luận văn
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo Trường đại học nông nghiệp 1
Phan thị thu hà
Nghiên cứu thực trạng tiêu dùng và nhu cầu về vải quả tươi của thị trường hà nội
Luận văn thạc sỹ kinh tế Chuyên nhành: kinh tế nông nghiệp
Mã ngành: 60.31.10
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Đỗ kim chung
Hà nội - 2006
Trang 2Lời cam đoan Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan rằng: số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa hề bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày tháng năm 2006 Người thực hiện luận văn
Phan Thị Thu Hà
Trang 3Lời cảm ơn
Lời cảm ơn
Trong thời gian học tập và thực hiện luận văn tốt nghiệp, tôi đã nhận được sự giúp đỡ vô cùng tận tình của cơ sở đào tạo, cơ quan công tác, gia đình và bạn bè
Trước hết tôi chân thành cảm ơn tới Trường Đại học nông nghiệp
1, khoa đào tạo Sau đại học, Khoa Kinh tế và PTNT, Bộ môn Phát triển nông thôn đã tận tình giúp đỡ trong suốt quá trình đào tạo
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Đỗ Kim Chung, người thầy hướng dẫn hết lòng tận tụy vì học trò
Tôi xin chân thành biết ơn Lãnh đạo và các đồng nghiệp tại Viện Chính sách và chiến lược phát triển nông nghiệp, nông thôn đã tạo điều kiện tốt cho tôi hoàn thành khóa học này
Cuối cùng tôi xin cảm ơn gia đình và bạn bè đã động viên và cổ
vũ tôi trong suốt quá trình học tập
Hà Nội, ngày tháng năm 2006 Người thực hiện luận văn
Phan Thị Thu Hà
Trang 4Mục Lục
Trang
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh sách các từ viết tắt v
Danh sách tên các biểu vi
Danh sách tên các đồ thị vii
1 Mở Đầu……… 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài……… 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.3 Đối tượng, phạm vi và địa bàn nghiên cứu 2
2 cơ sở lý luận và thực tiễn về thị hiếu và cầu tiêu dùng vải quả tươi………… 4
2.1 Khái niệm………4
2.2 Đặc điểm của cầu về nông sản phẩm ……….6
2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến cầu………7
2.4 Độ co dAn của cầu về nông sản………10
2.5 Tình hình sản xuất và tiêu thụ vải quả ở Việt Nam……… 15
2.6 Kết quả nghiên cứu liên quan đến đề tài……… 30
3 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu……… 32
3.1 Đặc điểm chung của địa bàn nghiên cứu Hà Nội……… ….32
3.1.1 Điều kiện tự nhiên……… 32
3.1.2 Điều kiện kinh tế-x hội……… 34
3.1.3 Dân số và lao động……… 37
3.1.4 Đặc điểm của thị trường Hà Nội: 39
3.2 Phương pháp nghiên cứu 41
Trang 53.2.1 Chọn điểm nghiên cứu 41
3.2.2 Thu thập số liệu 42
3.2.3 Chỉ tiêu phân tích 45
3.2.4 Phương pháp phân tích số liệu 49
4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 50
4.1 Đặc điểm của hộ điều tra 50
4.1.1 Tình hình cơ bản về chủ hộ điều tra 50
4.1.2 Nhân khẩu, lao động của hộ điều tra 51
4.1.3 Thu nhập của hộ điều tra 52
4.1.4 Người tiêu dùng vải quả tươi 53
4.1.5 Người không tiêu dùng vải quả tươi 54
4.2 Tình hình tiêu dùng vải quả tươi của hộ điều tra 55
4.2.1 Tình hình tiêu dùng quả tươi của hộ 55
4.2.2 Mức tiêu dùng vải quả tươi bình quân hộ năm 2005 57
4.2.3 Mức tiêu dùng vải quả tươi bình quân khẩu 59
4.2.4 Giá mua vải quả tươi 60
4.2.5 Nơi mua vải tươi .62
4.2.6 Các nhân tố ảnh hưởng đến tiêu dùng vải quả tươi 64
4.3 Thị hiếu tiêu dùng vải quả tươi của hộ điều tra năm 2005 69
4.2.1 Về loại vải tươi khi mua 69
4.3.2 Về hình dạng, kích thước, mầu sắc, mùi vị của vải quả tươi 69
4.3.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến thị hiếu tiêu dùng vải quả tươi…… 71
4.4 Cầu về vải quả tươi ở thị trường Hà Nội……… 73
4.5 Những giải pháp phát triển vải quả tươi để đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng… 76
5 Kết luận và kiến nghị……… 81
Tài liệu tham khảo 84
Phụ lục 87
Trang 7Danh Sách Tên các biểu
một số năm của Việt Nam
22
trình độ văn hóa
50
thành và ngoại thành
52
dùng vải quả tươi và nhóm không tiêu dùng vải quả tươi
53
vào thời điểm đầu vụ, giữa vụ và cuối vụ
57
tươi khi mua
71
về tiêu dùng vải quả tươi ở Hà Nội
74
Trang 8Danh Sách Tên các đồ thị
2 Các đường cầu ứng với từng loại độ co dAn khác nhau 13
3 Diện tích gieo trồng vải quả tươi của Việt Nam 22
5 Cơ cấu các hình thức tiêu thụ vải quả tươi của nông dân 27
6 Kênh tiêu thụ vải quả trên địa bàn trung du miền núi phía
8 Tỷ lệ lượng vải quả tươi tiêu dùng bình quân hộ theo mùa vụ 60
9 Diễn biến giá vải quả tươi trong năm 2005 ở Hà Nội 61
10 Tỷ lệ địa điểm mua vải quả tươi của người tiêu dùng Hà Nội năm
Trang 91 mở đầu
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong nền kinh tế thị trường, hiệu quả sản xuất - kinh doanh nông sản hàng hoá cao hay thấp không những phụ thuộc vào hàng loạt tác động của các yếu tố về tự nhiên, công nghệ sản xuất và chế biến, tổ chức quản lý mà còn chịu sự tác động của các quy luật kinh tế thị trường và sự điều tiết chính sách của Nhà nước ở Việt Nam đA có nhiều công trình nghiên cứu làm sáng tỏ mục tiêu, nội dung, hình thức tổ chức, phương thức quản lý hoạt động sản xuất hàng hoá nông sản nhằm nâng cao thu nhập cho người nông dân thông qua các giải pháp nâng cao tính cạnh tranh cuả các nông sản hàng hoá và một số giải pháp phát triển thị trường nông sản nói chung Tuy nhiên, các công trình khoa học chủ yếu đề cập đến các sản phẩm hàng hoá chủ đạo: lúa gạo, cà phê, chè, tiêu, điều chưa có những nghiên cứu đi sâu phân tích nhu cầu tiêu dùng vải quả (cầu về vải) để có thể trả lời những câu hỏi đó là sản xuất giống vải gì? sản xuất như thế nào? sản xuất cho ai?
