1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn nghiên cứu mức protein và lyzin trong khẩu phần thức ăn nuôi gà lai m13 thái hoà x (thái hoà x ai cập) thương phẩm

108 515 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu mức protein và lyzin trong khẩu phần thức ăn nuôi gà lai M13 Thái Hoà x (Thái Hoà x Ai Cập) thương phẩm
Tác giả Dương Thị Oanh
Người hướng dẫn TS. Phùng Đức Tiến
Trường học Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội
Chuyên ngành Nông nghiệp
Thể loại Luận văn thạc sĩ nông nghiệp
Năm xuất bản 2010
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 6,32 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

luận văn

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI

-

DƯƠNG THỊ OANH

NGHIÊN CỨU MỨC PROTEIN VÀ LYZIN

TRONG KHẨU PHẦN THỨC ĂN NUÔI GÀ LAI M13 THÁI HOÀ × × (THÁI HOÀ × × AI CẬP) THƯƠNG PHẨM

LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP

Chuyên ngành: CHĂN NUÔI

Mã số : 60.62.40 Người hướng dẫn khoa học: TS PHÙNG ðỨC TIẾN

HÀ NỘI - 2010

Trang 2

Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi với sự giúp

đỡ của các tập thể trong và ngoài cơ quan

Các kết quả nêu trong luận văn là trung thực và tôi xin chịu trách nhiệm về những số liệu trong bản luận văn này

Học viên

Dương Thị Oanh

Trang 3

Lời cảm ơn

Để hoàn thành luận văn này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn và kính trọng tới Ban Giám đốc, Ban Đào tạo sau đại học – trường đại học Nông nghiệp Hà Nội đB tạo mọi điều kiện thuận lợi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn các Thầy, Cô giáo đB tận tình truyền đạt những kiến thức chuyên môn hết sức quý báu trong quá trình học tập

Nhân dịp này tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới Giám

đốc Trung tâm nghiên cứu gia cầm Thụy Phương, thầy hướng dẫn khoa học - Tiến sỹ Phùng Đức Tiến đB đầu tư nhiều công sức và thời gian chỉ bảo tận tình giúp tôi thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc, Bộ môn Nghiên cứu gia cầm, Phòng Thú y, Nhóm thực hiện đề tài gà đặc sản và cán bộ công nhân viên Trung tâm Nghiên cứu gia cầm Thuỵ Phương đB giúp đỡ cơ sở vật chất, công sức trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn này

Tôi xin được bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới Phòng Phân tích thức ăn và Sản phẩm chăn nuôi - Viện Chăn nuôi đB giúp đỡ trong quá trình thực hiện đề tài

Tôi xin cảm ơn sâu sắc tới những người thân trong gia đình, cùng bạn bè

đB động viên khích lệ và tạo mọi điều kiện, giúp đỡ tôi học tập và hoàn thành luận văn này

Hà Nội, tháng 10 năm 2010

Dương Thị Oanh

Trang 4

MỤC LỤC

Lời cam đoan……… ………… i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục bảng iv

Danh mục hình……… v

Danh mục các chữ viết tắt……… vii

1 Mở đầu i

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu của đề tài 2

1.3 ý nghĩa khoa học và thực tiễn 2

2 tổng quan tài liệu 3

2.1 Cơ sở khoa học về khả năng sinh trưởng 3

2.2.2 Chức năng sinh học của protein 8

2.2.3 Phân loại protein 9

2.2.4 Tiêu hoá và hấp thu protein trong gia cầm 10

2.2.5 Một số chỉ tiêu đánh giá chất lượng protein 11

2.2.6 Nhu cầu protein cho gia cầm 12

2.3 Axít amin trong dinh dưỡng gia cầm 17

2.3.1 Khái niệm về axít amin 17

2.3.2 Phân loại axít amin 17

2.3.3 Nhu cầu về axít amin của gia cầm 18

2.3.5 axít amin tổng hợp trong chăn nuôi gia cầm 26

2.4 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 28

2.4.1 Các kết quả nghiên cứu trên gà broiler 28

2.4.2 Các kết quả nghiên cứu trên gà xương đen, thịt đen 31

3 Nội dung và phương pháp nghiên cứu 38

3.1 Đối tượng, Vật liệu nghiên cứu 38

Trang 5

3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 38

3.3 Nội dung nghiên cứu 38

3.4 phương pháp nghiên cứu 38

3.4.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm 38

3.4.2 Phương pháp phân tích thành phần hoá học của thức ăn thí nghiệm .40

3.4.3 Kết quả phân tích thành phần hoá học của thức ăn thí nghiệm 41

3.4.4 Phương pháp xác định các chỉ tiêu 43

3.5 Phương pháp xử lý số liệu 46

4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 47

4.1 Tỷ lệ nuôi sống 47

4.2 Khối lượng cơ thể của gà M13 49

4.3 Sinh trưởng tuyệt đối của gà M13 56

4.4 Sinh trưởng tương đối của gà M13 60

4.5 Lượng thức ăn thu nhận của gà M13 62

4.6 Hiệu quả sử dụng thức ăn của gà M13 64

4.7 Hiệu quả sử dụng protein của gà M13 69

4.8 Hiệu quả sử dụng lyzin của gà M13 72

4.9 Tiêu tốn năng lượng cho một kg tăng khối lượng cơ thể 75

4.10 Chi phớ thức ăn/kg tăng khối lượng cơ thể của gà M13………… …77

4.11 Hiệu quả sử dụng các mức protein, lyzin trong khẩu phần nuôi gà M13 thương phẩm 79

4.12 Kết quả phân tích thịt gà M13 thí nghiệm ở 5 tuần tuổi 81

4.13 Kết quả ỏp dụng khẩu phần nghiờn cứu vào sản xuất 84

5 Kết luận và đề nghị 85

5.1 Kết luận……….84

5.2 Đề nghị 86

Trang 6

Danh môc bờng

Bờng 3.1 Sể ệă bè trÝ thÝ nghiỷm 39

Bờng 3.2 Kạt quờ phẹn tÝch thộnh phẵn hoị hảc cựa nguyến liỷu thục ẽn thÝ nghiỷmẦẦẦ.41

Bờng 3.3 Thộnh phẵn vộ giị trỡ dinh d−ìng cựa khÈu phẵn thÝ nghiỷm cho gộ M13 nuềi thỡt tõ 0 ệạn 3 tuẵn tuữi 42

Bờng 3.4 Thộnh phẵn vộ giị trỡ dinh d−ìng cựa khÈu phẵn thÝ nghiỷm cho gộ M13 nuềi thỡt tõ 4 ệạn 5 tuẵn tuữi 43

Bờng 4.1 Tũ lỷ nuềi sèng cựa gộ M13 (%) 48

Bờng 4.2 Khèi l−ĩng cể thÓ cựa gộ M13 (g/con) 50

Bờng 4.3 Tèc ệé sinh tr−ẻng tuyỷt ệèi cựa gộ M13(g/con/ngộy) 57

Bờng 4.4 ậé sinh tr−ẻng t−ểng ệèi cựa gộ M13 (%) 60

Bờng 4.5 L−ĩng thục ẽn thu nhẺn cựa gộ M13 (g/con/ngộy) 63

Bờng 4.6 Tiếu tèn thục ẽn cho mét kg tẽng khèi l−ĩngcể thÓ cựa gộ M13(kg)ẦẦ66

Bờng 4.7 Tiếu tèn protein cho mét kg tẽng khèi l−ĩng cể thÓ cựa gộ M13(g)ẦẦ 70

Bờng 4.8 Tiếu tèn lyzin cho mét kg tẽng khèi l−ĩng cể thÓ cựa gộ M13(g)ẦẦẦ.73

Bờng 4.9 Tiếu tèn nẽng l−ĩng cho mét kg tẽng khèi l−ĩng cể thÓ cựa gộ M13(kcal ME) 76

Bờng 4.10 Chi phÝ thục cho mét kg tẽng khèi l−ĩng cể thÓ cựa gộ M13(1000ệ)Ầ 78

Bờng 4.11 Hiỷu quờ sỏ dông cịc mục protein, lyzin trong khÈu phẵn nuềi gộ M13 th−ểng phÈm 80

Bờng 4.12 Kạt quờ phẹn tÝch thỡt gộ M13 ẻ 5 tuẵn tuữi 83

Bảng 4.13 Kết quả nuềi gà M13 ựến 5 tuần tuổi tại đềng Anh - Hà Nội 84

Trang 7

DANH MôC HừNH

ậă thỡ 4.1 Khèi l−ĩng cể thÓ gộ M13 thÝ nghiỷm 0-5 tuẵn tuữi 53

ậă thỡ 4.2 Tèc ệé sinh tr−ẻng tuyỷt ệèi cựa gộ M13 qua cịc tuẵn tuữi 56

ậă thỡ 4.3 Sinh tr−ẻng t−ểng ệèi cựa gộ M13 qua cịc tuẵn tuữi 61

BiÓu ệă 4.1 L−ĩng thục ẽn thu nhẺn cựa gộ M13 lóc 5 tuẵn tuữiẦẦẦ62

BiÓu ệă 4.2 Tiếu tèn thục ẽn/kg tẽng khèi l−ĩng cể thÓ cựa gộ M13 ẻ 3 tuẵn tuữi 65

BiÓu ệă 4.3 Tiếu tèn thục ẽn/kg tẽng khèi l−ĩng cể thÓ cựa gộ M13 ẻ 5 tuẵn tuữi 65

BiÓu ệă 4.4 Tiếu tèn protein/kg tẽng khèi l−ĩng cể thÓ cựa gộ M13 ẻ 3 tuẵn tuữi 69

BiÓu ệă 4.5 Tiếu tèn protein/kg tẽng khèi l−ĩng cể thÓ cựa gộ M13 ẻ 5 tuẵn tuữi 71

BiÓu ệă 4.6 Tiếu tèn lyzin/kg tẽng khèi l−ĩng cể thÓ cựa gộ M13 ẻ 3 tuẵn tuữi 74

BiÓu ệă 4.7 Tiếu tèn lyzin/kg tẽng khèi l−ĩng cể thÓ cựa gộ M13 ẻ 5 tuẵn tuữi 74

Bảng 4.13 Kết quả nuôi gà thịt ựến 5 tuần tuổi tại đông Anh - Hà Nội 84

ờnh 1 Sể ệă tỰo gộ M13ẦẦẦ Ầ 34

ờnh 2 Gộ M13 thÝ nghiỷm lóc 3 tuẵn tuữi vộ 5 tuẵn tuữiẦẦẦ.55

ờnh Gộ M13 thỡt ẻ lóc 5 tuẵn tuữiẦẦẦ82

Trang 8

Danh môc c¸c ch÷ viÕt t¾t

Trang 9

1 mở đầu

1.1 Đặt vấn đề

ĐB từ lâu gà năm ngón, xương đen, thịt đen được người tiêu dùng quan tâm đến như một nguồn thực phẩm bổ dưỡng, nâng cao sức khoẻ, đặc biệt cho người già, trẻ em, phụ nữ mang thai,

Gà M13 (3/4Thái Hoà, 1/4Ai Cập) được tạo ra từ gà Ai Cập và gà Thái Hoà - một giống gà quý (xương đen, thịt đen, chân năm ngón) có nguồn gốc thuộc huyện Thái Hoà, tỉnh Giang Tây – Trung Quốc, nhập về Trung tâm Nghiên cứu gia cầm Thuỵ Phương năm 1999

