1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn nghiên cứu hệ thống trồng trọt và khả năng chuyển đổi cơ cấu cây trồng theo hướng cải thiện hiệu quả sử dụng đất ở huyện tân yên tỉnh bắc giang

120 1,2K 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu hệ thống trồng trọt và khả năng chuyển đổi cơ cấu cây trồng theo hướng cải thiện hiệu quả sử dụng đất ở huyện Tân Yên - Tỉnh Bắc Giang
Tác giả Nguyễn Thị Sâm
Người hướng dẫn TS. Phạm Thị Hương
Trường học Trường Đại Học Nông Nghiệp I
Chuyên ngành Kỹ thuật trồng trọt
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2004
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 120
Dung lượng 1,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

luận văn

Trang 1

Bộ giáo dục và đào tạo Trường đại học nông nghiệp I

Nguyễn thị sâm

Nghiên cứu hệ thống trồng trọt và khả năng chuyển đổi cơ cấu cây trồng theo hướng cải thiện hiệu quả sử dụng

đất ở huyện tân yên - tỉnh bắc giang

Luận văn thạc sĩ nông nghiệp

Hà Nội - 2004

Trang 2

Bộ giáo dục và đào tạo Trường đại học nông nghiệp I

Trang 3

1 Mở đầu

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Tân Yên là một huyện miền núi của tỉnh Bắc Giang bao gồm 24 xã, thị trấn Huyện Tân Yên có vị trí địa lý nằm ở phía tây của tỉnh cách trung tâm tỉnh khoảng 20km có hệ thống giao thông đến trung tâm tỉnh lỵ cũng như các huyện lỵ khác trong tỉnh tương đối thuận lợi

Địa hình của huyện Tân Yên đa dạng, bao gồm các loại đất đồi núi, đất vàn, trũng, tài nguyên sinh thái cho phép phát triển một hệ thống cây trồng và vật nuôi đa dạng, phong phú Trong các điều kiện phát triển kinh tế xã hội ở

đây cũng có những thuận lợi nhất định, nếu biết phát huy thế mạnh của nó Tuy nhiên hiện nay hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp, lâm nghiệp và các loại hình sử dụng đất trên địa bàn huyện Tân Yên còn nhiều điều bất cập Việc khai thác và bảo vệ nguồn tài nguyên đất đai, khí hậu chưa hợp lý, hiện tượng rửa trôi, xói mòn đất vẫn còn khá phổ biến, tình trạng úng lụt ở chân đất thấp thường xuyên xẩy ra Địa phương này chủ yếu sản xuất nông nghiệp và thu nhập cũng chủ yếu là từ nông nghiệp Trong khi đó trình độ sản xuất, thâm canh cây trồng của nhân dân trong vùng còn rất hạn chế Tập quán canh tác và trình độ dân trí chưa theo kịp với nhu cầu phát triển của sản xuất thị trường; hiệu quả khai thác nguồn tài nguyên đất đai và tài nguyên khí hậu còn nhiều hạn chế Cơ cấu cây trồng bố trí chưa hợp lý nên năng suất cũng như sản lượng cây trồng còn thấp, sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp chưa

đáng kể dẫn đến thu nhập của người dân lao động còn thấp, điều kiện kinh tế còn rất nhiều hạn chế, chưa tương xứng với tiềm năng của vùng

Trang 4

Nhìn tổng quát nông nghiệp của vùng chủ yếu là tự cung tự cấp, sản xuất đa dạng nhưng manh mún Có hiện tượng này là do nhân dân trong vùng chỉ lo lấy cái ăn phục vụ trong gia đình, chỉ khi nào thừa mới mang đi bán chứ chưa phải sản xuất mang tính chất hiệu quả kinh tế cao nên chất lượng các loại sản phẩm không cao, do đó thu nhập từ sản xuất lại càng thấp

Thực hiện đường lối công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước nhất là đối với ngành nông nghiệp, đưa miền núi tiến kịp với đồng bằng, nhằm đáp ứng

định hướng phát triển kinh tế - xã hội của huyện giai đoạn 2003 - 2010:

“Đẩy nhanh công nghiệp hoá nông thôn theo hướng hình thành nền

nông nghiệp có giá trị kinh tế cao, phù hợp với nhu cầu thị trường và điều kiện sinh thái của từng vùng; từng bước nâng cao thu nhập trên một đơn vị diện tích đất nông nghiệp

Xuất phát từ thực tế trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:

“ Nghiên cứu hệ thống trồng trọt và khả năng chuyển đổi cơ cấu cây trồng theo hướng cải thiện hiệu quả sử dụng đất ở huyện Tân Yên - Tỉnh Bắc Giang”

1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

- Xác định cơ cấu cây trồng thích hợp trên các địa hình khác nhau để nâng cao hiệu quả sử dụng đất ở huyện Tân Yên tỉnh Bắc Giang

1.3 Yêu cầu

- Phát hiện những ưu, nhược điểm của cơ cấu cây trồng hiện tại

- Đề xuất cơ cấu cây trồng mới phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của địa phương để nâng cao giá trị kinh tế của việc sử dụng đất nông - lâm nghiệp

Trang 5

1.4 ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

- Kết quả nghiên cứu là cơ sở khoa học cho việc mô hình hoá việc sử dụng đất đai bền vững và có hiệu quả ở vùng nông thôn của trung du và miền núi của tỉnh Bắc Giang

- Những hệ thống cây trồng mới, sẽ góp phần cải thiện hiệu quả sản xuất nông nghiệp, nhằm góp phần xoá đói, giảm nghèo thúc đẩy phát triển kinh tế ở vùng trung du và miền núi của tỉnh Bắc Giang

Trang 6

2 Tổng quan tài liệu và cơ sở khoa học của đề tài

2.1 cơ sở khoa học của đề tài

2.1.1 Những vấn đề lý luận góp phần hình thành cơ cấu cây trồng mới có hiệu quả kinh tế cao

Nông nghiệp là sự kết hợp logic giữa sinh học, kinh tế - xã hội cùng vận

động trong môi trường tự nhiên Nghiên cứu hệ thống cây trồng trên bình diện một vùng nông nghiệp nhỏ hay trang trại của nông hộ cũng không ngoài những quy luật trên

Tổng quan của luận án này được trình bày trên quan điểm hệ thống bao gồm các mặt: sinh học, tự nhiên với các lý thuyết hệ thống, quan điểm, khái niệm hệ thống nông nghiệp, hệ thống canh tác bền vững: các yếu tố tự nhiên, các đặc điểm sinh học của cây trrồng và vật nuôi trong các hệ thống canh tác

được xác định bởi các biến và thành phần của chúng

- Mối tương tác của các thành phần bên trong, bên ngoài của hệ thống, giữa hệ thống này với hệ thống khác trong quá trình chuyển hoá đầu vào và thành đầu ra của năng lượng, vật chất và thông tin

Trang 7

- Các cấu trúc thứ bậc luôn có trong hệ thống hữu hạn xác định trong một

hệ thống bao hàm nhiều hệ thống nhỏ Kết hợp các cấu trúc và hành vi của hệ thống vì hành vi phụ thuộc một cách tái định hoặc ngẫu nhiên vào cấu trúc

Theo Vonbertanlanfy và Conway (1986) [56] thì hệ thống là một tập hợp các tương tác giữa các thành phần tương hỗ bên trong một giới hạn xác định

Như vậy quan điểm hệ thống không phải đơn thuần là phép cộng mà là xem xét các phần tử trong hệ thống, mối tương tác của từng thành phần, các cấu trúc thứ bậc trong hệ thống, tính toàn cục và tính trội của nó

Để hệ thống phát triển cần nghiên cứu bản chất và đặc điểm của các mối tương tác qua lại giữa các yếu tố trong hệ thống đó, điều tiết các mối tương tác chính là điều khiển hệ thống một cách có quy luật "Muốn chinh phục thiên nhiên phải tuân theo các quy luật của nó"

Hệ thống nông nghiệp theo Shaner (1982) là một phức hợp của đất đai, nguồn nước, cây trồng, vật nuôi, lao động, các nguồn lợi và các đặc trưng khác trong một ngoại cảnh mà nông hộ quản lý tuỳ theo sở thích, khả năng và

kỹ thuật có thể có [62]

Nhìn chung hệ thống nông nghiệp là một hệ thống hữu hạn, trong đó con người đóng vai trò trung tâm, con người quản lý và điều khiển các hệ thống theo những quy luật nhất định, nhằm mang lại hiệu quả cho hệ thống nông nghiệp

- Hệ thống canh tác (farming systems):

Theo Sectisan (1987) [27], hệ thống canh tác là sản phẩm của 4 nhóm biến số:

+ Môi trường vật lý

Trang 8

+ Kỹ thuật sản xuất

+ Chi phối của nguồn tài nguyên

+ Điều kiện kinh tế - xã hội

Trong hệ thống canh tác vai trò của con người đặt ở vị trí trung tâm của

hệ thống và quan trọng hơn bất cứ nguồn tài nguyên nào kể cả đất canh tác Nhà thổ nhưỡng học người Mỹ đã chứng minh cho quan điểm này; Ông cho rằng đất không phải là quan trọng nhất mà chính con người sống trên mảnh

đất đó mới là quan trọng nhất Muốn phát triển một vùng nông nghiệp, kỹ năng của nông dân có tác dụng hơn độ phì của đất Như vậy hệ thống canh tác