Cây vải đA khẳng định thế mạnh trong phát triển kinh tế ở một số vùng như Lục Ngạn, Thanh Hà… song sự tăng lên nhanh chóng về quy mô diện tích và khối lượng vải quả của cả nước đang làm nảy sinh những khó khăn trong tiêu thụ, lưu thông phân phối làm giảm hiệu quả sản xuất - kinh doanh vải quả Sự tăng lên cả về diện tích và sản lượng vải quả hiện nay đang là một bất lợi cho các hộ nông dân, đặc biệt là các hộ mới trồng vải trong mấy năm gần đây Nguyên nhân của tình trạng đó là do chúng ta không nắm chắc được nhu cầu và thị hiếu tiêu dùng của thị trường trong nước cũng như khả năng xuất khẩu ở mức độ nào (về quy mô số lượng, chất lượng và các lợi thế so sánh) để có thể điều chỉnh phần sản xuất một cách tương ứng Khi mức thu nhập tăng lên, thị trường trao đổi được mở rộng hàng hoá đa dạng hơn thì nhu cầu tiêu dùng hoa quả cũng sẽ thay đổi và phong phú hơn Hiện nay, một trong những vấn đề hết sức nhạy cảm và bức xúc của sản xuất nông nghiệp
Trang 10hàng hoá là vấn đề thị trường tiêu thụ sản phẩm hàng hoá Sản xuất nông nghiệp phải nhanh chóng chuyển dịch cơ cấu sản xuất để có những sản phẩm thực sự thích ứng với cơ chế thị trường theo nguyên tắc “sản xuất để bán ra thị trường thứ mà thị trường cần, chứ không phải bán ra thị trường những thứ mà mình sản xuất ra” có như vậy mới tiêu thụ nhanh và đạt hiệu quả kinh tế cao
Hà Nội là thị trường với sức mua lớn để từ đó tìm ra các nguyên nhân chủ yếu
ảnh hưởng đến sự phát triển của ngành hàng vải quả để có các giải pháp khắc phục Xuất phát từ thực tế đó với hy vọng đóng góp một phần làm sáng tỏ những câu hỏi trên, tôi chọn đề tài: "Nghiên cứu thực trạng tiêu dùng và cầu
về vải quả tươi của thị trường Hà Nội"
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu chung:
Nghiên cứu thực trạng tiêu dùng và cầu về vải quả tươi của thị trường
Hà Nội Trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp phát triển sản xuất và đẩy mạnh tiêu thụ vải quả ở thị trường này
Mục tiêu cụ thể:
- Hệ thống hoá được một số cơ sở lý luận về tiêu dùng và cầu về nông sản hàng hóa nói chung và vải quả nói riêng
- Đánh giá được thực trạng tiêu dùng, thị hiếu và cầu về vải quả tươi ở thị trường Hà Nội
- Đề xuất các giải pháp tiêu thụ vải quả tươi một cách có hiệu quả, để thúc
đẩy sản xuất vải tươi quả đáp ứng nhu cầu tiêu dùng ở thị trường Hà Nội 1.3 Đối tượng, phạm vi và địa bàn nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu:
Người tiêu dùng ở thị trường Hà Nội (bao gồm người tiêu dùng ở nội thành và ngoại thành)
Trang 111.3.2 Phạm vi nghiên cứu
a Phạm vi về nội dung nghiên cứu
- Phần nghiên cứu tổng quan làm rõ cơ sở lý luận về thị hiếu và cầu tiêu dùng nông sản, các yếu tố ảnh hưởng đến cầu tiêu dùng nông sản hàng hoá nói chung và vải quả nói riêng
- Phần nghiên cứu thực trạng: Đánh giá thực trạng tiêu dùng, thị hiếu và cầu
về vải quả tươi của người dân Hà Nội và các yếu tố ảnh hưởng Trong đó, phần cầu về vải quả tươi đề tài chỉ tập trung nghiên cứu cầu theo thu nhập
Do cây vải có tính mùa vụ, thời gian thu hoạch ngắn, giá vải thay đổi liên tục, bên cạnh đó do thời gian nghiên cứu ngắn, kinh phí hạn chế nên không
có điều kiện để nghiên cứu cầu theo giá, cầu của hàng hóa liên quan hay
độ co dAn chéo của cầu
- Phần nghiên cứu đề xuất: Đề tài xác định cơ sở khoa học cho việc đề xuất các giải pháp nhằm phát triển thị trường tiêu thụ vải quả tươi đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng ở thị trường Hà Nội
b Phạm vi nghiên cứu về không gian
Đề tài tập trung nghiên cứu không gian thành phố Hà Nội, trong đó chủ yếu nghiên cứu ở 4 quận nội thành là Hoàn Kiếm, Hai Bà Trưng, Thanh Xuân,
Ba Đình và 3 huyện ngoại thành là Gia Lâm, Từ Liêm, Thanh Trì
c Phạm vi nghiên cứu về thời gian:
Do vải quả tươi có tính mùa vụ, thời gian thu hoạch từ tháng 5 đến tháng 7 hàng năm, nên đề tài chỉ thu thập được số liệu của mùa vải năm 2005 phục vụ nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu từ tháng 5 năm 2005 đến tháng 8 năm 2006
Trang 122 cơ sở lý luận và thực tiễn về thị hiếu và cầu tiêu
dùng vải quả tươi
Khi xem xét thị hiếu tiêu dùng ở khía cạnh là ý thích và nguyện vọng của người tiêu dùng thì đối với một loại nông sản phẩm cụ thể và ở một mức giá nhất định, lượng cầu lại phụ thuộc một phần vào thị hiếu của người tiêu dùng với loại nông sản đó Thị hiếu tiêu dùng phụ thuộc vào khả năng tài chính hay mức thu nhập của người tiêu dùng [13]
Nếu giả định cho rằng các yếu tố về xA hội, phong tục tập quán và giá cả loại nông sản hàng hóa thay thế là ổn định để xem xét thị hiếu này ở các mức thu nhập khác nhau cho thấy thị hiếu tiêu dùng nông sản thay đổi khi mức thu nhập của xA hội tăng lên [13]
2.1.1 Cầu tiêu dùng
Nhu cầu (hay còn gọi là cầu) là một phạm trù dùng để mô phỏng hành
vi của người mua và người mua tiềm tàng đối với một mặt hàng nào đó [16]
Do vậy nhu cầu có thể là ước muốn của người tiêu dùng nói chung, là nhu cầu
tự nhiên hay nhu cầu có khả năng thanh toán
Cầu là số lượng hàng hóa hay dịch vụ mà người mua có khả năng và sẵn
Trang 13sàng mua ở các mức giá khác nhau trong một thời gian nhất định [22] Như vậy khi nói đến cầu chúng ta phải hiểu hai yếu tố cơ bản là khả năng mua và ý muốn sẵn sàng mua hàng hóa hoặc dịch vụ cụ thể đó
Cầu về nông sản là số lượng nông sản hàng hoá mà người mua muốn mua ở mức giá chấp nhận được [25] Nhu cầu về nông sản hàng hoá trên thị trường là tổng nhu cầu của tất cả người mua về nông sản hàng hoá đó trên thị trường ở mức giá đó Khi nói đến lượng nông phẩm cầu, cần phải lưu ý hai
điểm cơ bản sau: Một là, lượng nông phẩm mà người mua muốn mua với giá xác định; Hai là, nhu cầu không phải là số lượng cụ thể mà là sự mô tả toàn diện về số lượng nông phẩm hàng hoá mà người mua có thể mua ở mỗi mức giá khác nhau hoặc ở tất cả các mức giá có thể đặt ra [10]
Cầu khác với nhu cầu, nhu cầu là những mong muốn, nguyện vọng vô hạn của con người Sự khan hiếm làm cho hầu hết các nhu cầu không được thỏa mAn Ngoài ra khi nói đến cầu đối với bất kì hàng hóa dịch vụ nào chúng
ta cũng phải lưu ý đến bối cảnh không gian và thời gian cụ thể, vì rằng nhân tố này có ảnh hưởng trực tiếp đến cầu [22]
Một khái niệm quan trọng nữa là lượng cầu Lượng cầu là lượng hàng hóa hoặc dịch vụ mà người mua sẵn sàng và có khả năng mua ở mức giá đA cho trong một thời gian nhất định Như vậy, cầu là toàn bộ mối quan hệ giữa lượng cầu và giá [22]
