luận văn
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo Trường Đại học nông nghiệp I
_
Nguyễn Kiên Cường
Nghiên cứu hiệu quả kinh tế của các mô hình nuôi thuỷ sản huyện Kim Bảng – Hà Nam
Chuyên ngành : Kinh tế nông nghiệp
Mã số : 60.31.10
Luận văn thạc sĩ kinh tế
Người hướng dẫn khoa học: TS Trần Văn Đức
Hà nội - 2006
Trang 2Lời cam đoan Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan rằng: số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng: mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, 2006 Tác giả
Nguyễn Kiên Cường
Trang 3Lời cảm ơn
Để thực hiện và hoàn thành luận văn này, chúng tôi đã nhận
được sự quan tâm giúp đỡ tận tình về nhiều mặt của các cá nhân và tổ chức Cho phép tôi được bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đến
- TS. Trần Văn Đức, người đã hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
- Lãnh đạo trường Đại học Nông nghiệp I - Hà Nội, Khoa Sau
Đại học, khoa Kinh tế nông nghiệp và phát triển nông thôn, bộ môn Kinh tế cùng toàn thể các thầy cô giáo và cán bộ công nhân viên nhà trường đã tạo mọi điều kiện cho tôi học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
- Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Hà Nam, Uỷ ban nhân dân huyện , phòng địa chính, phòng nông nghiệp, phòng thống kê, lãnh đạo các xã và các hộ gia đình nuôi trồng thuỷ sản, những người đã cung cấp số liệu, tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp tôi hoàn thành luận văn này
- Ban giám hiệu và các phòng chức năng trường Trung học Thuỷ lợi I đã tạo điều kiện giúp đỡ cho tôi về mặt thời gian và vật chất trong suốt quá trình học tập và làm luận văn
- Tôi xin chân thành cảm ơn các nhà khoa học, bạn bè, đồng nghiệp, người thân đã động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Trang 4Mục lục
Trang
3 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu 48
3.2 Phương pháp nghiên cứu và các chỉ tiêu đánh giá 64
4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 68
4.1 Phân tích thực trạng phát triển và kết quả hiệu quả ngành nuôi
Trang 54.1.2 T×nh h×nh n¨ng suÊt vµ s¶n l−îng 724.2 HiÖu qu¶ kinh tÕ ngµnh nu«i thuû s¶n cña huyÖn 74
4.2.2 HiÖu qu¶ kinh tÕ - xR héi vµ m«i tr−êng cña ngµnh nu«i thuû s¶n 754.3 KÕt qu¶ vµ hiÖu qu¶ kinh tÕ cña mét sè lo¹i h×nh nu«i thuû s¶n cña
4.3.2 KÕt qu¶ hiÖu qu¶ mét sè lo¹i h×nh nu«i thuû s¶n trªn ao hå nhá 78
4.3.4 So s¸nh kÕt qu¶ vµ hiÖu qu¶ c¸c m« h×nh nu«i thuû s¶n 944.3.5 Mét sè yÕu tè chñ yÕu ¶nh h−ëng tíi ph¸t triÓn nu«i thuû s¶n
Trang 6Danh môc c¸c ch÷ viÕt t¾t
Trang 7Danh mục các bảng
Trang
Bảng 2.1 Thành phần các chất dinh dưỡng trung bình của một
số thực phẩm thuỷ sản và thực phẩm khác 17Bảng 2.2 Đặc điểm các loại hình mặt nước trong nuôi trồng
Bảng 2.3 10 nước NTTS hàng đầu thế giới năm 2000 28Bảng 2.4 Sản lượng NTTS thế giới năm 2001 theo vùng nước 28Bảng 2.5 Diện tích các loại hình mặt nước nuôi trồng thuỷ
Bảng 3.1 Thành phần cơ học của đất đáy các thuỷ vực 52
Bảng 3.3 Cơ cấu diện tích các loại đất của huyện 57Bảng 3.4 Tình hình sử dụng đất của huyện Kim Bảng qua 3
Trang 8Bảng 4.4 Năng suất thuỷ sản theo loại hình mặt nước huyện
Bảng 4.8 Hiệu quả mô hình nuôi cá truyền thống với cá trê lai
trong ao hồ nhỏ hộ gia đình huyện Kim Bảng năm
Bảng 4.9 Hiệu quả mô hình nuôi cá truyền thống với chép lai
trong ao hồ thuộc quyền sở hữu của hợp tác xR ở
Bảng 4.12 Hiệu quả mô hình nuôi kết hợp tôm càng xanh lúa
Bảng 4.13 Tổng hợp kết quả và hiệu quả của các mô hình nuôi TS 94Bảng 4.14 Trình độ học vấn của người nuôi trồng thuỷ sản 96Bảng 4.15 Một số chỉ tiêu kết quả hiệu quả theo cơ cấu đầu tư
chi phí cho 1 ha nuôi thuỷ sản huyện Kim Bảng 100Bảng 4.16 Hiệu quả kinh tế cho 1 ha nuôi cá theo mức độ hiểu
Trang 9Bảng 4.17 Các chỉ tiêu kinh tế cho phát triển nuôi thuỷ sản
Bảng 4.21 Dự kiến nhu cầu vốn đầu t− phát triển cho 1 ha nuôi
thuỷ sản huỵên Kim Bảng giai đoạn dến 2010 122Bảng 4.22 Dự kiến một số chỉ tiêu phát triển nuôi thủy sản
Danh mục biểu đồ
Đồ thị 2.1 Quan hệ giữa hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân bổ 9Biểu đồ 4.1 Cơ cấu diện tích đR nuôi thuỷ sản của huyện 2003-2005 70Biểu đồ 4.2 Nguồn cung cấp kiến thức nuôi trồng 96
Trang 101 Mở đầu
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Dân số và thu nhập ngày một tăng, nên cầu về thực phẩm chất lượng cao chứa nhiều dinh dưỡng cũng tăng theo đặc biệt là những sản phẩm của ngành thủy sản
Do vậy ngành thuỷ sản đR trở thành mục tiêu, chiến lược phát triển của nhiều quốc gia trên thế giới Những năm gần đây, ngành thuỷ sản đR góp phần
đáng kể vào việc tăng trưởng kinh tế, đR tạo ra nhiều công ăn, việc làm tăng thu nhập cho nhiều người dân và mở ra hướng làm ăn đầy triển vọng góp phần xoá đói, giảm nghèo, chuyển đổi cơ cấu kinh tế vùng nông thôn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, khai thác sử dụng đất đai, tiền vốn và lao
động có hiệu quả hơn
Tuy nhiên trong quá trình phát triển ngành thuỷ sản cũng còn bộc lộ một số hạn chế như chạy theo lợi nhuận nên diện tích nuôi thuỷ sản ngày càng
được mở rộng bằng nhiều hình thức nuôi mang tính tự phát, như chuyển đổi
đất nông nghiệp, đất diêm nghiệp, đất rừng sang nuôi thuỷ sản Sự phát triển tới mức các yếu tố kỹ thuật, con giống, cơ sở hạ tầng thiết lập quy hoạch khoanh vùng nuôi trồng, vốn sản xuất, kiểm soát dịch bệnh chưa đáp ứng kịp nên đR có nhiều vùng thua lỗ trong nuôi thuỷ sản
Hà Nam nói chung và Kim Bảng nói riêng là một huyện thuộc khu vực châu thổ sông Hồng, có một tiềm năng lớn về diện tích mặt nước Đây là điều kiện phát triển nuôi trồng thuỷ sản Nhưng trong những năm qua việc quản lý, khai thác diện tích mặt nước để phát triển ngành còn nhiều bất cập, đặc biệt là hiệu quả kinh tế của các mô hình nuôi thuỷ sản còn thấp Do vậy vấn đề đặt ra
là huyện Kim Bảng nên lựa chọn mô hình nuôi thuỷ sản nào thì có hiệu quả? Biện pháp nào cần tác động để nâng cao hiệu quả kinh tế của nuôi thuỷ sản?
