1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn nghiên cứu, phân tích một số hệ thống canh tác ở một số vùng sinh thái nông nghiệp chủ yếu của huyện việt yên bắc giang

111 1K 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu, Phân Tích Một Số Hệ Thống Canh Tác Ở Một Số Vùng Sinh Thái Nông Nghiệp Chủ Yếu Của Huyện Việt Yên Bắc Giang
Trường học Trường Đại Học Nông Nghiệp
Chuyên ngành Nông Nghiệp
Thể loại Luận văn
Thành phố Bắc Giang
Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 0,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

luận văn

Trang 1

1 Mở đầu

1.1 Đặt vấn đề

Trong những năm qua nền nông nghiệp Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, từ một nước thiếu lương thực, nay đã trở thành một nước xuất khẩu gạo vào hàng thứ 2, 3 trên thế giới Nhưng hiệu quả kinh tế của nông nghiệp chưa cao, nền nông nghiệp mang tính chất tự cung, tự cấp, tỷ suất hàng hoá thấp

Một trong những nguyên nhân cơ bản hạn chế đến nền sản xuất nông nghiệp nước ta đó là việc bố trí hệ thống canh tác, trong đó cơ bản là hệ thống cây trồng còn chưa hợp lý, dẫn đến sản xuất nông nghiệp chưa bền vững và hiệu quả kinh tế trên đơn vị diện tích không cao

Để bước vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Nông nghiệp nông thôn trước mắt cần có những việc phải làm như

+ Xây dựng hệ thống canh tác phù hợp với từng điều kiện sinh thái để tạo điều kiện cho chăn nuôi, chế biến, thương nghiệp… cùng phát triển

+ Để có một nền nông nghiệp ổn định, bền vững phải hình thành một nền nông nghiệp chung sống với thiên nhiên, đồng thời với xây dựng cơ sở hạ tầng phù hợp

+ Nâng cao trình độ khoa học kỹ thuật và hệ thống sản xuất nhằm mục

đích tăng vụ, nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm và hạ giá thành…

+ Nhiệm vụ cuối cùng là nâng cao dân trí, trước mắt là hoạt động khuyến nông

Việt Yên là một huyện trung du của tỉnh Bắc Giang có diện tích tự nhiên là 17.135,42ha Trong đó diện tích đất nông nghiệp là: 10.148,01ha

Trang 2

(diện tích đất canh tác chỉ có 9.069,18ha), trong khi đó dân số lại đông (mật

độ dân số gấp 2,3 lần so với toàn tỉnh) Địa hình đa dạng, bao gồm các loại đất

gò, đồi, vàn, trũng, tài nguyên sinh thái cho phép phát triển một hệ thống cây trồng vật nuôi đa dạng, phong phú Song tập quán canh tác và trình độ dân trí chưa theo kịp với nhu cầu phát triển của sản xuất thị trường; hiệu quả khai thác nguồn tài nguyên đất và tài nguyên khí hậu còn nhiều hạn chế Mặt khác cơ sở vật chất còn nghèo nàn, chưa đồng bộ, chưa có vùng sản xuất hàng hoá… Do đó năng suất và sản lượng cây trồng ở Việt Yên còn thấp, đời sống nhân dân còn gặp nhiều khó khăn

Thực hiện chương trình “Phát triển nông nghiệp theo h ướng sản xuất hàng hoá giai đoạn 2001 - 2005” của Tỉnh ủy Bắc Giang, Nghị quyết đại hội

Đảng bộ huyện Việt Yên lần thứ XIX nhằm chuyển dịch từ nền sản xuất tự túc, tự cấp sang sản xuất hàng hoá cho phù hợp với nhu cầu thị trường, tăng giá trị thu nhập trên một đơn vị diện tích, xây dựng một nền nông nghiệp bền vững phù hợp với các điều kiện sinh thái là hết sức quan trọng và cần thiết

Xuất phát từ những vấn đề khoa học và thực tiễn nêu trên chúng tôi tiến

hành nghiên cứu đề tài khoa học: “Nghiên cứu, phân tích một số hệ thống canh tác ở một số vùng sinh thái nông nghiệp chủ yếu của huyện Việt Yên - Bắc Giang”

1.2 Mục đích và yêu cầu của đề tài

1.2.1 Mục đích

Trên cơ sở phân tích những thuận lợi, khó khăn của điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và một số hệ thống canh tác của huyện Việt Yên, từ đó đề xuất một số hệ thống canh tác mới phù hợp với vùng sinh thái đại diện, nhằm nâng cao năng suất, sản lượng, hiệu quả kinh tế trên đơn vị diện tích, góp phần phát triển kinh tế xã hội tại địa phương

Trang 3

1.2.2 Yêu cầu của đề tài

Để đạt được mục đích nghiên cứu đó thì các yêu cầu được đặt ra như sau

+ Mô tả, đánh giá điều kiện tự nhiêu, kinh tế - xã hội của vùng có liên quan đến hệ thống canh tác

+ Phân tích, đánh giá thực trạng hệ thống canh tác cho các vùng sinh thái chính

+ Tổ chức triển khai các mô hình thực nghiệm, để góp phần phát triển

hệ thống trồng trọt

+ Đề xuất các phương án mới cho phù hợp các vùng đại diện khác nhau + Những giải pháp chủ yếu để hình thành hệ thống canh tác mới

Trang 4

2 tổng quan tài liệu

2.1 Cơ sở lý luận của hệ thống canh tác

Nghiên cứu phát triển hệ thống canh tác cần phải dựa trên cơ sở của lý thuyết hệ thống

Lý thuyết hệ thống vận dụng vào nông nghiệp hiện đã có nhiều tác giả trong và ngoài nước đề cập đến: Phạm Chí Thành, 1996 [30]; Đào Thế Tuấn,

1987 [39]; Conway, 1986 [52]; Speeding, 1979 [59]… Có thể thấy những nét chính sau:

Lý thuyết hệ thống ứng dụng ngày càng rộng rãi trong nhiều ngành khoa học, giúp cho sự hiểu biết và giải thích các mối liên hệ tương hỗ giữa các

sự vật, hiện tượng Nó được sử dụng như một cơ sở lý luận để giải quyết các vấn đề phức tạp và tổng hợp Trong những năm gần đây, quan điểm này rất phát triển trong nhiều ngành, trong đó có nông nghiệp cũng như nghiên cứu quản lý tài nguyên (Rambo A.T, 1983) [58]

Các tác giả đều cho rằng: hệ thống là một tổng thể có trật tự của các yếu tố khác nhau có quan hệ và tác động qua lại Một hệ thống có thể xác

định như một tập hợp các đối tượng hoặc các thuộc tính được liên kết bằng nhiều mối tương tác (Phạm Chí Thành, 1996 [30]; Speeding, 1979 [59]) Do vậy hệ thống không phải là phép cộng đơn giản của các yếu tố, các đối tượng

mà là sự liên kết hữu cơ giữa các yếu tố, các đối tượng (Đào Thế Tuấn, 1987) [37] Mỗi hệ thống bao gồm nhiều hệ thống nhỏ hợp thành Đến lượt mình, nó lại là bộ phận cấu thành hệ thống lớn hơn Một hệ thống chỉ tồn tại khi nó phù hợp với môi trường, có thể xem môi trường của hệ thống bao gồm các yếu tố bên ngoài nhưng có tác động qua lại với hệ thống Những yếu tố môi trường tác động lên hệ thống gọi là yếu tố đầu vào, còn yếu tố môi trường chịu sự tác

động trở lại của hệ thống là yếu tố đầu ra Phép biến đổi của hệ thống là khả

Trang 5

năng thực tế khách quan của hệ thống trong việc biến đổi đầu vào thành đầu ra của hệ thống tại một thời điểm nhất định được gọi là thực trạng của hệ thống (Phạm Chí Thành, 1996) [30]

Hệ thống canh tác (Farming System), là tổ hợp cây trồng được bố trí theo không gian và thời gian với hệ thống, biện pháp kỹ thuật được thực hiện nhằm đạt năng suất cao và nâng cao độ phì của đất đai (Phạm Chí Thành, 1996) [30] Tác giả nhấn mạnh cây trồng phải được đặt trong không gian và thời gian nhất định, đi đôi với nó là biện pháp thích ứng Các cách biểu hiện trên cho chúng ta một khái niệm chung nhất về hệ thống canh tác, đó là hệ thống bao gồm nhiều hệ thống phụ: hệ thống trồng trọt, chăn nuôi, chế biến, tiếp thị, quản lý kinh tế… được bố trí trong một hệ thống và tương đối ổn

định, phù hợp với mục tiêu của từng nông trại hay một tiểu vùng nông nghiệp

Việc phân tích hệ thống hệ thống canh tác rất quan trọng trong việc

đánh giá sự phát triển nông nghiệp, nó vừa là hệ thống sinh thái, chính trị, xã hội, vừa là một đơn vị độc lập về hoạt động kinh tế, chúng có liên quan chặt chẽ với nhau do cùng sử dụng chung lao động, đất đai, vốn và sự rủi ro…

Hệ thống canh tác là một đơn vị tự quyết định có tính hữu hiệu cao, trong đó việc trồng trọt và chăn nuôi được tiến hành để thoả mãn các mục tiêu của nông dân, do vậy hệ thống canh tác là một hệ thống định hướng mục tiêu, việc tổ chức thích hợp một hệ thống canh tác bất kỳ là mục tiêu của người đưa

ra quyết định, chủ yếu là người nông dân để làm thoả mãn các mục tiêu của chính họ và cũng chính là mối quan tâm chung của toàn xã hội

Hệ thống canh tác là một tổng thể thống nhất giữa môi trường và cây trồng, vật nuôi và nằm trong mối quan hệ chặt chẽ với xã hội và điều kiện phát triển kinh tế khu vực Các hệ thống phụ thuộc trong hệ thống canh tác có liên quan chặt chẽ với nhau, tác động qua lại với nhau và cũng chịu sự tác động

qua lại của yếu tố môi trường đã tạo thành “Hiệu ứng hệ thống” Vì thế hệ

Trang 6

thống canh tác phải được xây dựng trên cơ sở có sự phân tích một cách khách quan các điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội và đặc điểm sinh học của cây

trồng, vật nuôi để vừa cho hiệu quả kinh tế cao vừa có “tác dụng bền vững”

Hệ thống canh tác ảnh hưởng trực tiếp đến hệ sinh thái thông qua hệ

động thực vật, các chất khoáng và các hoá chất trong đất, trong nước, trong không khí, tham gia nhiều vào chu trình chuyển hóa năng lượng cho chuỗi thức ăn Do vậy tính đa dạng là một đặc trưng quan trọng của tất cả các hệ sinh thái Tính đa dạng bảo tồn nguồn dinh dưỡng, chống chịu sâu bệnh xâm nhập và có thể đứng vững với sự dao động của khí hậu trong phạm vi rộng (Trần An Phong, 1995) [22]