Thực tế cho thấy số lượng cầu sẽ tăng nếu giá giảm và ngược lại, tức là nếu giá tăng thì số lượng cầu sẽ giảm (trong điều kiện các nhân tố khác không thay đổi) Quy luật này được phản ánh ở đường cầu D (Đồ thị 1)
Lượng cầu thị trường là tổng số lượng cầu của từng khách hàng Nhu cầu của thị trường là một danh sách giá cả và số lượng tương ứng mà người tiêu dùng sẵn sàng mua và có khả năng thanh toán ở mỗi mức giá trong danh sách, nếu coi yếu tố thu nhập, giá cả của các hàng hoá có liên quan, thị hiếu
và mục tiêu mua sắm vẫn giữ nguyên [21]
Trang 14Đồ thị 1: Đường cầu về nông sản 2.2 Đặc điểm của cầu và tiêu dùng về nông sản phẩm
Sản phẩm nông nghiệp được tiêu dùng trực tiếp qua trao đổi trên thị trường, một phần được dùng làm nguyên liệu cho các ngành chế biến và một phần giữ lại phục vụ cho quá trình sản xuất sau ở nông trại Vì thế cầu về nông sản bao gồm cầu tiêu dùng trực tiếp, cầu cho công nghệ chế biến và cầu cho sản xuất [10]
Cầu về nông sản cho tiêu dùng trực tiếp là nhu cầu tiêu dùng có tính thường xuyên, hàng ngày Nó phụ thuộc nhiều vào sự phát triển dân số, mức thu nhập, quan hệ giữa nông sản hàng hoá với sản phẩm tiêu dùng công nghiệp Cầu về nông sản cho chế biến phụ thuộc nhiều vào công suất của các cơ sở chế biến Cầu về nông sản cho chế biến phụ thuộc nhiều vào quy mô sản xuất và công nghệ áp dụng trong nông nghiệp
Vì thế ở tầm vĩ mô, cầu về nông sản cần phải được tính đủ các yếu tố trên Nhiều nông phẩm có thể thay thế và bổ trợ cho nhau Sự thay đổi về cầu của sản phẩm này liên quan chặt chẽ đến sự thay đổi về cầu của sản phẩm khác Do đấy, tác động có tính dây chuyền trong tiêu dùng nông sản là một
đặc trưng cơ bản của chính sách marketting của từng doanh nghiệp, nông trại,
0
Giá sản phẩm
Lượng nông sản cầu
D
Trang 15vùng và mỗi quốc gia
Nhu cầu tiêu dùng nông sản có tính thường xuyên hàng ngày, phụ thuộc vào sự phát triển dân số, mức thu nhập, quan hệ giữa nông sản hàng hoá với sản phẩm tiêu dùng công nghiệp Rau quả tươi là những sản phẩm có thời hạn
sử dụng ngắn, chất lượng dễ thay đổi dưới tác động của môi trường bên ngoài [10]
Cầu về lương thực, thực phẩm có xu hướng co dAn ít bởi vì sự tiêu dùng của con người là có hạn do đặc tính sinh học về tiêu dùng quy định Khi thu nhập của con người tăng lên, họ sẽ có xu hướng tiêu xài thu nhập của mình vào nông sản có giá trị hơn hoặc sản phẩm công nghiệp Ngược lại, khi giá nông phẩm giảm, sự tiêu dùng về lương thực, thực phẩm cũng không tăng lên nhiều Sự co dAn thấp về giá chứng tỏ rằng người tiêu dùng ít nhạy cảm đến sự thay đổi về giá nông sản
2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến cầu
Cầu về một nông sản hàng hoá trong nông nghiệp phụ thuộc vào giá của chính sản phẩm đó, giá của sản phẩm khác có liên quan, thị hiếu, tập quán tiêu dùng và thu nhập, các nhân tố này gồm:
- Giá của sản phẩm hàng hoá đó: thường thì giá của sản phẩm hàng hoá đó càng cao, nhu cầu về sản phẩm đó càng ít [10]
- Thu nhập của người tiêu dùng: thường thì thu nhập càng cao người tiêu dùng càng có nhu cầu tiêu dùng về nông sản lớn Thí dụ, khi có thu nhập cao, người tiêu dùng sẽ tiêu nhiều thức ăn động vật và quả tươi hơn Tuy nhiên, điều đó không phải lúc nào cũng đúng cho mọi sản phẩm nông nghiệp bởi vì nông sản tuy rất cần thiết cho mọi người nhưng nhu cầu về nông sản bị giới hạn bởi đặc tính sinh học về tiêu dùng của con người và
đặc tính nông sản Do đấy, sự tăng lên về thu nhập có thể làm giảm đi nhu cầu
về nông sản [10]
Trang 16- Giá của các nông sản hàng hoá có liên quan: trong một số trường hợp, nhu cầu về sản phẩm sẽ tăng lên khi giá của hàng hoá khác tăng lên (các hàng hoá này có thể thay thế cho nhau) Ví dụ, nhu cầu về cá tăng khi giá thịt lợn tăng vì giữa thịt lợn và các loại thực phẩm khác có thể thay thế cho nhau Trong trường hợp khác, nhu cầu về một nông sản hàng hoá giảm đi khi giá của một nông sản hàng hoá khác tăng lên (các hàng hóa này bổ trợ cho nhau)
- Thị hiếu tập quán tiêu dùng về nông sản hàng hoá đó của người tiêu dùng hay cộng đồng người tiêu dùng Mỗi cộng đồng có tiêu chuẩn và tập quán riêng về ăn uống, tiêu dùng Vì thế, cầu về một sản phẩm nông nghiệp nào
đó rất khác nhau tuỳ theo khẩu vị, tập quán tiêu dùng của người tiêu dùng
- Dân số hay số lượng người tiêu thụ: giả sử số lượng cầu trung bình của mọi người tiêu thụ ứng với mỗi mức giá là như nhau, số lượng người tiêu thụ trên thị trường càng lớn thì ở mỗi mức giá số lượng cầu càng lớn [5] HAy
so sánh cầu của Trung Quốc và cầu của Việt Nam đối với gạo Trung Quốc
là một nước lớn với dân số hơn 1 tỷ người, Việt Nam là một nước có dân số nhỏ hơn với hơn 80 triệu người Rõ ràng là ở mỗi mức giá lượng cầu đối với gạo ở Trung Quốc sẽ lớn hơn nhiều so với lượng cầu gạo ở Việt Nam Cho dù thị hiếu, thu nhập và các yếu tố khác là như nhau điều này vẫn sẽ
đúng, đơn giản vì Trung Quốc có quá nhiều người tiêu dùng trong thị trường gạo
- Các kỳ vọng: cầu đối với hàng hóa hoặc dịch vụ sẽ thay đổi phụ thuộc vào các kỳ vọng (sự mong đợi) của người tiêu dùng Nếu người tiêu dùng hy vọng rằng giá cả của hàng hóa nào đó sẽ giảm xuống trong tương lai thì cầu hiện tại đối với hàng hóa của họ sẽ giảm xuống hoặc ngược lại… Các
kỳ vọng cũng có thể về thu nhập, về thị hiếu, về số lượng người tiêu dùng… đều tác động đến cầu đối với hàng hóa
Trang 17Cầu về rau quả có những đặc điểm chung như cầu của mọi hàng hóa nông sản là chịu sự tác động của rất nhiều yếu tố như: dân số, thu nhập người tiêu dùng, giá cả, phong tục tập quán, thị hiếu,… ngoài ra nó còn có một số đặc
điểm cơ bản khác đó là [15]:
- Cầu về rau quả chịu ảnh hưởng lớn bởi thói quen tiêu dùng, việc tiêu dùng phụ thuộc rất lớn vào khẩu vị của người tiêu dùng, đặc điểm này rất quan trọng trong việc nghiên cứu, xác định nhu cầu khác nhau ở mỗi khu vực
- Chất lượng và vệ sinh dịch tễ có tác động rất lớn tới nhu cầu tiêu thụ bởi mặt hàng rau quả có tác động trực tiếp tới sức khỏe và chế độ dinh dưỡng của người tiêu dùng
- Cầu về rau quả có khả năng thay thế cao, khi giá một mặt hàng rau quả nào tăng lên thì người tiêu dùng có thể chuyển sang mua mặt hàng rau quả khác có giá rẻ hơn
* Các yếu tố ảnh hưởng đến tiêu dùng vải quả tươi
- Yếu tố chất lượng của vải quả: bao gồm mùi vị, mầu sắc, hột to hoặc nhỏ, ngọt hay chua… đây là những yếu tố quyết định đến việc mua vải của người tiêu dùng