Trang 11Đây là những vấn đề được các cấp uỷ Đảng, chính quyền đoàn thể và các nhà khoa học nghiên cứu hết sức quan tâm
Để góp phần nhỏ của mình vào việc phát triển ngành thuỷ sản của huyện Kim Bảng Được sự nhất trí của khoa kinh tế, địa phương tôi lựa chọn
đề tài: "Nghiên cứu hiệu quả kinh tế của các mô hình nuôi thuỷ sản huyện Kim Bảng - tỉnh Hà Nam" làm luận văn thạc sỹ kinh tế
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu chung
Đánh giá đúng hiệu quả kinh tế của các mô hình nuôi thuỷ sản của huyện Kim Bảng - Hà Nam từ đó đưa ra giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế của các mô hình nuôi thuỷ sản
Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hoá lý luận thực tiễn và hiệu quả kinh tế về nuôi thuỷ sản
- Đánh giá thực trạng kết quả và hiệu quả kinh tế của các mô hình nuôi thuỷ sản của huyện Kim Bảng - Hà Nam
- Xác định những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế của các mô hình nuôi thuỷ sản
- Đưa ra định hướng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế của ngành nuôi thuỷ sản huyện Kim Bảng trong thời gian tới
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
- Nghiên cứu những vấn đề kinh tế - kỹ thuật liên quan đến hiệu quả kinh tế của nuôi thuỷ sản huyện Kim Bảng - Hà Nam
- Các mô hình nuôi thuỷ sản của huyện Kim Bảng - Hà Nam
Trang 12Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: bao gồm diện tích nuôi thuỷ sản, năng suất, sản lượng, hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị sản xuất nuôi thuỷ sản, các hộ nông dân trong vùng nghiên cứu
- Về không gian: đề tài tiến hành nghiên cứu trên địa bàn huyện Kim Bảng - tỉnh Hà Nam
- Về thời gian: nghiên cứu thực trạng phát triển nuôi thuỷ sản tại huyện Kim Bảng qua các năm 2003 - 2004 và 2005 Từ đó đưa ra định hướng và giải pháp chủ yếu cho phát triển nuôi thuỷ sản của vùng này trong thời gian tiếp theo năm 2006-2010
Trang 132 Cơ sở lý luận và thực tiễn
2.1 Những vấn đề cơ bản về hiệu quả
2.1.1 Các quan điểm về hiệu quả kinh tế
2.1.1.1 Các quan điểm về hiệu quả kinh tế
Quan điểm chung cho rằng hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế phản ảnh mặt chất của các hoạt động sản xuất Mục tiêu của sản xuất là đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về vật chất và tinh thần của toàn xR hội, trong khi nguồn lực sản xuất xR hội ngày càng trở nên khan hiếm Việc nâng cao hiệu quả kinh tế ngày một đòi hỏi khách quan của mọi nền sản xuất xR hội Mục tiêu lâu dài của người sản xuất kinh doanh là không ngừng tìm mọi biện pháp
để tối đa hoá lợi nhuận Vấn đề hiệu quả kinh tế không chỉ là mối quan tâm riêng của các nhà sản xuất mà là mối quan tâm chung của toàn xR hội Khi bàn về hiệu quả kinh tế có nhiều quan điểm khác nhau nhưng có một số quan
điểm chủ yếu sau:
* Quan điểm 1: hiệu quả kinh tế chỉ là chỉ tiêu tổng hợp nhất về chất lực của sản xuất kinh doanh Nội dung của nó so sánh kết quả sản xuất đạt được với chi phí bỏ ra [1]
Phương pháp này có ưu điểm là phản ánh rõ nét trình độ sử dụng của nguồn lực, xem xét được một đơn vị nguồn lực đR sử dụng đem lại bao nhiêu kết quả, hoặc một đơn vị kết quả cần tiêu tốn bao nhiêu đơn vị nguồn lực
* Quan điểm 2: hiệu quả kinh tế trên quan điểm thị trường
Hầu hết các nguồn lực sản xuất đều thuộc dạng khan hiếm trong khi nhu cầu của con người ngày càng tăng nhanh về cả số lượng và chất lượng Do vậy vấn đề đặt ra là phải tiết kiệm nguồn lực từng bước khai thác và sử dụng
Trang 14các nguồn lực nói chung, trước hết mỗi quá trình sử dụng và lựa chọn đầu vào tối ưu Nâng cao hiệu quả kinh tế có nghĩa là nâng cao trình độ sử dụng nguồn lực, nó có quan hệ chặt chẽ với việc tổ chức sử dụng năng lực sản xuất hiện
có Một doanh nghiệp hoạt động hiệu quả khi mức sản xuất nằm trên đường cong năng lực sản xuất Điểm có hiệu quả nhất là điểm cho phép sản xuất tối
đa các hàng hoá theo yêu cầu của thị trường và sử dụng đầy đủ hợp lý năng lực sản xuất của doanh nghiệp [1]
* Quan điểm 3: trên quan điểm của các nhà kinh tế học các doanh nghiệp tham gia thị trường đều đặt mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận Trong ngắn hạn, nguyên tắc chung lựa chọn sản lượng tối ưu (Q*) để đạt mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận là: MR = MC (MR là doanh thu biên, MC là chi phí cận biên) Như vậy doanh nghiệp tăng sản lượng sản xuất đến chừng nào doanh thu cận biên còn lớn hơn chi phí cận biên (MR > MC) đến khi có MR = MC thì dừng lại Tại
đây sản lượng sản xuất là sản lượng tối ưu (Q*) để tối đa hoá lợi nhuận [1]
Bên cạnh đó các tác giả có quan điểm này còn khẳng định rằng hiệu quả kinh tế không chỉ xem xét đến nội dung tiết kiệm chi phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm mà con phải xét tới khía cạnh thoả mRn nhu cầu hàng hoá và dịch vụ cho xR hội
Như vậy hiệu quả kinh tế theo quan điểm của các nhà khoa học:
- Tất cả những quyết định sản xuất nằm trên đường cong giới hạn năng lực là có hiệu quả vì nó tận dụng hết nguồn lực của doanh nghiệp
- Sự thoả mRn tối đa về mặt hàng, số lượng, chất lượng hàng hoá theo nhu cầu của thị trường trên giới hạn của đường cong năng lực sản xuất đạt
được hiệu quả kinh tế cao nhất
- Kết quả thu được trên một đơn vị chi phí càng lớn, hoặc chi phí trên một đơn vị kết quả càng nhỏ thì hiệu quả kinh tế càng cao
Trang 15Trong nền kinh tế quốc dân gồm rất nhiều doanh nghiệp, mỗi doanh nghiệp lựa chọn sản xuất, có hiệu quả kinh tế cao thì nền kinh tế quốc dân sẽ
đạt hiệu quả cao, tốc độ phát triển kinh tế cao và ổn định
Tóm lại, hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế phản ánh mặt chất lượng của quá trình sản xuất và được thể hiện bằng việc so sánh giữa kết quả
đạt được với chi phí bỏ ra, đồng thời nó liên quan trực tiếp tới quá trình sản xuất với tất cả các phạm trù và các quy luật kinh tế khác
2.1.1.2 Phân loại hiệu quả kinh tế
Để làm rõ hiệu quả kinh tế ta phân loại chúng theo những tiêu thức nhất
định như sau:
* Căn cứ theo nội dung và bản chất có thể phân thành 3 loại: Hiệu quả kinh
tế, hiệu quả xR hội và hiệu quả môi trường Chúng có mối quan hệ qua lại tác
động lẫn nhau
- Hiệu quả kinh tế được thể hiện ở mức độ đặc trưng quan hệ so sánh giữa lượng kết quả đạt được và lượng chi phí bỏ ra Một lượng phương án hay, một giải pháp kỹ thuật quản lý có hiệu quả kinh tế cao là phương án đạt được tương quan tương đối giữa kết quả đem lại và chi phí đầu tư Khi xác định