Nghiên cứu hệ thống canh tác là một vấn đề phức tạp, vì nó liên quan

đến môi trường của hệ thống canh tác như: đất đai, khí hậu thời tiết, sâu bệnh,

mức đầu tư và trình độ khoa học nông nghiệp, vấn đề “hiệu ứng hệ thống” của

hệ thống canh tác Vì vậy hệ thống canh tác phải được hình thành từ lý luận của sinh thái học nông nghiệp (Đào Thế Tuấn, 1984) [38]

Hệ thống canh tác có nhiều mối quan hệ phức tạp, hoạt động của một yếu tố này ảnh hưởng đến hoạt động của yếu tố khác thể hiện thông qua các mối quan hệ bổ sung và cạnh tranh Mức độ của mối quan hệ cạnh tranh có thể đánh giá được bằng tỷ lệ thay thế Độ lớn của các mối quan hệ giữa các hoạt động có thể khác nhau rất nhiều tùy thuộc vào chuỗi thức ăn trong hệ thống và môi trường Môi trường ảnh hưởng đến hệ thống canh tác thông qua các mối quan hệ bên trong, bao gồm các điều kiện tự nhiên (khí hậu, đất

đai…); mức độ hiểu biết và thông tin về kỹ thuật nông nghiệp; sự lựa chọn của nông dân về các hoạt động sinh thái khả thi và khả năng kỹ thuật phụ thuộc chặt chẽ vào môi trường; sự kết hợp đầu vào, đầu ra và mức độ đầu tư vào các hoạt động nào đó của hệ thống canh tác phụ thuộc vào môi trường kinh tế, chủ

Trang 7

yếu là giá cả và thị trường; yêu cầu về lương thực, thực phẩm, chất đốt và trình

độ phát triển văn hoá, địa vị chính trị, xã hội… trong cộng đồng

Các hoạt động khác nhau của hệ thống canh tác tạo điều kiện sử dụng nguồn tài nguyên, lao động, máy móc và tiền vốn của nông hộ trong trang trại Các hoạt động của chăn nuôi và trồng trọt khác nhau theo giời gian thì yêu cầu về máy móc, sức lao động, nhà xưởng, vốn đầu tư, nước tưới cũng khác nhau Nếu trong hệ thống canh tác có một số hoạt động này có thể thay thế cho một số hoạt động khác thì khả năng hoàn vốn cao hơn, do vậy trong hệ thống canh tác hiện nay nên lồng ghép sử dụng phù hợp các hệ phụ thuộc trồng trọt, chăn nuôi, chế biến và tiêu thụ sản phẩm, các hoạt động của hệ phụ chăn nuôi có quan hệ với nhau và quan hệ với hệ phụ trồng trọt Mối quan hệ giữa hệ phụ có thể cạnh tranh về lao động, vốn, nhưng lại bổ sung cho nhau về

sử dụng phân bón, các sản phẩm phụ của cây trồng, thúc đẩy khả năng tiêu thụ, làm giảm rủi ro…

Đại đa số các hệ thống canh tác giữ được trạng thái ổn định về độ phì và

đầu ra ở mức tương đối cao Bất kỳ sự thay đổi nào về môi trường đều có ảnh hưởng đến trạng thái ổn định; trong trường hợp ảnh hưởng ít hệ thống canh tác

có thể quay trở lại trạng thái ban đầu của nó Nhưng trong canh tác thường có

sự thay đổi thường xuyên và lâu dài Phần lớn các hệ thống canh tác có hiệu quả thường rất không bền vững, chúng nằm trong mối cân bằng động do các chỉ tiêu về đất đai, khí hậu, năng suất, số lượng gia súc, công nghệ chế biến, giá cả, thị trường tiêu thụ…

Ngày nay sự gia tăng dân số đã tạo ra những nhu cầu ngày càng lớn trong việc sử dụng nguồn tài nguyên nông thôn và ngày càng có nhiều áp lực

đè nặng lên những nguồn tài nguyên hiện đang còn nhiều khả năng khai thác Tuy vậy tính bền vững của mức tăng năng suất cây trồng và sự cân bằng các yếu tố dinh dưỡng trong đất, đa dạng sinh học và sinh thái môi trường phụ

Trang 8

thuộc nhiều vào hệ thống canh tác khác nhau (Trần Đức Viên 1994 - 1995) [43]

Sự phát triển của tất cả các sinh vật đều gắn liền với ba nhân tố môi trường chủ yếu đó là: không khí, đất và nước Chính vì vậy tiêu chuẩn đánh giá môi trường cũng bắt đầu xuất phát từ ba nhân tố này Việc điều tra môi trường thực chất là đánh giá hiện trạng dựa trên những tiêu chuẩn của môi trường Sau đó đưa ra những dự đoán, giải pháp để bảo vệ môi trường (Đào Thế Tuấn, 1989) [40]

Ngày nay, với một nền sản xuất hiện đại, với xu thế công nghiệp hoá và hoá học hoá nông nghiệp, sự ô nhiễm hoá chất trong đất, nước và không khí là nguyên nhân gây suy thoái môi trường nghiêm trọng Việc sử dụng các loại phân vô cơ thay thế phân hữu cơ đã làm giảm độ phì nhiêu của đất, làm rửa trôi các chất dinh dưỡng trong đất, gây xói mòn tầng đất mặt, nhất là đất dốc làm tăng độ chua trong đất, thay đổi đáng kể các hoạt động của vi sinh vật trong đất, làm giảm độ phì nhiêu của đất

Hệ thống cây trồng là hình thức đa canh, bao gồm trồng xen, trồng gối, trồng luân canh, trồng thành hàng, canh tác hỗn hợp, vườn hỗn hợp (Đào Thế Tuấn, 1977) [37] Như vậy hệ thống cây trồng là một thể thống nhất trong mối quan hệ tương tác giữa các loại cây trồng, giống cây trồng được bố trí hợp lý trong không gian và thời gian (Phùng Đăng Chinh, Lý Nhạc, 1987) [3], (Nguyễn Văn Luật, 1990) [18]

Để đánh giá khả năng luân canh cây trồng theo không gian và thời gian, H.G.Zandstra (1981) [49] đã đưa ra khái niệm công thức luân canh: công thức luân canh là tổ hợp không gian và thời gian của các cây trồng trên một mảnh

đất và biện pháp canh tác dùng để sản xuất chúng Do hệ thống cây trồng mang đặc tính động, vì vậy nghiên cứu hệ thống cây trồng không thể dừng lại

ở một không gian và thời gian rồi kết thúc mà là việc làm thường xuyên để tìm

Trang 9

ra xu thế phát triển Yếu tố hạn chế và những giải pháp khắc phục để chuyển

đổi hệ thống cây trồng nhằm mục đích khai thác ngày càng có hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên, tăng hiệu quả kinh tế xã hội phục vụ cuộc sống con người (Đào Thế Tuấn, 1984) [38]

Việc nghiên cứu hệ thống canh tác bắt đầu bằng việc tiếp cận hệ thống

Đó là phương pháp nghiên cứu và xử lý các phức hệ có tổ chức Tiếp cận hệ thống toàn diện hơn tiếp cận phân tích (Phạm Chí Thành, 1994) [31]

Các nghiên cứu của Speeding (1979) [59] trong nghiên cứu hoàn thiện hoặc cải tiến hệ thống đã có sẵn, tức là dùng phân tích hệ thống để tìm ra điểm hẹp hay chỗ thắt lại của hệ thống Đó là chỗ có ảnh hưởng không tốt đến hoạt

động của hệ thống cần được sửa chữa, khai thông (tác động vào) để hệ thống

được hoàn thiện hơn, có hiệu quả kinh tế cao hơn, các tác giả Lê Song Dự (1990) [4], Ngô Doãn Đảm (1995) [5], Bùi Huy Đáp (1978) [8], Hoàng Văn

Đức (1980) [10], Võ Minh Kha (1996) [14], Tống Khiêm (1995) [15], Normal (1975) [57]… cho rằng: để thiết kế hệ thống cây trồng cải tiến phải căn cứ vào tài liệu thu thập về khí hậu, địa hình, thủy lợi, loại đất, hạ tầng cơ sở, hệ thống cây trồng hiện có, các mặt hạn chế của sản xuất…

Cơ cấu cây trồng hợp lý là phát triển hệ thống cây trồng mới trên cơ sở cải biến hệ thống cây trồng cũ hoặc phát triển hệ thống cây trồng mới Trên thực tế là sự tổ hợp lại các công thức luân canh, tổ hợp lại các thành phần cây trồng và giống cây trồng, đảm bảo các thành phần trong hệ thống có mối quan

hệ tương tác với nhau, thúc đẩy lẫn nhau, nhằm khai thác tốt nhất lợi thế về

điều kiện đất đai, tạo cho hệ thống có sức sản xuất cao, bảo vệ môi trường sinh thái (Lê Duy Thước 1991) [32]

Sự lồng ghép có hệ thống giữa các mức độ khai thác sử dụng tài nguyên trong từng bối cảnh kinh tế - xã hội cụ thể, cho phép có được mô hình kinh tế

Trang 10

mang tính thực tiễn cao và đạt hiệu quả, để có thể ứng dụng rộng rãi và thành công (Zandstra, 1981) [60]

Để có kế hoạch sản xuất của một vùng hay một đơn vị sản xuất, việc

đầu tiên phải đề cập tới là loại cây, diện tích, loại giống, loại đất, số vụ trong năm, loại cây và giống cây trồng trong các vụ để cuối cùng có một tổng sản lượng cao nhất trong điều kiện tự nhiên và xã hội nhất định sẵn có (Phùng

Đăng Chinh, Lý Nhạc, 1987) [3], (Lê Duy Thước, 1991) [32]

Việc xác định hệ thống cây trồng cho một vùng, một khu vực sản xuất

đảm bảo hiệu quả kinh tế, ngoài việc giải quyết tốt mối quan hệ giữa hệ thống cây trồng với các điều kiện khí hậu, đất đai, quần thể sinh vật, tập quán canh tác còn có mối quan hệ chặt chẽ với phương hướng sản xuất ở vùng, khu vực

đó Một mặt phương hướng sản xuất quyết định cơ cấu cây trồng, ngược lại cơ cấu cây trồng lại là cơ sở hợp lý nhất để xác định phương hướng sản xuất của vùng hoặc khu vực đó Vì vậy nghiên cứu bố trí hệ thống cây trồng có cơ sở khoa học sẽ có ý nghĩa quan trọng giúp cho các nhà quản lý có cơ sở để xác