- Yếu tố mùa vụ: do cây vải có tính mùa vụ rất cao, mà thời gian thu hoạch chỉ kéo dài có hơn 1 tháng trong năm (đấy là kể cả thời gian rải vụ) nên tính mùa vụ cũng rất quan trọng quyết định đến nhu cầu tiêu dùng vải quả của người dân, vào thời gian đầu vụ và cuối vụ giá bao giờ cũng cao hơn thời gian giữa vụ
- Yếu tố giá cả: đây là yếu tố quan trọng nhất quyết định đến việc tiêu dùng vải quả tươi cũng như lượng tiêu dùng, bởi người tiêu dùng bao giờ cũng có mong muốn mua với giá rẻ, còn người bán thì lại muốn bán với giá cao
- Yếu tố thu nhập: đây cũng là yếu tố quan trọng đến việc tiêu dùng nông sản hàng hóa nói chung và vải quả nói riêng Khi thu nhập cao thì họ lại có
Trang 18nhu cầu tiêu dùng những sản phẩm chất lượng, mẫu mA đẹp, nếu tiêu dùng vải quả tươi thì họ sẽ có xu hướng dùng vải quả vào lúc đầu vụ và cuối vụ nhiều hơn là lúc giữa vụ (chính vụ vải là giữa tháng 6 thời tiết lúc này là nóng)
- Yếu tố tiếp thị quảng cáo: đây là chỉ là yếu tố tâm lý nhưng rất quan trọng, quyết định đến việc tiêu dùng một loại hàng hóa này mà không tiêu dùng loại hàng hóa khác Là yếu tố tâm lý nên chỉ cần có một chút không chính xác hay nói đúng hơn là những thông tin sai lầm là sẽ ảnh hưởng đến nhu cầu tiêu dùng sản phẩm đó trên thị trường Ví dụ như trường hợp cây vải vài năm trước đây, trên các phương tiện thông tin đại chúng nói về trường hợp ăn vải quả tươi bị viêm nAo Nhật Bản dẫn đến người tiêu dùng rất e ngại khi dùng vải quả tươi cho con em họ
- Yếu tố thói quen tiêu dùng: việc tiêu dùng phụ thuộc rất lớn vào khẩu vị của người tiêu dùng, đặc điểm này rất quan trọng trong việc nghiên cứu, xác định nhu cầu khác nhau ở mỗi khu vực
- Yếu tố chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm: tác động rất lớn tới nhu cầu tiêu thụ vải quả tươi bởi nó có tác động trực tiếp tới sức khỏe và chế độ dinh dưỡng của người tiêu dùng
- Cầu về vải quả tươi có khả năng thay thế cao, khi giá tăng lên thì người tiêu dùng có thể chuyển sang mua mặt hàng quả khác
Tóm lại có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến cầu về vải quả tươi, nhưng trên
đây chỉ nêu lên một số yếu tố để chúng ta cùng nhau nghiên cứu và thảo luận
kỹ hơn ở phần kết quả nghiên cứu của đề tài này
2.4 Độ co dãn của cầu về nông sản
Như trên chúng ta đA phân tích biến động của cầu là do giá cả, thị hiếu
và thu nhập biến đổi gây nên Nhưng quan trọng là phải xem lượng cầu biến
đổi bao nhiêu khi một trong những yếu tố quyết định thay đổi Những quyết
định của người tiêu dùng nên mua mỗi loại nông sản bao nhiêu với mức giá
Trang 19khác nhau là quan trọng nhất Trong trường hợp này, ta nên chọn một loại thước đo mức phản ứng trước sự kích thích của thị trường, một chỉ số không lệ thuộc vào các đơn vị đo của những biến số tương ứng Thước đo đó gọi là độ
co dAn và khi phân tích nhu cầu, ta có thể dùng nó biểu thị bất kỳ biến số có nghĩa nào có thể làm nhu cầu biến động Độ co dAn bao gồm có: độ co dAn của chính mặt hàng đó (sự nhạy bén của cầu đối với giá cả), độ co dAn chéo của cầu và độ co dAn của cầu đối với thu nhập [10]
* Sự nhạy bén của cầu đối với giá cả
Những quyết định của người nên mua mỗi loại nông sản bao nhiêu với các mức giá khác nhau là rất quan trọng Khi giá của nông sản thay đổi, người tiêu dùng có những ứng xử phù hợp với sự thay đổi đó Thước đo sự thay đổi
về nhu cầu nông sản của người tiêu dùng với sự thay đổi về giá của nông sản
đó là độ co dAn về cầu
Độ co dn về cầu (Ep) là tỷ lệ phần trăm giữa sự thay đổi về nông sản phẩm cầu so với sự thay đổi phần trăm về giá của nông sản hàng hoá đó Vì nông sản phẩm cầu tỷ lệ nghịch với giá sản phẩm đó nên độ co dAn của cầu theo giá mang giá trị âm, nó phản ánh quá trình trượt dọc theo đường cầu
P: Giá của nông sản hàng hoá đó
∆Q/Q: Mức thay đổi về lượng cầu nông sản
∆P/P: Mức thay đổi về giá nông sản
Trang 20Biểu 1: Loại co dAn ứng với các giá trị khác nhau về độ co dAn
1 Hoàn toàn không co
dAn
Ep = 0 Sự thay đổi của giá vải quả không
ảnh hưởng đến cầu của vải quả
2 Không co dAn tương
đối
0< Ep <1 Sự tăng lên về lượng cầu vải quả
nhỏ hơn so với sự giảm về giá
3 Co dAn một đơn vị Ep =1 Khi mà sự thay đổi về cầu vải quả
đúng bằng với sự thay đổi về giá sản phẩm
4 Co dAn tương đối 1< E< ∞ Sự thay đổi về lượng cầu vải quả lớn
hơn sự thay đổi về giá
5 Hoàn toàn co dAn E = ∞ Giá sản phẩm không đổi mà lượng
sản phẩm cầu vẫn thay đổi Nguồn số liệu: [10]
Các loại co dAn trên được thể hiện ở các đường cong a, b, c, d và e trong (Đồ thị 2) dưới đây:
hình a) Hoàn toàn không co dAn
hình b) Không co dAn
hình c) Hoàn toàn co dAn
hình d) Co dAn (1< E< ∞ )
hình e) Co dAn 1 đơn vị
Trang 22Độ co dAn về cầu không những chỉ cho ta thước đo sự tiêu dùng hàng hoá khi giá thay đổi, mà nó còn giúp cho người tiêu dùng quyết định về tổng mức chi tiêu Tổng doanh thu là tích số của giá và lượng hàng đA mua Khi hạ giá đi, lượng hàng bán ra sẽ tăng lên Nếu nhu cầu không co dAn, sự biến đổi của giá sẽ làm cho lượng hàng tiêu thụ có tỷ lệ phần trăm thay đổi ít hơn Do
đó, khi giá hàng hạ xuống thì tổng chi tiêu sẽ tụt xuống và khi giá hàng tăng lên thì tổng chi tiêu sẽ tăng Mặt khác, nếu nhu cầu co dAn, sự biến đổi giá sẽ làm cho lượng hàng tiêu thụ có tỷ lệ phần trăm thay đổi lớn hơn, trong trường hợp này khi giá hạ thì tổng chi tiêu tăng và khi giá lên thì tổng chi tiêu giảm
* Độ co d;n chéo của cầu về nông sản
Trong nông nghiệp các sản phẩm có quan hệ với nhau ở 3 trường hợp:
Độ co dAn chéo của cầu (Ec) là phần trăm thay đổi số lượng cầu về sản phẩm
X so với phần trăm thay đổi về giá của sản phẩm Y
Phần trăm thay đổi lượng cầu sản phẩm X
Ec =
Phần trăm thay đổi về giá sản phẩm Y
Dấu của Ec là âm hay dương sẽ cho ta biết hai sản phẩm X và Y có quan hệ thay thế hay bổ trợ Nếu X và Y có quan hệ thay thế cho nhau một cách hoàn hảo thì sự tăng nhỏ về giá của Y cũng làm cho cầu về Y giảm xuống tới 0 Trong trường hợp này độ co dAn chéo của cầu là vô cùng Ngược lại, hai sản phẩm X và Y không thay thế được cho nhau thì độ co dAn chéo của
Trang 23chúng bằng 0 Vì thế, tuỳ theo bản chất về mối quan hệ giữa các sản phẩm mà
độ co dAn của chúng giao động từ vô cùng đến 0 Trong trường hợp hai sản phẩm là bổ trợ cho nhau, độ co dAn chéo mang giá trị âm Sự tăng lên về giá của sản phẩm Y sẽ không chỉ làm giảm lượng cầu về nông sản phẩm Y mà còn làm giảm lượng cầu của nông sản phẩm X
* Độ co d;n của cầu đối với thu nhập
Độ co dAn của cầu đối với thu nhập phản ánh khi thu nhập của người tiêu dùng thay đổi cũng kéo theo sự thay đổi của lượng nông sản cầu