được quản lý bởi hộ gia đình trong môi trường tự nhiên, sinh học và kinh tế - xã hội, phù hợp với mục tiêu, sự mong muốn và nguồn lực của nông hộ ZandStra (1981) [62]

2.1.2 Một số đặc trưng của cơ cấu cây trồng

Theo Phạm Chí Thành - 1996 [34] thì cơ cấu cây trồng có 5 đặc trưng:

- Cơ cấu cây trồng mang tính khách quan và được hình thành do trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội

- Cơ cấu cây trồng phải đảm bảo các mối quan hệ cân đối và đồng bộ giữa các bộ phận trong một tổng thể:

Tổng thể đó là một hệ thống lớn bao gồm những hệ thống con và mỗi hệ thống con lại bao gồm nhiều hệ thống nhỏ hơn gắn bó với nhau một cách chặt chẽ trong mối quan hệ cân đối và đồng bộ Nếu thiên lệch về một hệ thống con nào, cũng dẫn tới sự phá vỡ tính cân đối đồng bộ của toàn hệ thống

Trang 9

- Cơ cấu cây trồng bao giờ cũng là một sản phẩm của một giai đoạn lịch

sử nhất định:

Không thể đem nội dung cơ cấu cây trồng của một thời kỳ phát triển áp

đặt vào một đất nước, một vùng hoặc một thời kỳ mà ở đó trình độ của lực lượng sản xuất còn lạc hậu, phân công lao động xã hội còn đơn giản hoặc ngược lại Nguyên tắc trên hoàn toàn không cản trở việc thử nghiệm, áp dụng từng bước các mô hình tiên tiến đan xen phù hợp với những điều kiện cụ thể

- Cơ cấu cây trồng không ngừng vận động, biến đổi và phát triển:

Cơ cấu cây trồng không ngừng vận động, biến đổi và phát triển theo xu hướng ngày càng hoàn thiện hơn, mở rộng hơn và có hiệu quả hơn Quá trình vận động, biến đổi chính là quá trình điều chỉnh, chuyển dịch cơ cấu cây trồng

và quá trình chuyển dịch đó luôn luôn gắn bó chặt chẽ với quá trình phát triển của lực lượng sản xuất và sự phân công lao động xã hội, lực lượng sản xuất phát triển càng cao, càng hiện đại thì phân công lao động xã hội ngày càng phát triển cao hơn, tỷ mỷ hơn, theo quy luật quan hệ sản xuất luôn phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Như vậy, cơ cấu cây trồng ngày càng được hoàn thiện hơn, hiệu quả cao hơn Mặt khác cơ cấu cây trồng không thể luôn luôn thay đổi theo ý muốn chủ quan của con người, mà phải tương đối ổn định phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất

và quan hệ sản xuất Sự ổn định tương đối phản ánh tính khách quan khoa học trong quá trình hình thành, xác lập cơ cấu cây trồng và đảm bảo tính hiệu quả cao trong kinh doanh và trong đời sống xã hội của đất nước

- Chuyển dịch cơ cấu cây trồng là một quá trình không có sẵn một cơ cấu kinh tế hoàn thiện:

Cơ cấu cây trồng mới đựợc bắt nguồn, chuyển dịch từ cơ cấu trước nó,

từ sự tích luỹ về lượng, đủ mức dẫn tới sự thay đổi về chất Sự chuyển dịch đó

Trang 10

đòi hỏi phải có thời gian, là một quá trình tất yếu khách quan như bản thân nội dung cơ cấu cây trồng đòi hỏi sự tác động bằng một hệ thống chính sách và biện pháp đồng bộ tác động hợp quy luật thúc đẩy nhanh quá trình hình thành

2.1.3 Xác định tiềm năng phát triển

• Tìm kiếm các biện pháp cải thiện hệ thống canh tác:

Tìm kiếm tiềm năng cải thiện hệ thống canh tác là công việc khó khăn

và phức tạp Trong thực tế nhiều biện pháp đưa ra khuyến cáo đã được nông dân chấp nhận Trước khi đưa ra một giải pháp nào để cải thiện hệ thống cần phải hiểu rõ về hệ thống đó và phải dự đoán được hành vi của con người Việc tìm kiếm tiềm năng cải thiện hệ thống nên bắt đầu bằng việc phân tích tiềm năng cải thiện về mặt kỹ thuật cho tất cả các hoạt động sản xuất, kỹ thuật hiện

có hoặc kỹ thuật mới ở nông trại Các bước tiếp theo cần phải làm là: đánh giá các phương án sản xuất thay thế cả mặt tài chính và kinh tế

Nguồn để tìm kiềm cải thiện có thể là: các cơ quan nghiên cứu, trường

đại học, các phòng ban của bộ, các dự án phát triển và quan trọng nhất là các

hộ nông dân tiến bộ

• Nông dân tiến bộ:

Tiềm năng cải thiện có thể tìm thấy ở các nông dân tiến bộ, những người luôn quan tâm đến các ý tưởng mới và sẵn sàng chấp nhận rủi ro để áp dụng các tiến bộ kỹ thuật mới Các tiến bộ kỹ thuật mới có thể do cán bộ nhà nước truyền đạt cho nông dân hoặc đơn giản xuất phát từ kinh nghiệm và thực nghiệm của chính nông dân

Những người nông dân tiến bộ thường có dồi dào nguồn lực hơn phần lớn các nông dân khác Họ thường kiếm lợi nhuận cao từ các tiến bộ kỹ thuật,

Trang 11

vì họ là những người đầu tiên áp dụng Do thị trường cho các sản phẩm mới còn hạn hẹp (nghĩa là cung nhỏ hơn cầu)

Nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật mà nông dân tiến bộ áp dụng, sau này đưa ra các khuyến cáo về khuyến nông một cách hiệu quả vì chúng đã

được thử nghiệm, chứng minh trên đồng ruồng của nông dân trong các điều kiện cụ thể

- Các bước tiến hành trong việc tìm kiếm và sử dụng các tiến bộ kỹ thuật

từ nông dân tiến bộ:

- Thu thập thông tin về các hộ nông dân tiến bộ và hệ thống sản xuất của họ

+ Xác định những tiến bộ kỹ thuật mới nào đang áp dụng và đang có quan tâm nghiên cứu

+ Lựa chọn các tiến bộ kỹ thuật (mô hình sản xuất) mà các nông dân khác trong vùng có thể áp dụng được và tổ chức thử nghiệm ở quy mô sản xuất nhỏ, sau đó tiến hành đánh giá Nếu cho kết quả tốt thì khuyến cáo cho nông dân trong vùng áp dụng Việc đánh giá các tiến bộ kỹ thuật của nông dân tiến bộ nên chia thành 2 nhóm:

+ Nhóm 1: nhóm tiến bộ kỹ thuật chi phí thấp: nhóm này có đặc điểm là tạo nên cải thiện đời sống, nhưng đòi hỏi ít đầu tư (chi phí thấp), ít rủi ro, dễ

áp dụng, cần ít trợ giúp từ bên ngoài, được xã hội chấp nhận

+ Nhóm 2: nhóm tiến bộ kỹ thuật chi phí cao: nhóm này cần nhiều vốn

đầu tư hơn, cần sự hỗ trợ giúp đỡ từ bên ngoài (dịch vụ nông nghiệp, khuyến nông, tín dụng, thị trường tiêu thụ sản phẩm ) Đối với nhóm này trước khi ra quyết định khuyến cáo cho nông dân cần phải tổ chức thử nghiệm, đánh giá một cách cẩn thận để giảm rủi ro khi áp dụng

Trang 12

2.1.4 Phát triển hệ thống canh tác và giảm nghèo đói

Nhìn chung có 5 chiến lược cải thiện đời sống nông dân như sau:

- Thâm canh các hệ thống cây trồng hiện có

- Đa dạng hoá sản xuất và chế biến

- Mở rộng quy mô trang trại hoặc số lượng vật nuôi

- Tăng thu nhập nông nghiệp và phi nông nghiệp

- Thoát ra khỏi sản xuất nông nghiệp trong phạm vi một hệ thống canh tác cụ thể

Sự lựa chọn các chiến lược không loại trừ lẫn nhau ngay cả ở mức trang trại cá nhân Bất cứ nông hộ nào cũng có thể lựa chọn cùng lúc các chiến lược phù hợp cho sự phát triển của nông trại mình

- Thâm canh là tăng hiệu quả của các hệ thống canh tác đang tồn tại và thường được hiểu là tăng năng suất cây trồng, vật nuôi, sản phẩm chế biến nhờ việc sử dụng nhiều đầu tư hơn cho sản xuất như: tăng năng suất nhờ sử dụng giống tốt, sử dụng các nguồn lực mà trước đây chưa sử dụng, sử dụng lao động

có tay nghề cao, quản lý sản xuất tốt hơn, đầu tư sản xuất cao hơn

- Đa dạng hoá sản xuất: là sự điều chỉnh các hoạt động sản xuất để tăng thu nhập, giảm sự biến động trong thu nhập (giảm rủi ro) Đa dạng hoá thường giúp có thêm các cơ hội mới về thị trường tiêu thụ sản phẩm Đa dạng hoá có thể xảy ra dưới dạng đưa vào hệ thống canh tác các hoạt động sản xuất mới (sản xuất cây, con mới ) hoặc đơn giản là mở rộng các ngành sản xuất hiện có ở mức cao hơn để đưa ra các sản phẩm có chất lượng và giá trị thu nhập cao hơn