được hiệu quả kinh tế ta phải xem xét đầy đủ mối quan hệ kết hợp chặt chẽ giữa các đại lượng tương đối và đại lượng tuyệt đối Hiệu quả kinh tế ở đây
được biểu hiện bằng tổng giá trị sản phẩm, tổng thu nhập lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận, mối quan hệ đầu vào đầu ra
- Hiệu quả xR hội là mối tương quan so sánh về mặt xR hội như tạo công
ăn, việc làm, tạo thu nhập và đảm bảo cân bằng xR hội trong cộng đồng, cải thiện đời sống ở nông thôn, xoá đói, giảm nghèo…
- Hiệu quả môi trường: đánh giá sự tác động cuả phương án sản xuất
đến tài nguyên và môi trường sinh thái xem xét việc sử dụng tài nguyên và các
Trang 16ngoại ứng của hoạt động sản xuất trong mối quan hệ vừa đảm bảo nhu cầu trước mặt mà không làm hại đến khả năng đảm bảo nhu cầu cho thế hệ tương lai [13]
Trong các loại hiệu quả được xem xét thì hiệu quả kinh tế là trọng tâm
và quyết định nhất Hiệu quả đầy đủ nhất khi có sự kết hợp hài hoà với hiệu quả xR hội và hiệu quả môi trường
* Nếu căn cứ vào các yếu tố cơ bản của sản xuất và hướng tác động vào sản xuất thì có thể phân chia hiệu quả kinh tế thành các loại
- Hiệu quả sử dụng đất đai
- Hiệu quả sử dụng vốn
- Hiệu quả sử dụng lao động
- Hiệu quả sử dụng các nguồn tài nguyên khác
- Hiệu quả của việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật
* Theo phạm vi và đối tượng nghiên cứu có thể chia thành các loại sau
- Hiệu quả kinh tế quốc dân: là tính toán xem xét hiệu quả kinh tế chung cho toàn bộ nền kinh tế Dựa vào chỉ tiêu này, chúng ta đánh giá một cách toàn diện tình hình sản xuất và phát triển sản xuất của nền kinh tế, hệ thống luật pháp, chính sách của Nhà nước tác động đến phát triển kinh tế nói chung Khi đánh giá chúng ta phải đứng trên quan điểm toàn diện, nhìn nhận nền kinh tế quốc dân là một chính thể thống nhất
- Hiệu quả kinh tế ngành: trong nền kinh tế gồm nhiều ngành, lĩnh vực sản xuất Mỗi ngành lại được phân thành nhiều ngành nhỏ Trong hiệu quả kinh tế ngành, người ra tính toán hiệu quả kinh tế riêng cho từng ngành sản xuất
Trang 17- Hiệu quả kinh tế vùng là phản ánh hiệu quả kinh tế của một vùng, có thể là vùng kinh tế, vùng lRnh thổ
- Hiệu quả kinh tế theo quy mô tổ chức sản xuất có nhiều loại quy mô, quy mô lớn, quy mô nhỏ Nỗi quy mô sản xuất có ưu thế, thế mạnh riêng như quy mô lớn có nhiều ưu thế trong cạnh tranh song, quy mô nhỏ lại có ưu thế là gọn nhẹ, tổ chức chặt chẽ, thoả mRn những lỗ hổng "cơ cấu thị trường"
* Khi đề cập tới hiệu quả các nguồn lực, thông thường người ta nói tới hiệu quả kinh tế và việc sử dụng các nguồn lực đó Hiệu quả sản xuất đD được nhiều nhà kinh tế bàn tới và đều thống nhất là phải phân biệt rõ 3 khái niệm cơ bản về hiệu quả
- Hiệu quả kỹ thuật: là số lượng sản phẩm có thể đạt được trên 1 chi phí
đầu vào hay nguồn lực sử dụng trong sản xuất với những điều kiện cụ thể về
kỹ thuật hay công nghệ áp dụng vào sản xuất hiệu quả kỹ thuật thường được phản ánh trong mối quan hệ về hàm sản xuất, nó liên quan tới phương tiện vật chất của sản xuất, chỉ ra rằng một đơn vị nguồn lực dùng vào sản xuất đem lại bao nhiêu đơn vị sản phẩm hoặc tăng thêm bao nhiêu đơn vị sản phẩm [12]
- Hiệu quả phân bổ: là chỉ tiêu hiệu quả trong đó các yếu tố giá sản phẩm và giá đầu vào được đưa vào tính toán, để phản ánh giá trị sản phẩm thu trên một đơn vị chi phí thêm về đầu vào hay nguồn lực [12] Thực chất của hiệu quả phân bổ là hiệu quả kỹ thuật có tính đến các yếu tố về giá đầu vào và giá đầu ra Việc xác định hiệu quả phân bổ giống như xác định các điều kiện
về lý thuyết biên để tối đa hoá lợi nhuận, có nghĩa là giá trị biên của sản phẩm phải bằng giá trị biên của nguồn lực sử dụng vào sản xuất
- Hiệu quả kinh tế: là phạm trù kinh tế mà trong đó sản xuất đạt cả hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân bổ Điều đó có nghĩa là các yếu tố hiện vật và yếu tố giá trị đều tính đến khi xem xét viiệc sử dụng nguồn lực Chỉ khi nào việc sử dụng nguồn lực đạt cả hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân bổ thì khi đó
Trang 18sản xuất mới đạt hiệu quả kinh tế Sự khác nhau về hiệu quả kinh tế của các doanh nghiệp có thể do sự khác nhau giữa hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân
Y2
Hiệu quả phân bổ (AE) = *1
YY
Hiệu quả kinh tế (EE) =
1Y
Y2
Như vậy qua phân tích cách phân loại như trên chúng ta thấy rằng tuy
có nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả kinh tế nhưng đều thống nhất ở bản chất của nó Người sản xuất muốn thu được lợi nhuận thì phải bỏ ra những chi phí nhất định như nhân lực, nguyên vật liệu, vốn…, so sánh kết quả đạt
Trang 19được với chi phí bỏ ra để đạt kết quả sẽ có hiệu quả kinh tế, chênh lệch càng cao thì hiệu quả kinh tế càng lớn
2.1.1.3 Bản chất và ý nghĩa của việc nâng cao hiệu quả kinh tế
Bản chất của hiệu quả kinh tế là sự thoả mRn mục đích của các hoạt
động sản xuất kinh doanh trong những điều kiện nhất định của đơn vị sản xuất nói riêng hay của nền kinh tế nói chung
Bất kỳ một quốc gia nào hay một đơn vị nào khi đi vào hoạt động sản xuất đều mong muốn với nguồn lực có hạn có thể tạo ra được lượng sản phẩm nhiều nhất, với giá trị và chất lượng cao nhất để từ đó thu được lợi nhuận lới nhất Nâng cao hiệu quả kinh tế là cơ hội để tăng được lợi nhuận từ đó làm cơ
sở để nhà sản xuất, tích luỹ vốn và tiếp tục đầu tư tái sản xuất mở rộng, cải thiện thu nhập của người lao động
Nâng cao hiệu quả kinh tế là quá trình tất yếu của sự phát triển xR hội, tuy nhiên ở các vị trí khác nhau thì có mục đích khác nhau Đối với người sản xuất, tăng hiệu quả chính là tăng lợi nhuận, đối với người tiêu dùng thì tăng hiệu quả chính là khi họ nâng cao được độ thoả dụng khi sử dụng hàng hoá Như vậy nâng cao hiệu quả kinh tế là làm cho cơ xR hội có lợi, bởi lẽ lợi ích của cả người sản xuất và người tiêu dùng đều được nâng lên
Tóm lại: nâng cao hiệu quả kinh tế có ý nghĩa rất quan trọng Nó giúp
xR hội sử dụng nguồn lực một cách tiết kiệm và hiệu quả, nâng cao thu nhập cho cộng đồng
2.1.1.4 Tiêu chuẩn về hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế
Để đánh giá được hiệu quả kinh tế cần dựa vào hệ thống chỉ tiêu, hệ thống chỉ tiêu đánh giá, hiệu quả kinh tế phải xuất phát từ bản chất của hiệu quả và phải đáp ứng được các yêu cầu sau:
Trang 20- Phải đảm bảo tính thống nhất về nội dung với hệ thống chỉ tiêu của nền kinh tế quốc dân nói chung và ngành nông nghiệp nói riêng
- Phải đảm bảo tính toàn diện và tính hệ thống, tính toàn diện thể hiện ở chỗ phải có đầy đủ các chỉ tiêu tổng quát, chỉ tiêu bộ phận, chỉ tiêu chủ yếu, chỉ tiêu bổ sung… tính hệ thống thể hiện 3 chỗ nó phải là một bộ phận thống nhất của hệ thống chỉ tiêu cùng loại trong hệ thống chỉ tiêu của nền kinh tế quốc dân
- Phương pháp tính phải nhất quán đảm bảo có thể so sánh được hiệu quả kinh tế ở các vùng khác nhau, các họ khác nhau và có khả năng so sánh quốc tế trong đối ngoại
- Hệ thống chỉ tiêu phải có tác dụng kích thích sự phát triển của sản xuất
- Phải đảm bảo tính khoa học
Hệ thống chỉ tiêu hiệu quả kinh tế bắt nguồn từ bản chất hiệu quả kinh tế
Đó là mối quan hệ giữa các yếu tố đầu vào và đầu ra, có thể biểu thị chỉ tiêu hiệu quả bằng sự mô phỏng tổng quát theo các công thức cơ bản sau[17]:
Công thức 1:
Hiệu quả = Kết quả thu được - Chi phí bỏ ra
Hay H = Q - C Khi so sánh việc dùng số tuyệt đối là cần thiết tuy nhiên để xác định
được điểm hiệu quả nhất là bao nhiêu, hay ở điểm nào là rất khó khăn Chỉ tiêu này cho chúng ta biết được quy mô sản xuất lớn hay nhỏ nhưng lại không phản ánh được hiệu quả của một đồng vốn đầu tư Từ công thức này ta có thể
đánh giá về tổng giá trị gia tăng (VA) tổng thu nhập hỗn hợp (MI) hay lRi ròng thu được Để có sự so sánh một cách xác đáng hơn người ta thường dùng kết hợp với chỉ tiêu tương đối
Trang 21Công thức 2: chỉ tiêu này cho ta biết mức độ hiệu quả của đầu tư và
được dùng khá phổ biến trong so sánh và đánh giá hiệu quả kinh tế
Kết quả thu được Hiệu quả =
Chi phí bỏ ra
Q
hay H =
C Công thức này phản ánh rõ hiệu quả sử dụng các nguồn lực sản xuất Từ công thức chung này, ta có thể tính được các chỉ tiêu như: tỷ suất giá trị sản xuất tính theo tổng chi phí, theo chi phí trung gian hay chi phí một đầu vào cụ thể nào đó
Trong thực tiễn, khi đánh giá hiệu quả kinh tế người ta thường dùng kết hợp cả 2 chỉ tiêu tương đối và tuyệt đối, hai chỉ tiêu này bổ sung cho nhau cho
ta đánh giá hiệu quả kinh tế một cách đầy đủ và chính xác hơn
Ngoài ra khi so sánh hiệu quả kinh tế việc đầu tư thâm canh người ta thường tính hiệu quả dựa trên tỷ lệ của chênh lệch kết quả thu được và chênh lệch chi phí bỏ ra Khi đó chỉ tiêu thường dùng như sau:
Chênh lệch kết quả thu được Hiệu quả =
Chênh lệch chi phí bỏ ra
∆Q hay H =
∆C Công thức này thể hiện rõ hơn mức độ hiệu quả của việc đầu tư thêm, hay tăng thêm chi phí Chi tiêu này thường được sử dụng để xác định hiệu quả kinh tế của đầu tư theo chiều sâu hoặc hiệu quả kinh tế của việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật
Hiệu quả = Chênh lệch kết quả thu được - Chênh lệch chi phí bỏ ra
Trang 22hay H = ∆Q - ∆C
2.1.1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế
Theo cách tính hiệu quả kinh tế
C
Q
H = có thể nhận ra có 2 nhóm yếu tố
ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế đó là: nhóm yếu tố cấu thành và ảnh hưởng
đến tử số (Q), nhóm yếu tố cấu thành và ảnh hưởng đến mẫu số (C)
- Nhóm yếu tố cấu thành ảnh hưởng đến mẫu số (C)
Quá trình sản xuất là tập hợp tất cả các chi phí nguồn lực đầu vào và các yếu tố ảnh hưởng đến nguồn lực đó Các chi phí cơ bản phục vụ sản xuất thường có: nguyên vật liệu, sức lao động, công nghệ và trang thiết bị Tuy nhiên chi phí cho mỗi nguồn lực lại chịu sự ảnh hưởng của rất nhiều các yếu
tố khác, cụ thể là:
+ Các yếu tố ảnh hưởng đến chi phí nguyên vật liệu như: giá mua, điều kiện tự nhiên của kỳ thu mua đối tượng cung cấp, hình thức vận chuyển
+ Các yếu tố ảnh hưởng đến khấu hao tài sản cố định như: mức độ hiện
đại của công nghệ, giá thành lắp đặt, thời gian sử dụng
+ Chi phí lao động phục vụ sản xuất chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố như: sức lao động, trình độ lao động, thị trường lao động, chiến lược đào tạo sử dụng lao động của nhà sản xuất
+ Chi phí thuế sản xuất chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố như: chính sách thuế của Chính phủ, mặt hàng của doanh nghiệp, thị trường tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp
- Nhóm yếu tố cấu thành và ảnh hưởng đến tử số (Q)
Nhóm này thể hiện giá trị sản phẩm của quá trình sản xuất, phụ thuộc vào 2 yếu tố chủ yếu là giá bán và sản lượng hàng hoá sản xuất ra
Trang 23+ Các yếu tố ảnh hưởng đến giá bán như: thị phần của doanh nghiệp, chất lượng sản phẩm, kênh tiêu thụ chiến lược Maketing sản phẩm của nhà sản xuất chính sách phát triển sản xuất của Chính phủ, mức độ ổn định của chính trị
+ Các yếu tố ảnh hưởng đến sản lượng sản phẩm bao gồm điều kiện tự nhiên (đặc biệt với sản phẩm nông nghiệp), quy mô của doanh nghiệp, mức độ thuận lợi trong thu mua nguyên liệu, thị trường tiêu thụ
Như vậy có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế Tuy nhiên mức độ tác động của các yếu tố này khác nhau tuỳ thuộc vào điều kiện tự nhiên, chính sách phát triển kinh tế, năng lực của nhà sản xuất và lực lượng lao động, mức độ phát triển khoa học công nghệ, tập quán tiêu dùng Từ những phân tích trên, cho phép đưa ra những nhận xét về hiệu quả kinh tế
Đánh giá chính xác hiệu quả kinh tế, để nâng cao hiệu quả kinh tế là
điều kiện không dễ dàng để làm được việc đó phải đánh giá chính xác các yếu
tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế - các yếu tố cấu thành và tác động đến đầu vào và đầu ra của quá trình sản xuất
Hiệu quả kinh tế luôn biến động, chỉ thể hiện tương đối chính xác mối quan hệ giữa giá trị các yếu tố đầu vào và giá trị sản phẩm đầu ra trong một giai đoạn nhất định
Hiệu quả kinh tế luôn nằm ở một trong 3 khả năng Đó là lỗ vốn hoà vốn (H = 1) và lRi (H > 1) mới đạt hiệu quả kinh tế Do đó bất kỳ nhà sản xuất nào cũng cố gắng tiết kiệm chi phí (áp dụng khoa học công nghệ, tăng quy mô…) áp dụng các chiến lượng marketing để đẩy mạnh mục đích là đạt hiệu quả kinh tế cao
Trang 242.1.2 Những vấn đề cơ bản về ngành thuỷ sản
2.1.2.1 Một số khái niệm