định phương hướng sản xuất một cách đúng đắn (Đào Thế Tuấn, 1984) [38]

Để có được hệ thống canh tác thích hợp tức là phải đạt được một khối lượng sản phẩm cao trên một đơn vị diện tích, cần phải có một hệ thống cây trồng đảm bảo được các yếu tố sau đây

- Sử dụng tốt nhất các điều kiện khí hậu và né tránh được tác hại của thiên tai

- Lợi dụng tốt nhất các điều kiện đất đai, khai thác và bảo vệ bồi dưỡng

độ phì của đất

- Lợi dụng tốt nhất các đặc tính sinh học của cây trồng, tính ngắn ngày, tính thích ứng rộng, tính chống chịu với điều kiện ngoại cảnh

Trang 11

- Hạn chế được các tác hại của sâu bệnh, cỏ dại với việc sử dụng ít nhất các biện pháp hoá học

- Cho hiệu quả kinh tế cao, hỗ trợ các hoạt động về chăn nuôi và chế biến Khả năng tiêu thụ sản phẩm dễ dàng

- Đa dạng về sinh học, không gây ảnh hưởng đến môi trường sinh thái

2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

2.2.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

Nông nghiệp bền vững là một hệ thống thiết kế để tạo môi trường bền vững cho cuộc sống của con người Mục đích của nông nghiệp bền vững là xây dựng một hệ thống ổn định về mặt sinh thái, có tiềm lực kinh tế, có khả năng thoả mãn những nhu cầu của con người mà không bóc lột đất đai, không làm ô nhiễm môi trường Nông nghiệp bền vững phải coi thiên nhiên là môi trường lý tưởng để phát triển một nền nông nghiệp bền vững, hoà hợp với thiên nhiên

Hệ thống canh tác lấy năng lượng, nguyên liệu từ môi trường, nếu khai thác cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên không tái tạo được, hoặc khai thác quá khả năng phục hồi tài nguyên sẽ dẫn đến không còn nguyên liệu, năng lượng

Từ đó phải đình chỉnh sản xuất, giảm sút hoặc triệt tiêu hệ thống canh tác Hệ thống canh tác chuyển vào môi trường các chất thải trong đó có các chất độc

đối với đất, nước và không khí khiến cho sản xuất không bền vững Do vậy khi bố trí các hệ thống canh tác các nhà khoa học bao giờ cũng phải chú ý đến hiệu quả kinh tế và môi trường

2.2.1.1 Nghiên cứu về hiệu quả kinh tế của hệ thống canh tác

Trong lịch sử sản xuất nông nghiệp loài người đã chọn ra các giống cây trồng, vật nuôi phù hợp với điều kiện tự nhiên, xã hội của từng vùng sinh thái

và con người đã thiết lập nên các hệ thống canh tác phù hợp cho từng vùng

Trang 12

sinh thái khác nhau Lịch sử phát triển nông nghiệp trên thế giới cũng đã chỉ

rõ, việc chuyển biến nền sản xuất nông nghiệp từ trình độ tự cấp, tự túc sang trình độ có tính chất hàng hoá đã gắn liền với biến đổi sâu sắc trong cơ cấu câu trồng Do đó các nhà nông học trên thế giới đã tập trung nghiên cứu vấn

đề này

Từ thế kỷ thứ VIII đến thế kỷ thứ XVIII, trong suốt 1000 năm chế độ luân canh phổ biến trong nông nghiệp châu Âu là chế độ luân canh 3 khu và luân chuyển trong 3 năm, với hệ thống canh tác: ngũ cốc - ngũ cốc và bỏ hoá Năng suất ngũ cốc trong suốt thời kỳ này chỉ đạt 5 - 6 tạ/ha và đến thế kỷ thứ XVIII năng suất mới chỉ đạt 7 - 8 tạ/ha Sau khi tìm ra Châu Mỹ, một số cây trồng được di thực từ Châu Mỹ vào Châu Âu như khoai tây, ngô… cùng với việc phát triển một số cây họ đậu (cỏ 3 lá), đã tạo điều kiện cho việc hình thành hệ thống canh tác mới Đó là chế độ luân canh 4 khu, 4 năm (luân canh không gian) Chế độ luân canh này đánh dấu bước ngoặt trong lịch sử phát triển nông nghiệp của Châu Âu, năng suất ngũ cốc đã tăng gấp 2 lần so với chế độ luân canh cũ và sản phẩm lương thực, thực phẩm trên 1 ha đất canh tác tăng gấp 4 lần (do khoai tây, củ, quả được đưa thêm vào hệ thống cây trồng) Một chế độ luân canh mới này bắt đầu được áp dụng rộng rãi và đem lại nhiều thắng lợi ở nước Anh và sau đó lan rộng ra các nước Bỉ, Hà Lan, Đức, Pháp và các nước khác ở Tây Âu (Phùng Đăng Chinh, Lý Nhạc, 1987) [3], (Bùi Huy

Đáp, 1974) [6]

Vào những năm đầu thập kỷ 70 của thế kỷ XX, các nhà khoa học của các nước Châu á đã đi sâu nghiên cứu toàn bộ hệ thống cây trồng trên đất lúa Theo hướng lấy lúa làm nền, tăng cường phát triển các loại cây hoa màu, các chế độ xen canh, trồng gối, trồng nối tiếp ngày càng được chú ý nghiên cứu (Triệu Kỳ Quốc, 1992 [23], (Chopra, 1989) [51], (Normal, 1975) [57] Theo

hướng này ở Châu á đã hình thành “Mạng l ưới hệ canh tác Châu á” một tổ

Trang 13

chức hợp tác nghiên cứu giữa Viện nghiên cứu lúa quốc tế (IRRI) và nhiều quốc gia trong vùng Nhìn chung các nghiên cứu hệ thống cây trồng mới tập trung giải quyết vấn đề sau

- Tăng vụ bằng trồng cây ngắn ngày để thu hoạch trước mùa mưa lũ

- Thử nghiệm tăng vụ màu bằng các cây trồng mới, xen canh, luân canh tăng vụ

- Xác định hiệu quả kinh tế của các công thức luân canh, tìm và khắc phục các yếu tố hạn chế để phát triển công thức đạt hiệu quả cao

Chương trình nghiên cứu nông nghiệp phối hợp toàn ấn Độ 1960 - 1972 lấy hệ thâm canh tăng vụ chu kỳ 1 năm làm hướng chiến lược phát triển sản

xuất nông nghiệp đã kết luận: “Hệ canh tác giành ưu tiên cho cây lương thực,

2 vụ ngũ cốc trên năm (2 vụ lúa hoặc một vụ lúa và 1 vụ lúa mì) đưa thêm vào

1 vụ đậu đỗ đã đáp ứng được 3 mục tiêu: khai thác tối ưu tiềm năng của đất

đai, ảnh hưởng tích cực đến độ phì nhiêu của đất trồng và đảm bảo lợi ích của người nông dân” (Hoàng Văn Đức, 1992) [11]

Tại Đài Loan để nâng cao hiệu quả sử dụng đất, người ta đã nghiên cứu

đưa các giống cây hoa màu chịu bóng để trồng xen trong nước (cây công nghiệp chiếm diện tích lớn nhất ở Đài Loan) và các giống cây hoa màu chịu hạn trồng mùa khô để đưa vào trồng sau khi thu hoạch lúa mùa

Tại Thái Lan trong điều kiện thiếu nước, hệ thống cây trồng lúa xuân - lúa mùa ít mang lại hiệu quả (do chi phí tiền nước quá lớn, cộng thêm sự độc canh cây lúa làm ảnh hưởng xấu đến đất đai) Bằng việc chuyển dịch cây lúa xuân sang cây đậu tương, tăng giá trị tổng sản phẩm đã tăng lên đáng kể, diện tích tăng gấp rưỡi, hiệu quả kinh tế tăng gấp đôi, độ phì của đất được tăng lên

rõ rệt, mang lại một thành công lớn trong chuyển dịch cơ cấu cây trồng ở Thái Lan (Bùi Quang Toản, 1992) [36]

Trang 14

Tại Trung Quốc, đã xác định được hệ thống cây trồng hợp lý trên các vùng đất 2 vụ lúa, hệ thống cây trồng chủ yếu là 2 vụ lúa và 1 vụ lúa mì (hoặc

đậu Hà Lan, khoai tây, cải ) trên các vùng đất 1 vụ, hệ thống cây trồng thường là 1 vụ lúa và 1 vụ cây trồng cạn (Triệu Kỳ Quốc, 1992) [23]

Tại tỉnh Sragien (Indonesia) có một mùa khô 4 tháng và mùa mưa 5 - 6 tháng Nông dân thường trồng 2 vụ lúa, vụ thứ nhất gieo cạn vào cuối mùa khô

để lợi dụng mưa tháng 11 - 12 trên đất trồng màu, lúa cạn thu hoạch tháng 2,

vụ lúa thứ 2 có thể thất thu do mưa, nông dân đã chuyển trồng hoa màu khác (tháng 11 - tháng 3) Ngô gieo vào mùa khô, thu hoạch tháng 12 - 1, lạc thu hoạch tháng 5 - 6, mô hình tiêu biểu của vùng này là cùng 1 lúc trồng lúa cạn, ngô, sắn Lúa cạn thu hoạch tháng 1 - 2, ngô thu hoạch sớm hơn, sắn thu hoạch tháng 7 (Bùi Thị Xô, 1994) [45]

2.2.1.2 Nghiên cứu các hệ thống canh tác với sự phát triển nông nghiệp bền vững và môi trường

Với sự phát triển văn minh loài người, nhiều nguồn tài nguyên thiên nhiên bị cạn kiệt dần, không tái tạo được Để khắc phục tình trạng này, con người thời xưa đã tiến hành các cuộc thăm dò, khảo sát, phát hiện các vùng

đất mới như Trung Quốc, ấn Độ, các nước Trung Cận Đông đã tiến hành trong thời thượng cổ Các nước công nghiệp hoá ở Châu Âu cũng đã thăm dò, khảo sát và xâm chiếm Châu Mỹ, Châu Phi và Châu Đại Dương trong thời kỳ cận đại và hiện đại

Theo tài liệu của trung tâm môi trường và phát triển bền vững (1999) [46] Hiện nay có khoảng 25% diện tích đất canh tác trên thế giới đang bị sa mạc hoá, trong đó có 10% đã bị sa mạc hoá Mỗi năm có 8,5 triệu ha đất nông nghiệp bị mất do xói mòn (tương đương 20 tỷ tấn đất) ở Châu á có khoảng 54% hồ bị phú dưỡng do nước thải công nghiệp, nước thải sinh hoạt, nước rửa chuồng trại… chứa nhiều các chất hữu cơ, Phospho, đạm… nó là nguồn dinh

