1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn Thạc sĩ Địa lý học: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và phát triên nông thôn trên quan điểm phát triển bền vững ở tỉnh Bạc Liêu

175 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 175
Dung lượng 5,41 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn Thạc sĩ Địa lý học: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và phát triên nông thôn trên quan điểm phát triển bền vững ở tỉnh Bạc Liêu trình bày cơ sở lí luận về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và phát triển nông thôn bền vững; thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và phát triển nông thôn trên quan điểm phát triển bền vững ở tỉnh Bạc Liêu; quan điểm, định hướng và các giải pháp chủ yếu thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Bạc Liêu.

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN MINH DŨNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÍ HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh – 2011

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Nguyễn Minh Dũng

Chuyên ngành : Địa lí học

Mã số : 60 31 95

LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÍ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS ĐẶNG VĂN PHAN

Thành phố Hồ Chí Minh – 2011

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng, các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào Mọi thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc

Tp Hồ Chí Minh, ngày 30 tháng 06 năm 2011

Tác giả

Nguyễn Minh Dũng

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Đầu tiên tác giả luận văn xin chân thành cảm ơn Khoa Địa Lí, Phòng

cho việc học tập, nghiên cứu và nhiệt tình giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình làm

luận văn

kính trọng và biết ơn sâu sắc đến thầy hướng dẫn PGS.TS Đặng Văn Phan –

thành đến TS Nguyễn Trọng Uyên và Phân Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp miền Nam đã hỗ trợ và cung cấp một số tài liệu để tác giả có thể hoàn thành được luận văn này

Đầu tư, Cục thống kê tỉnh Bạc Liêu đã nhiệt tình hỗ trợ và cung cấp các tài liệu quí giá để tác giả có thể hoàn thành luận văn đúng thời hạn

học Bạc Liêu đã tạo mọi điều kiện để tác giả học tập và nghiên cứu khoa học

Cuối cùng xin gởi lời cảm ơn chân thành đến gia đình, những người

lực rất lớn cho tác giả trong quá trình nghiên cứu và hoàn thiện luận văn của mình

Trang 5

MỤC LỤC

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Mục lục

Danh mục các chữ viết tắt

Danh mục các bảng

Danh mục các biểu đồ, bản đồ

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN BỀN VỮNG 8

1.1 Cơ sở lí luận về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp 8

1.1.1 Cơ cấu kinh tế và cơ cấu kinh tế nông nghiệp 8

1.1.2 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp 10

1.1.3 Mối quan hệ giữa chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp với tăng trưởng và phát triển nông nghiệp bền vững 12

1.1.4 Lý thuyết về chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong quá trình công nghiệp hóa 14

1.1.5 Các nhân tố tác động đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp 17

1.1.6 Các chỉ tiêu phản ánh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp 22

1.2 Cơ sở lí luận về phát triển bền vững 24

1.2.1 Khái niệm phát triển bền vững 24

1.2.2 Lí luận về phát triển nông nghiệp bền vững 25

1.2.3 Mối quan hệ giữa an ninh lương thực với phát triển bền vững 29

1.3 Cơ sở lí luận về phát triển nông thôn 30

1.3.1 Khái niệm nông thôn 30

1.3.2 Khái niệm phát triển nông thôn 32

Trang 6

1.3.3 Nội dung chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai

đoạn 2010 - 2020 34

1.3.4 Hệ thống chỉ tiêu phát triển nông thôn 39

1.5 Kinh nghiệm quốc tế về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp 42

1.5.1 Trung Quốc 42

1.5.2 Hàn Quốc 43

1.5.3 Thái Lan 44

1.6 Thực tiễn chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và phát triển nông thôn ở Việt Nam 45

Chương 2: THỰC TRẠNG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN TRÊN QUAN ĐIỂM PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG Ở TỈNH BẠC LIÊU 48

2.1 Tổng quan về tỉnh Bạc Liêu 48

2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp tỉnh Bạc Liêu 49 2.2.1 Các nhân tố tự nhiên 49

2.2.2 Các nhân tố kinh tế-xã hội 56

2.2.3 Đánh giá chung về các nguồn lực phát triển 63

2.3 Thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế tỉnh Bạc Liêu thời kì 2000-2010 65

2.3.1 Chuyển dịch cơ cấu theo ngành kinh tế 65

2.3.2 Chuyển dịch cơ cấu theo thành phần kinh tế 67

2.3.3 Chuyển dịch cơ cấu theo vùng lãnh thổ 68

2.4 Thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp tỉnh Bạc Liêu thời kì 2000-2010 69

2.4.1 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp trong mối quan hệ giữa nông nghiệp, lâm nghiệp và thuỷ sản 69

2.4.2 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nội bộ các ngành nông nghiệp 73

2.4.3 Chuyển dịch cơ cấu lao động trong nông nghiệp 91

2.4.4 Chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất 92

2.4.5 Chuyển dịch cơ cấu vốn đầu tư cho nông nghiệp 94

Trang 7

2.4.6 Chuyển dịch cơ cấu hàng xuất khẩu 95

2.5 Đánh giá chung về quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp tỉnh Bạc Liêu giai đoạn 2000 – 2010 97

2.5.1.Thành tựu 97

2.5.2 Hạn chế 98

2.5.3 Cơ hội phát triển 99

2.5.4 Khó khăn và thách thức 99

2.6 Phát triển nông thôn tỉnh Bạc Liêu 100

2.6.1 Phát triển nông thôn theo 19 tiêu chí quốc gia về nông thôn mới 100

2.6.2 Phát triển nông thôn mới ở Phước Long (huyện được chọn thí điểm huyện nông thôn mới) 105

2.7 Mối quan hệ giữa chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp với việc phát triển nông thôn ở Bạc Liêu 110

2.8 Đánh giá sự bền vững của chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Bạc Liêu thời kì 2000 – 2010 111

2.8.1 Bền vững về mặt tự nhiên và môi trường 111

2.8.2 Bền vững về mặt kinh tế - xã hội 112

2.9 Một số mô hình sản xuất có triển vọng tác động đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng bền vững 114

2.9.1 Mô hình lúa – tôm 114

2.9.2 Mô hình lúa – cá 117

Chương 3: QUAN ĐIỂM, ĐỊNH HƯỚNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP CHỦ YẾU THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN TỈNH BẠC LIÊU 120

3.1 Quan điểm, mục tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp 120

3.1.1 Quan điểm chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp 120

3.1.2 Mục tiêu tổng quát 120

3.1.3 Mục tiêu cụ thể 120

3.2 Quan điểm, mục tiêu phát triển nông thôn tỉnh Bạc Liêu đến năm 2020 121

Trang 8

3.2.1 Quan điểm phát triển nông thôn tỉnh Bạc Liêu đến năm 2020 121

3.2.2 Mục tiêu tổng quát 122

3.2.3 Mục tiêu cụ thể 122

3.3 Định hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, phát triển nông thôn 122

3.3.1 Định hướng chung 122

3.3.2 Định hướng chuyển dịch cơ cấu ngành nông nghiệp 124

3.3.3 Định hướng chuyển dịch cơ cấu ngành lâm nghiệp 127

3.3.4 Định hướng chuyển dịch cơ cấu ngành thủy sản 127

3.3.5 Định hướng chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất 130

3.3.6 Định hướng phát triển nông thôn 131

3.4 Các giải pháp chủ yếu thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiêp tỉnh Bạc Liêu theo hướng bền vững 133

3.4.1 Giải pháp phát triển kết cấu hạ tầng phục vụ chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp tỉnh Bạc Liêu 133

3.4.2 Giải pháp về khoa học - công nghệ, khuyến nông - lâm - ngư 137

3.4.3 Giải pháp đào tạo nguồn nhân lực 142

3.4.4 Giải pháp về đầu tư vốn cho phát triển nông nghiệp 143

3.4.5 Giải pháp về tổ chức sản xuất 146

3.4.6 Giải pháp về tiêu thụ sản phẩm 147

3.4.7 Chính sách khuyến khích đầu tư phát triển sản xuất 149

3.5 Các giải pháp xây dựng và phát triển nông thôn theo hướng bền vững 149

3.5.1 Về xây dựng nông thôn mới 149

3.5.2 Về phát triển ngành nghề nông thôn 150

3.5.3 Về thực hiện chính sách hỗ trợ nông dân 150

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 151

1 Kết luận 151

2 Kiến nghị 152

TÀI LIỆU THAM KHẢO 154

Trang 9

DANH M ỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 10

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.5: Tăng trưởng GDP và GTSX nông, lâm nghiệp và thủy sản (Theo giá

so sánh năm 1994)