* Nuôi trồng thuỷ sản: theo định nghĩa của FAO (1992), nuôi trồng thuỷ sản là các hoạt động canh tác trên đối tượng sinh vật thuỷ sinh như cá, nhuyễn thể, giáp xác, thực vật thuỷ sinh Quá trình này bắt đầu từ thả giống, chăm sóc, nuôi lớn cho tới khi thu hoạch xong Có thể nuôi từng cá thể hay cả quần thể với nhiều hình thức nuôi theo các mức độ thâm canh khác như như quảng canh, bán thâm canh và thâm canh
* Quảng canh là hình thức canh tác ở mức độ đầu tư thấp, nguồn dinh dưỡng chỉ trông vào tự nhiên Hình thức nuôi cá kết hợp trồng lúa hoặc cây trồng khác chủ yếu thuộc hình thức này
* Bán thâm canh là hình thức canh tác ở mức độ đầu tư trung bình, nguồn dinh dưỡng vẫn chủ yếu phụ thuộc vào nguồn dinh dưỡng được cung cấp từ tự nhiên là chính Lượng thức ăn, phân bón tuy có bổ sung nhưng không nhiều
* Thâm canh là hình thức chăn nuôi với mức độ đầu tư tương đối cao Nguồn dinh dưỡng chủ yếu dựa vào thức ăn được cung cấp Đó là những thức
ăn trộn tươi sống hay đR sấy khô Sự gia tăng sản lượng có thể có nhờ đóng góp của thức ăn tự nhiên nhưng không đáng kể
* Nuôi tổng hợp (nuôi ghép) là nuôi nhiều đối tượng trong cùng thuỷ vực với mục đích chính là lợi dụng tự nhiên một cách hợp lý Thí dụ: nuôi ghép cá trắm cỏ với cá mè trắng, mè hoa và một số loại cá khác; nuôi ghép cá trắm cỏ với cá trôi ấn, cá mè trắng, mè hoa và một số loại khác
* Nuôi chuyên canh (nuôi đơn) là hình thức nuôi chỉ với một loại cá có khả năng cho hiệu quả kinh tế cao,người nuôi tạo điều kiện thuận lợi nhất về
Trang 25thức ăn, phân bón cho chúng để thu hoạch với năng suất cao nhất có thể đạt
được
* Nuôi kết hợp (nuôi bền vững) là hình thức nuôi mà chất thải của quá trình này là chất dinh dưỡng cung cấp cho quá trình kia, như nuôi theo hệ VAC, nuôi với công thức cá - vịt hoặc cá - lợn, nuôi cá trong ruộng cấy lúa
* Nuôi luân canh là hình thức sử dụng nhiều vụ nối tiếp nhau, đối tượng nuôi vụ sau sử dụng chất thải hay vật chất còn lại của đội tượng nuôi vụ trước, như lúa (vụ xuân) + cá (vụ mùa)[8]
2.1.2.2 Vai trò của phát triển nuôi thuỷ sản
Ngành thuỷ sản nói chung, ngành nuôi thuỷ sản nói riêng có vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế - xR hội của các quốc gia, đặc biệt là các quốc gia có hoạt động nuôi thuỷ sản Vai trò của nuôi thuỷ sản thể hiện trên các nội dung sau[4]:
- Nuôi thuỷ sản là ngành quan trọng trong cung cấp thực phẩm cho nhu cầu đời sống con người: thực phẩm nói chung là một trong những nguồn cung cấp năng lượng chủ yếu cho hoạt động sống của con người, thực phẩm thuỷ sản còn có các ưu thế riêng: thành phần chất đạm cao, ít mỡ, mỡ dễ tiêu, giàu chất khoáng…đang ngày càng trở thành nguồn thực phẩm được nhiều người
ưa chuộng, có nhu cầu ngày càng cao trên thế giới Trong khi đó nguồn lợi thuỷ sản tự nhiên là có giới hạn và hiện đang bị khai thác đến mức báo động
do đó việc đẩy mạnh phát triển nuôi thuỷ sản một cách hiệu quả và bền vững hiện đang trở thành một trong những mục tiêu kinh tế của tất cả các quốc gia
có phát triển nuôi thuỷ sản
Số liệu so sánh thành phần các chất dinh dưỡng trung bình của một số thực phẩm thuỷ sản và thực phẩm khác của Viện dinh dưỡng trong bảng 2.1 sẽ cho ta thấy rõ ưu thế của thực phẩm thuỷ sản trong đời sống
Trang 26Bảng 2.1: Thành phần các chất dinh dưỡng trung bình của một số thực
phẩm thuỷ sản và thực phẩm khác
Thành phần hoá học Tên thực
Nguồn: viện dinh dưỡng
- Nuôi thuỷ sản là một ngành cung cấp nguyên liệu cho các ngành khác Vai trò quan trọng trước tiên của lĩnh vực này là cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến thực phẩm Bên cạnh đó nuôi thuỷ sản còn cung cấp nguyên liệu cho một số các ngành công nghiệp chế biến và tiểu thủ công nghiệp khác như hoá chất, dược, thủ công mỹ nghệ
- Nuôi thuỷ sản là một ngành kinh tế mang lại thu nhập cho người dân lao động và mang lại nguồn thu ngoại tệ cho đất nước Nuôi thủy sản mang lại thu nhập không những cho người lao động trực tiếp tham gia nuôi thuỷ sản mà
đi kèm với phát triển nuôi thuỷ sản là sự phát triển của các ngành dịch vụ hậu cần cho nuôi thuỷ sản nên nuôi thủy sản còn mang lại thu nhập cho một số lượng lao động đáng kể tham gia sản xuất, dịch vụ hậu cần cho nuôi thủy sản Bên cạnh đó, sản phẩm thủy sản đang được thị trường thế giới ưa chuộng nên xuất khẩu thuỷ sản ngày càng có vai trò quan trọng trong việc góp phần tăng tích luỹ ngoại tệ cho đất nước, tạo điều kiện thực hiện công nghiệp hoá, hiện
đại hoá đất nước, đặc biệt đối với các nước đang phát triển và nghèo
Trang 27- Nuôi thủy sản là một ngành tạo được nhiều việc làm có thu nhập cho người lao động Phát triển nuôi thủy sản không những tạo việc làm có thu nhập cho những người tham gia trực tiếp nuôi mà nó còn tạo việc làm cho rất nhiều lao động tham gia các khâu dịch vụ hậu cần cho nuôi thủy sản và chế biến tiêu thụ sản phẩm nuôi thủy sản Mặt khác hoạt động nuôi thủy sản là một hoạt động sản xuất dễ tiếp cận, có thể sử dụng cả lao động quá tuổi hoặc chưa đến tuổi lao động cho một số khâu trong quá trình sản xuất Do đó phát triển nuôi thủy sản có môi trường quan trọng trong tạo việc làm có thu nhập,
đặc biệt cho những người dân nông thôn
- Nuôi thuỷ sản có tác dụng cải tạo và bảo vệ môi trường Các công thức nuôi ghép thủy sản và nuôi thủy sản kết hợp với trồng lúa, chăn nuôi…có tổ chức rât tốt trong sử dụng hợp lý chuỗi thức ăn và giảm tiểu sự ô nhiễm môi trường do một đối tượng trồng trọt hay chăn nuôi gây ra Phát triển nuôi thuỷ sản còn có tổ chức cải tạo các vùng đất hoang hoá ngập nước, cải tạo các vùng cát ven biển thành các mặt nước sản xuất phục vụ đời sống con người một cách hiệu quả Bên cạnh đó, phát triển nuôi thuỷ sản sẽ tạo việc làm có thu nhập cho người dân, sẽ góp phần giảm áp lực khai thác lên các nguồn lợi khác như lâm nghiệp, hải sản, khoáng sản…
2.1.2.3 Đặc điểm kinh tế – kỹ thuật của ngành nuôi thủy sản
- Môi trường nuôi thuỷ sản khắt khe Mỗi giống loài thủy sản yêu cầu một môi trường sinh thái phù hợp khác nhau về thủy lý, thuỷ hoá, thủy sinh của môi trường đất và nước, về nhiệt độ, dòng chảy…Nếu gặp môi trường sống phù hợp, các đối tượng thuỷ sản sẽ phát triển nhanh Ngược lại nếu gặp môi trường không phù hợp các đối tượng thuỷ sản sẽ chậm hoặc không phát triển, phát sinh bệnh tật, nếu điều kiện môi trường thay đổi đột ngột rất dễ dẫn
đến hiện tượng chết hàng loạt