Trang 15

dưỡng cho các vi sinh vật trong nước phát triển Đặc biệt việc sử dụng nhiều phân đạm vô cơ trong sản xuất nông nghiệp đã làm cho hàm lượng NO3- tăng

đáng kể, làm ô nhiễm mạch nước ngầm và chất lượng nông sản phẩm Các biện pháp làm đất, bón phân, tưới tiêu không hợp lý cũng gây ra tình trạng đất

bị ô nhiễm bởi các chất độc hoá học, đất bị chua, mặn

Theo tài liệu của FAO/UNESCO (1992) [53]: trên thế giới hàng năm có khoảng 15% đất bị suy thoái vì lý do nhân tạo, trong đó suy thoái vì xói mòn

do nước chiếm khoảng 55,7%, do gió 28%, mất chất dinh dưỡng do rửa trôi 12,2% ở Trung Quốc, diện tích đất bị suy thoái là 280 triệu ha, chiếm 30% lãnh thổ, trong đó có 36,67 triệu ha đất đồi bị xói mòn nặng, 6,67 ha đất bị chua mặn; 4 triệu ha đất bị úng, lầy, ở ấn Độ, hàng năm mất khoảng 3,7 triệu

ha đất trồng trọt Tại khu vực Châu á Thái Bình Dương có khoảng 860 ha đất

đã bị hoang mạc hoá làm ảnh hưởng đến đời sống của 150 triệu người Theo kết quả điều tra của FAO (1993) [56], do chế độ canh tác không tốt đã gây xói mòn đất nghiêm trọng dẫn đến suy thoái đất, đặc biệt ở vùng nhiệt đới và vùng

đất dốc Mỗi năm lượng đất bị xói mòn tại các châu lục là: Châu Âu, Châu úc, Châu Phi: 5 -10 tấn/ha, Châu Mỹ: 10 - 20 tấn/ha; Châu á: 30 tấn/ha

Hiện nay những vấn đề về môi trường đã trở nên mang tính toàn cầu và

được phân thành 2 loại chính: một loại gây ra bởi công nghiệp hoá và các kỹ thuật hiện đại, loại khác gây ra bởi lối canh tác tự nhiên Hệ sinh thái nhiệt đới vốn cân bằng một cách mỏng manh rất dễ bị đảo lộn bởi các phương thức canh tác phản tự nhiên, buộc con người phải chuyển hướng sản xuất nông nghiệp theo hướng sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường, thoả mãn các yêu cầu của thế hệ hiện đại nhưng không làm phương hại đến nhu cầu của các thế hệ tương lai, đó là mục tiêu của việc xây dựng và phát triển nông nghiệp bền vững và đó cũng là lối đi cho trong tương lai (Trần Đức Viên, Phạm Văn Phê, 1998) [44]

Trang 16

2.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước

Vấn đề phát triển nông nghiệp bền vững hiện nay có nhiều cách hiểu khác nhau, nhưng nhìn chung các nhà khoa học đều nhất trí với nhận định của

FAO, 1992 [55]: “Phát triển bền vững là sự quản lý và bảo vệ cơ sở của nguồn lợi tự nhiên và phương hướng của sự thay đổi kỹ thuật và thể chế bằng cách nào để đảm bảo và thoả mãn nhu cầu của con người, cho thế hệ hôm nay

và mai sau” Trong nông nghiệp được dùng theo nghĩa rộng bao gồm nghề trồng trọt, nghề cá, nghề rừng, chăn nuôi và chế biến nông sản Bảo vệ được tài nguyên đất, nước, nguồn lợi di truyền thực vật và động vật đi đôi với việc tăng hiệu quả kinh tế, xã hội và không làm thoái hoá môi trường, thích ứng về

kỹ thuật, có sức sống kinh tế và được chấp nhận về xã hội (Trần An Phong, 1995) [22]

Tại Việt Nam hệ thống canh tác đã được các nhà khoa học nghiên cứu

từ những năm 1960, các nhà khoa học miền Bắc đã dày công nghiên cứu đưa

vụ lúa xuân thành vụ sản xuất chính Một hệ thống tương đối hoàn chỉnh gieo cấy lúa xuân đã được xây dựng từ vụ xuân 1968 ở huyện Hải Hậu tỉnh Nam

Định với 100% diện tích, vụ Đông ở miền Bắc hoàn toàn thích hợp với các cây trồng có nguồn gốc ôn đới như Bắp cải, su hào, khoai tây, hành tây… và một

số cây trồng như ngô, thuốc lá, khoai lang, cà chua… (Bùi Huy Đáp, 1978) [8]

Ngày nay các nhà khoa học của nước ta cũng đã lai tạo, chọn lọc ra nhiều giống cây trồng mới, có thời gian sinh trưởng ngắn, có năng suất cao, chống chịu với điều kiện ngoại cảnh bất lợi khá, cũng đã tạo điều kiện cho việc bố trí hệ thống cây trồng hợp lý (Trương Đích, 1995) [9]

Các giống lúa ngắn ngày như CN2, VX83, giống chống rầy CR203… các giống ngô lai không quy ước LS-6, LS-7, LS-8 phù hợp với các tỉnh miền núi phía Bắc, các giống ngô thuần có thời gian sinh trưởng trung bình, có tiềm

Trang 17

năng năng suất khá, thích nghi rộng như: TSB2, Q2, VN1… thích hợp cho nhiều vùng sinh thái, việc ngày càng có nhiều giống ngô mới đã tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển nhiều hệ cây trồng hợp lý

Như vậy, nước ta có tập đoàn cây trồng khá phong phú, từ các cây trồng

có nguồn gốc nhiệt đới đến các cây trồng có nguồn gốc á nhiệt đới và ôn đới,

từ tập đoàn giống cây trồng ngắn ngày đến trung bình và dài ngày đó là cơ sở

để đa dạng hoá cây trồng, đa dạng hoá sản phẩm nông sản, góp phần tăng thu nhập cho nông dân (Bùi Huy Đáp, 1978) [8]

Theo Đào Thế Tuấn (1989) [40], việc phát triển trong thời gian tới chủ

yếu phải dựa vào “hiệu ứng hệ thống” bằng cách bố trí lại hệ thống cây trồng

thích ứng với các điều kiện đất đai và chế độ nước khác nhau, áp dụng biện pháp kỹ thuật tổng hợp nhằm khai thác cao nhất các nguồn lợi tự nhiên, lao

động và sử dụng có hiệu quả cao vốn đầu tư, đa dạng giống cây trồng và loại cây trồng là một biện pháp để nâng cao tính ổn định của hệ thống

Những năm đầu thập kỷ 60 của thế kỷ XX, Đào Thế Tuấn cùng với các nhà nghiên cứu của Viện khoa học Nông nghiệp Việt Nam trên cơ sở những căn cứ khoa học Xác định cơ cấu cây trồng hợp lý và theo yêu cầu thực tế sản xuất đòi hỏi, đã tiến hành nhiều đề tài nghiên cứu về cơ cấu cây trồng vùng châu thổ Sông Hồng và đã đưa ra nhận định về những yêu cầu cần đạt được của một cơ cấu cây trồng như sau

- Lợi dụng tốt nhất các điều kiện khí hậu và tránh được những tác hại của thiên tai

- Lợi dụng tốt nhất các điều kiện đất đai, bảo vệ và bồi dưỡng độ màu

mỡ của đất

- Lợi dụng tốt nhất các đặc tính sinh học của cây trồng (khả năng cho năng suất cao, phẩm chất tốt, ngắn ngày, thích ứng rộng, khả năng chống chịu

Trang 18

- Tránh được các tác hại của sâu bệnh, cỏ dại với việc sử dụng ít nhất các biện pháp hoá học

- Đảm bảo tỷ lệ sản phẩm hàng hoá cao, đảm bảo hiệu quả kinh tế cao

- Đảm bảo hỗ trợ cho các ngành sản xuất chính và phát triển chăn nuôi, tận dụng các nguồn lợi thiên nhiên (Đào Thế Tuấn, 1977) [37], (Đào Thế Tuấn, 1987) [39]

Các tác giả cũng đưa ra nhận xét: “Trên đất 2 vụ lúa, đ ưa cơ cấu vụ lúa xuân với các giống lúa ngắn ngày đã để lại một khoảng thời gian trống giữa hai vụ lúa (Từ sau khi thu hoạch lúa mùa sớm và lúa mùa chính vụ đến khi cấy lúa xuân) nên đã tạo điều kiện để xây dựng một hệ thống cây trồng có hiệu quả cao nhất trên đất 2 lúa”

Từ những kết quả nghiên cứu của mình, tác giả đã đưa ra một số cơ cấu cây trồng cụ thể cho vùng đồng bằng sông Hồng như sau

- Trên đất 2 vụ lúa chủ động nước

+ Lúa mùa - màu vụ đông - lúa xuân (Màu vụ đông gồm: khoai tây, khoai lang, ngô) + Lúa mùa - rau vụ đông - lúa xuân (Rau vụ đông gồm: Cà chua, su hào, bắp cải…)

- Trên đất 2 vụ lúa thấp ngập nước

+ Lúa mùa - bèo dâu - lúa xuân

+ Lúa mùa - bèo dâu - lúa xuân - điền thanh

Chế độ canh tác trên đất 2 lúa với các hệ thống canh tác như trên từng bước được áp dụng rộng rãi ở châu thổ Sông Hồng và các vùng khác trong cả nước đã tạo nên những chuyển biến khá rõ nét về sản xuất lương thực, thực phẩm ở từng vùng trong cả nước

Theo Nguyễn Thái Tự (2002) [42]: trong tất cả các hệ sinh thái, hệ sinh thái nào có số lượng loài càng lớn thì sự cân bằng trong hệ sinh thái đó càng

Trang 19

bền vững Hệ sinh thái có thành phần loài đa dạng là hệ sinh thái có các mối quan hệ xung quần xã phức tạp Các mối quan hệ trong quần xã càng phức tạp thì sự cân bằng sinh học trong quần xã càng khó bị phá vỡ Độc canh sẽ dẫn

đến phá hủy sự cân bằng sinh thái

Nghiên cứu về cơ cấu cây trồng trên đất canh tác chủ yếu nhờ nước trời, Bùi Huy Đáp cho rằng: màu đông - màu xuân - lúa mùa là chế độ canh tác khai thác triệt để tiềm lực của các loại đất cao trồng lúa mùa nhờ nước trời Trên đất chuyên trồng màu ở ven sông, hệ thống cây trồng tỏ ra có hiệu quả ngay sau khi nước rút, trồng ngô thu - đông (hoặc rau, đậu sớm) sau đó trồng ngô xuân (hoặc đậu tương, đậu đỗ khác vụ xuân) (Bùi Huy Đáp, 1977) [7]

