanh năm 2004 (Trang 57)
Bảng 13: So sánh mức đầu t− cho cây vụ đông huyện Nam Sách - Luận văn thực trạng và một số giải pháp chủ yếu phát triển cây vụ đông huyện nam sách tỉnh hải dương
Bảng 13 So sánh mức đầu t− cho cây vụ đông huyện Nam Sách (Trang 58)
Bảng 14: Kết quả và hiệu quả kinh tế của cây hành  năm 2004 - Luận văn thực trạng và một số giải pháp chủ yếu phát triển cây vụ đông huyện nam sách tỉnh hải dương
Bảng 14 Kết quả và hiệu quả kinh tế của cây hành năm 2004 (Trang 60)
Bảng 15: Kết quả và hiệu quả kinh tế cây cà chua năm 2004 - Luận văn thực trạng và một số giải pháp chủ yếu phát triển cây vụ đông huyện nam sách tỉnh hải dương
Bảng 15 Kết quả và hiệu quả kinh tế cây cà chua năm 2004 (Trang 61)
Bảng 16: Kết quả và hiệu quả kinh tế của cây bí xanh năm 2004 - Luận văn thực trạng và một số giải pháp chủ yếu phát triển cây vụ đông huyện nam sách tỉnh hải dương
Bảng 16 Kết quả và hiệu quả kinh tế của cây bí xanh năm 2004 (Trang 62)
Bảng 19: Các nhân tố ảnh hưởng đến KQ và HQKT cây hành - Luận văn thực trạng và một số giải pháp chủ yếu phát triển cây vụ đông huyện nam sách tỉnh hải dương
Bảng 19 Các nhân tố ảnh hưởng đến KQ và HQKT cây hành (Trang 67)
Bảng 20: Các nhân tố ảnh hưởng đến KQ và HQKT cây bí xanh - Luận văn thực trạng và một số giải pháp chủ yếu phát triển cây vụ đông huyện nam sách tỉnh hải dương
Bảng 20 Các nhân tố ảnh hưởng đến KQ và HQKT cây bí xanh (Trang 68)
Sơ đồ 1: Kênh tiêu thụ sản phẩm hành củ - Luận văn thực trạng và một số giải pháp chủ yếu phát triển cây vụ đông huyện nam sách tỉnh hải dương
Sơ đồ 1 Kênh tiêu thụ sản phẩm hành củ (Trang 74)
Bảng 22: Tỷ lệ sản phẩm vụ đông theo các hình thức tiêu thụ - Luận văn thực trạng và một số giải pháp chủ yếu phát triển cây vụ đông huyện nam sách tỉnh hải dương
Bảng 22 Tỷ lệ sản phẩm vụ đông theo các hình thức tiêu thụ (Trang 74)
Bảng 24:  Chênh lệch giữa giá bán buôn thấp nhất và cao nhất - Luận văn thực trạng và một số giải pháp chủ yếu phát triển cây vụ đông huyện nam sách tỉnh hải dương
Bảng 24 Chênh lệch giữa giá bán buôn thấp nhất và cao nhất (Trang 76)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w