Trang 28- Nuôi thuỷ sản mang tính mùa vụ khác nhau giữa các loài Mặc dù các loài cùng sống trong môi trường nước nhưng mỗi loài thủy sản có đặc điểm sinh học, sinh sản và sinh trưởng khác nhau, nhất là giữa các bộ khác nhau như giáp xác, cá, nhuyễn thể, do đó mùa vụ sinh sản cũng như thời gian sinh trưởng của mỗi loài thường khác nhau
- Các loài thuỷ sản sống trong môi trường nước, có khả năng lan truyền dịch bệnh nhanh Do đối tượng nuôi thuỷ sản là động vật sống, di chuyển nhanh, sống trong môi trường nước là môi trường vật chất mang tính dễ lan toả nên nếu một con bị bệnh sẽ nhanh chóng làm cho cả ao nuôi bị bệnh Mặt khác do điều kiện của hệ thống cấp và thoát nước không hoàn chỉnh không có
đường cấp và thoát riêng, không có hệ thống xử lý nước thải trước khi thải ra môi trường nên khi một ao nuôi bị bệnh cũng sẽ rất dễ dàng dẫn đến cả vùng nuôi sử dụng chung nguồn nước sẽ bị bệnh
- Sản phẩm thuỷ sản mau ươn thối Động vật thuỷ sản sống trong môi trường nước, yêu cầu điều kiện môi trường khắt khe nên khi bị tách ra khỏi môi trường nước hoặc đưa vào một môi trường nước khác không phù hợp sẽ làm cho các động vật thủy sản chết nhanh chóng Mặt khác do cấu trúc tế bào
dễ phân huỷ và có độ đạm cao nên động vật thuỷ sản sẽ nhanh chóng bị ươn thối sau khi chết
- Các loài thuỷ sản thường chịu tác động lớn của môi trường Nuôi thủy sản mang nhiều tính chất của quá trình sản xuất nông nghiệp vì các loài thuỷ sản cũng có quá trình tự phát triển ngoài tác động của công cụ lao động và con người, phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên, điều kiện môi trường Con người hiện nay bằng các máy móc kỹ thuật tiến bộ có thể điều chỉnh môi trường nhưng thường chỉ trong phạm vi nhất định và với chi phí rất cao, do đó
đến nay kết quả hoạt động nuôi thuỷ sản vẫn phải chịu tác động lớn của môi trường Những biến động bất ngờ của môi trường về khí hậu, đặc biệt là mưa
Trang 29và nhiệt độ, ô nhiễm nguồn nước do chất thải công nghiệp, thuốc trừ sâu từ hoạt động nông nghiệp…đều có ảnh hưởng không tốt nghiêm trọng tới hiệu quả nuôi thuỷ sản Ngược lại cũng do đặc tính này, nếu môi trường phù hợp cộng với các tác động hữu ích của con người cũng sẽ thúc đẩy mạnh mẽ quá trình phát triển của đối tượng thuỷ sản nuôi, mang lại hiệu quả cao[2]
- Nuôi thuỷ sản có thể thực hiện thâm canh năng suất sản phẩm Sự phát triển của đối tượng nuôi thuỷ sản phụ thuộc nhiều vào điều kiện môi trường sống và lượng chất dinh dưỡng làm thức ăn nên con người bằng các tác
động để tạo ra môi trường sống phù hợp và điều kiện thức ăn đầy đủ có thể thúc đẩy nhanh quá trình sinh sản và sinh trưởng của đối tượng nuôi nên trong hoạt động nuôi thuỷ sản có thể thực hiện thâm canh tăng năng suất
- Sản phẩm thủy sản có giá trị cao Thực phẩm thủy sản ngày càng được
ưa chuộng trong đời sống hàng ngày của mọi người Một mặt do sự phân bố rộng khắp của động vật thuỷ sản trên thế giới đR dẫn đến thói quen ăn thực phẩm thủy sản, làm cho thực phẩm thuỷ sản hợp khẩu vị với nhiều người trên thế giới Mặt khác do đặc điểm cấu trúc tế bào cơ thể động vật thủy sản là dễ phân huỷ, đạm động vật thủy sản dễ tiêu, không mang nhiều chất cholesterol
có hại cho hoạt động tim mạch thường có hàm lượng cao trong các thực phẩm khác, có nhiều yếu tố vi lượng giúp cơ thể chống lại một số bệnh nguy hiểm như béo phì, tim mạch…Bên cạnh đó với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, con người ngày càng chiết suất được rất nhiều chất từ sản phẩm thủy sản, sử dụng sản phẩm thủy sản để làm nguyên vật liệu cho các ngành công nghiệp chế biến, dược phẩm, thủ công mỹ nghệ…dẫn đến nhu cầu về sản phẩm thủy sản ngày càng cao trong khi nguồn lợi thủy sản tự nhiên chỉ có hạn Vì vậy sản phẩm của nuôi thuỷ sản ngày càng có giá trị kinh tế cao trên thị trường
Trang 302.1.2.4 Các loại hình mặt nước trong nuôi trồng thuỷ sản
Môi trường sinh sống của các loài thủy sản là nước Quy mô sản xuất nuôi thuỷ sản được xác định bằng quy mô diện tích mặt nước nuôi Mỗi loại hình mặt nước nuôi đều có nguồn gốc và đặc điểm riêng Hiện nay, mặt nước nuôi thuỷ sản được phân loại như sau [29]:
Bảng 2.2: Đặc điểm các loại hình mặt nước trong nuôi trồng thuỷ sản
A Mặt nước
I Mặt nước ngọt
1 Ao Là các vực nước có diện tích ≤ 0,5 ha, thường nằm
xen trong các khu dân cư, có nhiều hình dạng khác nhau, thường là hình chức nhật
2 Hồ, đầm nhỏ Là các vực nước có diện tích 0,5 - 5 ha, nhiều hình
dạng khác nhau, thường là hình chữ nhật, có độ sâu lớn
3 Thùng đào, thùng
đấu
Là các vực nước hình thành do việc đào đất để phục
vụ cho mục đích như: thuỷ lợi, giao thông…
4 Chuôm (bầu) Là các vực nước hình thành do các hố bom và con
người tạo ra, thường nằm trong các cánh đồng
5 Kênh, mương Là các vực nước do con người đào đắp vì mục đích
thủy lợi, thường có chiềi dài gấp nhiều lần chiều rộng, có dòng chảy
6 Mương vườn Là các vực nước nằm trong vườn cây, chiều dài gấp
nhiều lần chiều rộng Mương vườn có nhiều mương
Trang 31TT Loại hình Đặc điểm
nhánh và nhận nước từ sông, ngòi lớn
7 Mương rừng Là các vực nước nằm trong rừng cây, có chiều dài
gấp nhiều lần chiều rộng Mương vườn có nhiều mương nhánh và nhận nước từ sông, ngòi lớn
8 Ruộng trũng Là các diện tích cấy lúa một vụ bấp bênh, năng suất
1 Vùng triều Là vùng diện tích ven biển (cả trong và ngoài đê quốc
gia) giới hạn bởi mức nước trung bình của đỉnh triều cường (mức trung bình của đỉnh triều cao nhất) và mức nước trung bình của chân triều kiệt (mức nước trung bình của chân triều thấp nhất)
2 Đầm phá Là các vực nước ven bờ biển, thường có hình dạng
kéo dài song song với bờ biển, ngăn cách với bờ biển qua một cồn chắn cấu tạo bằng vật liệu trầm tích bở rời (cát, cát sỏi hoặc sỏi cát), tiếp nhận nước từ các con sông hoặc suối, thông với biến qua 1 hoặc nhiều cửa, chịu tác động chính của động lực biển
Trang 32TT Loại hình Đặc điểm
3 Eo, vụng, vịnh Là khu vực nước ven biển được tạo thành do bờ biển
khúc khuỷu, do các bản đảo hoặc do các mỏm núi ăn lan ra biển Eo, vụng thường có độ sâu lớn hơn các
đầm phá, thông với biển qua các cửa eo vụng, không nhận nước ngọt từ các con sông hoặc suối
4 Rừng ngập mặn Là các vùng rừng đước (sú, vẹt) ven bờ biển, thường
xuyên ngập nước, chịu tác động chính của động lực biển
Vùng trên triều Là vùng diện tích ven bờ biển, nằm trên giới hạn mức