Một số tác giả cho rằng ở nước ta có 3 loại hình luân canh tăng vụ + Luân canh giữa cây trồng cạn với nhau

+ Luân canh giữa cây trồng cạn với cây trồng nước

+ Luân canh giữa cây trồng nước với nhau

ở chân đất quanh năm không ngập nước, thành phần cơ giới nhẹ, dễ thoát nước thường luân canh cây họ đậu (đậu tương, lạc, đậu cô ve, đậu xanh

…) Ngoài luân canh tăng vụ cây lương thực, cây công nghiệp, cây thức ăn gia súc còn có những hệ thống cây trồng luân canh giữa cây dược liệu (Bạc hà,

Địa hoàng, Bạch chỉ…) với cây lương thực hoặc cây công nghiệp ngắn ngày (Phùng Đăng Chinh, Lý Nhạc, 1987) [3]

Đặc biệt trong những năm gần đây, để góp phần thực hiện các mục tiêu sản xuất nông nghiệp của Đảng và Nhà nước cùng với việc chọn tạo, du nhập, khu vực hoá nhiều giống cây trồng vừa có năng suất cao, vừa có khả năng chống chịu tốt với điều kiện ngoại cảnh bất lợi, vừa ngắn ngày Nhiều cơ quan khoa học, nhiều nhà khoa học đã quan tâm nghiên cứu và có nhiều kết quả quan trọng đóng góp cho sự phát triển hệ thống canh tác như

Trang 20

- Nghiên cứu đưa cây đậu tương vào hệ thống canh tác ở miền Bắc Việt Nam, đã có kết luận: đậu tương hè có năng suất cao khá ổn định, có thể mở rộng ở vùng đồng bằng và trung du Bắc bộ trong hệ thống lúa xuân - đậu tương hè - lúa mùa (Lê Song Dự, 1990) [4]

- Nghiên cứu ứng dụng các biện pháp kỹ thuật sử dụng hợp lý đất bạc màu, đã có kết luận: đất bạc màu ở ngoại thành Hà Nội có tiềm năng sản xuất lớn, có tập đoàn cây trồng phong phú và hệ thống luân canh đa dạng hơn các

đất khác Tuy nhiên năng suất cây trồng còn thấp, còn có biện pháp thâm canh phù hợp nhất là thâm canh lạc, khoai lang (Nguyễn Minh Thực, 1990) [34]

Đánh giá hệ thống canh tác ở tiểu vùng sinh thái bạc màu ngoại thành

Hà Nội, Đào Châu Thu, Đỗ Nguyên Hải (1990) [33] đã khẳng định: có thể nâng cao hệ số sử dụng đất (2-4 vụ/năm) và trồng được nhiều vụ lương thực, hoa màu, cây công nghiệp ngắn ngày trên đất bạc màu, trừ chân ruộng quá cao hoặc quá thấp Để có năng suất cây trồng cao và ổn định thì phải xác định hợp

lý cơ cấu giống đầy đủ, thủy lợi, phân bón phù hợp

Đề xuất chuyển đổi cơ cấu cây trồng truyền thống sang cơ cấu cây trồng hợp lý của một vùng sinh thái bằng cách đánh giá một cách toàn diện các điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và thực trạng cơ cấu cây trồng của vùng

đó, trên cơ sở xác định hệ thống cây trồng thích hợp cho từng vùng đất, từng mùa vụ Tác giả cũng đã nêu các giải pháp sử dụng có hiệu quả tài nguyên

đất, năng lượng mặt trời kết hợp với luân canh, xen canh, gối vụ đa dạng hoá cây trồng ở ngoại thành Hà Nội (Bùi Thị Xô, 1994) [45], Dương Hữu Tuyền (1990) [41] nghiên cứu hệ thống canh tác 3-4 vụ/năm ở vùng trồng lúa đồng bằng Sông Hồng đã kết luận: Đồng bằng Sông Hồng có thể trồng 3 - 4 vụ/năm Khi trồng 3 vụ không nên độc canh 3 vụ lúa mà nên bố trí 2 vụ lúa 1

vụ màu hay 2 vụ màu 1 vụ lúa, trong đó có thể 2 vụ cây ưa nóng, 1 vụ cây ưa

Trang 21

lạnh hay cả 3 vụ là cây ưa nóng Trồng 4 vụ có thể thực hiện ở những chân ruộng đất nhẹ, tưới tiêu chủ động và nguồn nhân lực dồi dào

Khi nghiên cứu chuyển đổi cơ cấu cây trồng vùng gò đồi Hà Tây, Lê Hưng Quốc (1994) [24] đã đề xuất các giải pháp sử dụng đất có hiệu quả và hoàn thiện cơ cấu cây trồng Tác giả cũng đã hoàn thiện được hệ thống cây trồng thích hợp và biện pháp canh tác đi kèm dựa trên 3 cơ sở là giống, tăng

vụ và đổi mới công nghệ

Võ Minh Kha, Trần Thế Tục, Lê Thị Bích (1996) [14] đánh giá tiềm năng sản xuất 3 vụ trở lên trên đất phù sa sông Hồng, địa hình cao không được bồi đắp hàng năm có đủ điều kiện về tài nguyên đất, nhân lực để có thể áp dụng hệ thống 3 - 4 vụ cây ngắn ngày 1 năm, đưa hệ số quay vòng đất từ 2,2 lên 2,49 hoặc 2,6 lần

Tạ Minh Sơn (1996) [27] điều tra đánh giá hệ thống cây trồng trên các nhóm đất khác nhau ở đồng bằng sông Hồng đã kết luận: các hệ thống canh tác 3-4 vụ/năm bằng các loại rau cao cấp đạt giá trị cao nhất (trên 60 triệu

đồng/ha/năm) Những hệ thống cây trồng có giá trị thu nhập cao hiện nay là các hệ thống trên đất chuyên màu, đất 2 màu, 1 lúa và đất 2 lúa - 1 màu

Nguyễn Hữu Tề, Đoàn Văn Điếm, Phạm Văn My (1995) [29] khi nghiên cứu chuyển dịch cơ cấu cây trồng tại huyện Sóc Sơn đã kết luận

+ Mô hình 3 vụ cải tiến (lạc - lúa - ngô hoặc đậu tương - lúa - thuốc lá) mang lại lợi nhuận 12.537.000 đồng/ha/năm, tỷ suất lợi nhuận từ 127,4 - 176%

+ Các mô hình 4 vụ (đậu xanh - đậu tương - lúa - khoai lang hoặc lúa CN2 - đậu tương - lúa ĐH60 - khoai tây) mang lại lợi nhuận 15.852.000

đồng/ha/năm Tỷ suất lợi nhuận 127,4 - 176%

Trang 22

Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Văn Đức, Nguyễn Hữu Hồng, Trần

Đức Hạnh (1995) [12] về xác định hệ thống trồng trọt hợp lý cho vùng đất trung du bạc màu huyện Phổ Yên - Bắc Thái cho biết: trong các mô hình trồng trọt được thử nghiệm, 3 mô hình có hiệu quả kinh tế cao do đưa vào sản xuất các loại giống mới, đó là

- Lúa xuân - lúa mùa

- Lúa xuân - lúa mùa - khoai lang đông

- Đậu tương - lúa mùa - khoai lang

Phan Thành Tâm trong kết quả phân tích hiệu quả kinh tế của các mô hình canh tác tại nông trường sông Hậu (2002), mô hình lúa - cá - lúa có hiệu quả kinh tế cao nhất, sau đó đến mô hình lúa - lúa

Nghiên cứu về môi trường tại Việt Nam, sự mâu thuẫn giữa môi trường

và sự phát triển cũng đã được các nhà khoa học nhận thấy từ rất lâu Trong lịch sử xa xưa, người dân lao động lúc khai thác tài nguyên thiên nhiên đã biết tiết chế cường độ khai thác, không để đi quá ngưỡng phục hồi, các khu rừng

đầu nguồn quan trọng đều được coi là “rừng cấm”, các dòng suối cung cấp nước uống được coi là “suối thần” Phật giáo đã giáo dục các tín đồ phải quý

trọng cuộc sống của mọi vật trong thiên nhiên

Đầu những năm 80, Hội đồng bộ trưởng đã giao cho ủy ban khoa học

và kỹ thuật nhà nước trách nhiệm nghiên cứu và bảo vệ môi trường Cuối năm

1990, với sự hợp tác của chương trình phát triển liên hợp quốc (UNDP), chương trình môi trường của Liên Hợp Quốc (UNEP) và cơ quan phát triển quốc tế của Thụy Điển (SIDA), ủy ban Khoa học Nhà nước đã triệu tập hội nghị về môi trường và sự phát triển bền vững ở Việt Nam

Năm 1993 Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường được thành lập, trong thời gian này, sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế trong bối cảnh đổi mới

Trang 23

đã đặt ra những vấn đề về môi trường ở Việt Nam, đó là: các tài nguyên thiên nhiên đang được huy động mạnh mẽ hơn vào các mục tiêu phát triển trong một nền kinh tế thị trường, mở cửa giao lưu và hợp tác rộng rãi với nước ngoài, sự gia tăng ô nhiễm môi trường trong cả nước cùng việc đô thị hoá và chuyển dịch dân cư không được tổ chức từ nông thôn vào thành thị, tài nguyên rừng và đất đã cạn kiệt, tạo nên mất cân bằng giữa điều kiện sinh thái, vệ sinh, môi trường và dân số

Ngày 23 tháng 3 năm 1995 Bộ trưởng bộ khoa học công nghệ và môi trường đã ký quyết định quy định 10 tiêu chuẩn Việt Nam, trong đó các tiêu chuẩn có liên quan trực tiếp đến nông nghiệp và sinh thái bao gồm

- Giá trị giới hạn các thông số cơ bản trong không khí

- Nồng độ tối đa của một số chất độc hại trong không khí

- Giới hạn thải tối đa cho phép các chất hữu cơ vào không khí

- Dư lượng hoá chất bảo vệ thực vật trong đất và mức độ cho phép

- Nồng độ giới hạn cho phép các chất ô nhiễm trong nước mặt

- Giá trị giới hạn các thông số và nồng độ các chất ô nhiễm trong nước thải công nghiệp