Trang 13

- Mở rộng quy mô sản xuất: nhiều hộ nông dân cải thiện đời sống và thoát khỏi đói nghèo nhờ việc mở rộng sản xuất Các chính sách về cải cách ruộng đất giúp cho nông dân nhiều nước có thêm ruộng đất để sản xuất nông, lâm nghiệp, nhờ đó cải thiện được đời sống nhanh chóng

- Nguồn thu nhập từ các hoạt động phi nông nghiệp khi nông nhàn là nguồn thu quan trọng của nông hộ, đặc biệt khi họ sống gần các khu công nghiệp hoặc đô thị lớn Trong nhiều trường hợp đây là nguồn thu nhập đáng

kể để đầu tư vào sản xuất, để thâm canh, đa dạng hoặc mở rộng sản xuất (Bảng 1)

Số liệu trong Bảng 1 cho thấy, thâm canh trong hệ thống canh tác có tưới

có tầm quan trọng nhất (3,5 điểm) trong việc xoá đói giảm nghèo, trong khi đó

từ bỏ sản xuất nông nghiệp (0,5 điểm) không phải là lối thoát tốt cho việc giảm

đói nghèo Ngược lại ở hệ thống du mục tiềm năng lớn nhất cho việc giảm đói nghèo của các nông hộ là thoát khỏi hệ thống sản xuất này (5 điểm)

Bảng 1: Tầm quan trọng tương đối của các chiến lược

phát triển khác nhau đối với 2 hệ thống canh tác

TT Hệ thống canh

tác

Thâm canh

Đa dạng hóa

Mở rộng quy mô sản xuất

Tăng thu nhập phi nông nghiệp

Thoát khỏi sản xuất nông nghiệp

1 Hệ thống canh

2 Hệ thống canh

(Nguồn: FAO & World Bank - 2001)

Ghi chú: Tổng số điểm cho mỗi hệ thống canh tác là 10 điểm

Trang 14

Như vậy, việc lựa chọn chiến lược phát triển sản xuất và cải thiện đời sống hộ nông dân cần dựa trên các điều kiện cụ thể của từng hệ thống, đặc biệt là nguồn lực, bao gồm cả điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội

- Các khía cạnh của sự tiến hoá hệ thống canh tác (Sơ đồ 1):

Để phân tích các hệ thống canh tác và sự phát triển của các hệ thống này trong tương lai giữa các vùng khác nhau và giữa các hệ thống

Người ta dựa vào các yếu tố xác định điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh

tế - xã hội sau đây:

+ Tài nguyên và khí hậu

+ Khoa học và kỹ thuật

+ Mức độ tự do thương mại và phát triển thị trường

+ Chính sách, thể chế và hiệu quả kinh tế, dịch vụ công cộng

+ Thông tin và nhân lực

Đó chính là các yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến các đặc trưng, hiệu quả và

sự tiến hoá của các hệ thống canh tác

Trang 15

Các yếu tố xác định Hệ thống canh tác

Bên ngoài

Bên trong Đầu ra

Tài nguyên Cơ sở hạ tầng Tài chính Nhân lực Xã hội Thiên nhiên (nhà, xưởng ) (tiền mặt, (kiến thức, (cộng đồng, (đất, nước, tín dụng, kỹ năng ) nhóm, khí hậu ) vốn vay ) họ hàng )

Dự trữ và đầu tư Tiêu thụ gia đình

Quyết định về tiêu thụ

Cây trồng

Vật nuôi Nông hộ Công việc phi nông

nghiệp

Chế biến

Quyết định về sản xuất

Đầu vào

từ ngoài

hệ thống

Bán Thị trường

Chính sách

thể chế

Hiệu quả kinh tế

dịchvụ công cộng

Thông tin

Công nghệ

Nguồn lực

Sơ đồ 1: Hệ thống canh tác và các yếu tố xác định

Trang 16

2.1.5 Hệ thống trồng trọt và nghiên cứu hệ thống trồng trọt

Các hoạt động sản xuất trồng trọt của một trang trại đảm bảo cho một

hệ thống trồng trọt ở trang trại đó Một hệ thống trồng trọt có thể được tạo nên

từ một loạt các công thức luân canh và bao gồm sản xuất một số cây trồng Tất cả các thành phần cần cho việc sản xuất một cây trồng cụ thể nào đó và mối quan hệ của chúng với môi trường được coi là thuộc phạm vi một hệ thống cây trồng Các thành phần đó bao gồm, tất cả các đầu vào cần thiết cả về vật lý, sinh học, công nghệ, vốn, lao động và quản lý

Công thức luân canh bao gồm tất cả các thành phần cần cho sản xuất một tập hợp cây trồng trên một thửa ruộng trong một năm Còn hệ thống canh tác bao gồm tất cả thành phần cần thiết cho sản xuất một tập hợp cây trồng ở nông trại

Sinh trưởng và năng suất cây trồng (Y) có thể coi là kết quả của môi trường (E) và sự quản lý (M) (theo Zandstra, 1979) nên ta có:

Y = f(M,E)

Quản lý (M) hệ thống canh tác bao gồm việc bố trí cây trồng theo thời gian và không gian, các biện pháp kỹ thuật canh tác Các biện pháp canh tác gồm: chọn giống cây trồng thích hợp thời vụ và phương thức trồng, bón phân, quản lý nước, bảo vệ thực vật và thu hoạch

Môi trường (E) bao gồm các biến số liên quan đến đất đai, khí hậu (như lượng mưa, nước ngầm, địa hình, nhiệt độ, độ dài ngày, bức xạ) và các nguồn lực như sức kéo, lao động, tiền mặt, thị trường và các hiệp hội người tiêu dùng (Beek và Bennama, 1972, Harwood; 1974) Hiệu quả kinh tế của hệ thống trồng trọt phụ thuộc vào môi trường kinh tế (giá đầu vào và đầu ra)

Trang 17

Các biến số môi trường mà một nhà nghiên cứu hệ thống trồng trọt tính

đến là kết quả của việc quyết định về mà việc quản lý (M) là kiểm soát môi trường (E)

Để đánh giá mối quan hệ y = f(M,E) các nhà nghiên cứu hệ thống trồng trọt tập trung vào sự tương tác giữa M và E và tìm cách xác định cách thay đổi công thức luân canh (CTLC) sao cho thu được kết quả tốt nhất cho các môi trường sản xuất khác nhau Mục đích là để dự báo cách quản lý tốt nhất từ các thông tin có được từ môi trường (E)

Để chấp nhận được trong một hệ thống trồng trọt các thành phần công nghệ mới phải được xác định và kết hợp một cách cẩn thận để phù hợp với môi trường sản xuất cụ thể nào đó Điều này đòi hỏi một cách tiếp cận tổng thể theo hướng kết hợp các ngành sản xuất trong lĩnh vực trồng trọt sao cho phù hợp với môi trường sản xuất cụ thể (Harwood và Price, 1976) Trong khi mục tiêu của nghiên cứu nông nghiệp truyền thống là tăng hiệu quả sử dụng nguồn lực cho một cây trồng cụ thể nào đó thì mục đích của nghiên cứu hệ thống trồng trọt là tăng hiệu quả của cả một công thức luân canh hoặc của một

hệ thống trồng trọt

Nghiên cứu hệ thống trồng trọt là một bộ phận của hệ thống canh tác với phạm vi giới hạn trong sản xuất trồng trọt của nông hộ Các hoạt động sản xuất trồng trọt khác nhau có thể thay đổi có tính đến mối quan hệ giữa sản xuất các cây trồng khác nhau với nhau, với các hoạt động tiêu thụ khác, môi trường vật lý, sinh học và kinh tế - xã hội Mục đích là tăng lợi nhuận từ sản xuất trồng trọt với các nguồn lực vật lý, sinh học và kinh tế -xã hội sẵn có ở từng địa phương

Trang 18

2.1.6 Phương pháp nghiên cứu hệ thống trồng trọt trên đồng ruộng nông dân

Chọn địa điểm có tiềm năng phát triển

- Điều kiện môitrường;

- Các nguồn lực;

- Các hệ thốngtrồng trọt hiện có

Mô tả điểm nghiên cứu

Thiết kế các hệ thống trồng trọt cải tiến

Thử nghiệm hệ thống trồng trọt cải tiến

Đánh giá trước khi đưa

Các chương trình sản xuất

Sơ đồ 2: Các thành phần trong phương pháp nghiên cứu

hệ thống trồng trọt

Trang 19

2.1.7 Hiệu quả của các hệ thống cây trồng

Vấn đề sử dụng đất để nâng cao hiệu quả kinh tế xuất phát từ 3 vấn đề

lý luận cơ bản sau:

Một là: các biện pháp kỹ thuật như: làm đất, tưới nước, bón phân, chăm sóc, cải tạo đất, phòng trừ cỏ dại, chọn ra các giống có năng suất cao, luân canh cây trồng được coi là có liên quan đến hệ thống cây trồng sâu sắc Trong các hệ sinh thái nhân tạo, quần thể sinh vật sống là các thành phần như

cỏ dại, các thực vật bậc tháp, các động vật nhỏ, côn trùng Các thành phần này hoặc có lợi hay ảnh hưởng không nhiều, hoặc có hại cho sự sống của cây trồng Do đó khi bố trí cơ cấu cây trồng cần chú ý đến các mối quan hệ này để cơ cấu cây trồng có thể lợi dụng được mặt lợi của mối quan hệ ấy để bảo vệ cây trồng một cách có hiệu quả kinh tế nhất