70

Trang 11

DANH M ỤC CÁC BIỂU ĐỒ, BẢN ĐỒ

Bản đồ

1 Bản đồ hành chính tỉnh Bạc Liêu

2 Bản đồ hiện trạng và qui hoạch hệ thống kết cấu hạ tầng chủ yếu, hệ thống đô thị

và các điểm dân cư tỉnh Bạc Liêu

3 Bản đồ qui hoạch sử dụng đất nông nghiệp đến năm 2020 tỉnh Bạc Liêu

4 Bản đồ tổ chức lãnh thổ các hoạt động kinh tế - xã hội chủ yếu tỉnh Bạc Liêu đến

năm 2020

5 Bản đồ qui hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bạc Liêu đến năm 2020

6 Bản đồ qui hoạch tổng thể phát triển hệ thống đô thị và khu dân cư nông thôn

tỉnh Bạc Liêu đến năm 2020

(Nguồn: Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bạc Liêu, riêng bản đồ 2, 6 có nguồn:

Sở Xây dựng tỉnh Bạc Liêu)

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là một xu hướng phát triển tất yếu của nền kinh

tế thế giới Từ sau Đại hội Đảng lần thứ VI, Đảng ta đã đưa ra đường lối đổi mới kinh tế với mục tiêu xây dựng và phát triển nền kinh tế nước ta theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Phấn đấu đến năm 2020 sẽ đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp Đổi mới kinh tế phải bắt đầu từ đổi mới cơ cấu kinh tế, tức

là chuyển dần từ nền kinh tế nông nghiệp sang nền kinh tế công nghiệp và dịch vụ

Trong quá trình phát triển kinh tế của thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng, đã cho thấy rằng, những thành công hay thất bại trong việc phát triển kinh tế bắt nguồn từ việc xác định cơ cấu kinh tế có phù hợp hay không Chính vì vậy, việc xác định hợp lí cơ cấu kinh tế được xem là động lực quan trọng để phát triển nền kinh tế Đây là một trong những nội dung quan trọng của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Bạc Liêu là một tỉnh nằm trong vùng Đồng bằng sông Cửu Long với nền kinh tế chủ yếu là nông nghiệp Trong những năm qua, đặc biệt là từ khi tái thành lập tỉnh (1997), tỉnh đã cùng với cả nước xây dựng và phát triển nền kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Cơ cấu kinh tế của tỉnh cũng từng bước được chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa Trong đó, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp được xem là trọng tâm, vấn đề này càng trở nên cấp thiết khi Việt Nam

là một trong những nước chịu ảnh hưởng nặng nề của biến đổi khí hậu mà tỉnh Bạc Liêu nằm trong khu vực Đồng bằng sông Cửu Long nơi chịu ảnh hưởng nặng nề nhất ở Việt Nam

Từ những cơ sở lý luận trên, với thực tiễn chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp tỉnh Bạc Liêu và tính cấp thiết của vấn đề, nên tôi đã quyết định nghiên cứu

đề tài “ Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và phát triên nông thôn trên

quan điểm phát triển bền vững ở tỉnh Bạc Liêu”, với mong muốn góp một phần

nhỏ công sức của mình vào tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa của tỉnh nhà trong thời gian tới

Trang 13

2 Mục tiêu đề tài và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là:

thực tiễn phát triễn bền vững nông nghiệp ở một số nước

- Đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm thực hiện có hiệu quả quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và phát triển nông thôn

Để đạt được các mục tiêu trên của luận văn này tác giả đã đề ra các nhiệm vụ sau:

nghiệp, phát triển nông thôn theo hướng phát triển bền vững ở một số nước Từ đó rút ra những vấn đề có tính phương pháp luận cho việc nghiên cứu chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, phát triển nông thôn Bạc Liêu

nông nghiệp và phát triển nông thôn Bạc Liêu trên quan điểm phát triển bền vững

kinh tế, kỹ thuật và cơ chế, chính sách nhằm thức đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Bạc Liêu

bền vững thích ứng với biến đổi khí hậu

3 Phạm vi nghiên cứu

3.1 Về nội dung:

Tỉnh Bạc Liêu là tỉnh được tái lập năm 1997 nên phạm vi nghiên cứu của luận văn chỉ giới hạn ở những nội dung sau:

Liêu giai đoạn 2000 – 2010

nông thôn tỉnh Bạc Liêu trên quan điểm phát triển bền vững

Trang 14

- Nêu ra những định hướng và đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và phát triển nông thôn của tỉnh Bạc Liêu theo hướng bền vững

4 Lịch sử nghiên cứu

Trước Đổi mới (1986) có khá nhiều công trình nghiên cứu về cơ cấu kinh tế trong nước được công bố và xuất bản, trong đó nổi bật là công trình nghiên cứu của tác giả Bùi Huy Đáp (1983) "Về cơ cấu nông nghiệp Việt Nam ", chủ yếu đi vào phân tích cơ cấu sản xuất nông nghiệp

Từ Đổi mới đến nay, đã có một số công trình nghiên cứu khoa học và sách xuất bản có nội dung liên quan đến cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn như: Lê

Đình Thắng (1998), Chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn - Những vấn đề lý luận và thực tiễn; Trương Thị Minh Sâm (2001), Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp vùng nông thôn ngoại thành thành phố Hô Chí Minh; Nguyễn Quốc Sử (2001), Chuyển dịch cơ cấu và xu hướng phát triển của kinh tế nông nghiệp Việt Nam theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa từ thế kỷ XX đến thế kỷ XXI trong "Thời đại kinh tế trí thức "

Ngoài ra, còn có khá nhiều tổng luận phân tích, khảo luận, bài viết tại các hội thảo khoa học có liên quan đến các khía cạnh khác nhau đối với chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nhìn chung các nghiên cứu này tập trung phản ánh các nội dung chủ yếu sau:

khách quan của chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng CNH, HĐH

Trang 15

- Vai trò và nội dung của chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp trong quá trình chuyển từ nền nông nghiệp truyền thống sản xuất nhỏ, tự túc, tự cấp thành nền nông nghiệp hàng hóa sản xuất lớn

tiếp đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn Trong đó đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò và xu hướng tác động của khoa học và công nghệ cũng như của quá trình toàn cầu hóa và khu vực hóa

- Đánh giá kết quả chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn ở nước ta và kinh nghiệm của một số nước trên thế giới, từ đó rút ra những xu hướng mang tính quy luật, những nội dung có liên quan đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn tại thời điểm nghiên cứu; xác định phương hướng và giải pháp nhằm thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn cả nước hay một vùng, một địa phương

nghiệp nhằm gia tăng hiệu quả sản xuất, đáp ứng yêu cầu cải thiện đời sống nông dân luôn là vấn đề được nhiều nhà khoa học quan tâm và đã có khá nhiều công trình nghiên cứu trong đó đáng chú ý là các công trình:

vùng Đồng bằng sông Cửu Long " do Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế miền Nam

thực hiện năm 2000, đã xoáy sâu phân tích các yếu tố tác động đến phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp - nông thôn; thực trạng, định hướng và giải pháp chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn

- Luận án tiến sỹ (2001) của tác giả Bùi Văn Sáu với đề tài: "Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp - nông thôn theo hướng CNH - HĐH ở tỉnh Vĩnh Long", đã

đi sâu phân tích và dự báo các nhân tố tác động, đánh giá thực trạng và đề xuất phương hướng giải pháp thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn tĩnh Vĩnh Long theo hướng CNH - HĐH

những cảm nhận và đề xuất", trong đó đã nêu bật vị trí, vai trò nông nghiệp của

Trang 16

vùng Đồng bằng sông Cửu Long đối với cả nước; lũ và đối sách sống chung với lũ

cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở Đồng bằng sông Cửu Long những năm đầu thế kỷ 21”

tại Hội thảo khoa học vì sự phát triển Đồng bằng sông Cửu Long, đã phân tích thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và những vấn đề cấp bách đang đặt

ra

Nhìn chung, cho đến nay chưa có nhiều công trình nghiên cứu sâu và đánh giá toàn diện về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và phát triển nông thôn trên quan điểm phát triển bền vững ở tỉnh Bạc Liêu

Với đề tài nghiên cứu: “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và phát triển nông thôn trên quan điểm phát triển bền vững ở tỉnh Bạc Liêu”, tôi cũng dựa

trên cơ sở lí thuyết về phát triển bền vững nông nghiệp – nông thôn để nghiên cứu vấn đề Tuy nhiên trong đề tài này tôi chỉ giải quyết vấn đề dưới góc độ địa lí kinh

tế - xã hội

5 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu

5.1 Quan điểm nghiên cứu

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và phát triển nông thôn là một hệ thống hoàn chỉnh, bao gồm các phân hệ có quy mô lớn nhỏ khác nhau, chúng tác động qua lại, phụ thuộc và quy định lẫn nhau Đó là các phân hệ tự nhiên, dân cư và kinh tế

Lí thuyết về các tổng hợp thể sản xuất – lãnh thổ cho phép nhận thức đầy đủ hơn các mối liên hệ chặt chẽ, các mối tương quan phụ thuộc lẫn nhau, quy định lẫn nhau giữa các đối tượng, các phần tử, các quá trình diễn ra trên một địa bàn lãnh thổ nhất định trong một tổng thể duy nhất, hoạt động theo những chức năng, những mục tiêu xác định nhằm đạt được hiệu quả kinh tế - xã hội và sinh thái Vì vậy, để đề xuất được phương hướng và giải pháp thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và phát triển nông thôn cần phải dựa trên cơ sở phân tích đánh giá tổng hợp