Theo Trần Đức Viên, Phạm Văn Phê (1998) [44]: phát triển nông nghiệp bền vững là bảo tồn đất đai, nguồn nước, các nguồn di truyền động thựcvật, môi trường không thoái hoá, kỹ thuật canh tác phù hợp, kinh tế phát triển Để phát triển nông nghiệp bền vững, chúng ta phải xem xét chúng trên cả 2 mặt: bền vững sinh thái (cần thiết phải giới hạn việc sử dụng những nguồn năng lượng thương mại và tái tạo sự đa dạng sinh học) và bền vững kinh tế - xã hội

Theo Nguyễn Thượng Hùng (1999) [13] có hai loại hệ sinh thái: hệ sinh thái tự nhiên (với ba môi trường chủ yếu là đất đai, nước và không khí) và hệ

Trang 24

Để có một nền sản xuất nông nghiệp bền vững, trước hết cần quan tâm

đến việc đa dạng sinh học Đa dạng sinh học, đặc biệt nếu số lượng loài và loại tương tác dinh dưỡng trong hệ sinh thái sẽ dẫn đến tính ổn định cao trong một hệ sinhthái nhân tạo Các loài trong một quần thể có thể có ích cho nhau trong việc phòng trừ sâu bệnh, phục hồi dinh dưỡng của đất

Theo Ninh Khắc Bản (2002) [2] đa dạng sinh học trong hệ thống canh tác có những ích lợi sau

* Cho phép người nông dân đảm bảo an toàn hơn về thu nhập và chất lượng cuộc sống

* Cho lợi nhuận lâu dài vì cải thiện độ phì nhiêu của đất

* Tạo việc làm ổn định, tránh được những căng thẳng mùa vụ

* Tận dụng các phụ phẩm trong nông nghiệp và các hệ phụ khác

* Đa dạng hoá về số lượng sản phẩm và tăng chất lượng sản phẩm

* Môi trường được bảo vệ tốt hơn

Trên thế giới, ô nhiễm môi trường là vấn đề chủ yếu trong chiến lược bảo vệ môi trường toàn cầu, nó ảnh hưởng đến sức khoẻ của con người và sinh vật ở mọi quốc gia Vấn đề được các nhà nghiên cứu quan tâm là tìm ra các giải pháp giảm nhẹ sự ô nhiễm môi trường, chủ yếu tập trung vào ô nhiễm không khí, đất đai và thực phẩm

Việc sử dụng tràn lan các hợp chất hoá học trong nông nghiệp đã làm suy giảm về độ lớn và chất lượng của một số loại tài nguyên thiên nhiên có ý nghĩa cơ bản đối với đời sống con người cũng như sự sinh tồn và phát triển của các sinh vật sống trên trái đất như đất đai, rừng, thủy sản, khoáng sản, không khí và nước…

Nguyễn Văn Sơn (2002) [26] đã nhận xét: hiện tượng sâu kháng thuốc ở

Trang 25

dân thường chỉ phun một loại thuốc trừ sâu định kỳ 5 - 7 ngày một lần với nồng độ cao hơn mức khuyến cáo, đồng thời chúng còn gây ô nhiễm môi trường, giảm phẩm chất các loại rau, do đó việc sử dụng có chọn lọc và luân chuyển các loại thuốc trừ sâu có cơ chế tác động hoàn toàn khác nhau theo ngưỡng phòng trừ (ngưỡng kinh tế ET) là biện pháp tốt nhất hạn chế sự kháng thuốc của sâu, đồng thời giảm bớt cường độ sử dụng thuốc trừ sâu trên các loại rau

Nguyễn Hồng Sơn (2003) [25] cho biết: khi luân canh lúa với cây trồng cạn, thành phần các loại cỏ thay đổi rõ rệt, có 25 loại cỏ chỉ xuất hiện trên các cây trồng cạn mà không xuất hiện trên ruộng lúa nước, đặc biệt cơ cấu trong luân canh cây trồng cạn - lúa - cây trồng cạn

Để xác định và đánh giá một hệ thống canh tác nào đó tại một địa phương nhất định, chúng ta phải đánh giá trên quan điểm tổng hợp của rất nhiều yếu tố (Lê Quý An, 1999) [1], đặc biệt cần quan tâm đến các vấn đề sau

- Khả năng của đất và sự sử dụng

- Giá trị về môi trường, sức chịu đựng và mức độ dễ hủy hoại của đất

- Những mục tiêu phát triển của đất và tài nguyên

- Những kỹ năng truyền thống, các lợi ích về nguyện vọng phát triển của nông dân

- Quan tâm phát triển hệ thống canh tác lâu bền ở các vùng sườn đồi, các hình thức kết hợp nông lâm nghiệp, trồng cây theo vành đai đồng mức, làm ruộng bậc thang thích hợp với điều kiện cụ thể ở từng nơi

- Thực hiện thâm canh tăng vụ, kiểm soát, hạn chế sử dụng hoá chất,

mở rộng việc thực hiện các biện pháp sinh học, các phương pháp phòng trừ sâu, bệnh tổng hợp… để hạn chế việc làm ô nhiễm môi trường và suy thoái đất

Trang 26

- Chú ý bảo tồn sự đa dạng sinh học trong quá trình canh tác

Tóm lại: Trong phần tổng quan chúng tôi xin được tóm tắt các nội dung cơ bản trên và xem đây là phương pháp tư duy của chúng tôi trong quá trình thực hiện đề tài nguyên cứu hệ thống canh tác cần xuất phát từ những quan

điểm và khái niệm chính như sau

- Nghiên cứu cấu trúc của hệ thống canh tác phải xuất phát từ lý thuyết

hệ thống, với phương pháp tiếp cận hệ thống và kết hợp cả 2 loại hình nghiên cứu là vĩ mô và vi mô

- Sự hình thành các hệ thống canh tác phải được bắt đầu bằng việc đánh giá các yếu tố bên ngoài có tác động trực tiếp đến hệ thống như những yếu tố

tự nhiên, kinh tế, xã hội và những yếu tố bên trong chứa đựng hệ canh tác như:

đất đai, lao động, tiền vốn, kỹ năng nghề nghiệp của người nông dân trong huyện Việt Yên - Bắc Giang

- Nghiên cứu phát triển hệ thống canh tác phải từ sự phân tích sâu sắc

hệ thống trồng trọt hiện tại, tìm ra những nhược điểm và nghiên cứu các giải pháp khắc phục những nhược điểm ấy, góp phần hình thành một hệ thống canh tác tiến bộ hơn

Trang 27

3 nội dung và phương pháp nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu là các yếu tố tự nhiên, kinh tế - xã hội và thực trạng hệ thống canh tác thuộc huyện Việt Yên - Bắc Giang

- Các hộ gia đình tại các xã điển hình qua phiếu điều tra chi tiết nông hộ

3.2 Nội dung nghiên cứu

3.2.1 Giới hạn của đề tài

Đề tài giới hạn trong việc nghiên cứu những hệ thống canh tác có liên quan trực tiếp đến hệ thống trồng trọt ở một số vùng sinh thái đại diện của huyện Việt Yên - tỉnh Bắc Giang

3.2.2 Đánh giá thuận lợi và khó khăn của điều kiện tự nhiên, kinh tế

- x∙ hội đối với hệ thống canh tác tại Việt Yên

+ Điều kiện tự nhiên: vị trí địa lý; khí hậu; thủy văn; địa hình; đất

+ Hiện trạng sử dụng đất tại huyện Việt Yên

+ Thực trạng hệ thống canh tác của huyện Việt Yên

+ Hiệu quả kinh tế, môi trường của một số hệ thống canh tác chủ yếu

Trang 28

3.2.4 Tổ chức triển khai các mô hình thực nghiệm

+ Kết quả thực hiện mô hình trồng lạc xuân trên chân đất cao

+ Kết quả thực hiện mô hình trồng đậu tương DT99 vụ hè trên chân

3.2.5 Đề xuất một số hệ thống canh tác mới cho phù hợp các vùng

đại diện khác nhau

+ Đề xuất các hệ thống canh tác nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế và môi trường

+ Các giải pháp góp phần thực hiện đổi mới hệ thống canh tác

3.3 Phương pháp nghiên cứu

3.3.1 Phương pháp phân tích hệ sinh thái nông nghiệp

Phân tích toàn diện hệ sinh thái nông nghiệp, phương pháp được thực hiện qua 3 bước sau

Bước 1: Xác định hệ: xác định các hệ phụ của hệ sinh thái nông nghiệp

và các thành phần của chúng (các hệ phụ trồng trọt, chăn nuôi, chế biến, dịch vụ…)

Bước 2: Xác định các mặt lợi thế và hạn chế về điều kiện tự nhiên, kinh

tế xã hội… trong việc quản lý hệ

Bước 3: Nghiên cứu giải pháp giải quyết các hạn chế nhằm nâng cao

năng suất và tính bền vững của hệ

Trang 29

3.3.2 Phương pháp điều tra đánh giá nông thôn với sự tham gia của người dân (PRA) gồm các bước sau

Bước 1: Thu thập thông tin

+ Điều tra nông thôn không dùng phiếu điều tra: Thu thập thông tin thứ cấp có liên quan đến phát triển hệ thống canh tác của huyện Việt Yên bao gồm: Khí tượng, đất đai, kinh tế - xã hội Tổ chức khảo sát thực địa theo sơ đồ lát cắt, kết hợp thăm hỏi bà con nông dân

+ Điều tra nông thôn theo mẫu phiếu điều tra: Phỏng vấn trực tiếp nông dân theo các chỉ tiêu chính như: Các công thức luân canh trên các loại đất khác nhau: Các biện pháp kỹ thuật cụ thể: Giống, chất lượng giống, phân bón, thời vụ, năng suất, chi phí… tổng số 180 phiếu điều tra cho 3 vùng đại diện mỗi vùng 60 phiếu

Bước 2: Phân tích thông tin theo nhóm những người hiểu biết (KIP) về

các khía cạnh: thế mạnh, yếu, những triển vọng và rủi ro (SWOT) Phân tích nguyên nhân dẫn đến tồn tại theo (WEB) Tìm giải pháp ưu tiên trong nghiên cứu theo phương pháp so sánh cặp đôi

3.3.3 Dùng phương pháp mô phỏng để đề xuất phương án cho hệ thống canh tác mới Đồng thời làm thực nghiệm, xây dựng mô hình theo phương pháp nghiên cứu phát triển hệ thống canh tác

3.3.4 Thu thập thông tin thứ cấp tại các cơ quan tỉnh, huyện và x∙ 3.3.5 Phân tích thống kê và xử lý số liệu theo các phương pháp

Trang 30

4 kết quả nghiên cứu và thảo luận

4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Việt Yên

4.1.1 Điều kiện tự nhiên

4.1.1.1 Vị trí địa lý

Việt Yên là huyện trung du nằm ở phía tây nam tỉnh lỵ Bắc Giang, có tổng diện tích tự nhiên là: 17.135,42ha, có phạm vi ranh giới như sau