nước trung bình của đỉnh triều cường, có thể là bRi bồi, bRi cát có khả năng đưa nước ngọt vào nước biển vào để tiến hành nuôi tôm một cách an toàn, hiệu quả
2.1.2.5 Các yếu tố cơ bản ảnh hưởng tới sự phát triển và hiệu quả kinh tế nuôi thủy sản
Các yếu tố cơ bản ảnh hưởng tới sự phát triển nuôi thuỷ sản có thể phân thành 3 nhóm [33]:
Nhóm 1: các yếu tố về môi trường tự nhiên, bao gồm các yếu tố cơ bản sau
Yếu tố khí hậu: bao gồm các chỉ số về nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa, là những yếu tố rất quan trọng, có ảnh hưởng lớn đến quá trình phát triển nuôi thuỷ sản, ảnh hưởng trực tiếp đến cơ thể các đối tượng thuỷ sản nuôi
Trang 33Yếu tố thuỷ văn: nguồn nước là một trng những điều kiện thiết yếu đầu tiên cho nuôi thủy sản Nguồn nước đủ và không có biến động lớn, quá cao hay quá thấp là điều kiện lý tưởng cho nuôi thủy sản
Yếu tố về thổ nhưỡng, môi trường: điều kiện về thổ nhưỡng và môi trường nước là những điều kiện cơ bản cho phát triển nuôi thuỷ sản Bao gồm các chỉ số chính về thành phần cơ học, thành phần hoá học các thuỷ vực, thuỷ sinh vật
Yếu tố về nguồn lợi các giống loài thuỷ sản: ngày nay do sự phát triển của tiến bộ kho học kỹ thuật trong sinh sản nhân tạo, di giống và thuần hoá giống thuỷ sản nuôi nên nguồn lợi thuỷ sản tự nhiên đR giảm đi phân nào vai trò quan trọng của nó Tuy nhiên đến nay nó vẫn rất có ý nghĩa trong việc duy trì sản xuất các đối tượng nuôi chưa sản xuất được giống nhân tạo, các loài nuôi đặc sản có giá trị kinh tế cao của địa phương, trong việc cấp ghép gen để tăng khả năng phù hợp với điều kiện sống của mỗi địa phương
Nhóm 2: các yếu tố kinh tế - kỹ thuật
Yếu tố vốn đầu tư: là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến quá trình sản xuất kinh doanh của mọi ngành kinh tế nói chung của nuôi thủy sản nói riêng Trong công tác về vốn đầu tư thì việc bố trí cơ cấu sử dụng vốn đầu tư hợp lý
là hết sức cần thiết
Yếu tố giá thị trường: là yếu tố quyết định đến hiệu quả của quá trình sản xuất kinh doanh, cho cả các yếu tố đầu vào và sản phẩm đầu ra của sản xuất Chọn đối tượng nuôi, thời điểm bán được giá cao là việc làm cần thiết của người nuôi thuỷ sản
Yếu tố áp dụng công nghệ và kỹ thuật tiên tiến: bao gồm các khâu, từ chuẩn bị sản xuất, sản xuất, đến bảo quản và chế biến, vận chuyển và tiêu thụ sản phẩm Đây là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến kết quả sản xuất, nó
Trang 34ảnh hưởng trực tiếp đến số lượng, chất lượng và giá thành cũng như giá bán sản phẩm
Yếu tố tổ chức sản xuất và quản lý: là yếu tố quan trọng, mặc dù chỉ có
ảnh hưởng gián tiếp đến kết quả hiệu quả nuôi thủy sản nhưng nó có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển chung của nuôi thuỷ sản trên một vùng cụ thể Nhóm 3: các yếu tố về kinh tế - xD hội
Yếu tố chính sách: là yếu tố cực kỳ quan trọng, mặc dù nó cũng chỉ có
ảnh hưởng gián tiếp đén kết quả hiệu quả sản xuất nhưng các chính sách sẽ tạo
ra môi trường kinh tế, kinh tế - xR hội thuận lợi, tạo những "cú hích" cơ bản cho phát triển nuôi thuỷ sản
Yếu tố nhu cầu thị trường: là yếu tốt hết sức quan trọng Việc điều tra nắm bắt được nhu cầu thị trường là việc làm hết sức cần thiết khi muốn phát triển một ngành sản xuất hàng hoá lớn
Yếu tố về trình độ của nguồn nhân lực: có ảnh hưởng nhiều đến việc tiếp thu các thông tin kinh tế, thị trường và áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ tiên tiến… trong quá trình phát triển nuôi thuỷ sản
Yếu tố về mức sống và tích luỹ: có ảnh hưởng đến nhu cầu về sản phẩm nuôi thuỷ sản và mức độ đầu tư cho nuôi thủy sản là yếu tố cần được nghiên cứu khi xây dựng các kế hoạch phát triển
2.2 Cơ sở thực tiễn
2.2.1 Khái quát về tình hình nuôi trồng thuỷ sản các nước trong khu vực
và trên thế giới
2.2.1.1 Tình hình chung về nuôi trồng thủy sản trên thế giới
Theo thống kê của FAO, tỷ lệ tăng bình quân hàng năm của nuôi trồng thủy sản tính từ năm 190 đến nay là 8,9%, trong khi đó tỷ lệ tăng của thuỷ sản khai thác là 1,4% và của thịt sản phẩm gia súc chăn nuôi là 2,8% Sản lượng
Trang 35nuôi trồng thủy sản thế giới năm 2001 đạt 48,42 triệu tấn, trong đó động vật thủy sản 37,85 triệu tấn và thực vật thuỷ sinh đạt 10,56 triệu tấn[15]
Tổng sản lượng NTTS trên thế giới năm 2000 đạt 45,71 triệu tấn (tăng 6,3 % so với năm 1999) Trong số đó hơn một nửa là sản lượng cá nuôi (23,07 triệu tấn, đạt 50,4%), tiếp theo là nhuyễn thể (10,73 triệu tấn, chiếm 23,5%), thực vật thuỷ sinh (10,13 triệu tấn, chiếm 22,2%), giáp xác (1,65 triệu tấn, chiếm 3,6%), động vật lưỡng cư và rùa biển (100.271 tấn chiếm 0,22%) và
động vật không xương sống thuỷ sinh khác (36.965 tấn, chiếm 0,08%) Mặc
dù giáp xác chỉ chiếm 3,6% về sản lượng nhưng chúng lại chiếm 16,6% về giá trị Các nhóm loài cá, giáp xác, nhuyễn thể, rong biển, ba ba…đều tăng từ 6,1% đến 12,1%, riêng các loài động vật thuỷ sinh không xương sống thì giảm tới 15,2% về sản lượng Mặc dù tỷ lệ tăng trưởng chung của NTTS là khá vững chắc, từ năm 1990 đến năm 2000 đạt 10,5%/năm, sự tăng trưởng này không
đồng đều giữa các nhóm loài và qua từng thời kỳ, tỷ lệ tăng của cá nuôi và giáp xác trong thập kỷ 90 chững lại và hơi giảm so với thập kỷ 80 Cụ thể là giai đoạn 23,5% nhưng sang giai đoạn 1990 - 2000, mức tăng của cá chỉ đạt 10,3% và giáp xác giảm xuống10,5% Điều này cho thấy khi đR đạt mức sản lượng cao thì khó có thể tiếp tục duy trì tỷ lệ tăng trưởng cao được[15]
Hình thức nuôi trồng theo môi trường nước biển và nước nợ ven biển chiếm 54,9%, nuôi nước ngọt chiếm 45,1% Trong giai đoạn từ năm 1970 đến
2000 hình thức nuôi nước ngọt lại có mức tăng trung bình hàng năm cao nhất với 9,7%, sau đó là nuôi nước lợ 8,4% và nuôi biển tăng 8,3% Tính về giá trị sản lượng nuôi nước lợ 4,6% nhưng tính về giá trị chúng lại chiếm 15% toàn
bộ giá trị nuôi trồng thủy sản
Nuôi tôm luôn chiếm ưu thế trong nuôi giáp xác và trong NTTS, sản lượng tôm nuôi năm 2000 trên thế giới là 1.087.000 tấn, chiếm 66,0% giáp xác nuôi, trị giá 6,880 tỷ USD Năm 2001, sản lượng đạt 1.270.875 triệu tấn,
Trang 36trị giá 8,432 tỷ USD, theo tính toán, sản lượng nuôi tôm hiện nay chiếm trên 50% sản lượng tôm nói chung của thế giới
Sản lượng nuôi nhuyễn thể trên thế giới nói chung tăng đều trong vài thập kỷ vừa qua, thập kỷ 70 đạt mức tăng trung bình 5,6%; thập kỷ 80 tăng 7% thập kỷ 90 tăng 11,5% Tổng sản lượng nuôi nhuyễn thể trên thế giới năm