Trang 17

mối quan hệ giữa các nhân tố tự nhiên và kinh tế - xã hội và phải đặt nó trong một không gian cụ thể là tỉnh Bạc Liêu

5.1.3 Quan điểm lịch sử - viễn cảnh

Luận văn xem xét các đối tượng và mối quan hệ giữa các đối tượng trong sự vận động phát triển không ngừng và luôn đặt chúng trong các hoàn cảnh lịch sử cụ thể Do các nhân tố tác động đến cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp luôn vận động và phát triển theo cả không gian và thời gian

Sự phát triển kinh tế không những chỉ đáp ứng cho nhu cầu trong hiện tại mà

phát triển bền vững là một yêu cầu tất yếu thể hiện không những về hiệu quả kinh tế

- xã hội mà còn môi trường

5.2.1 Phương pháp thu thập tài liệu

Các tài liệu trong luận văn này được thu thập chủ yếu từ Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Kế hoạch và đầu tư, Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Khoa học và Công nghệ, Cục Thống kê, sách, báo,…

gian, tìm ra các mối liên hệ giữa các yếu tố để nhìn nhận chính xác hơn về đối tượng nghiên cứu

5.2.3 Phương pháp dự báo

Giúp ta đưa ra định hướng, xác định mục tiêu để thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, phát triển nông thôn, xây dựng các mô hình kinh tế ở nông thôn thích ứng với biến đổi khí hậu trong thời gian sắp tới trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu

Nhằm thể hiện cô đọng, xúc tích, trực quan các đối tượng nghiên cứu trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và phát triển nông thôn của tỉnh Bạc Liêu

Trang 18

5.2.5 Phương pháp khảo sát thực địa

Giúp ta đánh giá, xác định lại một cách đầy đủ, chính xác tài liệu đã có, nhằm tránh những kết luận chủ quan, thiếu cơ sở thực tế

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Trước đây cũng có nhiều công trình nghiên cứu về sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, phát triển nông thôn Nhưng thực sự chưa có một đề tài nào nghiên cứu về sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và phát triển nông thôn theo hướng phát triển bền vững ở tỉnh Bạc Liêu Đề tài nghiên cứu tác động của các nhân tố đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp

và phát triển nông thôn của tỉnh trong bối cảnh hội nhập hiện nay như thế nào? tìm

ra những hạn chế trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và phát triển nông thôn của tỉnh Bạc Liêu và đưa ra những giải pháp cho sự phát triển bền vững nông nghiệp – nông thôn

7 Bố cục của đề tài

Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung của luận văn gồm ba chương chính:

triển nông thôn bền vững

nông thôn trên quan điểm phát triển bền vững ở tỉnh Bạc Liêu

Chương 3 Quan điểm, định hướng và các giải pháp chủ yếu thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Bạc Liêu

Trang 19

Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN

BỀN VỮNG

Để hiểu khái niệm cơ cấu kinh tế, trước hết cần làm rõ khái niệm cơ cấu

thống

1.1.1.1 Khái niệm cơ cấu kinh tế

“Cơ cấu kinh tế là một tổng thể hợp thành bởi nhiều yếu tố kinh tế của nền kinh tế quốc dân, giữa chúng có những mối liên hệ hữu cơ, những tương tác qua lại

cả về số lượng và chất lượng, trong những không gian và điều kiện kinh tế - xã hội

cụ thể, chúng vận động hướng vào những mục tiêu nhất định” [19]

Như vậy, về mặt bản chất cơ cấu kinh tế biểu hiện trên các mặt:

quốc gia

Trang 20

- Số lượng và tỷ trọng của các nhóm ngành và các yếu tố cấu thành hệ thống kinh tế trong tổng thể nền kinh tế đất nước

hướng vào các mục tiêu đã xác định

Mặt khác, cơ cấu kinh tế thể hiện 3 khía cạnh:

cấu kinh tế phù hợp với quy luật vận động khách quan của nền kinh tế quốc dân

Mỗi quốc gia, mỗi vùng miền, địa phương khác nhau thì cơ cấu kinh tế khác nhau Việc xây dựng cơ cấu kinh tế phải dựa vào điều kiện kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia, vùng miền, địa phương trong một thời kì nhất định

triển kinh tế - xã hội của đất nước, vùng miền, địa phương trong từng giai đoạn quyết định hình thành cơ cấu kinh tế trong thời kì đó Cơ cấu kinh tế là thuộc tính

của nền kinh tế, phản ánh số lượng và chất lượng của các phần tử hợp thành trong mối liên kết chặt chẽ với nhau để tạo nên hệ thống kinh tế vận động và phát triển không ngừng Cơ cấu kinh tế biểu hiện hình thức của nó thông qua tỷ trọng của các phần tử tạo nên cơ cấu và biểu hiện qua nội dung, các quan hệ chặt chẽ hay lỏng lẻo giữa các phần tử hợp thành Chính quan hệ này sẽ chi phối sự phát triển hài hòa, nhịp nhàng của tất cả các phần tử tạo nên cơ cấu Và cuối cùng là đem lại kết quả và hiệu quả cho nền kinh tế

vấn đề có ý nghĩa chiến lược quan trọng phụ thuộc vào sự hiểu biết sâu sắc các nhân

tố kinh tế - xã hội ở từng vùng trong từng thời gian và khả năng tổ chức sản xuất, quản lí kinh tế, trên cơ sở đó khai thác và sử dụng có hiệu quả nhất tài nguyên, đất đai, sức lao động, tư liệu sản xuất, tạo ra sự phát triển trên mọi vùng đất nước

Trang 21

1.1.1.2.Cơ cấu kinh tế nông nghiệp

Cơ cấu kinh tế nông nghiệp là một bộ phận của hệ thống cơ cấu kinh tế quốc dân, phụ thuộc vào cơ cấu kinh tế quốc dân, nhưng nó cũng mang tính độc lập tương đối Vậy cơ cấu kinh tế nông nghiệp được hiểu: Cơ cấu kinh tế nông nghiệp

là tổng thể các mối quan hệ theo tỷ lệ về số lượng và chất lượng tương đối ổn định của các yếu tố kinh tế xã hội liên quan đến sản xuất nông nghiệp trong một khoảng thời gian và không gian nhất định [21]

Quá trình phát triển kinh tế - xã hội là quá trình biến đổi diễn ra trên tất cả các lĩnh vực kinh tế - xã hội nhưng trước hết là sự gia tăng năng lực sản xuất và sự chuyển dịch các nguồn lực được sử dụng vào quá trình sản xuất của các ngành Xu hướng chung trong thực tế là khi thu nhập bình quân đầu người tăng lên thì tỉ trọng sản phẩm nông nghiệp trong tổng sản phẩm quốc dân sẽ giảm xuống, tỉ trọng sản phẩm công nghiệp và dịch vụ tăng lên, đến một trình độ nhất định thì tỉ trọng dịch

vụ sẽ tăng nhanh hơn so với công nghiệp Để lý giải cho quá trình này, có hai lý do chính:

Từ cuối thế kỷ XIX, E Engel đã nhận thấy rằng, khi thu nhập của các gia đình tăng lên, tỷ lệ chi tiêu của họ cho lương thực, thực phẩm sẽ giảm xuống và cho sản phẩm công nghiệp và dịch vụ tăng, dẫn tới tỷ trọng của nông nghiệp trong tổng sản phẩm quốc nội giảm xuống

- I Fisher (1867 - 1947) quan sát thấy, tiến bộ kỹ thuật có tác động đến thay đổi phân bố lao động vào ba khu vực của nền kinh tế, tạo điều kiện cho nông dân tăng năng suất lao động Kết quả là để bảo đảm lương thực, thực phẩm cho xã hội, không cần đến lượng lao động như cũ và tỷ lệ lao động nông nghiệp giảm dần, có thể từ 80% đối với các nước chậm phát triển xuống 11 - 12% ở các nước công nghiệp phát triển và có thể thấp hơn Ở Mỹ, hiện chỉ có khoảng 3% lực lượng lao động làm việc trong khu vực nông nghiệp

Ngoài ra hai lý do nêu trên, còn có một lý do khác cũng làm cho tỷ trọng nông nghiệp trong tổng sản phẩm quốc dân giảm sút, đó là các lợi thế tương đối

Trang 22

trong nông nghiệp, nhất là đất đai và lao động ở các quốc gia phát triển mất dần so với các quốc gia có trình độ phát triển thấp hơn

Từ những phân tích nêu trên cho thấy chuyển dịch cơ cấu kinh tế thực chất là quá trình cải biến kinh tế - xã hội từ lạc hậu, mang tính chất tự cấp, tự túc bước vào chuyên môn hóa hợp lý, trang bị kỹ thuật, công nghệ hiện đại, trên cơ sở tạo ra năng suất lao động cao và nhịp độ tăng trưởng mạnh cho nền kinh tế Quá trình chuyển dịch này diễn ra bắt đầu từ nội bộ của từng ngành theo những xu hướng nhất định

và trong nông nghiệp, quá trình chuyển dịch cơ cấu các ngành ở hầu hết các quốc gia thường diễn ra theo xu hướng có tính quy luật như sau:

Trong dài hạn, cầu nông sản chịu tác động mạnh bởi thu nhập của dân cư theo hướng: khi mức thu nhập thấp, cầu về các nông sản thông thường lớn hơn và khi thu nhập tăng lên, cầu về các nông sản có chất lượng cao tăng lên Kết quả điều tra ở Indonesia thời điểm 1969 – 1970 cho thấy, nhu cầu các thức ăn có tinh bột (gạo, ngô, khoai mì) trong tổng calory của nhóm hộ có thu nhập thấp chiếm trên 85%, của nhóm hộ có thu nhập trung bình giảm còn 77% và của nhóm hộ có thu nhập cao giảm cao còn 68% và tỉ lệ này có thể giảm còn 35 - 40% khi thu nhập bình quân đầu người đạt 2.500 USD/năm

- Một nghiên cứu khác cho rằng, thịt, trứng sữa và thủy sản là loại thực phẩm có nguồn gốc động vật Mức độ tiêu dùng các loại thực phẩm này có quan hệ trực tiếp đến bồi bổ sức khỏe và phát triển trí tuệ nhân loại, vì thế hầu hết các nước đều quan tâm đến đầu tư phát triển chăn nuôi và nghề cá

Như vậy, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp là quá trình chuyển dịch các nguồn lực trong nông nghiệp nhằm gia tăng sản lượng các ngành, trong đó các ngành có năng suất lao động cao hơn sẽ có tỉ trọng tăng và xu hướng chung đối với sản xuất nông nghiệp của hầu hết các nước là tỉ trọng giá trị sản lượng nông sản phi lương thực, nhất là các sản phẩm chăn nuôi và thủy sản ngày càng tăng khi thu nhập của dân cư tăng lên

Trang 23

1.1.3 Mối quan hệ giữa chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp với tăng trưởng và phát triển nông nghiệp bền vững

Tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phát triển kinh tế là ba khái niệm khác nhau về bản chất nhưng giữa chúng lại có mối quan hệ tương tác và

hỗ trợ lẫn nhau trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp với tăng trưởng: tăng trưởng kinh tế

là sự gia tăng hay mở rộng về sản lượng hàng hóa và dịch vụ của nền kinh tế trong một khoảng thời gian nhất định Nó vừa là mục tiêu, vừa là thước đo quan trọng phản ánh sự tăng lên về quy mô sản lượng và sản lượng bình quân đầu người của một nền kinh tế Qua đó có thể hiểu tăng trưởng nông nghiệp là sự tăng lên về sản lượng hàng hóa và dịch vụ trong lĩnh vực nông nghiệp

Nguồn gốc của tăng trưởng nông nghiệp dựa trên cơ sở của sự gia tăng các nguồn lực đầu vào cơ bản đối với quá trình sản xuất nông nghiệp là đất đai, vốn, lao động và công nghệ Mặt khác, để đảm bảo vai trò cung cấp đủ lương thực, thực phẩm thiết yếu cho tiêu dùng của dân cư ngày càng tăng, nguyên liệu cho phát triển công nghiệp, vốn và ngoại tệ cho tích lũy ban đầu để đầu tư phát triển các ngành nền kinh tế khác, đòi hỏi các ngành, các lĩnh vực trong nông nghiệp phải không ngừng gia tăng quy mô sản lượng, nghĩa là tăng trưởng Tuy nhiên, mức tăng sản lượng giữa các ngành, giữa các lĩnh vực là không giống nhau, nhờ đó tạo sự chuyển dịch về cơ cấu giữa các ngành, các lĩnh vực trong nông nghiệp Nhưng nếu sự tăng trưởng đó không được định hướng bằng một cơ cấu hợp lý, dễ dẫn tới chất lượng tăng trưởng không cao Ngược lại, sự đổi mới cơ cấu các ngành, các lĩnh vực trong nông nghiệp thể hiện bằng việc bố trí lại các nguồn lực sử dụng trong quá trình sản xuất, điều chỉnh cơ cấu tích lũy và tiêu dùng, thay đổi các biện pháp tạo cung và cầu, sẽ làm cho năng suất của các ngành, các lĩnh vực đó tăng lên và gia tăng sản lượng Như vậy, có thể xem sự thay đổi cơ cấu và nhịp độ tăng trưởng kinh tế trong nông nghiệp là hai phạm trù thay nhau mang bản chất của mối quan hệ nguyên nhân

và kết quả Nếu nhịp độ tăng trưởng cao sẽ thúc đẩy biến đổi cơ cấu nhanh và cơ cấu biến đổi nhanh sẽ nâng cao hiệu quả sản xuất xã hội và tăng chất lượng tăng

Trang 24

trưởng Do đó, cơ cấu kinh tế được xem là phương tiện để thực hiện mục đích là thúc đẩy nhịp độ tăng trưởng kinh tế và khi nói đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế đã bao hàm cả tăng trưởng kinh tế và ngược lại

Chuyển dịch cơ cấu với phát triển nông nghiệp bền vững: phát triển nông nghiệp bền vững luôn là mục tiêu phấn đấu của mọi quốc gia và là một quá trình biến đổi lâu dài theo xu hướng ngày càng hoàn thiện Phát triển nông nghiệp bền vững có ý nghĩa rộng lớn, bao hàm cả bốn mục tiêu cơ bản là: tăng trưởng kinh tế - tăng về quy mô số lượng, thay đổi về cơ cấu kinh tế - thay đổi về chất lượng, tiến bộ

về xã hội - nâng cao chất lượng cuộc sống của đại bộ phận dân cư, cải thiện về môi trường tự nhiên - đảm bảo cân bằng sinh thái và chỉ khi nào đồng thời đạt hiệu quả cao cả bốn mục tiêu này thì nền nông nghiệp mới được xem là phát triển bền vững

trong những nội dung trụ cột phản ánh mức độ phát triển của một nền kinh tế Bởi

vì, có những quốc gia đạt được mức tăng trưởng nông nghiệp rất cao nhưng vẫn còn một bộ phận lớn người dân sống ở nông thôn có thu nhập dưới mức nghèo đói Đây

là hệ quả của sự chuyển dịch thiếu cân đối giữa các ngành kinh tế, giữa các thành phần kinh tế và giữa các vùng lãnh thổ của nền kinh tế đó Mặt khác, sự tăng trưởng nhanh chóng của nền kinh tế có thể kéo theo sự khai thác tài nguyên thiên nhiên bừa bãi, khiến cho các nguồn tài nguyên bị kiệt quệ, làm phá vỡ cân bằng môi trường sinh thái hoặc cùng với tăng trưởng là sự bất bình đằng về kinh tế, chính trị và nhiều giá trị truyền thống tốt đẹp bị hạ thấp hoặc mất đi, dẫn tới cơ cấu xã hội bị đảo lộn

và bất ổn định Tuy nhiên, nếu chỉ nhấn mạnh đến công bằng xã hội và bền vững môi trường tự nhiên sẽ dẫn tới phát triển dàn trải giữa các ngành và giữa các vùng, dẫn tới tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu diễn ra chậm, không đáp ứng được các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Vì thế, để bảo đảm hài hòa cả mục tiêu trước mắt và lâu dài, nhiều nước chọn con đường phát triển toàn diện thông qua tăng trưởng kinh tế nhanh đi đôi với nâng cao chất lượng tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Trang 25

Tóm lại, có thể thấy được mối quan hệ giữa chuyển dịch cơ cấu với tăng trưởng và phát triển kinh tế nông nghiệp ở một số nội dung cơ bản sau:

đối đang tồn tại, tạo ra một trình độ cân đối mới cao hơn làm tiền đề cho tăng trưởng cao và phát triển ổn định trong nông nghiệp, nông thôn và ngược lại

các nguồn lực đầu vào đối với quá trình sản xuất, đó cũng chính là nguồn gốc của tăng trưởng và phát triển kinh tế

lao động xã hội bên trong lãnh thổ mà còn thúc đẩy quá trình tham gia vào hợp tác lao động quốc tế tạo thuận lợi cho từng ngành chủ động hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế sâu hơn, cạnh tranh mạnh mẽ hơn, nhờ đó mà kích thích tăng trưởng và phát triển kinh tế

hóa

thuật là các yếu tố cơ bản tác động đến quá trình tái sản xuất Trong đó Marx cho rằng đất đai chính là sự giới hạn của tăng trưởng, còn lao động là một hàng hóa đặc biệt, có thể tạo ra giá trị lớn hơn giá trị của bản thân nó, giá trị đó bằng giá trị sức lao động (V) dành cho bản thân người lao động cộng với giá trị thặng dư (m) thuộc

về nhà tư bản Phần giá trị thặng dư này, sau khi nhà tư bản tiêu dung cho sinh hoạt, được sử dụng cho tái sản xuất cả theo chiều rộng và chiều sâu Tiến bộ kỹ thuật, Marx xem là yếu tố chính giúp tăng trưởng kinh tế theo chiều sâu và là cách duy nhất để tăng năng suất lao động nhằm mục đích cuối cùng là tăng giá trị thặng dư Vốn là phần giá trị thặng dư tích lũy cho phát triển sản xuất thông qua tiết kiệm ngoài phần tiêu dùng của nhà tư bản Như vậy, Marx đã chỉ rõ vai trò đóng góp của từng yếu tố cơ bản vào quá trình tái sản xuất mở rộng nền tinh tế và là nền tảng cơ bản để nhiều lý thuyết ra đời sau này kế thừa