Phần trăm thay đổi lượng sản phẩm cầu
Ei =
Phần trăm thay đổi về thu nhập
Ei thường mang giá trị dương, nó chỉ mang giá trị âm trong trường hợp
là sản phẩm đó ít có giá trị cao như gạo, khoai, sắn Vì hầu hết nông phẩm
đều thuộc loại sản phẩm này, nên độ co dAn của cầu đối với thu nhập có giá trị
âm đóng một vai trò quan trọng trong định giá nông phẩm
Tóm lại: Giá cả của sản phẩm hàng hóa, thu nhập của người tiêu dùng
và hàng hóa liên quan là những yếu tố quyết định chủ yếu đến cầu tiêu dùng nông sản hàng hóa Tuy nhiên, do hạn chế về thời gian cũng như kinh phí nên
đề tài chỉ nghiên cứu cầu vải quả tươi theo thu nhập của người tiêu dùng ở Hà Nội 2.5 Tình hình sản xuất và tiêu thụ vải quả ở Việt Nam
2.5.1 Đặc điểm về cây vải quả và quả vải tươi
a Đặc điểm về cây vải quả
Cây vải, còn gọi là Lệ Chi, là loại duy nhất trong chi thuộc họ Bồ Hòn
Nó là loại cây ăn quả thân gỗ vùng nhiệt đới, có nguồn gốc ở miền nam Trung Quốc, tại đó người ta gọi nó là Bính âm, kéo dài về phía nam tới Indonesia và
về phía đông tới Philippin, tại đây người ta gọi nó là alupag [20]
Trang 24Theo các tài liệu thư tịch cũ ở Việt Nam, cây vải đA được trồng cách
đây 2000 năm [20].Trong quá trình điều tra cây ăn quả ở rừng ở một số tỉnh miền Trung và miền Bắc, các tác giả gặp cây vải rừng là cây vải dại Rất có thể miền Bắc Việt Nam cùng là quê hương của một số giống vải mà trước đây các nhà nghiên cứu thực vật học chưa biết đến [23]
ở Việt Nam, các vùng từ vĩ độ 18-19 trở ra phía Bắc (từ Hà tĩnh trở ra)
đều có điều kiện tự nhiên thích hợp cho cây vải sinh trưởng và phát triển và tốt Điều này càng được khẳng định bởi một số tác giả khác cũng cho rằng “ Thời Pháp thuộc, cây vải vẫn thường gặp ở các khu rừng tỉnh Vĩnh Phúc, giống hệt như vải trắng chỉ khác quả nhỏ, múi mỏng và vị hơi chua, do không
được chăm sóc chọn giống [20]
b Đặc điểm của quả vải tươi
Quả vải tươi là loại quả hạch, hình cầu hoặc hơi thuôn, dài 3-4 cm và
đường kính 3 cm Lớp vỏ ngoài màu đỏ, cấu trúc sần sùi không ăn được nhưng
dễ dàng bóc được Bên trong là lớp cùi thịt màu trắng mờ, ngọt và giàu vitamin C, với kết cấu tương tự như quả nho Tại trung tâm là một hạt mầu nâu, dài 2cm và đường kính cỡ 1-1,5 cm Hạt vải tương tự như hạt quả Dẻ ngựa, có độc tính nhẹ và không nên ăn Quả chín vào giai đoạn từ tháng 6 (các vùng gần xích đạo) đến tháng 10 (các vùng xa xích đạo), vào khoảng 100 ngày sau khi ra hoa [14]
Quả vải khi chín có mầu đỏ đẹp, cùi trắng mọng nước, bóng trắng có mùi thơm hấp dẫn Thành phần hoá học của cùi vải: 77 – 80% nước, 12,6 –16,7% đường, ngoài ra còn 0,7% protein, 0,3% lipit, 0,7% CHO, vitamin B1
và C Thời gian thu hoạch vải từ giữa tháng 6 và tháng 7 Quả vải hô hấp rất mạnh, mật độ tế bào vi sinh vật gây hại trên vỏ quả từ 9,1.103 –3,2.104 tế bào/gam, trong cùi là 2,6.103 - 1,3.104 tế bào/gam, trong đó đa số là nấm Fusarium, Penicillium và Aspergillus Đây là nguyên nhân chính gây thối hỏng quả sau này [12]
Trang 25Theo Đông y, hạt vải thái mỏng phơi hay sấy khô được dùng làm thuốc, hạt vải có vị ngọt chát, tính ôn, có tác dụng tán hàn, chữa tiêu chảy ở trẻ em Phần múi vải, cũng là một vị thuốc trong đông y, vị ngọt chua, tính bình, có tác dụng dưỡng huyết, làm hết phiền khát, chữa những bệnh mụn nhọt với liều
10 - 16g múi khô [2]
Người Quảng Đông lại cho rằng ăn một quả vải bằng giữ 3 ngọn đuốc trong người (nhất đạm lệ chi tam bả hoả) Điều này muốn nói đến thuộc tính dương (nóng) của loại quả này Ăn quá nhiều vải làm khô môi và có thể gây chảy máu cam ở một số người, cũng có thể gây ra mụn nhọt hoặc loét miệng Ngược lại, loại quả từ cây có quan hệ họ hàng là nhAn lại được coi là có các tính chất bổ dưỡng
2.5.2 Sự phát triển về cây vải ở Việt Nam
Cây vải có mặt ở hầu hết các tỉnh của miền Bắc Việt Nam Một số vùng trồng vải chủ yếu của Việt Nam là vùng đồng bằng sông Hồng, Trung Du miền núi Bắc Bộ và một phần khu 4 cũ Những nơi trồng nhiều vải tập trung
đó là Thanh Hà (Hải Dương), Đông Triều (Quảng Ninh), Thanh Oai, Quốc Oai (Hà Tây), Phú Hộ (Phú Thọ) Các giống vải được trồng nhiều là vải thiều Thanh Hà, Phú Hộ, Quế Vị, Hoài Chi [26]
Sự phát triển mạnh của cây vải kể từ khi có Nghị quyết Đại hội lần thứ
VI của Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam (1986) đA mở ra hướng mới cho nền kinh tế Việt Nam nói chung và nông nghiệp nói riêng bước sang giai đoạn mới của tiến trình phát triển Đặc biệt, Nghị quyết 10/CT
Bộ Chính trị ra đời (tháng 4/1988) đA được đánh giá như một khám phá có tính quyết định và đA nhanh chóng trở thành động lực to lớn trong sản xuất,
đời sống kinh tế nông nghiệp và nông thôn Thành công lớn đạt được từ sản xuất nông nghiệp trong những năm qua là sự đổi mới có hiệu quả từ một nền nông nghiệp thuần nông, tự túc sang nền nông nghiệp hàng hoá đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của tiêu dùng trong nước và phục vụ xuất khẩu trên cơ sở khai thác và phát huy các lợi thế tiềm năng ở các vùng sinh thái khác nhau
Trang 26trong cả nước Góp phần vào thành công này không thể không kể đến việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng, một số chương trình kinh tế - xA hội (chương trình 327, 161, 135,…) và phong trào trồng cây ăn quả (CAQ) phát triển mạnh
mẽ trong cả nước Một trong những cây trồng chủ lực của các chương trình
327, 161, 135,… cũng như phong trào trồng CAQ đó là cây vải Cây vải đA
được nhân rộng không chỉ ở các vườn gia đình, trồng ở chân đất chuyển đổi từ ruộng 1 vụ lúa bấp bênh ở đồng bằng (Thanh Hà, Tứ Kỳ-Hải Dương) mà còn
được đưa lên các vùng bán sơn địa như Chí Linh (Hải Dương), Đông Triều (Quảng Ninh) và cả các vườn đồi, gò thuộc Bắc Giang, Thái Nguyên, Hoà Bình,… Một số vùng đA trồng vải theo mô hình trang trại như Lục Ngạn - Bắc Giang, Thái Nguyên, Đông Triều - Quảng Ninh Giai đoạn trồng vải mạnh nhất từ 1992 - 1996 Một vài số liệu sau phản ánh diện tích vải của một số địa phương như Hoà Bình (1996) đA trồng được 1.662 ha; Lục Ngạn -Bắc Giang (1998) đạt 7.092 ha và Thái Nguyên (1998) đạt 3.640 ha [26]
Đồng thời với sự gia tăng về diện tích trồng vải thì diện tích vải cho thu hoạch cũng gia tăng nên sản lượng vải ngày càng lớn Mặt khác giống vải
được đưa vào sản xuất cũng đa dạng hơn: ngoài giống vải chủ lực là vải thiều Thanh Hà, lai Thanh Hà, vải U Hồng, U Thâm… các giống này có nguồn gốc