- Phía Bắc giáp huyện Tân Yên

- Phía Nam giáp huyện Quế Võ và thị xã Bắc Giang

- Phía Đông giáp huyện Yên Dũng và thị xã Bắc Giang

- Phía Tây giáp huyện Yên Phong và huyện Hiệp Hoà

Việt Yên có vị trí tương đối thuận lợi trong giao lưu phát triển kinh tế xã hội như: Đây là địa bàn đầu mối của một số tuyến giao thông quan trọng như quốc lộ 37, tỉnh lộ 272 nối vùng đồng bằng của tỉnh Bắc Giang với các huyện miền núi phía Tây Bắc và Bắc của tỉnh và các tỉnh lân cận Trên địa bàn huyện còn có các tuyến giao thông huyết mạch như quốc lộ 1A, tuyến đường sắt Hà Nội - Lạng Sơn và giao thông đường thủy trên sông Cầu Bên cạnh đó Việt Yên nằm tương đối gần thủ đô Hà Nội (cách 42km) và một số trung tâm văn hoá - kinh tế - du lịch như thị xã Bắc Giang, thị xã Bắc Ninh…

Với vị trí của mình Việt Yên có điều kiện phát huy tiềm năng đất đai cũng như các nguồn lực khác cho sự phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn nói riêng và toàn tỉnh Bắc Giang nói chung

4.1.1.2 Địa hình

Địa hình huyện Việt Yên có thể chia 3 dạng chính

Trang 31

- Địa hình đồi núi thấp

Dạng địa hình này được phân bố rải rác ở các xã: Việt Tiến, Thượng Lan, Minh Đức, Nghĩa Trung ở phía Bắc và Trung Sơn, Tiên Sơn, Vân Trung, Ninh Sơn ở phía nam huyện, bình quân độ cao từ 6 - 120 m, đỉnh cao nhất là

đỉnh núi Mỏ Thổ 161 m, những đồi núi thấp này đa phần có độ dốc bình quân

150 và chỉ khoảng 20% diện tích có độ dốc bình quân dưới 150

- Địa hình bồn địa gò thấp

Dạng địa hình này được phân bố chủ yếu ở các xã phía Bắc huyện và xã Tiên Sơn, Ninh Sơn, Trung Sơn Bình quân độ cao dạng địa hình này là 15 - 25

m so với mặt nước biển, hầu hết diện tích này đều đã được đưa vào sử dụng làm đất ở hoặc đất trồng màu

- Địa hình vùng đồng bằng có lượn sóng

Dạng địa hình này tập trung ở các xã phía đông đường quốc lộ 1A như: Quang Châu, Hoàng Ninh, Vân Trung, Tăng Tiến… và một số xã vùng giữa huyện như: Hương Mai, Tự Lạn, Bích Sơn, Quảng Minh… độ cao bình quân dạng địa hình này là 2,5 - 5 m Độ nghiêng của địa hình theo hướng Bắc xuống Nam và Tây Bắc sang Đông Nam

4.1.1.3 Đặc điểm đất đai

Việt Yên có tổng diện tích tự nhiên là 17.135,42 ha, ngoài diện tích ao

hồ, núi đá, sông suối, thùng đào, thùng đấu Theo kết quả điều tra thổ nhưỡng năm 1963 của Ngô Thế Dân và các đồng sự điều tra bổ sung năm 1997 cuả Viện quy hoạch và thiết kế nông nghiệp, quy mô và cơ cấu các loại đất huyện Việt Yên được trình bày tại bảng 4.1 và sơ đồ các loại đất của huyện Việt Yên (hình1 phụ lục)

Trang 32

Bảng 4.1 Quy mô và cơ cấu các loại đất huyện Việt Yên

Loại đất

Diện tích (ha)

(%) so tổng diện tích tự nhiên

Phân loại theo độ cao

Nguồn: Viện Quy hoạch và Thiết kế nông nghiệp (1997)

Đặc điểm của một số loại đất nêu trên

+ Đất xói mòn trơ sỏi đá đ−ợc phân bố trên đồi núi thấp có độ dốc lớn,

thảm che phủ ít nên bị xói mòn, rửa trôi trong mùa m−a Hiện nay trên loại đất

này một số xã đã đ−a vào trồng rừng tập trung để tái tạo lại thảm thực vật

+ Đất vàng nhạt trên đá cát đ−ợc phân bố chủ yếu ở các xã Tiên Sơn,

Trung Sơn, Ninh Sơn, Vân Trung… loại đất này có tầng dày đất mịn mỏng

(<50cm) chiếm 53% diện tích loại đất này Hàm l−ợng mùn, đạm tổng số

nghèo, lân tổng số và dễ tiêu nghèo, kaly tổng số khá nh−ng kaly dễ tiêu

nghèo Hầu hết diện tích loại đất này đ−ợc nhân dân khai thác trồng sắn và

trồng bạch đàn

+ Đất phù sa đ−ợc bồi hàng năm chiếm một diện tích rất ít chủ yếu

đ−ợc phân bổ ở các xã ven sông Cầu và ngoài đê (Tiên Sơn, Vân Hà, Ninh

Trang 33

Sơn, Quang Châu) Đất có thành phần cơ giới cát pha thịt nhẹ giàu mùn, độ chua pHKCl = 6 - 6,5 Đạm tổng số trung bình đến khá Đất này được hình thành do chế độ lũ của sông Cầu, lượng phù sa trong nước lũ và đê tạo nên Hầu hết loại đất này đều nằm ở cấp vàn thấp

+ Đất phù sa không được bồi hàng năm được phân bố chủ yếu ở dọc sông Cầu và các ngòi như xã Tiên Sơn, Vân Trung, Vân Hà, Tăng Tiến Đất có thành phần cơ giới trung bình đến thịt nhẹ, tỷ lệ sét cao Qua số liệu phân tích tầng đất mặt cho thấy hàm lượng mùn từ 1,28 - 2,28, đạm tổng số 0,07 - 0,22%, lân 0,04 - 0,08% Đất có phản ứng trung tính (pHKCl = 6 - 6,3)

+ Đất xám bạc màu có tổng diện tích lớn nhất huyện, phân bố hầu hết trong toàn huyện nhưng chủ yếu tập trung vào các xã: Nghĩa Trung, Minh

Đức, Quảng Minh, Tiên Sơn, Hương Mai Đất này được hình thành trên mẫu chất phù sa cổ ở địa hình cao, thoát nước Đặc điểm chung của loại đất này là

có phản ứng chua ) pHKCl = 4,5 - 5) Lân tổng số và lân dễ tiêu nghèo đến rất nghèo (0,03 - 0,05%) và 6 -7 mg/100g đất, kaly tổng số khá (0,09-0,13%)

Đất có thành phần cơ giới hầu hết cát pha thịt nhẹ, limon thô chiếm chủ yếu trong thành phần cấp hạt Loại đất này hầu hết nằm trong chân vàn: tuy nghèo lân, mùn, đạm song đất bạc màu có ưu điểm là khá giàu kaly, tơi xốp, thoát nước, rất thích hợp với các loại cây có củ như khoai lang, khoai tây, lạc… Những chân chủ động nước đã được nhân dân khai thác trồng lúa, màu

+ Đất nâu vàng trên phù sa cổ phân bố rải rác ở các bậc thềm cao, hoặc

gò đồi độc lập lượn sóng nhẹ, nằm trên địa giới hành chính của các xã phía Bắc huyện (Việt Tiến, Thượng Lan, Minh Đức và một ít ở Nghĩa Trung) Đất

có thành phần cơ giới nhẹ, độ phì trung bình thích hợp cây trồng ngắn ngày và cây lâu năm (với độ dày tầng đất mịn trên 50mm)

+ Đất đỏ biến đổi do trồng lúa được phân bố rải rác ở các xã phía Đông

và Đông Nam huyện Phẫu diện đất hình thành rõ tầng đế cày, thành phần cơ

Trang 34

giới nhẹ, hàm lượng mùn trung bình (0,16 - 2%), lân tổng số nghèo (0,06 - 0,09%) kaly tổng số và dễ tiêu đều nghèo (0,04 - 0,05% và 9 - 11mg/100g

đất); Đất có phản ứng chua đến ít chua (pHKCl = 4,5 - 5,5) Hiện nay đất này

được trồng chủ yếu 2 vụ lúa hoặc 2 lúa - 1 màu

+ Đất phù sa úng nước là loại đất có quy mô diện tích lớn thứ hai sau

đất xám bạc màu Đất được phân bố chủ yếu ở các xã Tăng Tiến, Hoàng Ninh, Vân Trung, Quang Châu, Tiên Sơn, Vân Hà và một số diện tích nhỏ nằm rải rác ở các xã dọc ngòi Cầu Sim Do bị ngập nước nhiều tháng trong năm nên đã tạo đặc tính Glay rất mạnh Loại đất này có phản ứng chua đến rất chua, tương

đối giàu mùn (2,4 - 3%), đạm tổng số giàu, lân tổng số và dễ tiêu thấp 0,08 - 1,1% và 7 -8 mg/100g đất Đây là diện tích hầu hết đã được đưa vào trồng lúa

4.1.1.4 Đặc điểm khí hậu thời tiết

Việt Yên nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, với đặc điểm có mùa mưa (từ tháng 5 đến tháng 10) và mùa khô lạnh từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau Những đặc điểm chung của thời tiết khí hậu huyện Việt Yên tỉnh Bắc Giang chúng tôi trình bày tại bảng 4.2

Số liệu bảng 4.2 cho thấy chế độ nhiệt của vùng phân hoá theo mùa rõ rệt, trong năm có 3 tháng nhiệt độ bình quân nhỏ hơn 200C Đây là điều kiện rất thích hợp cho việc phát triển cây nhiệt đới và á nhiệt đới, đặc biệt là các loại rau màu thực phẩm ưa nhiệt độ thấp Với nhiệt độ bình quân cả năm cao cho phép huyện Việt Yên phát triển nhiều vụ cây trồng ngắn ngày trong năm ở các công thức luân canh

- Chế độ mưa, bình quân năm là 1451,5mm nhưng phân bố không đều, tập trung vào tháng 5 đến tháng 10 (chiếm 85,8% tổng lượng mưa cả năm) Tháng có lượng mưa lớn nhất là tháng 6 tháng 7 và tháng 8 Trong 3 tháng này thường có những cơn mưa với cường độ lớn gây xói mòn, rửa trôi đất và ảnh hưởng lớn đến cây trồng nông nghiệp Ngoài ra một số xã có địa hình trũng

Trang 35

thấp thường hay ngập úng trong mùa này Mùa khô có lượng mưa bình quân 26mm/tháng gây khô hạn, đặc biệt là tháng 1 trong năm

Bảng 4.2 Số liệu khí tượng trung bình 5 năm (1999 - 2003) tại Việt Yên - Bắc Giang

Chỉ tiêu

Nhiệt độ

K 2 TB ( 0 C)

Lượng mưa (mm)

Số ngày mưa (ngày)

Độ ẩm

K 2 TB (%)

Lượng bốc hơi (mm)

Số giờ nắng (giờ)

Trang 36

biểu đồ 1: l−ợng m−a và l−ợng bốc hơi các tháng trong năm

Tháng mm

( 0 C)

Trang 37

Độ ẩm không khí bình quân cả năm 82%, thời kỳ độ ẩm thấp tập trung vào mùa khô hanh (tháng 11, 12 và tháng 1, 2)

- Gió bão

Hướng gió chủ đạo của vùng là Đông bắc, tốc độ gió trung bình trong năm là 1,9 m/s, tháng có tốc độ gió cao nhất là tháng 8 (2,7m/s) Mỗi năm thường có từ 2-3 cơn bão đổ vào kéo theo mưa lớn từ 200 -300mm gây ngập úng, thiệt hại cho vụ mùa Từ những số liệu khí hậu, thời tiết nêu trên cho ta thấy vùng có tổng tích ôn khá lớn, độ ẩm trung bình các tháng đều trên 76% cho phép phát triển trồng tập đoàn cây đa dạng và phong phú và gieo trồng nhiều vụ cây ngắn ngày ở các công thức luân canh trong năm

- Ngòi cầu Sim nằm ở phía Bắc huyện, chảy qua các xã: Việt tiến, Thượng Lan, Tự Lạn, Bích Sơn, Bích Động, Minh Đức, Hồng Thái và Nghĩa Trung đổ ra sông Thương Chiều dài ngòi chảy qua huyện khoảng 19km độ dốc lớn, sinh thủy vào mùa mưa

Ngoài sông Cầu và ngòi Cầu Sim ra trên địa bàn huyện còn có những vùng trũng cục bộ nhỏ, ngắn, dốc chỉ có nước trong mùa mưa và hơn 450ha mặt nước ao hồ

Trang 38

+ Nguồn nước ngầm

Chưa có tài liệu nào điều tra về trữ lượng nguồn nước ngầm ở Việt Yên Nhưng qua thực tế các giếng khoan ở độ sâu 35-50m cho thấy lưu lượng khoảng 60 - 70l/s Chất lượng nước đảm bảo cho sinh hoạt và sản xuất

4.1.1.6 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên của huyện

+ Tiềm năng đất đai còn khá lớn, quỹ đất chưa sử dụng còn tương đối nhiều Đây là tiềm năng cần khai thác đưa vào sử dụng những năm tới

Hạn chế

+ Do lượng mưa phân bố không đều giữa các tháng trong năm đã gây nên hiện tượng hạn hán và úng lụt Hạn hán từ tháng 11 đến tháng 2 năm sau

đã làm ảnh hưởng tới gieo trồng vụ đông xuân, úng lụt vào tháng 7, 8 và tháng

9 đã làm ngập cục bộ những chân địa hình thấp làm ảnh hưởng đến sản xuất

và đời sống

+ Địa hình và cấu trúc của đất đa dạng, phức tạp, nhiều ruộng bậc thang, địa mạo lồi lõm xen kẽ những khu cao cục bộ và khu trũng Đồng thời phần lớn đất đai là bạc màu, tầng canh tác mỏng, cấu tượng rời rạc có ảnh

Trang 39

hưởng rất lớn đến việc thâm canh cây trồng, đặc biệt là vấn đề chống xói mòn, bảo vệ đất đai và giải quyết tưới tiêu trên từng chân đất

4.1.2 Điều kiện kinh tế - x∙ hội

66.296 65.154 1.142

554.906525.87229.034

Nguồn: Niên giám thống kê huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang

Trang 40

Nền kinh tế huyện Việt Yên, về cơ bản vẫn là một nền kinh tế nông nghiệp Theo quy hoạch của tỉnh Bắc Giang, đến năm 2010, khu công nghiệp lớn Đình Trám đi vào hoạt động, kinh tế của huyện sẽ thay đổi tỷ trọng, ngành nông nghiệp giảm, ngành công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp tăng Theo báo cáo quy hoạch của huyện sau năm 2010, cơ cấu kinh tế của Việt Yên như sau

Cả 2 hệ thống này hàng năm tưới tiêu được khoảng trên 3500ha Ngoài

ra còn có các công trình thủy lợi nhỏ do thôn xã quản lý gồm 64 trạm bơm cục bộ, tưới được hơn 2970 ha, tiêu 770ha Hệ thống nước tự chảy tưới được 690ha Với các công trình hiện có như hiện nay diện tích cây trồng được tưới tiêu khoảng 70% còn 30% diện tích vẫn phụ thuộc vào thiên nhiên, hàng năm vẫn còn hơn 2000ha chỉ gieo trồng được 1 vụ bấp bênh và hàng ngàn hécta bị hạn ở vùng bán sơn địa

Ngày đăng: 28/11/2013, 09:53

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 4.3: Một số chỉ tiêu kinh tế - xã hội của huyện Việt Yên năm 2003 - Luận văn nghiên cứu, phân tích một số hệ thống canh tác ở một số vùng sinh thái nông nghiệp chủ yếu của huyện việt yên  bắc giang
Bảng 4.3 Một số chỉ tiêu kinh tế - xã hội của huyện Việt Yên năm 2003 (Trang 39)
Bảng 4.4. Diễn biến diện tích - năng suất - sản l−ợng một số cây  trồng chính qua các năm - Luận văn nghiên cứu, phân tích một số hệ thống canh tác ở một số vùng sinh thái nông nghiệp chủ yếu của huyện việt yên  bắc giang
Bảng 4.4. Diễn biến diện tích - năng suất - sản l−ợng một số cây trồng chính qua các năm (Trang 43)
Bảng 4.6. Hiện trạng sử dụng đất tự nhiên huyện Việt Yên - Bắc Giang - Luận văn nghiên cứu, phân tích một số hệ thống canh tác ở một số vùng sinh thái nông nghiệp chủ yếu của huyện việt yên  bắc giang
Bảng 4.6. Hiện trạng sử dụng đất tự nhiên huyện Việt Yên - Bắc Giang (Trang 47)
Bảng 4.7. Hiệu quả kinh tế của loại hình canh tác trên đất gò đồi - Luận văn nghiên cứu, phân tích một số hệ thống canh tác ở một số vùng sinh thái nông nghiệp chủ yếu của huyện việt yên  bắc giang
Bảng 4.7. Hiệu quả kinh tế của loại hình canh tác trên đất gò đồi (Trang 53)
Bảng 4.8. Năng suất cây trồng trên đất vàn và vàn trũng - Luận văn nghiên cứu, phân tích một số hệ thống canh tác ở một số vùng sinh thái nông nghiệp chủ yếu của huyện việt yên  bắc giang
Bảng 4.8. Năng suất cây trồng trên đất vàn và vàn trũng (Trang 57)
Bảng 4.9. Hiệu quả kinh tế của hệ thống canh tác trên đất vàn và vàn trũng - Luận văn nghiên cứu, phân tích một số hệ thống canh tác ở một số vùng sinh thái nông nghiệp chủ yếu của huyện việt yên  bắc giang
Bảng 4.9. Hiệu quả kinh tế của hệ thống canh tác trên đất vàn và vàn trũng (Trang 58)
Bảng 4.10. Cơ cấu cá giống thả trên một ha ruộng - Luận văn nghiên cứu, phân tích một số hệ thống canh tác ở một số vùng sinh thái nông nghiệp chủ yếu của huyện việt yên  bắc giang
Bảng 4.10. Cơ cấu cá giống thả trên một ha ruộng (Trang 60)
Bảng 4.12. Khả năng sinh tr−ởng các giống lạc vụ xuân - Luận văn nghiên cứu, phân tích một số hệ thống canh tác ở một số vùng sinh thái nông nghiệp chủ yếu của huyện việt yên  bắc giang
Bảng 4.12. Khả năng sinh tr−ởng các giống lạc vụ xuân (Trang 68)
Bảng 4.13. Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất - Luận văn nghiên cứu, phân tích một số hệ thống canh tác ở một số vùng sinh thái nông nghiệp chủ yếu của huyện việt yên  bắc giang
Bảng 4.13. Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất (Trang 68)
Bảng 4.14. So sánh hiệu quả kinh tế giữa trồng lạc và cấy lúa - Luận văn nghiên cứu, phân tích một số hệ thống canh tác ở một số vùng sinh thái nông nghiệp chủ yếu của huyện việt yên  bắc giang
Bảng 4.14. So sánh hiệu quả kinh tế giữa trồng lạc và cấy lúa (Trang 69)
Bảng 4.15. Một số đặc điểm sinh trưởng phát triển - Luận văn nghiên cứu, phân tích một số hệ thống canh tác ở một số vùng sinh thái nông nghiệp chủ yếu của huyện việt yên  bắc giang
Bảng 4.15. Một số đặc điểm sinh trưởng phát triển (Trang 72)
Bảng 4.16. Một số yếu tố cấu thành năng suất và năng suất - Luận văn nghiên cứu, phân tích một số hệ thống canh tác ở một số vùng sinh thái nông nghiệp chủ yếu của huyện việt yên  bắc giang
Bảng 4.16. Một số yếu tố cấu thành năng suất và năng suất (Trang 73)
Bảng 4.18. Một số đặc điểm sinh trưởng và tính chống chịu - Luận văn nghiên cứu, phân tích một số hệ thống canh tác ở một số vùng sinh thái nông nghiệp chủ yếu của huyện việt yên  bắc giang
Bảng 4.18. Một số đặc điểm sinh trưởng và tính chống chịu (Trang 77)
Bảng 4.20. Khả năng sinh tr−ởng phát triển của các giống khoai tây - Luận văn nghiên cứu, phân tích một số hệ thống canh tác ở một số vùng sinh thái nông nghiệp chủ yếu của huyện việt yên  bắc giang
Bảng 4.20. Khả năng sinh tr−ởng phát triển của các giống khoai tây (Trang 80)
Bảng 4.22. Khả năng chống chịu bệnh của một số giống khoai tây mới. - Luận văn nghiên cứu, phân tích một số hệ thống canh tác ở một số vùng sinh thái nông nghiệp chủ yếu của huyện việt yên  bắc giang
Bảng 4.22. Khả năng chống chịu bệnh của một số giống khoai tây mới (Trang 81)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w