Trang 26

Khi phân tích tích lũy và tái sản xuất mở rộng, Marx cho rằng điều kiện của tái sản xuất mở rộng là các ngành sản xuất tư liệu sản xuất để chế tạo ra tư liệu sản xuất tăng nhanh nhất, các ngành sản xuất tư liệu sản xuất để chế tạo ra tư liệu tiêu

nhiên, khi phân tích Marx giả thiết những tiền đề: chia tổng sản phẩm xã hội theo dạng hiện vật (tư liệu sản xuất, tư liệu tiêu dùng) và theo giá trị (C + V + m), giá trị bằng với giá cả, phân tích chủ nghĩa tư bản dưới dạng thuần túy (chỉ có 2 giai cấp tư sản và vô sản), tỉ suất giá trị thăng dư không đổi, cấu tạo hữu cơ tư bản không đổi

và không có ngoại thương Do đó, việc vận dụng quy luật ưu tiên phát triển công nghiệp nặng của các nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung diễn ra trong những điều kiện thực tế khác xa so với các giả thiết của Marx nên đã không mang lại thành công như mong đợi Mặt khác, sự thiếu vắng ngoại thương trong mô hình của Marx cũng đưa đến tình trạng đóng cửa của các nền kinh tế này

Như vậy, Marx đã chỉ rõ vai trò của từng yếu tố vốn, lao động, đất đai, tiến

bộ kỹ thuật đối với quá trình tái sản xuất xã hội mở rộng và từ bài học kinh nghiệm

về vận dụng quy luật ưu tiên phát triển công nghiệp nặng của Marx đối với các nước cho thấy quá trình lựa chọn các ngành và các lĩnh vực nhằm thực hiện công nghiệp hóa cần phải được xem xét trong những điều kiện cụ thể cũng như cần coi trọng đúng mức vai trò của ngoại thương

Chiến lược thay thế nhập khẩu: nội dung cơ bản của chiến lược này là thay

thế các hàng hóa công nghiệp nhập khẩu bằng sản xuất trong nước với sự bảo hộ của chính phủ thông qua sử dụng hàng rào thuế quan cao hoặc hạn ngạch nhập khẩu nhằm mục đích chính là bảo hộ sản xuất trong nước, nhất là các ngành công nghiệp còn non trẻ, tiết kiệm ngoại tệ và tạo thêm việc làm Chiến lược này được hầu hết các nước đang phát triển thực thi trong những năm 50 đến nửa đầu những năm 60

và đã thu được những thành công nhất định trong giai đoạn đầu Một số ngành công nghiệp, nhất là công nghiệp chế biến lương thực, thực phẩm, dệt và giấy phát triển khá nhanh, nhờ đó thúc đẩy hình thành các vùng sản xuất nguyên liệu trong nông nghiệp Song do áp dụng mạnh các chính sách bảo hộ mậu dịch đã nảy sinh tiêu cực

Trang 27

trong quản lý nhà nước về thuế quan và hạn ngạch, giảm cạnh tranh trong sản xuất, thị trường trong nước không đủ lớn để kích thích sản xuất, làm cho sản xuất của các

khẩu nguyên liệu và máy móc thiết bị ngày càng tăng, dẫn tới gia tăng nhập siêu và

nợ nần Ngược lại, các nước áp dụng chiến lược đẩy mạnh xuất khẩu lại đạt được mức tăng trưởng khá cao và ổn định, buộc nhiều nước đang áp dụng chiến lược thay thế nhập khẩu phải chuyển sang chiến lược đẩy mạnh xuất khẩu

Chiến lược đẩy mạnh xuất khẩu: nội dung cơ bản của chiến lược này là tập

trung các nguồn lực sẳn có của quốc gia, nhất là nguồn lao động dồi dào để phát triển các hàng hóa phục vụ xuất khẩu thông qua sử dụng các chính sách kinh tế như:

xuất, chính sách ổn định và điều chỉnh cơ cấu vĩ mô Nhờ đó, nền kinh tế nhanh chóng tạo được nguồn ngoại tệ để có thể nhập công nghệ và nguyên liệu cho mở rộng quy mô sản xuất trong nước, đồng thời kéo theo các ngành cung ứng đầu vào cho các ngành công nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu phát triển, nhất là sản xuất nguyên liệu phục vụ cho công nghiệp chế biến

Rõ ràng là việc thực hiện chiến lược đẩy mạnh xuất khẩu thông qua phát huy lợi thế so sánh của các quốc gia đã cho phép bất kỳ sản phẩm nào mà quốc gia đó có lợi thế chi phí thấp so với thế giới sẽ phát triển, nhờ đó cơ hội việc làm và thu nhập cho người lao động sẽ nâng cao, gia tăng sản lượng nền kinh tế Tuy nhiên, chiến

theo hướng đổi mới về mặt công nghệ để đáp ứng yêu cầu cạnh tranh quốc tế ngày càng khốc liệt, nhất là từ phía các nước phát triển

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp của nước ta hiện nay:

Nhà nước Việt Nam kiên trì chủ trương xây dựng một nền nông nghiệp hàng hóa mạnh, phát triển bền vững, vì xét về lâu về dài, nước ta có nguồn tài nguyên và nhiều lợi thế to lớn về nông nghiệp Nền nông nghiệp Việt Nam đã đạt được nhiều

Trang 28

những khuyết tật của một nền nông nghiệp sản xuất nhỏ, lạc hậu, hiệu quả kinh tế kém và sức cạnh tranh thấp mà không dễ gì khắc phục được trong thời gian ngắn

Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp là đòi hỏi bức xúc của nông dân và cả nền kinh tế nước ta Đây là điều kiện cần và đủ cho sự phát triển bền vững

và theo lí thuyết phát triển bao gồm tăng trưởng và chuyển đổi cơ cấu Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp trước hết phải đảm bảo hai yêu cầu cơ bản sau đây:

- Một là, nâng cao giá trị sản xuất trên 1 ha đất Cả nước hiện nay có trên 9,3 triệu ha đất nông nghiệp, giá trị sản lượng nông nghiệp hiện nay khoảng 9 tỉ USD/năm, bình quân 1.000 USD/ha trong khi đó Đài Loan chỉ có 0,9 triệu ha đất nông nghiệp, giá trị sản lượng lên tới 14 tỉ USD/năm, giá trị tạo ra từ 1 ha cao gấp

15 lần nước ta Nước ta hiện nay đã có rất nhiều mô hình sản xuất, nhiều hệ thống canh tác cho giá trị trên 1 ha rất cao, trên 50 triệu đồng/ha chẳng hạn nuôi tôm công nghiệp 40.000 USD/năm, trồng hoa (xã Tây Hựu, Hà Nội) 10.000 USD/năm Chính Phủ ta phấn đấu trong những năm đầu thế kỉ 21, giá trị sản phẩm làm ra trên 1 ha đất tăng 2 – 3 lần, tức đạt 20 tỉ USD rồi lên 30 tỉ USD/năm Đó sẽ là bước nhảy vọt cực kì to lớn của nền nông nghiệp nước nhà

- Hai là, tăng thu nhập cho người nông dân, có nghĩa là giá trị làm ra trên 1

ha đất phải lớn, đồng thời phải thỏa đáng, từ đó nâng thu nhập cho nông dân

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp Việt Nam, phải xác định chuyển dịch đồng bộ 3 nội dung: điều chỉnh sản xuất nông nghiệp; điều chỉnh sản phẩm từng ngành hàng nông nghiệp; điều chỉnh lại qui mô hàng hóa của các sản phẩm nông nghiệp Dựa trên các định hướng chuyển dịch này để các ngành sản xuất có lợi thế cạnh tranh, có qui mô hàng hóa ăn khớp với sự biến động của quan hệ cung cầu trên thị trường [28]

1.1.5 Các nhân tố tác động đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp

1.1.5.1 Đầu tư vốn

Hiện nay, do thu nhập của người dân ngày càng tăng, sản phẩm tiêu dùng của họ cũng đòi hỏi khắt khe hơn về chất lượng Việc đầu tư cho nông nghiệp sẽ làm tăng năng suất lao động, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển sản xuất nông

Trang 29

nghiệp, nâng cao chất lượng sản phẩm Để thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nhu cầu vốn sẽ rất lớn Cơ sở hạ tầng như giao thông, thông tin liên lạc phát triển tạo điều kiện thuận lợi cho việc khai thác, vận chuyển và tiêu thụ sản phẩm, phát sinh nhu cầu mới từ khu vực lân cận nhằm phát huy các tiềm năng tự

kinh doanh mới Đồng thời, đầu tư vốn giúp cho người nông dân tiếp cận công nghệ hiện đại như công nghệ sinh học, các giống cây trồng vật nuôi cho năng suất cao, vượt khỏi khả năng tích lũy của họ