Yếu tố quyết định các hệ thống nông nghiệp (trong đó có hệ thống cây trồng) là sự thay đổi về kinh tế, xã hội và dân số Bốn tiêu chuẩn hệ thống nông nghiệp là: sự phối hợp giữa cây trồng và gia súc; các phương pháp trồng trọt và chăn nuôi; cường độ lao động, vốn đầu tư, tổ chức sản xuất, sản phẩm làm ra và tính chất hàng hoá của sản phẩm

Luân canh là biện pháp kỹ thuật nông nghiệp hoàn chỉnh có tổ chức để hoàn thành mục tiêu sản xuất nông nghiệp ở một cơ sở sản xuất dựa trên sự lợi dụng tốt nhất các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của vùng Các chế độ canh tác khác nhau như thuỷ lợi, bón phân, tưới nước, làm đất đều căn vào loại cây trồng, giống cây trồng, trình tự luân phiên cây trồng trong hệ thống luân canh Vì vậy một vấn đề quan trọng trong chế độ xây dựng công thức luân canh là phải xác định đúng vị trí của loại cây trồng

Mối quan hệ giữa các loại cây trồng trong luân canh là quan hệ cây trước với cây sau và ảnh hưởng của các cây đó trong toàn bộ hệ thống luân

Trang 20

canh Do đặc điểm này, trong bố trí cơ cấu cây trồng cần xác định cây nào là chủ yếu, để từ đó chọn cây trồng trước và sau cho phù hợp với mục đích là lợi dụng các điều kiện tốt nhất của tất cả các cây trồng trong hệ thống luân canh

Cây trồng của mỗi vùng đã chịu chi phối của nhiều quy luật tự nhiên và tạo nên tính thích ứng với ngoại cảnh Điều kiện tự nhiên của mỗi vùng có những đặc thù riêng, do đó khi đưa một loại cây trồng mới vào để thay đổi cơ cấu cây trồng cũ, thì phải chú ý đến tính chất này

Hai là: các nhân tố kinh tế - xã hội chủ yếu ảnh hưởng đến xây dựng cơ cấu cây trồng hợp lý là: cơ sở vật chất, kỹ thuật, nguồn lao động, thị trường tiêu thụ, các chính sách kinh tế, tập quán và kinh nghiệm truyền thống

- Cơ sở vật chất là quan trọng trong đó thuỷ lợi là yếu tố hàng đầu cho thâm canh tăng vụ, đặc biệt là đa dạng hoá cây trồng ở đâu có hệ thống thuỷ lợi tốt, giải quyết tưới tiêu chủ động thì ở đó cho phép phát triển hệ thống cây trồng tăng vụ có hiệu quả (tác động thuận)

- Vốn là tiềm lực của nông hộ, là yếu tố quan trọng xác định tính khả thi kinh tế - kỹ thuật cho giải pháp kỹ thuật Không có vốn tín dụng thì không thể

có đầu tư phát triển sản xuất được (tác động thuận)

- Sử dụng lao động đầy đủ và hợp lý cũng như nâng cao trình độ dân trí cho người lao động là những yêu cầu để phát triển hệ thống cây trồng, tăng vụ

và giải quyết được việc làm cho người lao động

- Tập quán canh tác và kinh nghiệm truyền thống của người nông dân: kinh nghiệm tốt thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu cây trồng Những kinh nghiệm lạc hậu sẽ hạn chế việc áp dụng các tiến bộ kỹ thuật, hạn chế phát triển hệ thống cây trồng

Trang 21

- Thị trường: chu trình của thị trường đến sản xuất là thị trường - quy trình công nghệ sản xuất Yêu cầu của thị trường sẽ quyết định theo hệ thống sản xuất cây trồng nào? quy trình công nghệ ra sao? sản xuất bao nhiêu?

Đây là nhân tố đầu tiên nông dân quan tâm đến khi sản xuất các nông sản hàng hoá để họ lựa chọn phương án có hiệu quả nhất

Ba là: trong hộ nông dân đã là đơn vị kinh tế tự chủ và tương đối độc lập với các đơn vị và các tổ chức khác về mặt ra quyết định sản xuất Nhưng các

tổ chức vẫn tác động đến hộ nông dân qua các khâu tổ chức dịch vụ, tiêu thụ sản phẩm, trao đổi kỹ thuật sản xuất Những tác động này sẽ thúc đẩy sự đổi mới hệ thống cây trồng của vùng cũng như của hộ, thậm chí có những tiến bộ

có thể thay đổi toàn bộ hệ thống cây trồng của vùng hay của nông hộ

2.2 tổng quan tài liệu

2.2.1 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

2.2.1.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước

Từ thế kỷ thứ VIII đến thế kỷ XVIII, trong suốt 1000 năm chế độ luân canh phổ biến trong nông nghiệp châu Âu là chế độ luân canh 3 khu và luân chuyển trong 3 năm, với hệ thống canh tác: ngũ cốc - ngũ cốc và bỏ hoá Năng suất ngũ cốc trong suốt thời kỳ này chỉ đạt 5 - 6 tạ/ ha và đến thế kỷ thứ XVIII năng suất mới chỉ đạt 7- 8 tạ/ ha Sau khi tìm ra châu Mỹ, một số cây trồng được di thực từ châu Mỹ vào châu Âu như khoai tây, ngô cùng với việc phát triển một số cây họ đậu (cỏ 3 lá), đã tạo điều kiện cho việc hình thành hệ canh tác mới Đó là chế độ luân canh 4 vụ, 4 năm Chế độ luân canh này đánh dấu một bước ngoặt lịch sử trong quá trình phát triển nông nghiệp của châu

Âu, năng suất ngũ cốc đã tăng gấp 2 lần so với chế độ luân canh cũ và sản phẩm lương thực, thực phẩm trên 1 ha đất canh tác tăng gấp 4 lần (do khoai

Trang 22

tây, củ, quả được đưa thêm vào hệ thống cây trồng) Chế độ luân canh mới này bắt đầu được áp dụng rộng rãi và đem lại nhiều thắng lợi ở nước Anh và sau đó lan rộng ra các nước Bỉ, Hà Lan, Đức, Pháp và các nước khác ở Tây Âu (Phùng Đăng Chính, Lý Nhạc 1987) [3], (Bùi Huy Đáp 1994)[6]

Vào những năm đầu của thập kỷ 70 các nhà khoa học của các nước châu

á đã đi sâu nghiên cứu toàn bộ hệ thống cây trồng trên đất lúa theo hướng lấy lúa làm nền, tăng cường phát triển các loại cây hoa màu, các chế độ xen canh, trồng gối, trồng nối tiếp ngày càng được chú ý nghiên cứu (Triệu Kỳ Quốc 1992) [23], (Chopra 1989) [51], (Normal 1975) [57] Theo hướng này ở

châu á đã hình thành "Mạng lưới hệ canh tác châu á" một tổ chức hợp tác

nghiên cứu giữa viện nghiên cứu lúa Quốc tế (IRRI) và nhiều quốc gia trong vùng Nhìn chung các nghiên cứu hệ thống cây trồng mới tập trung giải quyết các vấn đề sau:

- Tăng vụ bằng cây trồng ngắn ngày để thu hoạch trước mùa mưa lũ

- Thử nghiệm tăng vụ màu bằng các cây trồng mới, xen canh, luân canh, tăng vụ

- Xác định hiệu quả kinh tế của các công thức luân canh, tìm và khắc phục các yếu tố hạn chế để phát triển công thức đạt hiệu quả cao

Chương trình nghiên cứu nông nghiệp phối hợp toàn ấn Độ (1960-1972) lấy hệ thâm canh tăng vụ chu kỳ 1 năm làm hướng chiến lược phát triển sản xuất nông nghiệp đã kết luận: "Hệ canh tác giành ưu tiên cho cây lương thực,

2 vụ ngũ cốc trên năm (2 vụ lúa, hoặc 1 vụ lúa và 1 vụ lúa mì) đưa thêm vào 1

vụ đậu đỗ đã đáp ứng được 3 mục tiêu: khai thác tối ưu tiềm năng của đất đai,

ảnh hưởng tích cực đến độ phì nhiêu của đất trồng và đảm bảo lợi ích của người nông dân" (Hoàng Văn Đức 1992) [11]

Trang 23

Tại Đài Loan để nâng cao hiệu quả sử dụng đất, người ta đã nghiên cứu

đưa giống cây hoa màu chịu bóng để trồng xen trong mía (Cây công nghiệp

chiếm diện tích lớn nhất ở Đài Loan) và giống cây hoa màu chịu hạn trồng

mùa khô để đưa vào trồng sau khi thu hoạch lúa mùa

Tại Thái Lan trong điều kiện thiếu nước, hệ thống cây trồng lúa xuân -

lúa mùa ít mang lại hiệu quả (do chi phí tiền nước quá lớn cộng thêm sự độc

canh cây lúa làm ảnh hưởng xấu đến đất đai) Bằng việc chuyển dịch cây lúa

xuân sang cây đậu tương giá trị tổng sản phẩm đã tăng lên đáng kể, diện tích tăng gấp rưỡi, hiệu quả kinh tế tăng gấp đôi, độ phì của đất được tăng lên rõ rệt, mang lại một thành công lớn trong chuyển dịch cơ cấu cây trồng ở Thái Lan (Bùi Quang Toản 1993) [36]

ở những khu vực đất bằng, nông dân châu á đã sử dụng nhiều hệ canh tác

Những hệ thống này gồm các hệ thống cây trồng khác nhau (lúa, rau, khoai

lang, ngô, đậu ) luân canh giữa cây trồng nước và cây trồng cạn, giữa cây lương

thực và cây họ đậu, hệ thống luân canh giữa không gian và thời gian đã được nhiều nhà nghiên cứu đề cập và kết luận có hiệu quả (Carangal 1989) [50].