Theo kết quả nghiên cứu của Phùng Đức Tiến, Nguyễn Thị Mười và cs, 2007[40] con lai M13 da, thịt, xương đen, mang đặc điểm gà ác Thái Hoà Các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật vượt trội so với gà Thái Hoà, nuôi thịt đến 5 tuần tuổi, tỷ lệ nuôi sống 97,75%, khối lượng đạt 272,3g/con Hiện nay gà M13

đang được phát triển trong sản xuất và được Hội đồng khoa học Viện Chăn nuôi đề nghị cho phép triển khai dự án sản xuất thử nghiệm

Thời gian qua, mới chỉ chỳ ý cụng tỏc giống, về thức ăn dinh dưỡng chưa ủược quan tõm Vì vậy nghiờn cứu dinh dưỡng cho gà này là rất cần thiết Dinh dưỡng phù hợp sẽ giúp cho gia cầm khoẻ mạnh, sinh trưởng tốt, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm Trong dinh dưỡng thỡ hàm lượng protein và cân bằng axớt amin khẩu phần đóng vai trò quan trọng Bởi vì protein không chỉ là thành phần chính của các mô cơ mà nó còn là các chất quan trọng trong cơ thể sống như là men sinh học, hóc môn, kháng thể, Mặt khác cơ thể con vật chỉ có thể tổng hợp nên các loại protein của nó theo một

”mẫu” cân đối do mB di truyền quy định Các axớt amin nằm ngoài mẫu cân

đối sẽ bị oxy hoá cho năng lượng dẫn đến con vật giảm ăn, hiệu quả sử dụng protein khẩu phần thấp, vật nuôi chậm lớn Do vậy khẩu phần ăn chăn nuôi cần có tỷ lệ protein cũng như tỷ lệ các axớt amin không thay thế phù hợp với

Trang 10

nhu cầu của mỗi giống, mỗi giai đoạn để hiệu quả sử dụng protein khẩu phần tối đa, vật nuôi đạt sinh trưởng tối ưu

Trong chăn nuôi gia cầm, thức ăn chiếm khoảng 70% giá thành sản phẩm Nó được phối hợp từ 2 loại nguyên liệu chính đó là các chất giàu năng lượng và giàu protein Giá tiền của thức ăn giàu protein đắt hơn nhiều so với các loại giàu năng lượng Do đó việc xác định thức ăn cho mỗi giống, mỗi giai

đoạn, mỗi hướng sản xuất có dinh dưỡng thích hợp để nâng cao năng suất, hạ giá thành sản phẩm, tăng hiệu quả kinh tế được các nhà chăn nuôi đặc biệt quan tâm

Xuất phát từ những nhu cầu trên, chúng tôi tiến hành đề tài: “ Nghiên cứu mức protein và lyzin trong khẩu phần thức ăn nuôi gà lai M13 Thái Hoà x (Thái Hoà x Ai Cập) thương phẩm"

1.2 Mục tiêu của đề tài

Xác định mức protein, mức lyzin thích hợp trong khẩu phần nuôi gà lai M13 thương phẩm ở giai đoạn 0–3tuần tuổi và 4–5 tuần tuổi

1.3 ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Kết quả thí nghiệm đB đưa ra được hàm lượng protein và lyzin thích hợp trong khẩu phần thức ăn nuôi gà M13 thương phẩm giai đoạn 0-3 tuần tuổi tương ứng là 21% và 1,10%, giai đoạn 4-5 tuần tuổi là 20% và 1,0%

Từ đó làm cơ sở khoa học cho việc xây dựng khẩu phần cho gà M13 thương phẩm nuôi lấy thịt trong điều kiện thức ăn và môi trường khí hậu của miền Bắc Việt Nam

Trang 11

2 tổng quan tài liệu

2.1 Cơ sở khoa học về khả năng sinh trưởng

Sinh trưởng là quá trình tổng hợp, tích luỹ các chất hữu cơ của cơ thể Đó

là sự tăng lên về chiều dài, chiều cao và bề ngang cũng như khối lượng của các bộ phận và toàn bộ cơ thể con vật Sự tích luỹ dần các chất hữu cơ đó chủ yếu là tích luỹ protein

Theo Trần Đình Miên, Vũ Kính Trực, 1977(Dẫn theo Phùng Đức Tiến, 1996)[41] “Sinh trưởng là một quá tình tích luỹ các chất hữu cơ do đồng hoá

và dị hoá, là sự tăng chiều cao, chiều dài, bề ngang, thể tích, khối lượng các

bộ phận và toàn bộ cơ thể con vật trên cơ sở tính chất di truyền từ đời trước” Mozan, 1977(dẫn theo Chambers J.R, 1990)[61] định nghĩa sinh trưởng là tổng sự tăng trưởng của các bộ phận như: thịt, xương, da Về mặt sinh học, sinh trưởng được xem như quá trình tổng hợp protein nên người ta thường lấy việc tăng khối lượng làm chỉ tiêu đánh giá quá trình sinh trưởng Sự sinh trưởng của các mô và cơ được diễn ra theo trình tự sau: hệ thống tiêu hoá, nội tiết, hệ thống xương, hệ thống cơ bắp, mỡ

Sinh trưởng là một quá trình động, gắn liền với quá trình phát dục, tuân theo các quy luật nhất định, đó là quy luật sinh trưởng phát dục theo giai đoạn, quy luật sinh trưởng phát dục không đồng đều và quy luật theo chu kỳ

Tốc độ sinh trưởng của vật nuôi được biểu thị trên đường cong sinh trưởng Đường cong sinh trưởng của gia cầm gồm có pha sinh trưởng có tốc

độ nhanh diễn ra từ khi nở đến khi con vật đạt tốc độ sinh trưởng cao nhất và pha sinh trưởng có tốc độ chậm kéo dài từ giai đoạn kế tiếp đến khi con vật tiếp cận với giá trị trưởng thành (Chambers J.R, 1990)[61] Phùng Đức Tiến, 1996[41]; Trần Long, 1994[11] khi nghiên cứu đường cong sinh trưởng của gà thịt Hybro HV85 và các tổ hợp lai gà broiler hướng thịt Ros-208 và HV85 cũng thu được kết quả tương tự

Sinh trưởng của gia cầm chịu ảnh hưởng của rất nhiều các yếu tố khác

Trang 12

nhau như dòng, giống, giới tính, lứa tuổi, tốc độ mọc lông, chế độ dinh dưỡng

- ảnh hưởng của dòng giống

Tốc độ sinh trưởng của gia cầm phụ thuộc vào giống, dòng và bản thân cá thể Theo Chanetzler, 1936[62]; Jaap và Morris, 1937[75], Lerner và cs, 1938[77] ở các giống gia cầm khác nhau có khả năng sinh trưởng khác nhau, giống gà thịt có tốc độ sinh trưởng cao hơn giống gà kiêm dụng thịt-trứng và giống gà chuyên trứng

Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Huy Đạt và cs, 1996[2]; Nguyễn Mạnh Hùng, 1994[6], Nguyễn Đức Hưng và cs, 1999[5]; Phùng Đức Tiến, 1996[41] cũng đB khẳng định các giống gia cầm khác nhau có khả năng sinh trưởng khác nhau ở 42 ngày tuổi 3 dòng thuần (V1, V3, V5) của giống gà Hybro HV85 cho tốc độ sinh trưởng hoàn toàn khác nhau (Trần Long, 1994)[11] Nguyễn Thanh Sơn và cs, 2001[25] nghiên cứu nuôi thịt gà trống Kabir ì mái

Ri đến 12 tuần tuổi khối lượng cơ thể đạt 1,683 kg, cao hơn so với khối lượng cơ thể gà Ri 60-70%

Nguyên nhân cơ bản dẫn tới sự sai khác nhau về khối lượng cơ thể và tốc

độ sinh trưởng của các dòng, giống gia cầm là do yếu tố di truyền Man, 1935; Golothey, 1953 (dẫn theo Nguyễn Huy Đạt, 1991)[1] cho rằng có nhiều đôi gen khác nhau cùng ảnh hưởng tới sinh trưởng và cho rằng có nhiều nhiễm sắc thể thường mang những đôi gen này Những nghiên cứu sau này cho rằng có thể có nhiều hơn 15 đôi gen, quy định tốc độ tăng trưởng Mặc dù chưa thật chính xác nhưng các nghiên cứu cũng cho thấy rõ sự khác nhau về sinh trưởng

là do di truyền và cơ sở là sự di truyền đa gen; trong đó có ít nhất 1 đôi gen về sinh trưởng liên kết với giới tính Ưu thế lai có thể có sự đặc biệt đối với tính trạng khối lượng cơ thể ở giai đoạn gia cầm non và tốc độ sinh trưởng có thể thay đổi do chọn lọc di truyền

Marco, 1982[80] cho biết hệ số di truyền của tốc độ sinh trưởng là từ 0,4

- 0,5 Theo tài liệu của Chambers J.R, 1990[61] thì Sirgel và Kiney đB tổng kết

Trang 13

một cách hoàn chỉnh hệ số di truyền về tốc độ sinh trưởng Kết quả tính toán qua phân tích phương sai dựa trên thành phần con bố từ 0,4-0,6 Theo Phùng

Đức Tiến, 1996[41] thì hệ số di truyền về tốc độ sinh trưởng của gia cầm ở giai đoạn 3 tháng tuổi là 0,26-0,5 Theo Nguyễn Huy Đạt, 1991[1] thì hệ số di truyền về khối lượng ở 6 tuần tuổi là 0,4

J.R, 1990)[61]

North, 1990 (dẫn theo Phùng Đức Tiến, 1996)[41] cho biết khối lượng gà con 1 ngày tuổi tương quan dương với khối lượng trứng giống đưa vào ấp, song không ảnh hưởng tới cường độ sinh trưởng ở 4 tuần tuổi và khối lượng gà lúc thành thục Tuổi càng tăng lên thì sự khác nhau về khối lượng cơ thể giữa con trống và con mái càng rõ rệt Khi mới nở gà trống nặng hơn gà mái 1%, 2 tuần tuổi hơn 5%, 3 tuần tuổi hơn 11%; 8 tuần tuổi hơn 27%

- ảnh hưởng của tốc độ mọc lông

Các kết quả nghiên cứu của nhiều nhà khoa học đB xác định trong cùng 1 giống, cùng tính biệt, ở gà có tốc độ mọc lông nhanh cũng có tốc độ sinh trưởng, phát triển tốt hơn

Brandsch và Biichel, 1978[50] cho biết tốc độ mọc lông cũng là 1 đặc tính di truyền Đây là tính trạng có liên quan đến đặc điểm trao đổi chất và là chỉ tiêu để đánh giá sự thành thục sinh dục Kurhner, 1974[53], cho rằng tốc

độ mọc lông có liên quan chặt chẽ tới tốc độ sinh trưởng; thường gà lớn nhanh

Trang 14

thì mọc lông nhanh và đều hơn ở gà chậm lớn Hayer và cs, 1970(Dẫn theo Phùng Đức Tiến, 1996)[41] đB xác định trong cùng một giống thì gà mái mọc lông đều hơn gà trống và tác giả cho rằng ảnh hưởng của hormon có tác dụng ngược chiều với gen liên kết với giới tính quy định tốc độ mọc lông