200 đạt 10,7 triệu tấn, tăng lên 5,8% so với năm trước đó, trị giá 9,496 tỷ USD Năm 2001 đạt 11,267 triệu tấn, trị giá 9,959 tỷ USD[15]
Năm 2000 thực vật thuỷ sinh trồng đạt 10,1 triệu tấn, tăng 61% so với năm trước, đạt giá trị 5,6 tỷ USD Các loài được trồng nhiều nhất là rong đòn gánh Nhật Bản đứng đầu với 4.850.056 tấn chiếm 45,2% Sau đó là các loài rong mứt 1.011.000 tấn, rong hồng vân 605.000 tấn Sự tăng trưởng của trồng rong biển cũng khá vững chắc, từ năm 1970 tới năm 2000 đạt mức tăng 8,2%/năm
Theo thống kê của FAO[15], ở các nước đang phát triển sản xuất tới 91,2 lượng NTTS, đặc biệt trong thời gian từ 1970 đến nay sản lượng đó tăng nhanh hơn ở các nước phát triển tới 71 lần Nếu tính về khu vực, số liệu thống
kế năm 2000 của FAO cụ thể như sau:
Châu á: 41,72 triệu tấn, chiếm 91,3% sản lượng toàn thế giới
Châu Âu: 2,03 triệu tấn, chiếm 4,4% sản lượng toàn thế giới
Châu Mỹ la tinh và Caribê: 0,87 triệu tấn, chiếm 1,8% lưởng lượng toàn thế giới
Bắc Mỹ: 0,55 triệu tấn, chiếm 1,2%
Châu Phi: 0,40 triệu tấn, chiếm 0,9%
Châu Đại Dương: 0,14 triệu tấn chiếm 0,3%
Trang 37Q: 21.747.553 V:26.504.555
Q: 2.334.782 V:10.655.267
Q: 13.769.021 V: 18.526.660 Thực vật thủy
sinh Q: 10.562.279 V:5.784.324 Q: 310 V: 631 Q: 16.607 V: 22.919 Q: 10.545.362 V: 5.760.774 Tổng số Q: 48.413.635
V: 61.470.806
Q: 21.747.863 V: 26.505.186
Q: 2.351.389 V: 10.678.186
Q: 24.314.383 V: 24.287.434
Nguồn: http://www.fistenet.gov.vn Trong đó: Q là số l−ợng (tấn)
V là giá trị (ngàn USD)
Trang 382.2.1.2 Nuôi trồng thủy sản một số nước và khu vực lDnh thổ trên thế giới
* Nuôi trồng thuỷ sản ở Trung Quốc
Trung Quốc bắt đầu phát triển nhanh nuôi trồng thuỷ sản từ giữa những năm 80 của thế kỷ trước và nhanh nhất từ năm 1989 Đến năm 1997, Trung Quốc đạt sản lượng 19,3 triệu tấn sản phẩm Trung Quốc là thị trường lớn hàng đầu Châu á với đặc điểm vừa tiêu thụ, vừa tái chế xuất khẩu Kim ngạch xuất khẩu của Trung Quốc đR vượt mức 3 tỷ USD/1 năm Nhưng nhập khẩu cũng tăng rất nhanh và vượt 2 tỷ USD vào năm 1996 [9]
Qua tổng kết quá trình phát triển nghề nuôi trồng thuỷ sản hơn 20 năm nay, Chính phủ Trung Quốc đR rút ra 4 kinh nghiệm quan trọng, đó là:
+ Một là, mở cửa toàn diện thị trường hàng thuỷ sản
+ Hai là, thực hiện cải cách thể chế kinh doanh lấy gia đình nhận thầu
và chế độ cổ phần hợp tác làm chính, tìm được phương thức kinh doanh phù hợp với đặc điểm sản xuất nuôi thuỷ sản ở Trung Quốc và mức phát triển lực lượng sản xuất nghề cá Đồng thời, Chính phủ cải thiện phương thức điều khống đối với quản lý nghề cá, phát huy một cách đầy đủ tác dụng có tính cơ
sở của cơ chế thị trường trong sự phát triển kinh tế nghề cá
+ Ba là, xác lập phương châm phát triển nghề cá lấy nuôi làm chính, tiến hành đồng thời nuôi trồng, khai thác, chế biến và chiến lược phát triển
"Khoa học công nghệ chấn hưng nghề cá"
+ Bốn là, kiên trì "bằng pháp luật chấn hưng nghề cá" Việc quản lý và bảo vệ tài nguyên nghề cá được đẩy mạnh, tăng nhanh tiến trình xây dựng pháp chế, bước đầu hình thành hệ thống pháp luật nghề cá có màu sắc Trung Quốc, đồng thời hình thành đội ngũ chấp pháp hành chính nghề cá thống nhất lRnh đạo phân cấp quản lý Việc quản lý nghề cá cơ bản đR được đưa vào quỹ
đạo pháp chế
Trang 39Chính phủ Trung Quốc tích cực đẩy mạnh việc điều chỉnh có tính chiến lược kết cấu nghề cá, gia sức tăng thu nhập cho ngư dân, phát triển trọng điểm nghề nuôi trồng thuỷ sản, kiên trì lấy thị trường làm dẫn hướng, ưu hoá kế cấu nuôi trồng, đột xuất nắm chắc nuôi trồng giống loài có tiếng, đặc sản, ưu thế
và giống mới Củng cố và hoàn thiện cơ bản chế độ kinh doanh nhận thầu mặt nước nuôi trồng, nhất là đối với ngư dân chuyển từ nghề đánh bắt sang nuôi trồng, ưu tiên cấp phát giấy chứng nhận nuôi trồng để ngư dân được uống
"viên thuốc định tâm" Từ mặt đảm bảo chế độ, Chính phủ Trung Quốc đR huy
động đày đủ tính tích cực và tính sáng tạo của ngư dân vào việc phát triển nghề nuôi trồng thủy sản
* Nuôi trồng thuỷ sản ở Mỹ
Nghề nuôi trồng thuỷ sản ở Mỹ mới bắt đầu khoảng 30 năm trở lại đây
và đang phát triển nhanh Nghề nuôi trồng thuỷ sản ở Mỹ chủ yếu là nuôi cá nước ngọt Sản lượng nuôi trồng thuỷ sản tăng nhanh, từ 150 nghìn tấn năm
Lịch sử nghề nuôi trồng thuỷ sản ở Mỹ tuy ngắn ngủi nhưng do ưu thế của xR hội công nghiệp hoá nên đR hình thành đặc điểm riêng của mình:
+ Sự phân công ngành nghề rất rõ ràng: trại nuôi chuyên lo sản xuất cá giống và cá thịt, xí nghiệp thức ăn chuyên lo sản xuất thức ăn và căn cứ vào nhu cầu của hộ nuôi mà đưa thức ăn đến tận nơi, xí nghiệp chế biến phụ trách
Trang 40thu mua và chế biến cá ở Mỹ, nghề chế biến không thể thiếu được trong việc phát triển nghề nuôi trồng thuỷ sản
+ Đơn vị sản xuất có quy mô lớn, trình độ cơ giới cao Thường mỗi trại nuôi cá có diện tích hàng trăm đến hàng nghìn ha, mỗi cá nuôi có diện tích từ vài ha đến hàng chục ha Phần lớn công việc đều được cơ giới hoá, tự động hoá, kể cả việc chăm sóc và thu hoạch
+ Phương thức nuôi thường là nuôi đơn, không chạy theo sản lượng mà chú ý đến chất lượng Đó là nét riêng biệt trong nuôi trồng thuỷ sản với điều kiện của nền kinh tế Mỹ
+ Đặc biệt coi trọng nguồn nước: người ta rất chú trọng đến việc quản
lý chất lượng nước, nhất là tăng cường việc quản lý số lượng cá thả và thức ăn nuôi cá, hết sức đề phòng biến chất
+ Hết sức coi trọng sức khoe con người và bảo vệ môi trường: khống chế nghiêm ngặt việc sử dụng nông dược hoá và thuốc chữa bệnh cho cá, việc quản lý đối với nước thải nuôi cá cũng rất chặt chẽ, cá chết trong các trại nuôi không được tự ý vứt bừa bRi mà phải đưa đến nơi quy định để chôn hoặc tiêu huỷ
* Nuôi trồng thuỷ sản ở Thái Lan
Thái Lan luôn là nước xuất khẩu thuỷ sản số 1 thế giới, hàng năm xuất khẩu từ 4-6 tỷ USD Năm 1994, Thái Lan là nước đứng thứ 5 trên thế giới về sản xuất cá và nhuyễn thể Nói chung sản lượng tăng theo hàng năm với các
đối tượng nuôi đa dạng Thái Lan giữ vững thứ hạng với sản lượng các và các loài nhuyễn thể là khoảng trên dưới 600 nghìn tấn, trong đó có từ 250-300 nghìn tấn là cá nước ngọt Thái Lan phát triển mạnh việc nuôi cá rô phi, đặc biệt là rô phi dòng Nile và các loài cá trê Thái Lan là nước có sản lợng cao nhất về cá rô phi (102.744 tấn năm 1997) [9]