Do đó, cần có một giải pháp về vốn phù hợp sẽ thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu diễn ra nhanh hơn, hiệu quả hơn

1.1.5.2 Tiến bộ khoa học kĩ thuật

Trong thời đại ngày nay, khoa học kỹ thuật phát triển nhanh như vũ bão Tiến bộ khoa học - kỹ thuật và công nghệ diễn ra trên thế giới và trong nước có ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự biến đổi cơ cấu kinh tế Trong kinh tế nông nghiệp, khoa học - kỹ thuật có những tác động với cơ giới hóa, thủy lợi hóa, cách mạng về sinh học Do đó trong nông nghiệp hàng loạt giống cây trồng, vật nuôi có năng suất cao

và hiệu quả kinh tế lớn từng bước được đưa vào sản xuất Nhu cầu của xã hội về nông sản, trước hết là lương thực đã được đáp ứng Ở nước ta hiện nay, vai trò của nhân tố khoa học với chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp phụ thuộc 2 nhân tố:

+ Sự lạc hậu của công cụ lao động, trình độ tay nghề của người lao động và khả năng hạn hẹp về vốn đầu tư cho đổi mới khoa học – công nghệ

vấn đề quan trọng phải nhanh chóng và không ngừng thay đổi kỹ thuật và công nghệ lạc hậu; phá thế độc canh cây lúa, một số vùng đưa công nghệ sinh học để nâng cao năng suất lao động Mặc dù mức độ và khả năng khác nhau, nhưng bất cứ quy mô nào cũng đều có nhu cầu về khoa học - kỹ thuật – công nghệ Sở dĩ như vậy

vì nền kinh tế nước ta đòi hỏi phải có những loại hàng hóa nông thủy sản có chất lượng cao, đa dạng phong phú Nhu cầu đó không chỉ đáp ứng yêu cầu trong nước

Trang 30

mà còn xuất khẩu ra nước ngoài Khi đưa những tiến bộ kỹ thuật vào sử dụng thì cần phải phân tích và lựa chọn những loại kỹ thuật có trình độ phù hợp với nhu cầu

và khả năng của từng vùng Tránh tình trạng đưa những công nghệ được coi là mới của ta nhưng quá lạc hậu đối với các nước khác, hoặc là hiện đại đến mức chúng ta

sử dụng không hiệu quả Thực tiễn cho chúng ta thấy phải kết hợp ứng dụng những thành tựu khoa học - kỹ thuật - công nghệ hiện đại với khai thác triệt để kinh nghiệm truyền thống công cụ cải tiến trong nông nghiệp

1.1.5 3 Thị trường và trình độ phát triển của kinh tế thị trường

Trong nền kinh tế hàng hóa, thị trường là khâu trung gian giữa sản xuất và tiêu dùng, do đó luôn là yếu tố quyết định sự phát triển kinh tế và đặc biệt nó làm ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự hình thành và biến đổi giữa các ngành kinh tế, nói đến thị trường là nói đến nhu cầu của con người cần được thỏa mãn thông qua thị trường Hơn nữa ở nước ta lượng dân cư tương đối lớn tập trung ở vùng nông thôn nên nó đã tạo ra một thị trường sôi động với các hàng hóa nông sản có giá trị kinh tế cao, rất gần gũi và quen thuộc đối với đời sống hàng ngày của con người, nếu mức thu nhập của nhân dân cao tạo sức mua lớn thị trường nông thôn; đồng thời cũng phụ thuộc vào việc nền kinh tế xây dựng cơ cấu và chuyển dịch cơ cấu kinh tế như thế nào? Và điều hết sức quan trọng là phải giải quyết được vấn đề cơ bản của thị trường: sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào và sản xuất cho ai?

Sản xuất cái gì? Vấn đề cơ bản kinh tế nhất phải lựa chọn là sản xuất những loại hàng hóa và dịch vụ, số lượng bao nhiêu, chất lượng ra sao để có thể thỏa mãn tối đa nhu cầu thị trường Muốn vậy, phải nắm bắt được nhu cầu trong nước và ngoài nước, nhu cầu về chủng loại, về số lượng, chất lượng, về thời gian cung ứng, xác định nhu cầu thị trường không thể tìm ngay trong quan hệ cung cầu hàng hóa,

mà phải thông qua giá cả thị trường

Thực tiễn phát triển kinh tế nước ta trong những năm gần đây cho thấy rằng ngành sản xuất nào, địa phương nào, biết lựa chọn hàng hóa nào thị trường cần thì

họ sẽ tồn tại và phát triển trong cạnh tranh và ngược lại Sản xuất như thế nào? Sau khi đã lựa chọn được sản xuất cái gì là tối ưu thì công việc tiếp theo là tổ chức công

Trang 31

việc đó như thế nào để sản xuất nhanh nhất, nhiều nhất với chất lượng tốt nhất và rẻ nhất Để làm được điều đó trước hết phải lựa chọn được các yếu tố đầu vào một cách thích hợp cả về chủng loại, số lượng, chất lượng và thời gian Vấn đề quan trọng tiếp theo phải giải quyết là tổ chức kết hợp chặt chẽ giữa các yếu tố đầu vào

để sản xuất ra hàng hóa và dịch vụ với chi phí thấp

Sản xuất cho ai? Những hàng hóa sản xuất ra được tiêu thụ theo giá cả thị trường và quan hệ cung cầu trên thị trường Như vậy thị trường đầu ra và đầu vào

có mối quan hệ chặt chẽ với cơ cấu kinh tế trong một hệ thống, mối quan hệ này càng hoàn hảo bao nhiêu thì cơ cấu kinh tế càng hợp lý bấy nhiêu

1.1.5 4 Lợi thế so sánh về vị trí địa lí, tài nguyên khí hậu

Là yếu tố tiền đề, có vai trò quan trọng trong việc hình thành cơ cấu và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp Các yếu tố tự nhiên bao gồm: đất đai, thời tiết, khí hậu, nguồn nước, tài nguyên rừng, biển… các yếu tố này có tác động trực tiếp tới việc hình thành, vận động và biến đổi của cơ cấu kinh tế nông nghiệp

Đối tượng của sản xuất nông nghiệp là những sinh vật sống, chúng chỉ tồn tại

và phát triển được khi có đủ năm điều kiện: nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng, dinh dưỡng

và không khí Do vậy, nó quy định những sản phẩm nông nghiệp khác nhau Trong một quốc gia, các vùng lãnh thổ đều có những điều kiện tự nhiên rất khác nhau, vùng có điều kiện tự nhiên thuận lợi có thể phát triển những ngành có lợi thế hơn các vùng khác Vì vậy, cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của mỗi vùng miền, địa phương bao giờ cũng dựa trên lợi thế về các điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên nhằm khai thác hết tiềm năng phục vụ sản xuất

Việt Nam nằm trong khu vực Đông Nam Á, thuộc khu vực đang phát triển năng động nhất thế giới, lại nằm trên tuyến giao thông quan trọng, có nhiều cửa ngỏ thông ra biển thuận tiện cho ra vào các nước trong khu vực Do đó, nước ta có lợi thế mở rộng kinh tế đối ngoại, thu hút đầu tư nước ngoài, phát triển thương mại hàng không, hàng hải và dịch vụ Tuy vậy, việc khai thác các yếu tố này phục vụ phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khách quan

và chủ quan Thông thường ở mỗi giai đoạn phát triển, người ta tập trung khai thác

Trang 32

các tài nguyên có lợi thế, trữ lượng lớn, giá trị kinh tế cao, nhu cầu thị trường lớn và

ổn định, như vậy sự đa dạng và phong phú tài nguyên thiên nhiên và các điều kiện

có ảnh hưởng đến quá trình hình thành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, là nhân tố phải tính đến trong quá trình hoạch định cơ cấu

1.1.5 5 Yếu tố kinh tế xã hội

nghiệp Bao gồm các yếu tố:

* Lao động: Trong sản xuất nông nghiệp, lao động là lực lượng sản xuất chủ yếu, là động lực của mọi hoạt động sản xuất Năng suất, hiệu quả sản xuất do số lượng, chất lượng và cơ cấu lao động hợp lí quyết định Nhất là trong điều kiện áp dụng mạnh mẽ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp như hiện nay càng đòi hỏi cao về chất lượng lao động “Nguồn lao động được coi là nhân tố quan trọng để phát triển nông nghiệp theo chiều rộng (khai hoang, mở rộng diện tích) và theo chiều sâu (thâm canh)” [39]

* Kinh nghiệm, tập quán sản xuất: Có thể cho phép phát triển nhanh các ngành nghề truyền thống và hình thành các vùng sản xuất chuyên môn hóa phù hợp với những kinh nghiệm và tập quán truyền thống đó Tuy nhiên, nó có tính hai mặt nếu kinh nghiệm tập quán sản xuất lạc hậu sẽ kìm hãm sự chuyển dịch cơ cấu kinh

tế nông nghiệp và ngược lại

* Cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ nông nghiệp: Bao gồm máy

bón, vật tư nông nghiệp, giống cây trồng vật nuôi… ảnh hưởng trực tiếp tới năng suất, hiệu quả lao động

