1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Luận văn Thạc sỹ Kinh doanh và quản lý: Đánh giá việc thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thị xã Sơn Tây - thành phố Hà Nội

115 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 115
Dung lượng 1,8 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong những năm gần đây Nhà nước đã từng bước hoàn thiện pháp luật về đất đai và ban hành các văn bản pháp lý hướng dẫn thực hiện về công tác bồi thường, hỗ trợ GPMB và tái định cư nhằm

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG

THỊ XÃ SƠN TÂY – THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ: KINH DOANH VÀ QUẢN LÝ CHUYÊN NGÀNH: TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG

MÃ SỐ : 60340201 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS Đồng Xuân Ninh

HÀ NỘI - 2015

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu của chính bản thân tôi Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cám ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc

Nếu sai tôi xin hoàn toàn chi ̣u trách nhiê ̣m

Tác giả luận văn

Trần Thế Đạt

Trang 3

ii

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình điều tra, nghiên cứu để hoàn thành luâ ̣n văn, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được sự chỉ bảo, giúp đỡ rất tận tình, chu đáo của các nhà khoa ho ̣c, các thầy cô và sự giúp đỡ nhiê ̣t tình chu đáo của cơ quan và nhân dân đi ̣a phương

Nhân dịp này cho phép tôi được bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới PGS TS Đồng Xuân Ninh đã tâ ̣n tình hướng dẫn giúp đỡ tôi trong suốt quá trình hoàn thành luâ ̣n văn

Tôi xin chân thành cảm ơn sự góp ý chân thành của các thầy cô giáo trong Khoa Tài chính - Ngân hàng, UBND thị xã Sơn Tây - Thành phố Hà Nội , Trung tâm Phát triển quỹ đất , ban Bồi thường GPMB Thị xã và các phòng, ban, cán bô ̣, nhân dân 02 phường Trung Sơn Trầm và phường Viên Sơn của thị xã Sơn Tây đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn gia đình và các bạn đồng nghiệp đã ta ̣o điều kiê ̣n về mo ̣i mă ̣t, động viên, giúp đỡ cho tôi trong quá trình thực hiện luận văn

Hà Nội, ngày tháng năm 2015

Tác giả luận văn

Trần Thế Đạt

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC BẢNG vi

DANH MỤC HÌNH vii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT viii

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu và yêu cầu của nghiên cứu của đề tài 2

2.1 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2

2.2 Yêu cầu nghiên cứu của đề tài 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

3.1 Đối tượng nghiên cứu 2

3.2 Phạm vi nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu 2

5 Ý nghĩa khoa học của luận văn 3

6 Kết cấu của luận văn 4

CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CHÍNH SÁCH BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ VÀ TÁI ĐỊNH CƯ KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT 5

1.1 Khái niệm chung về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất 5

1.2 Mối quan hệ giữa bồi thường, hỗ trợ và tái định cư 6

1.3 Các yếu tố ảnh hưởng tới công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất 7

1.3.1 Một số yếu tố cơ bản trong quản lý Nhà nước về đất đai 7

1.3.2 Yếu tố giá đất và định giá đất 9

1.3.3 Thị trườ ng bất đô ̣ng sản 10

1.4 Chính sách bồi thường, hỗ trợ GPMB và tái định cư khi thu hồi đất của một số nước trên thế giới và các tổ chức quốc tế 10

1.4.1 Chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi thu hồi đất của một số nước trên thế giới: 10

Trang 5

iv

1.4.2 Chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi thu hồi đất của một số tổ

chức quốc tế 14

1.4.3 Đánh giá chung 16

1.5 Chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất tại Việt Nam 16

1.5.1 Cơ sở pháp lý qua các thời kỳ 16

1.5.2 Cơ sở pháp lý hiện hành về chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất 24

1.5.3 Tình hình thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất ở Việt Nam 26

1.5.4 Tình hình thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất tại Thành phố Hà Nội 29

CHƯƠNG II: ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VIỆC THỰC HIỆN CÁC CHÍNH SÁCH BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ VÀ TÁI ĐỊNH CƯ KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ SƠN TÂY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 34

2.1.Đánh giá khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của thị xã Sơn Tây 34

2.1.1 Điều kiện tự nhiên, tài nguyên và cảnh quan môi trường 34

2.1.2 Vị trí địa lý 34

2.1.3 Khí hậu 35

2.1.4 Thuỷ văn 35

2.1.5 Các nguồn tài nguyên 35

2.1.6 Thực trạng phát triển kinh tế, xã hội của Thị xã 37

2.2 Thực trạng công tác quản lý và sử dụng đất của Thị xã Sơn Tây 42

2.2.1 Tình hình quản lý nhà nước về đất đai của Thị xã Sơn Tây 42

2.2.2 Hiện trạng sử dụng đất ở Thị xã Sơn Tây 46

2.3 Thực trạng công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư trên địa bàn thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội 48

2.3.1 Việc tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất 48

2.3.2 Kết quả thực hiện công tác BT,HT&TĐC 2012-2014 49

2.3.3 Trình tự thực hiê ̣n bồi thường, hỗ trơ ̣ và tái đi ̣nh cư khi Nhà nước thu hồi đất trên đi ̣a bàn thị xã Sơn Tây 51

Trang 6

2.3.4 Đánh giá việc thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi

Nhà nước thu hồi đất tại 02 dự án nghiên cứu 54

CHƯƠNG III: HOÀN THIỆN CẤC GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BỒI THƯỜNG HỖ TRỢ VÀ TÁI ĐỊNH CƯ KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ SƠN TÂY 87

3.1 Tác động của phát triển kinh tế và đầu tư của thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội trong chính sách BT, HT&TĐC 87

3.2 Định hướng, mục tiêu và nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội của thị xã Sơn Tây 87

3.3 Hoàn thiện các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất 88

3.3.1 Các giải pháp chung 88

3.3.2 Các giải pháp cụ thể 89

3.4 Một số kiến nghị với các cơ quan nhà nước 90

3.4.1 Đối với Chính phủ 90

3.4.2 Đối với thành phố Hà Nội 90

3.4.3 Đối với Thị xã Sơn Tây 91

KẾT LUẬN 95

TÀI LIỆU THAM KHẢO 97

Phụ lục 1: Thành lập Hội đồng và tổ công tác BT, HT và tái định cư 100

Phụ lục 2: Thống kê các Quyết định riêng của từng dự án tại Thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội 101

Trang 7

vi

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1: Diện tích các loại đất ở Thị xã Sơn Tây 36

Bảng 2.2: Giá trị tổng sản phẩm trên địa bàn Thị xã Sơn Tây 38

Bảng 2.3: Thực trạng phát triển kinh tế của Thị xã Sơn Tây từ 2000-2014 39

Bảng 2.4: Tình hình phát triển dân số, lao động và việc làm ở Thị xã Sơn Tây giai đoạn 2008-2014 40

Bảng 2.5: Hiện trạng sử dụng đất tại Thị xã Sơn Tây năm 2014 47

Bảng 2.6: Tình hình thu hồi đất, GPMB trên địa bàn thị xã Sơn Tây từ 2012 - 2014 50

Bảng 2.7: Xác đi ̣nh đối tượng được bồi thường và không được bồi thường 59

Bảng 2.8: Quan điểm của người có đất bi ̣ thu hồi trong viê ̣c xác đi ̣nh đối tượng và điều kiê ̣n được bồi thường 60

Bảng 2.9: Xác đi ̣nh đối tượng, điều kiê ̣n được tái đi ̣nh cư 62

Bảng 2.10: Tổng hợp số tiền đất được bồi thường, hỗ trợ 67

Bảng 2.11: Tổng hợp đơn giá bồi thường về đất ta ̣i 02 dự án 67

Bảng 2.12: Tổng hợp kinh phí giá tri ̣ bồi thường, hỗ trợ nhà ở, công trình vâ ̣t kiến trúc, cây cối hoa màu trên đất bi ̣ thu hồi của 02 dự án 71

Bảng 2.13: Tổng hợp kinh phí các chính sách hỗ trợ của 02 dự án 76

Bảng 2.14: Quan điểm của người dân về các chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư của dự án 1 80

Bảng 2.15: Quan điểm của người dân về các chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư dự án 2 81

Trang 8

DANH MỤC SƠ ĐỒ, HÌNH

Biểu đồ 1: Cơ cấu phát triển kinh tế thi ̣ xã Sơn Tây 38

Biểu đồ 2: Cơ cấu sử du ̣ng đất năm 2014 thi ̣ xã Sơn Tây 48

Biểu đồ 3: Cơ cấu thu hồi đất của dự án 1 55

Biểu đồ 4: Cơ cấu thu hồi đất của dự án 2 56

Hình 1: Hình ảnh Tiểu khu nhà ở Đồi Dền 56

Hình 2: Hình ảnh Xây dựng công trình đường trục phát triển 57

Trang 9

viii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ

ADB Ngân hàng phát triển Châu Á BTHT&TĐC Bồi thường hỗ trợ và tái định cư BTHT Bồi thường hỗ trợ

GDP Giá trị tổng sản xuất GCNQSDĐ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất GPMB Giải phóng mặt bằng

HĐND Hội đồng nhân dân NĐ-CP Nghị định - Chính phủ QĐ-UBND Quyết định - Ủy ban nhân dân

TT-BTC Thông tư - Bộ Tài chính TT-BTN Thông tư - Bộ Tài nguyên TTLT Thông tư liên tịch

UBND Uỷ ban nhân dân

WB Ngân hàng thế giới

Trang 10

PHẦN MỞ ĐẦU

1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Trong quá trình hội nhập và phát triển với nền kinh tế toàn cầu, đất nước

ta đang phát triển mạnh mẽ theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nhiều dự

án đầu tư phát triển như: Khu công nghiệp, khu thương mại, khu du lịch, các khu kinh tế mở, khu dân cư, hệ thống đường giao thông, … đã và đang được triển khai xây dựng một cách mạnh mẽ Để thực hiện được các dự án trên thì mặt bằng đất đai là một trong những nhân tố quan trọng, nó quyết định đến hiệu quả trong công tác đầu tư và ảnh hưởng đến cả tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá của đất nước

Bồi thường giải phóng mặt bằng (GPMB) khi nhà nước thu hồi đất là vấn

đề hết sức nhạy cảm và phức tạp tác động tới mọi mặt đời sống kinh tế, xã hội của nhiều người, của cả cộng đồng dân cư Công tác bồi thường GPMB là điều kiện ban đầu và tiên quyết để triển khai thực hiện các dự án Việc làm này còn ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của Nhà nước, của chủ đầu tư, ảnh hưởng đến đời sống vật chất, tinh thần của người bị thu hồi đất, góp phần thu hút vốn cho đầu tư phát triển

Trong những năm gần đây Nhà nước đã từng bước hoàn thiện pháp luật về đất đai và ban hành các văn bản pháp lý hướng dẫn thực hiện về công tác bồi thường, hỗ trợ GPMB và tái định cư nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai thực hiện chính sách đền bù,

hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất để thực hiện các dự án vì lợi ích quốc gia công cộng, kinh tế và an ninh quốc phòng

Tuy nhiên việc thực hiện cơ chế Nhà nước thu hồi đất của người đang

sử dụng đất để giao đất cho các nhà đầu tư vẫn đang gây nhiều bức xúc trong thực tế triển khai, nhất là những bức xúc của người bị thu hồi đất về phương thức thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư

Không nằm ngoài những khó khăn, thách thức chung của cả nước Công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất để thực hiện các dự án trên địa bàn thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội trong những năm qua cũng gặp không ít khó khăn, vướng mắc do nhiều nguyên nhân

Xuất phát từ thực tế trên, dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Đồng Xuân Ninh,

tác giả tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá việc thực hiện chính sách bồi

Trang 11

2

thường hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội”

2 MỤC TIÊU VÀ YÊU CẦU NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI

2.1 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

- Tìm hiểu và đánh giá việc thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất tại một số dự án đầu tư xây dựng nhà ở và giao thông trên địa bàn thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội

- Đề xuất các giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư để giải quyết những tồn tại, khó khăn, đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất thực hiện các dự án trên địa bàn thị xã Sơn Tây