2.2.1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước về hệ thống canh tác

Trong nghiên cứu và xây dựng hệ thống canh tác ở miền Bắc Việt Nam Phạm Chí Thành (1992) [31] chủ trương xây dựng chế độ canh tác ở miền Bắc theo hệ thống phân vị các biến sinh thái và hệ thống phân ra các vi sinh thái của Valenza (1982) thay thế cho cách làm xây dựng chế độ canh tác ra làm từng thửa ruộng cụ thể cho từng hợp tác xã Về hệ thống canh tác chia chế độ canh tác ra làm 2 phần: phần cứng và phần mềm, là các biện pháp kỹ thuật có thể thay đổi theo thị trường, điều kiện kinh tế, kỹ thuật, phong tục tập quán và

kỹ năng lao động của nông dân nông nghiệp bền vững

Trang 24

Vào những năm 1996, nhà Xuất bản Nông nghiệp cho ra cuốn sách:

"Phát triển chăn nuôi trong hệ thống nông nghiệp bền vững" của tác giả Lê Viết Ly và Bùi Văn Chính [22] Tác giả cho biết: trong nông nghiệp người ta nói đến nhiều giống mới, năng suất cao, kỹ thuật cao Hiện nay người ta lại thấy xuất hiện thêm một khái niệm mới và ngày càng có tính thuyết phục, đó

là tính bền vững và tiếp theo là nông nghiệp bền vững Theo Lê Văn Khoa (1999) [18], nông nghiệp bền vững không có nghĩa là khước từ những kinh nghiệm truyền thống mà là phối hợp, lồng ghép những sáng kiến mới từ các nhà khoa học, từ nông dân hoặc cả hai Điều trở nên thông thường đối với những người nông dân, bền vững là sử dụng những công nghệ và thiết bị vừa mới được phát hiện Những mô hình luân canh tổng hợp, những phát kiến mới nhất để giảm giá thành đầu vào Đó là những công nghệ mới về chăn nuôi

động vật, những kiến thức sâu về sinh thái để quản lý sâu hại và thiên dịch Để phát triển nông nghiệp bền vững cũng phải loại bỏ ý nghĩ đơn giản rằng, nông nghiệp, công nghiệp hoá sử dụng đầu tư từ bên ngoài vào Mà xây dựng nông nghiệp bền vững cần thiết phải có sự tham gia của nông dân trong vùng nghiên cứu Fetri 1995 [60] đã định nghĩa “phát triển bền vững là việc quản lý

và bảo tồn cơ sở tài nguyên thiên nhiên, định hướng những thay đổi công nghệ

và thể chế theo một phương thức sao cho đạt đến một sự thoả mãn một cách liên tục những nhu cầu của con người, của những thế hệ hôm nay và mai sau

Sự phát triển bền vững như vậy trong lĩnh vực nông nghiệp chính là sự bảo tồn

đất, nước, các nguồn động vật và thực vật, không bị suy thoái môi trường, kỹ thuật thích hợp, sinh lợi kinh tế và được chấp nhận về mặt xã hội” FAO đã

đưa ra các chỉ tiêu cụ thể cho nông nghiệp bền vững:

- Thoả mãn nhu cầu dinh dưỡng cơ bản của các thế hệ hiện tại và tương lai về số lượng và chất lượng và các sản phẩm nông nghiệp khác

Trang 25

- Cung cấp lâu dài việc làm, đủ thu nhập và các điều kiện sống, làm việc tốt cho mọi người trực tiếp làm nông nghiệp

- Duy trì và chỗ nào có thể, tăng cường khả năng sản xuất của các cơ sở tài nguyên thiên nhiên và khả năng tái sản xuất của các nguồn tài nguyên tạo

được mà không phá chức năng của các chu trình sinh thái cơ sở và cân bằng tự nhiên, không phá vỡ bản sắc văn hoá - xã hội của các cộng đồng sống ở nông thôn, hoặc không gây nhiễm độc môi trường

- Giảm thiểu khả năng bị tổn thương trong nông nghiệp, củng cố lòng tin trong nông dân (dẫn theo tài liệu [33])

Nghiên cứu về hệ thống canh tác đã được nhiều nhà nghiên cứu đề cập:

Nguyễn Duy Cần - 1990 nghiên cứu hệ thống canh tác đất U Minh

Lê Song Dự - 1990 nghiên cứu đưa cây họ đậu vào hệ thống canh tác

Ngô Doãn Đảm - 1995 nghiên cứu canh tác trên đất bãi sông Hồng

Trần Xuân Lạc-1990 nghiên cứu về thâm canh tăng vụ và cải tạo

đất bạc màu

Mai Văn Quyền - 1996 nghiên cứu biện pháp thâm canh lúa - cá

Dương Hữu Tuyền - 1990 nghiên cứu chế độ canh tác 3 - 4 vụ một năm

ở vùng đồng bằng sông Hồng… Có thể thấy những nét chung của các công trình nghiên cứu như sau:

Nền nông nghiệp ở nước ta từ xa xưa đã có một hệ thống cây trồng khá phong phú và đa dạng, trong quá trình phát triền kinh tế xã hội nhất là quá trình phát triển không ngừng của ngành nông nghiệp thì lại càng phong phú hơn

Trang 26

Công tác nghiên cứu về hệ thống cây trồng ở nước ta mới được thực sự chú ý vào đầu những năm 1960 Đào Thế Tuấn đã nêu các vấn đề tồn tại của

hệ thống nông nghiệp vùng đồng bằng sông Hồng và nguyên nhân của sự tồn tại như: tốc độ tăng sản lượng lương thực không cao, diện tích thâm canh ít, chưa có tiến bộ thích hợp cho vùng khó khăn, sản lượng lương thực không ổn

định, sản lượng hiệu quả kinh tế không cao, tỷ lệ nông sản xuất khầu thấp, lao

động nông nghiệp tăng nhanh, ngành nghề kém phát triển

Hiện nay, trong điều kiện đất nước đang phát triển và để đáp ứng được

sự phát triển đó ngành nông nghiệp phải có bước chuyển biến mạnh mẽ, nhất

là các vùng miền núi và trung du Chính vì vậy việc nghiên cứu thay đổi hệ thống cây trồng ở những vùng này là rất cấp bách cho sự phát triển chung của

đất nước nói chung và của ngành sản xuất nông nghiệp nói riêng

2.2.2 Những kết quả nghiên cứu về cơ cấu cây trồng và kỹ thuật trồng trọt

Nghiên cứu cơ cấu cây trồng đã có nhiều tác giả đề cập: Bùi Huy

Đáp-1974 [9] nghiên cứu cơ sở khoa học của cây vụ đông Đào Thế Tuấn - 1969 [44] đưa các luận cứ bố trí cây trồng ở hợp tác xã Tào Quốc Tuấn - 1994 [47] nghiên cứu cơ cấu cây trồng ở vùng phù sa ngọt thuộc đồng bằng sông Cửu Long Bùi Thị Xô-1994 [51] nghiên cứu cơ cấu cây trồng ở vùng ngoại thành

Hà Nội

Có thể thấy cơ cấu cây trồng là thành phần các giống và loại cây được

bố trí theo không gian và thời gian trong một hệ sinh thái nông nghiệp, nhằm tận dụng hợp lý nhất nguồn lợi tự nhiên, kinh tế xã hội Bố trí cây trồng hợp lý

là biện pháp kỹ thuật tổng hợp, nhằm sắp xếp lại các hoạt động của hệ sinh thái và cơ cấu cây trồng, lợi dụng tốt nhất điều kiện khí hậu và tránh né thiên

Trang 27

tai, lợi dụng đặc tính sinh học của cây trồng, tránh sâu bệnh và cỏ dại, bảo

đảm sản lượng cao và tỷ lệ hiệu quả kinh tế lớn, bảo đảm tốt chăn nuôi và ngành kinh tế hỗ trợ, sử dụng hợp lý lao động và vật tư (Lê Hưng Quốc-1994 [25])

Cơ cấu cây trồng là kết quả tổng hoà của nhiều yếu tố khác nhau Từng nhân tố riêng lẻ ảnh hưởng đến cơ cấu cây trồng, đồng thời gắn bó với nhau tạo thành một hệ thống có mối quan hệ qua lại và tác động đến cơ cấu cây trồng Các nhân tố có thể bộ sung lẫn nhau và cũng có thể có tác động ngược chiều Vai trò chủ quan là phải đánh giá đúng phần đóng góp, hạn chế của mỗi nhân tố, nhằm phát huy những nhân tố tích cực và hạn chế những nhân tố bất lợi