* Đường lối, chính sách phát triển nông nghiệp: Tùy theo từng điều kiện cụ thể, từng giai đoạn nhất định mà đường lối chính sách phát triển nông nghiệp sẽ khác nhau nhằm đáp ứng yêu cầu về phát triển kinh tế, để có chiến lược chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp cho phù hợp và đạt được hiệu quả kinh tế cao nhất trong từng giai đoạn cụ thể

Trang 33

Tóm lại: các nhân tố ảnh hưởng tới chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp

là một chuỗi hệ thống và có tác động tương hỗ lẫn nhau

1.1.6 1 Nhóm chỉ tiêu phản ánh kết quả, hiệu quả chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp

Cơ cấu GDP hoặc cơ cấu giá trị sản xuất nông nghiệp: đây là một trong

Các chỉ tiêu thường được sử dụng để đánh giá gồm có :

Trang 34

Y: Tổng GDP hoặc giá trị sản xuất nông nghiệp

L: Tổng lao động nông nghiệp

(3) Yếu tố đất đai:

- Giá trị sản xuất bình quân trên 1 ha đất nông nghiệp

- Diện tích đất canh tác bình quân trên 1 lao động

(4) Khoa học và công nghệ:

- Tỉ lệ diện tích hoặc tỉ lệ hộ sử dụng giống mới

- Tỉ lệ diện tích tưới tiêu chủ động

- Tỉ lệ diện tích áp dụng kỹ thuật canh tác tiên tiến

Chỉ tiêu phản ánh hiệu quả tác động của các nhân tố đến tổng cầu: tương tự như đối với nhân tố cung, một số chỉ tiêu phổ biến được sử dụng để đo lường mức

độ tác động của các nhân tố lên tổng cầu:

- Tỉ trọng giá trị nông sản hàng hóa tiêu dùng trong nước

- Tỉ trọng giá trị nông sản xuất khẩu so với giá trị sản xuất

- Tỉ lệ nông sản hàng hóa tiêu thụ thông qua hợp đồng

Các chỉ tiêu trên được tính cho toàn ngành và cho từng ngành trong nông nghiệp để là cơ sở cho việc phân tích, đánh giá mức độ tác động của từng yếu tố đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp

Trang 35

1.2 Cơ sở lí luận về phát triển bền vững

Trên thế giới, trong những thập kỷ gần đây, vấn đề phát triển bền vững đã được nhiều nhà nghiên cứu, các tổ chức quốc tế đặc biệt quan tâm Phát triển bền vững bao gồm rất nhiều vấn đề Có nhiều tổ chức, các nhà nghiên cứu, hoạt động thực tiễn trên thế giới và ở nước ta tiếp cận các khía cạnh khác nhau của phạm trù phát triển bền vững Cho đến nay chưa có một khái niệm thống nhất về phạm trù phát triển bền vững Sau đây là một số khái niệm về phát triển bền vững của các tổ chức, nhà nghiên cứu Việt Nam:

+ Phát triển bền vững là sự phát triển kinh tế xã hội lành mạnh, dựa trên việc

sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên và bảo vệ môi trường, nhằm đáp ứng nhu cầu hiện tại nhưng không ảnh hưởng bất lợi đến các thế hệ mai sau (PGS.TS Trần Văn Chử)

+ Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam đã đưa ra mục đích và nội dung phát triển bền vững như sau: “phát triển bền vững nhằm vào việc tăng cường chất lượng cuộc sống một cách toàn diện bao gồm cả thịnh vượng về kinh tế, xã hội, môi trường và văn hoá cần được kết hợp hài hoà.”

Năm 1987, Hội đồng thế giới về môi trường và phát triển (WCED) đã đề xuất chương trình Our Common Future (tương lai của chúng ta), trong đó đưa ra

nhu cầu hiện tại mà không làm thương tổn đến khả năng của các thế hệ tương lai đáp ứng nhu cầu của họ” Đây cũng là khái niệm phát triển bền vững được thừa nhận và sử dụng rộng rãi nhất

Tóm lại, phát triển bền vững là sự phát triển mà việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên, những điều kiện của môi trường để tạo ra những sản phẩm thoả mãn những nhu cầu hiện tại của con người nhưng vẫn đảm bảo cho các thế hệ sau những điều kiện của tài nguyên và môi trường cần thiết để họ có thể sinh sống tốt hơn Sự phát triển đó tất nhiên là làm cho môi trường biến đổi nhưng vẫn đảm bảo cho môi trường thực hiện được các chức năng cơ bản của mình: là không gian sinh tồn của con người, nơi cung cấp cho con người các tài nguyên để sản xuất, xử lý, chôn vùi

Trang 36

các phế thải sản xuất và sinh hoạt không gây ô nhiễm môi trường

nước, các nguồn di truyền động thực vật, là môi trường không suy thoái, kỹ thuật phù hợp, kinh tế phát triển và một xã hội chấp nhận được” (FAO, 1991)

Một nền nông nghiệp được gọi là bền vững khi nó hội tụ đủ các yếu tố sau: + Đảm bảo đủ nhu cầu về lương thực, thực phẩm cho toàn xã hội, phát triển nông nghiệp đáp ứng cho nhu cầu đời nay mà không ảnh hưởng đến khả năng đáp ứng nhu cầu của đời sau Thực hiện xoá đói giảm nghèo và công bằng xã hội

Phát triển nhưng bảo tồn được tài nguyên thiên nhiên

tế Đó là nền nông nghiệp khai thác hài hoà tự nhiên trong mối quan hệ bền vững với con người cho hiện tại và nhu cầu của đời sau

Mục đích của nông nghiệp bền vững là kiến tạo một hệ thống nông nghiệp bền vững về mặt sinh thái, có tiềm lực về mặt kinh tế, có khả năng thoả mãn những nhu cầu ngày càng tăng của con người mà không làm suy thoái đất, không làm ô nhiễm môi trường trên cơ sở sử dụng hợp lý tài nguyên

Để đạt được mục đích của mình, nông nghiệp bền vững chủ trương kết hợp giữa: (1) khảo sát để học hỏi từ các hệ sinh thái tự nhiên để vận dụng vào các hệ sinh thái nông nghiệp, với (2) kho tàng kiến thức cổ truyền, kiến thức bản địa phong phú trong quản lý và sử dụng tài nguyên, và (3) kiến thức khoa học và công nghệ hiện đại Và như vậy, nông nghiệp bền vững sẽ tạo ra một hệ sinh thái nông nghiệp

có khả năng sản xuất lương thực, thực phẩm cho con người và thức ăn cho chăn nuôi cao hơn các hệ sinh thái tự nhiên trên cơ sở sử dụng nguồn năng lượng không độc hại, tiết kiệm và tái sinh năng lượng Nhưng không chỉ bảo vệ những hệ sinh thái đã có trong tự nhiên mà còn tìm cách khôi phục những hệ sinh thái đã suy thoái

Trang 37

Nông nghiệp bền vững khuyến khích con người phát huy lòng tự tin, sáng tạo để cùng giải quyết những vấn đề đang đặt ra ở từng địa phương cũng như các vấn đền chung: sự cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, sự suy thoái môi trường, sự mất cân bắng sinh thái

Sự phát triển công nghiệp và nông nghiệp với sự trợ giúp của các thành tựu khoa học kỹ thuật trong vài thập kỷ gần đây đã làm thay đổi hẳn bộ mặt của Trái Đất và làm thay đổi sâu sắc cuộc sống của con người Nhưng do chạy theo lợi nhuận tối đa trước mắt nên cũng đã gây ra những hậu quả tiêu cực, đe doạ tương lai

và sự phồn vinh của nhân loại, trước hết là nạn ô nhiễm môi trường, mất rừng và suy thoái đất, làm xói mòn tính đa dạng sinh học, thay đổi thành phần khí quyển làm mất cân bằng nhiệt lượng

Việc lạm dụng hoá chất trong sản xuất nông nghiệp đã làm hỏng cấu tượng đất, làm phương hại đến tập đoàn vi sinh vật - phần sống của đất, làm ô nhiễm nguồn nước Việc công nghiệp hoá nông nghiệp với mục đích săn tìm lợi nhuận tối

đa đã làm phá sản hàng triệu nông dân nghèo, đẩy họ ra thành phố bổ sung vào đội quân thất nghiệp vốn đã đông đảo ở đây, làm trầm trọng hơn các tệ nạn xã hội và nạn ô nhiễm môi trường đô thị

Hiện nay, việc tiêu thụ nhất là tiêu thụ năng lượng và thực phẩm ngày càng tăng và lãng phí B.Mollison 1994 cho biết, cứ 10 cal công nghiệp đưa vào nông nghiệp thì mới lấy được 1 cal sản phẩm Tỷ lệ tiêu thụ năng lượng/đầu người đã tăng gấp 8 lần kể từ sau thế chiến thứ 2 Năng lượng hoá thạch sử dụng lãng phí và không đúng cách là nguyên nhân quan trọng làm ô nhiễm môi trường Đồng thời, nếu cứ giữ tỷ lệ tăng như hiện nay thì dân số thế giới sẽ tăng lên gần 1 tỷ sau mỗi thập kỷ, trong khi đất trồng trọt giảm tỷ lệ thuận với sự gia tăng dân số và mở mang

Trang 38

kinh tế xã hội từng địa phương Những công việc trên đều phải tuân theo một số nguyên lý chung:

1 Các yếu tố ( như công trình kiến trúc, nhà ở, ao vườn, đường đi ) cần được đặt trong mối quan hệ hỗ trợ nhau tạo thành một chỉnh thể toàn vẹn Đối với mỗi yếu tố có thể xây dựng chiến lược sử dụng qua phân tích các mặt sau:

+ Sản phẩm của yếu tố (hay hệ phụ) này có thể được sử dụng cho nhu cầu của yếu tố (hay hệ phụ) khác như thế nào?

+ Các yếu tố khác có thể cung cấp cho yếu tố này những gì?

+ Yếu tố đó có lợi cho yếu tố khác như thế nào và không phù hợp với những yếu tố khác ở những mặt nào?

+ Phải sắp đặt các yếu tố sao cho hệ thống vận hành có hiệu quả nhất và tốt nhất

2 Mỗi yếu tố phải đảm bảo nhiều chức năng: mỗi yếu tố trong hệ thống phải được chọn lọc và đặt vào vị trí có thể đảm bảo được nhiều chức năng nhất: hồ ao có thể dùng nuôi cá, nuôi vịt, trữ nước tưới, nước cứu hoả Bờ mương trồng cây chắn gió, trồng cây ăn quả, là đường đi và là nơi chăn thả gia súc

3.Tìm giải pháp chứ không phải nêu vấn đề

4 Hợp tác chứ không cạnh tranh

5 Làm cho mọi thứ đều sinh lợi (chất thải thành phân bón, nước thải dùng nuôi cá )

6 Chỉ làm những việc đó khi chắc chắn đem lại hiệu quả

7 Tận dụng mọi thứ đến khả năng cao nhất của chúng (bố trí hệ thống cây trồng hợp lý để nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng Mặt Trời, năng lượng này có thể dùng để sưởi ấm, nấu ăn, quạt mát, bơm nước )

8 Đưa việc sản xuất thực phẩm vào các khu đô thị (tận dụng khả năng để sản xuất rau quả, nuôi gia cầm ngay tại các đô thị)

9 Giúp cho mọi người tự tin ở mình, mọi người ai cũng có khả năng tự tìm

ra các giải pháp thích hợp để cải thiện chất lượng cuộc sống

Trang 39

10 Chi phí hay đầu tư thấp để đạt được năng suất cao nhất (chọn chỗ đắp đập ít tốn công nhất nhưng lại giữ được nhiều nước nhất)

* Đặc trưng của hệ thống nông nghiệp bền vững

a) Bền vững theo không gian

Khi nghiên cứu hệ thống nông nghiệp, người ta phải xem xét nó trong một phạm vi không gian nhất định: nông trại, vùng, quốc gia hay thế giới Tuy nhiên giới hạn không gian của hệ thống mang tính rất tương đối Điều này đã dẫn đến những khó khăn nhất định trong việc đưa ra khái niệm bền vững của hệ thống, bền vững trong phạm vi không gian nào và buộc phải giới hạn phạm vi không gian của tính bền vững Số mức phạm vi không gian và các mối liên kết của chúng với nhau luôn là một vấn đề của việc xác định khi nào tính bền vững là một đặc tính cố hữu của hệ thống và khi nào tính bền vững đó là phụ thuộc vào các yếu tố bên

Như vậy, khi xác định tính bền vững của hệ thống nông nghiệp, buộc chúng

ta phải cân nhắc để giới hạn tính bền vững trong phạm vi không gian nào: cánh đồng, nông trại, vùng hay ở các mưc hệ thống lớn hơn Điều đó có nghĩa là ở mức phạm vi không gian này, hệ thống nông nghiệp được coi là bền vững, nhưng ở mức phạm vi không gian lớn hơn của hệ thống thì chưa chắc nó đã bền vững

b) Bền vững theo thời gian

Cùng với không gian, tính bền vững của một hệ thống nông nghiệp cũng luôn gắn liền với một thời gian nhất định nào đó Sự xem xét tính bền vững của hệ thống theo thời gian luôn là vấn đề rất phức tạp, bởi vì mọi sự tồn tại đều biến đổi theo thời gian Do vậy, cần đánh giá tính bền vững của hệ thống trong một khoảng thời gian nhất định nào đó

c) Tính bền vững nhiều chiều của hệ thống nông nghiệp

+ Bền vững sinh học và môi trường: Tính bền vững sinh học và môi trường được quyết định bởi sự ổn định về sinh trưởng, phát triển và năng suất của sinh vật theo thời gian

Trang 40

+ Bền vững kinh tế: bền vững về kinh tế được xem xét bởi sự biến động về lợi nhuận kinh tế theo thời gian Do đó, có thể nói bền vững về kinh tế gắn liền với

sự biến động về giá cả và thị trường nông sản cũng như giá vật chất đầu tư

của hệ thống đối với cả cộng đồng xã hội Khi đánh giá tính bền vững xã hội cho một hệ thống nông nghiệp, cần phải đánh giá nhiều mặt như: ổn định công ăn, việc làm, hiệu quả sử dụng lao động, thu nhập của người dân, vấn đề giới, vai trò chức năng của các cơ quan, đoàn thể cũng như các giá trị văn hóa và đời sống tinh thần của cả cộng đồng

Khái niệm về An ninh lương thực: Hội nghị lương thực thế giới 1974 đưa ra khái niệm an ninh lương thực được hiểu là “sự sẵn có của nguồn cung lương thực thế giới ở mọi lúc nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng trong điều kiện biến đổi về sản xuất và giá cả lúa gạo”

Hội nghị lương thực thế giới năm 1996 đã mở rộng khái niệm an ninh lương thực theo chuỗi từ cấp độ cá nhân đến cấp độ toàn cầu và chuyển hóa từ lượng sang chất “An ninh lương thực đạt được ở mỗi cá nhân, mỗi hộ, mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ, và cấp độ toàn cầu cầu khi tất cả mọi người, ở mọi lúc, mọi nơi đều có đủ chất dinh dưỡng cho cuộc sống”

Có thể hiểu một cách nôm na, an ninh lương thực chính là đủ lương thực cho

xã hội để không ai bị đói, người làm ra lương thực không bị nghèo đi so với mặt bằng chung của xã hội

Giữa an ninh lương thực với phát triển bền vững có mối quan hệ mật thiết với nhau

một cuộc sống có chất lượng cao hơn Trong đó các nhu cầu căn bản của con người như ăn, ở, đi lại, vui chơi giải trí phải được thỏa mãn ở một mức độ cao hơn hiện tại Tuy nhiên, hiện nay hàng triệu người có thu nhập thấp đang phải vật lộn với cái

ăn hàng ngày; hàng triệu nông dân sản xuất nông nghiệp không có lời nên phải ly

Ngày đăng: 15/04/2021, 12:38

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
26. L ưu Văn Sùng (2004), M ột số kinh nghiệm điển hình về phát triển nông nghi ệp nông thôn theo hướng CNH, HĐH , Nxb Chính tr ị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số kinh nghiệm điển hình về phát triển nông nghiệp nông thôn theo hướng CNH, HĐH
Tác giả: L ưu Văn Sùng
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2004
38. Lê Qu ốc Sử (2001), Chu yển dịch cơ cấu và xu hướng phát triển kinh tế nông ngh iệp Việt Nam theo hướng CNH, HĐH từ thế kỉ XX đến thể kỉ XXI trong th ời đại tri thức , Nxb T hống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyển dịch cơ cấu và xu hướng phát triển kinh tế nông nghiệp Việt Nam theo hướng CNH, HĐH từ thế kỉ XX đến thể kỉ XXI trong thời đại tri thức
Tác giả: Lê Qu ốc Sử
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 2001
27. Sở Công thương tỉnh Bạc Liêu, Qui hoạch công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp tỉnh Bạc Liêu giai đoạn 2006 – 2010, tầm nhìn đến năm 2020 Khác
28. Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Bạc Liêu, Báo cáo cáo qu i hoạch phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bạc Liêu đến năm 2020 Khác
29. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bạc Liêu, Đề án xây dựng huyện nông thôn mới Phước Long thời kì 2010 – 2020 Khác
30. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bạc Liêu, Chương trình bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản giai đoạn 2008 – 2010 và định hướng đến năm 2020 Khác
31. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bạc Liêu, Điều chỉnh qui hoạch sản xuất nông – lâm – ngư nghiệp tỉnh Bạc Liêu đến năm 2010 Khác
32. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bạc Liêu, Qui hoạch sử dụng đất tỉnh Bạc Liêu đến năm 2010 Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w