2.2 Yêu cầu nghiên cứu của đề tài

- Nắm vững chính sách, pháp luật đất đai, chính sách bồi thường, hỗ trợ

và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và các văn bản có liên quan

- Các số liệu, tài liệu điều tra thu thập phải có độ tin cậy, chính xác, trung thực và khách quan, phản ánh đúng quá trình thực hiện các chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư của các dự án tại địa bàn nghiên cứu

- Đánh giá đúng những tồn tại, khó khăn, vướng mắc từ đó đề ra các giải pháp có tính khả thi, phù hợp thực tế nhằm nâng cao hiệu quả công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa thị xã Sơn Tây

3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu việc thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất tại 02 dự án trên địa bàn thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội

- Dự án xây dựng tiểu khu nhà ở Đồi Dền thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội

- Dự án đầu tư xây dựng công trình đường trục phát triển thị xã Sơn Tây,

lý trình KM 13+740,6 đến KM 14+704

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Không gian: Trên địa bàn Thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội

- Thời gian: Từ tháng 12 năm 2013 đến tháng 4 năm 2014

4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau đây:

Phương pháp chuyên gia

Tham khảo ý kiến của các chuyên gia trong lĩnh vực bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất

Trang 12

Phương pháp thu thập thông tin, số liệu, tài liệu (thứ cấp)

- Thu thập tài liệu, các văn bản, chính sách có liên quan đến công tác bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất ở các dự án như khung giá đất của Chính phủ, giá quy định của Nhà nước và giá bồi thường được áp dụng cho thị xã Sơn Tây

- Tìm hiểu thực trạng của các dự án trong phạm vi đề tài

Phương pháp điều tra thực tế, phát phiếu điều tra (sơ cấp)

- Điều tra, thu thập các tài liê ̣u, số liê ̣u, các văn bản, chính sách có liên quan đến công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư của các dự án khi Nhà nước thu hồi đất

- Thu thập các số liê ̣u sơ cấp bằng phương pháp:

+ Điều tra các hô ̣ gia đình, cá nhân: Để thu thâ ̣p các thông tin liên quan tới tình hình bồi thường và sử du ̣ng tiền bồi thường, chúng tôi đã tiến hành thiết kế phiếu điều tra phỏng vấn các hô ̣ gia đình, cá nhân (Mẫu phiếu điều tra trong phần phu ̣ lu ̣c) Tuy nhiên do ha ̣n chế về mă ̣t thời gian, kinh phí nên chúng tôi tiến hành điều tra được 90 hô ̣ gia đình, cá nhân có đất bị thu hồi trong hai phường, những người dân được phỏng vấn bao gồm cả nam và nữ ở các lứa tuổi khác nhau

- Điều tra quá trình thực hiê ̣n và kết quả dự án nghiên cứu

Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh và xử lý số liệu

- Dùng phần mềm Exell để tổng hợp số liệu, phân tích và xử lý số liệu;

- Phưong pháp so sánh: Dùng để so sánh các số liệu thu thập được, từ đó thấy được sự giống nhau và khác nhau trong công tác bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất ở các dự án

Phương pháp tham khảo, kế thừa có chọn lọc các tài liệu sẵn có

- Tham khảo một số đề tài thạc sỹ về đánh giá việc thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất tại một số tỉnh, thành trong nước và các tài liệu tại một số cơ quan quản lý Nhà nước của thị xã Sơn Tây

5 Ý NGHĨA KHOA HỌC CỦA LUẬN VĂN

Ý nghĩa khoa học: Góp phần hoàn thiện, hệ thống hóa về công tác đánh giá việc

thực hiện chính sách bồi thường hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất tại một số dự án đầu tư xây dựng nhà ở và giao thông trên địa bàn thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nô ̣i Là tài liệu có giá trị, tài liệu tham khảo hữu ích đối với những những người quan tâm đến lĩnh vực trên

Ý nghĩa thực tiễn: Áp dụng nghiên cứu phù hợp với đặc điểm chuyên ngành trên

địa bàn thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nô ̣i về công tác đánh giá việc thực hiện

Trang 13

4

chính sách bồi thường hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất tại một số dự

án đầu tư xây dựng nhà ở và giao thông

6 KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN

Ngoài lời nói đầu, mục lục, kết luận chung và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề chung về chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư

khi nhà nước thu hồi đất

Chương 2: Đánh giá thực trạng việc thực hiện các chính sách bồi thường, hỗ trợ

và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thị xã Sơn Tây, thành phố Hà

Nô ̣i

Chương 3: Hoàn thiện các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện chính

sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất để đầu tư xây dựng trên địa bàn Thị Xã Sơn Tây

Trang 14

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CHÍNH SÁCH BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ VÀ TÁI ĐỊNH CƯ KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT

1.1 KHÁI NIỆM CHUNG VỀ BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ VÀ TÁI ĐỊNH CƯ KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT

Khái niệm chung

TĐC là việc di chuyển đến một nơi khác với nơi ở trước đây để sinh sống

và làm ăn TĐC bắt buộc đó là sự di chuyển không thể tránh khỏi khi Nhà nước thu hồi hoặc trưng thu đất đai để thực hiện các dự án phát triển

TĐC được hiểu là một quá trình từ bồi thường thiệt hại về đất, tài sản; di chuyển đến nơi ở mới và các hoạt động hỗ trợ để xây dựng lại cuộc sống, thu nhập, cơ sở vật chất, tinh thần tại đó Như vậy, TĐC là hoạt động nhằm giảm nhẹ các tác động xấu về kinh tế - xã hội đối với một bộ phận dân cư đã gánh chịu vì sự phát triển chung

Hiện nay ở nước ta, khi Nhà nước thu hồi đất mà phải di chuyển chỗ ở thì người sử dụng đất được bố trí TĐC bằng một trong các hình thức sau:

- Bồi thường bằng nhà ở

- Bồi thường bằng giao đất ở mới

Trang 15

6

- Bồi thường bằng tiền để người dân tự lo chỗ ở (Luật Đất đai, 2003)

TĐC là một bộ phận không thể tách rời và giữ vị trí rất quan trọng trong chính sách GPMB Các dự án TĐC cũng được coi là các dự án phát triển và phải được thực hiện như các dự án phát triển khác (Viện Nghiên cứu Địa chính, 2008)

1.2 MỐI QUAN HỆ GIỮA BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ VÀ TÁI ĐỊNH CƯ

Trong công tác giải phóng mặt bằng thì chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đảm bảo việc bồi hoàn đất đai, tài sản trên đất bị thu hồi đúng đối tượng, đúng chính sách và hơn nữa là đảm bảo ổn định đời sống cho người bị thu hồi đất bằng những chính sách phù hợp để tạo hướng phát triển nghề nghiệp ổn định

Có thể thấy bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất là một quá trình đa dạng và phức tạp nó không đơn thuần là bồi thường về vật chất mà còn phải đảm bảo được lợi ích của các bên tham gia và lợi ích của toàn xã hội

- Tính đa dạng thể hiện ở: Mỗi dự án được tiến hành trên một vùng đất khác nhau với điều kiện tự nhiên kinh tế, xã hội và trình độ dân trí nhất định Ở khu vực nội thành, khu vực ven đô, khu vực ngoại thành, mật độ dân cư khác nhau, ngành nghề đa dạng và đều hoạt động sản xuất theo một đặc trưng riêng của vùng đó

- Tính phức tạp thể hiện ở: Đất đai là tài sản có giá trị cao, có vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế - xã hội đối với mọi người dân Ở khu vực nông thôn, dân cư chủ yếu sống nhờ vào hoạt động sản xuất nông nghiệp mà đất đai lại là tư liệu sản xuất quan trọng trong khi trình độ sản xuất của nông dân thấp, khả năng chuyển đổi nghề nghiệp khó khăn do đó tâm lý người dân là giữ được đất để sản xuất, thậm chí họ cho thuê đất còn được lợi nhuận cao hơn là sản xuất nhưng họ vẫn không cho thuê

Đối với đất ở lại càng phức tạp hơn vì:

- Đất ở là tài sản có giá trị lớn, gắn bó trực tiếp với đời sống sinh hoạt của người dân Cộng thêm tâm lý người dân là ngại di chuyển chỗ ở, thay đổi môi trường sống

- Nguồn gốc hình thành đất đai khác nhau do tồn tại chế độ cũ để lại và do

cơ chế chính sách không đồng bộ dẫn đến tình trạng lấn chiếm đất đai, xây nhà trái phép gây khó khăn cho việc xác định diện tích đủ điều kiện bồi thường

- Dân cư một số vùng sống chủ yếu bằng nghề buôn bán nhỏ và sống bám vào các trục đường giao thông của khu dân cư làm kế sinh nhai nay chuyển đến

ở khu vực mới điều kiện sống thì bị thay đổi nên họ không muốn di chuyển

Từ các đặc điểm trên cho thấy công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư

Trang 16

khi Nhà nước thu hồi đất tại mỗi địa bàn khác nhau và những đặc điểm khác nhau Từ đó phải có những phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư sao cho phù hợp và thỏa đáng đối với chủ sử dụng đất bị thu hồi đất (CARE Quốc tế tại Việt Nam - Liên hiệp các Hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam, 2005)

1.3 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI CÔNG TÁC BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ VÀ TÁI ĐỊNH CƯ KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT

1.3.1 Một số yếu tố cơ bản trong quản lý Nhà nước về đất đai

1.3.1.1 Việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai và tổ chức thực hiện các văn bản đó

Đất đai là đối tượng quản lý phức tạp, luôn biến động theo sự phát triển của nền kinh tế - xã hội Để thực hiện tốt chức năng quản lý Nhà nước về đất đai đòi hỏi các văn bản pháp luật liên quan đến lĩnh vực này phải mang tính ổn định cao và phù hợp với tình hình thực tế

Ở nước ta, sau khi ban hành Luật Đất đai 1993 đến nay, Chính phủ đã ba lần trình Quốc hội Luật sửa đổi, bổ sung các quy định của Luật Đất đai (1998,

2001 và 2003) nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội đất nước Theo

đó, chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cũng luôn được Chính phủ không ngừng hoàn thiện, sửa đổi cho phù hợp với yêu cầu thực tế triển khai Với những đổi mới về pháp luật Đất đai, thời gian qua công tác GPMB đã đạt được

những kết quả đáng khích lệ, đã cơ bản đáp ứng được nhu cầu về mặt bằng cho

việc phát triển các dự án đầu tư Tuy nhiên, do tính chưa ổn định, chưa thống nhất của pháp luật đất đai qua các thời kỳ mà công tác bồi thường, GPMB đã gặp khá nhiều khó khăn và cản trở Thực tiễn triển khai cho thấy việc ban hành các văn bản quy phạm về quản lý, sử dụng đất đai có ảnh hưởng rất lớn đến công tác bồi thường, GPMB

Bên cạnh ban hành các văn bản quy phạm về quản lý, sử dụng đất đai, việc tổ chức thực hiện các văn bản đó cũng có vai trò rất quan trọng Kết quả kiểm tra thi hành Luật Đất đai năm 2005 của Bộ Tài nguyên và Môi trường cho thấy: nhận thức của người dân và kể cả một bộ phận không nhỏ cán bộ quản lý đất đai ở địa phương về chính sách pháp luật nhìn chung còn hạn chế; trong khi

đó việc tuyên truyền, phổ biến của các cơ quan có trách nhiệm chưa tốt Nhận thức pháp luật chưa đến nơi đến chốn, thậm chí lệch lạc của một số cán bộ quản

lý đất đai cùng với việc áp dụng pháp luật còn thiếu dân chủ, không công khai, công bằng ở các địa phương chính là nguyên nhân làm giảm hiệu lực thi hành

Trang 17

8

pháp luật, gây mất lòng tin trong nhân dân cũng như các nhà đầu tư và ảnh hưởng trực tiếp tiến độ GPMB (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2005)

1.3.1.2 Công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

Đất đai nằm trong nhóm tài nguyên hạn chế của Việt Nam nhưng lại là điều kiện không thể thiếu được trong mọi quá trình phát triển Vì vậy, việc sử dụng thật tốt nguồn tài nguyên đất không chỉ sẽ quyết định tương lai của nền kinh tế đất nước mà còn là sự đảm bảo cho mục tiêu ổn định chính trị và phát triển xã hội Quy hoạch sử dụng đất được xem là một giải pháp tổng thể định hướng cho quá trình phát triển và quyết định tương lai của nền kinh tế Thông qua quy hoạch sử dụng đất, Nhà nước can thiệp vào các quan hệ đất đai, khắc phục những nhược điểm do lịch sử để lại hay giải quyết những vấn đề mà quá

trình phát triển đang đặt ra

Thông qua việc lập, xét duyệt và điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất để tổ chức việc bồi thường, GPMB thực sự trở thành sự nghiệp của cộng đồng mà Nhà nước đóng vai trò tổ chức Bất kỳ một phương án bồi thường, GPMB nào đều dựa trên một quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất nhằm đạt được các yêu cầu như là phương án có hiệu quả kinh tế - xã hội cao nhất Quy hoạch sử dụng đất không chỉ là công cụ “tạo cung” cho thị trường mà còn là phương tiện quan trọng nhất thực hiện các mục tiêu chính trị - xã hội hóa về công bằng, dân chủ, văn minh trong bồi thường, GPMB và cũng là công việc mà hoạt động quản lý nhà nước có ảnh hưởng nhiều nhất, hiệu quả nhất, đúng chức năng nhất

Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất có tác động tới chính sách bồi thường đất đai trên hai khía cạnh:

- Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là một trong những căn cứ quan trọng nhất để thực hiện việc giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, mà theo quy định của Luật Đất đai năm 2003, việc giao đất, cho thuê đất chỉ được thực hiện khi có quyết định thu hồi đất đó của người đang sử dụng;

- Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là một trong những nhân tố ảnh hưởng tới giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất; từ đó tác động tới giá đất tính bồi

Trang 18

quyền và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Giấy chứng nhận quyền

sử dụng đất là chứng thư pháp lý khẳng định quyền sử dụng đất của các tổ chức,

hộ gia đình, cá nhân đối với những mảnh đất (lô đất) cụ thể, làm căn cứ cho việc thực hiện các quyền của người sử dụng đất và giải quyết các tranh chấp liên quan tới quyền sử dụng đất Trong công tác bồi thường, GPMB, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là căn cứ để xác định đối tượng được bồi thường, loại đất, diện tích đất tính bồi thường Hiện nay, công tác đăng ký đất đai ở nước ta vẫn còn yếu kém, đặc biệt là đăng ký biến động về sử dụng đất; việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vẫn chưa hoàn tất Chính vì vậy mà công tác bồi thường, GPMB đã gặp rất nhiều khó khăn Làm tốt công tác đăng ký đất đai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì công tác bồi thường, GPMB sẽ thuận lợi,

tiến độ GPMB nhanh hơn

1.3.2 Yếu tố giá đất và định giá đất

Một trong những vấn đề đang gây ách tắc cho công tác bồi thường, GPMB hiện nay đó là giá bồi thường cho người có đất bị thu hồi

Giá đất là số tiền tính trên một đơn vị diện tích đất do Nhà nước quy định hoặc được hình thành trong giao dịch về quyền sử dụng đất (Luật sửa đổi, bổ sung một số Điều của Luật Đất đai, 2001) Theo quy định của pháp luật đất đai hiện hành thì giá đất được hình thành trong các trường hợp sau đây:

- Do UBND các tỉnh, thành phố Trung ương (gọi chung là UBND cấp tỉnh) quy định (căn cứ vào nguyên tắc, phương pháp xác định giá đất và khung giá đất do Chính phủ quy định) và được công bố công khai vào ngày 01 tháng

01 hàng năm

- Do đấu giá quyền sử dụng đất hoặc đấu thầu dự án có sử dụng đất

- Do người sử dụng đất thỏa thuận về giá đất với những người có liên quan khi thực hiện các quyền chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất

Để xác định được giá đất chính xác và đúng đắn chúng ta cần phải có những hiểu biết về định giá đất Định giá đất đó là những phương pháp kinh tế nhằm tính toán lượng giá trị của đất bằng hình thái tiền tệ tại một thời điểm khi chúng tham gia trong một thị trường nhất định Hay nói cách khác, định giá đất được hiểu là sự ước tính về giá trị quyền sử dụng đất bằng hình thái tiền tệ cho một mục đích cụ thể đã được xác định tại một thời điểm xác định Khi định giá đất người định giá phải căn cứ vào mục đích sử dụng của từng loại đất tại thời điểm định giá để áp dụng phương pháp định giá đất cho phù hợp với thực tế

Trang 19

10

Hiện nay, việc định giá đất chủ yếu sử dụng một số phương pháp truyền thống như các nước trên thế giới thực hiện, đó là phương pháp so sánh trực tiếp và phương pháp thu nhập

Theo TS Phạm Đức Phong (Phạm Đức Phong, 2002) giá đất tính bồi thường thiệt hại về đất là thước đo phản ánh mối quan hệ kinh tế giữa Nhà nước, người bị thu hồi đất và nhà đầu tư Theo quy định của Luật Đất đai năm 2003, nguyên tắc định giá đất là phải sát với giá thị trường trong điều kiện bình thường Tuy nhiên, tình hình phổ biến hiện nay là giá đất do các địa phương quy định và công bố đều không theo đúng nguyên tắc đó, dẫn tới nhiều trường hợp ách tắc về bồi thường đất đai và phát sinh khiếu kiện Kết quả kiểm tra thi hành Luật Đất đai năm 2005 của Bộ Tài nguyên và Môi trường cho thấy trong 17.480 đơn tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai thì có tới 12.348 trường hợp là khiếu nại về bồi thường, GPMB (chiếm 70,64%) Trong các trường hợp khiếu nại về bồi thường, GPMB thì có tới 70% là khiếu nại về giá đất nông nghiệp bồi thường quá thấp so với giá đất chuyển nhượng thực tế trên thị trường hoặc giá đất ở được giao tại nơi TĐC lại quá cao so với giá đất ở đã được bồi thường tại nơi bị thu hồi (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2005)

Như vậy, nếu công tác định giá đất để bồi thường, GPMB không được làm tốt sẽ làm cho công tác GPMB ách tắc, dẫn tới không có mặt bằng đầu tư, làm chậm tiến độ triển khai dự án hoặc làm lỡ cơ hội đầu tư

1.3.3 Thị trươ ̀ ng bất đô ̣ng sản

Thị trường bất động sản tác động vào công tác bồi thường, GPMB trên một số nội dung chủ yếu sau:

- Thị trường bất động sản là nơi giải quyết quan hệ về cung - cầu bất động sản trong một thời gian và không gian nhất định Việc hình thành và phát triển thị trường bất động sản góp phần giảm thiểu việc thu hồi đất để thực hiện các dự án đầu tư (do người đầu tư có thể đáp ứng nhu cầu về đất đai thông qua các giao dịch trên thị trường); đồng thời, người bị thu hồi đất có thể tự mua hoặc thuê đất đai, nhà cửa mà không nhất thiết phải thông qua Nhà nước thực hiện chính sách TĐC và bồi thường

- Giá cả của bất động sản được hình thành trên thị trường và nó sẽ tác động tới giá đất tính bồi thường (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2005)

1.4 CHÍNH SÁCH BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ VÀ TÁI ĐỊNH CƯ KHI THU HỒI ĐẤT CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI VÀ CÁC TỔ CHỨC QUỐC TẾ

1.4.1 Chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi thu hồi đất của

Trang 20

một số nước trên thế giới

Đối với bất kỳ mô ̣t quốc gia nào trên thế giới, đất đai là nguồn lực quan tro ̣ng nhất, cơ bản của mo ̣i hoa ̣t đô ̣ng đời sống kinh tế – xã hô ̣i Khi Nhà nước thu hồi đất phu ̣c vu ̣ cho các mu ̣c đích của quốc gia đã làm thay đổi toàn bô ̣ đời sống kinh tế của hàng triê ̣u hô ̣ dân và người dân, người bi ̣ ảnh hưởng không những không ha ̣n chế về số lượng mà còn có xu hướng ngày càng tăng Đă ̣c biê ̣t ở những nước đang phát triển, người dân chủ yếu sống bằng nghề nông nghiê ̣p đó là vấn đề sống còn của ho ̣ Dưới đây là mô ̣t số kinh nghiê ̣m quản lý đất đai của các nước trên thế giới sẽ phần nào giúp ích cho Viê ̣t Nam chúng ta, đă ̣c biê ̣t trong chính sách bồi thường hỗ trợ và tái định cư

1.4.1.1 Trung Quốc

Pháp luật đất đai của Trung Quốc có nhiều nét tương đồng với pháp luật đất đai của Việt Nam Tuy nhiên nhìn về tổng thể việc chấp hành pháp luật của người Trung Quốc rất cao Việc sử dụng đất đai tại Trung Quốc thực sự tiết kiệm, Nhà nước Trung Quốc hoàn toàn cấm việc mua bán chuyển nhượng đất đai Do vậy thị trường đất đai gần như không tồn tại mà chỉ có thị trường nhà cửa

Về bồi thường thiệt hại về đất đai, do đất đai thuộc sở hữu nhà nước nên không có chính sách bồi thường thiệt hại Khi nhà nước thu hồi đất, kể cả đất nông nghiệp, tuỳ trường hợp cụ thể, nhà nước sẽ cấp đất mới cho các chủ sử dụng bị thu hồi đất

Về phương thức bồi thường thiệt hại, Nhà nước thông báo cho người sử dụng đất biết trước việc sẽ bị thu hồi đất trong thời hạn một năm Người dân có quyền lựa chọn các hình thức bồi thường bằng tiền hoặc bằng nhà tại khu ở mới Tại thủ đô Bắc kinh và thành phố Thượng Hải, người dân thường lựa chọn bồi thường thiệt hại bằng tiền và tự tìm chỗ ở mới phù hợp với công việc, nơi làm việc của mình

Về giá bồi thường thiệt hại, tiêu chuẩn là giá thị trường, mức giá này cũng được Nhà nước quy định cho từng khu vực và chất lượng nhà, đồng thời được điều chỉnh rất linh hoạt cho phù hợp với thực tế, vừa được coi là Nhà nước tác động điều chỉnh tại thị trường đó Đối với đất nông nghiệp việc bồi thường thiệt hại theo tính chất của đất và loại đất (tốt, xấu)

Về tái định cư, các khu tái định cư và các khu nhà ở được xây dựng đồng bộ

và kịp thời, thường xuyên đáp ứng yêu cầu nhiều loại căn hộ với các nhu cầu sử dụng khác nhau Các chủ sử dụng phải di chuyển đều được chính quyền quan tâm đến điều kiện về việc làm, đối với các đối tượng chính sách xã hội được nhà nước

Trang 21

- Thứ hai, năng lực thể chế của các chính quyền địa phương khá mạnh Chính quyền cấp tỉnh chịu trách nhiệm hoàn toàn trong việc thực hiện chương trình bồi thường hỗ trợ tái định cư

- Thứ ba, quyền sở hữu đất tập thể làm cho việc thực hiện bồi thường hỗ trợ tái định cư có nhiều thuận lợi, đặc biệt là ở nông thôn Tiền đền bù cho đất đai bị mất không trả cho từng hộ gia đình mà được cộng đồng sử dụng để tìm kiếm, phát triển đất mới hoặc mua của các cộng đồng sở tại hay dùng để phát triển kết cấu hạ tầng Chính quyền thôn, xã chịu trách nhiệm phân chia cho các

hộ bị ảnh hưởng

Bên cạnh những thành công, thì chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của Trung Quốc cũng bộc lộ những tồn tại nhất định mà chủ yếu là vấn đề việc làm; tốc độ tái định cư chậm, thiếu đồng bộ, thực hiện GPMB bằng trước khi xây xong nhà tái định cư (Viện Nghiên cứu Địa chính)

1.4.1.2 Tha ́ i Lan

Thái Lan chưa có chính sách bồi thường TĐC quốc gia, nhưng Hiến Pháp năm 1982 quy định việc trưng dụng đất cho các mục đích xây dựng cơ sở hạ tầng, quốc phòng, phát triển nguồn tài nguyên cho đất nước, phát triển đô thị cải tạo đất đai và mục đích công cộng khác phải theo thời giá thị trường cho những người hợp pháp về tất cả thiệt hại do việc trưng dụng gây ra và quy định việc bồi thường phải khách quan cho người chủ mảnh đất và người có quyền thừa kế tài sản đó Dựa trên quy định này, các ngành có quy định chi tiết cho việc thực hiện trưng dụng đất của ngành mình

Năm 1987, Thái Lan ban hành Luật về trưng dụng bất động sản áp dụng cho việc trưng dụng đất sử dụng vào mục đích xây dựng tiện ích công cộng, quốc phòng, phát triển nguồn tài nguyên hoặc có lợi ích khác cho đất nước phát triển đô thị, nông nghiệp, công nghiệp, cải tạo đất đai vào các mục đích công cộng Luật quy định những nguyên tắc trưng dụng đất, nguyên tắc tính giá trị bồi thường các loại tài sản bị thiệt hại Căn cứ vào đó, từng ngành đưa ra các quy định cụ thể về trình tự tiến hành bồi thuờng TĐC, nguyên tắc cụ thể xác định giá

Trang 22

bồi thường, các bước lập và phê duyệt dự án bồi thường thủ tục thành lập các cơ quan, ủy ban tính toán bồi thường TĐC, trình tự đàm phán, nhận tiền bồi thường quyền khiếu nại, quyền khởi kiện đưa tòa án Ví dụ: Trong ngành điện năng thì

cơ quan điện lực Thái Lan là nơi có nhiều dự án bồi thường TĐC lớn nhất nước,

họ đã xây dựng chính sách riêng với mục tiêu: “Đảm bảo cho những người bị ảnh hưởng và đặt một mức sống tốt hơn” thông qua việc cung cấp cơ sở hạ tầng

có chất lượng và đạt mức tối đa nhu cầu, đảm bảo cho những người bị ảnh hưởng có thu nhập cao hơn và được tham gia nhiều hơn vào quá trình phát triển

xã hội, vì vậy thực tế đã tỏ ra hiệu quả khi cần thu hồi đất trong nhiều dự án

(Ngân hàng phát triển Châu Á)

1.4.1.3 Inđônêxia

Đối với Inđônêxia di dân TĐC, bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất vì mục đích phát triển của xã hội từ trước đến nay vẫn bị coi là sự hi sinh mà một số người phải chấp nhận vì lợi ích của cộng đồng Các chương trình bồi thường TĐC chỉ giới hạn trong phạm vi bồi thường theo Luật cho đất bị dự án chiếm dụng, hoặc cho một số ít trường hợp thu hồi đất để xây dựng khu TĐC

Tuy nhiên, quan điểm nhìn nhận về công tác bồi thường TĐC đang từng bước thay đổi, nhận thức về hậu quả xấu có thể xảy ra đối với các vấn đề kinh tế,

xã hội, môi trường trong quá trình thu hồi đất và di dân, mặt khác, từ thực tế khách quan và sự chuyển biến về nhận thức, người bị ảnh hưởng quan tâm ngày càng lớn về quyền lợi và phúc lợi cho họ, vì vậy TĐC ngày nay được xem là chương trình phát triển của quốc gia Kinh nghiệm thực tiễn đã giúp cho các nhà hoạch định chính sách, các chuyên gia lập kế hoạch và các nhà thực thi đi đến thống nhất rằng chi phí phải trả cho những tổn thất do sự thiếu quan tâm và đầu tư trong quá trình thực hiện chính sách TĐC có thể lớn hơn rất nhiều chi phí TĐC đúng đắn Hơn nữa, những người bị bần cùng hoá, đến một thời điểm nhất định sẽ

là nguyên nhân làm kiệt quệ nền kinh tế quốc dân Do vậy, tránh hay giảm thiểu những ảnh hưởng xấu trong việc di dân TĐC, cộng với việc khôi phục thoả đáng cho những người bị ảnh hưởng, ngoài việc đạt được lợi ích về mặt kinh tế, còn đảm bảo tính công bằng đối với họ, điều này giúp cho các chủ thể an tâm trong quá trình triển khai thực hiện dự án

TĐC được thực hiện theo ba yếu tố quan trọng:

- Đền bù tài sản bị thiệt hại, nghề nghiệp và thu nhập bị mất

- Hỗ trợ di chuyển trong đó có trợ cấp, bố trí nơi ở mới với các dịch vụ và phương tiện phù hợp

Trang 23

và những nguyên tắc chính phải được đề cập đến gồm:

- Nghiên cứu kỹ phương án khả thi của các dự án để giảm thiểu việc di dân bắt buộc, nếu không thể tránh được khi triển khai dự án

- Người bị ảnh hưởng phải được bồi thường và hỗ trợ để triển vọng kinh

tế, xã hội của họ nói chung ít nhất cũng thuận lợi như trong trường hợp không có

dự án: đất đai, nhà cửa, cơ sở hạ tầng thích hợp và các loại bồi thường khác tương xứng như trước khi có dự án phải được cấp cho người bị ảnh hưởng Chú trọng đến người dân bản địa (các dự án nước ngoài), dân tộc thiểu số, nông dân

vì họ là những người có quyền lợi hoặc quyền hoa lợi theo phong tục đối với đất

và các tài sản khác bị dự án chiếm dụng

- Các dự án về TĐC phải đạt hiệu quả ở mức càng cao càng tốt, các kế hoạch TĐC phải được soạn thảo và xác lập tương ứng với thời gian và ngân sách phù hợp, người di chuyển được hưởng các cơ hội về nơi ở, nguồn lực ổn định cuộc sống càng nhanh càng tốt

- Người bị ảnh hưởng được thông báo đầy đủ, được tham khảo ý kiến chi tiết về các phương án bồi thường TĐC, người bị ảnh hưởng được hỗ trợ ở mức cao nhất về hoà nhập cộng đồng dân cư địa phương bằng cách mở rộng lợi ích của dự án đến cả các cộng đồng dân cư địa phương

- Các chủ đầu tư đặc biệt chú ý đến tầng lớp những người nghèo nhất, trong đó có những người không hoặc chưa có quyền hợp pháp về đất đai, tài sản, những hộ gia đình do phụ nữ làm chủ Đồng thời, có kế hoạch xác định quyền hợp pháp của họ, hạn chế những trường hợp coi lý do ngăn trở bồi thường TĐC

là việc thiếu quyền sở hữu, quyền sử dụng đất hợp pháp

- Để không ngừng cải tiến sự hỗ trợ của ngân hàng với các dự án trong lĩnh vực nhạy cảm này, Chính phủ Inđônêxia đã thông qua và thực hiện một số chính sách bồi thường TĐC bắt buộc Chính sách này nêu rõ các mục tiêu và phương pháp, định ra các tiêu chuẩn trong hoạt động của các tổ chức ngân hàng khi tham gia đầu tư vào các công trình TĐC (Viện Nghiên cứu Địa chính)

1.4.2 Chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi thu hồi đất của một số tổ chức quốc tế

1.4.2.1 Ngân hàng thế giới (WB)

Trang 24

Hầu hết các dự án được tài trợ bởi vốn vay của WB đều có chính sách về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư do WB đưa ra Chính sách bồi thường, hỗ trợ

và tái định của tổ chức này có nhiều khác biệt so với luật, quy định, chính sách của nhà nước Việt Nam nên có những khó khăn nhất định, nhưng bên cạnh cũng

có những ảnh hưởng tích cực tới việc hoàn thiện chính sách bồi thường, hỗ trợ

và tái định cho người bị thu hồi đất của Việt Nam Trong công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định thì vấn đề tái định cư được WB quan tâm nhiều hơn, hỗ trợ những người bị ảnh hưởng trong suốt quá trình tái định cư, từ việc tìm nơi ở mới thích hợp cho một khối lượng lớn chủ sử dụng đất phải di chuyển, tổ chức các khu tái định

cư, trợ giúp chi phí vận chuyển, xây dựng nhà ở mới, đào tạo nghề nghiệp, cho vay vốn phát triển sản xuất, cung cấp các dịch vụ tại khu tái định cư (Viện Nghiên cứu Địa chính, 2008)

1.4.2.2 Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB)

Khung chính sách của ADB được xây dựng với mục tiêu tránh việc tái định cư bắt buộc bất cứ khi nào có thể được hoặc giảm thiểu tái định cư nếu không thể tránh khỏi di dân; đảm bảo những người phải di chuyển được giúp đỡ

để ít nhất họ cũng đạt mức sống sung túc như họ đã có được nếu không có dự án hoặc tốt hơn Với các nguyên tắc cơ bản là:

- Cần tránh hoặc giảm thiểu tái định cư bắt buộc và thiệt hại về đất đai, công trình, các tài sản và thu nhập bằng cách khai thác mọi phương án khả thi

- Tất cả các hộ đều được quyền đền bù theo giá thay thế cho tài sản, thu nhập và các công việc sản xuất, kinh doanh bị ảnh hưởng, được khôi phục đủ để cải thiện hay ít nhất cũng hồi phục được mức sống, mức thu nhập và năng lực sản xuất của họ như trước khi có dự án

- Trong trường hợp di chuyển cả một khu vực dân cư phải cố gắng tối đa để duy trì các thể chế văn hoá và xã hội của những người phải di chuyển và của cộng đồng dân cư nơi chuyển đến

- Việc chuẩn bị các kế hoạch giải phóng mặt bằng (được coi như một phần trong công tác chuẩn bị tiểu dự án) và thực hiện các kế hoạch này sẽ được tiến hành với sự tham gia và tư vấn của những người bị ảnh hưởng

- Phải hoàn tất việc chi trả đền bù các loại tài sản bị ảnh hưởng và kết thúc

di dân tới nơi ở mới trước khi thi công tuyến tiểu dự án

- Việc đền bù cho người dân tộc thiểu số, hộ gia đình do phụ nữ làm chủ, gia đình có người tàn tật và các hộ dễ bị ảnh hưởng khác sẽ được thực hiện với sự tôn trọng các giá trị văn hoá cũng như sự bảo vệ các nhu cầu riêng biệt của họ

Trang 25

16

Khi triển khai thực hiện công tác giải phóng mặt bằng, ADB quan tâm đến hầu hết các vấn đề liên quan đến chủ hộ như nghề nghiệp, thu nhập hàng tháng, nguồn thu nhập của gia đình, số người trong độ tuổi lao động, có trong diện chính sách hay không và cả trình độ học vấn… cùng tính pháp lý của đất đai, tài sản trên đất

Về vấn đề tái định cư, mục tiêu chính sách tái định cư của ADB là giảm thiểu tối đa tái định cư và phải bảo đảm cho các hộ bị di chuyển được bồi thường và hỗ trợ sao cho tương lai kinh tế và xã hội của họ được thuận lợi tương

tự trong trường hợp không có dự án (Ngân hàng Phát triển Châu Á, 2006)

1.4.3 Đánh giá chung

Việc xây dựng và phát triển các công trình đều cần có đất, do đất đai có hạn nên mọi Nhà nước đều phải sử dụng quyền lực của mình để thu hồi đất hoặc trưng thu của người đang sở hữu, đang sử dụng để phục vụ cho nhu cầu xây dựng các công trình phục vụ lợi ích công cộng, lợi ích quốc gia Ở mỗi nước, quyền lực thu hồi, trưng thu đất được ghi trong Hiến pháp hoặc tại Bộ Luật đất đai hoặc một Bộ luật khác Nếu việc thu hồi, trưng thu đã phù hợp với quy định của pháp luật mà người sở hữu hoặc sử dụng đất không thực hiện thì Nhà nước có quyền chiếm hữu đất đai Việc thu hồi đất, trưng thu đất và bồi thường thiệt hại về đất tại mỗi quốc gia đều được thực hiện theo chính sách riêng do Nhà nước của quốc gia đó quy định

1.5 CHÍNH SÁCH BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ VÀ TÁI ĐỊNH CƯ KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT TẠI VIỆT NAM

1.5.1 Cơ sở pháp lý qua các thời kỳ

1.5.1.1 Trước khi có Luật Đất đai năm 1993

Ngay khi hòa bình được lập lại ở miền Bắc (1954), Đảng và Nhà nước đã khẳng định con đường tất yếu của Cách Mạng Việt Nam là xây dựng chủ nghĩa

xã hội ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam Để đáp ứng nhiệm vụ đất nước trong giai đoạn cách mạng mới năm 1953, Nhà nước ta thực hiện cải cách ruộng đất nhằm phân phối lại ruộng đất cho nhân dân với khẩu hiệu: “Người cày

có ruộng” và từ đó luật cải cách ruộng đất được ban hành Đồng thời Nhà nước

ta cũng khẳng định đất đai được tồn tại dưới 3 hình thức đó là: sở hữu Nhà nước, sở hữu tập thể và sở hữu tư nhân

Hiến pháp năm 1959, Nhà nước thừa nhận tồn tại ba hình thức sở hữu đất đai ở nước ta, gồm có sở hữu Nhà nước, sở hữu tư nhân và sở hữu tập thể Thời

kỳ này quan hệ đất đai trong bồi thường chủ yếu là thoả thuận, sau đó thống nhất

Trang 26

giá trị bồi thường mà không cần cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt

phương án bồi thường hay ban hành giá bồi thường (Quốc hội, Hiến pháp 1959)

Nghị định 151/TTg ngày 14/4/1959 của Thủ tướng Chính phủ “Quy định thể lệ tạm thời về trưng dụng ruộng đất”, là văn bản pháp quy đầu tiên liên quan đến việc bồi thường và tái định cư ở Việt Nam Nghị định này quy định những nguyên tắc cơ bản trong việc trưng dụng ruộng đất của nhân dân trong việc xây dựng các công trình do Nhà nước quản lý đó là: “đảm bảo kịp thời và đủ tiện ích cần thiết cho xây dựng công trình, đồng thời chiếu cố đúng mức quyền lợi và đời sống của người có ruộng đất Những người có ruộng đất được trưng dụng được bồi thường và trong những trường hợp cần thiết được giúp giải quyết công

ăn việc làm, hết sức tiết kiệm ruộng đất cày cấy, trồng trọt, tận dụng đất hoang

để không phải trưng dụng hoặc chỉ trưng dụng ít ruộng đất của nhân dân Hết sức tránh những nơi dân cư đông đúc, nghĩa trang liệt sĩ, nhà thờ, đền chùa, trường hợp đặc biệt phải bàn kỹ với nhân dân địa phương”

Về mức và cách tính bồi thường, Nghị định 151/TTg có quy định:

- Đối với ruộng đất nếu không thể đổi bằng đất thì sẽ bồi thường bằng một

số tiền bằng từ 1 đến 4 năm sản lượng thường niên của đất bị trưng dụng

- Đối với nhà cửa và kiến trúc thì được giúp đỡ xây dựng cái khác

- Đối với hoa màu đã trồng mà chưa thu hoạch phải bồi thường thiệt hại đúng mức

- Đối với mồ mả căn cứ và tình hình cụ thể, phong tục tập quán của địa phương mà giúp cho họ số tiền thích đáng làm phí tổn di chuyển

Có thể nói, những nguyên tắc cơ bản của việc bồi thường thiệt hại trong Nghị định 151/TTg là rất đúng đắn, đáp ứng nhu cầu trưng dụng đất đai trong những năm 1960 Tuy nhiên, Nghị định chưa quy định cụ thể mức bồi thường thiệt hại mà chỉ quan tâm đến sự thoả thuận của các bên Tiếp đó là Thông tư số 1792/TTg ngày 11/01/1970 của Thủ tướng Chính phủ quy định một số điểm tạm thời “Về bồi thường nhà cửa, đất đai, cây lưu niên, các hoa mầu cho nhân dân ở

những vùng xây dựng kinh tế, mở rộng thành phố” trên nguyên tắc: “Phải đảm

bảo thoả đáng quyền lợi hợp pháp của Hợp tác xã và của nhân dân” Tuy nhiên

Thông tư này mới chỉ dựng lại ở việc quy định bồi thường về tài sản trên đất mà chưa đề cập cụ thể đến chính sách bồi thường về đất đai

Hiến pháp 1980 quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý, ngày 01 tháng 07 năm 1980 Hội đồng Chính phủ ra Quyết

định số 201/CP quy định về việc “Không được phát canh, thu tô, cho thuê, cầm

Trang 27

18

cố hoặc bán nhượng đất dưới bất cứ hình thức nào ,không được dùng để thu những khoản lợi không do thu nhập mà có, trừ trường hợp do Nhà nước quy định” Quan hệ đất đai thời kỳ này đơn thuần chỉ là quan hệ “giao - thu” giữa

Nhà nước với người sử dụng đất (Quốc hội, Hiến pháp 1980)

Luật Đất đai năm 1988 không nêu cụ thể việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất mà chỉ nêu tại phần nghĩa vụ của người sử dụng đất (Điều 48): “Bồi thường thiệt hại cho người sử dụng đất để giao cho mình, bồi hoàn thành quả lao động và kết quả đầu tư đã làm tăng giá trị của đất đó theo quy định của pháp luật”

Thực tế các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Đất đai 1988 không hướng dẫn nội dung về bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất mà chỉ tập trung vào việc bồi thường thiệt hại đất nông nghiệp, đất có rừng khi chuyển sang mục đích khác Thực chất đây lại là quy định việc thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước khi được giao đất (mà sau này khi thực hiện Luật Đất đai năm 1993 được coi là tiền sử dụng đất), trong đó phần nhỏ được phân bổ cho người bị thu hồi đất

Nghị định số 186/HĐBT ngày 31 tháng 05 năm 1990 của Hội đồng Bộ trưởng quy định về việc bồi thường đất nông nghiệp, đất có rừng khi chuyển sang mục đích khác Tại Điều 1 của Nghị định này nêu rõ: Mọi tổ chức, cá nhân được giao đất nông nghiệp, đất có rừng để sử dụng vào mục đích khác phải đền

bù về đất nông nghiệp, đất có rừng cho Nhà nước Tiền bồi thường tài sản trên mặt đất và tài sản trong lòng đất cho chủ sử dụng hợp pháp không thuộc các khoản tiền thiệt hại về đất Khung mức giá bồi thường để UBND tỉnh, thành phố, đặc khu kinh tế thuộc Trung ương quy định cụ thể, mức bồi thường đối với từng quận, huyện, thành phố thuộc tỉnh sát với giá đất ở địa phương nhưng không được thấp hơn hoặc cao hơn khung định mức bồi thường của Chính phủ

Hiến pháp năm 1992 đã công nhận và bảo vệ quyền sử dụng đất của các tổ chức, cá nhân và quyền sở hữu cá nhân về tài sản và sản xuất cụ thể:

+ Tại Điều 17 Hiến pháp quy định về quyền sở hữu đối với đất đai: “Đất đai, rừng núi, sông hồ, nguồn nước, tài nguyên trong lòng đất, nguồn lợi ở vùng biển thềm lục địa và vùng trời đều thuộc sở hữu toàn dân”

+ Tại Điều 18 Hiến pháp quy định về quyền quản lý của Nhà nước đối với đất đai theo quy hoạch và pháp luật, bảo đảm việc sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả; đồng thời quy định việc giao đất cho các tổ chức, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài và có trách nhiệm, nghĩa vụ của người được Nhà nước giao cho sử dụng đất (tổ chức và cá nhân có trách nhiệm bảo vệ, bồi thường khai thác hợp

lý, sử dụng tiết kiệm đất, được chuyển quyền sử dụng đất do Nhà nước giao theo

Trang 28

các quy định của pháp luật)

+ Tại Điều 23 Hiến pháp quy định: “Tài sản hợp pháp của cá nhân, tổ chức

không bị quốc hữu hoá, trong trường hợp thật cần thiết vì lý do An ninh Quốc phòng, lợi ích quốc gia mà Nhà nước trưng mua hay trưng dụng, có bồi thường tài sản của cá nhân hay tổ chức theo thời giá của thị trường” (Quốc hội, Hiến pháp 1992)

1.5.1.2 Từ khi có Luật đất đai 1993 đến trước Luật đất đai 2003

Trên cơ sở Hiến pháp 1992, kế thừa những điểm tiến bộ của Luật đất đai năm 1988, Luật đất đai năm 1993 ra đời và có những đổi mới quan trọng, đặc biệt với nội dung thu hồi đất phục vụ cho công cộng và bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất Luật đất đai năm 1993 đã thể chế hoá các quy định của Hiến pháp năm 1992 về đất đai thông qua việc giao đất, cho thuê đất, chế độ quản lý, sử dụng các loại đất, quản lý việc sử dụng đất đúng mục đích, xác định thời hạn giao đất, cho thuê đất, thẩm quyền thu hồi và giao, cho thuê đất; hạn mức sử dụng các loại đất và quy định các quyền, nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân sử dụng đất

Thông qua Luật Đất đai năm 1993 người sử dụng đất đã được làm chủ về ruộng đất, có các quyền và nghĩa vụ được xác lập cụ thể, đất đai được vận động theo cơ chế thị trường, việc sử dụng đất đai ngày càng có hiệu quả hơn trở thành động lực to lớn phát triển nông nghiệp, nông thôn, phát triển đô thị và thu hút đầu tư trực tiếp từ nước ngoài, thực hiện công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước

Luật Đất đai năm 1993 thực sự là văn bản quan trọng đối với quyền sử dụng đất, chuyển quyền sử dụng và bồi thường đất đai, tài sản gắn liền với đất

Điều 1 của Luật Đất đai quy định quyền sở hữu đối với đất đai (thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước thống nhất quản lý), đồng thời quy định về quyền của Nhà nước trong việc giao đất, cho thuê đất (Nhà nước giao đất cho các tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân, cơ quan Nhà nước, tổ chức chính trị, xã hội gọi chung là tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài Nhà nước còn cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân thuê đất)

Điều 27 của Luật Đất đai năm 1993 có quy định việc thu hồi đất và việc bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, việc thu hồi, thời gian, kế hoạch di chuyển, phương án bồi thường thiệt hại

Tại điều 73 và 79 Luật Đất đai quy định cụ thể, chi tiết về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất, một trong những quyền và nghĩa vụ là được Nhà nước bảo vệ khi bị người khác xâm phạm đến quyền sử dụng đất hợp pháp của mình, được bồi thường thiệt hại về đất khi bị thu hồi Bồi thường

Trang 29

- Luật sửa đổi bổ sung một số điều Luật Đất đai ngày 2/12/1998 đã quy định quyền lợi và nghĩa vụ của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất, giao đất có thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất, nhận quyền sử dụng đất của người khác, cụ thể:

+ Xác định rõ các quyền của người sử dụng đất khi được giao đất có thu tiền

sử dụng đất, giao đất nhưng không phải nộp tiền sử dụng đất và được cho thuê đất

+ Chuyển sang thuê đất nông nghiệp (không bị hạn chế về hạn điền) để tạo điều kiện phát triển các trang trại, thu hút mọi thành phần kinh tế tham gia đầu tư vào sản xuất nông nghiệp, khai thác đất hoang hoá, đất trống đồi núi trọc và thông qua các quy định để đầu tư trong nước, Nhà nước có chính sách miễn giảm tiền thuê đất

+ Xử lý các tồn tại cũ mà các tổ chức đã được giao đất, đã nộp tiền sử dụng đất không phải chuyển sang thu đất để yên tâm đầu tư, phát triển sản xuất

Sau khi có luật Đất đai năm 1993, ngày 17/8/1994 Chính phủ ban hành Nghị định 90/NĐ-CP quy định: “Đền bù thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng” Sau hơn 3 năm thực hiện, nghị định này đã xuất hiện một số điểm bất hợp lý Ngày 24/04/1998 Chính Phủ đã ban hành Nghị định số 22/NĐ - CP thay thế nghị định 90/NĐ – CP Nghị định 22/1998/NĐ-CP quy định cụ thể các chính sách và phân biệt chủ thể sử dụng đất, cơ sở pháp lý để xem xét tính hợp pháp của thửa đất để lập kế hoạch bồi thường giải phóng mặt bằng theo quy định khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng Nghị định này là văn bản pháp lý mang tính toàn diện cao

và cụ thể hoá việc thực hiện chính sách bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất, việc bồi thường bằng đất cùng mục đích sử dụng, cùng hạng đất Tuy nhiên, trong quá trình triển khai thực tế cho thấy, sau khi Nhà nước thu hồi đất và thực hiện giải phóng mặt bằng, người bị ảnh hưởng gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là những người bị thu hồi hết đất sản xuất, phải chuyển sang ngành nghề khác Tình trạng thất nghiệp, trẻ em phải bỏ học đối với những gia đình bị thu hồi đất khá phổ biến ở hầu hết các địa phương, từ đó nảy sinh vấn đề khiếu nại về bồi thường thiệt

Trang 30

hại khi Nhà nước thu hồi đất Theo Nghị định 22/1998/NĐ-CP giá đất do Nhà nước quy định để bồi thường thiệt hại về đất khác xa với giá thực tế Với giá trị được bồi thường người có đất bị thu hồi không có khả năng tự lập nơi ở mới cũng như không

có khả năng đầu tư để chuyển sang ngành nghề khác, để duy trì cuộc sống tối thiểu

(Chính phủ, Nghị định số 22/1998/NĐ-CP)

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai ngày 29/6/2001 quy định cụ thể hơn về bồi thường, GPMB khi Nhà nước thu hồi đất đai vào mục đích đích an ninh, quốc phòng, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng Việc bồi thường, hỗ trợ được thực hiện theo quy định của Chính phủ Nhà nước có chính sách để ổn định đời sống cho người bị thu hồi đất

1.5.1.3 Từ khi có luật Đất đai 2003 đến nay

Sự ra đời của Luật Đất đai 2003 thực sự là bước ngoặt lớn trong việc củng

cố hệ thống luật đất đai của nước ta thêm hoàn thiện, Luật Đất đai 2003 đã đáp ứng được đầy đủ yêu cầu của sự phát triển kinh tế xã hội, ổn định chính trị, đặc biệt giúp cho công tác quản lý hành chính Nhà nước về đất đai ngày càng thuận tiện và chặt chẽ hơn đảm bảo công khai, minh bạch và hợp pháp Về vấn đề bồi thường, GPMB và tái định cư cho người bị thu hồi đất được quy định tại khoản

2, Điều 42 của Luật Đất đai 2003: Người bị thu hồi loại đất nào thì được bồi thường bằng việc giao đất mới có cùng mục đích sử dụng, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng giá trị quyền sử dụng đất tại thời điểm có quyết định thu hồi Đồng thời cũng theo Luật Đất đai 2003 cũng quy định rõ ràng chính sách hỗ trợ cho người dân bị thu hồi đất đai phải tái định cư được

đảm bảo cuộc sống, ổn định phát triển kinh tế (Quốc hội, Luật Đất đai 2003)

Để hướng dẫn việc bồi thường hỗ trợ, TĐC khi Nhà nước thu hồi đất theo quy định của Luật Đất đai năm 2003, Chính phủ và các Bộ, ngành đã ban hành các văn bản liên quan

Nghị định 197/2004/NĐ-CP quy định rõ ràng về công tác bồi thường, hỗ trợ TĐC khi Nhà nước thu hồi đất Bao gồm cả đất sử dụng cho các dự án sản xuất kinh doanh, khu chế xuất, khu du lịch, khu đô thị mới, khu công nghiệp, khu vui chơi giải trí, khu dân cư tập trung và các

dự án đầu tư phát triển khác đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định và đất sử dụng xây dựng các công trình phục vụ công ích và công cộng khác không nhằm mục đích kinh doanh của địa phương do UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định

Về trách nhiệm bồi thường theo Nghị định 197/2004/NĐ-CP: các tổ chức

Trang 31

22

cá nhân được Nhà nước giao đất, cho thuê đất phải bồi thường

Nếu đất bị thu hồi là đất do Nhà nước giao sử dụng tạm thời, đất cho thuê đấu thầu thì người bị thu hồi đất không được bồi thường thiệt hại về đất Nhưng được bồi thường những chi phí đã đầu tư vào đất Trường hợp đất thu hồi thuộc đất công ích của xã hoặc đất của xã chưa giao cho ai sử dụng thì người được Nhà nước giao đất, cho thuê đất phải bồi thường thiệt hại bằng tiền cho ngân sách xã Người đang sử dụng đất công ích của xã được UBND xã bồi thường thiệt hại những chi phí đã đầu tư vào đất

Diện tích đất ở bồi thường cho mỗi hộ gia đình theo hạn mức đất ở do UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quy định, nhưng không vượt quá diện tích của đất bị thu hồi

Về bồi thường tài sản, tài sản trên đất hợp pháp và có khả năng hợp pháp hoá được bồi thường 100% giá trị tài sản, còn tài sản trên đất sử dụng bất hợp pháp sẽ được trợ cấp 70-80% mức bồi thường hoặc không được trợ cấp, không được bồi thường theo mức độ bất hợp pháp của quyền sử dụng đất và tài sản

Về mức bồi thường tài sản được thực hiện theo mức độ thiệt hại thực tế bằng giá trị hiện tại của nhà và công trình cộng thêm một khoản tính theo tỷ lệ phần trăm trên giá trị hiện có của nhà và công trình, nhưng tổng mức bồi thường tối đa không lớn hơn so với 100% và không nhỏ hơn 60% giá trị của nhà, công trình theo giá xây dựng mới

Riêng đối với nhà cấp bốn, nhà tạm và công trình phụ độc lập, mức bồi thường thiệt hại được tính bằng giá trị xây dựng mới

Về chính sách hỗ trợ, Nghị định 197/2004/NĐ-CP đã đưa ra chính sách hỗ trợ

ổn định sản xuất và đời sống xã hội đối với những người phải di chuyển chỗ ở trong thời gian 6 tháng, đối với các nhân khẩu trong hộ, với mức tương đương 30kg gạo/tháng Đối với những người phải di chuyển đến khu tái định cư của tỉnh khác thì được trợ cấp một năm và hưởng chính sách đi vùng kinh tế mới (khoản 1 Điều 28)

Nghị định còn quy định việc hỗ trợ theo chế độ trợ cấp ngừng việc cho cán bộ, công nhân viên của doanh nghiệp phải di chuyển địa điểm mới trong thời gian ngừng sản xuất, phải kinh doanh (khoản 2 Điều 28); hỗ trợ chi phí đào tạo cho những lao động nông nghiệp phải chuyển sang nghề khác và ưu tiên tuyển dụng lao động cho các đối tượng có đất bị thu hồi (khoản 2 Điều 29)

Ngoài ra Nghị định còn quy định hỗ trợ đối với những người đang hưởng trợ cấp xã hội của Nhà bước phải di chuyển chỗ ở và trợ cấp khuyến khích di dời cho người di chuyển đúng hạn

Trang 32

Về chính sách tái định cư Nghị định số 197/2004/NĐ-CP quy định về thẩm quyền lập khu tái định cư và điều kiện bắt buộc phải có khu tái định cư, về nguyên tắc bố trí đất ở cho các hộ gia đình tại khu tái định cư và về nguồn vốn đầu tư xây dựng khu tái định cư

Như vậy nếu như các Nghị định trước đây chủ yếu quan tâm đến việc bồi thường đất bị thu hồi và tài sản đất đó thì Nghị định 197/2004/NĐ-CP đã có thêm một số chính sách hỗ trợ cũng như một số điều khoản mới về lập khu tái định cư cho các hộ phải di chuyển

Về tổ chức thực hiện Nghị định số 197/2004/NĐ-CP quy định trách nhiệm của chủ tịch UBND cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương phê duyệt phương

án bồi thường, chỉ đạo thành lập hội đồng giải phóng mặt bằng cấp huyện trong việc lập phương án bồi thường thiệt hại, xác định bồi thường, trợ cấp cho từng tổ chức, hộ gia đình cá nhân và tổ chức bồi thường theo phương án thực hiện (Chính

phủ, Nghị định số 197/2004/NĐ-CP)

Nghị định 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ Quy định bổ sung

về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai Về cơ bản thì Nghị định 197 đã quy định khá đầy đủ về bồi thường, hỗ trợ cho các đối tượng có đất bị thu hồi, Nghị định

84 bổ sung những một số điều của Nghị định 197 về quy định cụ thể đối với một

số trường hợp thu hồi đất và bồi thường, hỗ trợ về đất khi nhà nước thu hồi đất (Thu hồi đất tại khu vực giáp ranh giữa các đơn vị hành chính cấp tỉnh; Thu hồi đất để thực hiện các dự án phát triển kinh tế quan trọng, khu dân cư, phát triển kinh

tế trong khu đô thị, khu dân cư nông thôn; Thu hồi đất để xây dựng các khu kinh doanh tập trung có cùng chế độ sử dụng đất…), đặc biệt là quy định về trình tự, thủ tục thu hồi đất và thực hiện việc bồi thường, hỗ trợ về đất khi nhà nước thu hồi Giúp cho các nhà quản lý cũng như những người thực hiện, từ UBND cấp tỉnh đến UBND cấp huyện, Ban quản lý hạ tầng rồi đến từng đối tượng cụ thể có đất bị thu hồi minh bạch cũng như gọn nhẹ và rõ ràng trong các bước thực

hiện(Chính phủ, Nghị định 84/2007/NĐ-CP)

Nghị định số 69/2009/NĐ – CP ngày 13/8/2009 quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư Nghị định này quy định bổ sung cho các Nghị định 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004

và Nghị định 84/2007/NĐ-CP ngày 25/05/2007 của Chính phủ về các mặt còn thiếu sót, hạn chế nhằm hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật về công tác thu hồi

Trang 33

24

đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giúp cho hệ thống này ngày càng phù hợp với thực tế Nghị định số 69 đã quy định tách bạch giữa bồi thường và hỗ trợ Xây dựng đa dạng loại nhà ở, mức đất ở trong khu tái định

cư cho phù hợp với nhu cầu, khả năng và tập quán sinh hoạt của người có đất bị thu hồi Hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm Hộ gia đình, cá nhân sản xuất nông nghiệp khi nhà nước thu hồi đất nông nghiệp mà không có đất nông nghiệp để bồi thường sẽ được hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm Xác

định lại giá đất trong một số trường hợp cụ thể (Chính phủ, Nghị định số

69/2009/NĐ-CP)

Thông tư số 14/2009/TT-BTNMT ngày 01/10/2009 quy định chi tiết về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và trình tự, thủ tục thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất Đến nay, công tác bồi thường, GPMB và hỗ trợ cho các đối tượng bị thu hồi đất được điều tiết bởi một hệ thống các quy định tương đối hoàn chỉnh và khái quát trên phạm vi cả nước, theo đó, tuỳ tình hình thực tế từng địa phương mà các quy định đó được áp dụng sao cho phù hợp

1.5.2 Cơ sở pháp lý hiê ̣n hành về chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất

1.5.2.1 Các văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước ở Trung ương ban hành

Sau khi Luật đất đai 2003 được ban hành, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản dưới luật như Nghị định, Thông tư cụ thể hoá các điều luật về giá đất, bồi thường, hỗ trợ thu hồi đất, bao gồm:

- Nghị định số 188/2004/NĐ-CP ngày 16 tháng 11 năm 2004 về phương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất

- Thông tư số 114/2004/TT-BTC ngày 26 tháng 11 năm 2004 của Bộ Tài chính về hướng dẫn thực hiện Nghị định số 188/2004/NĐ-CP ngày 16 tháng 11 năm 2004 về phương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất

- Nghị định số 123/2007/NĐ-CP ngày 27 tháng 7 năm 2007 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 188/2004/NĐ-CP ngày 16 tháng 11 năm 2004

về phương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất

- Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất

- Thông tư số 116/TT-BTC ngày 07 tháng 12 năm 2004 của Bộ Tài chính

về hướng dẫn thực hiện Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất

Trang 34

- Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 5 năm 2007 của Chính phủ quy định bổ sung về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai

- Thông tư số 06/2007/TT-BTNMT ngày 15 tháng 6 năm 2007 của Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 5 năm 2007 của Chính phủ quy định bổ sung về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai

- Nghị định 123/2007/NĐ-CP ngày 27 tháng 7 năm 2007 sử a đổi bổ sung

mô ̣t số điều của Nghi ̣ đi ̣nh 188/2004/CP-NĐ ngày 16 tháng 11 năm 2004 về phương pháp xác đi ̣nh giá đất và khung giá các loa ̣i đất

- Nghị định 69/2009/NĐ-CP ngày 13 tháng 8 năm 2009 Quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư

- Thông tư số 14 /2009/TT-BTNMT ngày 01 tháng 10 năm 2009 Quy định chi tiết về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và trình tự, thủ tục thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất

1.5.2.2 Các văn bản quy phạm pháp luật do Ủy ban nhân dân thành phố

Hà Nội ban hành

Căn cứ vào thẩm quyền và các quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t, Ủy ban nhân thành phố Hà Nội có ban hành một số Quyết đi ̣nh về công tác bồi thường, hỗ trợ và TĐC Khi nhà nước thu hồi đất trên đi ̣a bàn thành phố Hà Nội như sau:

- Quyết định số 18/2008/QĐ-UBND Ngày 29 tháng 9 năm 2008, UBND thành phố Hà Nội, ban hành quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư trên địa bàn thành phố Hà Nội (Quyết định này này thay thế cho các quyết định: số 137/2007/QĐ-UB ngày 30/11/2007, số 151/2007/QĐ-UB ngày 31/12/2007 , số 36/2008/QĐ-UB ngày 23/6/2008, số 106/2005QĐ-UBND ngày 20/7/2005, số 176/2006/QĐ-UBND ngày 25/9/2006 và số 33/2008/QĐ-UB ngày 9/6/ 2008 của thành phố Hà Nội; số 289/2006/QĐ-UB ngày 20/2/2006, số 493/2007/QĐ-UB ngày 22/3/2007, số 1098/2007/QĐ-UB ngày 28/6/2007, số 371/2008/QĐ-UB ngày 22/2/2008 UBND tỉnh Hà Tây cũ);

- Quyết định số 108/2009/QĐ-UBND, ngày 29 tháng 9 năm 2009, của UBND Thành phố Hà Nội, quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà

Trang 35

26

nước thu hồi đất Quy định hướng dẫn thực hiện Nghị định 69/2009/CP của Chính phủ quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư, thay thế Quyết định số 18/2008/QĐ-UBND ngày 29/9/2008 của UBND thành phố Hà Nội về việc ban hành quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư trên địa bàn thành phố Hà Nội;

- Quyết định số 02/2010/QĐ-UBND ngày 18/01/2010 của UBND thành phố Hà Nội về thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư và làm nhà ở nông thôn tại điểm dân cư nông thôn trên địa bàn thành phố Hà Nội;

- Quyết định số 48/2011/QĐ-UBND ngày 26/12/2011 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định ban hành kèm theo Quyết định số 02/2010/QĐ-UBND ngày 18/01/2010 của UBND Thành phố về thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư và làm nhà ở nông thôn tại điểm dân cư nông thôn trên địa bàn thành phố Hà Nội;

- Quyết định số 02/2013/QĐ-UBND, ngày 07 tháng 1 năm 2013, của UBND Thành phố Hà Nội Về viê ̣c sửa đổi bổ sung mô ̣t số điều của Quy đi ̣nh ban hành kèm theo Quyết định số 108/2009/QĐ-UBND, ngày 29 tháng 9 năm 2009, của UBND Thành phố Hà Nội, quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên đi ̣a bàn thành phố Hà Nô ̣i

- Ban hành các quy định về giá đất, giá các loại tài sản trên đất để làm cơ sở tính bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cho từng năm hoặc cho từng dự án đặc thù

1.5.3 Tình hình thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất ở Việt Nam

1.5.3.1 Thực tiễn của việc bồi thường hỗ trợ vái tái định cư

Việc thu hồi đất để thực hiện các dự án đã góp phần rất quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội Vấn đề bồi thường GPMB ở Việt Nam đã được đặt ra

từ rất sớm và cho đến nay sau nhiều lần bổ sung chúng ta hiện đang áp dụng Nghị định 197/2004/NĐ-CP ngày 3/12/2004 về bồi thường hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất là chủ yếu Bên cạnh đó là nghị định 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ Quy định bổ sung về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai và Nghị định 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009 của Chính phủ quy định

bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư Các quy định của pháp luật về bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi Nhà

Trang 36

nước thu hồi đất đã ngày càng phù hợp hơn với yêu cầu của thực tế cũng như yêu cầu của các quy luật kinh tế Quan tâm tới lợi ích của những người bị thu hồi đất, đã thể hiện được tính khả thi và vai trò tích cực của các văn bản pháp luật trong công tác bồi thường hỗ trợ và tái định cư Qua đó tạo điều kiện cho các dự án đầu tư thực hiện tốt công tác GPMB, góp phần không nhỏ vào việc thu hút nguồn vốn đầu tư, tạo nguồn lực sản xuất, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác quản lý hành chính Nhà nước về đất đai, chuyển đổi cơ cấu sản xuất, phát triển đô thị, đời sống của nhân dân ngày càng được cải thiện và nâng cao tạo bước đà lớn cho sự phát triển kinh tế xã hội

Bên cạnh những kết quả đạt được, nhìn chung công tác bồi thường hỗ trợ

và tái định cư trong cả nước đang còn tồn tại những tiêu cực, bất cập Đó là còn rất nhiều dự án “treo”, để đất hoang hóa kéo dài, tình trạng mất dân chủ, thiếu công khai trong công tác bồi thường gây bức xúc cho người dân, các chính sách

hỗ trợ chưa được quan tâm đúng mức, tình trạng khiếu kiện kéo dài làm cho công tác bồi thường hỗ trợ và tái định cư gặp rất nhiều vướng mắc

Theo thống kê đến tháng 5/2009, trên cả nước có khoảng 1.200 dự án

“treo” với diện tích khoảng trên 130.000 ha, trong đó có 670 dự án xây dựng cơ

sở sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp với diện tích 48.000 ha; 230 dự án xây dựng các công trình hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội với diện tích 14.000 ha;

180 dự án xây dựng, chỉnh trang khu đô thị và khu dân cư nông thôn với diện tích 3.900 ha Các địa phương có nhiều dự án “treo” gồm: Nam Định với 80 dự án, TP.HCM 50 dự án, Quảng Nam 50 dự án, Đồng Nai 40 dự án, Vĩnh Phúc 32 dự

án, Hà Nội 29 dự án, Cần Thơ 24 dự án, Bà Rịa-Vũng Tàu 24 dự án, Hải Dương

18 dự án, Đà Nẵng 16 dự án, Khánh Hòa 10 dự án (Huyên Ngân, 2009)

Ngoài ra, trên cả nước hiện nay vẫn đang còn tình trạng các khu công nghiệp chiếm đất nhiều nhưng sử dụng thì ít: Có nhiều khu, cụm công nghiệp đã tiến hành thu hồi, san lấp mặt bằng nhưng chậm tiến độ trong xây dựng cở sở hạ tầng và thu hút đầu tư kém, tỷ lệ lấp đầy thấp dẫn đến tình trạng đất bị bỏ hoang hóa, lãng phí trong nhiều năm Cụ thể: tại Hà Nam: nhiều Khu công nghiệp có tỷ

lệ phủ lấp rất khiêm tốn như Hòa Mạc (rộng 131 ha, nhưng mới cho thuê được 4,8 ha), Đồng Văn II (mới cho thuê được 65,8 ha trong tổng số 320 ha), Châu Sơn (chỉ cho thuê được 36,2/115 ha); tại Hưng Yên: trong 4 Khu công nghiệp đã đi vào hoạt động trên tổng số 13 Khu công nghiệp, chỉ có khu công nghiệp Phố Nối

A (diện tích 391,6 ha) có diện tích đã cho thuê là 220,86 ha Còn lại, Khu công nghiệp dệt may Phố Nối diện tích 121 ha, cho thuê là 20 ha; Khu công nghiệp

Trang 37

28

Minh Đức diện tích 198 ha, cho thuê 39,37 ha Tại đồng bằng sông Cửu Long có

20 Khu công nghiệp với tổng diện tích 3.645 ha, nhưng mới cho thuê được hơn

810 ha, đạt tỷ lệ khoảng 22% Ngoài ra, các địa phương tại khu vực này còn lập

177 cụm công nghiệp với diện tích 15.457 ha, nhưng mới có 15 cụm được doanh nghiệp thuê 700 ha, đạt tỷ lệ 4,5% (Huyên Ngân, 2009)

Theo báo cáo không đầy đủ của các địa phương trên cả nước, từ năm

2006 đến giữa năm 2009 thì trên phạm vi cả nước có 11 tỉnh thực hiện thu hồi đất để giao cho thuê không theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được xét duyệt (Có 98 công trình với tổng diện tích 17.541 ha) Những địa phương có số lượng công trình vi phạm nhiều: Bình Dương có 29 trường hợp, Phú Thọ 14 trường hợp, Lạng Sơn 13 trường hợp, Vĩnh Long 8 trường hợp và Hưng Yên 7 trường hợp

1.5.3.2 Những vướng mắc, bất cập và nguyên nhân

Có thể nói công tác bồi thường hỗ trợ và tái định cư thực sự là “nút thắt” trong việc triển khai các dự án đầu tư, nếu chúng ta tháo gỡ được những rào cản trong việc bồi thường GPMB thì sẽ mang lại rất nhiều hiệu quả cho đời sống nhân dân, tuy nhiên vấn đề GPMB còn rất nhiều bất cập bởi một số nguyên nhân sau:

- Chưa đảm bảo tính thống nhất, nhất quán trong chính sách bồi thường,

hỗ trợ tái định cư, vẫn còn tình trạng mỗi địa phương, mỗi dự án, mỗi công trình

có mức bồi thường và hỗ trợ khác nhau, từ đó làm nảy sinh ý tưởng so sánh quyền lợi từ phía người dân

- Những khó khăn nhất định trong việc quản lý, xác định nguồn gốc đất dẫn đến sự khó khăn trong việc xác định điều kiện để được bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cho người dân

- Một bất cập nữa đó là, việc xác định giá đất để tính bồi thường hiện nay vẫn chủ yếu dựa vào khung giá đất do UBND cấp tỉnh quy định, trong khi đó thực tế mức giá này thường thấp hơn nhiều so với giá trên thị trường Vì vậy, mức giá cao nhất mà người bị thu hồi đất được chi trả bằng khoảng 70%-80% thực tế nên gây thiệt thòi và bức xúc cho người dân

- Khía cạnh không nhỏ có thể nói tới là tình hình quản lý đất tại các cấp cơ sở vẫn còn một số tiêu cực, năng lực thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của các ban, ngành ở địa phương và các đơn vị tư vấn còn hạn chế Tinh thần trách nhiệm,

sự tuân thủ trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật, của cán bộ thực thi việc

kiểm kê, kiểm đếm, lập phương án bồi thường còn chưa cao (Đức Thắng, 2010)

- Công tác bồi thường GPMB ở nhiều địa phương còn trái với quy định, việc

Trang 38

áp dụng các cơ chế chính sách về bồi thường, hỗ trợ không thật sự linh hoạt dẫn đến thiếu đảm bảo lợi ích cho người dân bị thu hồi đất Bên cạnh giải pháp chủ yếu

là chuyển đổi thiệt hại sang tiền trong khi có nhiều giải pháp khác không phải chi phí nhiều mà người dân vẫn thấy thỏa mãn về lợi ích như: cơ chế “Tự nguyện” đối với các dự án kinh doanh, cho phép các nhà đầu tư thương thảo với dân về giá bồi thường và các lợi ích liên quan Bồi thường bằng đất dịch vụ, đất ở Cơ chế góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất đối với nông dân Cơ chế chia sẻ lợi ích (Hoàng Hải, 2009)

- Việc bố trí tái định cư còn nhiều vướng mắc, các địa phương chưa coi trọng việc lập khu tái định cư như: tiến độ xây dựng các khu tái định cư còn chậm, đời sống tại khu tái định cư cho người dân chưa được đảm bảo

1.5.4 Tình hình thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất tại Thành phố Hà Nội

1.5.4.1 Tình hình thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư

a Tình hình thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư giai đoạn 2000-2006

Thực hiện Nghị quyết 09/2000/NQ-HĐ ngày 21/7/2000 của Hội đồng nhân dân Thành phố về công tác BTHT&TĐC, GPMB của thành phố đã có bước chuyển biến đáng kể Kết quả cụ thể như sau:

Trong giai đoạn 2000-2006, số dự án phải GPMB lớn liên quan đến nhiều

hộ dân; số hộ tái định cư lớn, nhất là khu vực nội thành, 80% diện tích đất GPMB

là đất nông nghiệp thuộc các huyện ngoại thành và các quận nội thành mới được thành lập Đã hoàn thành công tác GPMB bàn giao cho chủ đầu tư 1.048 trên tổng

số 1.830 dự án; với 5.699 ha đất, liên quan tới 153.725 hộ dân, tổng số tiền BTHTT&ĐC là 9.726.509 triệu đồng, bố trí tái định cư cho khoảng 10.580 hộ dân Bình quân mỗi năm đã GPMB khoảng 1.000 ha đất

Các dự án thuộc 9 cụm công trình trọng điểm, các khu đô thị mới, các dự án phục vụ Seagame 22, phục vụ APEC 2006, các khu phục vụ đấu giá quyền sử dụng đất cơ bản đã hoàn thành, đáp ứng yêu cầu đầu tư: Nhiều khu đô thị mới được xây dựng (khu đô thị Linh Đàm, khu đô thị Trung Hòa – Nhân Chính, khu đô thị Ciputra, Việt Hưng, Nam Trung Yên); khu liên hợp thể thao quốc gia; các trục đường và nút giao thông lớn (đường Phạm Hùng, Trần Duy Hưng, Liễu Giai, Ngọc Khánh, đường Kim Liên – Ô Chợ Dừa, đường vành đai 1,2,3, các cầu qua sông Hồng, nút giao thông ngã tư Vọng, ngã tư Sở); hệ thống các công viên (Đống Đa, Tuổi trẻ Thủ Đô, Yên sở); hệ thống các sông nội thành (Tô Lịch, Kim Ngưu), hạ

Trang 39

30

tầng kỹ thuật xung quan hồ Tây, hồ Trúc Bạch ; các khu công nghiệp tập trung Sài Đồng, Bắc Thăng Long, các cụm công nghiệp vừa và nhỏ, các khu nhà ở xuống cấp, các dự án cấp thoát nước đô thị

Nhiều dự án tồn đọng kéo dài đã được giải quyết dứt điểm: giải tỏa “xóm liều” Thanh Nhàn, ao Thước Thợ, nút Voi Phục - Cầu Giấy, nút giao thông ngã

tư Vọng, hồ điều hòa Yên Sở, bãi rác Nam Sơn, sân gôn Kim Nỗ,

Công tác GPMB đã đáp ứng tiến độ triển khai các dự án lớn của Nhà nước, góp phần quan trọng trong hoạt động đối ngoại của thành phố và cả nước diễn ra trong 6 năm qua: Seagame 22, Paragame 2, Asem 5, Hội nghị các Thành phố lớn Châu Á thế kỷ 21 (ANMC 21) Diện mạo của thủ đô ngày một thay đổi theo hướng văn minh hiện đại - Thủ đô luôn giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội

b Tình hình thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư giai đoạn 2007 đến nay

Năm 2008 số dự án GPMB trên toàn thành phố Hà Nội là 1.005 (gấp 3 lần cùng kỳ năm trước), với quy mô thu hồi đất trên 13.500 ha (gấp 4,5 lần cùng

kỳ năm trước), phạm vi thu hồi liên quan đến hơn 186.000 tổ chức, hộ gia đình,

cá nhân, với số hộ cần bố trí tái định cư là trên 19.000 hộ Trong đó, đã hoàn thành xong 225 dự án; hoàn thành và bàn giao một phần diện tích đất cho 57 dự

án theo phân kỳ đầu tư, bàn giao trên 1.500 ha đất, chi trả trên 2.900 tỷ đồng cho

trên 49.600 hộ dân, bố trí tái định cư cho trên 2.130 hộ

Năm 2009, thành phố Hà Nội tiếp tục thực hiện GPMB trên 790 dự án, với quy mô thu hồi đất lên đến trên 11.700 ha, liên quan đến gần 177.000 hộ dân, tái định cư cho trên 16.420 hộ Đến nay (6.2013), 14 dự án đã hoàn thành toàn bộ công tác GPMB; 4 dự án đã hoàn thành bàn giao một phần theo phân kỳ đầu tư, bàn giao 102 ha đất, chi trả 278 tỷ đồng cho gần 4.470 hộ, tái định cư

378 hộ

Năm 2013, tình hình kinh tế - xã hội có nhiều khó khăn và thách thức hơn

so với dự báo, áp lực lạm phát và bất ổn vĩ mô trong nước còn lớn Công tác GPMB vốn dĩ đã là một công việc khó khăn, phức tạp và khi được triển khai trong bối cảnh tình hình đó lại càng gặp nhiều khó khăn, phức tạp gấp bội lần

Nhận thức rõ những khó khăn, thách thức và yêu cầu, nhiệm vụ đẩy nhanh tiến độ thực hiện và hoàn thành công tác GPMB các dự án đầu tư trên địa bàn Thành phố nhằm góp phần kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo an sinh xã

Trang 40

hội, UBND Thành phố đã tập trung chỉ đạo các ngành, các cấp nỗ lực phấn đấu với quyết tâm cao nhất đảm bảo hoàn thành tốt công tác GPMB của Thành phố

Quán triệt tinh thần chỉ đạo trên, Ban chỉ đạo GPMB Thành phố đã chủ động phối hợp với các Sở, Ngành, UBND các quận, huyện, Thị xã và các chủ đầu tư tập trung quyết liệt thực hiện nhiều giải pháp nhằm đẩy nhanh tiến độ thực hiện công tác GPMB các dự án đầu tư, từ đó góp phần tạo sự chuyển biến tích cực, đúng hướng cho tình hình phát triển kinh tế - xã hội của Thủ đô

Ngay từ đầu năm 2013, chương trình công tác GPMB các dự án đầu tư, với nhiều yêu cầu tiến độ thời gian hoàn thành đối với các dự án trọng điểm, đã được UBND Thành phố quán triệt chỉ đạo, đề ra các giải pháp cụ thể và phân giao nhiệm vụ để các Sở, Ngành và UBND các quận, huyện, Thị xã triển khai thực hiện, trong đó đã tổ chức Hội nghị tổng kết, trao đổi, thảo luận về các nội dung điều chỉnh, bổ sung cơ chế chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư giữa lãnh đạo Thành phố với lãnh đạo các Quận, Huyện, Thị xã, lãnh đạo các Sở, Ban, ngành, đoàn thể chính trị của Thành phố Trên cơ sở các ý kiến thống nhất của Liên ngành, ngày 07/01/2013, UBND Thành phố đã ban hành Quyết định số 02/2013/QĐ-UBND sửa đổi, bổ sung một số quy định về bồi thường,

hỗ trợ và tái định cư của Thành phố theo hướng tăng cường tính công khai, minh bạch, dân chủ, công bằng, phù hợp với quy định của pháp luật và thẩm quyền của UBND Thành phố

Việc kiểm tra, đôn đốc đẩy nhanh tiến độ và giải quyết, tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc phát sinh trong quá trình tổ chức thực hiện công tác GPMB tại các dự án, nhất là các dự án trọng điểm, dự án dân sinh bức xúc tiếp tục được Thành phố quan tâm, giải quyết kịp thời để UBND các quận, huyện, Thị

xã và các chủ đầu tư triển khai thực hiện

Việc cải cách hành chính trong công tác GPMB của Thành phố tiếp tục được các Sở, Ngành, các quận, huyện, Thị xã quan tâm thực hiện, thể hiện ở các nội dung như: sự phối kết hợp giữa các Sở, Ngành, Thành phố, trong việc tham mưu, đề xuất UBND Thành phố giải quyết các đề xuất, kiến nghị của UBND cấp huyện khi có các vướng mắc phát sinh, tiếp tục được phát huy và đạt hiệu quả cải cách hành chính cao, rút ngắn thời gian chỉ đạo, giải quyết các vướng mắc của Thành phố hay như việc thẩm định, phê duyệt phương án của Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư của một số Quận, Huyện, Thị xã đã

đi vào nề nếp, rút ngắn nhiều thời gian so với cách làm cũ

Ngày đăng: 15/04/2021, 12:14

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
8. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2005), Báo cáo đề tài “Nghiên cứu những vấn đề kinh tế đất trong thị trường bất động sản” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo đề tài “Nghiên cứu những vấn đề kinh tế đất trong thị trường bất động sản
Tác giả: Bộ Tài nguyên và Môi trường
Năm: 2005
20. Nguyễn Đức Minh (2001), “Quy hoạch đất đai và thị trường bất động sản”, Hội thảo Một số vấn đề hình thành và phát triển thị trường bất động sản Việt Nam ngày 15-16/11/2001, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Quy hoạch đất đai và thị trường bất động sản
Tác giả: Nguyễn Đức Minh
Năm: 2001
21. Huyên Ngân (2009), Một số dự án “treo” tại tỉnh Khánh Hòa, Báo Pháp luật và Đời sống Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số dự án “treo” tại tỉnh Khánh Hòa
Tác giả: Huyên Ngân
Năm: 2009
26. Phạm Đức Phong (2002), “Mấy vấn đề then chốt trong việc đền bù và giải phóng mặt bằng các dự án xây dựng ở Việt Nam (2002), Hội thảo Đền bù và giải Sách, tạp chí
Tiêu đề: 26. Phạm Đức Phong (2002), “Mấy vấn đề then chốt trong việc đền bù và giải phóng mặt bằng các dự án xây dựng ở Việt Nam (2002), Hội thảo Đền bù và giải
Tác giả: Phạm Đức Phong (2002), “Mấy vấn đề then chốt trong việc đền bù và giải phóng mặt bằng các dự án xây dựng ở Việt Nam
Năm: 2002
28. Quốc hội, Hiến pháp 1959, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội - 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiến pháp 1959
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
1. Ban chấp hành Đảng bộ Thị xã Sơn Tây khóa XVIII (2010), Báo cáo chính trị trình Đại hội Đảng bộ Thị xã Sơn Tây lần thứ XIX nhiệm kỳ 2010- 2015 Khác
2. Ban chỉ đạo Thành phố (2012), Báo cáo số 929/BC-BCĐ ngày 13/12/2012 báo cáo kết quả thực hiện công tác giải phóng mặt bằng năm 2012 và chương trình cho năm 2013 Khác
3. Trung tâm Phát triển quỹ đất Thị xã Sơn Tây (2013), Báo cáo tổng kết công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư trên địa bàn Thị xã Sơn Tây Khác
4. Bộ Tài chính (2004), Thông tư số 116/2004/TT-BTC ngày 07/12/2004 của Bộ Tài Chính hướng dẫn thực hiện Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất Khác
6. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2005), Báo cáo về tình hình sử dụng đất nông nghiệp xây dựng các khu công nghiệp và đời sống việc làm của người có đất bị thu hồi Khác
7. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2005), Báo cáo kiểm tra thi hành Luật Đất đai Khác
9. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2012), Báo cáo số 193/BC-BTNMT ngày 6/9/2012 Báo cáo Tổng kết tình hình thi hành Luật Đất đai 2003 và định hướng sửa đổi Luật Đất đai Khác
10. CARE Quốc tế tại Việt Nam - Liên hiệp các Hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam (2005). Quản lý và sử dụng đất đai ở nông thôn Miền Bắc nước ta, NXB Lao động- xã hội Khác
11. Chính phủ, Nghị định (1994), Nghị định số 87/1994/ NĐ-CP ngày 17/8/1994 ban hành khung giá các loại đất Khác
12. Chính phủ, Nghị định (1994), Nghị định số 90/1994/NĐ-CP ngày 17/8/1994 của Chính phủ quy định về việc bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích an ninh, quốc phòng, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng Khác
13. Chính phủ, Nghị định (1998), Nghị định số 22/1998/NĐ-CP ngày 24/4/1998 về việc đền bù thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng Khác
14. Chính phủ, Nghị định (2004), Nghị định số 188/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 của Chính phủ về phương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất Khác
15. Chính phủ, Nghị định (2004), Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ về bồi thường thiệt hại và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất Khác
16. Chính phủ, Nghị định (2006), Nghị định số 17/2006/NĐ-CP ngày 27/01/2006 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định hướng dẫn thi hành Luật đất đai Khác
17. Chính phủ, Nghị định (2007), Nghị định 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ quy định bổ sung về việc cấp GCNQSDĐ, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w