+ Nhóm thứ nhất gồm: vị trí địa lý, khí hậu, thời tiết, đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên rừng, biển…

+ Nhóm thứ hai gồm: thị trường, vốn, các kế hoạch phân bổ, các chính sách kinh tế, dân số và lao động, cơ sở vật chất kỹ thuật - công nghệ

Hầu hết các yếu tố đều có biến động, nhưng trong đó nhóm thứ nhất ổn

định hơn, nhóm thứ hai biến động hơn Cơ cấu cây trồng sẽ biến đổi chủ yếu

do tác động của nhóm nhân tố thứ hai, tất nhiên là trong sự quy định của nhóm nhân tố thứ nhất

Sản xuất nông nghiệp phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên Cơ cấu cây trồng không thể biến đổi trái quy luật tự nhiên và biến đổi dưới tác

động của con người, của chính sách kinh tế

Như vậy, chuyển đổi cơ cấu cây trồng chủ yếu là tác động vào các nhân

tố ở nhóm thứ hai Đối với nền sản xuất hiệu quả kinh tế trong cơ chế thị trường, cơ cấu cây trồng chịu ảnh hưởng rất lớn của cơ chế thị trường

Trang 28

Nhu cầu của con người ngày càng đa dạng và đòi hỏi được đáp ứng với chất lượng cao hơn Điều đó dẫn tới yêu cầu phải đa dạng hoá sản phẩm, đa canh trong sản xuất và phong phú trong chế biến

- Sự thay đổi cơ cấu cây trồng gắn với việc bố trí sản xuất và chuyên môn hoá sản xuất nông nghiệp Chuyên môn hoá nông nghiệp là yếu tố không thể tiến hành một cách cao độ và triệt để như trong công nghiệp, mà phải kết hợp với phát triển tổng hợp (Phạm Chí Thành-1992 [31])

+ Để khắc phục tính thời vụ cao trong nông nghiệp

+ Nhiều loại sản phẩm có nhu cầu tiêu thụ trong nội bộ rất lớn vì vậy kinh doanh tổng hợp góp phần giải quết nhu cầu tiêu dùng tại chỗ, tiết kiệm chi phí vận chuyển cho toàn xã hội

+ Sự rủi ro trong nông nghiệp lớn, kinh doanh tổng hợp bảo đảm an toàn hơn

- Quan điểm đánh giá hiệu quả của hệ thống cây trồng phải khách quan, toàn diện và cụ thể Hệ thống chỉ tiêu đánh giá của hệ thống cây trồng gồm: giá thành, thu nhập và lợi nhuận, năng suất cây trồng và năng suất lao động, giải quyết việc làm và đời sống, tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân trên một đơn vị diện tích, nhịp độ tăng trưởng kinh tế

- Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả của hệ thống cây trồng: thị trường, vốn và cách sử dụng vốn, các hình thức tổ chức và cách thức quản lý, những

Trang 29

chính sách vĩ mô, quy trình công nghệ và các giải pháp tổ chức chế biến và tiêu thụ

Sự phân loại các kiểu nông nghiệp của Wittlssey (1936) dẫn theo [35]

được đề nghị dùng 4 tiêu chuẩn sau:

+ Sự phối hợp giữa cây trồng và gia súc

+ Các phương pháp trồng trọt và chăn nuôi

+ Cường độ lao động, vốn đầu tư, trình độ tổ chức và sản xuất

+ Tính chất hiệu quả kinh tế của sản phẩm

Theo Conway (1986) [56] ở Haiti: các nhà nghiên cứu đã phân tích kết quả hoạt động của hai nông trại nghèo (Luckenr) và trung lưu (Dieujuste) đã

đi đến kết luận:

- Nông trại nghèo chỉ quan tâm đến các giống đậu có sức chống chịu cao, thích nghi với các điều kiện canh tác khắc nghiệt, gieo muộn Còn về chăn nuôi thì được hỗ trợ về thức ăn gia súc

- Nông trại trung lưu, do có điều kiện kinh tế và đất tốt nên quan tâm

đến giống lợn cao sản và nuôi lợn vỗ béo

- Theo Yotopoules P.A (1967) ở Bangladesh dẫn theo [27] đã tiến hành nghiên cứu xây dựng một hệ thống canh tác mới theo sơ đồ bố trí được định trước cho phần đất trồng cây gì, nuôi con gì và làm gì trên 1 ha đất với mục tiêu định trước là:

+ Xác định tổng sản phẩm có thể có trên một hệ thống hỗn hợp

+ Xác định tổng số vốn và nhu cầu quản lý cũng như tổng số sản phẩm

Trang 30

của mỗi thành phần hệ thống

Nghiên cứu về hệ thống canh tác đã được nhiều tác giả đề cập: Nguyễn Duy Cần-1990 [3] nghiên cứu về hệ thống canh tác trên đất phèn U Minh, Lê Song Dự-1990 [6] nghiên cứu đưa cây họ đậu vào hệ thống canh tác, Ngô Doãn Đảm-1995 [7] nghiên cứu hệ thống cây trồng trên đất bãi sông Hồng,

Võ Minh Kha-1996 [4] đánh giá tiềm năng sản xuất 3 vụ trên đất phù sa sông Hồng, Lê Thành Dương-1990 [13] nghiên cứu hệ thống canh tác lúa tôm, Tống Khiêm-1971 [15] nghiên cứu hệ thống cây trồng ở xã Cộng Hoà-Hoài

Đức-Hà Tây, Lê Văn Khoa-1988 [17] nghiên cứu chế độ canh tác trên đất trồng chè, Trần Xuân Lạc-1990 [20] nghiên cứu thâm canh tăng vụ và cải tạo

đất bạc màu, Mai Văn Quyền-1996 [26] nghiên cứu biện pháp thâm canh lúa, cá, Tạ Minh Sơn-1996 [28] so sánh các hệ thống cây trồng ở đồng bằng sông Hồng, Nguyễn Hữu Tề-1995 [29] nghiên cứu hệ thống cây trồng trên đất đồi

gò bạc màu ở Sóc Sơn, Phạm Chí Thành-1992 [31] đề cập tới các vấn đề lý luận trong hệ thống canh tác, Lê Duy Thước-1992 [37] nghiên cứu chế độ canh tác trên đất nương rẫy, Nguyễn Duy Tính-1992 [39] nghiên cứu hệ thống cây trồng ở đồng bằng sông Hồng, Bùi Quang Toản-1993 [41] nghiên cứu khai thác đất một vụ ở trung du miền núi, Dương Hữu Tuyền-1990 [49] nghiên cứu chế độ canh tác 3 - 4 vụ 1 năm ở vùng đồng bằng sông Hồng, Nguyên Quang Tuyến -1990 [50] nghiên cứu mô hình lúa tôm ở Hậu Giang,

Võ Tòng Xuân-1990 [52] nghiên cứu hệ thống lúa tép trên đất phèn ở đồng bằng sông Cửu Long… Có thể thấy nét chung của các công trình nghiên cứu như sau:

Công tác nghiên cứu về hệ thống cây trồng ở nước ta mới thực sự được chú ý vào đầu những năm 1960 Đào Thế Tuấn-1987 [46] đã nêu những vấn

đề tồn tại của hệ thống nông nghiệp vùng đồng bằng sông Hồng và nguyên nhân của sự tồn tại như tốc độ tăng sản lượng lương thực không cao

Trang 31

(1,9%/năm), diện tích thâm canh ít, chưa có tiến bộ thích hợp cho vùngkhó khăn, sản lượng lương thực không ổn định (biến động 6,9%) do thiên tai, sâu bệnh, sản lượng hiệu quả kinh tế không cao, tỷ lệ nông sản xuất khẩu thấp, lao

động nông nghiệp tăng nhanh (2,7%/năm), ngành nghề kém phát triển Ông

đã đề ra hướng phát triển của hệ thống nông nghiệp vùng đồng bằng sông Hồng là:

- Tăng nhanh sản lượng lương thực, nhất là lương thực hiệu quả kinh tế, sản xuất nhiều hoa màu kèm theo chế biến

- Tăng sản lượng lương thực giành cho xuất khẩu, hỗ trợ chăn nuôi

- Mở rộng diện tích vụ đông, phát triển ngành nghề nhất là ngành nghề chế biến nông sản

- Tăng thu nhập bình quân đầu người

Để đạt mục tiêu trên, ông đã dự kiến các biện pháp:

- Mở rộng diện tích vụ đông

- Phát triển chăn nuôi, ngành nghề để tận dụng lao động

- Huy động vốn từ dân, đẩy mạnh xuất khẩu

- Bố trí hệ thống trồng trọt với các vùng sinh thái

- Tổ chức hệ thống sản xuất thức ăn gia súc để phát triển chăn nuôi

- Phát triển giống lợn tỷ lệ nạc cao, Phạm Chí Thành, Trần Văn Diễn và CTV (1993) [35] cho rằng: nước ta cũng như nhiều nước đang phát triển khác

đã áp dụng một chiến lược phát triển dựa chủ yếu trên các thành tựu “cách mạng xanh” nhằm vào một số sản phẩm của nông nghiệp quan trọng nhất như