từ các địa phương khác nhau và có thời gian chín khác nhau tạo nên thời vụ thu hoạch vải kéo dài tới 50 đến 60 ngày (trước đây thời vụ thu hoạch vải trong khoảng 25 đến 30 ngày) [26]
ở Việt Nam, ngoài sản phẩm chính của cây vải là quả tươi còn thu sản phẩm phụ như cành chiết1 (trước năm 1997), cành ghép2 (bắt đầu từ năm 1997) và tận thu mật ong từ các vườn vải Thu nhập mang lại từ sản phẩm phụ rất có ý nghĩa đối với người trồng vải, đặc biệt giai đoạn 1990-1999, các hộ gia đình có những cây vải chất lượng tốt đA chiết cành, cắt cành để bán giống
Trang 27và cành ghép nhân giống, những hộ có nuôi ong mật đA cung cấp mật chất lượng cao cho thị trường Ví dụ, tại Thanh Hà - Hải Dương, những hộ có cây vải trong độ tuổi 10-15 tuổi thì cứ thu 100.000 đồng bán vải quả thì cũng thu
được 20.000 - 25.000 đồng tiền bán sản phẩm phụ như cành chiết, cành ghép… Mặt khác, người trồng vải còn tận dụng diện tích đất trống khi cây vải chưa giao tán hoặc dưới tán vải để trồng các loại cây ngắn ngày như các loại
đậu, rau các loại, ớt, chanh, đu đủ… cung cấp thực phẩm cần thiết cho gia
đình và gia tăng thu nhập khi cây vải chưa cho năng suất ổn định Thu nhập từ phần này thật sự có ý nghĩa vào những năm vải bị mất mùa [9]
Thị trường tiêu thụ vải quả của Việt Nam: Trước đây cơ quan đứng đầu chỉ đạo sản xuất, lưu thông phân phối là Tổng Công ty rau quả Việt Nam và các đơn vị trực thuộc Trong cơ chế thị trường, tiêu thụ các loại quả nói chung
và vải quả nói riêng chủ yếu là do các tư nhân tự liên kết lại với nhau hết sức chặt chẽ trên phạm vi rộng lớn thực hiện các hoạt động từ khâu thu gom, vận chuyển đường dài, phân phối (bán buôn, bán lẻ) tỏ ra rất hiệu quả Nhờ có hoạt động của hệ thống tư nhân này mà sản phẩm sau khi thu hoạch vải được tiêu thụ tại thị trường trong nước dưới dạng tươi ở các thành phố, các khu dân cư đông đúc, các nhà máy chế biến trên toàn quốc và đA xuất khẩu sản phẩm ở dạng tươi và chế biến sang một số nước như Trung Quốc, Hồng Kông, một số nước khác trong khối Đông Nam á và một số nước thuộc châu âu Đánh giá chung, tỷ lệ vải quả tiêu dùng nội địa lớn, ước khoảng 70 -75%, phần xuất khẩu chiếm tỷ lệ nhỏ (25 - 30%) [9]
Tóm lại, tiềm năng phát triển sản xuất cây vải ở Việt Nam nói chung và miền Bắc nói riêng rất lớn và đặc biệt khi nền kinh tế Việt Nam chuyển sang cơ chế thị trường thì tiềm năng càng được phát huy, chẳng hạn người sản xuất
đA năng động hơn rất nhiều so với giai đoạn trước năm1986; họ đA kết hợp với những thương gia giải quyết đầu ra sản phẩm cho cây vải rất tốt và thu nhập từ cây vải đA cải thiện nền kinh tế của những người trồng vải, cơ sở hạ tầng thuộc những vùng trồng vải nói riêng, đời sống của tất cả các tác nhân tham gia vào
Trang 28ngành hàng vải đA được nâng lên nói chung Tuy nhiên, trong vài năm gần
đây, giá vải hạ dần, khiến cho việc đầu tư cho sản xuất và tiêu thụ sản phẩm gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là năm 2004 khi sản lượng vải đạt lớn nhất từ trước tới nay dẫn đến giá vải thấp chưa từng thấy ảnh hưởng đến thu nhập của các đối tượng tham gia vào ngành hàng vải Người chịu thiệt thòi trước tiên và nhiều nhất là người sản xuất mặc dù họ vẫn phải chi phí cho việc chăm sóc, thu hoạch cao hơn do sản lượng gia tăng Vậy làm sao để cho người dân trồng vải được mùa nhưng vẫn được giá đây mới là vấn đề cần phải quan tâm
2.5.3 Cơ cấu giống vải ở Việt Nam
Có khá nhiều giống vải được trồng ở Việt Nam, đến nay tổng kết lại đA có tới hơn 20 giống vải đA được trồng từ vĩ độ 18-19 trở ra phía bắc Tuy nhiên, chỉ có một
số giống được trồng phổ biến đó là [8]:
- Giống vải Thanh Hà chính vụ: quả nhỏ 50-60 quả/kg, quả sai, năng suất cao, độ ngọt khá đậm đặc, được thị trường trong và ngoài nước ưa chuộng Tuy nhiên giống này lại có thời gian chín rất ngắn, chỉ tập trung trong vòng
20 ngày (khoảng từ 10/6 đến 30/6)
- Giống U Hồng: giống này có thời gian chín dài từ ngày 5 tháng 5 đến 10 tháng 6 Giống này quả và hạt to khoảng 40-50 quả/kg Năng suất thấp chỉ bằng 2/3 năng suất vải Thanh Hà chính vụ Song ưu điểm của giống này là chín sớm, có thể thu hoạch vào lúc giá bán cao
- Giống vải lai Thanh Hà: giống này chín vào trung tuần tháng 6 Năng suất thấp chỉ bằng 2/3 năng suất vải chính vụ Song ưu điểm của giống này là quả tươi được trong thời gian dài sau khi thu hoạch, nên dễ vận chuyển đi xa
- Giống vải chua (Tu Hú): là giống chín sớm, thời gian cho thu hoạch từ ngày 5 tháng 5 đến 25 tháng 5, giống này quả và hạt to khoảng 40-50 quả/kg Năng suất thấp chỉ bằng 2/3 năng suất vải chính vụ Song ưu điểm của giống này là chín sớm nên bán được giá cao
Trang 29Biểu 2: Cơ cấu diện tích giống vải quả chính ở Bắc Giang, Thái Nguyên Đơn vị:%
Bắc Giang Thái Nguyên
2.5.4 Diễn biến về diện tích - sản lượng vải quả tươi của Việt Nam
Diện tích sản lượng vải quả tươi trong 3 năm trở lại đây tăng giảm thất thường (Phụ lục 1), tốc độ tăng bình quân về diện tích gieo trồng đạt 1,01%, diện tích cho sản phẩm tăng 1,11%, năng suất bình quân chỉ đạt 0,93%, sản lượng đạt 1,04% (Biểu 3)
Giống vải
Địa phương
Trang 30Biểu 3: Diễn biến về diện tích, diện tích gieo trồng, năng suất và sản l−ợng
vải quả một số năm của Việt Nam
là năm vải không đ−ợc mùa nên sản l−ợng vải năm 2005 chỉ đạt 41,59% so
Trang 31với năm 2004 (Đồ thị 4) Đây chính là nguyên nhân làm cho giá vả năm 2005 cao nhất trong vòng 3 năm trở lại đây
158893
413500
172000
0 50000
a Bảo quản vải quả tươi
Vải quả là mặt hàng tươi sống, thời gian thu hoạch lại ngắn nên khâu bảo quản có ý nghĩa vô cùng quan trọng Mục đích của bảo quản vải nhằm kéo dài thời gian thu hoạch, hoặc thời gian sử dụng của vải sau khi đA thu hoạch Hiện nay có các cách bảo quản sau [9]:
Phương pháp bảo quản kín truyền thống
Đây là phương pháp bảo quản quả vải tươi ở điều kiện thường, thời gian bảo quản chỉ được 4 - 5 ngày, hao hụt sau bảo quản khoảng 8 - 10% do quá trình bốc hơi nước tự nhiên và do thối hỏng Quả vải bị nâu hoá chiếm khoảng 10% Quy trình của phương pháp này là: quả tươi sau thu hái được nhặt loại
bỏ những cuống không cần thiết, nhặt những quả thối, dập nát, quả sâu bệnh, những quả không đạt quy cách Quả vải sau khi phân loại được xếp theo từng lớp, lớp dưới cùng được phủ một lớp lá dầy khoảng 3 - 4 cm rồi đặt lớp vải đầu
Trang 32tiên sau đó lại phủ tiếp lớp lá đủ để lớp quả trên và lớp quả dưới không có gì
ảnh hưởng tới nhau Cứ như vậy khi chiều cao của đống vải đạt độ cao 60 - 80
cm Khi xếp xong thì phủ tiếp lá vải tươi lên trên và xung quanh đống vải để tạo môi trường kín, tránh hiện tượng trao đổi khí với bên ngoài
Phương pháp bảo quản kín cải tiến
Phương pháp này có thể bảo quản vải trong thời gian dài hơn, khoảng 7 - 8 ngày Chất lượng và tỷ lệ hao hụt cũng tương ứng với phương pháp truyền thống Thực chất, quy trình này cũng không khác mấy so với quy trình trên
Nó chỉ cải tiến một chút trong quá trình thao tác là quả thu hoạch đem bảo quản phải để cuống dài và lớp vải ẩm phía dưới cùng phải để tiếp xúc trực tiếp với nền đất
Bảo quản vải trên cây
Một số hộ trồng vải dùng thuốc kích phát tố Thiên Nông để giữ quả trên cây Chế phẩm được phun 6 lần cho quả vải trên cây:
+ Lần 1: Lúc hoa cái bắt đầu nở
+ Lần 2: Sau lần 1 là 10 ngày
+ Lần 3: Sau lần 2 là 10 ngày
+ Lần 4: Sau lần 3 là 10 ngày
+ Lần 5: Sau lần 4 là 10 ngày
+ Lần 6: Phun thuốc trước thu hoạch 10 - 15 ngày
Phương pháp này có thể kéo dài thời gian thu hoạch được 20 - 25 ngày (thuốc Thiên Nông pha với nồng độ 0,5%, phun ướt vào chùm hoa hoặc quả), trọng lượng quả lớn hơn (25 - 30 quả/kg), sản lượng tăng 20 - 30%
Bảo quản ở nhiệt độ thấp
Quy trình công nghệ bảo quản vải tươi trong kho lạnh 50C được Hoàng Kim Phượng, Viện Công nghệ sau thu hoạch tiến hành từ năm 2003 tại xA Thanh Xá với công suất bảo quản khoảng 10 -15 tấn Thời gian bảo quản có
Trang 33thể kéo dài tới 40 ngày, tổng số hao hụt không quá 10% so với thời điểm bắt
đầu đưa vào bảo quản Các bước được tiến hành như sau:
- Thu hoạch: thu hái vải quả nhẹ nhàng vào những ngày khô ráo, tránh những ngày mưa Thu hoạch vải khi quả đA chín đỏ đều (khoảng 102 – 109 ngày sau khi hoa nở) Buộc vải thành từng chùm khoảng 3-5kg hoặc đựng trong các rổ nhựa thưa khoảng 10kg Loại bỏ những quả bị nứt vỡ, dập nát, chín không đều và những quả dị hình
- Chuẩn bị vật liệu: các vật liệu, hoá chất gồm có: A- xít clohydrit (HCL) hoặc NaHSO3, bể nhúng, quạt gió, rổ nhựa…
- Xử lý: nhúng từng bó hoặc cả rổ nhựa vải quả vào dung dịch NaHSO3 trong thời gian 10 phút (pha 60g NaHSO3 trong 1 lít nước sạch, khuấy đều cho tan hết) Dung dịch NaHSO3 có tác dụng làm cứng vỏ quả, hạn chế mất nước, tiêu diệt và chống vi khuẩn, nấm bệnh xâm nhập gây hại quả Vớt ra nhúng tiếp vào dung dịch HCl 4% khoảng 2-5phút Dung dịch HCl
có tác dụng hAm mầu, giữ cho vỏ quả tươi nguyên tăng thêm giá trị thương phẩm
- Đóng gói, bảo quản, vận chuyển: sau khí xử lý, để khô tự nhiên hoặc dùng quạt gió để thổi khô rồi đóng gói trong hộp xốp để vận chuyển đến nơi tiêu thụ bằng xe lạnh hoặc bảo quản trong kho mát có điều kiện nhiệt độ 4-50C,
độ ẩm không khí 90-95% Cũng có thể dùng túi nhựa polyetylen để đựng vải quả vừa tránh mất nước và giữ màu sắc vỏ quả được lâu hơn
Bảo quản bằng nước ozôn
Phương pháp này được TS Nguyễn Văn Khải (Trung tâm Khoa học và công nghệ quốc gia) giúp đỡ đA tiến hành trong vụ vải 2002 nhưng kết quả còn hạn chế và cũng không thấy triển khai tiếp trong năm nay
Về bao bì bảo quản: Hiện nay vẫn chưa có bao bì chuyên dùng để bảo quản
và vận chuyển vải, người sản xuất vẫn dùng các loại thông thường như thùng xốp, sọt tre để chứa đựng và chuyên chở quả tươi Loại bao bì này tuy có rẻ
Trang 34nhưng khả năng bảo quản thấp
b Chế biến
Chế biến của vải quả được thực hiện theo 2 dạng đó là chế biến thủ công và chế biến công nghiệp Chế biến thủ công là công nghệ truyền thống lâu đời của người trồng vải, quy trình chế biến tương đối đơn giản, vải quả quả tươi sau khi thu hoạch được sấy đến khô, sau đó đóng bao bảo quản và xuất bán Chế biến công nghiệp tiến hành trong các doanh nghiệp, cơ sở chế biến, sản phẩm của chế biến công nghiệp là các sản phẩm tinh chế từ vải như: vải hộp, nước vải và rượu vải [8]
Vải sấy khô không phải là sản phẩm thuần tuý kinh doanh, mà sấy khô còn là là một biện pháp chống rủi ro của người sản xuất, khi giá cả sản phẩm xuống thấp và khó tiêu thụ Do đó khối lượng vải tươi đưa vào chế biến theo phương pháp sấy khô có sự khác nhau giữa các năm, tỷ lệ nghịch với giá bán vải tươi Những năm sản lượng vải thấp, giá bán vải tươi cao thì các hộ nông dân sẽ tiêu thụ vải tươi nhiều hơn chế biến
2.5.6 Tình hình tiêu thụ vải quả
a Hình thức tiêu thụ
Theo số liệu điều tra mức sống dân cư của Tổng cục thống kê năm 2005 thì mức tiêu thụ bình quân rau quả tươi của mỗi người dân Việt Nam là 71 kg/người/năm Về mặt giá trị, tiêu thụ rau quả chiếm khoảng 4% tổng chi tiêu bình quân của của các hộ gia đình Mức tiêu thụ rau quả tươi theo đầu người cũng có sự khác biệt đáng kể giữa các vùng Nếu như mức tiêu thụ rau quả tươi chỉ có 31kg/người/năm ở vùng núi phía bắc thì ở 2 thành phố lớn là Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh mức tiêu thụ lên tới 159 kg/người/năm Mức tiêu thụ ở các vùng đô thị nói chung cũng ở mức cao từ 106-159 kg/người/năm, trong khi đó người dân ở nông thôn chỉ tiêu thụ có 31-99kg/người/năm [1] Điều này cũng cho thấy, các hộ gia đình có mức thu
Trang 35nhập cao hơn thì tiêu dùng nhiều rau quả hơn Mức tiêu thụ rau quả tươi của
nhóm hộ giàu nhất (134 kg/người/năm) gấp hơn 5 lần so với mức tiêu thụ của
nhóm hộ nghèo nhất (26 kg/người/năm)
Trong những năm vừa qua việc tiêu thụ vải của nông dân hoàn toàn tự
phát, người nông dân phải tự lo tiêu thụ sản phẩm của mình Kết quả điều tra
tình hình tiêu thụ sản phẩm vải quả của người nông dân được tác giả Ngô Lê
Dũng công bố năm 2005, theo các hình thức sau là 28, 26% được bán tại
vườn, 24,98% sản lượng được bán cho các đại lý tiêu thụ, 29,03 % sản lượng
được bán tại chợ, 12,60% sản lượng được bán cho các cơ sở chế biến (hầu hết
Hình thức khác
Đồ thị 5: Cơ cấu các hình thức tiêu thụ vải quả tươi của nông dân b) Các tác nhân tham gia tiêu thụ
Việc phân phối tiêu thụ sản phẩm vải quả có nhiều thành phần tham gia,
nhưng chưa có một tổ chức nào đủ mạnh hoạt động có hiệu quả Thành phần
tham gia lưu thông tiêu thụ chủ yếu là tư nhân, thương nhân, những người
kinh doanh nhỏ Một số đơn vị kinh doanh thuộc Nhà Nước có tham gia tiêu
thụ và chế biến nhưng khối lượng còn hạn chế (3-5% sản lượng)
Trang 36Các tác nhân trong hoạt động tiêu thụ sản phẩm vải quả bao gồm :
- Các thương nhân (các thương lái, tư thương, người bán buôn, các đầu nậu tại địa phương) là tác nhân chính trong tiêu thụ vải ở địa phương, các đối tượng này là người địa phương, người ở các địa phương khác như Hà Nội, Bắc Ninh, Hải Dương, Thành phố Hồ Chí Minh và có cả thương nhân người Trung Quốc cũng đến tham gia trực tiếp tiêu thụ vải cho nông dân Các đối tượng này một phần mua trực tiếp của nông dân, một phần thông qua người thu gom, người buôn bán nhỏ
- Các đại lý, các tư thương buôn bán nhỏ tại địa phương là người trực tiếp thu gom, chạy hàng trực tiếp từ các vườn cây và từ người sản xuất vải tự mang hàng đi bán Hình thức thu mua này rất linh hoạt, nhưng người sản xuất thường bị thua thiệt do bị ép giá
- Các đơn vị kinh doanh thuộc khu vực Nhà nước và một số doanh nghiệp có thu mua để chế biến hoặc xuất khẩu sản phẩm tươi, cũng thông qua các đại
lý thu gom là chính, gần đây đA có ký hợp đồng với các hộ trồng vải song vẫn chưa trở thành dòng vận động chủ yếu Do lượng tiêu thụ của các đối tượng này rất ít, chỉ chiếm khoảng trên dưới 5% thị phần tiêu thụ
Đồ thị 6 cho thấy người sản xuất có thể trực tiếp bán hàng cho tất cả các tác nhân tiêu thụ, người tiêu dùng cũng có thể mua được sản phẩm của tất cả các tác nhân trên, để con đường đi từ người sản xuất đến người tiêu dùng ngắn nhất, hiệu quả nhất là vấn đề chúng ta cần quan tâm nghiên cứu
Tuy vậy, trên thực tế có sự hoạt động đan xen, giữa các kênh tiêu thụ, nhưng sự gắn bó hết sức lỏng lẻo Mỗi khi có thị trường sự cạnh tranh mua và bán cũng diễn ra khá phức tạp làm ảnh hưởng đến an ninh, trật tự trên địa bàn
và người sản xuất thường bị ép giá
Trang 37Đồ thị 6 Kênh tiêu thụ vải quả trên địa bàn trung du miền núi phía Bắc
Nguồn: [8]
Ghi chú : Người tiêu dùng gồm: tiêu dùng trong nước (chiếm 70-75% sản lượng) và xuất khẩu (20-25% sản lượng)
Các yếu tố ảnh hưởng đến tiêu thụ vải quả tươi
Vải quả là một trong những cây ăn qủa quan trọng phục vụ xuất khẩu của Việt Nam trong giai đoạn 1999-2010 [4] Chính vì vậy trong những năm gần
đây cây vải đA được phát triển khá mạnh, nó không chỉ góp phần chuyển dịch cơ cấu cây trồng, tăng thu nhập, mà còn góp phần phủ xanh đất trống đồi núi trọc Tuy nhiên trong quá trình tiêu thụ vải quả đang đứng trước những khó khăn thách thức sau:
- Diện tích trồng vải tăng nhanh, ước khoảng 111.260 ha (năm 2004), khối lượng sản phẩm vải tươi hàng hoá lớn 413.500 tấn nên giá vải quả giảm,
Trang 38- Thị trường tiêu thụ không có được mở rộng so với diện tích vải, mặc dù đA
có QĐ số 80/TTg về tiêu thụ nông sản hàng hoá thông qua hợp đồng, nhưng đối với sản phẩm vải quả chính sách trên vẫn chưa phát huy tác dụng
- Mùa vải quả cũng là mùa nóng nhất trong năm, nên nhu cầu ăn vải của người dân còn hạn chế do sợ nóng
- Mẫu mA, bao bì đóng gói bảo quản sản phẩm vải quả tươi còn hạn chế, trong khi trên thị trường hiện nay có rất nhiều loại quả ngon, mẫu mà bao bì đóng gói bảo quản trông rất bắt mắt như quýt, nho
Tóm lại những nguyên nhân nêu trên làm cho lượng cầu về vải quả của người dân là thấp hơn so với thực thế Vậy phải làm thế nào để kích cầu của người tiêu dùng? làm sao để người tiêu dùng tiêu dùng nhiều vải hơn đấy cũng
là vấn đề mà không những của đề tài quan tâm mà nó còn là vấn đề bức bách của các cấp các ngành có liên quan
2.6 Kết quả nghiên cứu liên quan đến đề tài
Một số công trình nghiên cứu liên quan đến tình hình sản xuất, chế biến
và tiêu thụ vải quả tươi ở nước ta hiện nay như:
Dự án, năm 2003 “Phân tích những yếu tố cơ bản tác động đến hiệu quả sản xuất kinh doanh vải quả hàng hóa ở Huyện Lục Ngạn” thuộc chương trình nghiên cứu Việt Nam- Hà Lan
Trang 39Đề tài nghiên cứu thường xuyên, năm 2005 “Nghiên cứu cơ sở khoa học cho các giải pháp chính sách nhằm phát triển bền vững cây ăn quả hàng hóa vùng miền núi và trung du phía Bắc Việt Nam: Trường hợp nghiên cứu cây vải quả.” của Viện kinh tế nông nghiệp
Đề tài thạc sỹ kinh tế, năm 1996 “Phân tích ngành hàng vải ở huyện Lục Ngạn tỉnh Bắc Giang” của Nguyễn Thị Vang
Đề tài thạc sỹ kinh tế “ Nghiên cứu hiệu quả kinh tế sản xuất vải tại huyện Thanh Hà - Hải Dương” của Nguyễn Thị Tân Lộc
Chương trình nghiên cứu của Malica, năm 2005 “Sự tham gia của người nghèo trong chuỗi giá trị của ngành hàng vải ở Hà Nội”
Đề tài nghiên cứu, năm 2006 “Phân tích hoạt động của các kênh hàng vải thiều huyện Thanh Hà - tỉnh Hải Dương” của Nguyễn Tiến Định
Các đề tài trên chỉ mới tập trung nghiên cứu về cung, các yếu tố kỹ thuật sản xuất vải quả tươi và một số vấn đề liên quan đến sản xuất vải quả tươi, như xóa đói giảm nghèo… Cho đến nay chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu sâu về cầu tiêu dùng vải quả tươi ở thị trường Hà Nội Do vậy, chúng tôi chọn nghiên cứu địa bàn Hà Nội về cầu của thị trường vải quả tươi
là rất cần thiết và tương đối chính xác để có thể nắm bắt được một phần nào
được sở thích, thị hiếu về tiêu dùng vải quả tươi của người dân thủ đô Hà Nội
là nơi mà đời sống của người dân tương đối cao, có thị trường lớn thứ 2 sau thành phố Hồ Chí Minh, một điểm cũng rất quan trọng đó là Hà Nội nằm ở gần với các vùng vải lớn như Hải Dương, Bắc Giang… nên thuận lợi cho việc vận chuyển, giảm chi phí, mà điều là rất quan trọng ảnh hưởng đến giá của sản phẩm vải quả tươi
Trang 403 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu và phương pháp nghiên
cứu
3.1 Đặc điểm chung của địa bàn nghiên cứu Hà Nội
3.1.1 Điều kiện tự nhiên
Vị trí địa lý:
Hà Nội nằm ở vị trí trung tâm đồng bằng Bắc Bộ, trong khoảng 200 53”
-210 23” vĩ độ Bắc và 1050 44”- 1060 02” kinh độ Đông,
Phía Bắc giáp Thái Nguyên,
Phía Nam giáp Hưng Yên- Hà Tây,
Phía Tây và Tây Nam giáp Hà Tây, Vĩnh Phúc,
Phía Đông và Đông Nam giáp Bắc Ninh, Bắc Giang và Hưng Yên
Hà Nội là trung tâm văn hóa, kinh tế và chính trị của cả nước, là vùng
đất thiêng là kho nguyên khí lớn của đất nước và là một trong những thủ đô lâu đời nhất trên thế giới
Hà Nội là một đầu mối giao thông vô cùng quan trọng của cả nước Tại
đây là nơi đi qua của các trục đường quốc lộ chính, nối liền với tất cả các tỉnh trong nước Ngoài ra trong địa bàn thành phố còn có sân bay quốc tế Nội Bài,
hệ thống đường sắt và đường sông nên đây là điều kiện thuận lợi cho việc giao lưu buôn bán hàng hoá với các tỉnh trong nước và quốc tế
Địa hình đất đai:
Hà Nội là khu vực chuyển tiếp giữa vùng gò đồi trung du với vùng đồng bằng sông Hồng nên địa hình có xu hướng thấp dần từ Bắc xuống Nam và từ Tây sang Đông với độ cao trung bình 5-20m so với mặt biển Căn cứ vào quá trình hành thành và cấu trúc địa hành, người ta chia Hà Nội thành 2 vùng chính: (1) vùng Đồng Bằng, là địa hình đặc trưng chủ yếu của Hà Nội với 90%