1995 [13] cho rằng, để phát huy hết khả năng sinh trưởng của gà thịt cần phải cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng, cân bằng giữa protein, các axit amin và năng lượng Ngoài ra trong thức ăn hỗn hợp nuôi gà còn bổ sung nhiều chế phẩm sinh học, hoá học để tăng cường sinh trưởng và chất lượng thịt Năng lượng và protein là 2 yếu tố dinh dưỡng quan trọng nhất trong khẩu phần ăn của gia cầm (Rose, 1997)[96] Ngoài ra trong dinh dưỡng gia cầm các thành phần như axít béo, khoáng, vitamin và nước cũng không thể thiếu được

Gia cầm có khả năng chuyển hoá năng lượng từ những carbon hydrate

đơn giản, một vài carbon hydrate phức tạp, nhưng những carbonhydrate quá phức tạp như cellulose thì hầu hết các loài gia cầm không thể sử dụng được Nhu cầu về năng lượng cho các mục đích thay đổi chất rất khác nhau, do vậy nếu thiếu năng lượng sẽ ảnh hưởng hầu hết đến quá trình sản xuất Theo Rose, 1997[96] nếu nồng độ năng lượng trong khẩu phần thay đổi thì gia cầm điều chỉnh sự cân bằng năng lượng bằng cách thay đổi lượng thức ăn tiêu thụ

Trong protein thức ăn chứa khoảng 22 axít amin, trong đó có một số axít amin cần thiết mà gia cầm không thể tự tổng hợp được Khẩu phần ăn của gia cầm đòi hỏi phải có sự cân bằng các axít amin cần thiết mới đáp ứng được yêu cầu dinh dưỡng Bên cạnh việc đưa ra hàm lượng protein và mức năng lượng thích hợp, người ta còn phải tính đến mối cân bằng giữa năng lượng và

Trang 15

protein, cân bằng giưa năng lượng với các axít amin và các chất dinh dưỡng khác Nếu năng lượng trong khẩu phần quá cao, gây tình trạng tích luỹ mỡ trong cơ thể, làm giảm chất lượng thịt

- ảnh hưởng của cấu trúc cơ thể

Trong chăn nuôi mỗi loại gia súc gia cầm với hưởng sản xuất khác nhau

đều có những đặc điểm về ngoại hình, thể chất khác nhau Đánh giá con vật qua ngoại hình phối hợp với kích thước các chiều đo là một nội dung quan trọng trong công tác giống

ở gia cầm kích thước và khối lượng của xương có tương quan chặt chẽ

đối với khối lượng và hình dạng cơ thể Có mối quan hệ giữa khối lượng cơ thể với độ lớn và chiều dài đùi cũng như chiều dài, chiều rộng xương ngực Nguyễn Mạnh Hùng và cs, 1994[6] cho biết kích thước các chiều đo có liên quan rõ rệt đến khối lượng cơ thể

Như vậy để gia cầm phát huy hết tiềm năng sinh trưởng của giống và đạt

được năng suất và hiệu quả chăn nuôi cao thì một trong những vấn đề căn bản

là chúng ta phải tìm ra những khẩu phần nuôi dưỡng có tỷ lệ các chất dinh dưỡng đáp ứng nhu cầu và cân đối cho từng giai đoạn tuổi Ngoài ra khả năng sinh trưởng của gia cầm còn bị ảnh hưởng rất lớn bởi các yếu tố ngoại cảnh như nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng, mật độ nuôi có ảnh hưởng đáng kể tới khả năng sinh trưởng của gia cầm Các yếu tố ngoại cảnh trên có thể ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp thông qua việc thu nhận thức ăn, tỷ lệ tiêu hoá hấp thụ các chất dinh dưỡng và bệnh tật từ đó ảnh hưởng tới khả năng sinh trưởng của gia cầm

2.2 Protein trong dinh dưỡng gia cầm

2.2.1 Khái niệm protein

Protein có nguồn gốc từ tiếng Hylạp “proteios” nghĩa là thứ nhất hay quan trọng nhất Định nghĩa protein theo cách đơn giản là một trùng hợp của các α- axit amin

Trang 16

2.2.2 Chức năng sinh học của protein

- Xúc tác: Quá trình trao đổi chất và năng lượng luôn luôn diễn ra trong cơ thể sống Các phản ứng đó chỉ được thực hiện khi có các enzyme (có bản chất là protein) xúc tác Enzyme đảm bảo cho các phản ứng hoá sinh diễn ra theo những hướng xác định, với tốc độ cao và đảm bảo mối liên hệ giữa các quá trình sinh học trong cơ thể

- Vận chuyển: Những protein đặc biệt của máu và huyết thanh gắn và vận chuyển những phân tử hoặc ion từ cơ quan này sang cơ quan khác được gọi là protein vân chuyển Hemoglobin của hồng cầu lấy ôxy từ phổi, vân chuyển tới các tổ chức và giải phóng ôxy cho các mo bào Huyết thanh chứa lipoprotein, nhờ nó mà lipid được vân chuyển từ gan tới các tổ chức Sắt được vận chuyển từ gan tới cơ quan tạo máu nhờ một loại protein gọi là transferrin Tại mặt trong và ngoài mằng tế bào có các protein gắn và vận chuyển glucose, axit amin, …

-Vai trò vận động: Sự co cơ được thực hiện bởi sự trượt lên nhau của hai loại sợi protein là actin và myosin Sự chuyển động của các nhiễm sắc thể trong quá trình phân bào cũng là nhờ các hệ thống protein co rút

-Vai trò cấu trúc: Nhiều protein có ích như là các sợi chống đỡ hay bao phủ, có tác dụng làm bền vững hoặc bảo vệ cấu trúc sinh học của tế bào Thành phần chủ yếu của gân và sụn là colagen, một loại protein dạng sợi có tính chun giBn và bền vững cao Dây chằng chứa nhiều elastin, tóc, móng và lông chứa nhiều keratin

- Vai trò dinh dưỡng và dự trữ dinh dưỡng: Nhiều protein có vai trò dinh dưỡng quan trọng đối với phôi và gia súc non như ovalbumin trong lòng trắng trứng, cáein trong sữa, .Trong cơ thể người và động vật, ferritin là protein có chứa sắt, đây là dạng dự trữ sắt của cơ thể Khi oxy hóa 1g protein hoàn toàn trong cơ thể giải phóng ra 4,1 kcal Protein có thể chuyển hóa

Trang 17

thành gluxit và lipit nhưng ngược lại gluxit và lipit không thể chuyển hóa thành protein

- Chức năng bảo vệ cơ thể: Chúng đóng vai trò quan trọng trong miễn dịch dịch thể của cơ thể Trong cơ thể có tạo ra các protein bảo vệ đặc biệt hoặc là các protein miễn dịch, ngăn ngừa tác động của các protein lạ hoặc vi sinh vật sâm nhập vào bên trong cơ thể Trong khi cơ thể có sự xuất hiện của các kháng nguyên (có thể là virut hoặc protein lạ) cơ thể bắt đầu sản xuất ra các protein bảo vệ (kháng thể) để trung hòa Người ta xác định được sự hoạt

động về mặt miễn dịch là tiểu phần γ- globulin của protein trong máu, tế bào bạch cầu limpho B, T sản xuất kháng thể tạo miễn dịch cho cơ thể Bên ngoài cơ thể, da và lông vũ được cấu tạo chủ yếu từ protein, bảo vệ cơ thể tránh sự xâm nhập về mặt cơ học của các thể lạ khác nhau, của các chất độc hại và các

vi khuẩn gây bệnh, tránh những điều kiện nhiệt độ và thời tiết không thuận lợi 2.2.3 Phân loại protein

- Dựa vào thành phần hóa học thì protein có 2 loại: protein đơn giản và protein phức tạp

- Dựa vào hình dạng, tính chất hòa tan và thành phần hóa học thì protein

được chia làm 3 nhóm chính

+ Protein hình cầu: là những protein hình tròn hay hình bầu dục, hòa tan trong nước hay dung dịch muối loBng Nhóm này bao gồm tất cả các Enzym kháng nguyên và hormon là protein

+ Protein hình sợi là những protein không hòa tan, khó tiêu hóa, bền với các enzym tiêu hóa bao gồm conlagen, elastin và kelatin

+ Protein kết hợp là loại protein khi thủy phân, ngoài các axit amin còn có các nhóm ghép như photpho protein, gluco protein, lipo protein, chromo protein, nucleo protein, …

Trang 18

2.2.4 Tiêu hoá và hấp thu protein trong gia cầm

Protein trong thức ăn được thủy phân thành các axit amin nhờ các men tiêu hóa: ở dạ dầy tuyến, nhờ men pepsin và axit clohydric HCL, protein được phân giải thành pepton và proteoses Sau đó thức ăn đi xuống dạ dầy cơ, tại

đây không có enzim nào được sản sinh và men pepsin từ dạ dầy tuyến đi xuống tiếp tục hoạt động

ở ruột non có men tripsin và chemotripsin là các men tiêu hóa của tuyến tụy, chúng tác động lên pepton, proteoses và protein trong môi trường kiềm phân giải thành các axit amin (PH = 7,8)

Các axit amin được hấp thu qua thành ruột, vào máu và theo tĩnh mạch vào gan Tại gan một phần axit amin được giữ lại và tổng hợp thành albumin, globulin và fibrinogen là những protein của huyết tương Phần lớn axit amin

được chuyển đến các mô bào để sử dụng tổng hợp nên protein của mô bào mà từng mô bào đều mang tính đặc trưng riêng của nó Đó là quá trình đồng hóa Song song với quá trình đồng hóa trong cơ thể diễn ra quá trình dị hóa Trước hết các protein ở gan phân giải thành các axit amin và sau đó protein ở các mô bào cũng được phân giải thành các axit amin, chúng được vận chuyển về gan

để cùng với những axit amin ở gan tiếp tục phân gải Bằng phản ứng khử amin oxy hóa (deamination), nhóm NH2 được tách ra để tạo NH3 rồi đi vào chu trình Ornitin để tạo thành Urê Đối với gia cầm sản phẩm cuối cùng chủ yếu là axit uric (C5H4N4O3), là một hoạt chất không hòa tan trong nước, ở trạng thái rắn được thải ra ngoài cùng với phân (Hoàng Văn Tiến và cs, 1995)[37]

Phần còn lại là axit xetonic, chất này tiếp tục biến đổi theo 3 hướng: + Biến đổi thành glucose và glycogen Có tới 58% protein được hấp thu dưới dạng axit amin có thể biến đổi thành glucose hoặc glucose và mỡ (Titus, 1970) [106]

+ Oxy hóa để giải phóng CO2, H2O và năng lượng

Trang 19

+ Kết hợp với nhóm NH2 để tạo thành axit amin mới

Khi gia cầm được ăn đủ protein, tức là cung cấp đủ các axit amin cho tế bào

Tế bào tiếp nhận axit amin được tiêu hóa từ protein thức ăn qua máu và các axit amin tự do Protein trong máu và gan được tổng hợp từ các axit amin khác với các axit amin do tế bào cơ thể tiếp nhận Mô bào cơ thể không chứa axit amin tự do mà nó được trao đổi qua sự tổng hợp theo nhu cầu cần thiết về protein Axit amin dư thừa bị oxy hóa Protein cũng được dự trữ một lượng nhỏ trong gan và cơ Chúng được gọi là “nguồn dự trữ protein không ổn

định’’ Sự dự trữ này nhằm để huy động cung cấp axit amin cho cơ thể khi nhận thức ăn nghèo protein Trái lại khi lượng protein trong thức ăn vượt quá yêu cầu của cơ thể sẽ làm tăng sự lBng phí axit amin vì axit amin dư thừa không được sử dụng cho tổng hợp protein sẽ bị phân giải, giải phóng nitơ và cacbon Nitơ sẽ được kết hợp để tạo thành axit uric, gốc các bon có thể dùng tổng hợp glucose, chuyển thành mỡ hoặc dị hóa thành CO2, nước và năng lượng Muốn tổng hợp được axit uric trong cơ thể phải sản xuất một lượng lớn enzim từ gan (enzim Xanthine - Oxydase) và cơ thể cần được bổ sung thêm Glyxine (là axit amin cần cho chu trình sản xuất axit uric) do đó nhu cầu glyxin sẽ tăng gấp bội vì cần để đảm nhiệm 2 chức năng: tổng hợp phân tử protein và tổng hợp axit uric Như vậy sẽ làm cho giá trị dinh dưỡng của protein giảm đi đáng kể Khi thức ăn chứa một lượng axit amin nào đó thấp hoặc cao hơn nhu cầu thì hoạt động của enzim cũng ở mức thấp hoặc được tăng cường tương ứng (Scott M.Letal, 1980) [101]

2.2.5 Một số chỉ tiêu đánh giá chất lượng protein

- Protein thô: Protein thô là hàm lượng protein được tính toán từ hàm lượng nitơ tổng số của thức ăn (theo phương pháp Kjeldahl), vì số lượng ni tơ trong phân tử protit chiếm 16% (hệ số k= 100: 16 = 6,25) Tuy nhiên hệ số này ở mỗi loại protit trong thức ăn có khác nhau ví dụ k của bột cá, trứng, thịt

là 6,25; của đỗ tương là 5,71; của dầu lạc là 5,46, .(dẫn theo Tôn Thất Sơn,2005)[36]

Do vậy, hàm lượng protein thô được tính theo hàm lượng N như sau: Protein thô(%) =% N ì k

Trang 20

%N: %N tổng số trong thức ăn được xác định bằng phương pháp Kjeldahl k: hệ số chuyển đổi để xác định protein thô

- Protein tiêu hoá: Lượng protein thô có trong thức ăn không được tiêu hoá và hấp thu hoàn toàn trong bộ máy tiêu hoá gia cầm mà một phần không tiêu hoá được bị thải ra ngoài cùng với phân và nước tiểu Do đó khi ta lấy lượng protein thô ăn vào trừ đi lượng protein thô thải qua phân và nước tiểu sẽ thu được lượng protein đó là protein tiêu hoá

Protein thu nhận(g)- Protein thải ra ở phân(g) = 

Tăng trọng(g)

PER

Protein thu nhận (g) 2.2.6 Nhu cầu protein cho gia cầm

2.2.6.1 Phương pháp biểu thị nhu cầu protein trong gia cầm

- nhu cầu protein cho gia cầm xác định được từ các công thức thường

được tính bằng g/con/ngày

- Trong khẩu phần ăn nó thường được biểu thị bằng tỷ lệ %

2.2.6.2 Xác định nhu cầu protein cho gia cầm

Trong khẩu phần ăn việc đáp ứng đủ nhu cầu protein và cân bằng các axit amin có một ý nghĩa rất quan trọng, việc tính toán nhu cầu protein cho gia cầm cần căn cứ vào 3 yếu tố chính: protein cần cho sự sinh trưởng, cần cho duy trì và cần cho sự phát triển của lông Sau khi tính ra tổng lượng protein cần thiết, người ta phải chia cho hệ số "hiệu quả sử dụng protein của thức ăn”

để tính được lượng protein cần cung cấp Khi xây dựng khẩu phần ăn chúng ta cần lưu ý tới nhu cầu các loại axit amin không thay thế ứng với mỗi mức

Trang 21

năng lượng cần một mức protein thích hợp trong mỗi giai đoạn tuổi khác nhau

- Nhu cầu protein cho duy trì

Protein rất cần thiết cho duy trì sự sống Trao đổi protein xảy ra ngay cả khi cơ thể động vật không nhận được protein trong thức ăn, nếu sự thiếu hụt kéo dài bắt buộc động vật sẽ phải huy động protein của cơ thể để cung cấp cho hoạt động sống Trong quá trình đồng hoá và dị hoá sản phẩm trung gian tạo ra chứa nitơ, lượng ni tơ này thải ra ngoài cùng với nước tiểu Như vậy nhu cầu protein cho duy trì sự sống được xác định từ giá trị trao đổi chất của cơ thể và mối tương quan chặt chẽ với nhu cầu năng lượng cho quá trình trao đổi cơ bản

Bùi Đức Lũng, 2001[12] cho biết, trên động vật sống cứ trung bình

1 kcal năng lượng trao đổi cơ bản tạo ra 2 mg nitơ nội sinh trong nước tiểu Còn với gà hậu bị giống Leghorn thì nhu cầu protein cho duy trì khoảng

3 g/con/ngày (Singh K.S và cs, 1988)[102]

Oluyemi J.A, 1979[86] đưa ra công thức tính nhu cầu protein cho duy trì của gia cầm như sau:

55,0

(g)KLCT0016

,0

Trong đó:

Pr.m : Protein cho duy trì (g)

0,0016 : Nhu cầu protein (g) cho duy trì 1 g KLCT

KLCT : Khối lượng cơ thể (g)

0,55 : Hiệu quả sử dụng protein thức ăn

- Nhu cầu protein cho tăng trưởng

Khả năng sinh trưởng của cơ thể gia cầm gắn liền với sự tích luỹ protein của chúng Sự tích luỹ xảy ra nhanh hơn ở giai đoạn gia cầm non, sau đó giảm theo lứa tuổi (Baker D.H, 1993)[54]

Khi tăng hàm lượng protein khẩu phần trong mỗi giới hạn của từng lứa tuổi và khối lượng cơ thể thì sẽ làm tăng tốc độ tăng trọng của gia cầm

Trang 22

Từ kết quả nghiên cứu, Harrie đB đưa ra công thức tính nhu cầu protein cho tăng trưởng đối với gà như sau (dẫn theo Bùi Đức Lũng, 2001 [12]):

18,064

,0o

Wc

Prtt : Nhu cầu protein cho tăng trưởng (g)

Wo : Khối lượng cơ thể lúc ban đầu (g)

Qua nghiên cứu, các nhà phân tích cho thấy hiệu quả sử dụng protein trong khẩu phần để tổng hợp trứng sẽ là 55%, nên nhu cầu protein để tổng hợp

được một quả trứng 52 gam là: (6,24 x 100)/55 = 11,35 gam

Để tính toán nhu cầu cho gà mái đẻ, đặc biệt là trong giai đoạn đầu (21 – 42) tuần tuổi cơ thể vẫn còn tiếp tục sinh trưởng (tăng khối lượng cơ thể), do vậy việc xây dựng khẩu phần ăn cho giai đoạn này của gà phải dựa vào sự tính toán trên nhu cầu protein cho duy trì, protein cho sinh trưởng và protein cho sản xuất trứng

Tuy nhiên, để công việc tính toán được thuận lợi hơn, Hurrite, 1971 (dẫn theo Bùi Thị Oanh, 1996)[21] đB đưa ra công thức tính nhu cầu protein tổng số cho gà mái đẻ như sau:

Pr = 1,85 W + 0,21 G + 0,22 EW + P

Trang 23

Trong đó: Pr là nhu cầu protein (g/ngày)

W là khối lượng cơ thể (kg)

G là tăng trọng (g)

EW là khối lượng trứng (g)

P là tỷ lệ đẻ (%)

-Nhu cầu protein cho gà broiler

Đối với gà broiler nhu cầu protein cần xác định bao gồm: nhu cầu cho duy trì, cho tăng trưởng và cho sự tạo lông Theo Singh K.S và cs, 1988[103]

đưa ra công thức tính nhu cầu tổng thể về protein cho gà broiler là:

64,0

82,0)(07

,0)04,0()(18,0)(0016

0,64 : Hiệu quả sử dụng protein của gà broiler

2.2.6.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến nhu cầu protein

Nhu cầu protein của gia cầm bị chi phối bởi nhiều yếu tố khác nhau, những yếu tố quan trọng nhất chính là lượng thức ăn thu nhận (Duke, 1984)[65] Vì vậy, những yếu tố ảnh hưởng đến lượng thức ăn thu nhận thì cũng ảnh hưởng đến nhu cầu protein của gia cầm Do đó lượng thức ăn thu nhận đóng vai trò quan trọng tới nhu cầu protein của gia cầm Nếu ta coi các yếu tố quy định kỹ thuật được thực hiện nghiêm ngặt thì lượng thức ăn thu nhận và nhu cầu protein phụ thuộc một số yếu tố như giống, giới tính, lứa tuổi, nhiệt độ môi trường, ảnh hưởng của các chất có hoạt tính sinh học và các

Trang 24

nguyên tố khoáng, mức năng lượng, protein, và sự cân bằng axit amin trong khẩu phần ( Scott, 1980[101]; Campell, 1983 [60]):

- Giống: Giống là một trong những nhân tố có ảnh hưởng lớn đến lượng thức ăn thu nhận của gia cầm, nhưng nếu giống có khối lượng lớn thì lượng thức ăn thu nhận lớn hơn những giống nhẹ cân do đó nhu cầu protein sẽ cao hơn, ngay trong cùng một giống, những cá thể nào có khối lượng lớn thì nhu cầu protein cũng lớn hơn như: giống hướng thịt nhu cầu protein lớn hơn giống hướng trứng là 23 – 25% protein (LB Văn Kính, 1995)[10]

Giới tính: Giới tính cũng ảnh hưởng đến nhu cầu protein của gia cầm, nhu cầu dinh dưỡng của gà mái thấp hơn gà trống (Pilgel H và Sholtsek S, 1999) [91] Sở dĩ như vậy là vì gà trống luôn có tốc độ sinh trưởng cao hơn gà mái cùng lứa tuổi nên nhu cầu về protein và axit amin ở gà trống luôn cao hơn

để đáp ứng cho quá trình tổng hợp của cơ thể

- Nhiệt độ môi trường: có ảnh hưởng lớn đến nhu cầu thu nhận, nhiệt độ môi trường càng cao thì lượng thu nhận thức ăn càng giảm và ngược lại Vì nó

ảnh hưởng trực tiếp đến nhu cầu protein

-ảnh hưởng của các chất có hoạt tính sinh học, các nguyên tố khoáng: Nhu cầu về protein của gia cầm còn bị ảnh hưởng bởi các chất có hoạt tính sinh học cao như vitamin và một số nguyên tố vi lượng Methionin là nguồn cung cấp nhóm metyl cho việc tổng hợp cholin

- ảnh hưởng của chất lượng thức ăn: Khi thu nhận thức ăn gia cầm luôn

cố gắng thu nhận thức ăn trước tiên là để đáp ứng nhu cầu về năng lượng Nên năng lượng trong khẩu phần càng tăng thì mức thu nhận thức ăn càng giảm và ngược lại Với tỷ lệ protein như nhau, khẩu phần có mức năng lượng thấp sẽ

được gia cầm ăn nhiều hơn so với khẩu phần có mức năng lượng cao Tuy vậy một mình chỉ tiêu năng lượng không thể mang lại hiệu quả sử dụng thức ăn tốt Cùng với việc tăng năng lượng trong khẩu phần cần phải tăng tương ứng hàm lượng protein và axít amin thì hiệu quả sử dụng thức ăn mới cao (FAO,

Trang 25

1976)[65] Có như vậy thì mới đáp ứng được đầy đủ nhu cầu về các chất dinh dưỡng cho vật nuôi Nếu cân bằng axít amin trong khẩu phần càng tốt thì nhu cầu protein của gia cầm càng thấp (Bornstein and Lipstein, 1975)[56]

- Sức sản xuất: Các giống gia cầm có sức sinh trưởng càng nhanh cũng như có sức sản xuất trứng càng cao thì nhu cầu protein càng nhiều Bởi vì đây

là nguyên liệu chính để tạo nên sản phẩm của gia cầm là thịt và trứng

2.3 Axít amin trong dinh dưỡng gia cầm

2.3.1 Khái niệm về axít amin

axít amin là đơn vị cơ bản cấu tạo nên phân tử protein Đó là dẫn xuất của axít hữu cơ chứa 2 nhóm chức năng là cacboxyl -COOH và amin-NH2, nhóm

(-NH2) thay thế nguyên tử hydrogen ở Cα , nên gọi là α- axít amin

R- CαH-COOH

NH2

Công thức tổng quát α- axít amin

Các axit amin khác nhau ở gốc R R là gốc hoá học có thể có tính axít bazơ hay trung tính

Trừ glycine, các axít amin đều có carbon bất đối nên đều có tính quang hoạt và có khả năng làm quay mặt phẳng phân cực của ánh sáng Tuỳ theo vị trí nhóm NH2 được gắn bên phải hay bên trái Cα mà có các axít amin hàng D hay hàng L Các D- axít amin chỉ tìm thấy ở vi khuẩn và một số peptide kháng sinh Protein động vật và thực vật có các L- axít amin

2.3.2 Phân loại axít amin

Các axít amin có thể được phân loại theo quan điểm hoá học và sinh lý học

- Phân loại theo quan điểm hoá học:

Dựa vào cấu tạo và tính chất lý, hoá học mà người ta chia axít amin thành các loại axít amin mạch thẳng và axít amin mạch vòng

Trang 26

+ Axít amin mạch thẳng gồm các axít amin mạch thẳng trung tính (glyxerine, alanine, serine, cysteine, threonine, methionine, asparagine ) mạch thẳng tính axít (Axít glutamic, axít aspartic), mạch thẳng tính kiềm (lysine, arginine)

+ Axít amin mạch vòng gồm vòng đồng nhất như phenylalanine, tyroxine và dị vòng như hystidine, tryptophane, proline

- Phân loại theo quan điểm sinh lý học:

Dựa vào nhu cầu dinh dưỡng của động vật, người ta chia axít amin thành các loại axít amin thay thế được và axít amin không thay thế được

+ Axít amin thay thế được là các axít amin mà cơ thể tự tổng hợp được

từ các sản phẩm chuyển hoá trung gian khác

+ Axít amin không thay thế là những axít amin rất cần cho sự phát triển bình thường của cơ thể động vật nhưng cơ thể động vật không tự tổng hợp

được mà phải thường xuyên cung cấp từ thức ăn ở gia cầm có 10 axít amin không thay thế được là valine, leucine, Izoleucine, lysine, histidine, threonine, methionine, phenylalanine, tryptophane, arginine Ngoài ra với gia cầm non còn cần cả glycine và proline, gia cầm sinh sản cần glutamic

2.3.3 Nhu cầu về axít amin của gia cầm

2.3.3.1 Phương pháp biểu thị nhu cầu axít amin trong khẩu phần

Trong dinh dưỡng gia cầm, nhu cầu về axít amin chủ yếu là nhu cầu về các axít amin không thay thế Khi thiếu bất kỳ một axít amin không thay thế nào trong thức ăn thì quá trình tổng hợp protein bị rối loạn, thậm chí còn làm phá huỷ trao đổi chất của cơ thể Điều đó làm giảm khả năng sinh trưởng cũng như sức sản xuất của gia cầm Vì vậy, cần cung cấp đầy đủ các axít amin không thay thế theo đúng nhu cầu của mỗi loại gia cầm Theo Scott và cs, 1982[101] có 4 cách thông thường biểu thị nhu cầu axít amin của gia cầm:

- Số gam axít amin cho một gà một ngày

- Số gam axít amin cho 1000 Kcal ME của khẩu phần

Trang 27

- Tỷ lệ phần trăm axít amin tính theo khẩu phần

- Tỷ lệ phần trăm axít amin tính theo protein

Cách tính thứ nhất là cách chính xác nhất để thể hiện nhu cầu về axít amin nhưng rất khó áp dụng trong sản xuất

Cách thứ hai rất có ưu thế vì nó gắn nhu cầu axít amin với nồng độ năng lượng trong khẩu phần Phương pháp này rất tiện lợi trong thực tế lập khẩu phần ăn cho gà

Hiện nay, cách thứ ba và cách thứ tư vẫn đang được sử dụng nhiều hơn Tuy nhiên phương pháp này có nhược điểm là lượng thức ăn thu nhận của gia cầm phụ thuộc rất lớn vào nồng độ năng lượng của khẩu phần Vì vậy không chú ý đến yếu tố này thì không thể đảm bảo cung cấp đủ axít amin cho gia cầm Ngay cả nhu cầu protein, nguồn cung cấp chính axít amin cho gia cầm cũng phải được xác định trong mối tương quan hợp lý với nồng độ năng lượng của khẩu phần Để có những khẩu phần tối ưu cho mỗi loại gia cầm, cần phải nghiên cứu được những tỷ lệ thích hợp giữa nồng độ năng lượng của khẩu phần với hàm lượng protein thô và các axít amin Đặc biệt cần phải xác định

được tỷ lệ năng lượng trao đổi và các axít amin quan trọng nhất (Grigorev, 1981)(dẫn theo Nguyễn Thị Mai, 2007)[17]

2.3.3.2 Xác định nhu cầu axít amin cho gia cầm

Có nhiều phương pháp để xác định nhu cầu axít amin cho gia cầm như: Xác định nhu cầu axít amin theo tốc độ sinh trưởng, theo cân bằng nitơ, ngoài

ra còn xác định nhu cầu axít amin dựa theo sự phân tích thành phần protein của cơ thể Khi xác định nhu cầu axít amin cho gia cầm cần chú ý đến các nhu cầu sau:

- Nhu cầu cho tăng trọng tối đa

- Nhu cầu cho hiệu quả chuyển hoá thức ăn tối ưu

- Nhu cầu cho tỷ lệ thịt xẻ tối đa

- Nhu cầu cho thành phần hoá học thịt thân tối ưu

- Nhu cầu cho tỷ lệ thịt lườn (cơ ngực) cao nhất

Trang 28

Thí nghiệm của Moral và Bilgili, 1990[82] cho biết: Khi bổ sung L.lyzin vào khẩu phần cho gà broiler 4-6 tuần tuổi ở 2 mức 0,95 và 1,05% đB không ảnh hưởng đến tốc độ tăng trọng, nhưng hiệu quả sử dụng thức ăn tốt hơn khi tăng hàm lượng lyzin trong khẩu phần

Sibald và Wolynetz, 1986[98] cho biết nhu cầu axít amin không thay thế cho năng suất thịt ngực cao nhất thường lớn hơn nhu cầu cho sinh trưởng tối đa

Richard và cs, 1998[93] đB đưa ra tỷ lệ lý tưởng axít amin và nhu cầu axít amin tiêu hoá cho gà trống và gà mái broiler từ 0-42 ngày tuổi Baker, 1993[54] và NRC, 1994[84] cũng đề xuất tỷ lệ các loại axít amin với lyzin trong khẩu phần của gà broiler Theo các tác giả, nếu lấy lyzin là 100% thì arginine từ 105–110%; Iso leusine từ 72–78%; leusine từ 114–125%; methionine + cysteine là 75–86%; threonine từ 63–69% và tryptophane từ 18–24% Rose (1997)[96] đB đưa ra cân bằng lý tưởng axít amin cho gà theo lyzin như sau:

Cân bằng lý tưởng axít amin cho gà theo lyzin (Rose, 1997)

Trang 29

tăng khối lượng cơ thể, tăng hiệu quả sử dụng thức ăn, tăng tỷ lệ thịt nạc và giảm tỷ lệ mỡ nội tạng

Theo tiêu chuẩn Việt Nam[46], lyzin trong khẩu phần đối với gà thịt

0-7 tuần tuổi là 0,9-1%, methionin là 0,6%

2.3.3.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu axít amin của gia cầm

- Giống: Mỗi giống gia cầm có một kiểu di truyền riêng, quyết định tầm vóc cơ thể, tốc độ sinh trưởng và sức sản xuất khác nhau Vì vậy nhu cầu axít amin cũng khác nhau giữa các dòng, giống, thậm chí đến cá thể Những giống

có khối lượng lớn thì nhu cầu axít amin sẽ cao hơn những giống có khối lượng nhỏ, trong cùng một giống, những cá thể nào có khối lượng lớn thì nhu cầu axít amin cũng lớn hơn

- Giới tính: Giới tính cũng ảnh hưởng đến nhu cầu axít amin của gia cầm, nhu cầu dinh dưỡng của gà mái thấp hơn gà trống Sở dĩ như vậy là vì gà trống luôn có tốc độ sinh trưởng cao hơn gà mái cùng lứa tuổi nên nhu cầu về protein và axít amin ở gà trống luôn cao hơn để đáp ứng cho quá trình tổng hợp của cơ thể

- Lứa tuổi: Tuổi khác nhau thì nhu cầu axít amin cũng khác nhau Tuổi càng tăng lên thì nhu cầu lyzine tính theo phần trăm trong khẩu phần càng giảm thấp

- Mức năng lượng trong khẩu phần: Nếu hàm lượng axít amin trong khẩu phần là như nhau thì khẩu phần có mức năng lượng thấp gia cầm sẽ thu nhận được nhiều axít amin hơn Khi mức năng lượng trong khẩu phần tăng lên thì nhu cầu về axít amin tính theo phần trăm trong khẩu phần cũng tăng lên (Nguyễn Thị Mai, 2007)[17]

- Hàm lượng protein thô trong khẩu phần: Nhu cầu về axít amin tính theo phần trăm protein thô của khẩu phần sẽ giảm khi hàm lượng protein trong khẩu phần tăng lên Mối tương quan, này rất chặt chẽ với lyzin và các axít amin chứa lưu huỳnh Sự tương quan này có thể áp dụng cho các axít amin không thay thế khác Mối quan hệ này được biểu diễn bằng phương trình

Trang 30

Y = 7,23 - 0,131X

Trong đó:

Y: % Lyzin trong khẩu phần

X : % protein thô trong khẩu phần

- Nhiệt độ môi trường: Đối với gà 7 tuần tuổi, nếu ở 21°C lượng nước tiêu thụ là 0,212 lít thì ở 27°C, 32°C và 38°C lượng nước tiêu thụ tương ứng sẽ là: 0,295; 0,382 và 0,446 lít nước/con/ngày (Robert và cs, 1994)[94]

Stress nhiệt đB làm thay đổi cả sức chứa lẫn khả năng tiêu hoá các chất dinh dưỡng của gia cầm

Robert và cs, 1994[94] cũng cho biết tỷ lệ tiêu hoá các axít amin trong

điều kiện nhiệt độ cao (32°C) thấp hơn ở nhiệt độ bình thường (21°C) Mức độ giảm tỷ lệ tiêu hoá của các axít amin khác nhau cũng khác nhau

Tỷ lệ tiêu hoá của lyzin ở nhiệt độ 21°C là 83% thì ở 31°C là 80%

Tỷ lệ tiêu hoá của methionine ở 21°C là 92% còn ở 31°C là 87%

Tỷ lệ tiêu hoá của Izoleucine tương ứng là 87 và 80%

- ảnh hưởng của Vitamin: Nhu cầu axít amin của gia cầm còn chịu ảnh hưởng bởi thành phần các chất dinh dưỡng có trong khẩu phần, nhất là các chất có đặc tính sinh học cao như vitamin

+ Vitamin B12 có quan hệ với methionine Vitamin B12 có trong thành phần coenzim của enzim methiltransferaza Enzym này chuyển homocysteine thành methionine (Shimada,1984)[99]

+ Mối quan hệ giữa tryptophane và axít nicotinic

Nếu trong khẩu phần thiếu axít nicotinic sẽ làm tăng nhu cầu về tryptophane Sở dĩ như vậy là cơ thể gia cầm có thể tổng hợp axít nicotinic từ tryptophane Để tổng hợp được axít nicotinic phải cần có nhiều tryptophane bởi vì cứ 50-60 phân tử tryptophane mới tổng hợp được một phân tử axít nicotinic

+ Mối quan hệ giữa methionine và choline

methionine là nguồn cung cấp nhóm methyl cho việc tổng hợp choline

Trang 31

2.3.4 Vấn đề cân bằng Axít amin trong khẩu phần ăn cho gia cầm

2.3.4.1 ý nghĩa của việc cân bằng axít amin trong khẩu phần

Cơ thể con vật chỉ có thể tổng hợp nên protein của nó theo một “mẫu” cân đối về axít amin, những axít amin nằm ngoài “mẫu” cân đối sẽ bị ôxy hoá cho năng lượng Do vậy, khi sử dụng các khẩu phần được cân đối phù hợp với nhu cầu axít amin của gia cầm thì sự sinh trưởng và sức sản xuất cao hơn, hiệu quả lợi dụng protein tốt, do đó tiết kiệm được protein thức ăn Hơn nữa trạng thaí sinh lý của gia cầm cũng tốt hơn, các quá trình đồng hoá và dị hoá trong cơ thể diễn ra tích cực hơn Nhiều kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra rằng hiệu quả sử dụng protein sẽ đạt mức tối đa nếu tỷ lệ các axít amin của các protein

đó gần với tỷ lệ giữa các axít amin mà nhu cầu của con vật đòi hỏi Hiệu quả này còn phụ thuộc vào các axít amin thay thế và không thay thế của protein (Harper, 1964)[68] Khái niệm cân bằng axít amin có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong cân bằng các chất dinh dưỡng bởi vì:

- Tất cả các axít amin cần thiết cho gia cầm đều được lấy từ thức ăn

- Ngoại trừ một lượng nhỏ axít amin dùng cho mục đích đặc biệt, còn lại tất cả các axít amin được dùng chủ yếu để tổng hợp protein của cơ thể

- Điều quan trọng nhất là không có sự dự trữ các axít amin trong cơ thể Sự vắng mặt của một axít amin không thay thế trong khẩu phần sẽ ngăn cản việc

sử dụng các axít amin khác để tổng hợp protein Khi đó, các axít amin được sử dụng như một nguồn cung cấp năng lượng Điều đó làm giảm tính ngon miệng, giảm sinh trưởng, cân bằng nitơ âm nghiêm trọng tức là mất protein cơ thể (Rose, 1997)[96] Cân bằng axít amin bị phá vỡ sẽ làm giảm lượng thức ăn thu nhận và khả năng tăng trọng (Herper,1964)[69]

Về phương diện tế bào thì tất cả các axít amin đều được coi là quan trọng, bởi vì tổng hơp protein bao gồm cả việc sử dụng các axít amin thay thế

và không thay thế khi sao chép ARN (Shimada,1984)[99] Ngay trong tế bào, cũng có sự tồn tại nồng độ tối ưu các axít amin thay thế Nếu cung cấp các axít amin thay thế với hàm lượng tối ưu trong khẩu phần ăn sẽ làm giảm sự dị

Trang 32

hoá các axít amin không thay thế cho tổng hợp các axít amin thay thế Thêm vào đó, nếu tất cả các axít amin được cung cấp với cùng tỷ lệ theo nhu cầu thì cơ hội của sự mất cân bằng axít amin sẽ được hạn chế tối đa Trong điều kiện như vậy, protein sẽ được sử dụng với hiệu quả tốt nhất Chính vì vậy, nếu cân bằng axít amin trong khẩu phần càng tốt thì nhu cầu protein của gia cầm càng thấp (Bornstein và Lipstein,1975)[56] Hàm lượng các axít amin không thay thế và sự cân đối giữa chúng còn có ảnh hưởng đến lượng thức ăn thu nhận và

do đó có ảnh hưởng đến khả năng tăng trọng và thành phần thân thịt

2.3.4.2 Axít amin giới hạn

- Khái niệm về axít amin giới hạn

Sự tổng hợp protein là quá trình “Tất cả hoặc không có gì” Nếu bất kỳ một axít amin không thay thế nào cần thiết cho sự tổng hợp protein của cơ thể

bị thiếu trong khẩu phần thì protein sẽ không được tổng hợp

Sự thiếu hụt axít amin trong thức ăn và trong khẩu phần ăn thường được phản ánh ngay ở sự sinh trưởng và sức sản xuất cũng như ở hiệu quả sử dụng thức ăn của gia cầm Khi đó thường sự suy giảm sinh trưởng và sức sản xuất tỷ

lệ với mức thiếu hụt của axít amin nào thiếu hụt nhiều nhất trong số các axít amin không thay thế của khẩu phần Người ta gọi các axít amin thiếu trong khẩu phần là axít amin giới hạn hay là yếu tố hạn chế Như vậy axít amin giới hạn là axít amin mà số lượng của nó thường thiếu so với nhu cầu, từ đó làm giảm hiệu suất sử dụng protein trong khẩu phần (Shimada, 1984)[99] Axít amin nào thiếu nhiều nhất và làm giảm hiệu suất lợi dụng protein lớn nhất thì gọi là axít amin giới hạn thứ nhất (yếu tố số 1), và theo cách lý giải như vậy những axít amin tiếp theo đó, ít thiếu hơn so với nhu cầu và với mức axít amin khác được gọi là axít amin giới hạn thứ hai

Với khẩu phần dùng đỗ tương, khô đỗ tương là nguồn protein chủ yếu thì thường axít amin giới hạn thứ nhất là methionin, với khô dầu bông thì lyzin

là axít amin giới hạn thứ nhất, bột cá thì tryptophan là axít amin giới hạn thứ nhất,

Trang 33

Để loại trừ sự thiếu hụt các axít amin trong khẩu phần, trước hết người

ta bổ sung vào nó các axít amin giới hạn thứ nhất đến mức nhu cầu của gia cầm, sau đó bổ sung các axít amin giới hạn thứ hai, thứ ba, Nếu bổ sung không hợp lý như bổ sung các axít amin giới hạn thứ hai, thứ ba vào trước thì không những không tốt mà còn có hại cho cơ thể gia cầm Sở dĩ như vậy là vì

đối với mỗi loại protein khác nhau, cơ thể tổng hợp theo một “mẫu” cân đối nhất định Những axít amin nào nằm ngoài “mẫu” đều bị đốt cháy gây lBng phí protein và gây căng thẳng quá trình trao đổi chất Nếu cung cấp axít amin cho con vật theo đúng “mẫu” cân đối của chúng thì hiệu quả sử dụng Protein

sẽ cao Mục đích của việc sử dụng axít amin giới hạn (hay axít amin hạn chế)

là nhằm cung cấp cho con vật đúng “mẫu” cân đối Vì nếu không tuân theo nguyên tắc bổ sung yếu tố giới hạn một rồi mới bổ sung yếu tố giới hạn thứ hai thì việc bổ sung axít amin không đảm bảo được “mẫu” cân đối, thậm chí còn gây nên tình trạng vẫn thiếu axít amin này mà lại thừa axít amin khác

Điều đó càng làm giảm hiệu suất lợi dụng protein, gây lBng phí protein và axít amin Hơn nữa thừa axít amin còn gây hậu quả không tốt đối với con vật Trước hết sẽ làm giảm lượng thức ăn thu nhận và giảm sức sản xuất Thứ hai khi thừa axít amin còn làm thay đổi quan hệ cân bằng axít amin, tạo ra “yếu tố giới hạn mới”, nếu thừa nhiều axít amin nào đó còn gây ngộ độc cho con vật Vì thế khi bổ sung các axít amin giới hạn phải hết sức thận trọng và theo đúng nguyên tắc Muốn như vậy phải xác định đúng axít amin giới hạn 1, 2 thì việc

bổ sung mới có hiệu quả

Trên thực tế, việc xác định trình tự giới hạn các axít amin khá phức tạp bởi vì nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố Hiện nay, người ta đB xác định được trình tự của các axít amin trong thức ăn hoặc trong khẩu phần, dựa vào hiệu quả sinh học của việc bổ sung axít amin thiếu hụt khác nhau đến khả năng sinh trưởng cũng như hiệu quả sử dụng thức ăn Ngoài ra cũng có thể xác định trình tự giới hạn của các axít amin trong thức ăn hoặc trong khẩu phần theo hàm lượng các axít amin tự do có trong huyết tương (Shimada, 1984)[99]

Trang 34

Theo Larbier M và Leclercq B, 1993[78] đưa ra nhu cầu về axit amin không thay thế cho gà broiler như sau:

(mg/kg khối lượng sống/ngày)

Cho tăng trọng (g/100g khối lượng

2.3.5 axít amin tổng hợp trong chăn nuôi gia cầm

Ngày nay axit amin tổng hợp đB trở nên quen thuộc đối với người chăn nuôi Các axit amin tổng hợp như L-lyzin, DL-methionine và gần đây là L-threonine và L-tryptophane đang được sử dụng phổ biến trên thị trường thế giới cũng như trên thị trường Việt nam

Hiện nay có 2 phương pháp sản xuất axít amin tổng hợp là phương pháp tổng hợp hoá học và phương pháp lên men vi sinh vật

Như chúng ta đB biết hầu như các axít amin tổng hợp nên protein động vật thuộc dBy L axít amin Trong khi đó các axit amin được tổng hợp bằng phương pháp hoá học thường là hỗn hợp Raxemat gồm 50% dạng L- và 50% dạng D-, việc tách dạng L- ra khỏi dạng D- là rất khó khăn và tốn kém Vì vậy axit amin tổng hợp bán trên thị trường thường ở dạng DL (Grigorev N.G, 1981)[51] Cơ thể gia cầm lại không có sẵn các enzym để biến đổi D-axit amin, cho nên các dạng D-axit amin không được gia cầm sử dụng Tuy nhiên theo Grigorev N.G (1981) [51] thì cần phải cung cấp lượng D-tryptophane gấp

15 lần so với cung cấp dạng L-tryptophane để đảm bảo đủ nhu cầu tryptophane cho gà

Trang 35

Sự tổng hợp các axít amin bằng con đường lên men vi sinh vật đến nay rất phát triển và đB được đưa vào sản xuất công nghiệp (Vì vi sinh vật tổng hợp chủ yếu là axít amin dạng L-) Ví dụ như quy trình sản xuất L- lyzin và L-treonine

Trên thị trường hiện nay, các loại axít amin bổ sung vào thức ăn chăn nuôi như lysine, methionine chủ yếu được sản xuất bởi các công ty có công nghệ trình độ cao như Degussa(Đức), Ajinomoto (Nhật Bản), Sản phẩm DL-methionine của Degussa có một số đặc điểm là ở dạng bột tinh thể trắng,

độ hoà tan khoảng 48 g/lít nước ở 25oC, hàm lượng methionine 99%, tro 0,5% Loại L-lysine HCl do Ajinomoto sản xuất có độ hoà tan khoảng 642g/lít nước, hàm lượng L- lyzin 78%, tro 0,5%

Bổ sung axít amin tổng hợp vào khẩu phần thức ăn cho gia cầm nhằm mục đích cân bằng axit amin để nâng cao hiệu quả sử dụng protein khẩu phần, tiết kiệm được các loại thức ăn giàu protein, nhất là các loại thức ăn đắt tiền, làm giảm giá thành thức ăn hỗn hợp cho gia cầm nói riêng và thức ăn cho chăn nuôi nói chung

Trong dinh dưỡng gia cầm người ta thường sử dụng 2 axit amin tổng hợp

là L- lyzin và DL-methionine để bổ sung vào khẩu phần thức ăn Vì 2 axít amin này thường là axít amin hạn chế trong các khẩu phần ăn của gia cầm Bổ sung L-lyzin vào khẩu phần thức ăn cho gia súc, gia cầm để cân đối sự thiếu hụt của nó trong thức ăn, mặt khác có thể giảm được protein động vật (Bùi

Đức Lũng và cs, 1995[12], Si J và cs, 2001[102] Sử dụng L- lyzin trong khẩu phần thức ăn cho gia cầm giảm được tỷ lệ bột cá trong khẩu phần, nên giảm

được hội chứng loét mề (ăn mòn mề) của gia cầm vì trong quá trình chế biến bột cá histamine bị biến thành gizzerosine, chất này gây loét mề

Khi bổ sung methionine vào khẩu phần ăn cho gia cầm không những làm tăng năng suất chăn nuôi mà còn phòng được hội chứng nhiễm mỡ ở gan Hội chứng này thường xảy ra khi gà nuôi bằng khẩu phần ăn có nồng độ năng

Trang 36

lượng cao và hàm lượng protein thấp, khẩu phần mất cân bằng về axít amin

đặc biệt là khẩu phần thiếu methionine

Như vậy bổ sung axít amin tổng hợp để cân bằng axít amin trong khẩu phần đB làm tăng tốc độ sinh trưởng, năng suất trứng và tăng hiệu quả sử dụng protein, giảm tiêu tốn thức ăn cho 1 kg sản phẩm

2.4 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

2.4.1 Các kết quả nghiên cứu trên gà broiler

2.4.1.1 Các kết quả nghiên cứu trên thế giới

Theo Panda và cs, 1976[88] khi nghiên cứu trên gà broiler từ 1-7 tuần tuổi, với khẩu phần có cùng mức năng lượng trao đổi là 3000kcal/kg thức ăn

và 4 mức protein là 15, 18, 21 và 24% Kết quả cho thấy tốc độ sinh trưởng của gà đạt cao nhất ở lô ăn khẩu phần 21 và 24% protein và hiệu quả sử dụng thức ăn tăng dần theo mức protein Nhưng tăng mức protein trong khẩu phần cũng chỉ có một giới hạn nhất định

Onwudike O.C, 1983[87] nghiên cứu về mức protein trong khẩu phần ăn cho gà broiler và thấy rằng khi nuôi với 4 mức protein 20-22-24-26% thì mức 22% protein cho tăng trọng tốt nhất, hiệu quả sử dụng thức ăn tăng từ 20-24%, sau đó giảm khi mức protein trong khẩu phần vượt quá 26%

Baghel R.P.S và cs, 1989[57] nghiên cứu trên gà broiler với 3 mức năng lượng là 2800; 3000, 3200kcal/kg thức ăn và 4 mức protein ứng với 3 giai đoạn: 0-3; 4-6 và 7-8 tuần tuổi là 20-18-16%; 22-20-18%; 23-22-19% và 25-24-21%

Ông có kết luận: khẩu phần ăn năng lượng thấp (2800kcal/kg thức ăn) kết hợp với mức protein cao (25-24-21%) cho tăng trọng tốt nhất ở điều kiện nhiệt độ cao, đồng thời khẩu phần năng lượng cao 3200kcal/kg thức ăn kết hợp với mức protein cao (25-24-21%) cho hiệu quả chuyển hoá thức ăn tốt nhất

Khi nghiên cứu về axít amin, Scott M.L và cs, 1982[97] nhận thấy trong khẩu phần ăn thiếu một số axít amin không thay thế thì tăng trọng của gà bị giảm Nuôi gà broiler bằng khẩu phần ngô - đậu tương nếu bổ sung thêm

Trang 37

lyzin, methionin, valine, threonine và arginine vào khẩu phần 19% protein thì tốc độ tăng trưởng và chuyển hoá thức ăn không kém so với lô có khẩu phần 23% protein (Han Y và cs, 1993)[68]

Cũng theo Baghel R.P.S và cs (1989) [57] khi nuôi gà broiler với các khẩu phần thí nghiệm trên thì khẩu phần có mức năng lượng 3000 kcal/kg thức ăn và protein 25-24-21%, tỷ lệ lyzin 1,3-1,2-0,9 và 1,00-0,86-0,70% tổng

số axít amin cho 3 giai đoạn nuôi đạt tăng trọng và hiệu quả sử dụng thức ăn tốt nhất

Sterling K.G và cs, 2003[104], nghiên cứu nuôi gà broiler Cobb với ba mức protein 17, 20 và 23% và hai mức lyzin 35 và 48 g/kg CP cho thấy, khối lượng cơ thể tăng và tiêu tốn thức ăn/kg tăng KLCT giảm theo mức protein Khối lượng cơ thể gà thí nghiệm giữa mức protein và lyzin đều có sự sai khác

rõ rệt (P<0,001)

Weurding R.E và cs, 2003[108] thí nghiệm nuôi gà broiler bằng thức ăn

có mức lyzin từ 0,85-1,1% cho biết khối lượng cơ thể tăng và tiêu tốn thức ăn giảm theo mức lyzin tăng

Sterling K.G và cs, 2006[105], nghiên cứu ảnh hưởng kết hợp của mức protein thô và lyzin tới năng suất của giống gà broiler Ross 308, Cobb và Arbor Acres ở giai đoạn 7-21 ngày với khẩu phần thức ăn (17% protein thô với 0,6; 0,7

và 0,8% lyzin); và khẩu phần (23% protein thô với 0,7; 0,8 và 0,9% lyzin); giai

đoạn 21-42 ngày (17% protein thô với 0,8; 0,9 và 1% lysine) Kết quả thí nghiệm cho thấy có sự sai khác (P<0,05) giữa khối lượng cơ thể, thu nhận và khả năng chuyển hoá thức ăn giữa các giống gà là khác nhau và khi các khẩu phần có mức protein tăng, tỷ lệ mỡ bụng ở các giống gà đều giảm

2.4.1.2 Một số kết quả nghiên cứu trong nước

ở Việt Nam cũng có một số công trình nghiên cứu về dinh dưỡng gia cầm nhất là các nghiên cứu về nhu cầu năng lượng và protein cho gà broiler Khi nghiên cứu trên gà broiler nuôi tách riêng trống mái, Bùi Đức Lũng, 1995[14] cho biết ở giai đoạn 0-4 tuần tuổi dùng mức 24% protein thô trong khẩu phần gà

Trang 38

trống và 22% protein trong khẩu phần nuôi gà mái Giai đoạn sau 5 tuần dùng mức 22% và 20% protein cho gà trống và cho gà mái là thích hợp

Cũng nghiên cứu trên gà broiler từ 0-5 tuần tuổi trong điều kiện khí hậu miền Bắc, Nguyễn Thị Mai, 1994[16] cho thấy khẩu phần 26% protein thích hợp để nuôi gà broiler trong vụ hè Trong vụ đông sử dụng khẩu phần chứa 24% protein (đối với khẩu phần chưa cân đối axit amin)

Nghiên cứu mức năng lượng và protein thích hợp cho gà boiler Ros-208, Trần Công Xuân và cs, 1995[48] đB kết luận khẩu phần thích hợp nhất có mức năng lượng là 3100-3200-3370kcal/kg thức ăn và mức protein là 24-22-19% tương ứng 3 giai đoạn 0-10 ngày tuổi; 11-28 ngày tuổi và 29-56 ngày tuổi

Đối với gà broiler Ross-208 V35 thì khẩu phần thích hợp nhất tương ứng các giai đoạn là mức năng lượng 3100-3200-3370kcal/kg thức ăn và mức protein 24-22-20%

Đối với gà lông màu, khi nghiên cứu trên gà Kabir, tác giả Đoàn Xuân Trúc và cs, 1999[43] cho biết khẩu phần cho gà nuôi thịt có mức năng lượng trao đổi và mức protein là 2950 kcal/kg thức ăn và 21,5% ở giai đoạn 0-4 tuần tuổi; 3050 kcal/kg thức ăn và 19% ở giai đoạn 5-9 tuần tuổi là cho kết quả tăng trọng và hiệu quả sử dụng thức ăn tốt nhất Lê Hồng Sơn, 2001[23] cho thấy khẩu phần nuôi gà Tam Hoàng dòng 882 với mức protein là 21-19-17% tương ứng 3 giai đoạn 0-4,5-8 và 9-12 tuần tuổi là thích hợp nhất để kết hợp với mức năng lượng trao đổi là 3050-3150-3300kcal/kg thức ăn nuôi trong vụ

đông xuân, và 2950-3050-3200kcal/kg thức ăn đối với vụ hè thu

Hiện nay ở nước ta, so với các nghiên cứu về nhu cầu năng lượng và protein, các nghiên cứu về các mức axít amin cho gia cầm không nhiều

Theo LB Văn Kính, 1995[10] tỷ lệ tối ưu về axít amin cho gà thịt Hybro với nền thức ăn có mức năng lượng 3200kcal ME/kg; 1,3% lyzin, 0,54% methionine, 1% methionine + cystine (cho giai đoạn 0-4 tuần tuổi) và 1,1% lyzin, 0,42% methionine và 0,87% methionine + cystine cho giai đoạn 5-8 tuần tuổi

Trang 39

Cũng nghiên cứu trên gà broiler để xác định mức protein và axít amin thích hợp, Bùi Thị Oanh, 1996[21] cho biết đối với gà trống và gà mái đều sử dụng mức protein là 22-20-18% cho 3 giai đoạn 0-3, 4-6 và 7-giết thịt Nhưng mức axít amin tương ứng ở 3 giai đoạn cho gà trống nuôi trong vụ đông là 1,10-1,00-0,90% lyzin; 0,52-0,47-0,42% methionine và vụ hè tương ứng có tỷ

lệ lyzin là 1,25-1,10-1,00%, methionine là 0,60-0,52-0,48% Riêng đối với gà mái cả vụ đông và vụ hè mức axít amin như nhau là 1,10-1,00-0,90% lyzin, 0,52-0,48-0,43% methionine

Theo nguyễn Thị Tình, 2006[39] Nuôi gà sao thương phẩm bằng các khẩu phần thức ăn có 3 mức protein (24,5-22,5-19%); (23-21-17,5%); (21,5-19,5-16%) kết hợp với 3 mức axit amin có tỷ lệ lyzin (1,55-1,26-1,09%); (1,35-1,10-0,95%); (1,15-0,93-0,81%); methionine (0,65-0,58-0,49%); (0,57-0,50-0,43%); (0,48-0,43-0,37%) tương ứng các giai đoạn 0-4; 5-8; 9- 12 tuần tuổi cho tỷ lệ nuôi sống ở 12 tuần tuổi đạt cao (97,14-99,29%), khối lượng cơ thể đạt tăng dần khi tăng protein, lyzin khẩu phần

2.4.2 Các kết quả nghiên cứu trên gà xương đen, thịt đen

2.4.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới

Các nghiên cứu về gà da đen, thịt đen, xương đen trên thế giới còn rất ít Mehner, 1962[83] cho biết gà da đen, thịt đen, xương đen là giống gà có từ lâu đời do Marco Polo phát hiện từ thế kỷ 13 ở Trung Quốc Giống gà này có

sự đột biến ngẫu nhiên giữa các giống gà hoặc có thể từ gà hoang Các nghiên cứu chủ yếu tập trung giới thiệu công dụng của thịt gà đen, xương đen Theo

ông giới hạn gen của giống gà này có thể trên cơ sở biểu hiện bên ngoài ở sự suy thoái đồng hợp tử và từ đó chúng tiếp tục được ghép phối cận huyết, dựa trên cơ sở nguồn gen của chúng là đồng hợp tử lặn Theo ông các giống gà Opingtons, Wyandtten, Minorkas gà da đen, thịt đen, xương đen đều mang gen lặn màu lông trắng Kiểu hình biểu hiện bên ngoài của lông gà trưởng thành không có sự khác nhau giữa màu lông trắng trội hay trắng lặn Việc xác

định chỉ có thể dựa trên cơ sở kết quả lai phân tích ở gà con nếu mang gen

Trang 40

trắng trội có biểu hiện màu lông hơi vàng hơn gà mang gen trắng trội Theo Wel Rong, 1987[109] các đặc điểm ngoại hình của gà ác da đen, thịt đen, xương đen Trung Quốc ở vùng Vũ Hán cũng có những đặc điểm tương tự Gà

da đen, thịt đen, xương đen được nuôi ở vùng Vũ Hán chủ yếu được dùng như một vị thuốc Các thí nghiệm cho thấy thịt gà ác có chứa những Hormone nhất

định, các sắc tố xanh và acid amin cần thiết cho cơ thể con người Ông còn cho biết những kinh nghiệm lâm sàng đB chứng tỏ thịt gà ác có hiệu quả rất tốt trong điều trị các bệnh của phụ nữ vô sinh, xảy thai, bệnh sau khi sinh, … Trứng gà ác còn có hiệu quả trong điều trị các trứng đau đầu và là nguồn dinh dưỡng lý tưởng cho người già và người huyết áp cao vì có chứa hàm lượng cholesteron thấp và các acid amin tự do cao hơn so với các giống gà khác

Triệu Xương Diên và Vương Tuyền, 2001[49] cho biết có một số giống

gà da đen, thịt đen, xương đen được gọi tên theo vị trí địa lý như gà Thái Hoà,

gà Hắc phượng (lông đen); gà Dư Can (lông đen); gà Giang Sơn (lông trắng);

gà Kim Dương (lông tơ trắng); gà Tuyết Phong (có cả lông đen tuyền, lông trắng và màu lông tạp) Khối lượng cơ thể của các giống gà này có khác nhau

đôi chút nhưng nhìn chung đều có khối lượng cơ thể nhỏ (khối lượng lúc trưởng thành gà mái từ 1-1,2 kg; gà trống từ 1,3-1,5 kg) Tuổi đẻ quả trứng

đầu từ 160-180 ngày, năng suất trứng đạt từ 100–130 quả/mái/năm, khối lượng trứng nhỏ chỉ đạt 35- 45 g Tỷ lệ trứng có phôi tương đối cao 90-95 %

và tỷ lệ nở đạt khoảng 80-85 % Dinh dưỡng cho gà đen nuôi thịt từ 0–60 ngày tuổi có hàm lượng protein 2–20%, năng lượng ME khoảng 2900kcal, lyzin 1,14–1,04%

2.4.2.2 Nghiên cứu trong nước

Ngày đăng: 28/11/2013, 09:49

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm - Luận văn nghiên cứu mức protein và lyzin trong khẩu phần thức ăn nuôi gà lai m13 thái hoà x (thái hoà x ai cập) thương phẩm
Bảng 3.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm (Trang 47)
Bảng 3.2 Kết quả phân tích thành phần hoá học - Luận văn nghiên cứu mức protein và lyzin trong khẩu phần thức ăn nuôi gà lai m13 thái hoà x (thái hoà x ai cập) thương phẩm
Bảng 3.2 Kết quả phân tích thành phần hoá học (Trang 49)
Bảng 3.3 Thành phần  và giá trị dinh d−ỡng của khẩu phần thí nghiệm cho - Luận văn nghiên cứu mức protein và lyzin trong khẩu phần thức ăn nuôi gà lai m13 thái hoà x (thái hoà x ai cập) thương phẩm
Bảng 3.3 Thành phần và giá trị dinh d−ỡng của khẩu phần thí nghiệm cho (Trang 50)
Bảng 3.4 Thành phần  và giá trị dinh d−ỡng của khẩu phần thí nghiệm cho - Luận văn nghiên cứu mức protein và lyzin trong khẩu phần thức ăn nuôi gà lai m13 thái hoà x (thái hoà x ai cập) thương phẩm
Bảng 3.4 Thành phần và giá trị dinh d−ỡng của khẩu phần thí nghiệm cho (Trang 51)
Bảng 4.1 Tỷ lệ nuôi sống của gà M13 (%) - Luận văn nghiên cứu mức protein và lyzin trong khẩu phần thức ăn nuôi gà lai m13 thái hoà x (thái hoà x ai cập) thương phẩm
Bảng 4.1 Tỷ lệ nuôi sống của gà M13 (%) (Trang 56)
Đồ thị 4.1 Khối l−ợng cơ thể gà M13 thí nghiệm 0-5 tuần tuổi - Luận văn nghiên cứu mức protein và lyzin trong khẩu phần thức ăn nuôi gà lai m13 thái hoà x (thái hoà x ai cập) thương phẩm
th ị 4.1 Khối l−ợng cơ thể gà M13 thí nghiệm 0-5 tuần tuổi (Trang 61)
Đồ thị 4.2 Tốc độ sinh trưởng tuyệt đối của gà M13 qua các tuần tuổi - Luận văn nghiên cứu mức protein và lyzin trong khẩu phần thức ăn nuôi gà lai m13 thái hoà x (thái hoà x ai cập) thương phẩm
th ị 4.2 Tốc độ sinh trưởng tuyệt đối của gà M13 qua các tuần tuổi (Trang 64)
Bảng 4.3 Tốc độ sinh trưởng tuyệt đối của gà M13(g/con/ngày) - Luận văn nghiên cứu mức protein và lyzin trong khẩu phần thức ăn nuôi gà lai m13 thái hoà x (thái hoà x ai cập) thương phẩm
Bảng 4.3 Tốc độ sinh trưởng tuyệt đối của gà M13(g/con/ngày) (Trang 65)
Bảng 4.4 Độ sinh trưởng tương đối của gà M13 (%) - Luận văn nghiên cứu mức protein và lyzin trong khẩu phần thức ăn nuôi gà lai m13 thái hoà x (thái hoà x ai cập) thương phẩm
Bảng 4.4 Độ sinh trưởng tương đối của gà M13 (%) (Trang 68)
Đồ thị 4.3 Sinh trưởng tương đối của gà M13 qua các tuần tuổi - Luận văn nghiên cứu mức protein và lyzin trong khẩu phần thức ăn nuôi gà lai m13 thái hoà x (thái hoà x ai cập) thương phẩm
th ị 4.3 Sinh trưởng tương đối của gà M13 qua các tuần tuổi (Trang 69)
Bảng 4.6 Tiêu tốn thức ăn cho một kg tăng khối l−ợng cơ thể của gà M13 (kg) - Luận văn nghiên cứu mức protein và lyzin trong khẩu phần thức ăn nuôi gà lai m13 thái hoà x (thái hoà x ai cập) thương phẩm
Bảng 4.6 Tiêu tốn thức ăn cho một kg tăng khối l−ợng cơ thể của gà M13 (kg) (Trang 74)
Bảng 4.9 Tiêu tốn năng l−ợng cho một kg tăng khối l−ợng cơ thể của gà  M13(kcal ME) - Luận văn nghiên cứu mức protein và lyzin trong khẩu phần thức ăn nuôi gà lai m13 thái hoà x (thái hoà x ai cập) thương phẩm
Bảng 4.9 Tiêu tốn năng l−ợng cho một kg tăng khối l−ợng cơ thể của gà M13(kcal ME) (Trang 84)
Bảng 4.11 Hiệu quả sử dụng các mức protein, lyzin khác nhau trong khẩu - Luận văn nghiên cứu mức protein và lyzin trong khẩu phần thức ăn nuôi gà lai m13 thái hoà x (thái hoà x ai cập) thương phẩm
Bảng 4.11 Hiệu quả sử dụng các mức protein, lyzin khác nhau trong khẩu (Trang 88)
Bảng 4.12  Kết quả phân tích thịt gà M13 ở 5 tuần tuổi - Luận văn nghiên cứu mức protein và lyzin trong khẩu phần thức ăn nuôi gà lai m13 thái hoà x (thái hoà x ai cập) thương phẩm
Bảng 4.12 Kết quả phân tích thịt gà M13 ở 5 tuần tuổi (Trang 91)
Bảng 4.13.  Kết quả nuôi gà thịt ựến 5 tuần tuổi tại đông Anh - Hà Nội - Luận văn nghiên cứu mức protein và lyzin trong khẩu phần thức ăn nuôi gà lai m13 thái hoà x (thái hoà x ai cập) thương phẩm
Bảng 4.13. Kết quả nuôi gà thịt ựến 5 tuần tuổi tại đông Anh - Hà Nội (Trang 92)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w