Trang 32

lúa nước, ngô… bằng cách tập trung đầu tư vào một số nhân tố phát triển quan trọng nhất dễ cải tiến như giống năng suất cao, thuỷ lợi, phân bón hoá học và thuốc phòng trừ dịch hại Cách phát triển này chỉ thực hiện được ở một số vùng

có điều kiện sinh thái khó khăn, các vùng đất “có vấn đề” (hạn, úng, phèn, đất trọc…) các tiến bộ kỹ thuật này tỏ ra chưa thích ứng Ngay đối với các vùng thuận lợi, năng suất đã gần tới giới hạn cao, giá cả vật tư nông nghiệp tăng lên làm cho hiệu quả đầu tư giảm, làm giảm tốc độ phát triển

Mâu thuẫn chủ yếu của sự phát triển nền kinh tế nước ta là: Cần có một tốc độ phát triển nhanh, nhưng khả năng đầu tư còn hạn chế Giải quyết mâu thuẫn này không chỉ trông mong vào đầu tư nước ngoài và phải phát hiện và huy động các nguồn lực chủ yếu bên trong hệ thống

Các nguồn lực đó là:

- Đất đai chủ yếu không phải phát triển theo chiều mở rộng (tăng thêm diện tích) mà theo chiều sâu (thâm canh tăng vụ)

- Lao động là nguồn lợi lớn nhất theo kinh nghiệm của các nước Đông

á mà hiện nay ta đang coi là một khó khăn

- Nguồn vốn của dân hiện nay ta chưa huy động được nhiều do thiếu chính sách Việc huy động tổng hợp nguồn lực này là để sử dụng các nguồn

“hiệu ứng hệ thống” tính trội (emerge) của hệ thống mà nhiều người coi đó là cơ sở của chiến lược phát triển nông nghiệp mới (Đào Thế Tuấn-1986 [45])

Sự hoạt động của hệ thống phải nhằm đạt được mục tiêu nhất định Hệ thống canh tác của ta trong thời gian qua chỉ đặt ra một mục tiêu chủ yếu là

đạt sản lượng cao nhất là sản lượng lương thực, do đó luc thực hiện phải tìm sự phát triển của hệ thống Thường một hệ thống có nhiều mục tiêu, có những mục tiêu mâu thuẫn nhau, có những mục tiêu hỗ trợ nhau, cần giải quyết đúng đắn

Trang 33

quan hệ giữa các mục tiêu, để tạo điều kiện cho hệ thống phát triển điều hoà và thuận lợi

Theo quy luật sinh thái hệ thống càng đa dạng thì tính ổn định càng cao Như vậy phải đa dạng hoá hệ thống để làm tăng tính ổn định mà không mâu thuẫn với sản lượng cao Chúng ta cần sản lượng cao, nhưng không phải là sản lượng nói chung mà là sản lượng nông sản hiệu quả kinh tế, do đó mục tiêu của hệ thống là phần dư thừa của sản lượng (agricultural product surplus) Việc đẩy mạnh chế biến và phát triển thị trường có tác dụng thúc đẩy sản xuất nông nghiệp hiệu quả kinh tế

Do đó, cùng với việc nghiên cứu, ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật về giống mới, về các biện pháp tăng vụ, thâm canh, việc nghiên cứu các vấn đề

đa canh hoá, về cơ cấu cây trồng và hệ thống canh tác trong nông nghiệp, nhằm vừa khai thác có hiệu quả nhất các điều kiện sinh thái tự nhiên để thoả mãn nhu cầu ngày càng cao và đa dạng các loại nông sản, vừa không ngừng cải thiện môi trường sống, đã và đang được nhiều cơ quan khoa học và nhiều nhà khoa học quan tâm thực hiện trong thời gian qua

+ Nghiên cứu của Lê Hưng Quốc (1994) [25] đã xác định được hệ thống cây trồng thích hợp, tiến bộ, cần nhiều lao động, có hiệu quả gấp đôi hệ thống

cũ, cơ sở làm giàu, làm sạch và bảo đảm bền vững môi trường sinh thái dựa trên 3 cơ sở: giống, tăng vụ và đổi mới công nghệ Đề xuất các giải pháp sử dụng đất có hiệu quả và hoàn thiện cơ cấu cây trồng, cơ cấu sản xuất

Trang 34

3 đối tượng, địa điểm, Nội dung và phương pháp nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

- Các hệ thống trồng trọt ở các điều kiện sinh thái khác nhau trên địa bàn huyện Tân Yên – tỉnh Bắc Giang

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu ở 2 xã đại diện cho 2 vùng sinh thái (những xã có địa hình thấp và những xã có địa hình cao) của 23 xã và 1 thị trấn của huyện Tân Yên tỉnh Bắc Giang

3.3 Thời gian nghiên cứu:

Đề tài được tiến hành nghiên cứu từ tháng 1/ 2003 đến tháng 8/2004

3.4 Nội dung nghiên cứu

3.4.1 Đánh giá các điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội của vùng nghiên cứu

* Điều kiện tự nhiên:

- Điều kiện khí hậu, thuỷ văn

- Điều kiện địa hình

- Điều kiện đất đai (Tổng diện tích đất tự nhiên, diện tích đất theo mục

đích sử dụng, hiện trạng sử dụng đất…)

Trang 35

* Tình hình kinh tế - x∙ hội:

- Tình hình phát triển dân số, lao động và việc làm

- Đời sống kinh tế (thu nhập, nguồn thu nhập)

- Tình hình văn hoá xã hội, các chính sách của địa phương

* Tình hình sản xuất nông - lâm nghiệp:

- Những thuận lợi và khó khăn đối với sản xuất nông lâm nghiệp

3.4.2 Nghiên cứu các hệ thống luân canh hiện có của huyện

3.4.2.1 Địa hình đất đồi cao

3.4.2.2 Địa hình đất đồi thấp

3.4.2.3 Địa hình đất vàn cao

3.4.2.4 Địa hình đất vàn

3.4.2.5 Địa hình đất vàn thấp

3.5 Làm thực nghiệm một số phương thức luân canh cây trồng mới trên các địa hình đất khác nhau của địa phương

3.5.1 Địa hình đất vàn cao

3.5.2 Địa hình đất vàn

3.5.3 Địa hình đất vàn thấp

Trang 36

3.6.1.1 Thu thập số liệu thứ cấp ở các cơ quan cấp tỉnh, huyện và x∙ bao gồm một số loại

* Số liệu về các điều kiện tự nhiên:

- Số liệu về điều kiện khí hậu trong 3 năm trước đây (năm 2000 - 2002)

- Số liệu về điều kiện đất đai: địa hình đất, diện tích đất của các địa hình (địa hình thấp, địa hình trung bình và cao)

- Số liệu về điều kiện thuỷ văn: hệ thống thuỷ văn, chế độ thuỷ văn

* Các số liệu thống kê về các điều kiện kinh tế - xã hội:

- Số liệu về dân số và lao động

- Số liệu về xây dựng các cơ sở hạ tầng: hệ thống giao thông, hệ thống thuỷ lợi

- Số liệu về các ngành nghề chính, nghề phụ, …

- Số liệu về tình hình thu nhập chung

3.6.1.2 Thu thập các số liệu tài liệu sơ cấp về một số chỉ tiêu

* Hiện trạng sử dụng đất của địa phương đối với các mục đích sử dụng:

- Tình hình sử dụng đất nông nghiệp:

Trang 37

+ Diện tích đất nông nghiệp

+ Diện tích các loại cây trồng nông nghiệp

+ Sản lượng và năng suất các loại cây trồng nông nghiệp

- Tình hình sử dụng đất mâm nghiệp:

+ Diện tích đất lâm nghiệp

+ Cơ cấu các loại cây trồng lâm nghiệp

* Tính hiệu quả kinh tế:

- Tính tổng thu nhập = Năng suất x giá bán

- Tính tổng chi phí cho sản xuất (không tính công lao động) = Chi phí cho sản xuất các loại cây trồng (như: chi phí phân bón +vật tư + chi phí giống + thuốc trừ sâu)

- Tính thu nhập thuần = Tổng thu nhập - Tổng chi phí

- So sánh hiệu quả kinh tế của các phương thức sản xuất cũ của địa phương thường làm và các phương thức sản xuất mới đưa ra

Trang 38

3.6.1.3 Phương pháp thu thập thông tin

* Chọn địa điểm và hộ điều tra:

Tại mỗi vùng sinh thái chọn 1 xã đại diện, mỗi xã chọn 2 thôn và mỗi thôn phỏng vấn ngẫu nhiên 30 hộ

* Sử dụng theo phương pháp RRA và PRA với mẫu sổ điều tra và bộ câu hỏi mẫu Với công cụ:

- Phỏng vấn hộ

- Phỏng vấn nhóm

3.6.2 Làm thực nghiệm một số mô hình cơ cấu cây trồng mới dựa trên cơ sở tình hình đất đai của địa phương

3.6.2.1 Mô hình luân canh trên đất vàn cao

• Công thức luân canh thực nghiệm: lúa xuân - đậu tương hè - khoai tây đông

• Địa điểm tiến hành thực hiện mô hình:

Hộ Ông: Lê Văn Mai - thôn Đồi Chùa - xã Ngọc Lý

• Loại cây trồng đưa vào công thức luân canh mới:

- Lúa xuân ở đây chúng tôi cũng tiến hành cấy các giống như địa phương thường làm là giống CR203 có thời gian sinh trưởng 120 - 125 ngày

- Đậu tương trồng là giống: DT99 có thời gian sinh trưởng: 70 - 75 ngày

- Khoai tây sản xuất bằng giống KT3 có thời gian sinh trưởng: 75-80 ngày

Trang 39

• Diện tích làm mô hình: 1.000m2 = (3 sào)

3.6.2.2 Mô hình luân canh trên đất vàn

Được tiến hành thực nghiệm với một số công thức luân canh:

3.6.2.2.1 Công thức luân canh thứ nhất:

Lúa xuân - đậu tương hè - lạc thu đông - khoai tây đông

• Địa điểm tiến hành thực hiện mô hình:

Hộ Ông: Trần Văn Minh - thôn Đồng Lim - xã Ngọc Lý

• Loại cây trồng đưa vào công thức luân canh mới:

- Lúa xuân ở đây chúng tôi cũng tiến hành cấy các giống như địa phương thường làm là giống CR203 có thời gian sinh trưởng 120 - 125 ngày

- Đậu tương trồng là giống: DT99 có thời gian sinh trưởng: 70 - 75 ngày

- Lạc trồng giống MD7 có thời gian sinh trưởng: 90 - 100 ngày

- Khoai tây sản xuất bằng giống KT3 có thời gian sinh trưởng: 75 - 80 ngày

• Diện tích làm mô hình: 1.000m2 = (3 sào)

3.6.2.2.2 Công thức luân canh thứ hai:

Cà chua xuân - rau cải củ - hoa vụ đông

• Địa điểm tiến hành thực hiện mô hình:

Hộ Ông: Nguyễn Văn Bình - thôn Cả - xã Quế Nham

• Loại cây trồng đưa vào công thức luân canh mới:

Trang 40

- Cà chua trồng giống mới: HT6 thời gian sinh trưởng 120 - 125 ngày

- Rau cải củ và một số cải canh, thời gian sinh trưởng 30 -40 ngày

- Hoa trồng là các loại: viôlet; hoa cúc các loại; hoa thược dược thời gian 90 - 100ngày

• Diện tích làm mô hình: 1.000m2 = (3 sào)

3.6.2.2.3 Công thức luân canh thứ ba:

Lúa lai xuân- Lúa lai mùa - Khoai tây đông

• Địa điểm tiến hành thực hiện mô hình:

Hộ Ông: Đào Xuân Hinh - thôn Đồng Lim - xã Ngọc Lý

• Loại cây trồng đưa vào công thức luân canh mới:

- Lúa xuân ở đây chúng tôi cũng tiến hành cấy giống lúa lai: Bồi Tạp Sơn Thanh thời gian sinh trưởng 110 - 120 ngày

- Lúa mùa giống lúa lai: bắc ưu 903 thời gian sinh trưởng 110 - 120 ngày

- Khoai tây sản xuất bằng giống KT3 có thời gian sinh trưởng: 75-80 ngày

• Diện tích làm mô hình: 1.000m2 = (3 sào)

3.6.2.2.4 Công thức luân canh thứ tư

Dưa hấu xuân - lúa mùa - dưa hấu đông

• Địa điểm tiến hành thực hiện mô hình:

Hộ Ông: Nguyễn Văn Xuân - thôn Đồi Chùa - xã Ngọc Lý

Ngày đăng: 28/11/2013, 09:50

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1:  Hệ thống canh tác và các yếu tố xác định - Luận văn nghiên cứu hệ thống trồng trọt và khả năng chuyển đổi cơ cấu cây trồng theo hướng cải thiện hiệu quả sử dụng đất ở huyện tân yên tỉnh bắc giang
Sơ đồ 1 Hệ thống canh tác và các yếu tố xác định (Trang 15)
Sơ đồ 2: Các thành phần trong phương pháp nghiên cứu - Luận văn nghiên cứu hệ thống trồng trọt và khả năng chuyển đổi cơ cấu cây trồng theo hướng cải thiện hiệu quả sử dụng đất ở huyện tân yên tỉnh bắc giang
Sơ đồ 2 Các thành phần trong phương pháp nghiên cứu (Trang 18)
Bảng 3. Tổng hợp phân cấp tiểu địa hình theo các x∙ - Luận văn nghiên cứu hệ thống trồng trọt và khả năng chuyển đổi cơ cấu cây trồng theo hướng cải thiện hiệu quả sử dụng đất ở huyện tân yên tỉnh bắc giang
Bảng 3. Tổng hợp phân cấp tiểu địa hình theo các x∙ (Trang 45)
Bảng 4. Các yếu tố khí hậu vùng Tân Yên - Bắc Giang - Luận văn nghiên cứu hệ thống trồng trọt và khả năng chuyển đổi cơ cấu cây trồng theo hướng cải thiện hiệu quả sử dụng đất ở huyện tân yên tỉnh bắc giang
Bảng 4. Các yếu tố khí hậu vùng Tân Yên - Bắc Giang (Trang 47)
Bảng 5.  Tổng hợp diện tích các loại đất  của  huyện Tân Yên - Luận văn nghiên cứu hệ thống trồng trọt và khả năng chuyển đổi cơ cấu cây trồng theo hướng cải thiện hiệu quả sử dụng đất ở huyện tân yên tỉnh bắc giang
Bảng 5. Tổng hợp diện tích các loại đất của huyện Tân Yên (Trang 51)
Bảng 6. Dân số và lao động năm 2002 - 2003 của huyện Tân Yên - Luận văn nghiên cứu hệ thống trồng trọt và khả năng chuyển đổi cơ cấu cây trồng theo hướng cải thiện hiệu quả sử dụng đất ở huyện tân yên tỉnh bắc giang
Bảng 6. Dân số và lao động năm 2002 - 2003 của huyện Tân Yên (Trang 54)
Sơ đồ 3: Một số kênh tiêu thụ sản phẩm  nông sản vải quả - Luận văn nghiên cứu hệ thống trồng trọt và khả năng chuyển đổi cơ cấu cây trồng theo hướng cải thiện hiệu quả sử dụng đất ở huyện tân yên tỉnh bắc giang
Sơ đồ 3 Một số kênh tiêu thụ sản phẩm nông sản vải quả (Trang 60)
Bảng 14: Diện tích - năng suất - sản l−ợng một số cây trồng chính - Luận văn nghiên cứu hệ thống trồng trọt và khả năng chuyển đổi cơ cấu cây trồng theo hướng cải thiện hiệu quả sử dụng đất ở huyện tân yên tỉnh bắc giang
Bảng 14 Diện tích - năng suất - sản l−ợng một số cây trồng chính (Trang 72)
Bảng 16: Hiệu quả kinh tế các công thức luân canh trên đất đồi thấp - Luận văn nghiên cứu hệ thống trồng trọt và khả năng chuyển đổi cơ cấu cây trồng theo hướng cải thiện hiệu quả sử dụng đất ở huyện tân yên tỉnh bắc giang
Bảng 16 Hiệu quả kinh tế các công thức luân canh trên đất đồi thấp (Trang 78)
Bảng 17. Lịch mùa vụ của các công thức luân canh cây trồng - Luận văn nghiên cứu hệ thống trồng trọt và khả năng chuyển đổi cơ cấu cây trồng theo hướng cải thiện hiệu quả sử dụng đất ở huyện tân yên tỉnh bắc giang
Bảng 17. Lịch mùa vụ của các công thức luân canh cây trồng (Trang 79)
Bảng 18 : Đặc điểm sinh tr−ởng, năng suất và giá bán một số loại cây - Luận văn nghiên cứu hệ thống trồng trọt và khả năng chuyển đổi cơ cấu cây trồng theo hướng cải thiện hiệu quả sử dụng đất ở huyện tân yên tỉnh bắc giang
Bảng 18 Đặc điểm sinh tr−ởng, năng suất và giá bán một số loại cây (Trang 80)
Bảng 20:  Hiệu quả kinh tế các công thức luân canh hiện có trên đất - Luận văn nghiên cứu hệ thống trồng trọt và khả năng chuyển đổi cơ cấu cây trồng theo hướng cải thiện hiệu quả sử dụng đất ở huyện tân yên tỉnh bắc giang
Bảng 20 Hiệu quả kinh tế các công thức luân canh hiện có trên đất (Trang 83)
Bảng 23: So sánh hiệu quả kinh tế của các công thức luân canh cũ - Luận văn nghiên cứu hệ thống trồng trọt và khả năng chuyển đổi cơ cấu cây trồng theo hướng cải thiện hiệu quả sử dụng đất ở huyện tân yên tỉnh bắc giang
Bảng 23 So sánh hiệu quả kinh tế của các công thức luân canh cũ (Trang 88)
Bảng phụ lục 1:  Giá một số vật t−, phân bón phục vụ sản xuất - Luận văn nghiên cứu hệ thống trồng trọt và khả năng chuyển đổi cơ cấu cây trồng theo hướng cải thiện hiệu quả sử dụng đất ở huyện tân yên tỉnh bắc giang
Bảng ph ụ lục 1: Giá một số vật t−, phân bón phục vụ sản xuất (Trang 106)
Bảng phụ lục 5:   Hiệu quả kinh tế của một số loại cây trồng - Luận văn nghiên cứu hệ thống trồng trọt và khả năng chuyển đổi cơ cấu cây trồng theo hướng cải thiện hiệu quả sử dụng đất ở huyện tân yên tỉnh bắc giang
Bảng ph ụ lục 5: Hiệu quả kinh tế của một số loại cây trồng (Trang 110)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm